Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

4 Pages<1234>
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#21 Posted : Saturday, February 27, 2021 9:35:58 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
GỬI VỀ NGƯỜI

Nắng đã dần phai ở cuối trời
Tâm tư trầm lắng, ý chơi vơi
Lá úa mùa thu vàng sắc cỏ
Se sắt trong tim nỗi nhớ người.

Con đường kỷ niệm vẫn còn đây
Thời gian thấm thoắt đã bao ngày
Mái tóc xưa xanh giờ nhuốm bạc
Nhớ về dĩ vãng mắt cay cay.

Nhớ một thời áo trắng Trưng Vương
Đùa dỡn, cười vui rộn góc trường
Mái tóc den dài ôm giấc mộng
Từng đàn bướm trắng rợp con đường.

Tình về trong lứa tuổi đôi mươi
E ấp làm sao lúc gặp người
Đôi má hồng lên, tim đập mạnh
Chỉ biết nhìn thôi, miệng mỉm cười ...

Thế rồi sau những giờ tan học
Có kẻ chờ ai ở vệ đường
Thoáng nhìn bóng dáng oai hùng đó
Người lính phong trần với gió sương.

Bạn bè nhìn theo bước ngập ngừng
Và còn trêu chọc, gọi Cô Nương
Có chàng lính thuỷ đang chờ đón
Chúc mừng hạnh phúc vượt trùng dương.

Chàng đã ra đi đền nợ nước
Bỏ lại người yêu chịu bẽ bàng
Áo trắng trinh nguyên giờ vẫn trắng
Ai ngờ áo trắng phủ màu tang.

Chiều nay mây trắng giăng đầy lối
Nhớ quá đi thôi, nhớ một người
Kỷ niệm ngày xưa in đậm nét
Một mùa lá rụng thưở xa xôi.

HONG VU LAN NHI
11/11/2004

Edited by user Saturday, February 27, 2021 9:37:29 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#22 Posted : Saturday, February 27, 2021 10:35:49 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Tha La Trong Ký Ức


UserPostedImage


Tha La Trong Ký Ức Trong thơ văn và âm nhạc Việt Nam có vùng địa danh mà tên nghe dễ thương và lại có nét tôn giáo là 4 chữ trong bản nhạc "Tha La Xóm Đạo" của nhạc sĩ Dzũng Chinh.

Phải nói là nhiều người đã nghe qua địa danh này, nhưng chi tiết tại sao có tên lạ tai như vậy, mà họ có thể không biết nhiều về Tha La. Tôi được anh bạn đồng hương Tây Ninh Nguyễn Thành Đởm gởi cho bài tài liệu vô cùng công phu do anh Lâm Thanh thu thập tài liệu mà anh biên soạn lại thành bài viết mang tên "Tha La Xóm Đạo" đăng trong tập san Tây Ninh Mến Yêu bên Úc châu, kèm theo tài liệu của giáo sư Lê Tấn Tài và bài thơ "Tha La” của thi sĩ Vũ Anh Khanh, cùng bài thơ của anh Lâm Thanh là “Tha La ngày trở lại". Cho nên dựa theo tài liệu của quý báu của người Tây Ninh như anh Lâm Thanh, Lê Tấn Tài, Trần Anh Dũng, Hà Đình Huy, cũng như chị nhà thơ Nhược Trần Ngọc Huệ, một người dành cho Tha La cảm tình nồng nàn, dù chị không là người Tây Ninh.

Vì vậy tôi xin gởi bài viết về lại đất Tha La như ký ức cũ một lần đặt chân đến, cũng như bao lần ghé qua Trảng Bàng, một vùng đất dễ thương trong tiềm thức cũ.

Tại sao là "Tha La Xóm Đạo ?":

Tên Tha La phát nguyên do chữ của người Thủy Chân Lạp hay Khmer là “Schla", được người Việt đọc trại thành "Tha La", nó là vùng đất xưa nơi người Chân Lạp định cư, trước khi sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Vì là tên của người Khmer nên nó có âm thanh lạ tai của ngoại ngữ khi chúng ta dùng mà không mang nghĩa Việt ngữ nào hết. Nhưng nếu phải dịch từ ngữ "Schla" thí nó có nghĩa là trạm, trại, nhà lồng, nhà mát. Vùng Tha La ngày xưa là rừng rậm hoang vu, đã được quan quân và con dân chúa Nguyễn đến khai phá và định cư từ hơn 200 năm trước.

Đất Tây Ninh cũng có nhiều chỗ cùng mang tên Tha La. Tại nhiều tỉnh khác như Châu Đốc, Trà Vinh, có đồng bào Khmer ở, cũng có nhiều địa danh Tha La nhưng nó không nổi tiếng như Tha La Xóm Đạo của Trảng Bàng để rồi địa danh này được đưa luôn vào văn học và âm nhạc Việt Nam.

Tha La theo dấu chân của Trảng Bàng khi thì vì Trảng Bàng thuộc tỉnh Tây Ninh, nên có dạo thời Pháp thuộc nó bị sáp nhập vào Gia Định, rồi lại được tách riêng theo Tây Ninh thời đệ nhất VNCH, rồi Trảng Bàng lại bị chia cắt vào đất tỉnh mới là Hậu Nghĩa thời đệ nhị CH, rồi chính quyền CS lại sát nhập Tha La và Trảng Bàng vào tỉnh Tây Ninh. Điều hiển nhiên mà nhiều người Tây Ninh hay Gò Dầu, Trảng Bàng cứ xem Tha La thuộc địa phận Tây Ninh vì sự gắn bó lịch sử từ nguyên thủy.

Đường về Tha La:

Đường đi đến Tha La không khó mà thật dễ đi. Ta cứ lấy Quốc Lộ 1 từ Sài Gòn theo hướng tây bắc mà chạy thẳng về Gò Dầu hay về Tây Ninh. Con đuờng này đưa bạn về Trảng Bàng nơi có địa danh Tha La Xóm Đạo. Nên biết đoạn đường Trảng Bàng và Sài Gòn cách nhau khoảng 30 miles hay 50 cây số mà thôi. Từ Trảng Bàng mon men về hướng tây thêm 3.5 miles hay 6 cây sô thì chúng ta vào đất Tha La, nơi có xóm đạo hiền hòa, nơi có nhiều trái ngọt cây lành.

Người Tha La hay người Trảng Bàng không thể nào không biết những món ăn địa phương tại đây là món bánh canh giò heo hay bánh tráng cuốn thịt heo. Mỗi khi tôi về Gò Dầu mà xe đò khi ngừng tại chợ Gia Huỳnh, nằm bên phải quốc lộ khi dừng chân tại nơi đây cho hàng khách ăn trưa, ở tuổi vừa lớn tôi đớp 2 tô bánh canh cho đỡ cơn đói và không quên lót dạ thêm một dĩa thịt và giò heo luộc cuốn bánh tráng, mẹ tôi thường nói đùa là ăn hàng kiểu đó chỉ có nước ế vợ mà thôi, nhưng những ngày khôn lớn khi biết làm dáng ghé Trảng Bàng tôi ăn bánh canh trong ngại ngùng, vì sợ lỡ có mấy cô nữ sinh áo dài trắng của đất Tha La hay của quận Trảng Bàng thấy được sẽ bảo tôi rằng "nam thực như hổ" thì mất hết duyên con trai của tôi... và tôi sẽ buồn tình lắm huhu...

Sau khi ăn no nê muốn theo dấu chân của mấy cô nữ sinh áo dài trắng vào thẳng địa danh này, thì bạn hãy rẽ trái vô con đường đất đỏ dẫn vô xã An Hoà, cứ đi thẳng miết sẽ gặp nhà thờ Tha La, và chắc chắn bạn sẽ không bị lạc đâu, theo lời anh Hà Đình Huy, bạn tôi dặn vậy. Tôi đã đến thăm gia đình anh Sơn một lần vào năm 1971 được uống nước mưa mà có 2 cô nữ sinh áo dài trắng, em anh Sơn là Thu Nga, Thu Cúc đã lâu rồi, tôi quên lối vào Tha La, nên khi viết bài phải dọ hỏi lại những người bạn đồng hương Tây Ninh, Trảng Bàng, thì cái nhớ lại hiện về trong tôi.

Tây Ninh Quê Tôi có nhiều vùng đất mang tên của thảo mộc, cây cối như Trãng Bàng, Trãng Dài, Trảng Sụp, Trãng Lớn, Gò Dầu Thượng, Gò Dầu Hạ, Gò Chai, Giồng Riềng, Giồng Ổi v.v. nói lên ý nghĩa của cây cối, của vị thế đất, chỗ cao, chỗ thấp, chổ trũng.

Tha La tuy nhỏ về diện tích, nhưng cũng mang ít nhiều đặc tính đó. Toàn không gian hay khunh cảnh là một bức tranh thật linh động, đẹp đẽ và mát rượi tâm hồn, mát vô cùng tận của những vùng đất thiên nhiên phì nhiêu, nào là đất gò nhô lên, đất đỏ, dất sét, đất trắng, đất ruộng hay đất vườn. Tùy theo vị thế đất, cư dân ở đây trồng đủ các thứ rau quả, cây trái như một nét tham lam của thiên nhiên. Bước vào đầu ngỏ ta thấy nhiều nhất là tre, trúc và tầm vong. Với thân thon, cành dịu, lá mỏng dài nằm dọc hai bên đường, ngọn giao chụm vào nhau thành một cái vòm như cái hang mát rượi, chạy dài cả cây số. Đi trong bóng râm xanh um ấy, gió thổi hiu hiu làm lao xao kẻo kẹt cành cây hay đánh rơi những chiếc lá vàng khô, tung tăng theo những giọt nắng mang màu huyền ảo. Hỏi rằng bạn có thích không chứ? Dọc theo hai bên đường, sau hàng rào tre là những ngôi nhà đủ loại không đồng bộ tùy theo tình trạng kinh tế của gia chủ, như nhà của anh Sơn mà tôi quen, nhà anh có mái lợp tranh, vách đất, trước nhà có cái lu nước đựng nước mưa, anh dùng gáo dừa khô múc nước mời tôi uống mà có mấy con lăng quăng nhảy tango trong màu nước trong trẽo, chúng tung tăng bơi lội, tôi rùng mình lưỡng lự, anh Sơn nói cá lia thia nhỏ xíu không sợ lăng quăng chẳng lẽ tôi có thân hình bồ tượng như vậy mà e ngại vài con lăng quăng, loài vi sinh vật này đang ve vẩy đuôi kia sao. Bên cạnh là hai cô em Thu Nga và Thu Cúc cười khúc khích vì cái sợ sệt của tôi. Hai cô gái Tha La khiến tôi nhắm mắt làm luôn ngay 5 con lăng quăng vô bụng. Láng giềng nhà anh thì có nhà lợp mái tôn hoặc mái ngói, trước mỗi nhà là cây cối xanh um, phần lớn là cây ăn trái và cho bóng mát. Nhà anh Sơn phía trước trồng hai cây xoài, một cây xoài tượng và một xoài thanh ca, nhiều vú sữa, cây ly-ô-ma, măng cụt, sa-pô-chê, nhà có con chó mực, phía sau nhà có hàng dừa, bưởi, mận, tầm ruột, đu đủ và mãng cầu xiêm mà ba anh trồng kiểu sưu tầm. Sau nhà nuôi một bầy heo cho lợi tức. Đó là một gia đình tiêu biểu của miền quê mà tôi quen. Họ sống an phận, hiền lành và tử tế.

Ai về Tha La Xóm Đạo ?:

Tha La là một địa danh đẹp về thắng cảnh thiên nhiên và đẹp vì tình người trong tiềm thức của tôi.. Thật vậy, tên Tha La chỉ cho ta ý nghĩa tượng hình ra một họ đạo tại đất Tha La này. Chính vì mật độ dân cư không nhiều chỉ vào khoảng 3,000 người trước năm 1975, người ta không tìm thấy Tha La trong bản đồ địa lý hay hành chánh. Đây là xóm đạo thuộc Xã An Hoà được tổ chức khá ngăn nắp và qui củ, nhà cửa khang trang, quây quần chung quanh ngôi thánh đường. Trải qua bao thăng trầm của chiến tranh tàn phá, nhà thờ đã được trùng tu lại. Cho tới năm1967 thì việc sửa sang được hoàn tất. Chánh toà nằm giữa với tường gạch bao quanh, với sân rộng lót đá, với trường học và nhiều cơ sở phụ thuộc. Ngôi Chánh toà đồ sộ có phần nguy nga, hai mái ngói xoải dài xuống thấp có sức chứa chừng 400 con người ngoan đạo trong các buổi hành lễ. Tượng Đức Mẹ trước mặt, và có một hang đá khổng lồ nằm bên hông, tháp chuông không cao nhưng có kiến trúc lạ mắt như cái lồng chim. Toàn bộ khu nhà thờ, nhìn chung, với lối kiến trúc đơn giản, không mang nặng nét cổ điển của Tây phương, nhưng lại được bao bọc xung quanh bằng những tàn cây cổ thụ cao to cho bóng mát, mang vẻ u hoài, thanh tịnh như một ngôi chuà cổ của một miền quê.

Xã An Hòa, thuộc quận Trãng Bàng, có 8 ấp, dân số 12,000, nhìn trên bản đồ thấy hình dạng bầu dục, nằm dọc theo rạch Trãng Bàng mà đầu nhọn là ấp An Thới vươn ra tận Vàm Trãng bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Đây là vùng đất phì nhiêu, trù phú do phù sa sông bồi nên có lẽ từ lâu lắm rồi.. Ngoài đồng ruộng, nương rẩy ra, khung cảnh còn thấy có những lò gạch nung đất sét, rồi trại mộc trại cưa, hay những nhà máy xay lúa. Ngành thủ công thịnh hành nhất là nghề đan lát các sản phẩm gia dụng bằng tre, trúc hay nứa. Ấp An Phú được xem là giàu có là nơi có chợ chính của xã, quán xá sung túc, nơi tọa lạc trụ sở xã và có trường trung học địa phương công lập. Trong xã có 3 ngôi chùa, và ngôi chùa cổ hay lâu đời nhất là chùa tại ấp An Phú. Phần lớn dân trong những xã này nói chung theo đạo Phật hay đạo gia tiên thờ cúng ông bà. Nhưng nổi tiếng và gây ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là xóm đạo Tha La mà chúng ta đang bàn. Xóm đạo nằm trong địa phận hai ấp An Hội 1 và An Hội 2. Hơn ba ngàn giáo dân ở đây là người cố cựu đã định cư lâu đời, chỉ có 4 gia đình người thuộc gốc Bắc di cư 54. Như một tập tục từ lâu, ngày lễ Giáng Sinh cũng như các ngày lễ Thánh lớn, đều là ngày hội chung của đồng bào trong xã. Vào đêm Giáng sinh thì cả mấy ngàn người kéo nhau đi dạo mừng lễ đông đảo, nườm nượp ngoài đường. Thật đông người khiến xe cộ đi qua không lọt, và chỉ toàn người đi bộ hành. Do vậy nhiều khi không phải chỉ dân trong xã không mà thôi, nhưng lại có có nhiều người ngoại đạo từ chợ Trãng Bàng, chợ Gò Dầu và các xã chung quanh về đây xem lễ. Quả là ngày lễ hội vui chung của dân toàn vùng Hiếu Thiện (hay Gò Dầu) - Trãng Bàng kéo nhau tập trung về đây.

Diễn trình xây dựng Tha La Xóm Đạo:

Theo sách Tây Ninh Xưa và Nay của tác giả Huỳnh Minh, xuất bản năm 1972 và tái ấn bản tại Úc năm 1992 thì vào cuối thời Minh Mạng, khoảng 1840, có một nhóm giáo dân độ vài chục gia đình được cha Cosimo Trí dìu dắt, chạy nạn tới khu rừng Tha La, khai quang lập ấp xây dựng cuộc sống, đồng thời cố gắng bảo tồn gốc đạo và niềm tin. Để tránh sự theo dõi và phát giác của viên chức triều Nguyễn đang ở thời kỳ e ngại đạo ngoại lai khiến bị theo dõi, những buổi lễ thường phải lưu động. Một tàn cây cổ thụ, một mái lá đơn sơ, hoặc túp liều tranh ủ dột cũng mang đủ ý nghĩa và mang tính chất của cái nhà thờ. Nhiều lúc phải làm lễ ban đêm. Khắp vùng xã An Hoà xưa hầu như đều có dấu chân của con Chúa. Cha chủ chiên Cosimo Trí đã thấp một ngọn nến giữa rừng âm u, vừa khai hoang lập ấp vừa ẩn náu, vừa mưu sinh, vừa khai sáng nguồn suối tâm linh tươi mát cho các con chiên, để nó trôi chảy cho đến ngày hôm nay. Nếu triều đình có lệ phong thần cho những vị có công khai làng mở mang bờ cõi thì chính cha Trí cũng là vị rất xứng đáng được phong Thánh Hoàng bổn cảnh của dân chúng An Hoà.

