Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

751 Pages«<746747748749750>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#14941 Posted : Monday, September 13, 2021 6:22:23 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Giới thiệu chuyến tông du thứ 34 của Đức Thánh Cha Phanxicô
đến Hung Gia Lợi và Slovakia


Thế Giới Nhìn Từ Vatican 11/09/2021

UserPostedImage

https://vietcatholic.net/News/Home/Article/270976

1. Lịch trình chuyến tông du của Đức Thánh Cha tại Hung Gia Lợi

Lúc 06 sáng Chúa Nhật 12 tháng 09, Đức Thánh Cha sẽ khởi hành từ sân bay quốc tế Fiumicino để bay đến Budapest

Dự kiến lúc 07:45 ngài sẽ đáp xuống sân bay quốc tế Budapest

Sau nghi thức chào đón chính thức tại sân bay quốc tế Budapest, Đức Thánh Cha sẽ có cuộc gặp gỡ với tổng thống và thủ tướng tại Bảo tàng Nghệ thuật Budapest

Lúc 09:15, ngài sẽ gặp các giám mục tại Bảo tàng Nghệ thuật Budapest.

Lúc 10:00, ngài gặp đại diện hội đồng đại kết các giáo hội và một số cộng đoàn do thái của Hung Gia Lợi tại Bảo tàng Nghệ thuật ở Budapest

Lúc 11:30, Đức Thánh Cha cử hành thánh lễ tại Quảng trường Anh hùng ở Budapest

Sau đó, ngài sẽ chủ sự Kinh Truyền Tin

Lúc 14:30 sẽ có nghi thức chào tạm biệt tại sân bay quốc tế Budapest

Sau đó, Đức Thánh Cha sẽ khởi hành bằng máy bay đến Bratislava

2. Lịch trình chuyến tông du của Đức Thánh Cha tại Slovakia

Lúc 15:30, theo giờ địa phương, ngày Chúa Nhật 12 tháng 9, Đức Thánh Cha sẽ đến sân bay quốc tế Bratislava. Tại đây sẽ có nghi thức chào đón chính thức.

Lúc 16:30, Đức Thánh Cha sẽ tham dự cuộc gặp gỡ đại kết tại Toà Sứ thần ở Bratislava

Sinh hoạt cuối cùng là cuộc gặp riêng các tu sĩ dòng tên tại Toà Sứ thần ở Bratislava

Thứ Hai ngày 13 tháng 09, lúc 09:15 sẽ có nghi thức tiếp đón tại Dinh Tổng thống ở Bratislava

Đức Thánh Cha sau đó sẽ gặp gỡ tổng thống tại “Sảnh Vàng” của Dinh Tổng thống ở Bratislava

Lúc 10h, ngài gặp gỡ chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn tại vườn của Dinh Tổng thống ở Bratislava

45 phút sau đó, Đức Thánh Cha sẽ có cuộc gặp gỡ các giám mục, linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo lý viên tại Nhà thờ Chính toà Thánh Martino ở Bratislava.

Buổi chiều, lúc 16h, ngài thăm riêng “Trung Tâm Bê-Lem” ở Bratislava

Lúc 16:45, Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Do Thái tại Quảng trường Rybné námestie ở Bratislava

Lúc 18h, Đức Thánh Cha sẽ gặp chủ tịch quốc hội tại Toà Sứ thần ở Bratislava

Lúc 18:15, Đức Thánh Cha gặp thủ tướng tại Toà Sứ thần ở Bratislava

3. Sinh hoạt của Đức Thánh Cha ngày Thứ Ba 14 tháng 09 và Thứ Tư 15 tháng 09

Lúc 08:10 sáng, ngài khởi hành bằng máy bay đến Košice

Lúc 09:00, ngài đến sân bay Košice

Lúc 10:30, Đức Thánh Cha sẽ cử hành Phụng Vụ Thánh Thể theo nghi thức Byzantine tại Quảng trường thể thao Mestská ở Prešov

Lúc 16:00, Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Roma tại Khu vực Luník IX ở Košice

Lúc 17:00, Đức Thánh Cha sẽ có cuộc gặp gỡ giới trẻ tại Sân vận động Lokomotiva ở Košice

Lúc 18:30, ngài khởi hành bằng máy bay để quay lại Bratislava. Lúc 19:30, ngài sẽ đến nơi.

Lúc 10:00, Thứ Tư ngày 15 tháng 09, Đức Thánh Cha sẽ cử hành thánh lễ tại Đền thánh Quốc gia Šaštin.

Lúc 13:30, sẽ có nghi thức chào từ biệt tại sân bay quốc tế Bratislava
Lúc 13:45, ngài khởi hành bằng máy bay về Roma

Lúc 15:30, ngài sẽ về đến sân bay quân sự Ciampino

ĐTC đã đến thủ đô Bratislava của Slovakia


9/13/2021 9:02:57 AM

Đức Thánh Cha Phanxicô bắt đầu chặng thứ hai của chuyến tông du. Ngài đến thủ đô Bratislava của Slovakia lúc 3 giờ rưỡi chiều 12/9/2021 và sẽ viếng thăm cho đến ngày 15/9/2021.

Sau chuyến bay kéo dài 50 phút, vượt 209 km từ thủ đô Budapest của Hungary đến thủ đô Bratislava của Slovakia, lúc gần 3 giờ 30 chiều giờ địa phương, chuyến bay A320 của hãng hàng không Alitalia của Ý đã đáp xuống sân bay Bratistava và dừng lại tại khu vực dành riêng cho nghi lễ tiếp đón.

Sứ thần Tòa Thánh tại Slovakia, Đức tổng giám mục Giacomo Guido Ottonello, và trưởng ban nghi lễ ngoại giao của Slovakia lên máy bay chào Đức Thánh Cha.

UserPostedImage

Khi Đức Thánh Cha bước xuống thang máy bay, Tổng thống Slovakia, bà Zuzana Čaputová, cùng phái đoàn chào đón ngài tại chân thang máy bay. Vài trăm tín hữu đứng trong khu vực sân bay vẫy cờ Slovakia và Tòa Thánh và hô vang: “Viva Papa Francesco!” – Hoan hô Đức Giáo hoàng Phanxicô. Hai em bé trong trang phục truyền thống đã tặng bánh mì, muối và hoa cho Đức Thánh Cha, như dấu chỉ của sự chào đón.

UserPostedImage

Tiếp đến các thành viên trong hai phái đoàn của Slovakia và Tòa Thánh được giới thiệu với Đức Thánh Cha và Tổng thống Slovakia. Đức Thánh Cha và Tổng thống cũng chào một số vị đại diện của Giáo hội Slovakia. Sau đó Đức Thánh Cha và Tổng thống đã duyệt qua hàng quân danh dự và lên xe đến Sảnh VIP của phi trường và hội đàm với nhau trong ít phút.

UserPostedImage

Lúc gần 4 giờ chiều, Đức Thánh Cha rời phi trường, di chuyển đến Tòa Sứ thần cách đó 11 km.

Slovakia là quốc gia thứ 54 Đức Thánh Cha viếng thăm trong hơn 8 năm kể từ khi ngài được chọn làm Giáo hoàng vào tháng 3/2013.

Khẩu hiệu của chuyến viếng thăm là “Cùng Mẹ Maria và thánh Giuse đến với Chúa Giê-su”.

UserPostedImage

Trong những ngày tại Slovakia, Đức Thánh Cha sẽ gặp gỡ các cấp chính quyền , xã hội dân sự và ngoại giao đoàn; gặp gỡ các giám mục, linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo lý viên. Đặc biệt ngài sẽ cử hành phụng vụ theo nghi lễ Byzantine tại Prešov. Chuyến viếng thăm sẽ kết thúc với Thánh lễ tại đền thánh Šaštin vào thứ Tư 15/9.

Hồng Thủy
(Vatican News 12.09.2021)

Diễn văn của ĐTC trước Hội đồng Đại kết
các Giáo hội Kitô ở Slovakia


9/13/2021 9:49:54 AM

Đức Thánh Cha rời sân bay Bratislava, đến Tòa Sứ thần vào lúc 4 giờ chiều và được mọi người đón tiếp. Vào lúc 4 giờ 30 chiều, ngài có buổi gặp gỡ đại kết tại hội trường của Toà Sứ Thần.

http://conggiao.info/die...-kito-o-slovakia-d-62596

Diễn văn của Đức Thánh Cha

---

Các Thành viên của Hội đồng Đại kết các Giáo hội Kitô ở Cộng hòa Slovakia thân mến,

Tôi xin gửi đến anh em lời chào thân ái và cám ơn anh em đã nhận lời mời đến đây với tôi. Tôi ở đây với tư cách là một người hành hương đến Slovakia, và anh em ở đây với tư cách là những vị khách được chào đón tại Tòa Sứ thần! Tôi rất vui vì cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi là với anh em. Đây là một dấu hiệu cho thấy đức tin Kitô giáo là - và mong muốn trở thành - một hạt giống của sự hiệp nhất và men của tình huynh đệ ở đất nước này. Xin cám ơn sự hiện diện của Đức Tổng Giám mục Rastislav; những lời chứng dấn thân của Đức Giám mục Ivan, Chủ tịch Hội đồng Đại kết. Cùng nhau chúng ta tiếp tục bước đi trong việc chuyển từ xung đột sang hiệp thông.

Các cộng đoàn của anh em đã có một khởi đầu mới sau những năm bị chủ nghĩa vô thần bách hại, khi sự tự do tôn giáo bị ngăn cấm hoặc bị thử thách gay gắt. Cuối cùng, sự tự do đã trở lại. Và giờ đây, anh em cùng chia sẻ một hành trình chung, trong đó có cảm nghiệm nét đẹp, nhưng đồng thời cũng có những khó khăn sống đức tin khi đã được tự do. Thực tế, luôn luôn có cám dỗ muốn trở lại tình trạng nô lệ, chắc chắn không phải của một chế độ, nhưng là một sự nô lệ thậm chí nó còn tồi tệ hơn: sự nô lệ bên trong.

Đó là những gì mà Dostoevsky đã cảnh báo trong câu chuyện nổi tiếng, Truyền thuyết về Đại Pháp quan. Chúa Giêsu trở lại mặt đất và một lần nữa Người bị giam tù. Vị Pháp quan đã có những lời đả kích, ông buộc tội Chúa Giêsu vì đã quá đề cao sự tự do của con người. Ông nói với Chúa: “Ông muốn đi vào thế giới với đôi bàn tay không, với lời hứa về một sự tự do mà, với sự đơn sơ và bừa bộn bẩm sinh của mình, con người không thể hiểu được, một sự tự do làm cho họ sợ hãi và khiếp đảm, vì không có gì khiến con người khó chịu hơn là sự tự do!" (I Fratelli Karamazov, Milano 2012, p. 338). Thậm chí, vị Pháp quan còn đi xa hơn qua việc nói thêm rằng con người nhanh chóng đánh đổi tự do của họ với một sự nô lệ thoải mái hơn: đó là việc phục tùng một ai đó sẽ đưa ra quyết định cho họ, miễn là họ có bánh mì và sự an toàn. Và như thế, ông đã khiển trách Chúa Giêsu vì đã không muốn trở thành Xêda để bẻ cong lương tâm của con người và thiết lập hòa bình bằng vũ lực. Thay vào đó, Chúa Giêsu tiếp tục ban tự do cho con người, trong khi con người lại yêu cầu “cơm bánh và vài thứ khác”.

Anh em thân mến, cầu mong điều này không xảy ra với chúng ta! Chúng ta hãy giúp đỡ nhau để đừng bao giờ rơi vào cái bẫy của việc hài lòng với cơm bánh và vài thứ khác. Bởi vì mối nguy hiểm này xảy ra khi chúng ta nghĩ rằng tình hình đã trở lại bình thường, khi chúng ta cảm thấy rằng mọi thứ đã lắng xuống và chúng ta ổn định trong hy vọng về một cuộc sống yên bình. Khi đó, mục tiêu của chúng ta không còn là “sự tự do mà chúng ta có trong Chúa Giêsu Kitô” (Gl 2, 4), chân lý mà Người giải phóng chúng ta (Ga 8, 32), nhưng là tìm kiếm chỗ đứng và các đặc quyền. Theo Tin Mừng, đó là “cơm bánh và vài thứ khác”.

UserPostedImage

Ảnh: REMO CASILLI / POOL / AFP

Ở đây, từ trung tâm của châu Âu, chúng ta có thể hỏi: chúng ta, các Kitô hữu có đánh mất lòng nhiệt thành của chúng ta đối với việc rao giảng Tin Mừng và làm chứng ngôn sứ không? Sự thật của Tin Mừng có làm cho chúng ta tự do không? Hay chúng ta cảm thấy tự do khi có được các vùng thoải mái cho phép chúng ta kiểm soát và bước tới cách thanh thản mà không có những trở ngại đặc biệc nào? Và một lần nữa, hài lòng với cơm bánh và sự an toàn, chúng ta có đánh mất động lực trong việc tìm kiếm sự hiệp nhất mà Chúa Giêsu đã cầu nguyện, một sự hiệp nhất chắc chắn đòi hỏi sự tự do trưởng thành trước những lựa chọn quyết liệt, từ bỏ và hy sinh, nhưng đó cũng là một tiền đề để thế giới tin tưởng (x. Ga 17,21)? Chúng ta đừng chỉ quan tâm đến những điều có thể mang lại lợi ích cho những cộng đoàn đơn lẻ của chúng ta. Tự do của anh chị em chúng ta cũng là tự do của chúng ta, bởi vì tự do của chúng ta sẽ không được trọn vẹn nếu không có tự do của họ.

Ở đây, công cuộc loan báo Tin Mừng đã bắt đầu bằng tình huynh đệ và được mang dấu ấn bởi các vị thánh của Thêsalônica, Cyrillô và Mêthôđiô. Là những chứng nhân của một Kitô giáo vẫn hiệp nhất và sốt sắng đối với việc loan báo Tin Mừng, xin các đấng giúp chúng ta tiếp tục cuộc hành trình bằng cách nuôi dưỡng sự hiệp thông huynh đệ giữa chúng ta nhân danh Chúa Giêsu. Mặc khác, làm thế nào chúng ta có thể hy vọng châu Âu tìm lại nguồn gốc Kitô giáo của mình khi chính chúng ta không bắt nguồn từ sự hiệp thông trọn vẹn? Làm thế nào chúng ta có thể mơ về một châu Âu không có ý thức hệ nếu chúng ta không có can đảm đặt sự tự do của Chúa Kitô lên trên nhu cầu của các nhóm tín hữu riêng lẻ? Thật khó để đòi hỏi một châu Âu ngày càng được phong phú bởi Tin Mừng, mà không bận tâm đến thực tế là trên lục địa này, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn hiệp nhất và không quan tâm đến nhau. Các tính toán cụ thể, các lý do lịch sử và các liên hệ chính trị không thể là những trở ngại không thể vượt qua trên con đường của chúng ta. Xin thánh Cyrillô và Mêtôđiô, “các vị tiền nhân của đại kết” (S. GIOVANNI PAOLO II, Lett. enc. Slavorum Apostoli, 14) giúp chúng ta nỗ lực hết sức để làm việc cho sự hòa giải giữa những khác biệt trong Chúa Thánh Thần. Xin các ngài giúp chúng ta đạt được một sự hiệp nhất, không phải là đồng nhất, có khả năng là một dấu hiệu và làm chứng cho sự tự do của Đức Kitô, Chúa đã tháo cởi những ràng buộc của quá khứ và chữa lành chúng ta khỏi mọi sợ hãi và nhút nhát.

Trong thời đại của họ, thánh Cyrillô và Mêtôđio đã cho phép Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể trong những vùng đất này (Ga 1, 14). Tôi muốn chia sẻ với anh em hai đề nghị trong quan điểm này như là lời khuyên huynh đệ để loan truyền Tin Mừng của sự tự do và hiệp nhất ngày nay.

Điều đầu tiên liên quan đến việc chiêm niệm. Một đặc điểm đặc trưng của các dân tộc Slavơ, một đặc điểm mà tất cả anh em được kêu gọi để bảo tồn, đó là sự chiêm niệm, vượt ra ngoài các khái niệm triết học và thậm chí thần học, khởi đi từ một đức tin được trải nghiệm, biết cách đón nhận mầu nhiệm. Hãy giúp nhau nuôi dưỡng truyền thống thiêng liêng này, điều mà châu Âu rất cần. Giáo hội Phương Tây đặc biệt khao khát điều này, để tìm lại vẻ đẹp của việc tôn thờ Thiên Chúa và tầm quan trọng của việc không xem cộng đoàn đức tin chủ yếu dựa hiệu quả của chương trình và chức năng.