Sau năm 1863, khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Nam Nam kỳ thì hoàn cảnh thuận tiện hơn. Việc truyền đạo Chúa được nhà cầm quyền Pháp khuyến khích và giúp đỡ. Giáo dân gom tụ lại Tha La đông hơn và họ đạo Tha La được chính thức thành lập, trực thuộc Toà Thánh La Mã. Nhà thờ có nơi cố định, đầu tiên được xây cất, với vật liệu đơn sơ. Từ điểm nầy, các vị cha tiếp nối đi đến các địa phương khác để truyền đạo và lập thêm xứ đạo mới. Ngày nay ở Tây Ninh, đạo Công Giáo vẫn phát triển song hành với các tôn giáo khác. Đi đâu cũng thấy nhà thờ, ngay cả vùng thánh địa Cao Đài cũng có.

Vì nhờ sự cho phép của người Pháp họ đạo Tha La phát triển ngày càng mạnh mẽ và vững vàng. Vào đầu thế kỷ 20 nhà thờ được xây cất qui mô hơn. Tuy vậy người Công Giáo Tha La không quay lưng lại với dân tộc. Chúng ta không đủ tài liệu để biết Tha La có tham gia phong trào Cần Vương và Văn Thân chống Pháp hay không, nhưng chắc chắn vào mùa Thu năm 1945, thanh niên Tha La, nhất là thành phần trí thức đã tích cực tham gia phong trào kháng chiến ở đất Nam Kỳ. Và chính thời điểm nầy, nhà thơ Vũ Anh Khanh cũng gia nhập đi theo phong trào kháng chiến, ông đã làm bài thơ để đời, trong đó có những câu cho thấy rằng người Tha La đã đặt tình yêu quê hương tổ quốc lên trên hết:

"Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. ờ...Ơ...Hơ... Tiếng hát,
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La hận quốc thù,
Tha La buồn tiếng kiếm.
Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh..."

Pháp là ân nhân của nền đạo, nhưng lại là kẻ thù của dân tộc. Dù phải chọn lựa khó khăn, thanh niên Tha La đã dứt khoát ra đi kháng chiến, bỏ lại ngôi nhà thờ hoang vắng. Tha La đã trở thành một trong những địa bàn của Đoàn Thanh Niên Tiền Phong. Đặc biệt, không phải chỉ có dân thường mà cả những vị tu sĩ cũng tạm xếp áo dòng để vô bưng, ví dụ trường hợp của linh mục Nguyễn Bá Kính ra đi năm 1946.

Sau năm 1954, Tha La hồi sinh, được tái thiết, mỡ mang nhanh chóng. Nhưng chỉ được ít năm sau thì trận giặc khác nổi lên. Đó là cuộc nội chiến nam bắc phân tranh mà nguyên nhân là ngọn lửa căm thù đấu tranh giai cấp theo chủ thuyết Công Sản, chủ trương giải phóng nguời dân trong xã hội bị cùm kẹp, hy sinh cho một thế giới đại đồng vô sản của Marx-Lê (sic), người CS vốn chủ trương đấu tranh sắt máu, cổ xúy vô thần, vô tín ngưỡng, vô nhân tâm giết oan hơn tha lầm, và chiến tranh đã ảnh hưởng đến sinh hoạt êm đềm của Tha La. Đoạn trích thơ "Tha La" của Vũ Anh Khanh nghe sao não nề trong tâm hồn tôi:

"- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
..."

Hay như ý thơ của Lâm Thanh, nghe trong bài "Tha La ngày trở lại" cho thấy hậu quả của chiến tranh tràn vào sinh hoạt Tha La, nghe trong buồn tênh:

"Ngày quê hương súng nổ
Ta vật vã yêu thương,
Rẽ đôi đường sông núi
Nước vận trở về nguồn.
Ngày quê hương nhuộm đỏ
Anh tức tưởi ra đi,
Em ở cùng giặc dữ,
Nghe tim vỡ biệt ly.
Anh chim trời gẩy cánh
Hằn bao vết thương lòng
Vẫn miệt mài viễn xứ
Mộ phần biết có không!..."

Cũng như bao địa phương khác trên đất nước Việt Nam thân yêu khi giặc tràn vào thôn xóm, Tha La đã đứng lên tự vệ cho chính mình một cách oai hùng, Tha La của sự kiên cường, của niềm tự hào bất khuất. Lần nầy thì người dân đất Tha La rời bỏ hàng ngũ những người bạn kháng chiến cũ để trở về với người quốc gia, với lập trường dân tộc. Họ yêu Chúa, yêu nước, yêu bờ ruộng nương, yêu con sông rạch, yêu xóm làng, một cách cụ thể hơn là họ không yêu chủ thuyết vô gia đình, vô tín ngưỡng của Xã Hội Chủ Nghỉa. Tha La giữ vững niềm tin, giữ vững lập trường với quê hương dân tộc theo dòng lịch sử đã qua. Sau đây chúng ta hãy xét Tha La qua lãnh vực thi ca và âm nhạc hay một truyền thống lâu đời của đất Tây Ninh.

Tha La qua thi ca:

Như đã trích đoạn thơ ở phần trên, bài thơ "Tha La" của tác giả Vũ Anh Khanh, dài 93 câu, được in trong phần mở đầu của cuốn truyện dài có tên " Nửa Bồ Xương Khô", dày hơn 500 trang cũng của chính ông, ghi lại một số hình ảnh hào hùng khi tác giả đi kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954). Sách xuất bản khoảng đầu thập niên 50. Bài thơ nầy đã được anh Lê Tấn Tài sưu tầm và đăng trong Tây Ninh Mến Yên, đặc san năm Mậu Dần 1998, trang 41. Rồi anh Duy Văn Hà Đình Huy chủ trương tờ Đời Mói tại bắc Cali, cũng là người Tây Ninh rành rẽ về Tha La đã email cho tôi. Người bạn khác là nhà văn Trần Anh Dũng ở Minneapolis, là người đồng hương Gò Dầu Hạ đã in dấu chân tại đất Trảng Bàng và Tha La lắm lần cũng cho tôi bài thơ này. Sáng nay nhà văn Hoàng Ngọc Liên cũng gởi tôi bài tùy bút về Tha La của nhà thơ Nhược Trần Ngọc Huệ tại Raleigh, North Carolina bàn về bài thơ bất hủ này. Có lẽ nói không ngoa trong văn học khi nói về đất Tha La, ta không thể bỏ quên bài thơ lịch sử của người Tha La Vũ Anh Khanh. Hồn thơ của ông ấp ủ những tình tự về Tha La, những nỗi lòng của Tha La và những dòng văn chương do chính người Tha La ghi tạc vào bia đá vă n học Việt Nam. Nào, ta hãy lắng nghe tâm tình của Vũ Anh Khanh:

"- Đây Tha La xóm đạo,
Có trái ngọt, cây lành.
Tôi về thăm một dạo,
Giữa mùa nắng vàng hanh,
Ngậm ngùi, Tha La bảo:
- Đây rừng xanh, rừng xanh,
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.

Viễn khách ơi! Hãy dừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng

Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng.
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây! Khách hỡi! Có ai chờ?
Ai đưa đón?

- Xin thưa, tôi lạc bước!

Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ.
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng
Tha La hỏi: - Khách buồn nơi đây vắng?
- Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!

- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn.
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít,
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch.
Gặp cụ già đang ngắm gió bâng khuâng
Đang đón mây xa... Khách bỗng ngại ngần:
- Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng: "Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!

Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi, đau đất nước lầm than".
***

Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. ờ...Ơ...Hơ... Tiếng hát,
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La hận quốc thù,
Tha La buồn tiếng kiếm.
Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh
ờ... Ơ... Hơ... Có một đám Chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh chúa, đám Chiên lành run rẩy:
- Lạy đức Thánh Cha!
Lạy đức Thánh Mẹ!
Lạy đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...

Rồi... cởi trả áo tu,
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Rồi... nhẹ bước trở về trần...
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân,
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tang,
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi cho bẽ bàng!
ờ... Ơ... Hơ...ờ... ơ Hơ... Tiếng hát;
Rung lành lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc,
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách quá đi thôi!
***

Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ.
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
- Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dâng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám Chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh..."

Nếu bài thơ trên của Vũ Anh Khanh cho tôi một tình cảm xúc động tình hoài hương của đất Tây Ninh nói chung, thì một bài thơ khác về Tha La do anh Lâm Thanh sáng tác khi anh trở lại thăm Tha La cũng làm tôi xao xuyến nỗi lòng với Tha La không kém, hãy nghe tâm sự của Lâm Thanh trong bài "Tha La ngày trở lại" như sau:

"Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Tìm lại bóng trời xanh
***

Hăm lăm năm không gặp,
Từ thuở em chưa chồng,
Anh xứ người mê mãi
Tình xa hơn biển Đông.
Năm xưa mình ngây dại
Hẹn nhau bóng giáo đường.
Thiên đàng vừa mở cửa
Tim đỗ những hồi chuông.
Anh tay dài cánh hạc
Run run vuốt vai tròn
Em thẩn thờ... khẻ nói:
"Tay anh! cánh thiên thần"
Em tóc mềm lụa rũ
Phủ dịu nắng chiều hanh,
Mắt rưng buồn khép lững
Nhốt trọn bóng trời xanh.
Anh khờ hơn đà điểu
Chúi đầu trong tóc em
Mong trốn đời dông bão,
Nhưng đời vẫn tối đen.
***

Ngày quê hương súng nổ
Ta vật vã yêu thương,
Rẽ đôi đườụng sông núi
Nước vận trở về nguồn.
Ngày quê hương nhuộm đỏ
Anh tức tưởi ra đi,
Em ở cùng giặc dữ,
Nghe tim vỡ biệt ly.
Anh chim trời gẩy cánh
Hằn bao vết thương lòng
Vẫn miệt mài viễn xứ
Mộ phần biết có không!
Hăm lăm năm trở lại
Em đã hai đời chồng
Tóc dài pha mây xám
Vai mòn gánh đau thương
Bên em bầy trẻ đói
Đứa gọi mẹ, gọi bà.
Anh sửng sờ, khách lạ!
Trẻ dáo dác ngờ... cha!
Tha La ngày trở lại,
Cở tươi... xanh giáo đường
Mộ tình chưa lấp kín
Đáy lòng vẵng tiếng chuông
Chia tay hồn tê tái
Em ấp úng... nỗi niềm:
"Tay thiên thần anh nhé
Nhớ về vuốt mắt em!"
***

Quay đi, tình câm lặng,
Nghe lệ nhỏ sau lưng,
Giáo đường, sân nhạt nắng,
Lặng lẽ bóng chuông nghiêng!!!"

(Tặng Điền thị Gia Bình, Lâm Thanh)
Tha La qua âm nhạc:

Tôi còn nhớ những năm đầu thập niên 60 khi nghe những bài tình ca thật là tuyệt tác đối với tâm hồn và ý thích âm nhạc của tôi như các bài: Những Đồi Hoa Sim, Màu Tím Hoa Sim, Đồi Thông Hai Mộ, Hàn Mặc Tử,... và hai bản nhạc về đất Tha La của Tây Ninh Quê Tôi là Tha La Xóm Đạo và Hận Tha La, nói lên nỗi buồn khi Tha La nhuốm màu chiến tranh có nỗi biệt ly hay sự quyết tâm bảo vệ xóm làng của người Tha La. Chính vì sự ra đời hai bài hát này, mà một của nhạc sĩ Dzũng Chinh và bài kia của thi nhạc sĩ Sơn Thảo, đã khiến cho quần chúng biết đến Tha La và nhiều người biết tới Tha La với một ấn tượng đẹp đẽ trong lòng kể từ ngày bài thơ của Vũ Anh Khanh được xuất bản vào thập niên 50, để sau này nhạc sĩ Dzũng Chinh đưa vào khung nhạc và làm nỗi hứng khởi cho Sơn Thảo hay Lâm Thanh.

Tha La Xóm Đạo

Nhạc: Dzũng Chinh Lời/thơ: Vũ Anh Khanh

"Đây suối rừng xanh đồn quanh
Đây mây trắng nghìn hoa với cây lành
Còn gì viễn khách về đây chi hỡi người
Đất Việt giặc tràn lan
Biết Tha La hận căm
Nhẹ bước gặp cụ già, ngạo nghễ đang ngóng gió
Em chẳng biết gì ư
Cười run run dấu trắng
Đã từ bao năm qua khói loạn khu mịt mù
Khách về chi đây, nghe tiếng hát khách hận do đây buồn
Tiếng hờn ai oán, cời ra áo một chiều thu lửa dậy

Nghe não nùng chưa,
Tha La buồn tiên kiếp, Tha La giận mùa thu
Ôi khi hết giặc xong
Hãy về thăm Tha La có trái ngọt cây lành
Cây lá ngẩn ngơ nằm trên nghìn hoa máu làm hoen cả ven rừng
Lòng người viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh với rừng già mong manh
Đám mây tan phủ quanh, trời tối về bàng hoàng
Lạnh dài đôi khúc hát
Vang giữa chiến trường xa, giặc đang gieo tan tóc
Từng đoàn trai ra đi đã thề chẳng về nhạ"

Hận Tha La

Nhạc/Lời: Sơn Thảo

"Ðây Tha La, đây xóm đạo tiêu điều
Cây buồn quanh hận thù dâng ai oán
Ðây mênh mông, Tha La buồn quạnh quẽ
Kìa rừng cây trái ngọt khách một dạo về thăm xóm
Hồn ngây ngất và buồn xưa lây lất
Nhìn hoa máu rưng sầu.

Ðây Tha La, đây xóm đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh màu tang khói lửa
Bao năm qua, Tha La còn chờ đó
Ðoàn người đi giết thù đã hẹn về từ dạo ấy
Lòng viễn khách, bồi hồi như thương tiếc
Mùa thu nắng hanh vàng.

Ðiệp khúc:

Tha La ơi, xóm đạo ơi
Còn đâu nữa chiếc áo ngày xưa
Ðành khép kín, khoác vào bộ chiến y
Lòng hờn căm, một chiều xưa lửa dậy
Nghe não nùng chưa, Tha La sầu khuất biếc
Xóm đạo chắc hận thù.

Ðây Tha La, đây xóm đạo yên lành
Nay còn Ðây một rừng xanh suối mát
Tha La ơi, khi nao giặc tan hết
Ngày vui xưa trở lại, khách sẽ hẹn về thăm xóm
Hồn lây lất, và buồn xưa chất ngất
Hận kia đến bao giờ."

Phần lớn những khúc nhạc nhập tâm đại đa số quần chúng là nhạc về quê hương, lời đơn giản và ý mộc mạc dể hiểu. Hai nhạc sĩ Dzũng Chinh và Sơn Thảo sáng tác nhạc theo cung cách này với tiết tấu Bolero nhịp nhàng. Nên cả miền Nam tự do ngày xưa đã tán thưởng hai khúc ca này nhiệt tình. Tha La là một phần đất của quận Trảng Bàng như đã bàn, mà Trảng Bàng lại là một phần đất của Tây Ninh. Do đó người Tây Ninh phải có một niềm hãnh diện đặc biệt, với những ai đã từng ghé qua Tha La để hiểu tình người Tha La vốn chân chất và hiếu khách. Phải chăng đó là nét đẹp của dân tộc Việt Nam?

Hơn nữa, khi nghe thơ hay nhạc về Tha La mà người ta không khỏi dâng lên nỗi cảm thông và những niềm bâng khuâng trong lòng vì có thể họ tự hỏi: Tha La là huyền thoại hay thực tế? Nếu có thực thì nó tọa lạc tại đâu, nó có từ hồinào, bây giờ ra sao? Chính vì những ẩn ý như vậy mà Việt Hải xin tham khảo ài viết của thi sĩ Lâm Thanh có được bài viết này trong loạt bài vè Tây Ninh Quê Tôi, có trái ngọt cây lành, có Tha La Xóm Đạo, có kỷ niệm Tha La khi ghé Trảng Bàng ăn món bánh canh nhớ hoài vì nam thực như hổ, có những cô nữ sinh Tha La cười khúc khích với ánh mắt duyên dáng, của nét vừa ngây thơ, vừa bẽn lẽn khi ngắm nhìn tôi uống nước mưa có lăng quăng tung tăng trong nước của ngày xưa; Ôi, kỷ niệm quê hương sao lắm ngọt ngào, lắm nhớ nhung hôm nay khung trời Tha La bỗng trở về từ ký ức cũ, mà tưởng rằng đã quên.