Gợi ý thứ hai liên quan đến hành động. Sự hiệp nhất không đạt được nhiều nếu chỉ bằng những ý định tốt và việc theo đuổi một số giá trị chung, nhưng bằng cách cùng nhau làm một điều gì đó cụ thể cho những người mang chúng ta đến gần Chúa nhất. Họ là ai? Họ là người nghèo, vì Chúa Giêsu hiện diện trong họ (xem Mt 25, 40). Chia sẻ bác ái mở ra những chân trời rộng lớn hơn và giúp chúng ta đạt được tiến bộ lớn hơn trong việc vượt qua định kiến và hiểu lầm. Đây cũng là một phẩm chất truyền thống quan trọng ở đất nước này, nơi tại trường học, các học sinh học thuộc lòng một bài thơ có một đoạn rất hay: “Khi một bàn tay ngoại quốc gõ cửa nhà chúng ta với sự tin tưởng chân thành: bất kể người đó là ai, dù đến từ gần hay xa, dù ngày hay đêm, trên bàn của chúng ta sẽ có món quà của Thiên Chúa dành cho họ” (SAMO CHALUPKA, Mor ho!, 1864). Ước gì hồng ân Chúa hiện diện trên bàn của tất cả mọi người, để mặc dù chúng ta chưa thể chia sẻ cùng một bàn tiệc Thánh Thể, nhưng chúng ta có thể cùng nhau chào đón Chúa Giêsu bằng cách phục vụ Người nơi người nghèo. Đó sẽ là một dấu hiệu hùng hồn hơn nhiều lời nói, đặc biệt là trong những thời điểm khó khăn này, sẽ giúp xã hội dân sự hiểu rằng chỉ bằng cách đứng về phía những người yếu đuối nhất, tất cả chúng ta mới có thể thực sự cùng thoát ra khỏi đại dịch.

Anh em thân mến, tôi xin cám ơn vì sự hiện diện của anh em và cuộc hành trình mà anh em đang cùng nhau thực hiện. Tính cách ôn hòa và lòng hiếu khách đặc trưng của người dân Slovakia, truyền thống chung sống hòa bình giữa anh em và sự hợp tác của anh em vì phúc lợi của đất nước là điều quý giá đối với men Tin Mừng. Tôi khuyến khích anh em tiếp tục theo đuổi hành trình đại kết, kho tàng quý giá và không thể thiếu. Tôi chắc chắn sẽ nhớ anh em trong lời cầu nguyện của tôi, và tôi xin anh em cũng nhớ đến tôi. Xin chân thành cám ơn anh em.

(Vatican News 12.09.2021)

Edited by user Monday, September 13, 2021 9:08:04 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#14942 Posted : Monday, September 13, 2021 6:30:08 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
ĐTC gặp gỡ chính quyền, đại diện xã hội dân sự
và ngoại giao đoàn Slovakia


9/13/2021 8:59:46 PM

Sau cuộc hội kiến riêng với tổng thống Zuzana Čaputová tại “Sảnh Vàng” của Dinh Tổng thống, lúc 10 giờ sáng, Đức Thánh Cha tiến ra vườn của Dinh tổng thống để gặp gỡ khoảng 250 nhân vật, gồm các vị lãnh đạo chính trị và tôn giáo, ngoại giao đoàn, đại diện các tầng lớp xã hội và văn hóa của Slovakia.

http://conggiao.info/dtc...ao-doan-slovakia-d-62610

Trong diễn văn đáp lời bài chào mừng của tổng thống Zuzana, trước hết Đức Thánh Cha cám ơn tổng thống và toàn thể người dân Slovakia vì những tình cảm đã dành cho ngài.

UserPostedImage

Slovakia được mời gọi trở thành sứ điệp hoà bình cho châu Âu

Tiếp đến, ngài ca ngợi đất nước Slovakia là một quốc gia non trẻ nhưng có bề dày lịch sử, một vùng đất có cội nguồn sâu xa ở trung tâm châu Âu. Một đất nước đã vượt qua nhiều khó khăn để hòa nhập nhưng vẫn giữ được bản chất cách hòa bình. Lịch sử lâu đời này mời gọi Slovakia trở thành sứ điệp hòa bình giữa lòng châu Âu. Lời mời gọi này được gợi lên bởi sọc xanh lớn trên lá cờ, tượng trưng cho tình huynh đệ với các dân tộc Slav. Tình huynh đệ như thế là điều rất cần thiết cho tiến trình hội nhập. Điều này còn cần thiết hơn nữa tại thời điểm này, hậu đại dịch, với nhiều khó khăn, cần một cuộc tái khởi động kinh tế được ủng hộ bởi các kế hoạch phục hồi của Liên minh châu Âu.

UserPostedImage

Lịch sử Slovakia gắn liền với đức tin

Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh rằng lịch sử Slovakia được ghi dấu ấn không thể xóa nhòa bởi đức tin. Ngài hy vọng điều này sẽ khuyến khích các dự án và tình cảm được truyền cảm hứng từ huynh đệ, theo trải nghiệm sử thi của hai anh em thánh Cyrillô và Mêtôđiô. Các ngài đã loan truyền Tin Mừng khi các Kitô hữu của lục địa này hiệp nhất; và ngày nay các ngài vẫn tiếp tục hiệp nhất các hệ phái Kitô của vùng đất này. Đây là một di sản Slovakia được kêu gọi đón nhận để trở thành dấu hiệu hiệp nhất.

Chia sẻ cơm bánh

Sau đó, đi từ truyền thống tốt đẹp của đất nước trong việc đón khách viếng thăm, dâng tặng bánh mì và muối, Đức Thánh Cha đưa ra những gợi ý từ những món quà đơn giản và quý giá, thấm nhuần Tin Mừng này.

Bánh được Chúa chọn để hiện diện giữa chúng ta. Cơm bánh là điều thiết yếu. Kinh Thánh mời gọi không tích lũy cơm bánh, nhưng chia sẻ. Bánh được Tin Mừng nói đến luôn là bánh được bẻ ra. Đây là một sứ điệp mạnh mẽ cho cuộc sống chung của chúng ta: nó nói với chúng ta rằng sự giàu có đích thực không bao gồm việc làm gia tăng những gì chúng ta có, nhưng ở việc chia sẻ một cách công bằng với những người xung quanh. Bánh khi được bẻ ra, gợi lên sự mong manh, đặc biệt mời gọi chăm sóc những người yếu nhất. Không ai bị kỳ thị hay phân biệt đối xử. Cách nhìn người khác của Kitô hữu là không xem người yếu đuối là gánh nặng hay một vấn đề, nhưng là những anh chị em cần được đồng hành và bảo vệ.

UserPostedImage

Bánh được bẻ ra và chia sẻ một cách công bằng là một lời nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của công bằng. Chúng ta cần cộng tác xây dựng một tương lai trong đó luật pháp áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, dựa trên công lý không phải để rao bán. Nếu công lý không còn là một ý tưởng trừu tượng, nhưng trở nên hiện thực như cơm bánh, thì cần phải tiến hành một cuộc chiến nghiêm túc chống tham nhũng và trên hết, luật pháp phải được cổ võ và thượng tôn.

Cơm bánh cũng không thể tách rời với những từ “hằng ngày” (Mt 6,11). Cơm bánh hàng ngày có nghĩa là công việc hàng ngày. Tại nền tảng của một xã hội công bằng và huynh đệ là quyền mà mọi người nhận được bánh của công việc, để không ai cảm thấy bị loại trừ và buộc phải rời bỏ gia đình và quê hương để tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp hơn.

Trở nên muối đem lại hương vị cho đời

Đức Thánh Cha nói tiếp về biểu tượng dâng tặng muối cho khách viếng thăm: “Anh em là muối cho đời” (Mt 5:13). Muối là biểu tượng đầu tiên mà Chúa Giêsu dùng khi dạy các môn đệ. Hơn tất cả, muối mang lại hương vị cho thực phẩm, và nhắc nhở chúng ta về hương vị mà cuộc sống chúng ta cần, nếu không có nó cuộc sống sẽ trở nên vô vị. Thật vậy, các cơ cấu có tổ chức và hiệu quả là không đủ để cải thiện cuộc sống chúng ta với tư cách là một cộng đồng nhân loại. Chúng ta cần hương vị, hương vị của tình liên đới. Cũng giống như muối chỉ tạo ra hương vị bằng cách hòa tan, vì vậy xã hội cũng tái khám phá hương vị của nó qua sự quảng đại nhưng không của những người dành cả cuộc đời mình cho người khác.

Khuyến khích người trẻ đóng góp cho xã hội

Trong điều này, thật tuyệt vời khi những người trẻ được khuyến khích, để họ cảm thấy rằng họ có một phần đóng góp cho tương lai đất nước, để họ có thể ghi nhớ và làm phong phú lịch sử đất nước với những ước mơ và sự sáng tạo của họ. Không thể đổi mới nếu không có những người trẻ, thường bị lôi cuốn bởi một tinh thần tiêu thụ làm cho cuộc sống trở nên nhạt nhẽo và buồn tẻ. Có quá nhiều người trẻ ở châu Âu sống trong mệt mỏi và thất vọng, căng thẳng bởi lối sống điên cuồng và không tìm thấy động lực và hy vọng ở đâu. Thành phần còn thiếu là quan tâm đến người khác. Cảm thấy có trách nhiệm với ai đó mang lại hương vị cho cuộc sống và cho phép chúng ta khám phá ra rằng những gì chúng ta cho đi thực sự là một món quà chúng ta tặng cho chính mình.

UserPostedImage

Muối đức tin

Tới đây, Đức Thánh Cha nói đến muối đức tin: Ngày nay, muối đức tin không phải là một câu trả lời theo thế gian, không phải bằng nhiệt huyết thực hiện các cuộc chiến văn hóa, nhưng bằng cách âm thầm và khiêm tốn gieo hạt giống Vương quốc của Thiên Chúa, trước hết bằng chứng tá bác ái. Hiến pháp của quý vị đề cập mong muốn xây dựng đất nước dựa trên di sản của các thánh Cyrillô và Mêtôđiô, các vị bảo trợ của châu Âu. Các thánh không áp đặt hay ép buộc, với Tin Mừng họ đã làm phong phú thêm nền văn hóa và tạo ra các tiến trình đem lại ích lợi. Đây là con đường để đi theo: không phải cuộc chiến giành không gian và địa vị, nhưng là con đường được các thánh chỉ ra, con đường của các Mối Phúc. Từ các Mối Phúc, nảy sinh cái nhìn của Kitô giáo về xã hội.

Các thánh Cyrillô và Mêtôđiô cũng chỉ ra rằng gìn giữ điều tốt đẹp không có nghĩa là lặp lại quá khứ, nhưng là mở ra với điều mới mẻ, không cần đánh mất gốc rễ của mình. Lịch sử của quý vị bao gồm rất nhiều nhà văn, nhà thơ và những người nam nữ của nền văn hóa từng là muối của đất nước. Và như muối làm nóng rát khi đắp lên vết thương, như thế cuộc đời của các đấng thường phải trải qua thử thách đau khổ. Bao nhiêu người danh tiếng đã phải chịu đựng cảnh tù đày, nhưng bên trong họ vẫn có tự do, là một mẫu gương sáng ngời về sự can đảm, liêm chính và chống lại sự bất công! Và hơn hết là sự tha thứ. Đó là muối của vùng đất của quý vị.

UserPostedImage

Tôi ước mong quý vị làm như vậy, với cái nhìn hướng lên trên, như khi quý vị nhìn vào dãy núi Tatra xinh đẹp của quý vị. Ở đó, giữa những khu rừng và những đỉnh núi hướng lên trời, Thiên Chúa dường như gần gũi hơn và thụ tạo xuất hiện như một ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn đã đón tiếp nhiều thế hệ qua nhiều thế kỷ. Các ngọn núi kết hợp thành một dãy với nhiều đỉnh núi và cảnh quan rực rỡ, vượt qua qua các biên giới quốc gia để cùng nhau tạo nên vẻ đẹp của các dân tộc khác nhau. Quý vị hãy trau dồi vẻ đẹp này, vẻ đẹp của toàn thể. Điều này đòi hỏi sự kiên nhẫn và nỗ lực, can đảm và sự chia sẻ, sự nhiệt tình và sáng tạo. Nhưng đó là công lao của con người được Trời cao chúc phúc. Thiên Chúa chúc lành cho vùng đất này.

Ngọc Yến
(Vatican News 13.09.2021)

ĐTC gặp các giám mục, linh mục, tu sĩ, chủng sinh
và giáo lý viên Slovakia


9/13/2021 9:11:08 PM

UserPostedImage

Sau khi gặp chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn tại Dinh Tổng Thống, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Nhà thờ chính toà thánh Martino cách đó 2km để gặp các Giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và giáo lý viên của Slovakia.

Đức Thánh Cha được Đức TGM của Bratislava và cha sở Nhà thờ chính toà đón tại lối vào. Ngài được một nữ tu và một giáo lý viên trao bó hoa để đặt trước Thánh Thể trước khi ra trước cung thánh để bắt đầu buổi gặp gỡ.

Trước hết, Đức TGM Stanislav Zvolenský, chủ tịch HĐGM Slovakia đại diện những người tham dự chào mừng Đức Thánh Cha. Sau đó, Đức Thánh Cha đáp lời bằng một diễn văn với lối nói gần gũi và thân tình.

http://conggiao.info/dtc...ly-vien-slovakia-d-62612

Ngài nói rằng: “Tôi đến đây để san sẻ với anh chị em bước đường cuộc sống, những ưu tư, mong đợi và hy vọng của Giáo hội và đất nước này. Đây là cách mà cộng đoàn tín hữu sơ khai đã sống: chuyên chăm và hiệp nhất, họ bước đi cùng nhau (x. Cv 1,12-14).”

Giáo hội không phải là pháo đài

Điều đầu tiên được ĐTC nhấn mạnh là “Giáo hội không phải là một pháo đài, một thế lực, một lâu đài toạ lạc trên cao nhìn xuống thế giới với khoảng cách và tự mãn.” “Nhưng Giáo hội là cộng đoàn muốn gắn kết với Đức Ki-tô bằng niềm vui Tin Mừng, đó là men làm dậy nên vương quốc của bác ái và hoà bình trong khối bột thế giới. Do vậy, chúng ta không nên tin vào cám dỗ của sự hoành tráng, những điều to lớn kiểu trần thế! Giáo hội phải khiêm nhường như Đức Giê-su, Đấng đã tự ra không, trở nên nghèo để chúng ta được giàu có (x. 2Cr 8,9), Người đã đến và ở giữa chúng ta để chữa lành những vết thương nhân loại của chúng ta.”

Đức Thánh Cha dùng 3 từ để nhắn nhủ các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và giáo lý viên: (1) tự do; (2) sáng tạo; (3) đối thoại

Từ thứ nhất là sự tự do.

Không có tự do thì không có nhân loại đích thực bởi vì con người được tạo dựng cách tự do để được tự do.

Tuy vậy, tự do không phải là một thành tựu tất yếu, không tồn tại một lần cho mãi mãi. Tự do là một hành trình, đôi khi khó khăn để khởi sự lại. Tự do bên ngoài hoặc trong các cơ cấu xã hội là không đủ để coi là tự do đích thật. Tự do trước tiên là lời mời gọi nơi cá nhân về trách nhiệm trong chọn lựa của mình, là phân định và thăng tiến cuộc sống. Điều này thực sự khó khăn và làm chúng ta sợ hãi.

Đức Thánh Cha gợi nhớ lịch sử dân tộc Ít-ra-en: họ chịu đau khổ dưới ách thống trị Pha-ra-ô, họ là nô lệ, nhưng được Thiên Chúa giải thoát. Nhưng để trở nên thực sự tự do, không chỉ là được giải thoát khỏi kẻ thù, họ phải băng qua sa mạc, một hành trình gian khó. Khi đó họ nghĩ rằng có lẽ trước đây còn đỡ khổ hơn, ít ra còn có củ hành củ tỏi… Đó là một cám dỗ lớn lao, là chẳng thà có được củ hành còn hơn là hành trình gian khó và liều mình để được tự do.

Đôi khi ngay cả nơi Giáo hội, ý tưởng này có thể gây hại cho chúng ta, đó là tốt hơn là xác định tất cả, các điều luật phải giữ, sự chắc chắn và đồng bộ, hơn là để mọi người tự trưởng thành và chịu trách nhiệm, hơn là suy tư, tự vấn lương tâm, và đem ra thảo luận. Trong đời sống thiêng liêng và Giáo hội, có cám dỗ đi tìm sự bình an giả tạo, điều có thể làm chúng ta vô sự, hơn là tìm nhiệt huyết Tin Mừng giúp biến đổi và làm chúng ta không thể ngồi yên. Sự an toàn của củ hành Ai Cập thì dễ chịu hơn sự vô định của sa mạc, nhưng Giáo hội không để mình rơi vào cuộc phiêu lưu của tự do, ngay cả trong đời sống thiêng liêng, có nguy cơ trở thành một nơi khắt khe và khép kín. Có lẽ một số người đã quen với điều này, nhưng những người khác – nhất là những thế hệ trẻ – họ không được thu hút bởi một đức tin không cho họ tự do nội tâm, bởi một Giáo hội nghĩ đến mọi người theo cùng một cách thức và vâng phục mù quáng.

Đức Thánh Cha khuyến khích: “đừng sợ đào luyện con người với mối tương quan trưởng thành và tự do với Chúa. Điều này có thể cho chúng ta cảm tưởng là không thể điều khiển mọi thứ, là mất đi sức mạnh và quyền lực, nhưng Giáo hội của Đức Ki-tô không muốn thống trị tâm hồn và chiếm lĩnh không gian, Giáo hội muốn là “nguồn mạch” hy vọng trong đời sống con người. Tôi nói điều này nhất là cho các Mục tử, anh em thi hành sứ vụ trong một đất nước nơi mọi sự thay đổi rất nhanh và các tiến trình dân chủ được khởi sự, nhưng sự tự do vẫn còn mong manh.

Từ thứ hai là sự sáng tạo.

Đức Thánh Cha nhắc đến hai thánh Cirillo và Metodio, những vị rao giảng Tin Mừng cho vùng đất này. “Các vị ấy dạy chúng ta rằng việc truyền giáo không bao giờ là sự lặp lại của quá khứ. Niềm vui Tin Mừng luôn là Đức Ki-tô nhưng cách thức tin vui này có thể trở thành con đường trong thời gian và trong lịch sử thì khác nhau. Thánh Cirillo và Metodio đã cùng nhau rao giảng ở vùng đất này của lục địa châu Âu và, được nung nấu bởi nhiệt huyết rao giảng Tin Mừng, đã sáng tạo ra bộ chữ cái mới để dịch Thánh Kinh, các bản văn phụng vụ và giáo lý Công giáo. […] Họ là những nhà sáng chế ngôn ngữ mới để truyền đạt đức tin, họ sáng tạo trong việc chuyển ngữ thông điệp Ki-tô giáo, họ gần gũi với lịch sử các dân tộc mà họ tiếp xúc để nói ngôn ngữ của họ và đồng hoá mình với văn hoá ấy. Đất nước Slovakia hiện nay không cần điều này sao? Chẳng lẽ đây không phải là nhiệm vụ cấp thiết nhất của Giáo hội giữa các dân tộc châu Âu, đó là tìm ra “mẫu tự” mới để nói về đức tin sao?

Chúng ta nhớ lại việc những người đàn ông đã làm gì để đưa người bại liệt đến trước Chúa Giê-su khi không thể băng qua đám đông đứng chật kín cửa vào. Họ đã gỡ mái nhà và thả người bại liệt xuống (x. Mc 2,1-5). Họ thật sáng tạo! Thật đẹp biết bao khi chúng ta biết tìm ra con đường, cách thức và ngôn ngữ mới để loan báo Tin Mừng! Nếu lời rao giảng và mục vụ của chúng ta không thể tiến tới bằng cách thông thường, chúng ta hãy cố gắng mở ra những không gian mới, thử những lối nẻo khác. Hai thánh Cirillo và Metodio đã làm như thế và cho chúng ta thấy rằng không thể làm cho Tin Mừng lớn mạnh nếu không được bén rễ trong văn hoá dân tộc, trong các biểu tượng, ưu tư, ngôn từ và căn tính của dân tộc ấy. Họ từng bị buộc tội là lạc giáo bởi đã dám dịch ngôn ngữ đức tin. Chính ý thức hệ ấy sản sinh ra nỗ lực đồng bộ hoá, nhưng Tin Mừng hoá là một tiến trình hội nhập văn hoá, là hạt giống phong phú sự mới mẻ, là sự đổi mới của Thần Khí làm mới lại mọi sự.

Từ cuối cùng là từ đối thoại.

Một Giáo hội biết tạo nên tự do nội tâm và trách nhiệm, biết sáng tạo trong việc hội nhập vào lịch sử và văn hoá, phải là Giáo hội biết đối thoại với thế giới, với những ai nhận biết Đức Ki-tô dù không phải “người của chúng ta”, với những ai đang nỗ lực tìm kiếm sự thánh thiện và với cả những ai không tin.

Sự hiệp nhất, liên đới và đối thoại luôn mong manh, đặc biệt khi sau lưng là một lịch sử đau thương đã để lại những vết hằn. Hồi tưởng lại những vết thương có thể khiến người ta rơi vào thù hận, mất tin tưởng, thậm chí là khinh thường, thúc đẩy chúng ta dựng nên những rào cản đối với những ai khác chúng ta. Mặt khác, những vết thương có thể trở thành những lối mở, như những vết thương của Chúa, trao truyền lòng thương xót của Thiên Chúa, ân sủng làm thay đổi đời sống và biến đổi chúng ta trở nên người kiến tạo hoà bình và hoà giải. Tôi biết nơi anh chị em có câu châm ngôn rất hay: “Ai ném anh một hòn đá, anh cho họ một ổ bánh mì”. Câu này đậm tính Tin Mừng! Đó là lời mời gọi của Chúa Giê-su hầu phá vỡ vòng luẩn quẩn và tàn phá của bạo lực, bằng cách đưa má bên kia cho ai đánh mình hầu chiến thắng sự dữ bằng sự thiện (x. Rm 12,21).

Cuối cùng Đức Thánh Cha cầu chúc mọi người tiếp tục hành trình của mình trong tự do của Tin Mừng, trong sáng tạo của đức tin và trong đối thoại xuất phát từ lòng thương xót Chúa.

Sau bài diễn văn, Đức Thánh Cha chụp hình chung với các giám mục và bắt tay chào riêng nhiều người tham dự cũng như những người chờ đợi ngài từ bên ngoài nhà thờ, trên đường ngài ra xe để trở về Toà Sứ Thần cách đó 4km. Kết thúc buổi sáng ngày thứ hai của chuyến viếng thăm.

Văn Yên, SJ
(Vatican News 13.09.2021)

Edited by user Monday, September 13, 2021 6:38:48 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#14943 Posted : Monday, September 13, 2021 12:48:30 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
ĐTC đọc kinh Truyền Tin với các tín hữu tại Budapest


9/13/2021 9:20:31 AM

Cuối Thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể tại Budapest Đức Thánh Cha đã cùng các tín hữu đọc kinh Truyền Tin. Trước khi đọc kinh Đức Thánh Cha cảm ơn Giáo hội và đất nước Hungary. Ngài khuyến khích họ giữ cho nguồn cội của mình vững chắc, nhưng không co cụm phòng thủ; kín múc từ các nguồn mạch, cởi mở với những người đang khao khát các ân sủng trong thời đại của chúng ta.

UserPostedImage

BÀI HUẤN DỤ NGẮN CỦA ĐỨC THÁNH CHA TRƯỚC KHI ĐỌC KINH TRUYỀN TIN
BUDAPEST 12/09/2021

Anh chị em thân mến,

Từ ngữ “Eucaristia”, “Thánh Thể”, có nghĩa là “tạ ơn”, và vào cuối Thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể Quốc tế và cuộc viếng thăm Budapest của tôi, tôi muốn chân thành cảm ơn. Tôi cảm ơn đại gia đình Ki-tô giáo Hungary mà tôi mong ước chào thăm trong các nghi lễ và lịch sử của nó, nơi các anh chị em Công giáo và các hệ phái Ki-tô khác, tất cả đang tiến tới sự hiệp nhất trọn vẹn. Tôi chân thành chào người anh em của tôi, Đức Thượng phụ Bartolomeo; sự hiện diện của ngài là niềm vinh dự đối với chúng tôi. Đặc biệt tôi cảm ơn các anh em giám mục, các linh mục, tất cả các tu sĩ nam nữ, và tất cả anh chị em, các tín hữu quý mến! Lời cảm ơn đặc biệt tôi xin gửi đến những người đã tích cực làm việc cho Đại hội Thánh Thể và cho việc cử hành Thánh lễ hôm nay.

Có nền tảng và cởi mở, đâm rễ sâu và tôn trọng

Một lần nữa để bày tỏ lòng biết ơn với các cấp chính quyền dân sự và tôn giáo, những người đã đón tiếp tôi, tôi muốn nói köszönöm (cảm ơn) quý vị, nhân dân Hungary. Bài hát chính thức của Đại hội nhắc nhở anh chị em rằng: “Qua ngàn năm, Thánh giá là cây cột của ơn cứu độ của anh chị em. Giờ đây, chớ gì dấu chỉ của Đức Ki-tô cũng là lời hứa về một tương lai tốt đẹp hơn cho anh chị em”. Đây là điều tôi cầu chúc cho anh em: cầu xin Thánh giá là cầu nối của anh chị em giữa quá khứ và tương lai. Tình cảm tôn giáo đã là huyết mạch của quốc gia này, một dân tộc rất gắn bó với cội nguồn. Tuy nhiên, Thánh giá được trồng trên mặt đất, không chỉ mời gọi chúng ta gắn chặt với cội nguồn, nhưng còn nâng cao và mở rộng vòng tay của nó đến với mọi người. Thánh giá thúc giục chúng ta giữ cho nguồn cội của mình vững chắc, nhưng không co cụm phòng thủ; kín múc từ các nguồn mạch, cởi mở với những người đang khao khát các ân sủng trong thời đại của chúng ta. Tôi cầu chúc rằng anh chị em được như vậy: có nền tảng và cởi mở, đâm rễ sâu và tôn trọng. Istenéltessen! Xin Chúa chúc lành cho anh chị em! “Thánh giá Truyền giáo” là biểu tượng của Đại hội này: chớ gì Thánh giá đưa anh chị em đến việc công bố Tin Mừng giải thoát của tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho mỗi người, bằng cuộc sống của anh chị em. Giữa cơn đói tình yêu ngày nay, đây là sự nuôi dưỡng mà con người khao khát.

Hai tân chân phước người Ba Lan

Hôm nay, ở Vác-sa-va, không cách xa nơi đây, hai vị đã làm chứng tá cho Tin Mừng đang được tuyên phong chân phước: Đức Hồng Y Stefan Wyszyński và nữ tu Elizabeth Czacka, Đấng sáng lập Dòng Nữ tu Phan-sinh Nữ tỳ Thánh Giá. Chính hai vị đều rất gần gũi với Thánh Giá. Đức Hồng Y Wyszyński, Giáo chủ Ba Lan, người bị bắt và bị giam tù, luôn là một Mục tử can đảm theo tâm tình của Chúa Kitô và là sứ giả của tự do và phẩm giá con người. Nữ tu Elizabeth, người bị mất thị lực khi còn rất trẻ, đã dành cả cuộc đời mình để giúp đỡ người khiếm thị. Chớ gì tấm gương của các vị tân Chân phước này khuyến khích chúng ta biến bóng tối thành ánh sáng bằng sức mạnh của tình yêu.

Mẹ Maria, Nữ vương Hồng phúc, bổn mạng ngàn đời của người Hungary

Cuối cùng vào ngày tôn kính Thánh Danh Đức Maria, chúng ta hãy đọc kinh Truyền Tin. Vào thời xa xưa, do tôn trọng nên người Hungary không gọi tên của Mẹ Maria, nhưng gọi Mẹ bằng một tước hiệu danh dự được dành cho nữ hoàng. Xin “Nữ vương Hồng phúc, bổn mạng ngàn đời của anh chị em” đồng hành và chúc lành cho anh chị em! Từ thành phố vĩ đại này, tôi gửi lời chúc lành đến mọi người, đặc biệt là các thiếu nhi và người trẻ, người cao niên và các bệnh nhân, những người nghèo và người bị loại bỏ. Cùng với anh chị em và vì anh chị em tôi nói: Isten, álddmeg a magyart! Xin Thiên Chúa chúc lành cho người Hungary.

(Vatican News 12.09.2021)

"Thật là một nỗi đau ngài không ở lại lâu hơn"


9/13/2021 10:41:10 AM

Với khách du lịch không hiểu biết tình hình ở Budapest, thì họ khó hiểu vì sao Đức Phanxicô đến thăm thủ đô Hungary ngày chúa nhật 12 tháng 9. Ở trung tâm thành phố không có biểu ngữ, cờ hay thậm chí là áp phích thông báo ngài đến. Còn thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể, ngài cử hành ở Quảng trường Anh hùng, tương đối ở xa trung tâm. Vì thế ở Budapest, sự lựa chọn địa điểm dường như nhằm tiết chế thông tin liên lạc chung quanh chuyến đi này của Giáo hoàng.

UserPostedImage

Đức Phanxicô cử hành Thánh lễ bế mạc Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 52 ngày chúa nhật 12 tháng 9-2021 tại Budapest, Hungary. Dù rất buồn vì chuyến thăm đặc biệt ngắn ngủi đến đất nước của mình, giáo dân Hungary nồng nhiệt chào đón ngài.

Với khách du lịch không hiểu biết tình hình ở Budapest, thì họ khó hiểu vì sao Đức Phanxicô đến thăm thủ đô Hungary ngày chúa nhật 12 tháng 9. Ở trung tâm thành phố không có biểu ngữ, cờ hay thậm chí là áp phích thông báo ngài đến. Còn thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể, ngài cử hành ở Quảng trường Anh hùng, tương đối ở xa trung tâm. Vì thế ở Budapest, sự lựa chọn địa điểm dường như nhằm tiết chế thông tin liên lạc chung quanh chuyến đi này của Giáo hoàng.

Dù trong bối cảnh này, giáo dân Hungary đã dành cho Đức Phanxicô sự chào đón nồng nhiệt. Ước chừng có 75.000 người tham dự, họ dồn vào đại lộ xe giáo hoàng sẽ đi qua để đến Quảng trường Anh hùng. Như thường lệ với các sự kiện với công chúng của giáo hoàng, giáo dân thuộc nhiều quốc tịch hiện diện trong đám đông, có thể nhận diện qua lá cờ của họ. Giáo dân các nước láng giềng như Séc và Slovakia, nhưng cũng có các giáo dân hành hương từ những vùng đất xa xôi như Bồ Đào Nha, Mexicô, như nhóm tám phụ nữ đến dự Đại hội Thánh Thể trước khi tiếp tục hành hương đi Rôma.

Đức Phanxicô chỉ ở lại Budapest vài giờ vì theo truyền thống, khi một giáo hoàng đi dự một sự kiện quốc tế lớn, ngài không đến thăm quốc gia tổ chức sự kiện đó cùng một lúc.

Và đây là trường hợp thường xảy ra với các Đại hội Thánh Thể, Đại hội Thế giới Gia đình, các lễ phong thánh – như lần phong các thánh ở Fatima năm 2017, hoặc các chuyến thăm tương tự của ngài đến Liên hiệp Âu châu ở Strasbourg. Tuy nhiên sau thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể, ngài đã dành thì giờ để gặp các nhà cầm quyền, đại diện các giáo phái kitô giáo khác, cộng đồng do thái và các giám mục của Hungary.

Sự hiện diện của Thượng phụ Chính thống Đại kết

Các nhà cầm quyền đất nước cũng có mặt, Tổng thống Janos Ader và Thủ tướng Viktor Orbán ngồi hàng ghế đầu. Một vị khách quý khác: Thượng phụ Bartholomew, tòa thượng phụ Constantinople ở trên bục. Hồng y Péter Erdo, tòa giám mục Budapest chào mừng trước thánh lễ: “Sự tham dự của Thượng phụ Bartholomew là một niềm vui đặc biệt, thể hiện mong muốn chung của chúng ta về sự hiệp nhất của tất cả những ai đã được rửa tội.”

Ngồi phía bên kia bục, cô Anna, ngoài 20 tuổi, hướng đạo sinh đến từ Slovakia chờ để tham dự thánh lễ Đức Phanxicô cử hành, cô cho biết: “Chuyến viếng thăm này để vinh danh Đại hội Thánh Thể, tôi rất hồi hộp được gặp Đức Phanxicô lần đầu tiên trong đời.” Dù cô sống ở Bratislava, nơi ngài sẽ đến ngay sau Thánh lễ, nhưng cô không có ý định sẽ theo dõi các hành trình khác của ngài. Như dấu hiệu cho thấy mình là người Hungary, cô muốn gặp ngài ở “thủ đô của mình” dù cô mang quốc tịch Slovakia.