Việt Hải Los Angeles
2/27/2016

Edited by user Wednesday, March 3, 2021 12:08:35 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#23 Posted : Sunday, February 28, 2021 9:16:51 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
MÙA HÈ Trong Thi Ca Của Tuổi Học Trò


UserPostedImage

Sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về
Chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ …

(Thơ tiền chiến)

Mỗi khi tưởng nhớ lại quá khứ xa xưa, nhất là lúc chúng ta hiện đang sống tha hương, có lẽ chúng ta không làm sao quên được những tháng ngày học trò đong đầy kỷ niệm mà chắc chắn quí Thầy Cô và quí anh chị em, không nhiều thì ít cũng đã một lần trải qua.

Sau những tháng ngày cùng với bạn bè miệt mài đèn sách chúng ta thường nghĩ đến hè, một phần bởi vì

Hè về hè về, nắng tung nguồn sống khắp nơi
Hè về hè về, tiếng ca nhịp phách lên khơi
đầu gềnh suối mát, reo vui dào dạt ngập trời gió mát
ven mây phiêu bạt hồn say ý chơi vơi
ngày xanh thắm nét cười, lòng tha thiết yêu đời

(Hè về của Hùng Lân)

Đúng như nhạc sĩ Hùng Lân đã diễn tả, mùa hè trời đẹp, nắng ấm, phong cảnh hữu tình. Một thi sĩ nào đó đã phát họa một bức tranh thật đẹp, có tiếng ve ca, với hàng cây phượng nở hoa dọc theo hàng rào sân trường mỗi lần hè trở lại:

Hè sang lá cây xanh màu, hè sang vang tiếng ve sầu
Hè sang phượng tươi thấm màu, ru say hồn thi nhân ..

Hè sang lá cây xanh màu, hè sang vang tiếng ve sầu
Hè sang phượng tươi thấm màu, nơi ngôi trường thân yêu ..

Khi đang còn đến trường chúng ta mong hè về để được nghỉ học đi chơi, nhưng lại mâu thuẩn với chính mình vì hè đến là bắt buộc phải xa cách thầy cô bạn bè, tiếc nuối như vừa đánh mất cái gì.

Hãy nghe người thi sĩ tâm tình thay cho chúng ta:

Mỗi độ hè sang nghe lòng thêm lưu luyến.
Trông cánh phượng rơi mà tiếc thương tuổi học trò.
Ngày nao tung tăng trên đường hoa bay giăng giăng.
Tặng nhau hoa rơi thấy lòng như xót xa nhiều …

Hè đến, chia tay nhau, mỗi người một nơi. Có bạn ở nhà giúp gia đình, có bạn theo cha mẹ hay anh chị đi đây đi đó, về quê thăm bà con, bạn bè. Hoặc nếu có điều kiện thì đi xa hơn nữa. Vào Đà Lạt nghỉ mát hay viếng thăm Nha Trang tắm biển… Bạn nào vào lứa tuổi đôi tám trở lên nhỡ thầm yêu ai đó rồi thì tâm trạng có khi hơi khác. Hãy nghe Thanh Sơn thố lộ:

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn,
Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương
Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi,
Phút gần gủi nhau mất rồi, tạ từ là hết người ơi!

Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng,
biết ai còn nhớ đến ân tình xưa

Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu,
những chiều hẹn nhau hết rồi, giờ như nước trôi qua cầu.
(Nỗi buồn hoa phượng của Thanh sơn)

Hè về là lúc bạn bè thầy cô luyến tiếc, tạm biệt chia tay. Nhạc sĩ Lam Phương đã mượn nốt nhạc lời ca để diễn tả giây phút này:

Hôm nay đây còn vui trông thấy nhau
Bên tiếng ca tiếng đàn vượt trời cao
Lời vui thắm thiết đưa trao, như khi mới gặp nhau
Nhưng anh ơi ngày mai ta cách xa
Anh kinh đô tôi phải về miền xa,
Biệt ly ai khéo gieo chi lên bao mái đầu xanh….

(Ngày Tạm Biệt)

Tuổi học trò có thể nói là lứa tuổi khá hồn nhiên, ngây thơ nhất. Tuy vậy vẫn không thiếu những mối tình học trò thật đẹp, trong trắng với bao nhiêu mộng mơ. Làm sao quên được những buổi tan trường anh chàng lẩn thẩn đi theo sau người thầm yêu trộm nhớ nhưng có lẽ vì rụt rè chưa một lần tỏ tình. Tình yêu học trò đã được phản ảnh qua bài ca "Màu Kỷ Niệm" của nhạc sĩ Phạm Đình Chương:

Nhớ ngày nào tan trường về chung lối
Mắt thuyền sương, nghiêng nón ngất ngây đời
Lòng trao lòng cho tình vút lên khơi,
Cho ngon màu trìu mến ướt lên môi
Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc,
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương.
Anh pha mực cho vừa màu luyến thương.

Thời gian trôi qua, có bạn đến lúc phải rời trường sau khi xong trung học hay vì hoàn cảnh nào đó. Buổi chia tay từ giã bạn bè, từ giã ngôi trường sao không khỏi bùi ngùi tiếc nhớ :

Thế rồi từ ly chúng mình đi trăm lối.
Mỗi đứa một nơi, để tiến thân trong cuộc đời.
Ngày chia tay nhau sân trường hoa rơi lao xao.
Ngàn câu thương đau có loài ve nói thay mình.
Xa cách nhau rồi, thương tiếc cũng đành thôi.

(Mùa hoa học trò )

Kỷ niệm học trò khó nhạt phai. Những hình ảnh đẹp với bạn bè, thầy cô trong chuổi ngày cặp sách đến trường hình như luôn luôn quanh quẩn bên ta, khó quên:

Biết bao ngày tháng êm đềm dần trôi
Mái trường xưa đã xa
Tiếng nói thầy cô dịu dàng theo ta năm tháng
Còn đâu nữa dòng lưu bút mến thương
Màu mực tím cùng trang sách vấn vương th

(Tiếng hát học trò của Nguyễn Hiền)

Lưu bút ngày xanh

Để rồi có lúc tình cờ giữa hè trở về quê cũ ghé thăm lại trường xưa. Người học trò cũ không khỏi bàng hoàng tiếc nuối:

Một thoáng bâng khuâng trước sân trường im vắng
Nhặt cánh hoa rơi
Ép sâu vào nhớ thương hoài
Một thời vô tư đầy mơ ước
Một thời ngây thơ khi mới yêu
Rồi hè qua đi cùng năm tháng
để lại trong tôi bao vấn vương
(Kỷ niệm mùa hè của Nguyễn ngọc Thiện)

Cũng có bạn may mắn thăm lại trường xưa sau hè khi mùa tựu trường bắt đầu trở lại. Không quên người yêu thầm nhớ trộm bé nhỏ ngày nào, chàng chờ trước cỗng lẻo đẻo theo nàng sau khi tan trường về. Nàng ta biết rõ nhưng làm bộ như không để tận hưởng sự đeo đuổi của anh chàng, trách yêu:

Nầy đừng theo tôi nói nữa ông ơi
Bước chân tôi lại cuống quít rồi
Đã từ lâu thấy ông cùng lối
Nhưng giả vờ không biết đó thôi

(Tuổi học trò)

Hình ảnh dễ thương, sự tỏ tình kín đáo được thể hiện qua sự diễn tả nhẹ nhàng nhí nhảnh nhắn nhủ cho chàng ta viết thư tình cho mình của người thi sĩ vô danh nào đó:

Ông nặng lòng cũng chẳng ích chi
Giấy xanh mực tím để mà làm gì ?
Chắc hẳn tối nay bên bàn cũ
Nhật ký tôi dầy thêm trang ghi

Thời gian xa cách đôi khi khá lâu, tình cờ bạn bè hội ngộ lại, bở ngỡ nhìn nhau ôn lại thuở học trò mộng mơ ngày nào. Nhạc sĩ Phạm thế Mỹ đã gợi cho ta thấy hình ảnh này như sau :

Tôi lại gặp anh
Giờ đây nơi quán nhỏ
Tuỗi 30 mà ngỡ như trẻ thơ
Nhớ gì từ ngày anh xa mái trường
Nhớ gì từ ngày anh vui lên đường
Lối gầy về nhà anh hoa phượng thắm ...

(Trăng tàn trên hè phố)

Và rồi cùng nhau ôn lại quá khứ của tuổi học trò ngây thơ trong trắng ngày nào:

Bây giờ còn nhớ hay không?
Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa
Ngây thơ em rủ anh ra
Nhặt được hoa phượng về nhà chơi chung.

Thời nào và ở đâu cũng vậy, mùa hè, hoa phượng luôn làm xao xuyến lòng người. Những năm sau này ở trong nước và cả ở hải ngoại người ta vẫn thường hát bài Phượng Hồng, thơ của Đổ Trung Quân với những lời lẽ dễ gây xúc cảm

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay, thầm lặng mối tình đầu

Anh chị và các bạn thân mến,

Có lần nào anh chị và các bạn nhặt hoa phượng về ép trong sách để làm kỷ niệm? ... Bởi vì khi nói đến tuổi học trò thì không thể không nhắc đến những kỷ niệm! Phần nhiều những kỷ niệm đó có liên quan đến thơ nhạc. Vâng, còn nhiều bài thơ, bản nhạc ca ngợi tuổi học trò nhưng tôi chỉ xin trích một số giới thiệu với quí thầy cô, anh chị em để chúng ta cùng ôn lại những tháng ngày sáng chiều hai buổi cắp sách đến trường, đến những lúc bịn rịn viết lưu bút cho nhau trước khi chia tay mỗi độ hè về:

Mỗi độ hè sang nghe lòng thêm lưu luyến.
Trông cánh phượng rơi mà tiếc thương tuổi học trò.
Ngày nao tung tăng trên đường hoa bay giăng giăng.
Tặng nhau hoa rơi thấy lòng như xót xa nhiều…

Lê Ngọc Châu

Edited by user Sunday, February 28, 2021 3:38:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#24 Posted : Wednesday, March 3, 2021 10:33:18 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
NHỚ QUÁ MỘT THỜI XƯA ÁO TRẮNG

Ôi, nhớ quá một thờì xưa áo trắng,
Nón bài thơ, guốc rộn rã trên đường.
Bước chân sáo tung tăng cùng gió nắng,
Lòng rộn ràng theo gió tới muôn phương.

Ngồi trong lớp mà mắt ngoài cửa sổ
Hồn đi hoang tìm nét đẹp hoang sơ.
Thày, cô giảng, nghe vang vang xa tắp
Trí óc còn mải ươm mộng dệt mơ.

Trong chiếc cặp, có dăm ba quyển sách,
Vở học trò, màu mực tím thân yêu.
Những dòng chữ trên đường thẳng kẻ sẵn,
Tuổi vô tư, chưa biết nghĩ ngợi nhiều.

Giờ ra chơi, chạy vội sang lớp khác,
Kiếm tìm xem, cô bạn nhỏ cùng đường
Đôi mắt đen to, mảnh mai dáng hạc
Tóc buông dài làm bao kẻ vấn vương.

Chuông tan trường, cả một rừng áo trắng,
Như đàn ong vỡ tổ, nối nhau đi.
Như cái chợ, có bao giờ im lặng
Tiếng nói cười trong phút tạm chia ly.

Rồi con phố vắng dần dần bóng dáng
Gió hạ hồng đong đưa lá thắm tình.
Lác đác đàng xa, còn vài đốm trắng,
Lầm lũi đi, từng bước nhỏ, một mình.

HONG VU LAN NHI
9/15/2004

Edited by user Monday, March 15, 2021 9:05:58 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#25 Posted : Sunday, March 7, 2021 11:03:12 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
14 đoản khúc của cuộc đời


Nguồn : Nghệ Thuật Sống

1.- Chớ có đi tìm của cải xa hoa, bởi vì nó chỉ đánh lừa bạn. Chớ có đam mê vẻ bề ngoài, bởi vì nó sẽ chóng tàn phai. Hãy đi tìm người khiến bạn mỉm cười. Bởi vì chỉ có nụ cười mới có thể thắp sáng một ngày tăm tối. Hãy cứ hy vọng, rằng bạn sẽ sớm tìm thấy người khiến bạn mỉm cười.

2.- Cầu chúc cho bạn có đủ hạnh phúc để trở nên đáng yêu, đủ gian nan để khiến mình mạnh mẽ, đủ nỗi buồn để có lòng nhân ái, đủ hy vọng để biết mình hạnh phúc và đủ tiền để mua những món quà tặng nhau.

3.- Khi cánh cửa hạnh phúc đóng lại, cái khác sẽ mở ra. Nhưng chúng ta lại thường nhìn quá lâu vào cánh cửa đóng để rồi không thể nhìn thấy cánh cửa nào đang mở sẵn cho ta. Chúng ta không biết có gì đến khi đánh mất nó. Chúng ta chẳng biết bỏ lỡ điều gì cho đến khi điều ấy trở lại.

4.- Hãy luôn đặt ta vào vị trí của người để biết rằng nếu ta đau thì chắc chắn người cũng đau như ta vậy.

5.- Khởi nguồn của tình yêu là hãy để người ta yêu được sống như chính họ và đừng cố uốn nắn họ theo hình mẫu của ta. Nếu không, ta chỉ yêu hình ảnh phản chiếu của ta trong chính họ mà thôi.

6.- Có lẽ định mệnh muốn ta gặp một vài người "khác" trước khi gặp người "ấy" để rồi cuối cùng gặp được người "ấy" ta mới biết "món quà" đó có ý nghĩa biết bao.

7.- Chỉ mất một phút để cảm thấy say đắm ai đó, một giờ để thích và một ngày để yêu. Nhưng ta sẽ mất cả cuộc đời để chỉ quên một người.

8.- Khi bỏ qua tất cả cảm xúc, niềm si mê, sự lãng mạn mà ta vẫn thấy còn yêu thì đó chính là tình yêu.

9.- Đáng buồn thay, khi bạn gặp được người rất có ý nghĩa đối với đời bạn thì lại nhận ra người ấy chẳng cùng cảm xúc như bạn. Và bản thân bạn sẽ phải chọn lựa. Hoặc ngồi đó mà gặm nhấm nỗi buồn. Hoặc để cho điều đó trôi qua mãi mãi.

10.- Tình yêu bắt đầu bằng nụ cười, tiến triển bằng nụ cười, kết thúc với giọt nước mắt hay với vòng tay ôm xiết bất tận.

11.- Tình yêu sẽ đến với những ai vẫn nuôi hy vọng cho dù đã có lần bị phản bội, với những ai vẫn ấp ủ tình yêu cho dù đã co lúc bị chôn sâu trong những vết thương lòng.

12.- Sẽ là khổ đau khi yêu ai mà không được đáp lại. Nhưng có gì đau đớn bằng yêu một người mà không tài nào để người ấy biết cảm xúc của ta.

13.- Có những điều muốn nghe lại chẳng bao giờ nghe được từ người ta yêu mến. Nhưng xin chớ có làm thinh trước những gì mà một người nói với bạn bằng cả con tim.

14.- Khi sinh ra, bạn khóc trong lúc mọi người xung quanh mỉm cười. Hãy sống để khi chết, bạn mỉm cười trong khi những người xung quanh thì khóc.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#26 Posted : Sunday, March 7, 2021 7:43:50 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Ngày Phụ nữ

UserPostedImage

Hôm nay mồng 8 tháng 3
Ngày hạnh phúc, chị em ta an nhàn
Không phải nước rót, cơm mang
An ngon mặc đẹp, mặc chàng hầu lo.

HONG VU LAN NHI

Edited by user Monday, March 8, 2021 8:35:27 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#27 Posted : Monday, March 8, 2021 8:34:53 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Lịch sử và ý nghĩa ngày Quốc tế Phụ Nữ 8/3


UserPostedImage

Ngày 8/3 hàng năm, phụ nữ trên thế giới được cả nhân loại tôn vinh. Tuy vậy, ngày 8/3 là ngày gì, nguồn gốc và ý nghĩa của ngày này không phải ai cũng hiểu rõ.

Lịch sử ra đời ngày Quốc tế Phụ nữ

Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 bắt đầu từ phong trào đấu tranh đòi quyền sống của nữ công nhân Mỹ.

Cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản phát triển tột bậc, nhất là ở nước Mỹ. Nền kỹ nghệ phát triển, thu hút nhiều phụ nữ và trẻ em vào làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp. Bọn chủ tư bản lợi dụng sức lực của phụ nữ, trẻ em, trả lương rẻ mạt làm cho đời sống của phụ nữ và trẻ em cực khổ, điêu đứng. Căm phẫn trước sự áp bức tàn bạo đó, ngày 8/3/1899, tại hai thành phố Chicago và New-York (của nước Mỹ) đã nổ ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nữ công nhân ngành dệt may, đòi tăng lương, giảm giờ làm.

Cuộc biểu tình của đòi quyền lợi của phụ nữ trên thế giới.

Mặc dù bị thẳng tay đàn áp, bắt bớ, đuổi ra khỏi nhà máy nhưng chị em vẫn đoàn kết, bền bỉ đấu tranh, buộc bọn chủ tư sản phải nhượng bộ. Thắng lợi đó đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của phụ nữ lao động Mỹ. Ðến tháng 2 năm 1909 lần đầu tiên phụ nữ khắp nơi trên nước Mỹ đã tổ chức "Ngày phụ nữ" mít tinh, biểu tình rầm rộ đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ. Tại New-York đã có 3000 chị dự cuộc họp phản đối chính phủ công nhận quyền bầu cử của phụ nữ.

Những cuộc đấu tranh đầu tiên đó của nữ công nhân Mỹ đã có tiếng vang lớn, là nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh của phụ nữ lao động trên toàn thế giới. Trong phong trào đấu tranh lúc bấy giờ, đã xuất hiện 2 nữ chiến sĩ cách mạng lỗi lạc là bà Cơ-la-re-Zet-Kin (người Ðức) và bà Rô-da-luya-Xăm-Bua (người Ba Lan). Hai bà đã phối hợp với bà Nadezhda Krupskaya (vợ của Lê-nin) vận động thành lập Ban Thư ký quốc tế phụ nữ để lãnh đạo phong trào.

Trước sự lớn mạnh về số lượng và chất lượng của phong trào phụ nữ trên thế giới. Ngày 26 và 27 tháng 8 năm 1910, đại hội lần thứ 2 của những người phụ nữ thế giới đã được triệu tập ở Copenhagen (thủ đô Ðan Mạch), về dự có 100 nữ đại biểu của 17 nước, đã quyết định lấy ngày 8/3 làm ngày quốc tế phụ nữ với mục đích đấu tranh đòi các quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

Những cuộc đấu tranh đầu tiên đó của nữ công nhân Mỹ đã có tiếng vang lớn

Ngày làm việc 8 giờ. Công việc ngang nhau, tiền lương ngang nhau. Bảo vệ bà mẹ và trẻ em.

Từ đó đến nay, ngày 8/3 trở thành ngày hội của phụ nữ thế giới, đoàn kết đấu tranh để tự giải phóng, thực hiện quyền nam nữ bình đẳng và cũng từ đó, phụ nữ tiến bộ khắp năm Châu tổ chức ngày 8/3 với những nội dung và hình thức phong phú.

Nội dung ngày quốc tế phụ nữ 8/3 không chỉ dừng lại ở quyền bình đẳng mà được mở rộng thêm khái niệm mới "phát triển", "Giới". Vấn đề phụ nữ đã được đông đảo các quốc gia trên thế giới nhìn nhận và đánh giá một các đầy đủ trên những khía cạnh khác nhau thông qua một loạt các hội nghị thế giới. Từ thập niên 70 đến nay, đã có 4 hội nghị thế giới về phụ nữ:

•Hội nghị lần thứ nhất tổ chức tại Mexico năm 1975, mở đầu thập kỷ phụ nữ.
•Hội nghị lần thứ hai tổ chức tại Côpenhagen (Ðan Mạch) năm 1980.
•Hội nghị lần thứ ba tổ chức tại Nairobi (Kenya) năm 1985. Tại hội nghị này "Chiến lược nhìn về phía trước vì sự tiến bộ của phụ nữ" đã được thông qua.
•Hội nghị lần thứ tư tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1995.

Một nửa của thế giới

Các hội nghị thế giới về phụ nữ do Liên hiệp quốc đứng ra tổ chức là những sự kiện Quốc tế to lớn đối với đời sống chính trị của toàn thế giới đặc biệt đối với phụ nữ. Vì lẽ đó, vấn đề giải phóng phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ là một vấn đề toàn cầu.

Mục đích của Hội nghị Bắc Kinh là nhằm kiểm lại việc thực hiện "Chiến lược nhìn về phía trước vì sự tiến bộ của phụ nữ" đã được đề ra tại hội nghị Nairobi và công ước liên hiệp quốc "Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ" (Công ước CEDAW) đồng thời thông qua "Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ toàn cầu đến năm 2000".

"Tuyên bố Bắc Kinh" và "Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ toàn cầu đến năm 2000" là hai văn kiện quan trọng nhất của hội nghị Bắc Kinh. Hai văn kiện này một mặt phác họa những trở ngại trên con đường phấn đấu cho sự bình đẳng của nữ giới bên cạnh nam giới; Mặt khác khẳng định những cam kết và sự quyết tâm của các chính phủ, các tổ chức quốc tế bằng mọi biện pháp nhằm tới mục tiêu Bình đẳng-Phát triển-Hòa bình vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Ngày Quốc tế Phụ nữ tại Việt Nam

Thực hiện cam kết đó, ngày 4 tháng 10 năm 1997, chính phủ nước ta đã có quyết định số 822/TTG về việc phê duyệt kế hoạch hành động Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, ban hành 11 mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000 nhằm cam kết trước thế giới Hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam thực hiện mục tiêu "Hành động vì bình đẳng, phát triển và hòa bình" của hội nghị Bắc Kinh.

Ở nước ta, ngày 8/3 còn là ngày kỷ niệm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, 2 vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc, giành lại chủ quyền dân tộc. Niềm tự hào và ý chí vươn lên của phụ nữ Việt Nam một phần cũng có cội nguồn từ truyền thống dân tộc độc đáo đó.

Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa và nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của các Lạc hầu, Lạc tướng, của những người yêu nước ở khắp các thị quận và đông đảo lực lượng là phụ nữ tham gia khởi nghĩa.

Được sự ủng hộ đông đảo của các lực lượng, cuộc Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã lan rộng khắp nơi. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Hai Bà Trưng, cuộc khởi nghĩa đã giành thắng lợi, đập tan chính quyền đô hộ, buộc tướng Tô Định phải cải trang, cắt tóc, cạo râu trốn về nước.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Sau cuộc khởi nghĩa thắng lợi, Bà Trưng Trắc được các tướng lĩnh và nhân dân suy tôn làm vua. Bà lên ngôi và lấy niên hiệu là Trưng Nữ Vương; đóng đô ở Mê Linh (huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay).

Năm 42, nhà Hán lại kéo quân sang xâm lược nước ta. Hai Bà lại một lần nữa ra quân, phất cờ khởi nghĩa, bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, do chênh lệch thế lực với địch quá lớn nên cuộc khởi nghĩa chỉ kéo dài 2 năm. Hai Bà đã hy sinh anh dũng để bảo vệ dân tộc.

Thắng lợi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà trưng được đánh giá là một bản anh hùng ca bất diệt, thể hiện ý chí độc lập và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, cuộc khởi nghĩa cũng là một minh chứng cho sức mạnh của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử nhân loại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày 8/3/1965, đánh giá cao cống hiến của phụ nữ miền Nam Đảng, chính phủ, Bác Hồ đã tặng bức trướng thêu 8 chữ vàng "Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang" và Nhà nước đã tặng Phụ nữ miền Nam Huân chương "Thành đồng" hạng nhất.

Hiện nay, ở Việt Nam, phụ nữ chiếm 51% lực lượng lao động và đóng vai trò chính trong công việc gia đình và nuôi dạy con cái. Trong số các đại biểu của Quốc hội Việt Nam, tổ chức quyền lực cao nhất, phụ nữ chiếm 27,3% và được Liên Hiệp Quốc đánh giá: "Phụ nữ Việt Nam tham gia hoạt động chính trị cao nhất thế giới". Việt Nam có tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%, thạc sĩ 33,95% và tiến sĩ 25,96%.

Tại Việt Nam, để thể hiện sự tôn vinh những người phụ nữ, một nửa thế giới, người ta thường tổ chức rất trang trọng, tràn ngập hoa và những lời chúc tốt đẹp. Ngày 8/3 cũng là ngày nam giới thể hiện sự chăm sóc yêu thương cho người phụ nữ mà họ yêu quý.

Ý nghĩa ngày quốc tế phụ nữ

Trong 365 ngày của một năm, phụ nữ có riêng một ngày để được xã hội quan tâm và bù đắp những thiệt thòi, vất vả trong cuộc sống. Họ luôn âm thầm hy sinh và chịu đựng để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, họ xứng đáng nhận được sự tôn trọng và quan tâm hơn nữa từ một nửa kia còn lại của thế giới, chia sẻ với họ những khó khăn trong công việc và gia đình.

Không ai có thể phủ nhận vai trò và trách nhiệm to lớn của người phụ nữ thời hiện đại: Họ vừa là người nội trợ, vừa tham gia lao động xã hội, đóng góp sức lực của mình vào sự phát triển của đất nước, không những thế họ còn giữ một thiên chức cao cả là một người mẹ, mang nặng đẻ đau ra những đứa con và nuôi dạy chúng thành người. Phụ nữ ngày nay đang dần khẳng định mình là phái đẹp chứ không còn là phái yếu như trước kia.

Nguồn KhoaHoc.tv
Tổng hợp 08/03/2018

Edited by user Monday, March 8, 2021 8:44:47 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#28 Posted : Wednesday, March 10, 2021 12:54:16 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
ĐỪNG QUÊN CÔNG ĐỨC TRƯNG VƯƠNG

Nhớ xưa, mồng 8 tháng 3
Hai bà kêu gọi, dân ta một lòng
Quân Tàu là mối thù chung
Cứu dân, cứu nước, anh hùng ra tay.

Luyện tập quân sĩ đêm ngày
Nguyện cùng dân, mối thù này trả xong
Phất cờ khởi nghĩa thành công
Bảo vệ đất nước, Trưng Vương oai hùng.

Hai bà chiến đấu đến cùng
Dù địch mạnh, toàn dân không nản lòng
Vẫn còn nặng mối thù chung
Và còn canh cánh thù chồng riêng mang.

Thế địch mạnh, không đầu hàng
Dù quân sĩ đã lực tàn yếu suy
Bước đường cùng gặp biến nguy
Hát Giang sông ấy còn ghi muôn đời.

Tháng 3 mồng 8 Việt Nam ơi
Đừng quên công đức một thời liệt oanh
Trưng Vương muôn thuở sử xanh
Bài ca bất diệt hùng anh lưu truyền …

HONG VU LAN NHI
3/8/2018

Edited by user Monday, March 15, 2021 9:05:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#29 Posted : Monday, March 15, 2021 9:04:32 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Vần thơ tiếp nối Hai Le, HONG VU LAN NHI, Hoàng Thy Mai Thảo.

Gió Chiều

Chiêu say đếm giọt cô đơn
Ơn đời ta vẫn buồn hơn chiều buồn
Thơ em rụng xuống hoa hờn
Thả rơi chiếc lá vàng nương trăng sầu
Gió theo vạt áo về đâu
Ngát hương từ gót biển dâu cõi người

Thôi em, buồm lạc bến đời
Bâng khuâng dạ khúc góc trời lênh đênh
Nhớ nhau vuợt núi, xuôi ghềnh
Cánh chim mỏi rụng chênh vênh tháng ngày
Một mai gió cuốn mây bay
Xin em ngự xuống nơi này thế gian

Hai Le
2/29/2020

Say Chiều

Người lẻ bạn. Chim lạc đàn
Say chiều, màu nhớ ngút ngàn trời sâu
Bước chân phiêu lãng về đâu
Đường trần mòn mỏi, tìm nhau chốn nào.

Gió chiều vương nhẹ lao xao
Mơ màng môi ngọt chìm vào vòng mê
Tóc mây cột gió mộng kề
Bềnh bồng sóng lượn... đường về mãi xa.

Thôi anh, tàn giấc mơ hoa
Còn vang cung điệu âm ba vọng buồn
Lắng nghe tiếng chuông chiều buông
Lan dần vào cõi vô thường, sắc không.

HONG VU LAN NHI
2/29/2020

Gió Say Chiều Buồn

ơi Chiều khiến Gió buồn trông
để vườn Xuân nhuốm mênh mông nỗi sầu
người xa xa mãi nơi đâu
sao không về lại nương dâu cuộc đời

một người vẫn đợi một người
một miền thương nhớ một thời xa xưa
một triền sông rộng sóng thưa
một đò một bến trao đưa lời nguyền

bấy giờ Thơ vẫn in nguyên
từng con chữ mộng đầy thuyền lênh đênh
trên ngàn Mây trắng thênh thênh
cuối con đường khổ chông chênh tình buồn./.

StLdV, 03/03/2020
ThyThy_Hoàng Thy Mai Thảo

(riêng tặng thi sĩ Lê Hải và đại tỷ Lan Nhi
vì 2 bài lục bát tình trên đây)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#30 Posted : Tuesday, March 16, 2021 11:35:35 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
SAIGON NGÀY ẤY

Saigon ngày ấy có em
Chân đi guốc mộc, tóc mềm gió bay
Nữ sinh trong áo trắng dài
Nón che nửa mặt, nắng lay dáng hờ.

Em về xếp chữ làm thơ
Tay nghiêng nắn nót ước mơ nhẹ nhàng.
Có con bướm trắng bay sang
Liếc nhìn biết đã có chàng đi theo.

Gió đùa chiếc lá bay vèo
Lòng vui rộn rã như reo như mừng
Bước chân sáo bỗng ngập ngừng
Bóng ai thấp thoáng trên đường nắng trưa.

Niềm vui đôi lúc bất ngờ
Tan trường, anh đợi đón đưa em về
Nón bài thơ vẫn nghiêng che
Ngại ngùng vì sợ bạn bè cười trêu.

Giờ đây cho đến mai sau
Kỷ niệm đẹp đã tan vào hư không
Năm qua tháng lại chập chùng
Vẫn em, một bóng trên đường lẻ loi.

HONG VU LAN NHI
10/13/2004
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#31 Posted : Wednesday, March 17, 2021 1:39:15 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Hoạ nguyên vận Thuỳ Trang, HONG VU LAN NHI

SỢI TÌNH

Tóc mây sợi ngắn sợi dài
Sợi nào đón nắng trên vai hững hờ
Sợi dài mong nhớ thẫn thờ
Đan cùng sợi ngắn đôi bờ hai phương

Sợi Yêu dệt mối vấn vương
Ngàn hoa kết nụ yêu thương chẳng rời
Sợi Bạc nhuộm trắng tuổi đời
Đắng cay chồng chất chơi vơi phận người

Sợi Hờn hay giận chẳng cười
Tràn mi mắt ướt mặn môi ... môi nồng
Sợi Tiǹh là sợi Tơ Hồng
Đắm say duyên thắm chung đường mộng mơ

Sợi Buồn kết chuỗi sầu thơ
Sợi Ghen lạc lối bơ vơ tình đầu
Sợi nào nối lại tình đau
Sợi Thương giăng lại thuở đầu tim tôi

Ngắn dài sợi tóc chẻ đôi
Sợi Tình đã đứt chia phôi kiếp này
Đan chi sợi biệt sợi ly
Chữ tình vẫn lụy – một đời mất nhau

Thùy Trang
3/3/2020

Lạc Nhau

Đã qua bao tháng năm dài
Người vui bên ấy, bên đây ơ hờ
Trung trinh một dạ tôn thờ
Dù người giờ đã mịt mờ ngàn phương.

Sợi tình còn mãi tơ vương
Cột hình bóng cũ chẳng buông chẳng rời
Bao mùa thắm đẹp trong đời
Bao mùa héo úa tàn rơi lòng người.

Ngày xưa tươi nét môi cười
Giờ còn đâu nữa tình vui mặn nồng
Còn đâu nữa tuổi xuân hồng
Vòng tay mê đắm, tình nồng ươm mơ.

Gửi người, buồn thấm hồn thơ
Và hình ảnh cũ, thời mơ mộng đầu
Nào ngờ phận bạc, lòng đau
Tình xưa đã khép, chôn sầu đời tôi.