”Đau” trước chuyến thăm ngắn ngủi của Đức Phanxicô

Điểm đặc biệt của chuyến tông du này là ngắn ngủi. Ngài chỉ ở lại đất Hungary 7 tiếng đồng hồ, cử hành thánh lễ bế mạc Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 52 và dự một vài buổi gặp gỡ. Đối với nữ tu Elzbieta, dòng Phanxicô, sơ người gốc Ba Lan nhưng đã đến Budapest mười lăm năm, tuy ngắn ngủi nhưng việc Đức Phanxicô đến đây là “quan trọng”, là “bằng chứng để nhấn mạnh đức tin vào Thánh Thể”. Sơ nhấn mạnh: “Đó là một sự khuyến khích để chúng tôi luôn trau dồi sự gần gũi với Chúa Giêsu.”

Về phần nữ tu Lucia, 46 tuổi, dòng Đa Minh Budapest, sơ cảm thấy khó chấp nhận Đức Phanxicô đã không bỏ thêm thì giờ cho đất nước của sơ: “Đối với nhiều người Hungary, đó là nỗi đau ngài không ở lại lâu hơn. Tôi hy vọng nhờ Thánh lễ ở Budapest này, người Hungary sẽ hiểu chuyến thăm ngắn ngủi của ngài đến đất nước chúng tôi không có nghĩa là ngài không muốn gặp chúng tôi.”

Sơ Lucia yêu mến “sự gần gũi cao cả của Đức Phanxicô với người nghèo, nhưng sơ tiếc đường lối ứng xử của ngài về các vấn đề đức tin hoặc thần học, không phải lúc nào cũng rõ ràng, không giống như Đức Gioan Phaolô II hay Đức Bênêđictô XVI.” Tuy nhiên, những việc này không làm giảm niềm vui của sơ khi được tham dự thánh lễ do Đức Phanxicô cử hành tại đất nước của sơ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
(phanxico.vn 13.09.2021/ la-croix.com, Xavier Le Normand (phóng viên đặc biệt tại Budapest, Hungary), 2021-09-12)

Edited by user Monday, September 13, 2021 3:42:11 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#14944 Posted : Monday, September 13, 2021 1:04:18 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
ĐTC chủ tế Thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể
lần thứ 52 tại Budapest


9/12/2021 9:26:39 PM

Lúc 11 giờ 30 Chúa Nhật 12/9/2021, Đức Thánh Cha đã chủ tế Thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể lần thứ 52 tại Budapest. Trong bài giảng, ngài mời gọi các tín hữu xác định Chúa Ki-tô mà chúng ta tin là có là Chúa Ki-tô thật không. Hãy đi từ việc ngưỡng mộ Chúa đến chỗ bắt chước Người. Hãy theo cách suy nghĩ của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha cũng mời gọi các tín hữu siêng năng chầu Thánh Thể để được Chúa biến đổi, chữa lành sự cứng nhắc và quy kỷ và sẵn sàng bước đi theo Chúa để phục vụ anh chị em .

UserPostedImage

Sau khi gặp các các đại diện của Hội đồng Đại kết các Giáo hội Ki-tô và một số cộng đoàn Do Thái của Hungary, lúc 10 giờ 50 phút, Đức Thánh Cha đi xe mui trần vòng quanh Quảng trường các Anh hùng để chào các tín hữu. Đây là quảng trường lớn nhất tại Budapest và quan trọng về phương diện lịch sử và chính trị. Nơi này có “Đài tưởng niệm Thiên niên kỷ”, được xây dựng vào năm 1896, nhân dịp kỷ niệm một ngàn năm Hungary được thành lập. Xe chở Đức Thánh Cha đi dọc qua các con đường xung quanh quảng trường giữa tiếng hoan hô chào đón của đông đảo người dân Hungary. Đức Thánh Cha ban phép lành cho dân chúng và thỉnh thoảng ngài dừng lại chúc lành cho các em bé.

UserPostedImage

Đúng 11 giờ 30, đoàn đồng tế gồm các Hồng y và giám mục cùng Đức Thánh Cha tiến ra lễ đài, bắt đầu Thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể lần thứ 52, trước sự tham dự của khoảng 250 ngàn tín hữu hiện diện tại Quảng trường các Anh hùng. Đồng tế với Đức Thánh Cha có hơn 100 Hồng y, giám mục, trong đó có nhiều giám mục Công giáo Đông phương, và khoảng 500 linh mục. Một số vị đại diện các Giáo hội Chính Thống, Tin Lành cũng hiện diện tham dự Thánh lễ. Một ca đoàn hùng hậu với một ngàn ca viên phụ trách phần thánh ca.

UserPostedImage

Bắt đầu Thánh lễ, Đức Hồng y Peter, Erdo, Tổng giám mục của Budapest cảm ơn Đức Thánh Cha đã nhận lời mời chủ tế Thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể lần thứ 52. Đức Hồng y cũng nhắc lại lý do các Đại Hội Thánh Thể và đặc biệt là các Thánh Lễ kết thúc được xem như Statio Orbis: các cử hành Thánh Thể cho thấy rõ ​​ràng có một cộng đoàn to lớn duy nhất được hình thành xung quanh Bàn tiệc của Chúa. Đức Hồng y nói rằng Thánh lễ hôm nay là một biểu tượng vô cùng mạnh mẽ đánh dấu sự hiệp nhất của Giáo hội xung quanh Chúa Kitô. Ngài cũng nhắc đến sự hiện diện của những người không phải Ki-tô hữu; đây là một dấu chỉ của các thời đại, nghĩa là ơn gọi của Giáo hội ở giữa lòng nhân loại như là sứ giả của Chúa Ki-tô giữa các dân tộc.

Đức Hồng y tặng Đức Thánh Cha một bản sao của Thánh giá Truyền giáo. Theo Đức Hồng y, Thánh giá có đính thánh tích của các thánh và các chân phước trong vùng đánh thức lương tâm để chúng ta có thể sống thánh thiện ngay cả ngày nay, theo gương các vị Tử đạo và những vị Giải tội vĩ đại.

UserPostedImage

Trong bài giảng, dựa trên câu hỏi Chúa Giê-su hỏi các môn đệ “Người ta bảo Thầy là ai?”, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu xác định Chúa Ki-tô mà chúng ta tin có là Chúa Ki-tô thật không. Ngài nói rằng câu hỏi của Chúa Giê-su đòi các môn đệ đưa ra một câu trả lời quyết định và đánh dấu một bước ngoặt trong hành trình theo Thầy của họ. Đức Thánh Cha lưu ý rằng các môn đệ đã biết rõ về Chúa Giê-su, đã chứng kiến ​​nhiều phép lạ Người làm, bị ấn tượng bởi giáo huấn của Người, và đi theo Người bất cứ nơi đâu, nhưng họ vẫn chưa suy nghĩ như Người. Đức Thánh Cha nói: “Họ phải đi bước quyết định đó, từ ngưỡng mộ Chúa Giê-su đến bắt chước Chúa Giê-su”. Đức Thánh Cha nói rằng Chúa cũng nhìn vào từng mỗi người chúng ta và hỏi: “Thật sự đối với con, Ta là ai”? Đối với con Ta là ai?”. Chúa muốn chúng ta trả lời từ kinh nghiệm cá nhân, từ cuộc sống của mình. Theo Đức Thánh Cha, “câu trả lời này canh tân đổi mới chúng ta, những môn đệ của Chúa” qua ba bước mà các môn đệ Chúa Giê-su đã thực hiện và cả chúng ta cũng có thể làm.

1. Loan báo về Chúa Giê-su.

Thánh Phê-rô đại diện các môn đệ khác trả lời câu hỏi của Chúa Giê-su: “Thầy là Đấng Ki-tô”. Đức Thánh Cha nhận xét rằng đây là câu trả lời chính xác. Nhưng Chúa Giê-su lại nghiêm cấm các môn đệ nói về điều này, lý do là vì nó chưa đầy đủ. Ngài giải thích, bởi vì “luôn có nguy cơ rao giảng về một ý tưởng cứu thế sai lầm, theo ý tưởng của con người chứ không phải của Thiên Chúa. Do đó, từ giây phút đó, Chúa Giê-su bắt đầu mặc khải về căn tính của Người, căn tính được thể hiện trong mầu nhiệm vượt qua, điều chúng ta tìm thấy trong Thánh Thể. Chúa giải thích rằng sứ vụ của Người sẽ đạt đến đỉnh điểm trong vinh quang phục sinh, nhưng chỉ sau khi chịu sỉ nhục trên thập giá”.

Đức Thánh Cha nói tiếp: “Trước những lời gây sốc này của Chúa Giê-su, chúng ta cũng có thể bị thất vọng và kinh ngạc. Chúng ta cũng muốn một Đấng Cứu Thế quyền năng hơn là một tôi tớ bị đóng đinh. Thánh Thể đang ở trước mặt chúng ta để nhắc nhở chúng ta Thiên Chúa là ai. Việc này không chỉ được thực hiện bằng lời nói, nhưng một cách cụ thể, tỏ cho chúng ta thấy Thiên Chúa như Bánh được bẻ ra, như Tình yêu bị đóng đinh và trao tặng”. Và ngài nhấn mạnh: “Chúng ta có thể thêm vào nhiều nghi lễ, nhưng Chúa luôn ở đó, trong sự đơn sơ của chiếc Bánh để mình được bẻ ra, được phân phát và được ăn. Để cứu chúng ta, Đức Ki-tô đã trở thành tôi tớ; để ban cho chúng ta sự sống, Người đã chấp nhận cái chết”. Và Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu nên để cho mình bị kinh ngạc trước lời loan báo khó chấp nhận đó của Chúa Giê-su, để đi đến bước thứ hai là phân định cùng với Chúa Giê-su.

UserPostedImage

2. Phân định cùng với Chúa Giê-su.

Phản ứng của thánh Phê-rô trước lời loan báo của Chúa chính là phản ứng của con người: ngay khi thập giá, viễn cảnh đau khổ, xuất hiện, chúng ta nổi loạn”. Đức Thánh Cha lưu ý: “Ngày nay, như trong quá khứ, thập giá không phải là thứ thời trang hoặc hấp dẫn. Tuy nhiên, nó chữa lành chúng ta từ nội tâm”. Ngài giải thích: “Đứng trước Chúa bị đóng đinh, chúng ta trải qua một cuộc đấu tranh nội tâm hữu ích, một cuộc xung đột gay gắt giữa ‘suy nghĩ theo cách của Chúa’ và ‘suy nghĩ như con người'. Một mặt, chúng ta có cách suy nghĩ của Thiên Chúa, đó là cách lý luận của tình yêu thương khiêm nhường. Cách suy nghĩ của Thiên Chúa tránh xa sự áp đặt, phô trương và hiếu thắng, và luôn nhắm đến điều tốt đẹp của người khác, thậm chí đến mức hy sinh bản thân. Mặt khác, chúng ta có cách nghĩ của con người: đây là sự khôn ngoan của thế gian, gắn liền với danh dự và đặc quyền, hướng đến uy tín và thành công”.

Theo Đức Thánh Cha, với lối suy nghĩ của con người, cả chúng ta cũng có thể đã kéo Chúa “sang một bên”, đẩy Người vào một góc trong trái tim mình và tiếp tục đi theo cách riêng của mình và không để mình được hướng dẫn bởi cách suy nghĩ của Chúa Giê-su. Nhưng “Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta trong cuộc đấu tranh nội tâm này” bởi vì Chúa muốn chúng ta chọn Người. Đức Thánh Cha lưu ý rằng khác biệt ở đây là giữa Thiên Chúa thật sự và vị thần của “cái tôi” của chúng ta. Ngài giải thích: “Thiên Chúa, Đấng âm thầm ngự trị trên thập giá, thật khác xa với vị thần giả mà chúng ta muốn trị vì bằng quyền lực để khiến kẻ thù của chúng ta câm lặng!... Chúa Giê-su thức tỉnh chúng ta; Người không hài lòng với những tuyên bố về đức tin, nhưng yêu cầu chúng ta thanh tẩy đời sống tôn giáo của mình trước thập giá của Người, trước Bí tích Thánh Thể”.

Từ đó Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu “dành thời gian chầu Thánh Thể để chiêm ngưỡng sự yếu đuối của Thiên Chúa. Chúng ta hãy để cho Chúa Giê-su Bánh Hằng Sống chữa lành sự khép kín của chúng ta và mở lòng ra để chia sẻ; xin Người chữa chúng ta khỏi sự cứng nhắc và sự quy kỷ của chúng ta; … và soi sáng cho chúng ta đi theo Người đến bất cứ nơi nào Người muốn dẫn đưa chúng ta đi”.

UserPostedImage

3. Đi theo Chúa Giêsu.

Chúa Giê-su nghiêm khắc yêu cầu thánh Phê-rô: “Xatan! Lui lại đàng sau Thầy!” (Mc 8, 33). Và áp dụng cho các tín hữu, Đức Thánh Cha nói: “Hành trình của Ki-tô hữu không phải là một cuộc chạy đua hướng tới thành công; nó bắt đầu bằng cách lùi lại, tìm tự do bằng cách không cần phải là trung tâm của mọi thứ. Thánh Phê-rô nhận ra rằng trung tâm không phải là Chúa Giê-su của mình, mà là Chúa Giê-su thật sự. Thánh nhân sẽ tiếp tục vấp ngã, nhưng từ lần tha thứ này đến lần tha thứ khác, ngài sẽ nhận thấy khuôn mặt của Thiên Chúa rõ ràng hơn. Và từ sự ngưỡng mộ trống rỗng đối với Chúa, thánh nhân sẽ noi gương Chúa cách cụ thể”.

Do đó, “lùi lại sau Chúa Giê-su có nghĩa là tiến bước trong cuộc sống với sự tin tưởng vững chắc của chính Chúa Giê-su, biết rằng chúng ta là con yêu dấu của Thiên Chúa. Đó là theo bước Thầy, Đấng đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ (x. Mc 10, 45). Đó là đi ra mỗi ngày để gặp gỡ các anh chị em của chúng ta. Ở đó Thánh Thể thúc đẩy chúng ta nhận ra rằng chúng ta là một Thân thể, sẵn sàng chia sẻ bản thân mình vì người khác”. Đức Thánh Cha khích lệ các tín hữu “càng ngày càng cởi mở hơn với sự mới mẻ khó chấp nhận của Thiên Chúa chịu đóng đinh và phục sinh, là Bánh được bẻ ra để ban sự sống cho thế giới. Bằng cách này, chính chúng ta sẽ vui tươi và mang lại niềm vui cho người khác”.

UserPostedImage

Vào cuối Thánh lễ Đức tổng giám mục Piero Marini, Chủ tịch Ủy ban Đại hội Thánh Thể Quốc tế, dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, vị Vua đã tổ chức ngày lễ hội long trọng và sai các tôi tớ của Người đi ra các quảng trường, đến các nẻo đường để mời những người rốt cùng đến bàn tiệc của Con của Người. Đức cha cảm ơn Đức Thánh Cha đã muốn cử hành Thánh lễ kết thúc Đại hội lần thứ 52 và lặp lại lời kêu gọi chú trọng đến mầu nhiệm vĩ đại này, nguồn mạch và đỉnh điểm của sự sống và của sứ vụ của Giáo hội. Đức cha mong ước từ Thánh lễ ở trung tâm của châu Âu này phát sinh nguồn nước hằng sống có sức chữa lành các cộng đoàn Ki-tô và toàn thế giới.

UserPostedImage

Thánh lễ kết thúc với kinh Truyền Tin. Trước khi đọc kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha cảm ơn đại gia đình Ki-tô giáo Hungary với các anh chị em thuộc các nghi lễ, các hệ phái Ki-tô. Ngài đặc biệt cảm ơn các giám mục, các linh mục, tất cả các tu sĩ nam nữ, và tất cả anh chị em, và nhất là những người đã tích cực làm việc cho Đại hội Thánh Thể và cho việc cử hành Thánh lễ hôm nay. Ngài cảm ơn sự hiện diện của Đức Thượng phụ Bartolomeo của Chính Thống Constantinople.