Hết rồi giấc mộng chung đôi
Thuyền tình đã lạc dòng trôi bến này
Chim trời mờ mịt chân mây
Thôi đành thôi nhé, kiếp này lạc nhau.

HONG VU LAN NHI
3/3/2020

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#32 Posted : Wednesday, March 17, 2021 1:46:36 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)

Những nhạc phẩm của bác sĩ Lê Khắc Bình


Lê Khắc Bình là SVQY.HD20 (YKSG.73) quen thuộc với anh em SVQY chúng ta, thường xuất hiện trong những đêm văn nghệ của Trường QY.

Ngoài Sài Gòn Thuở Đó Làm Sao Quên, LKB viết về tâm trạng chung của nhiều người rời xa quê hương nay trở về thăm chốn cũ để thấy mình lạc lõng và cô đơn trên chính quê hương của mình và cũng có thể là tâm trạng của một số người còn ở lại. Sau đây mời các bạn cùng thưởng thức vài ca khúc ngọt ngào/dễ thương của anh.

- Ngay từ lúc còn là một sinh viên y khoa trẻ tuổi của thập niên '60, anh đã viết bản nhạc đầu đời đầy tính lãng mạn, Phố Xưa.

https://www.youtube.com/watch?v=pqRzDgMyorI

- Được sinh ra và lớn lên từ Huế, một xứ đầy thơ mộng và cũng đầy dấu xưa tích cũ, LKB tưởng có thể đã phải rơi lệ mừng vui khi được trở về thăm lại quê hương sau nhiều năm lưu lạc. Quả thật, anh cũng rơi lệ khi về lại Huế, nhìn thấy Huế của mình tiêu điều dưới những cơn mưa dai dẳng, nhưng xót xa thay, đó là những giọt lệ của kẻ thấy mình bơ vơ lạc lõng trên chính chốn xưa của mình, vì .... người xưa ấy đã biệt tăm, và cảnh xưa ấy đã đổi thay. Anh viết Huế Mưa Hoài.

https://www.youtube.com/watch?v=j0H3xW-J9Ck

- Ở Sài Gòn thuở đó, các cậu học sinh thường lang thang ở các trường nữ như Gia Long, Trưng Vương và Lê Văn Duyệt để chiêm ngưỡng những tà áo trắng học trò, để như Đỗ Trung Quân "là bài thơ còn hoài trong vở, giữa giờ chơi mang đến lại mang về".

Là một cựu học sinh Võ Trường Toản, cũng từng có những kỷ niệm khó quên, những xôn xao rung động khi nhìn qua trường con gái bên kia bờ tường, và qua ý thơ của Vũ Uyên Giang và Thanh Huyền, LKB đã viết Trưng Vương Một Thời Kỷ Niệm.

https://www.youtube.com/watch?v=9PIFqLgNV7c


Edited by user Wednesday, March 17, 2021 1:48:53 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#33 Posted : Monday, March 22, 2021 6:24:19 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Vu Vơ Gửi Nhớ Về Ai

Con đường tình lá me bay
Đong đầy kỷ niệm tháng ngày Bỉnh Khiêm
Nữ sinh áo trắng ngoan hiền
Mắt nai tơ, má đồng tiền lúm sâu.

Ai về xây giấc mộng đầu
Để ai vương vấn canh thâu bóng mờ
Ai về đốt trầm tương tư
Để ai tơ tưởng câu thơ trữ tình.

Ai đăm đắm ngó môi xinh
Để ai đè nén nhịp tim đập dồn
Ai vu vơ tả đêm buồn
Để ai thơ thẩn thả hồn đi hoang.

Ai ơi, ai có hiểu rằng
Vì ai, lòng cứ mơ màng bóng ai
Nhớ ai, nhớ mái tóc dài
Nhớ đôi mắt đẹp u hoài tháng năm.

Nhớ ai, ai nhớ ai chăng
Nhìn gương đối bóng, bóng rằng nhớ ai.
Mong ai hiểu nỗi khổ này
Nhớ ai ai nhớ đêm ngày nhớ ai.

HONG VU LAN NHI
10/19/2020
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#34 Posted : Wednesday, March 24, 2021 9:50:14 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
UserPostedImage

Tưởng Niệm Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

Viên đạn nào đưa người vào cõi chết
Để muôn đời danh tiếng vẫn còn vang
Thân xác lạnh, nhưng tinh thần bất khuất
Vẫn hào hùng, ngạo nghễ với trời Nam.

HONG VU LAN NHI
8/13/2010

Dù không quen biết, LN cũng xin thắp một nén hương trên mộ người lính chiến đã hy sinh mạng sống để bảo vệ đất nước Việt Nam.

***

Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, người chiến sĩ VNCH dũng cảm chiến đấu tới khi bị bắt và bị tử hình ở sân vận động Cần Thơ tháng 8-1975.

Chúng tôi là những Đồng Đội đã từng kề vai sát cánh chiến đấu và có những kỹ niệm vui buồn bên cạnh cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, người đã lần lượt giữ các chức vụ chỉ huy các đơn vị thiện chiến của QLVNCH như Tiểu đoàn 42 Biệt Đông Quân, Sư đoàn 21 Bô Binh, Trung đoàn 15 thuộc Sư đoàn 9 Bô Binh, và chức vụ sau cùng của ông là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu Trưởng Chương Thiện thuộc vùng 4 chiến thuật ( đồng bằng sông Cữu Long).

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã không tuân lệnh đầu hàng của Đại Tướng Dương văn Minh và đã dũng cảm chỉ huy chiến đấu, cuối cùng khi Tiểu khu Chương Thiện bị thất thủ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, một tín đồ Thiên Chúa Giáo ngoan đạo đã không tự sát. Mặc dù bị thương, ông vẫn hiên ngang khi bị Cộng quân tràn ngập bắt giữ và nhục mạ.

Ngày 14 tháng 8 năm 1975, vẫn với thái độ hiên ngang bất khuất, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn bị Cộng quân lên án tử hình và bị bắn tại sân vận động Cần Thơ. Trước hình ảnh ngậm ngùi, thương tiếc lẫn khâm phục của hàng vạn đồng bào miền Tây đã bị Cộng quân cưởng bách đến chứng kiến, dằn mặt.

Chúng tôi được biết có một vị chân tu Phật Giáo đã âm thầm đưa hài cốt của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn qua Hoa Kỳ cải táng để ông gần gủi với gia đình vợ con, cháu đang sống ẩn dật tại tiểu bang California.

Trân trọng kính mời quý Đồng Hương, Quân, Dân, Công, Cán, ChínhVNCH. Quý vị thuộc mọi ngành mọi giới và các thế hệ con cháu dành chút ít thì giờ quý báu để cùng nhau thăm viếng mộ phần của Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn để tỏ lòng tôn kính, ngưởng mộ, và biết ơn đối với một biểu tượng can trường, tiết tháo về một chiến sĩ của quân lực VNCH vì nước hy sinh.

Edited by user Wednesday, March 24, 2021 9:54:26 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#35 Posted : Thursday, March 25, 2021 12:55:42 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
GIÓ ĐƯA CÀNH TRÚC LA ĐÀ


Mới đây tôi được đọc trên mạng lưới Internet một bài phiếm luận lý thú về hai câu thơ, thời tiền đô hộ Pháp. Đó là hai câu lục bát:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương ...

Ngay từ hồi còn học ở Trường Thành Chung Nam Định (1934 - 1937), tôi đã được đọc hai câu thơ này, nhưng không phải là tiếng chuông Thiên Mụ mà là tiếng chuông Trấn Vũ. Theo tôi nhớ thì đây là hai câu đầu của một bài thơ tứ tuyệt:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương,
Mịt mù bãi cát màn sương,
Nhịp chày Yên Thái , bóng gương Tây Hồ..

Thiên Mụ là tên một ngôi chùa danh tiếng ở ngoại thành Huế, còn Trấn Vũ là tên một ngôi chùa cũng rất nổi danh ở phía tây thành Thăng Long cũ (tức Hà Nội). Vậy thì địa danh nào mới đáng coi là chính xác? Dĩ nhiên những ai sinh trưởng ở miền Trung, đặc biệt ở vùng Thừa Thiên, có xu hướng chọn địa danh Thiên Mụ. Trái lại những người gốc miền Bắc tin rằng địa danh Trấn Vũ mới đúng sự thật.

Bản thân kẻ viết bài này không bao giờ có đầu óc địa phương phi lý như vậy: trái lại chúng tôi rất trân quý đồng bào miền Trung. Tuy nhiên khi bàn về một đề tài liên can tới văn học sử chúng ta cần phải khách quan và tôn trọng tinh thần khoa học. Tôi tin rằng tiếng chuông trong câu thơ trên là chuông chùa Trấn Vũ vì những lý do sau đây.

Trước hết, địa danh Trấn Vũ không đưa ra một cách đơn lẻ mà đặt trong một tổng thể gồm 4 địa danh: Trấn Vũ, Thọ Xương, Yên Thái, và Tây Hồ. Cả bốn địa danh này đều thuộc một khu vực chung là vùng tây cố đô Thăng Long, tức Hà Nội cũ.

Chùa Trấn Vũ là một thắng cảnh nằm trên đường Cổ Ngư, một đường đê ngăn cách Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch. Thọ Xương là tên cũ của một huyện sát thành Thăng Long, trên bờ Hồ Tây, trong đó có những làng danh tiếng như làng Bưởi, làng Thụy Khê, làng Yên Thái, vân vân...

Đặc biệt là làng Yên Thái chuyên nghề làm giấy bản: trong làng suốt ngày vang tiếng chày giã bột giấy của nhân dân.

Như vậy toàn bài thơ tứ tuyệt liên can tới một vùng nhất định là vùng ngoại thành phía Tây của cố đô Thăng Long. Nếu cho là tiếng chuông của chùa Thiên Mụ thì làm sao giải thích được sự hiện diện trong cùng câu thơ của huyện Thọ Xương, một nơi cách xa Huế hàng nghìn dặm?

Đọc bài thơ tứ tuyệt nói trên, ta có thể mường tượng là tác giả đã sáng tác ở đâu trong hoàn cảnh nào. Rõ ràng là lúc đó ông (hay bà?) ta đang ngụ ở một nơi trông ra Hồ Tây cách chùa Trấn Vũ cũng như làng Yên Thái không xa lắm nên mới nghe được tiếng chuông chùa cũng như tiếng chày giã bột giấy của dân làm giấy.

Trước biến cố ngày 9 tháng 3 năm 1945 kẻ viết bài này từng cư ngụ ở đường Pépinière, một con đường đi từ đường Quan Thánh qua trường Bưởi (tức Lycée du Protectorat sau đổi tên là trường Chu Văn An), tới Vườn Ươm Cây của Thành Phố Hà Nội (vì thế con đường mới mang tên Pépinière) rồi tới các làng Thụy Khê, Yên Thái. Đứng trên gác ngôi nhà tôi cư ngụ, nhìn qua cửa sổ có thể thấy Vườn Ươm Cây và đàng xa là mặt nước Hồ Tây.

Như vậy việc tác giả bài thơ thuật rằng mình nhìn thấy mặt nước Hồ Tây sau bãi cát phủ sương mù ở bờ hồ đồng thời nghe thấy tiếng chuông chùa Trấn Vũ và tiếng chày giã bột giấy của dân làng Yên Thái, là việc có thực, không phải bịa đặt để thi vị hóa.

Tác giả đã ngẫu hứng vào lúc nào? Theo tôi nghĩ lúc đó là bình minh vì bốn chữ canh gà Thọ Xương. Hồi theo cấp tiểu học, tôi từng thuộc lòng một bài thơ khác khởi đầu như sau:

Trống canh năm gà vừa gáy sáng,
Bừng mắt dậy trời đã rạng đông!
Ngắm phong cảnh đẹp vô cùng:
Hỏi ai thêu dệt? Ấy Ông Thợ Trời!

Tác giả không nói tới tiếng trống cầm canh của đồn Thọ Xương mà lại nói tiếng gà gáy. Tất nhiên gà gáy vào lúc bình minh chứ không gáy ban đêm: có lẽ tiếng gà gáy đã vang lên cùng lúc với tiếng trống điểm canh năm chăng? Vì thế tác giả mới nảy ra ý nghĩ ngộ nghĩnh là con gà gáy điểm canh! Đây là một nghệ thuật chơi chữ táo bạo của các nhà thơ, nhà văn, có dụng ý đánh động sự hiếu kỳ của độc giả hay thính giả. Từ xưa đến nay đã ai thấy gà gáy điểm canh suốt đêm đâu! Chẳng trách có người đã hiểu lầm và dịch canh gà Thọ Xương là chicken soup of Thọ Xương (bouillon de poulet de Thọ Xương)!

Tiếng chuông chùa cũng như tiếng chuông giáo đường thường có ảnh hưởng gây xúc động trong tâm hồn những người nhạy cảm.

Thời Nhà Đường, một thi sĩ Trung Hoa, ngủ trên thuyền ở bến Cô Tô, giữa đêm bỗng nghe thấy hồi chuông từ chùa Hàn San vọng lại. Ông ta ngẫu hứng đã sáng tác một bài thơ trứ danh trong đó có hai câu:

Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh náo khách thuyền!

(Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San)

Hồi chuông mà tác giả của chúng ta đã nghe thấy không có tính cách bất thường như hồi chuông giữa đêm khuya của chùa Hàn San: đó chỉ là hồi chuông được gióng lên mỗi buổi sáng. Tuy nhiên đối với những người đang có chuyện ưu tư hay phiền não nó nhắc nhở cho họ rằng mọi sự trên cõi đời trần tục này đều là vô thường!

Đánh tan tục niệm hồi chuông sớm!
Gõ vỡ trần tâm tiếng mõ trưa!

Tác giả của chúng ta có ở trong trạng thái tâm thần đó không? Ta không thể quyết đoán, chỉ biết chắc rằng ông (hay bà) ta đã chú tâm đến hồi chuông này. Có thế thôi!

Dựa trên các chi tiết trong bài thơ, tôi giả thiết như sau: tác giả vừa thức dậy, nhìn ra ngoài vườn thì thấy nhiều cành trúc trong bụi trúc trước nhà la đà trước gió, rồi nghe thấy tiếng chuông ban mai của chùa Trấn Vũ vang dội cùng lúc với tiếng gà gáy từ phía đồn canh của Huyện lỵ Thọ Xương. Tác giả thầm nghĩ "Thật chẳng khác chi con gà đã thay lính cầm canh báo cho ai nấy biết rằng canh năm tới rồi!". Tác giả nhìn về phía bãi cát ở bờ Hồ Tây, thì thấy sương mù mờ mịt. Mặc dù còn tranh tối tranh sáng như vậy, đã nghe thấy tiếng chày giã bột giấy của dân làng Yên Thái. Rồi qua màn sương, tác giả thấy mặt nước Hồ Tây lóng lánh như một tấm gương vĩ đại... Ngẫu hứng nhà thơ đã sáng tác bốn câu lục bát, còn được truyền tụng cho đến ngày nay.

Rõ ràng đó là một bài thơ tả cảnh, rất hiện thực. Tuyệt nhiên không phải là thơ tả tình vì không có một câu nào, một từ nào, nói lên tình cảm của chủ thể.

Điều bất ngờ là do các biến chuyển của thời cuộc, bài thơ dần dần trở thành thơ tả tình, hơn thế nữa: đã được dùng như một thông điệp để biểu lộ một thái độ chính trị.

a) Sự biến chuyển thứ nhất là việc nước Pháp chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa (1863) rồi đặt nền bảo hộ trên hai miền Bắc Kỳ và Trung Kỳ (1884). Lợi dụng tình trạng khiếp nhược của Triều đình Huế, nhà cầm quyền Pháp đã dần dần biến chế độ bảo hộ trên giấy tờ thành một chế độ trực trị trong thực tế. Những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định ở Bắc Kỳ hoàn toàn do các cai trị viên Pháp quản lý. Bộ mặt của những thành phố này thay đổi sâu xa. Trước cảnh tang thương ấy, nhiều sĩ phu cựu học cảm thấy nhớ tiếc thời đất nước còn tự chủ: thời Hà Nội còn gọi là Thăng Long với những hình ảnh, những âm thanh được ghi trong bài thơ tứ tuyệt "Gió Đưa Cành Trúc La Đà"...

Các cụ đã ngâm nga bài này để nói lên tâm trạng hoài cổ của mình và gián tiếp bầy tỏ nguyện vọng cần vương phục quốc. Nhưng sau sự thất bại của các nhà kháng chiến như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật... của các phong trào duy tân như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, sau khi thấy các vị vua có tinh thần đấu tranh như Hàm Nghi, Duy Tân, Thành Thái bị lưu đày ra hải ngoại... nhiều cụ đã chán nản, chua chát ghi nhận những sự thật ngang tai chướng mắt.