UserPostedImage

Đức Thánh Cha đã nói cảm ơn bằng tiếng Hungary để cảm ơn chính quyền dân sự và tôn giáo và nhân dân Hungary. Nhắc lại lời bài hát của Đại hội, “Qua ngàn năm, Thánh giá là cây cột của ơn cứu độ của anh chị em”, Đức Thánh Cha cầu xin Thánh giá là cầu nối của họ giữa quá khứ và tương lai. Ngài nói: “Thánh giá thúc giục chúng ta giữ cho nguồn cội của mình vững chắc, nhưng không co cụm phòng thủ; kín múc từ các nguồn mạch, cởi mở với những người đang khao khát các ân sủng trong thời đại của chúng ta”. Ngài mong ước “Thánh giá Truyền giáo”, biểu tượng của Đại hội đưa họ đến việc công bố Tin Mừng giải thoát của tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho mỗi người, bằng chính cuộc sống.

Sau khi nhắc đến hai vị chân phước được tuyên phong hôm nay tại Ba Lan, Đức Hồng y Wyszyński và nữ tu Elizabeth, những người đã làm chứng cho Tin Mừng, Đức Thánh Cha cầu xin Mẹ Maria, được người dân Hungary tôn kính với danh hiệu “Nữ vương Hồng phúc”, đồng hành và chúc lành cho người dân Hungary! Và ngài gửi lời chúc lành đến mọi người, đặc biệt là các thiếu nhi và người trẻ, người cao niên và các bệnh nhân, những người nghèo và người bị loại bỏ. Ngài kết thúc: “Cùng với anh chị em và vì anh chị em tôi nói: Isten, álddmeg a magyart! Xin Thiên Chúa chúc lành cho người Hungary”.

UserPostedImage

Hồng Thủy
(Vatican News 12.09.2021)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#14945 Posted : Monday, September 13, 2021 1:10:16 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
DIỄN VĂN của ĐTC Phanxicô trước các Giám mục Hungary


9/13/2021 9:27:09 AM

Sau khi gặp tổng thống và thủ tướng Hungary, vào lúc 09,15’, cũng tại Bảo tàng Nghệ thuật Budapest, Đức Thánh Cha gặp gỡ các Giám mục Hungary.

UserPostedImage

Diễn văn của Đức Thánh Cha

Anh em thân mến!

Tôi rất vui khi có mặt ở đây giữa anh em trong ngày bế mạc Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 52. Xin cám ơn Đức cha András Veres vì sự chào đón mà ngài đã dành cho tôi. Xin chào tất cả anh em, cám ơn anh em đã chào đón và quảng bá sự kiện này, nó nhắc nhở chúng ta về vị trí trung tâm của Bí tích Thánh Thể trong đời sống của Giáo hội.

Tôi muốn chia sẻ vài suy nghĩ cụ thể bắt đầu từ cử chỉ Thánh Thể: trong Bánh và Rượu, chúng ta thấy Chúa Kitô đang hiến Mình và Máu Người cho chúng ta. Với lịch sử lâu đời, Giáo hội Hungary được đánh dấu bằng đức tin không hề lay chuyển, những cuộc bách hại và máu của các vị tử đạo, gắn liền cách đặc biệt với hy tế của Chúa Kitô. Nhiều anh chị em, nhiều giám mục và linh mục đã sống những gì họ cử hành trên bàn thờ: họ bị nghiền nát như hạt lúa mì, để mọi người được tình yêu của Thiên Chúa làm no thỏa; họ bị ép như trái nho, để máu của Chúa Kitô có thể trở thành nguồn mạch của sự sống mới; họ bị bẻ ra, nhưng hy sinh yêu thương của họ là một hạt giống Tin Mừng tái sinh được gieo vào lịch sử của dân tộc này.

Nhìn lại quá khứ lịch sử được tạo nên từ máu của các vị tử đạo, chúng ta có thể hướng về tương lai với cùng ước nguyện như các vị tử đạo: sống bác ái và làm chứng cho Tin Mừng. Nhưng trong đời sống Giáo Hội chúng ta luôn phải giữ hai thực tại này không tách rời: gìn giữ quá khứ và hướng tới tương lai. Tuy nhiên, khi gìn giữ cội nguồn tôn giáo của chúng ta và lịch sử từ đó chúng ta đến, chúng ta không nên quá tập trung vào quá khứ, nhưng cần hướng về phía trước và tìm ra những cách thức mới để loan báo Tin Mừng.

Tôi luôn nhớ trong lòng những ký ức sống động về các Nữ tu Hungary của Dòng Chúa Giêsu (Englische Fräulein). Vì bách hại tôn giáo, các nữ tu đã phải rời bỏ quê hương. Với tính cách can đảm và lòng trung thành với ơn gọi, các chị đã thành lập trường “Maria Ward” ở thành phố Plátanos (Buenos Aires). Từ sức mạnh, lòng dũng cảm, sự kiên nhẫn và tình yêu quê hương của họ, tôi đã học được rất nhiều điều; đối với tôi họ là một chứng tá. Hôm nay nhớ đến họ, tôi cũng bày tỏ lòng kính trọng đối với nhiều người đã phải lưu vong và tất cả những ai đã hy sinh mạng sống cho quê hương và cho đức tin.

Là mục tử, ngay từ đầu, anh em được kêu gọi để nhắc nhở mọi người rằng truyền thống Kitô giáo, như Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI đã khẳng định- “không phải là một bộ sưu tập các thứ hay từ ngữ, giống như một cái hộp đựng đồ chết; Truyền thống là dòng sông của sự sống mới đến từ cội nguồn, từ Đức Kitô đến chúng ta, và liên hệ đến chúng ta trong lịch sử của Thiên Chúa với nhân loại” (Tiếp kiến chung, 3/5/2006). Anh em đã chọn chủ đề của Đại hội một câu từ Thánh vịnh 88: “Mọi nguồn mạch của con ở nơi Người”. Giáo hội đến từ suối nguồn là Chúa Kitô, và được sai đi loan báo Tin Mừng, như một dòng nước sự sống, rộng lớn, vô hạn và chào đón hơn dòng sông Danube vĩ đại của anh em, có thể chạm tới sự khô cằn của thế giới và con tim con người, thanh luyện và làm dịu mọi cơn khát. Thừa tác vụ Giám mục không phải để lặp lại tin tức của những ngày xa xưa, nhưng là một tiếng nói ngôn sứ loan báo tính thời sự lâu dài của Tin Mừng trong đời sống dân thánh Chúa và trong thế giới ngày nay.

Tôi muốn đề xuất một vài gợi ý để thực hiện sứ vụ này.

Đầu tiên: trở thành những người loan báo Tin Mừng. Chúng ta không được quên rằng cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô là trung tâm của đời sống Giáo hội. Đôi khi, đặc biệt khi xã hội xung quanh chúng ta dường như không nhiệt tình với đề xuất Kitô của chúng ta, chúng ta có thể bị cám dỗ rút lui để bảo vệ các thể chế và cơ cấu. Ngày nay, đất nước của anh em đang trải qua những thay đổi lớn ảnh hưởng đến toàn bộ châu Âu. Sau thời gian dài việc tuyên xưng đức tin bị ngăn cản, với sự tiến bộ của tự do, có những thách đố mới phải đối diện, trong một bối cảnh chủ nghĩa thế tục và sự khao khát Thiên Chúa bị suy giảm. Nhưng chúng ta hãy nhớ rằng: Chúa Kitô là suối nước luôn chảy làm dịu mọi cơn khát. Các cơ cấu, thể chế và sự hiện diện của Giáo hội trong xã hội nhằm đánh thức trong con người lòng khao khát Thiên Chúa và ban cho họ nguồn nước hằng sống của Tin Mừng. Vì vậy, là Giám mục, anh em không được kêu gọi để trở thành những những vị quản lý quan liêu các cơ cấu, không tìm kiếm những đặc ân và lợi ích, nhưng để thể hiện một niềm say mê nhiệt thành vì Tin Mừng. Hãy là những nhân chứng và những người rao giảng Tin Mừng, niềm vui, gần gũi với các linh mục và tu sĩ với trái tim của người cha, luôn sẵn sàng lắng nghe. Không sợ dành không gian cho Lời Chúa và cho giáo dân: chúng sẽ là những con kênh mà qua đó Hungary sẽ một lần nữa được tưới mát bởi dòng sông đức tin.

Chỉ dẫn thứ hai: hãy là nhân chứng của tình huynh đệ. Đất nước của anh em là nơi, từ lâu mọi người thuộc các dân tộc khác đã chung sống với nhau. Nhiều sắc tộc, nhóm thiểu số, tôn giáo và người di cư đã biến đất nước này trở thành một môi trường đa văn hóa. Thực tế mới này, ít nhất là ban đầu, làm mọi người lo ngại. Sự đa dạng luôn làm cho mọi người lo sợ một chút, vì nó gây nguy hiểm cho sự an toàn đã có được. Tuy nhiên, điều đó cũng tạo cơ hội tuyệt vời để mở lòng đón nhận sứ điệp Tin Mừng: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Đứng trước sự đa dạng về văn hóa, sắc tộc, chính trị và tôn giáo, chúng ta có thể có hai thái độ: rút lui bảo vệ cứng nhắc căn tính của mình, hoặc mở lòng để gặp gỡ những người khác và cùng nhau nuôi dưỡng ước mơ về một xã hội huynh đệ. Ở điểm này, tôi thích nhắc lại rằng vào năm 2017, tại thủ đô châu Âu này, anh em đã gặp gỡ với đại diện của các Hội đồng Giám mục khác của Trung và Đông Âu để một lần nữa tái xác nhận việc thuộc về bản sắc của mình không bao giờ trở thành lý do của sự thù ghét và coi thường người khác, trái lại là một trợ giúp để đối thoại với các nền văn hóa khác nhau.

Phía trên con sông lớn đi qua thành phố này là cây cầu Chain hoành tráng, thay thế một cây cầu gỗ mỏng manh và phục vụ cho việc nối kết Buda và Pest. Nếu chúng ta muốn dòng sông Tin Mừng đến với cuộc sống của con người, bằng cách tạo ra một xã hội huynh đệ và liên đới hơn ở Hungary, thì chúng ta cần Giáo hội xây dựng những cây cầu đối thoại mới. Tôi xin các Giám mục, cùng với các linh mục và các cộng tác viên mục vụ, hãy luôn thể hiện khuôn mặt đích thật của Giáo hội: chào đón tất cả mọi người, kể cả những người đến từ nơi khác, một khuôn mặt huynh đệ, cởi mở và đối thoại. Hãy là những Mục tử có trong tâm hồn tình huynh đệ. Không phải là những ông chủ, nhưng là những người cha và anh em. Phong cách huynh đệ, mà tôi xin anh em trau dồi với các linh mục và với toàn thể dân Chúa, trở thành một dấu hiệu sáng chói cho Hungary. Như vậy, một Giáo hội sẽ hình thành, trong đó đặc biệt là giáo dân, trong mọi khía cạnh của cuộc sống hàng ngày, gia đình, xã hội và nghề nghiệp của họ, trở thành men của tình huynh đệ Tin Mừng. Cầu mong Giáo hội Hungary là người xây dựng những cây cầu và là người ủng hộ đối thoại!

Cuối cùng, hãy là những người xây dựng hy vọng. Nếu chúng ta đặt Tin Mừng vào trung tâm và làm chứng bằng tình yêu thương huynh đệ, chúng ta sẽ có thể nhìn về tương lai với hy vọng, ngay cả khi ngày hôm nay chúng ta đang trải qua những cơn bão lớn nhỏ. Điều Giáo hội được kêu gọi lan tỏa trong cuộc sống của mọi người đó là sự chắc chắn rằng Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, luôn yêu thương chúng ta trong mọi khoảnh khắc cuộc đời và luôn sẵn sàng tha thứ và nâng chúng ta trỗi dậy. Cám dỗ làm nản lòng, đổ vỡ không bao giờ đến từ Thiên Chúa; nó đến từ kẻ thù, trong nhiều tình huống: đằng sau bề ngoài của sự sung túc, hoặc dưới lớp áo của các truyền thống tôn giáo, nhiều mặt tối có thể được che giấu. Giáo hội ở Hungary gần đây đã có cơ hội suy tư về cách thức chuyển đổi từ kỷ nguyên độc tài sang thời kỳ tự do là một quá trình chuyển đổi được đánh dấu bằng những mâu thuẫn: sự suy giảm đạo đức và gia tăng tội phạm có tổ chức, buôn bán ma tuý và thậm chí buôn bán nội tạng. Có những vấn đề xã hội: những khó khăn của gia đình, nghèo đói, những tổn thương ảnh hưởng đến thế giới người trẻ, trong một bối cảnh mà nền dân chủ vẫn còn cần được củng cố. Giáo hội phải gần gũi, quan tâm và an ủi mọi người, để họ không bao giờ mất ánh sáng hy vọng. Việc rao giảng Tin Mừng làm sống lại niềm hy vọng vì nó nhắc nhở chúng ta rằng trong mọi sự chúng ta sống, Thiên Chúa hiện diện; Người đồng hành với chúng ta và cho chúng ta sự can đảm và sự sáng tạo mà chúng tôi cần để bắt đầu lại một lịch sử mới. Thật xúc động khi nghĩ đến Đức Hồng y Đáng kính József Mindszenty, một người con và người cha của Giáo hội và của vùng đất này, người vào cuối cuộc đời đầy đau khổ do bị bách hại đã để lại cho chúng ta những lời hy vọng: “Thiên Chúa trẻ trung. Tương lai là của Người. Người khơi gợi những điều mới mẻ, trẻ trung nơi các cá nhân và các dân tộc. Vì vậy, chúng ta không thể để cho mình bị tuyệt vọng ”(Thông điệp gửi Chủ tịch Ủy ban tổ chức và những người Hungary lưu vong, trong J. Közi Horváth, Mindszenty bíboros, 111).

Đứng trước những khủng hoảng, xã hội hay Giáo hội, anh em luôn là những người xây dựng hy vọng. Là các Giám mục của đất nước, hãy luôn có những lời khích lệ. Mong anh em đừng bao giờ nói theo những cách làm gia tăng khoảng cách hoặc áp đặt những phán xét, nhưng theo những cách giúp Dân Chúa nhìn về tương lai với sự tin tưởng, giúp mọi người sống cuộc sống tự do và có trách nhiệm, đó là một món quà của ân sủng để được chào đón, không phải là một điều hóc búa để giải quyết. Khối lập phương do kiến ​​trúc sư Rubik nổi tiếng của anh em phát minh ra vẫn là một trò chơi tuyệt vời, không phải là một mô hình cho cách sống của chúng ta!

Anh em thân mến, Hungary cũng cần một sự rao giảng Tin Mừng mới, một tình huynh đệ xã hội và tôn giáo mới, một niềm hy vọng được xây dựng hàng ngày để nhìn về tương lai với niềm vui. Là những Mục tử, anh em là những người nắm giữ vai chính của tiến trình lịch sử này, cuộc phiêu lưu tuyệt vời này. Xin Chúa củng cố anh em trong niềm vui của sứ vụ! Tôi cảm ơn anh em vì tất cả những gì anh em đang làm và tôi chúc lành cho anh em. Xin Đức Mẹ bảo vệ anh em và Thánh Giuse gìn giữ anh em. Xin cám ơn.

(Vatican News 12.09.2021)


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#14946 Posted : Monday, September 13, 2021 10:55:44 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Ông ADAM Và TÔI


NGÂN HÀ

September 13, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Trời nhớ ai mà nước mắt ngắn dài làm lụt lội cả mấy con phố vẫn chưa hết sụt sùi. Mặt trời buồn với ai mà bỏ đi biệt, chỉ thấy gió và gió, lồng lộn như con ngựa bất kham chui luồn qua lòng những con phố hẹp ngơ ngác như chưa từng biết đến mặt trời đã từng xuất hiện trước đây cùng với lũ chim bơ vơ vì thiếu ánh dương. À thế ra thời tiết đã vào tháng Chạp rồi nhỉ, thế mà em không nhắc anh, như vẫn thường nhắc trong những giấc mơ một ngày mới quen nhau khi giàn Montana đang đơm hoa báo trước nàng xuân đang rón rén gõ cửa nhà em , mọi người có vẻ nô nức như đang chuẩn bị cho một mùa lễ lớn, giờ này những con chiên ngoan đạo đang là tới nhà thờ vì là buổi trưa ngày Chúa nhật. Tiếng chuông trên tháp nhà thờ chính tòa vừa vang lên trong bầu khí nhột nhạt ảm đạm và ngậm đầy hơi nước, cây thánh gía trên nóc đỉnh lầu chuông chìm trong màn sương lúc tỏ lúc mờ như phép mầu của đấng tối cao đã một lần hy sinh nằm chết treo trên đó.Tôi bước ra khỏi thánh đường sau giờ lễ sớm dành cho người lớn, ngón tay nhúng vào bồn nước thánh lạnh buốt như vừa đụng vào trái tim ai đó vừa bị người yêu ruồng bỏ, hững hờ chỉ còn thoi thóp, ra tới hè phố tôi chọn con đường vắng nhất đi xuôi theo chiều gió chiếc áo mưa bay nghe phần phật như một cánh buồm có cảm giác đang lướt tôi đi theo mà không cần phải nhắc chân lên cũng có thể đưa tôi đến điểm hẹn là quán café Roméo et Juliette tại góc đường Robson và Pacific Ave. với một đôi vợ chồng xa lạ, không rõ từ đâu đến và vì đâu mà họ biết tôi, ( có lẽ tôi đã gặp họ tại Emergency Department trước đây chăng ) lời mời trong điện thoại nghe thật ấm cúng và lịch sự như đã từng biết nhau, tôi không muốn từ chối họ vì bản tính của tôi trời phú như vậy cũng một phần lương tâm chức nghiệp cần phải vồn vã và hết lòng với mọi người cần đến tôi, không phải do tính hiếu kỳ hoặc tò mò như các bà các cô thường làm, người ta từng cặp đi lại thưa thớt gói kín gọn gàng trong những chiếc áo mưa màu sậm, ánh đèn vàng hắt ra ngoài từ những hàng quán hai bên đường nghe ấm áp như mời mọc những hàng cây trụi lá hai bên đường dửng dưng chẳng thèm nhìn tôi, hàng cột đèn cũng vậy rất kém vui gục đầu tránh những cơn gió bất lịch sự chẳng coi ai ra thể thống gì.