Thí dụ: Cụ Tú Trần Kế Xương trong mấy câu:

Vợ lăm le ở vú!
Con tấp tểnh đi bồi!
Khách hỏi nhà Ông đến:
Nhà Ông đã bán rồi!

b) Sự biến chuyển thứ hai xẩy ra trong những năm đầu của thập kỷ 1930. Sau khi những âm mưu khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng và của Đảng Cộng Sản Đông Dương bị nhà cầm quyền thuộc địa thẳng tay đàn áp, Pháp áp dụng chính sách "lập lờ đánh lận con đen" với hy vọng ru ngủ nhân dân hai miền Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Vua Bảo Đại được Pháp đưa về hồi loan chấp chính, Triều đình Huế được tân trang với sự bổ nhiệm một số nhân vật tân học vào Viện Cơ Mật nhưng cơ cấu chính trị và hành chính vẫn giữ nguyên vẹn với các định chế lỗi thời như định chế quân chủ thiên mệnh, định chế quan lại, định chế xã thôn tự trị...

Nguyện vọng của các tổ chức đấu tranh và những người yêu nước là phải canh tân toàn diện chứ không phải là cải cách nửa vời, giả dối! Bài thơ "Gió Đưa Cành Trúc La Đà" bị coi như tượng trưng xu hướng thủ cựu, một xu hướng chỉ có lợi cho nhà cầm quyền thuộc địa.

Sau khi vua Bảo Đại bổ nhiệm sáu vị thượng thư "tân học" để thay thế lục bộ cũ, tuần báo hài hước Phong Hóa đã đăng một bức hí họa trong đó sáu cụ "Thượng mới", quần trùng áo dài, đeo thẻ bài lủng lẳng, chen chúc nhau trên một con thuyền nhỏ bé lênh đênh trên sông Hương. Dưới bức họa ghi hai câu thơ lục bát:

Gió đưa cành trúc la đà
Một thuyền chật ních bài ngà thượng thư ...

Bài thơ "Gió Đưa Cành Trúc La Đà" trước kia được coi là biểu tượng của thái độ chống thực dân Pháp thì nay đã biến thành biểu tượng của thái độ thủ cựu, hợp tác với nhà cầm quyền thuộc địa Pháp!

c) Sự biến chuyển thứ ba xẩy ra sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 với sự di cư của hơn một triệu người Việt tị nạn ra ngoại quốc. Nhiều người tị nạn đã mượn bài thơ "Gió Đưa Cành Trúc La Đà" để nói lên nỗi lòng tưởng nhớ quê hương của mình. Tất nhiên những người gốc miền Trung đã sửa lại tiếng chuông Trấn Vũ thành tiếng chuông Thiên Mụ.

Ba mươi năm đã trôi qua. Số người tị nạn ở hải ngoại, cộng với con cháu họ và những người Việt không chịu hồi hương sau khi chế độ cộng sản Liên Xô tan rã, đã lên gần ba triệu. Khỏi cần chứng minh là nhiều thanh thiếu niên không biết gì về lịch sử cũng như văn chương Việt Nam. Nhiều người nói tiếng Việt còn không sõi. Do đó, khi họ đọc bài thơ trứ danh "Gió Đưa Cành Trúc La Đà" họ đã không hiểu những từ ngữ dùng trong bốn câu thơ. Nếu tra tự điển để tìm nghĩa từng chữ thì có thể sai lầm thảm hại như tác giả bài phiếm luận nói trên đăng trên internet đã chứng minh một cách rí rỏm.

Chẳng hạn người ta có thể nghĩ rằng "la đa"ø là một đàn la và lạc đà rồi suy luận rằng cành trúc là cây roi tre của kẻ chăn đàn la và lạc đà này.

Rồi Thiên Mụ thì được hiểu là Vợ của ông Trời, chuông đồng của chùa giống như chuông điện chỉ cần bấm là kêu leng keng, còn canh gà Thọ Xương có lẽ là canh xương gà trong các tiệm ăn Tầu! Tác giả bài phiếm luận đã dựa trên những sự lầm lẫn đó để làm bài thơ trào phúng sau đây:

Roi tre vun vút vung ra:
Lũ lạc đà với lũ la chạy cuồng...
Vợ Trời giáng một hồi chuông
Gọi về ăn bát canh xương gà Tầu!

Nếu dụng ý của tác giả bài phiếm luận là chế giễu các thanh thiếu niên không có đủ kiến thức về ngôn ngữ và văn chương Việt Nam, thì tôi nghĩ rằng cũng tội nghiệp cho họ quá! Họ đâu có được học hỏi về ngôn ngữ và văn chương Việt Nam như ông, cha của họ!

Kẻ đáng trách chính là chúng ta, những người lớn tuổi thuộc thế hệ ông, cha của các thanh thiếu niên ấy. Chúng ta đã không làm hay không làm đủ bổn phận truyền đạt cho con cháu chúng ta những kiến thức về văn hóa dân tộc mà chúng ta đã hấp thụ.

Thiên phiếm luận đăng trên Internet về bài thơ “Gió đưa cành trúc la đa” đã giúp chúng ta ý thức sâu sắc hiểm họa vong bản đang đe dọa con cháu chúng ta.

Chúng ta không nên trì hoãn nữa: cần phải làm một cố gắng quyết liệt để chấn chỉnh tình trạng này./.

VŨ QUỐC THÚC
(Paris)

Edited by user Thursday, March 25, 2021 1:06:35 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#36 Posted : Saturday, April 3, 2021 10:46:11 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Hoạ nguyên vận " Ngồi Yên " của donghuong, HONG VU LAN NHI, lehai

ngồi Yên

ngồi yên . tìm kiếm nét thơ
hình như duyên dáng đang mùa trăm năm
con tim chuyễn nhịp vô ngân
bởi hầu tâm cảm nằm an vị rồi

ngồi yên . nhớ lắm vần người
những con chữ nhận từ môi cảm đồng
vô thường một nốt tương âm
rơi từ linh tính giữa tầm ngoan em

ngồi yên . nhắm nháp tửu duyên
chung đầy phong độ . sóng cuồng say .trao
chạm sâu từng lớp tế bào
thịt da của gió . xuyến xao em - người

ngồi yên . nghe tiếng trăng cười
tiếng cồng mở cửa . hồn phơi phới niềm
nét thơ . vỗ gió trường xuân
nơi em vừa gặp chủ tim của mình

ngồi yên . vọc ẫn ngữ anh
tâm tư nắm rõ cái dành riêng cho

đông hương

Tâm Thơ

Vẽ tim từng nét tâm thơ
Mở pho kinh sử bụi mờ tháng năm
Lắng nghe tiếng chuông chiều ngân
Hoà cùng dùi mõ triều âm xa rồi.

Không gian trầm dịu hồn người
Lời kinh tiếng kệ chơi vơi tâm đồng
Đều đều vang vọng cung âm
Giữa trầm hương toả, thì thầm lời em.

Tình ta không nợ không duyên
Không thề, không hẹn, tình nồng ai trao
Nỗi đau, ruột thắt gan bào
Trái tim vàng võ, xanh xao vì người.

Khi vui, tình thánh thót cười
Mắt đong đưa mắt, đầy vơi nỗi niềm
Én về chào đón mùa xuân
Chỉ em thui thủi một thân một mình.

Nàng xuân rạng nét trâm anh
Mừng mùa thắm đẹp trời dành riêng cho.

HONG VU LAN NHI
3/3/2020

đọc kinh

đọc kinh. gõ kệ gọi thơ
tường vi vẫn nở lạc mùa cuối năm
thinh không chuông ngại ngùng ngân
bốn phương chuyển động tâm an lắng rồi

trả ta về cõi riêng người
đời pha đường muối chia môi tương dồng
phím trùng gót lẩy thanh âm
từ lau lách ấy tơ tầm buộc em

mươn tay ôm nhẹ tùy duyên
áo thư sinh nhuộm. thơ tràn nghiên. trao
thủa từ giã. bụi chiến bào
kiếm cung treo vách. hồn trao tay. người

nỗi ta. từ lúc quên cười
đăm đăm cánh nhạn. đợi phơi đắng niềm
má hồng còn. nhị độ xuân
gửi cơn gió thoảng nhờ tim. gọi mình

đọc kinh. vuốt chữ. em anh
thực hư níu chặt tâm dành sẵn cho.

lehai
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#37 Posted : Monday, April 5, 2021 10:53:18 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Sự tích mồng 8 tháng ba..


Ngày xưa, có 1 anh chàng nhà nọ, gặp 1 người con gái xinh đẹp mỹ miều, thùy mỵ dịu dàng... công dung ngôn hạnh đủ cả, anh chàng đem lòng yêu mến và muốn cưới nàng làm vợ. Cuối cùng thì nàng cũng nhận lời... với 1 điều kiện là hàng năm, cô nàng xin phép được 1 ngày vắng nhà để đi xa, còn đi đâu, làm gì, anh chàng không được thắc mắc, không được điều tra, tìm hiểu. Nghe thấy điều kiện quá dễ dàng, vả lại cũng quá sung sướng vì kiếm được cô vợ lý tưởng như vậy, anh chàng gật đầu đồng ý không chút đắn đo.

Cuộc sống 2 vợ chồng trôi qua rất hạnh phúc, chẳng bao giờ họ to tiếng với nhau và cô gái luôn tỏ ra là 1 người vợ đảm đang, hiền dịu. Đến 1 ngày nọ, khi cô nàng xin phép anh chồng ngày hôm sau được vắng nhà, anh chàng mới nhớ ra lời mình hứa ngày nào. Lỡ hứa rồi, chẳng lẽ không làm, vả lại 1 ngày vợ đi vắng chắc cũng chẳng sao, anh chàng liền đồng ý. Ngày hôm đó mới dài lê thê làm sao khi mà đến tối anh chàng không thấy vợ về. Chàng cứ đứng lên, ngồi xuống, đi ra đi vào ngóng vợ như con ngóng mẹ đi chợ về vậy. Vừa sốt ruột, vừa lo lắng, chẳng hiểu có chuyện gì xảy ra với vợ mình... rồi bao nhiêu những suy nghĩ khác lai bắt đầu dằn vặt anh chàng... Cuối cùng rồi cũng đến sáng. Trời vừa hửng sáng, anh chồng đã thấy vợ mình trở về nhà. Bao nhiêu lo lắng, giận dữ, nghi ngờ dồn nén cả đêm qua chưa kịp bùng lên thì cô vợ đã nhẹ nhàng nhắc tới điều kiện của ngày cưới là nàng được đi 1 ngày và anh chàng không được hỏi han thắc mắc. Đã hứa thì phải giữ lời, nam nhi đại trượng phu là vậy. Những nghi ngờ tuy còn vương vấn trong lòng, nhưng theo thời gian, anh chàng cũng quên đi, cho vào dĩ vãng. Cuộc sống hai vợ chồng êm ả trôi qua.

Một năm nữa lại trôi qua, và cái ngày mà người vợ xin phép vắng nhà lại tới. Vì đã hứa nên anh chàng lại phải để cho vợ đi mặc dù trong lòng, sự lo lắng, nghi ngờ, tò mò ngày càng tăng. Một năm nữa, rồi 1 năm nữa... cứ đến đúng ngày là người vợ lại đi vắng nhà và lại trở về nhà ngày hôm sau vào đúng lúc mặt trời mọc. Trong cuộc sống, người chồng chẳng có điều gì có thể phàn nàn về người vợ của mình được cả, ngoại trừ nỗi tò mò, nghi ngờ ngày càng dày vò anh chàng. Đến 1 lần, vào ngày mà người vợ lại đi vắng như mọi năm, không thể kìm được sự tò mò của mình nữa, anh chàng quyết định bám theo người vợ.

Người vợ cứ cắm cúi đi, không hề biết là người chồng đang bám theo mình. Đi mãi, tới bìa rừng, người chồng thấy vợ mình chui vào trong 1 bụi cây. Chờ mãi không thấy người vợ đi ra, anh chàng rón rén lại gần. Tới nơi, chàng thấy có 1 con rắn hổ mang đang cuốn mình lột xác. Hoảng hốt, sợ hãi, chàng vội cầm con dao chém con rắn. Trước sự ngạc nhiên khôn tả của người chồng, con rắn lại hiện nguyên hình là người vợ nằm trong vũng máu, quằn quại, hấp hối.

Thì ra hàng năm, cứ đến ngày này, người vợ lại biến thành con rắn hổ mang và khi lột xác thì bao nhiêu những bực bội, những giận dữ kìm nén trong 1 năm qua cùng với nọc độc được xả đi hết, để rồi khi trở về nàng lại trở nên xinh đẹp hơn, là một người vợ hiền dịu hơn, chiều chuộng, nhường nhịn chồng hơn. Chỉ vì sự tò mò, lòng nghi ngờ đã làm cho người chồng thất hứa và kết quả thì chàng đã làm 1 điều mà chẳng thể nào cứu vãn được nữa.

Sưu tầm
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#38 Posted : Monday, April 5, 2021 10:56:11 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Tiếng hát Duy Trác


Quỳnh Giao


Có những biến cố rất nhỏ bé bỗng nhiên có khả năng gợi nhớ mãnh liệt.

Quỳnh Giao nhớ lại như vậy khi giới thiệu Phạm Hà trong buổi chiều hát nhạc Văn Phụng vừa qua.

Chúng ta thiếu giọng nam hát được cho đúng tâm tư của nhạc sĩ trong những ca khúc nghệ thuật. Khi ân cần giới thiệu một tiếng hát đầy triển vọng là Phạm Hà, Quỳnh Giao nhớ lại tiếng hát Duy Trác, dù ông đã nghỉ tay gói kiếm và giã từ vũ khí được mười năm rồi.

Một sáng Chủ Nhật trong veo, cách đây đã hơn nửa thế kỷ, Quách Ðàm dẫn một thanh niên đến thăm nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Quách Ðàm nổi tiếng từ thời phôi thai của tân nhạc Việt. Người thanh niên ông dẫn tới gặp Dương Thiệu Tước là cháu ông, còn trẻ mà phong độ đã chững chạc người lớn. Năm đó, Duy Trác mới mười tám, có giọng hát truyền cảm, ấm áp, và ngoài giọng ca thiên phú lại còn xướng âm rất vững.

Duy Trác bước vào âm nhạc ngay từ buổi gặp gỡ đó.

Cũng như trường hợp của Mai Hương, Duy Quang, Thái Hiền, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ý Lan... và của người viết bài này, Duy Trác đã đi vào âm nhạc theo bước chân gia đình, như một sự tiếp nối tự nhiên, không có tuyển lựa hay khám phá bất ngờ gì.

Dương Thiệu Tước lập tức mời Duy Trác cộng tác cùng chương trình “Ký âm pháp và Nhạc lý phổ thông”, được ông lập ra để thính giả có cơ hội cảm nhận và thưởng thức những ca khúc mới. Ca sĩ phải xướng âm ca khúc, tức là đọc nốt nhạc, trước khi hát vào lời.

Ðây là sự hướng dẫn cần thiết mà ta lãng quên dần cho thính giả đời nay.

Chương trình được phát thanh vào mỗi sáng Chủ Nhật, và được thâu thanh trực tiếp. Thời đó, việc thâu thanh trực tiếp đòi hỏi người trình bày phải “trình diễn” chỉ bằng tiếng hát, nên họ phải vững về nhạc lý, có khả năng lập tức xướng âm bài hát hoặc bài tập mà không có cơ hội hát đi hát lại. Duy Trác đã bước vào nghệ thuật qua con đường khó như vậy.

Toàn ban của chương trình chỉ có ba giọng, nữ ca sĩ Minh Trang (thân mẫu của Quỳnh Giao) là giọng nữ, Duy Trác là giọng nam, và thứ ba là giọng... nít, do nhi đồng nhóc tì Ðoan Trang đảm nhiệm (tám năm sau mới đổi tên thành Quỳnh Giao khi thay mẹ xuất hiện với người lớn!)

Trong ban tam ca này, Minh Trang và Duy Trác “minh diễn” cho thính giả những bài mê ly êm ái, như “Phút say hương”, “Hoa Xuân”, hoặc “Hướng về Hà Nội”. Còn nhi đồng Ðoan Trang thì được chí chóe xướng âm cho các em bé chắc cũng chẳng nhỏ hơn mình là bao nghe những bài của thiếu nhi như “Chim chích chòe”, “Thằng cuội”, “Quãng đường mai”...