Mở cửa bước vào, quán ấm quá thảo nào đầy những người là người, nhìn lướt qua một vòng, hầu hết toàn là dân Executive thường tới đây ngồi đồng sau giờ làm việc hoặc để hẹn hò, mùi café thơm phức lẫn với mùi bánh nướng từ phía trong quầy hàng vương vãi ra tận ngoài đưỡng làm cho cơn đói bị đánh thức như bọn du kích Arab xông lên tấn công tôi, nó đang bò lan ra cả ngoài da tay làm ngứa ngáy không chịu được. Ai đó nhỉ mà lại kiếm đúng cái giờ này mà mời thì cứ là tốn khối tiền chứ chẳng chơi. Phiá cuối phòng thấy hai ông bà tay chống cằm như đang đợi chờ ai, tôi tiến về phía đó, hai người không nhận ra mặc dù tôi đã đến rất gần:

-Ông bà tới lâu chưa ? Xin lỗi, tôi hơi trễ

-Ông đâu có trễ, còn sớm mà, phải ông từ thánh đường tới đây ? Ông bà ném qua tôi cái nhìn rất thân mật làm ngạc nhiên sao ông đoán ra điều này làm như ông bà nhận ra tôi ở trong nhà thờ.

-Chúng tôi cũng vừa mới tới thôi, ngồi đi, đã gọi café lẫn cả bánh mặn ăn sáng cho ông rồi. Lại thêm lần nữa làm tôi ngạc nhiên về thái độ nồng ấm của họ vừa chuyển qua tôi một lò than hồng mà tôi đang cần sưởi ấm trong mùa đông này, họa may ông bà là hai người duy nhất còn sót lại trên hành tinh. Đã từ lâu tôi phải chen chúc qua những dòng đời chật hẹp những con tim càng ngày càng nhỏ lại không còn chỗ dành cho những nụ cười hoặc ánh mắt ngây dại trẻ thơ. Tôi đón lấy cái khay do cô gái hầu bàn mang đến, cô ta đi đứng như một điệu nhẩy làm cái đuôi ngựa vàng óng cũng lắc đồng điệu theo bước chân, nàng đeo cái apron trắng cài đầy hoa đỏ ném cái nhìn đầy dấu hỏi lên ba người chúng tôi có lẽ do bởi cái order mà bà đã đặt, không riêng gì cô ta cả tôi nữa vì những món bà order đủ cho năm người, trong lúc bà nhỏ thó như một người mẫu. Tôi đặt hai ly café giống nhau trước mặt hai người còn ly kia khác kiểu tôi hiểu là ông bà có ý dành cho tôi, trong lúc ông cẩn thận gắp một viên đường hình khối vuông bỏ vào ly cho bà và dùng thìa quậy lên, viên đường tráng muốt ngọt ngào như người vợ kề bên và bà cũng làm như vậy cho ông, trong lúc ông bắt đầu gợi chuyện với tôi, hỏi về công việc hằng ngày của tôi trong bịnh viện. Người đàn ông này biết nhiều về tôi hơn là tôi nghĩ, còn tôi mù tịt về họ, não bộ tôi như suơng khói, tôi cố đào bới những hình ảnh chất chồng trong đống kho liệu để tìm ra một bóng hình tương tự để gán cho họ rằng tôi đã có lần hân hạnh va vào họ ở đâu đó trên mặt hành tinh, dẫu sao tôi cũng cảm thấy cái gì đó ngồ ngộ nhưng bình an hơn là ngồi chung với những người khác, cả ba chúng tôi cùng mời nhau và hân hạnh được gặp nhau trong một bối cảnh ấm áp và tình nghĩa. Hai người đàn ông chúng tôi ngồi gần nhau hơn, áo sơ mi cũng như áo choàng ngoài dành cho lớp xã hội trưởng giả thuộc tây Âu, ông cao lớn có làn da bánh mật, tóc mầu xám tro quăn tự nhiên rất hợp với khuôn mặt sáng sủa đức độ và đàng hoàng, môi dầy vừa phải lúc nào cũng như sẵn sàng biếu không những nụ cười, đôi bàn tay to với những ngón tay nặng và thô thiển, móng tay bị mẻ sứt nhiều chỗ như suốt đời làm lụng công việc nặng nhọc, nhưng toàn thân lại toát ra một phong độ rất thanh nhã và lịch thiệp làm tôi bị thu hút như nam châm và cảm mến như chưa từng gặp được ai trong đời như vậy, ông vừa chiêu một ngụm café nóng vừa săn sóc cho bà từng miếng ăn đặt vào dĩa thật là chu đáo, mỗi lần được chồng săn sóc bà không quên cám ơn, bà da trắng hơn gầy và cao ráo mềm mại như thiên nga gương mặt tươi vui như chưa từng nếm trải những vất vả khổ đau, nếu vào tuổi mới cưới nhau thì nhan sắc của bà phải đáng gọi là tác phẩm mỹ miều của tạo hoá, bà ăn vận toàn đồ mùa thu đủ nhẹ nhàng nhưng cũng đủ ấm áp dù đã ngoài sáu mươi nhưng những nét đẹp giai nhân ngày xưa vẫn còn tồn tại nơi ánh mắt trong sáng và sâu thăm thẳm chôn dấu không biết bao nhiêu là gian nan thống khổ và bể dâu nhưng cũng không thiếu những thành công yêu đương đắm đuối trong đời, ít nói nhưng không tiếc để rơi những nụ cười trên làn môi mầu phượng xinh như mộng, thơm ngọt như đường thốt nốt. Đó là đôi môi thỏa mãn những nụ hôn. Cả hai đều làm cho người đối diện một nhận xét tươi đẹp về họ mang trong người hai trái tim tha thiết với đời hài hoà trong cuộc sống dù sóng gió hay nổi trôi trong lòng thuyền của đời họ vẫn chật chội những tiếng cười.

Bà nhấp ngụm café nóng rồi quay qua ông cười vẻ bí mật:

“ Hình anh trong ly café chiều nay trẻ đẹp như hồi anh ở thế kỷ thứ 18, anh còn nhớ chứ ?”

Ông cũng hóm hỉnh không kém trêu lại bà:

“ Còn em hiện ra nguyên hình nữ hoàng Elizabeth I sống cùng thời với em thế kỷ thứ 15, khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” . Rồi nhìn bà cười tủm tỉm. Không khí trong bàn hạo hực như đôi vợ chồng đang trong thời kỳ hồi xuân.

Bà ngồi sát bên tường treo toàn tranh của Vincent Van Gogh, hai chúng tôi bên này đối diện với bức tranh mang tên The Beginning. thấy ông cũng chăm chú vào bức tranh, tôi lên tiếng:

“ Bức tranh tuyệt đẹp phải không ông, nhưng nội dung của nó tại sao lại là beginning mà không là một cái gì khác ?”

Ông nhìn vào tôi với đôi mắt nâu sáng đầy nghị lực nó đủ để xẻ phiến đá ra làm hai hoặc chẻ cọng tóc ra làm tư mà không cần đến máy móc, vì có lẽ trong đời chỉ có người hiếm hoi như ông mới biết tận dụng sức mạnh có sẵn trong thiên nhiên như sức gió, sức nóng của mặt trời sức mạnh của trùng khơi để tạo ra nội lực cho chính mình, giống như than đá đã tạo ra nội lực kéo được chiếc xe lửa nặng hằng triệu tấn đi theo nó, như dò xét như đã đọc được điều gì trong mắt tôi:

“ Tôi hiểu thâm ý câu hỏi của ông, ông có thể gọi tên nó là The Ending, không có gì sai cả, tôi đồng ý, nhưng cuối của mỗi ending chẳng phải là để bắt đầu cho một new beginning sao ông, giống như bánh xe quay tròn để dẫn ông vào tương lai, chúng ta cả ông và tôi đều nhận ra vòng quay nào cũng đều là beginning và đó là mục đích của người tạo ra nó là như vậy”.

“ Vâng, ông có lý, vậy ông có đồng ý với tác giả về ý nghĩa của bức tranh này không và tại sao ?”

Lại một lần nữa ông nhìn tôi, lần này ông ngó tôi lâu hơn:

“ Câu hỏi này dẫn ông và tôi quay về cái thời xa xưa đó, ông cần phải đặt mình vào cái thì hoang sơ đó mới hiểu được. Đó là lúc bắt đầu cho một new beginning, khi hai nhân vật đầu tiên hiện diện trong vũ trụ này bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng vì tội bất phục tùng, nét mặt họ không buồn rầu như ông thấy đó, chỉ duy có phảng phất trong ánh mắt đôi nét ngỡ ngàng mà thôi, nhưng ngược lại hai người ra đi dáng điệu rất khoan thai tay trong tay nhìn nhau âu yếm ra khỏi vườn điạ đàng họ không ngoái lại tỏ ý luyến tiếc. Chính người đàn ông biết người vợ mình trốn ra chỗ cây Yavê đã cấm và chiều theo cơn cám dỗ, khi chàng tới nơi thì nàng đã hái ăn rồi. Một sự dằng co, một trận chiến hung hãn bắt đầu đặt ra cho người chồng khiến ông tiến thoái lưỡng nan vì ông muốn trung thành với Yavê Thiên Chúa như lời Người đã dạy, ngày nào ngươi đụng tới nó ngươi sẽ phải chết. Lời Ngài đã trở nên luật thành văn. Đàng khác ông lại rất yêu vợ, vì sau nhiều trăm năm sống co ro một mình, ông thất bại đi tìm cho mình một đối tác tương xứng, khi Yavê Thiên Chúa hiểu lòng ông, thấy ông ngày đêm rầu rã kém vui nên đã mượn tạm cái xương sườn của ông và Ngài đã đắp thịt vào dẫn nàng đến cho ông for free ! Mắt ông rạng ngời, tim ông nhẩy nhót lỗi nhịp. Một niềm vui. Lần đầu tiên ông biết thế nào là niềm vui, từ đó hai người yêu nhau như đôi bồ câu và ông đặt tên cho nàng là Eve – con bồ câu nhỏ bé của anh- Ông dành cho vợ những phần ăn ngon nhất không bao giờ để cho vợ phải vất vả chiều chuộng khi ngủ cho nàng gối đầu tay, hằng ngày ông tạo cho vợ nhiều niềm vui. Lần kia, bà nhìn lên mặt trăng hình bán nguyệt thấy mặt trăng rầu rĩ, bà hỏi chồng: “ Anh à, đêm nay sao mặt trăng lại kém vui anh nhỉ”. Thấy thế, ông trả lời: “ Mặt trăng vui sao được khi nó thiếu mất nửa kia, người ta cũng vậy chỉ vui khi có đôi, như trước đây anh chưa có em và nếu sau này không còn em vì bất cứ lý do gì, nhìn anh cũng buồn như ánh trăng đêm nay, và đó là mầu nhiệm của riết lý: Hai-Đã -Trở -Nên Một”.

Ngừng một lát, sau ngụm café ông tiếp:

“ Chính vì người chồng yêu quý triết lý bất khả phân ly của Yavê một khi hai người đã trở nên một thân xác và được Yavê chúc lành, bài toán cộng trừ của Yavê như ngọn đèn vừa được thắp sáng trưng lên trong não bộ của người chồng 1-1=0, cả hai mảnh đời đang bên nhau sẽ trở nên vô nghĩa khi cả hai một đi một ở lại, họ trở thành số không, chi bằng ông chọn bài toán cộng 1+1= 1. (cả hai vẫn trở nên một như thiên ý của Ngài đã tác hợp vợ chồng để họ bên nhau tạo hạnh phúc cho nhau ) nên ông quyết định ăn trái cây ấy sau hàng trăm năm đắn đo để dẫn đến đáp số sau cùng mà bà vợ trao cho ông để được gánh chịu cùng một hậu quả chung với vợ, chung một kiếp lưu đày, giả sử như đó là hình phạt dành cho kẻ bất trung. Nhưng tôi muốn làm sáng tỏ với ông một điểm, khác với đàn bà thời nay, ngày đó người đàn bà chỉ sa ngã sau nhiều cơn cám dỗ, còn bây giờ ma quỷ chưa kịp cám dỗ, người đàn bà đã sa ngã rồi”.

Ông vẫn không rời ánh mắt trên tôi và đọc được vài áng mây không hẳn là mây trắng lang thang nhưng là một áng mây vẩn đục, nhưng ông không nói gì. Trong lúc đó đôi mắt bà long lanh rộn rã như sao trời hài lòng với chồng( tôi đoán như vậy). Bên ngoài mưa vẫn rơi tầm tã, những hạt mưa ném vung vãi lên cửa sổ như nghững giọt nước mắt của người thiếu phụ trong cơn hờn dỗi. Tiếng bánh xe ướt nhẹp hối hả bỏ lại phía sau những luồng khói đen mệt mỏi như muốn chạy trốn cơn mưa. Thảng ba đang tìm về. Từ chỗ tôi ngồi nhìn qua khung cửa sổ hẹp ngã tư đèn vàng luân phiên chớp tắt, như dòng đời luôn vội vã, người ta chia tay nhau ở ngã tư đường, trao nhau những nụ hôn ướt át vội vàng dưới mưa, dù ngồi trong này, tôi cũng cảm thấy tâm hồn tôi không được khô ráo, tiệm café mỗi lúc một đông hơn, mỗi người là một ốc đảo, những giọt café đen sánh mang lại cho họ những dòng tâm sự khác nhau, họ lấy vị đắng trong ly để làm dịu bớt vị đắng trong lòng. Ánh mắt tôi đang quét nhanh trên một bức tranh khác có tên là: E minor, tôi không giỏi về âm nhạc, nhưng cũng biết nhận ra một bài ca viết dưới E minor chord thường diễn tả tâm sự buồn. Tác giả đã đặt hai nhân vật trong một khung trời mùa thu toàn thể là mầu vàng úa của lá của cây thậm chí vầng trăng thượng tuấn và mây trời cũng vàng úa như lá vàng nâu héo hắt dưới chân nàng đủ che đi một vạt áo, nhưng tôi tự hỏi bao nhiêu lá thu đủ để che lấp được nỗi buồn trên gương mặt nàng. Bỗng ông cắt ngang dòng tư tưởng của tôi:

“Ông thấy người đàn bà trong tranh đang đàn một khúc nhạc buồn vì khuôn mặt nàng đang thú nhận điều ấy, trong lúc ông chồng trong lòng đầy tư lự chìm đắm trên những ngón tay ngà của vợ đang thả hồn vào cây đàn Harp, họ chính là Adam và Eve ngồi dưới vành trăng thượng tuần, trong một chiều thu lá vàng u uất rơi xung quanh họ. Với nàng, thân đàn chính là người chồng, còn nàng là những sợi dây tơ, sợi dây tơ chỉ làm nên cung bậc khi chúng được căng ra trên cơ thể của người kia. Mỗi phiến lá xung quanh nàng mang một tâm sự, lá còn đeo đẳng trên cành cũng chứa một tâm sự riêng, mỗi ngón tay nàng cũng vậy có những ngón muốn khơi lại những kỷ niệm trong mùa thu xa xưa có ngón tay chỉ là để sưởi ấm cho lòng thu bớt điêu tàn. Ông thấy đó khi cung đàn vừa cất lên đã làm cho sắc mầu bỡ ngỡ, thời gian như ngừng trôi khiến những lá thu năm cũ giật mình thức dậy làm xôn xao những kỷ niệm đã bị chôn vùi theo thời gian. Giả như đôi mắt nàng để rơi đôi dòng lệ thì tiếng gọi của mùa thu sẽ thêm thống thiết biết bao. Điều mà Vincent Van Gogh muốn diễn tả trên tác phẩm này là họ đang dệt nỗi buồn trên tấm thảm hạnh phúc của đời mình, đang muốn đồng hoá mình tháp nhập mình vào với nỗi buồn của thiên nhiên nghiã là họ là một phần của thiên nhiên của rừng rú, núi non sông biển, giữa họ và thiên nhiên vũ trụ không có ranh giới”.

Sự hiểu biết và thông thái của ông làm tôi kinh ngạc và đầy kính phục, ông từ đâu tới và gót chân đã lưu dấu ở những nơi đâu trên tinh cầu này sự khôn ngoan hiểu biết của ông là do học hỏi hay thiên bẩm, dòng sông Nile (Nyabarongo ) dài 7088 Km liệu có đủ chỗ để chứa hết kho tàng mà ông đang thủ đắc hay không ?

Sau ngụm café nóng, tôi nhận ra dáng điệu bà nôn nao như muốn góp chuyện với hai người đàn ông chúng tôi. Bà từ nãy giờ đang đợi cho dòng tư tưởng của ông vừa đủ cạn trong lúc bà đang xoáy mắt nhìn qua tác phẩm thứ ba có lẽ đang làm bà say sưa, nó có tên G major. Nếu tác phẩm vừa rồi mang tên E minor gói ghém cả một mùa thu tràn trề trên khung vải và vương vãi trong mắt môi nàng thì bức lớn kia G major hẳn mang một tâm sự khác tác gỉa đặt nó trong một bầu trời có nắng lụa gió mềm bố cục cũng như triết lý ẩn chứa bên trong tôi không dám nói vì tôi không biết nhiều. Mắt tôi dõi theo ngón tay chỉ của bà, đó là một họa phẩm khổ lớn thuộc loại Mural painting được trang trọng treo cao hơn chiếm một chỗ quan trọng nhất mà ai đi ngang qua đều không thể bỏ qua. Cả ông và tôi ngó nhau trao nhau một tín hiệu về cơ hội lên tiếng của bà:

“Hai ông xem ra cùng cường độ đam mê về nghệ thuật. Tuy nhiên bức họa lớn nhất kia lại là kiệt tác của Van Gogh vào cuối đời ông, và chỉ để lại ba tác phẩm về đề tài này mà may mắn nhà hàng này có cả ba, tôi rất tiếc trước khi ra đi, ông đã không kịp hoàn thành giấc mơ trọn vẹn của ông dành cho đề tài này, nên hậu thế không biết thêm gì về đời sống tinh thần cũng như vật chất của Adam và Eve, và nhất là mối tương quan giữa con người với Thượng Đế trước sau vẫn nguyên vẹn, người đời chỉ dựa trên lăng kính hạn hẹp của vài trang Bible đơn sơ trong sách cưụ ước mà ước đoán về thân phận lưu đày của họ qua sự hiểu biết nông cạn làm mất đi cái nhìn trung thực như thế nào là lòng thương xót của Yavê. Đây không phải là một cuộc lưu đày theo nghĩa chua chát tầm thường của chữ nghĩa thế gian mà chính là con người không đủ chữ nghiã để diễn tả lòng thương xót của Ngài đối với hai người trong suốt hàng bao thế kỷ. Nhưng có thể nhà danh họa này đã biết ngày ra đi của mình đã gần nên khi thực hiện tác phẩm sau cùng này ông đã cố gắng gởi gắm tâm sự qua nhiều mầu sắc thay lời và nét cọ khi mềm mại lúc hạo hực để nói với hậu thế càng nhiều. Nội dung tác phẩm không có gì là bề thế khó hiểu cả đó chỉ vỏn vẹn hình bóng một gia đình hạnh phúc ở giữa cảnh thiên nhiên sau mùa gặt, một ngày Thanksgiving với những của lễ hoàn hảo nhất qua sự chúc lành của Yavê làm của lễ toàn thiêu trên cánh đồng khô cạn giữa một thảo nguyên bát ngát hương trời, xa xa là những vườn nho sai trái còn xanh, những đàn súc vật thảnh thơi gặm cỏ, mặt trời cũng như đang ngó xuống chung một niềm vui, cái điểm làm cho tác phẩm trở thành master piece chính là mầu sắc ở mỗi vị trí diễn tả một tâm tình, ánh sáng và bóng tối mà tác giả diễn tả chính là color value exel, che dấu nửa kín nửa hở những dâu bể những băn khoăn, những phong ba bão nổi,những bài học đắt giá nhằm chế ngự thiên nhiên trong đời, trước khi nhìn thấy mặt trời tươi cười buổi sáng và hoàng hôn nhung nhớ ban chiều, nhưng toàn thể tác phẩm bố cục thật chặt chẽ hài hoà một bài hùng ca sau những thử thách gian nan. Hôm nay dẫu cho tuyết sương vẫn ngập tràn mỗi độ đông về, gió vẫn thổi hoa vẫn rơi, trùng khơi vẫn vật vã, gầm gừ như không biết mệt, rừng thiêng vẫn ngậm miệng giữ kín những điều bí hiểm cố hữu của nó, hoả diệm sơn vẫn phun trào những đe dọa ngày đêm, nhưng không vì thế mà họ thiếu hạnh phúc, ngược lại họ xem đó là điều chúc lành của Yavê, vì Ngài đang không ngừng cải thiện bộ mặt của hành tinh trở nên mầu mỡ tốt tươi hơn tạo cho họ sống dồi dào viên mãn hơn. Không có gì đáng gọi là tai ương hoặc thiên tai vì những công việc của Yavê làm nhưng con người hôm nay sống trong ích kỷ và hẹp hòi đã bóp méo khuôn mặt của Ngài đó thôi.”

Hai gò má trên khuôn mặt nữ lưu của bà rạng ngời trong lúc trình bày đã nói thay cho Van Gogh và chắc là từ thế giới vô hình bên kia nhà danh hoạ đã hài lòng phần nào vì một người đàn bà ở thế giới hữu hình đang tiếp tục cái công việc của ông vẽ lên những bức chân dung cùng một đề tài. Chúng tôi như quên mất thời gian đang qua mau. Cơn mưa đã lặng hạt từ hồi nào, trời đã quang vài cánh chim đang rúi rít đi tìm nhau. Café hôm nay quá đậm đà tôi đọc được sự hài lòng của ông bà trên những nụ cười. Nét đẹp nữ lưu làm ông nhớ ra điều gì đáng nói với tôi:

“ Bánh xe thời gian thường khi lăn qua đời người thường để lại những vết bạo hành trên khuôn mặt mỗi người, điều này trớ trêu như một định luật làm tàn phai nhan sắc do những vết chân chim len lén cào lên khuôn mặt làm người ta già đi, đã bao thế hệ đã qua đi có khi nào con người gióng lên câu hỏi: có thật đó là định luật không hay bởi một nhân tố nào khác?

Chúng tôi không nghĩ nó là một định luật của thiên nhiên, người ta không phải là cây cối bén rễ sâu vào lòng đất lớn lên do thời tiết đổi thay bốn mùa chịu áp lực bởi thiên nhiên mưa nắng. Con người sống còn là nhờ một nhân tố khác, trí khôn, sự thông thái biết dùng những sức mạnh của thiên nhiên sẵn có để tạo cho mình một nội lực, cục than đá vứt ra đường chẳng ai thèm lượm vậy mà nó có sức mạnh làm quay chân vịt đẩy chiếc tàu nặng hằng ngàn tấn. Hai luồng điện làm nên tiếng sét đủ chẻ cây cổ thụ ra làm đôi, chiếc gương cầu hình thù thô thiển vậy mà đủ nhiệt lượng đốt cháy thành phố New York ra tro. Sức gió làm căng buồm kéo theo nó chiếc tầu Viking. Ngọn thác đủ sức để làm quay nhiều turbine phát điện hằng triệu kilowatt. Sức nóng của mặt trời là một bằng chứng. Nội lực dù rất nhỏ trong một tạo vật cũng đủ giúp cho nó bung ra sức sống, bông hoa sen tự nó chui ra khỏi lớp bùn hôi tanh trồi lên khỏi mặt nước để sau cùng toả ra mùi hương thơm thơ ngào ngạt giữa những cánh hoa tươi hồng.”

Rồi ông chiêu một ngụm café nóng, chỉ vào bà vợ: “ Nhờ nội lực mà nàng giữ được sức khỏe và nhan sắc rất lâu bền bánh xe vẫn lăn đều theo chiều kim đồng hồ, nhưng không hề lưu lại những vết bạo hành, dường như thời gian trôi rất chậm trong đời sống của nàng và tôi. Nhờ có nội lực chúng tôi quân binh được đời sống nội tâm, luôn vui tươi, không có gì làm tắt được ngọn lửa yêu thương trong lòng nhau, bánh xe có thể lăn qua những miền trù phú no nê, nhưng cũng nhiêu khi lăn vào khu vực mất mùa đói kém, nghịch cảnh hoặc đói rách không phải là hình phạt chỉ là giai đoạn sau cơn giông trời lại sáng bởi tình xót thương của Yavê thì tồn tại đến muôn đời. Nơi đây là lục địa rất trù phú, may mắn cho ông và dân tộc của ông”.

Ông kết luận bằng câu nói xác định ông không thuộc về lục địa này hoặc cũng có nghiã là tất cả hành tinh này đều thuộc về ông làm tôi đi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác, ngày đời của tôi không mấy khác lời ông nói bánh xe của đời tôi thường lăn qua những con đường không mấy phẳng phiu vì phần đông tôi phải luồn lách qua những khung cửa hẹp, hẹp và lồi lõm như lòng người đầy những xu nịnh và dối trá cho tới bữa nay bánh xe dừng lại nơi quán café này được chung bàn với cặp vợ chồng hào sảng với tâm hồn rộng rãi bình yên như lòng sông cái mà dòng chẩy chở chuyên những phù sa đặc quánh những triết lý nhân bản mang lại mầu mỡ cho cõi lòng đã xơ cứng niềm tin nơi cộng đồng nhân loại của mình.

Ánh mắt của hai ông bà vừa chạm nhau sau khi tôi ngỏ những lời cảm ơn, đã để rớt cái message lộ ra ngoài:

“Ông đã làm cho chúng tôi có cảm tình với thành phố này qua lối tiếp khách lạ thân mật và đầy cảm tính, thật là một buổi gặp gỡ hào hứng, đêm nay chúng tôi rời chốn này không rõ bao giờ chúng ta mới gặp lại, tới nơi đâu chúng tôi cũng ghé vào thăm một đại thánh đường và luôn ước ao được gặp gỡ và cùng mâm với một người địa phương giầu tình cảm, chân thành như ông. Ông là vị thầy thuốc tài giỏi và giầu lương tâm chúng tôi sẽ lưu trữ hình ảnh ông và giây phút đáng nhớ này mãi mãi.”

Trời chiều nay đã khô ráo những cơn gió từ phía biển vẫn hắt vô những con phố chênh vênh hong cho hè phố có vẻ mặt khô ráo hơn, tôi tiễn hai ông bà một đoạn đường. Sau lúc chia tay, bà còn tặng thêm tôi nụ cười rất ấm nở trên đôi môi rất son trẻ như cặp môi của một cô gái xuân thì, tôi đứng lặng quên cả gió lạnh nhìn hai người sánh vai tay trong tay bên nhau đi về phía con đường có nhiều hotel làm tôi đồng hoá họ ngay với Adam và Eve trong tác phẩm The Beginning.

Một sự trùng hợp đến lạ lùng, nếu đây không phải là mơ, thì tại sao người được chọn chiều nay lại là tôi tại đúng quán café với những bức danh hoạ Adam và Eve?

Câu trả lời nếu có, chỉ duy một mình tôi biết.

Ông bà tuy không giới thiệu tên với tôi, nhưng tôi đã rõ họ là ai, cho tới khi viết bài này, lòng tôi vẫn còn ngập tràn tư lự về thái độ chọn lựa của người chồng như ông trước nhan Yavê. Trong mắt tôi giờ đây đã ngập tràn mây trắng lang thang hay chưa ?

Vừa bước vào tới trong cửa, cô nhà tôi đã hỏi dồn: “ Anh đi uống café với ai lâu vậy ?”.

Tôi đưa nàng vào một hoàn cảnh khó tin: “Đi với ông Adam”. Nàng chẳng tỏ thái độ gì nghi ngờ dù bên ngoài trời vẫn u ám, nhưng tôi lại thấy ánh mắt của nàng chiều nay nhiều nội lực có lẫn tiếng hót của loài chim corella gọi mùa xuân trở về giữa lòng tháng Chạp

Mắt Buồn  
#14947 Posted : Tuesday, September 14, 2021 1:41:44 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Thế Giới Nhìn Cách Việt Nam Chống Dịch:
“Đói Khổ Là Hình Ảnh Thấy Rõ”


– Tuấn Khanh

September 11, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Năm 2020, Việt Nam là một câu chuyện được bàn tán về việc thành công trong ngăn chận COVID-19, thế nhưng các đợt phong tỏa mới nhất, khiến việc mọi người không thể bước chân ra khỏi nhà, ngay cả khi đi tìm thức ăn, đang khiến hàng chục nghìn người lâm vào cảnh thiếu đói.

Sau những lệnh cấm nghiêm ngặt nhất được áp dụng tại TP. Sài Gòn thì cho đến nay, cô Hảo, một công nhân nhà máy, được chính quyền hứa rằng sẽ giúp cô và gia đình cô phần thực phẩm đủ trong khi phải tiếp tục ở nhà bởi việc phong tỏa. Nhưng trong hai tháng qua, gia đình cô đã thật sự thiếu thốn đủ mọi thứ.

Cô đã bị công ty cho nghỉ việc, không lương hay trợ cấp gì từ tháng Bảy, trong khi chồng cô, một công nhân xây dựng, đã không kiếm được việc làm trong nhiều tháng. Họ đang nợ tiền thuê nhà, cùng với một khoản thanh toán khác sẽ sớm đến hạn. “Tôi đang cố gắng cầm cự càng lâu càng tốt, nhưng không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo,” cô Hảo nói. “Tôi không biết phải nói sao bây giờ? Tôi chỉ muốn hỏi rằng: Sao chính phủ chẳng hỗ trợ gì cả? Chính phủ nói rằng họ sẽ gửi những phần hỗ trợ cho những người như tôi, nhưng tới nay vẫn không có gì cả”, cô nói. “Tất cả mọi người sống xung quanh tôi đang đối mặt với đủ thứ nguy khó”.

Cô Hảo không phải là người duy nhất. Thành phố lớn nhất của Việt Nam đang bị khóa chặt, người dân không được phép ra khỏi nhà ngay cả khi đi tìm kiếm thức ăn. Các hạn chế hiện tại có thể kéo dài đến ngày 15 Tháng Chín, vào giai đoạn có tin các nhà lãnh đạo thành phố đề nghị nối lại hoạt động kinh tế. Ngay cả trước khi có lệnh “ai ở đâu ở yên đó”, vào ngày 23 Tháng Tám, cô Hảo cũng như hàng triệu người khác, đã lâm vào cảnh nợ nần chồng chất. Chính quyền cứ hứa sẽ cung cấp thức ăn cho tất cả mọi người, và đem cả quân đội vào thành phố để giúp cung cấp nguồn thực phẩm cho những người có nhu cầu, nhưng rất đông dân chúng lại không nhận được gì. Tuần trước, báo chí Việt Nam cũng đưa tin hơn 100 người dân ở một huyện trong thành phố đã xuống đường biểu tình vì quá thiếu thốn.

Chính phủ Việt Nam từng được ca ngợi là một câu chuyện thành công toàn cầu trong việc giải quyết đại dịch vào năm 2020. Vào lúc các quốc gia trên thế giới thương khóc những người chết vì đại dịch, và áp đặt các lệnh cấm vận trên toàn quốc, thì có vẻ như chính phủ Việt Nam đã ngăn chặn virus bằng cách dựa vào các biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt, truy vết những người nhiễm bệnh và cô lập các địa phương.