Cũng từ đó, Duy Trác còn hát trong các chương trình của học sinh sinh viên với bạn hữu như Hồng Duyệt (cháu Dương Thiệu Tước và là tác giả bài “Ðường chiều” rất “blues” của thập niên 1960), Phạm Vận, Ðỗ Tuấn, Cung Tiến, Mai Hương, Bạch Tuyết, Thể Tần, Hồng Hảo...

Nhiều người trong số đó nay đã thành danh trong các lãnh vực khác, hoặc đã giã từ âm nhạc. Một vài người đã vĩnh viễn lìa xa chúng ta. Như Hồng Duyệt hay Phạm Vận đã mất trên đường vượt biển. Duy Trác là bạn thân của Hồng Duyệt và hiền thê của ông, chị Ấu Oanh, chính là em gái Hồng Duyệt. Hoặc như Ðỗ Tuân, tức là Ðỗ Ðình Tuân nay đang chìu khách yêu văn yêu nhạc tại nhà sách Văn Khoa trong khu Phước Lộc Thọ. Hoặc như Thể Tần và Hồng Hảo, hai người em của nhạc sĩ Nhật Bằng trong ban Hạc Thành thì Thể Tần nay cũng đã ra người thiên cổ. Bạch Tuyết, em gái chị Mai Hương, ra dược sĩ và cũng nghỉ hát từ lâu...

Buổi chiều hôm hát nhạc Văn Phụng bên Kim Tước, Mai Hương, do ban Tam Ca Tiếng Tơ Ðồng gồng mình tổ chức, Quỳnh Giao gặp lại Bạch Tuyết nên càng nhớ lại thời xưa.

Thời xưa đó trôi qua quá nhanh.

Chúng tôi sinh hoạt với nhau, vui tươi và hồn nhiên, trong đài phát thanh tại số 3 đường Phan Ðình Phùng, ngày nay có nhìn lại chắc giật mình vì thấy là nhỏ. Nhỏ mà đầy ắp kỷ niệm. Bao nhiêu hình ảnh thương mến của nghệ sĩ chúng tôi đã chất chứa tại nơi đó, vì gặp nhau hàng ngày, thân nhau như ruột thịt, và đối xử với nhau có lẽ theo cái cách quý mến riêng.

Thời gian trôi quá nhanh. Y Vân nay cũng không còn, như Vũ Thành, Phạm Ðình Chương hay Ngọc Bích, Nguyễn Hiền. Ðan Thọ thì cũng gác đàn thiên di về Louisiana và năm ngoái còn chạy bão Katrina mà mất luôn cây đàn cổ...

Sài Gòn năm xưa đã không còn.

Phải chăng vì vậy mà Duy Trác giã từ sân khấu?

Ðối với giới thẩm âm, Duy Trác là ca sĩ có giọng hát “trí thức” nhất chẳng phải vì ngoài đời ông là Luật Sư Khuất Duy Trác và có lúc còn là chuyên viên về luật pháp trong phủ tổng thống và vì vậy mà bị tù đày sau 1975. Quỳnh Giao chỉ thấy Duy Trác trình bày có gout và luôn nhớ tới lời một nữ văn sĩ, “người ta thường nói rằng ca sĩ khó chịu nhất là khi bị chê mình hát sai, chứ tôi thì sợ nhất là khi bị chê rằng mình không có gout”...

Duy Trác hát đúng và hát hay là điều hiển nhiên với mọi người biết nhạc và yêu tân nhạc. Nhưng phong cách trình bày ca khúc là phong cách của người tài hoa, hiểu lời ca và diễn tả đúng lời ca, rất đẹp mà không cần gò để chứng tỏ nét điêu luyện. Duy Trác có sự cảm thông sâu đậm với cái đẹp và riêng với cái đẹp trong âm nhạc.

Chúng ta nên luyến tiếc phong cách thực hiện và trình bày ca khúc nghệ thuật như vậy.

Biến cố 1975 khiến các văn nghệ sĩ miền Nam tan tác chia lìa. Gặp nhau xứ người trong các buổi trình diễn, chúng tôi thường hỏi thăm về Duy Trác và xót xa không ít khi nghe tin ông bị tù cải tạo, đã có những năm tháng khổ sở nhất trong số các bạn tù cùng trại vì sự bướng bỉnh và lối chống đối rất tài hoa và dí dỏm.

Khi được ra và qua tới bên này, Duy Trác không nói nhiều về thời đen tối ấy. Chúng tôi chỉ tíu tít hỏi nhau về truyện năm xưa và hàn huyên về kỷ niệm. Quỳnh Giao đã hai lần đứng cùng sân khấu, lần đầu là khi cùng Kim Tước, Mai Hương gọi nhau hát mừng Duy Trác tại San Jose. Sau đó là trong một chương trình chọn lọc tại Palo Alto cũng ở miền Bắc California, cùng các giọng nam khác như Anh Ngọc, Ðoàn Chính và Vũ Anh... Sau đấy, Duy Trác giã từ sân khấu.

Thực ra, Duy Trác chưa hề thích hát trên sân khấu.

Với người nghệ sĩ này, hát là một sự chọn lọc từ cử tọa đến cách tự tay kéo màn ra về. Ông không muốn hát không đúng nơi hợp cách và càng không muốn khán thính giả phải kéo màn tắt máy cho mình. Có lẽ vì vậy mới giã từ ngang xương vào Tháng Sáu năm 1995.

Vẫn là phong thái của người có gout và kính trọng thính giả.

Người xưa có nói về các tiếng hát bao năm sau vẫn quyện trên mái đình cổ kính. Người xưa có trí tưởng tượng và sự lãng mạn phong phú bù đắp cho những thiệt thòi khác về kỹ thuật. Người nay vẫn còn tiếng hát Duy Trác được cất giữ trong băng nhạc, trong đĩa nhựa. Ðể sau này, khi nói “hát như Duy Trác”, chúng ta có thể cho các thế hệ về sau nghe Duy Trác hát như thế nào.

Chúng ta, nhất là những người trình bày, cũng nên chịu khó nghe lại

Duy Trác tên thật Khuất Duy Trác, là một ca sĩ nổi tiếng, thành danh ở Sài Gòn từ những năm trước 1975. Tuy chỉ là một ca sĩ nghiệp dư, nhưng nhiều người xem Duy Trác như một trong những giọng ca nam lớn nhất của tân nhạc Việt Nam.

Mục lục

1 Sự nghiệp2 Băng nhạc và CD Duy Trác
2.1 1970 - 19752.
2 Sau 1975
3 Liên kết ngoài
[sửa] Sự nghiệp

Duy Trác quê ở Sơn Tây, xuất thân trong một gia đình Nho giáo truyền thống. Nghề nghiệp chính của ông là luật sư, theo một vài tài liệu thì ông còn là thẩm phán. Ngoài ra ông còn tham gia viết báo và cũng là một dịch giả. Duy Trác bắt đầu đi hát từ những năm còn là sinh viên, khoảnh cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960 nhờ sự giới thiệu của ca sĩ Quách Đàm với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Tuy giọng ca của ông được rất nhiều người mến mộ, nhưng trước 1975 ở Sài Gòn, Duy Trác gần như không bao giờ trình diễn ở phòng trà hay các chương trình nhạc hội. Ông chỉ hát trên đài phát thanh và thu âm cho các hãng băng đĩa, vì vậy nhà văn Duyên Anh đã đặt cho ông biệt danh "chàng ca sĩ cấm cung". Duy Trác cũng có sáng tác một vài bài hát như Tiếng hát đêm Noel, Sài Gòn chỉ vui khi các anh về...

Sau 1975, Duy Trác có đi trại tù cải tạo nhiều năm tới 1988. Năm 1992 ông rời Việt Nam định cư tại Houston, Hoa Kỳ. Tại đây ông có tham gia trình diễn ở một vài chường trình ca nhạc và phát hành hai CD riêng Còn tiếng hát gửi người và Giã từ. Trong CD Giã từ ông đã nói lời từ biệt với âm nhạc. Từ đó Duy Trác không còn hát và hiện nay ông hợp tác với đài phát thanh VOVN - Tiếng nói Việt Nam tại Houston phụ trách một vài chương trình.

[sửa] Băng nhạc và CD Duy Trác[sửa] 1970 - 1975
Tiếng hát Duy Trác

Mặt A:
1.Ngày đó chúng mình (Phạm Duy)
2.Một lần cuối (Nguyễn Bính - Văn Phụng)
3.Tôi sẽ đưa em về (Y Vân)
4.Hương xưa (Cung Tiến)
5.Ngày chưa nguôi yêu dấu (Trầm Tử Thiêng)
6.Múc anh trăng vàng (Hoàng Thi Thơ)
7.Cơn mê chiều (Nguyễn Minh Khôi)
8.Thu trên đảo Kinh Châu (Lê Thương)
9.Đợi chờ (Nhật Bằng - Phạm Đình Chương)
10.Chiều tưởng nhớ (Thẩm Oánh)

Mặt B:
1.Tương tư 2 (Mặc Thế Nhân)
2.Đường em đi (Phạm Duy)
3.Lá đổ muôn chiều (Đoàn Chuẩn - Từ Linh)
4.Trương Chi (Văn Cao)
5.Cô láng giềng (Hoàng Quý)
6.Cây đàn bỏ quên (Phạm Duy)
7.Bóng chiều xưa (Minh Trang - Dương Thiệu Tước)
8.Con thuyền xa bến (Lưu Bách Thụ)
9.Nhạc chiều (Doãn Mẫn)
10.Hướng về Hà Nội (Hoàng Dương)

Tiếng hát Duy Trác 2

Mặt A:
1.Thuở ban đầu (Phạm Đình Chương)
2.Dạ tương sầu (Nhật Bằng)
3.Du mục (Trịnh Công Sơn)
4.Đường em đi (Phạm Duy)
5.Người nghệ sĩ mù (Hoàng Thi Thơ)
6.Nhớ quê hương (Phạm Ngữ)
7.Đôi chim giang hồ (Ngọc Bích) Duy Trác & Sĩ Phú
8.Thuở trăng về (Ngọc Bích)
9.Một ngày vui mùa đông (Lê Uyên Phương) Duy Trác & Khánh Ly

Tiếng hát Duy Trác

1.Áo lụa Hà Đông (Ngô Thụy Miên - Nguyên Sa)
2.Tiếng chuông chiều thu (Tô Vũ)
3.Tình khúc buồn (Ngô Thụy Miên) (Duy Quang hát)
4.Con chim lạc bạn (Phạm Văn Chừng)
5.Mắt biếc (Ngô Thụy Miên)
6.Thu trên đảo Kinh Châu (Lê Thương)
7.Cơn mê chiều (Nguyễn Minh Khôi)
8.Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương - Quang Dũng)
9.Ngày đó chúng mình (Phạm Duy)

[sửa] Sau 1975
CD Còn tiếng hát gửi người
Thúy Nga Productions phát hành tại Hoa Kỳ năm 1993

1.Mộng dưới hoa (Đinh Hùng - Phạm Đình Chương)
2.Áo lụa Hà Đông (Nguyên Sa – Ngô Thụy Miên)
3.Còn tiếng hát gửi người (Trần Quang Lộc)
4.Thuở ban đầu (Phạm Đình Chương)
5.Tạ từ (Tô Vũ)
6.Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương - Quang Dũng)
7.Một cõi đi về (Trịnh Công Sơn)
8.Bay đi cánh chim biển (Đức Huy)
9.K khúc của Lê (Đăng Khánh - Du Tử Lê)
10.Nghìn trùng xa cách (Phạm Duy)
Giã từ

Diễm Xưa Productions phát hành tại Hoa Kỳ năm 1995

1.Đường về miền Bắc (Đoàn Chuẩn)
2.Mắt buồn (Phạm Đình Chương - Lưu Trọng Lư)
3.Đừng lừa dối nhau (Y Vân)
4.Từ một giấc mơ (Mai Anh Việt)
5.Tơ sầu (Lâm Tuyền)
6.Biệt ly (Doãn Mẫn)
7.Dạ tâm khúc (Phạm Đình Chương - Thanh Tâm Tuyền)
8.Cô láng giềng (Hoàng Quý)
9.Yêu dáng em xưa (Đăng Khánh)
10.Đẹp giấc mơ hoa (Hoàng Trọng)
11.Dạ khúc (Nguyễn Mỹ Ca) 12.Hương xưa (Cung Tiến)

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#39 Posted : Monday, April 5, 2021 11:00:34 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Mất cắp


Lê Nguyên Hồng


Một nhà báo bị mất cắp, kẻ cắp đã lấy trộm của gia đình anh hàng tỉ đồng. Cuối cùng anh bị tên trộm đó mưu sát vì hắn bị anh phát giác, và anh phải sang thế giới mới. Đau đớn cho anh nhà báo ấy, tên trộm chính là kẻ đồng sở hữu tài sản với anh, kẻ đó vừa buộc phải tự thú và bước chân vào chốn lao tù. Gia đình anh hoàn toàn đổ vỡ, tan nát: Anh chết, mẹ của các con anh đi tù, có thể còn lãnh án tử hình về tội giết người. Hai đứa trẻ của gia đình ấy bơ vơ, hàng tỉ đồng nợ nần còn đó…

Trên đây là những thông tin vắn tắt về vụ nhà báo Hoàng Hùng ở Long An bị giết hại bằng cách tẩm chất cháy và đốt gây bỏng nặng, sau đó tử vong tại bệnh viện chợ rẫy – Sài Gòn. Chung quy vấn đề cũng bắt nguồn từ chuyện mất cắp…

Ở đời có rất nhiều thứ có thể bị mất cắp: Tài sản, tiền, tình, lòng tin vv... Có trường hợp đòi lại được những gì đã mất, nhưng nhiều trường hợp là “một đi không trở lại”.

Người dân nghèo ở Việt Nam hôm nay đang bị mất cắp hàng ngày. Tên trộm bất nhân cứ thẳng tay thò vào túi móc tiền người dân mà họ không hề hay biết. Họ không biết thật, vì có 50 ngàn đồng trong túi, một người công chức nọ tiêu trong một buổi sáng đã gần hết: Mua báo, uống cà phê sáng, ăn một tô phở, còn lại đúng 10 ngàn đồng, anh ta đã hết tiền để đủ mua một lít xăng…

Anh ta chợt nhớ lại: Chỉ cách nay khoảng 3 năm thôi, với 50 ngàn trong túi, anh ta đã đủ chi cho cá nhân trong hai ngày, có 2 bữa sáng bình dân, và còn dư tiền đổ xăng cho chiếc xe máy Tàu cà tàng, chiều về còn mua cho đứa con đang học cấp 1 mấy cây kem. Tên trộm nào đã lấy mất của anh 50% số tiền? Không ai khác, đó là tên Gía, nói đầy đủ là “giá cả leo thang”, hay là nạn lạm phát.

Hãy làm một con tính tạm ước rất nhỏ thôi, người giàu bù cho người nghèo, mỗi ngày một người dân Việt Nam mất cắp trung bình là 20 ngàn đồng. Nếu nhân với khoảng 85 triệu dân, con số đó sẽ là 1 ngàn 700 tỉ. Nếu lấy số này nhân với 30 ngày trong tháng và 365 ngày trong năm thì con số đó thật khủng khiếp. Đó là chỉ nói đến lĩnh vực tiêu dùng thiết yếu. Nếu liệt kê ra các giao dịch tài chính, và lưu thông tiền tệ khác trên đất nước Việt Nam, thì đó mới là con số mất cắp đáng quan ngại, cố thể làm sụp đổ nền tài chính quốc gia…

Chuyện tiền bạc, nếu bị mất cắp thì có thể “khéo co thì ấm”, và hồi phục bằng cách cắt giảm chi tiêu, tăng cường lao động. Nhưng còn có nhiều thứ khác thì không thể tiết kiệm hay “chế biến” cách nào, vì nó vô hình và mang những giá trị cũng khá trừu tượng. Ta hãy cùng liệt kê ra xem, người dân Việt Nam còn đang bị mất cắp những gì?

Mất cắp nguồn gốc.

Không phải ngẫu nhiên mà nhà sử học Dương Trung Quốc tuyên bố: “Thế hệ chúng ta sau này mất gốc hoàn toàn. Nếu có tiếp cận phương Tây thì chỉ là tiếp cận văn minh bề ngoài, phương tiện sống, kiến thức. Chẳng hạn chúng ta biết tiếng Anh, nhưng không hiểu nền văn minh của Anh là như thế nào”. Thật vậy, nếu làm một cuộc khảo sát nhỏ thì sẽ thấy đại đa số học sinh, sinh viên ngày nay không thuộc Lịch Sử nước nhà, không hiểu đâu là cội nguồn dân tộc, không biết gì về văn hiến ngàn năm…

Mất cắp danh dự.

Chúng ta đã mất hết danh dự, khi nhượng bộ cho Trung Quốc nhiều vị trí chiến lược quan trọng trên đường biên giới đất liền, mất Hoàng Sa và một phần Trường Sa. Ngư dân Việt Nam bị bắt cóc đòi tiền chuộc ngay trên vùng biển của quê hương mình. Nhiều trường hợp người Việt gây án, quậy phá ở nước ngoài, cướp bóc, buôn bán ma túy, trồng Cần Sa vv… Hiện nay có hàng chục ngàn (con số thực có thể lên đến hàng trăm ngàn) cô dâu Việt lấy chồng Đài, chồng Hàn, chồng Trung, mà để trở thành nàng dâu xứ lạ, mỗi người đã phải trải qua những cuộc “coi mắt” hoàn toàn lõa lồ cho những gã đàn ông ngoại xem, như một món hàng. Thậm chí có cả chục phụ nữ Việt tình nguyện làm thuê bằng cách đẻ mướn cho người nước ngoài, không phải bằng phương pháp cấy ghép trong ống nghiệm mà là thụ tinh trực tiếp – Một hình thức mang thai hộ hết sức vô nhân đạo - Trước đây chưa từng được nghe trên thế giới, vừa bị phát hiện tại Bangkok – Thái Lan. Chẳng phải vô cớ mà tổng giám mục Ngô Quang Kiệt đã phải thốt lên “tôi nhục nhã khi mang hộ chiếu Việt Nam”.

Mất cắp nhân tính.

Ngày nay nếu không có việc cần thiết thì không mấy người lương thiện nào thich bước ra khỏi nhà mình. Vì ra khỏi cửa là có thể gặp cướp bóc, chém giết, hãm hiếp tràn lan, người ta sẵn sàng lao vào ẩu đả nhau, đâm chém, thậm chí dùng cả súng để hạ sát nhau, nguyên nhân xuất phát chỉ vì một va chạm nhỏ trong giao thông, mà một lời xin lỗi cho cả hai phía là đã quá đủ để làm hòa. Đến nỗi, không hiểu vì thiếu hiểu biết hay căm ghét cuộc đời nghèo túng của mình mà muốn trả thù đời, một số người trồng rau chỉ vì một bó rau giá vài ngàn bạc, đã sẵn sàng sử dụng thuốc trừ sâu cực độc, sẵn sàng phun các loại hóa chất, và cả dầu nhớt vào rau trước ngày thu hoạch, rồi vô tư đem bán…

Mất cắp văn hóa.

Người nước ngoài đến Việt Nam không thể đoán được gạch lát nền các trung tâm sinh hoạt văn hóa công cộng như Cung văn hóa hữu nghị Việt – Xô, Nhà hát lớn ở Hà Nội, Sân khấu Lan Anh, Trống Đồng, Nhà hát kịch ở Sài Gòn làm bằng loại đá hoa nào. Kỳ thực nó được các nam thanh nữ tú dùng bã kẹo cao su “tô điểm” thành những hoa văn có một không hai. Rồi lễ hội hoa trở thành lễ hội cướp hoa, Đường phố, vườn hoa, công viên ở những nơi đông người, sau những ngày lễ và mỗi tối thứ bảy đều ngập ngụa rác thải. Chưa bao giờ người ta lại lo lắng cho nền văn hóa bị vong bản như ở Việt Nam hiện nay. Mọi thứ đều được đặt trên giá trị đồng tiền. Thanh thiếu niên càn quấy, tụ tập lập băng đảng đua xe, hút chích, thác loạn. Người ta quay cuồng, hối hả trong sự đảo điên, mà đích đến chỉ là vật chất, tiền bạc và nhục dục…

Mất cắp giáo dục.

Chưa bao giờ và có lẽ là không có nơi nào trên thế giới xảy ra quá nhiều những chuyện tày trời về tha hóa, mất đạo đức trong ngành Giáo dục và quan hệ thầy trò như ở Việt Nam: Thầy giáo cưỡng dâm học sinh, đưa học sinh vào con đường bán dâm cho các đại gia cán bộ nhà nước, học sinh chém cô giáo vì bị cho điểm kém, thầy cô say sưa móc túi phụ huynh học sinh trong “dịch vụ” học thêm dạy thêm. Rồi chuyện chạy lớp chạy trường, nạn bằng cấp giả mạo, bằng cấp thật kiến thức giả, Bộ giáo dục loay hoay hàng chục năm trời vẫn không thể cho ra đời, dù chỉ một bộ sách giáo khoa tiểu học cho hoàn chỉnh (chưa dám nói đến các cấp cao hơn), thôi thì đủ thứ chuyện ngang tai trái mắt vô phạm trong ngành Giáo dục…

Mất cắp sự công bằng.

Công bằng không có nghĩa là cào bằng, nó chỉ mang tính tương đối. Nhưng chưa bao giờ nó lại thể hiện việc bị mất cắp rõ rệt như hiện nay. Câu nói “con vua thì lại làm vua” chẳng có sai. Nếu là con cái một quan chức cấp huyện trở lên đến trung ương, hay từ cỡ giám đốc chẳng hạn, thì chắc chắn người đó sẽ có cơ hội vào học tại các trường có đầu ra “ngon ăn”, tức là dễ kiếm việc làm, lương cao, có việc ở thành thị. Cao hơn thì sẽ được đi du học nước ngoài bằng tiền tham nhũng, hoặc bằng tiền học phí công khai do nhà nước chi trả. Chưa bao giờ lũ con ông cháu cha lại ngông nghênh hợm hĩnh, cao ngạo và trác táng như hiện nay. Người ngay thẳng, chống tiêu cực, thì bị trù dập trả thù dã man và hèn hạ. Hệ thống công quyền đang tự tạo ra những mối quan hệ giữa các cá nhân nắm quyền ở mọi cấp, bằng một sợi dây xích nhằng nhịt, kết nối bởi tiền – Quyền, giống như một băng đảng xã hội đen. Một sự đảo lộn trật tự đến chóng mặt, quay cuồng…

Mất cắp quyền sống.

Một con người sẽ chỉ là một con vật nửa người khi bị tước quyền sống, quyền tự do. Bởi vậy nhân loại mới đặt vấn đề Nhân quyền lên hàng đầu trong các quyền sống của con người. Nhưng ngày nay chuyện đó là chuyện xa sỉ ở Việt Nam. Anh muốn chỉ trích ai cũng được, lên án ai cũng được, nhưng trừ chính quyền ra. Nếu vi phạm điều này thì ngay lập tức có “hai chiếc Còng”, đó là điều 88 Bộ luật hình sự sẽ “bập” vào tay anh. Anh có đất đai, nhà cửa nhưng không được trao đổi, mua bán vì rơi vào một dự án treo. Anh có nhà nhưng không được sửa chữa vì đây là phố cổ, làm gì cũng phải cần được nhà nước cho phép vv và vv… Tóm lại con người của anh chỉ thuộc về anh một phần, còn lại thì thuộc quyền của Đảng, của nhà nước, anh có quyền sở hữu thân thể nhưng không có quyền sở hữu hành vi chính đáng của mình…

Mất cắp lòng tin.

Hệ lụy và là kết quả của mọi sự mất cắp, đó là mất lòng tin. Lòng tin là cái mà người ta thường phải mất rất nhiều thời gian để xây dựng nên, nhưng nó lại rất dễ bị mất đi, vì chỉ cần “một sự bất tín” là “vạn sự bất tin” ngay.

Trước đây người dân tin vào Đảng, vào bác Hồ, vì được nghe tuyên truyền là “Bác và Đảng sống cho dân cho nước”. Nhưng rút cục, bác Hồ cũng là người dối trá, tự viết sách ca ngượi bản thân mình (Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch - Trần Dân Tiên), bác cũng có vợ, thậm chí còn có tới hai, ba vợ (Tăng Tuyết Minh, Nông Thị Xuân…). Mà trái khoáy ở chỗ: Vợ Bác cũng không nhận, con Bác cũng chẳng dám công khai.

Đối với Đảng thì ngày nay các “quan” Đảng từ cấp xã phường đến trung ương, họ đều là những người giàu có hơn hẳn người dân lao động. Một bộ phận lớn cán bộ nhà nước đã trở thành các đại gia, triệu phú, tỉ phú tiền Dollar Mỹ, nhờ vào tham nhũng, cướp bóc, bòn rút của dân, của quốc gia, bằng đủ mọi hình thức. Người dân mạnh ai nấy sống cho riêng mình, xã hội đã phân hóa rõ ràng tầng lớp bị trị và kẻ thống trị. Nhà nước sợ nhân dân nổi loạn chống chính quyền, nhân dân sợ nhà nước lừa dối, đàn áp. Vậy còn ai tin ai?

Mất cắp, đó chính là kết quả của sự thờ ơ, bàng quan của mỗi người dân với cuộc sống. Nếu ta không cảnh giác, không ngăn chặn, chúng ta sẽ còn tiếp tục mất, và còn mất nhiều hơn, toàn diện hơn. Hãy cảnh giác với những tên trộm ngày, là quan chức nhà nước, mặt bóng nhẫy, đi xế hộp mặc complete, mở miệng ra là nói “vì dân, do dân”. Bọn chúng mới đích thị là những tên đã gây nên các vụ trộm và vấn nạn mất cắp trên toàn cõi Việt Nam.

Lê Nguyên Hồng
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#40 Posted : Wednesday, April 7, 2021 12:12:48 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,360

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Trịnh Công Sơn – Cuộc đổi chác bằng chính phẩm giá người nghệ sĩ


Tác giả TRẦN TIẾN DŨNG


Tác giả TRẦN TIẾN DŨNG, một nhà thơ tự do ở Sài Gòn, nói rằng anh gửi đến bài viết này với sự nặng trĩu trong tim mình. Không quá khó để hiểu được, chia sẻ được suy nghĩ thật lòng về Trịnh Công Sơn từ một thế hệ còn mang đủ phẩm giá và tư duy và sự tự do không thể khuất phục sau cuộc chiến 1975. Mọi suy nghĩ luôn giằng xé với một nửa là mến mộ và một nửa chất đầy những muộn phiền. Nếu ai đó nói “thôi xin hãy để mọi thứ ngủ yên”, đích thực là giả dối. Lịch sử và cuộc đời không có ngoại lệ. Nó sẽ được mổ xẻ, còn được nhìn lại cho đến khi nào sự thật, trách nhiệm và giá trị đúng của câu chuyện hiện ra. Xin được gửi đến bài viết này, với sự trân trọng, như chính tâm tình của tác giả.

UserPostedImage

Trịnh Công Sơn sinh họat cùng các thành phần Việt cộng nằm vùng tại Sài Gòn vào năm 1980. Người đeo kính ngoài (bìa phải) là Nguyễn Hữu Thái, người cùng Cộng quân, chỉnh sửa văn bản đọc lời đầu hàng của Dương văn Minh ở đài phát thanh.

Non nửa thế kỷ kể từ biến cố 30-4-1975, nhìn lại, thì hai sự kiện từ sóng của đài phát thanh vẫn vang bên tai hơn cả tiếng súng đại bác của quân Bắc Việt, khiến chấn động tâm hồn người miền Nam Việt Nam. Đó là, lời tuyên bố đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh; và lời kêu gọi hợp tác với chế độ cộng sản của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

“Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả kết quả đó… Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước… Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam Việt Nam này…” (Theo Wikipedia)

Vết chấn thương tâm lý không thể lành do người nhạc sĩ này gây ra, có thể không phải là bằng chứng để kết tội ông phản bội, dù ông phát ngôn như ra lệnh, và là người “lộ mặt” đổi phe sớm nhất, mà chính là đặt ra câu hỏi: Vì sao một nhạc sĩ tài hoa vốn là thần tượng của hàng triệu người dân miền Nam dưới chế độ VNCH, nơi chốn sinh-dưỡng tài năng, dành cho ông mọi danh tiếng; vậy mà ông không hề bận lòng, hối hả từ bỏ cộng đồng gắn bó tha thiết với ông, nơi các giá trị ý thức Tự Do được hàng triệu công dân miền Nam chọn lựa và phụng sự, sẵn sàng hiến dâng cả sinh mạng?

Sao một người được tôn vinh là nhạc sĩ ngôi sao chói sáng, xuất hiện danh giá trên mọi mặt báo của thế giới Tự Do trong và ngoài nước lại phủi sạch để thoát xác, xuất hồn, nhập phe cờ đỏ với tốc độ nhanh hơn đạn đại bác, để kêu gọi “kết hợp chặt chẽ” ngay phút đầu, giờ đầu của một biến cố lớn nhất trong lịch sử dân tộc đương đại – lúc âm thanh động cơ bánh xích xe tăng đang chà nát mặt đường tiến vào Thủ đô Sài Gòn, nơi có hàng triệu người thường dân đang hoang mang lo sợ, hoảng loạn tột cùng.

Không thể lên án một nhạc sĩ-nghệ sĩ vì quan điểm chính trị của họ. Tôi sẽ không thành thật nếu nói là mình không yêu thích các sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Thời thanh niên, thậm chí ngay dưới chế độ cộng sản, mỗi khi có dịp hát với bạn bè, tôi cũng thường chọn các tác phẩm của ông, nhất là các bài trong Ca Khúc Da Vàng và thêm nữa, không hiểu sao tôi rất thích và thường hát bài: Cho Một Người Vừa Nằm Xuống.

Tôi không bàn sâu về giai điệu và ca từ của bài này, bởi vì cá nhân tôi tin rằng cảm xúc mà nhạc sĩ truyền đạt chân thật, mở ra không gian lớn rộng mà người nghe chỉ có thể cùng chân thật cảm thụ chia sẻ. Cho Một Người Vừa Nằm Xuống trong Tết Mậu Thân máu lửa khắp miền Nam Việt Nam, là Đại tá không quân VNCH Lưu Kim Cương, bạn ông, được ông gởi theo về cõi miên viễn một tác phẩm sâu sắc tính nhân văn và tư tưởng hòa bình.

Tư tưởng, phản chiến – hòa bình từ ông thật đáng trọng. Đó cũng là trào lưu rộng khắp thế giới trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng chính nó cũng thủ tiêu lý tưởng Tự Do của các chiến sĩ Cộng Hòa và hư vô hóa toàn bộ sinh mệnh thường dân miền Nam vô tội của cuộc chiến tranh. Để rồi, đến thời điểm 46 năm sau biến cố 30-4-1975 và xa hơn nữa; “thông điệp” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người hối hả từ bỏ tư tưởng phản chiến-hòa bình để chọn phe thắng cuộc; không hề ngượng ngùng đưa ra phán xử “Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước...”

UserPostedImage

UserPostedImage

Không nên quy chụp cho người nghệ sĩ một quan điểm chính trị bất biến, ngay cả lịch sử công chính cũng ghi chép nhân vật lịch sử trong từng bối cảnh chính trị riêng biệt. Nhưng những người cùng chia sẻ bối cảnh lịch sử với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họ có quyền, kể cả chủ quan khi đưa ra cách nhìn nhận của mình để góp phần soi tỏ. Với tôi, đến ngày giờ này, thì hàng triệu tử sĩ, thương phế binh và các nạn nhân chiến tranh Việt Nam vô tội, không ai “được” chế độ Hà Nội nhìn nhận có tư tưởng phản chiến – hòa bình, không ai là nạn nhân vô tội, mà vẫn chỉ là linh hồn và thân xác được xác định của một bên thua cuộc. Đương nhiên hàng triệu người miền Nam từng ái mộ thầm lặng không hề lạ khi chứng kiến chỉ riêng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và các sáng tác của ông (trừ các Ca Khúc Da Vàng), giờ đây, được truyền thông phe thắng cuộc chiến phổ biến, vinh danh chói lòa.

Chọn đổi về phe thắng trận trong thời điểm họ chiến thắng, thì hẳn phải là người có giá và chịu trả giá; phe thắng có thể không tính toán đòi ngay phải bán phẩm giá, nhưng chính người bán biết hơn hết, là cả sự nghiệp, tài năng nghệ thuật không thể đủ nếu không kèm với phẩm giá nghệ sĩ.

TRẦN TIẾN DŨNG
Sài Gòn, 2-4-2021

Edited by user Wednesday, April 7, 2021 12:33:12 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest
4 Pages<1234>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.