Tính đến đầu tháng Năm năm nay, Việt Nam đã ghi nhận có dưới 4,000 ca nhiễm và 35 ca tử vong. Nhưng giờ đây, mọi thứ đã thay đổi, biến thể Delta đang gây náo loạn tại TP Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Trong tháng qua, cả quốc gia ghi nhận có đến 299,429 trường hợp mắc mới và 9,758 trường hợp tử vong. Ở TP. Sài Gòn, số trường hợp tử vong chiếm 4.2% số trường hợp được ghi nhận; hơn 200 người chết và 5,000 trường hợp nhiễm mới được báo cáo hàng ngày trong thành phố. Tỉnh lân cận Bình Dương cũng có con số tương tự.

Khi các quy định hạn chế nghiêm ngặt hơn được áp dụng kể từ đầu Tháng Sáu, người nghèo là phía bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Các nhà máy và nơi buôn bán đã được lệnh đóng cửa và kéo theo hàng ngàn người mất việc. Tài xế taxi, người bán hàng rong, công nhân nhà máy và công nhân xây dựng… vốn đã cận kề mức nghèo khổ, nay lại không thể kiếm ra đồng nào trong nhiều tháng. Hơn nữa, họ lại bị mắc kẹt trong những khu nhà ở chật chội và đông đúc ở các điểm lây nhiễm Covid bùng phát.

Số liệu thống kê chính thức cho biết, chỉ riêng tại TP Sài Gòn đã có 3-4 triệu người rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính do đại dịch. Các tổ chức xã hội dân sự ở thành phố đang bị ngập trong hàng chục ngàn lời xin trợ giúp thực phẩm mỗi ngày, mà không thể nào đáp ứng đủ nhu cầu. Food Bank Vietnam, một doanh nghiệp xã hội do Nguyễn Tuấn Khôi, người cũng có công việc kinh doanh riêng, đang hỗ trợ cho 10,000 người mỗi ngày. Trang web và các kênh truyền thông xã hội của tổ chức này xác nhận họ nhận được yêu cầu nhiều gấp đôi hoặc gấp ba lần khả năng của mình.

Các con số kêu cứu mới bắt đầu tăng vào tháng trước, nhưng giờ thì đã tăng vọt trong hai tuần qua. Khôi nói: “Đại dịch này đã ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của mọi người. Việc phong tỏa hoàn toàn khiến nguồn cung cấp thực phẩm bị gián đoạn. Chúng tôi và các tổ chức từ thiện khác đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận những người cần sự giúp đỡ. Nhu cầu hiện nay là rất lớn”.

Trong 20 năm làm từ thiện, Khôi chưa bao giờ trải qua chuyện như thế này. Anh nói: “Người Việt Nam đã trải qua những ngày khó khăn nhất trong vài tuần qua. Tôi chưa bao giờ thấy số lượng người chết và mất mát nhiều như vậy, điều mà tôi nghĩ là không thể nào lại có thể vậy được. Trước đại dịch, chúng ta có đói và nghèo, nhưng ít ra lương thực vẫn dễ dàng đến cho nhiều người. Tôi sinh ra sau chiến tranh, vì vậy những khó khăn xung quanh cái chết và cái đói là điều chúng tôi chỉ nghe kể và đọc trong sách. Giờ tôi mới hiểu được thế nào là khốn khó”.

Saigon Children, nơi giúp đỡ những thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn được học hành và đi làm, cũng hoàn toàn bị kéo vào nhu cầu cấp thiết này. Damien Roberts, giám đốc tổ chức từ thiện, nói: “Thông thường, chúng tôi xây dựng trường học, thực hiện những nhu cầu đặc biệt. Bây giờ 90% công việc của chúng tôi là cứu trợ Covid. Đói khổ đang lan rộng vào lúc này. Tôi không biết rõ con số cần giúp là bao nhiêu nhưng chỉ trong tám tuần qua, chúng tôi đã giúp 16,000 người, nhưng cảm thấy như mình chưa làm được gì cả”.

Các ứng dụng trên điện thoại như Zalo và SOSmap.net, mỗi ứng dụng hàng ngày đưa tin có đến hàng chục nghìn người kêu cứu trên toàn thành phố.

Chính quyền thành phố nói rằng đến ngày 26 Tháng Tám, họ đã cung cấp hỗ trợ bao gồm 1.2-1.5 triệu đồng (khoảng 50 USD) và một túi thực phẩm thiết yếu cho hơn 1.2 triệu người gặp khó khăn. Nghe nói họ đang đề xuất chi thêm 9.2 tỷ đồng để hỗ trợ người dân bị phong tỏa.

Song song với nạn đói là hệ thống y tế trở nên quá tải. Các bệnh viện đang thiếu nhân sự, không đủ thuốc men, việc cung cấp oxy chỉ cầm chừng. Các phương tiện truyền thông xã hội tràn ngập những câu chuyện về những người kêu cứu mà không được giúp đỡ, cũng như những hình ảnh và video đáng lo ngại về hàng dài thi thể vào lò hỏa táng và những người nằm gục trên đường phố.

Bác Sĩ Trần Hoàng Đăng Khoa, bác sĩ hồi sức tích cực của một bệnh viện điều trị những ca Covid nặng nhất, phụ trách 14 bệnh nhân trong mỗi ca, nói rằng ông đã kiệt sức. Ông Khoa kể rằng 700 giường luôn kín chỗ, mỗi ngày lại có thêm nhiều ca. Một nửa trong số những người mà ông tiếp nhận là không qua khỏi.

Bác sĩ nói: “Hệ thống y tế của chúng tôi không được chuẩn bị cho điều này và nguy hơn là chúng tôi còn chưa đạt đến đỉnh dịch. Chúng tôi thiếu mọi thứ – nhân viên, thuốc men và máy thở – nhưng tôi biết đổ lỗi cho ai bây giờ”.

Tình hình hiện tại, cũng phản ánh sự chậm trễ đối với chương trình tiêm chủng toàn dân của Việt Nam. Theo tiến sĩ Nguyễn Thu Anh, chuyên gia y tế công cộng của Viện Nghiên cứu Y khoa Woolcock tại Hà Nội, “Chúng tôi không có đủ vaccine. Bất kể cam kết từ các nhà cung cấp vaccine, cũng như chương trình Covax, số lượng vaccine đến với người dân, thực tế thấp hơn so với dự kiến​​”.

Theo Bộ Y Tế, tính đến ngày 1 tháng Chín, Việt Nam đã xuất ra 20 triệu liều vaccine Covid-19. Nhưng chỉ 3.6% dân số 75 triệu người trưởng thành nhận được hai mũi tiêm. Tại TP. Sài Gòn, với dân số ước tính từ 10 đến 13 triệu, 5.8 triệu người trưởng thành đã tiêm mũi đầu tiên và 337,134 người đã tiêm cả hai mũi. Chương trình tiêm chủng đang bị trì trệ bởi bộ máy hành chính cồng kềnh, dẫn đến sự chậm trễ.

Các nỗ lực đang tập trung vào TP. Sài Gòn, nhưng bác sĩ Thu Anh nói, virus đã lây lan vượt dự tính. “Vấn đề là chúng tôi đang cố gắng phân bổ vaccine cho TP. Sài Gòn. Số lượng phân bổ cho các tỉnh khác là khá ít, vì vậy đó lại là một thách thức khác nữa”.

Bên ngoài các thành phố lớn, việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và cơ sở hạ tầng còn tồi tệ hơn nhiều. Các bác sĩ cũng như giới chuyên gia đang lo sợ ảnh hưởng Covid đối với các cộng đồng ở đó.

Trong căn phòng 15 mét vuông ở TP. Sài Gòn, cô Hảo cùng chồng và con trai tám tuổi của cô đang mắc kẹt trong một tòa nhà, cùng hàng trăm công nhân nhà máy khác. Hảo đang tuyệt vọng chờ đợi để được trở lại làm việc. Kỳ học mới sắp bắt đầu bằng việc học trực tuyến nhưng cô ấy không có máy tính và vì vậy hiện tại, việc học của con trai cô sẽ phải lùi lại. “Tôi không biết nghĩ sao nữa về việc học của con trai tôi ở thời điểm này”, cô nói. “Tôi còn phải lo lắng về việc kiếm bữa ăn tiếp theo của cả gia đình, và tiền thuê nhà tháng này”.

Bên kia thị trấn, Nguyễn Lâm Ngọc Trúc, 21 tuổi, cũng nói mình cần được đi kiếm tiền trở lại. Cô sống trong một khu ổ chuột bên bờ sông cùng với 30-40 gia đình khác. Cô bán hàng rong cho sinh viên nhưng không làm gì ra tiền kể từ Tháng Sáu. Ba mẹ và anh trai của cô cũng mất việc. Họ sống sót lâu nay nhờ gạo và mì gói được phát từ các tổ chức từ thiện và hàng xóm.

Trong khu vực lân cận của cô Trúc sống, hàng xóm cũng là một trong cộng đồng di cư khổng lồ của thành phố. Nhiều người trong số họ không có giấy tờ gì và do đó không được quản lý, trở thành vô hình đối với chính quyền trong danh sách cứu trợ. Cô Trúc nói: “Chính phủ nên giữ lời hứa khi họ nói rằng sẽ hỗ trợ mọi người. Họ nên đưa thức ăn đến cho mọi người. Vẫn không ai nói cho chúng tôi biết khi nào thì mình được cứu giúp”.

thao ly  
#14948 Posted : Wednesday, September 15, 2021 1:00:59 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,686
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)
Không… Không… Không …


Đại-Dương

September 14, 2021

Con người thường nói “không” với những hành vi trái ý, dù rất nhỏ, mà gây thiệt hại cho gia đình, bản thân. Nhưng, lại ít dám nói “không” trước bọn cường quyền hung bạo, ngoại trừ những dân tộc can đảm, kiên cường. Tuyệt đối nói KHÔNG với Chủ nghĩa Cộng sản dưới bất cứ mô hình, tình huống nào… nếu muốn nên người có phẩm giá.

UserPostedImage

Từ khi Chủ nghĩa Cộng sản xuất hiện trên quả địa cầu, dù tại các quốc gia dân chủ tiên tiến, giàu có hoặc lạc hậu nghèo hèn đã tạo ra cơn ác mộng cho nhân loại suốt hơn thế kỷ và vẫn đang hoành hành trên thân xác của loài người dưới chiêu bài giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Cuốn sách Le Livre Noir do nhiều học giả, chuyên gia trên thế giới chấp bút đã xuất bản năm 1997 ghi nhận số nạn nhân chết dưới bàn tay người cộng sản toàn cầu lên tới 94 triệu người: Trung Cộng 65 triệu, Liên Sô 20, Cambodia 2, Bắc Hàn 2, Ethiopia 1.7 triệu, Afghanistan 1.5 triệu, Đông Âu 1, Việt Nam 1, Châu Mỹ La Tinh 150,000 và 10,000 từ hành động của Phong trào Cộng sản Quốc tế và các Đảng Cộng sản chưa cầm quyền.

Sau khi Liên Sô và Đệ tam Quốc tế tan rã từ năm 1991 chỉ còn lại Trung Cộng, Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn… vẫn duy trì Chế độ Cộng sản với cách đàn áp và kiểm soát nghiệt ngã hơn.

Nhiều người giữ quan điểm sử dụng bạo lực để giải thể chế độ cộng sản. Thực tế, các chế độ cộng sản dù hùng mạnh như siêu cường Liên Sô hoặc lạc hậu như vài quốc gia Châu Phi, Trung Á bị sụp đổ do ý chí sắt đá của toàn dân dựa vào sự hỗ trợ tinh thần của nhân loại văn minh.

Các tiểu quốc Lithuania, Estonia, Latvia không tin vào thiện chí của Nga, dù với Mikhail Gorbachev hay Boris Yeltsin nên không lọt vào vòng kiểm soát của Vladimir Putin. Họ tuyên bố độc lập theo truyền thống Cộng hoà từ năm 1918 và dựa vào Hoa Kỳ mặc dù họ không ưa hoặc ghét Mỹ, nhưng, biết rõ chỉ có siêu cường này mới đủ sức bảo vệ họ (thông qua NATO). Phi cơ Nga chưa vào Không phận của Latvia đã bị F-35 chặn đầu rồi!

Latvia chưa tới 2 triệu dân có duy nhất Phong Trào Dân Tộc Latvia với mục tiêu: Loại bỏ Chế độ Cộng sản và Thoát Nga nên lợi tức bình quân đầu người năm 2020 gấp 7 lần Việt Nam. Họ không đặt ra nhiều mục tiêu dân chủ, nhân quyền, tự do, tôn giáo làm phân tán sức mạnh như tại Việt Nam. Lật đổ được chế độ cộng sản là nước Việt Nam có tất cả.

Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vô-điều-kiện Hoa Kỳ năm 1945. Thống tướng Douglas MacArthur sau khi thắng trận đã chịu trách nhiệm tái thiết Nhật Bản tử hệ thống chính trị dân chủ tới phát triển toàn diện trở thành có nền kinh tế lớn thứ hai sau Hoa Kỳ trong nhiều thập niên. Với 50,000 lính Mỹ và Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ đồn trú tại hải cảng Yokosuka làm tiêu tan khả năng phục thù của Đảng Cộng sản Trung Cộng. Khi giàu lên, Nhật Bản liền góp một phần chi phí cho quân đồn trú Mỹ như đồng minh chí cốt.

Sau Đệ nhị Thế chiến, Mỹ chịu trách nhiệm bảo vệ Đại Hàn từ vĩ tuyến 38 xuống tận cùng phía Nam. Năm 1950, Bắc Hàn xua quân tấn công Nam Hàn xuống tận cùng miền Nam đã bị Quân Mỹ đẩy lùi về vỹ tuyến 38. Hàng triệu Giải phóng quân Trung Cộng tham chiến bằng chiến thuật biển người vẫn bị Liên quân Quốc tế do Mỹ điều khiển đẩy qua khỏi vĩ tuyến 38. Chiến tranh chấm dứt với Hiệp định Đình chiến năm 1953, Từ đó, Hoa Kỳ đồn trú 28,000 quân thường trực tại Đại Hàn.

Dù Cộng sản Trung Cộng hoặc Bắc Hàn muốn cưỡng chiếm Nam Hàn để thành lập Nhà nước Cộng sản cũng không được.

Nói “KHÔNG” với Cộng sản là con đường duy nhất để dân tộc có tâm hồn con người thay vì ác quỷ.

Phong trào Không-liên-kết do Ấn Độ, Ai Cập, Nam Tư (Yugoslavia) thành lập năm 1955 có xu hướng thiên tả đã quy tụ được 118 thành viên tồn tại đến 2007, đại diện gần 1/3 Liên Hiệp Quốc và . Phong trào bảo đảm sự độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh. Và chủ trương “chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân kiểu mới, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và tất cả những hình thức xâm lược ra nước ngoài, chiếm đóng, chi phối, can thiệp hoặc bá quyền” cũng như chống lại các đại cường quốc”. Vào giai đoạn đó, đa số quốc gia trên thế giới đều là nạn nhân của chế độ thực dân, thuộc địa nên có cảm tình với Đảng Cộng sản Trung Cộng mà quên rằng Cộng sản đã xoá bỏ Chế độ Dân chủ của Trung Hoa Dân Quốc đang là một trong năm thành viên Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Thực ra, một số quốc gia trong Phong trào cũng từng là Đế quốc.

Hầu hết các quốc gia không-liên-kết đều dung dưỡng hoạt động Cộng sản nên bị hậu quả.

Ấn Độ thiếu nối kết với các nước phát triển mà lại áp dụng mô hình kinh tế Liên Sô nên GDP danh nghĩa chỉ được 3,000 tỷ USD và lợi tức bình quân đầu người hiện nay 2,200 USD so với Trung Cộng 17,000 tỷ và 12,000 USD. Ấn Độ thường bị Trung Cộng lấn chiếm trên bộ và đe doạ ở dưới biển.

Nam Tư bị chia thành các nước nhỏ nên mất ảnh hưởng trên trường quốc tế.

Tổng thống Sukarno thực thi chính sách “Nasakom” gồm có chủ nghĩa dân tộc, tôn giáo, cộng sản tạo điều kiện cho Đảng Cộng sản Indonesia (PKI) đảo chánh 1965 dẫn tới vụ thanh trừng khủng khiếp làm chết 500,000 người mà các tài liệu gần đây ước tính số người thiệt mạng đến ba triệu.

Tiểu tổ Cộng sản trong bất cứ xã hội nào cũng như một bọn côn đồ sẵn sàng làm theo lệnh. Phá các tiểu tổ này không phải bổn phận của riêng ai mà của mọi người muốn có cuộc sống yên vui.

Không che giấu mà phải dứt khoát, quyết liệt loại bỏ cộng sản theo khẩu hiệu: “Tiêu diệt cộng sản, bảo vệ loài người”.

Không giao dịch với cộng sản vì Chủ nghĩa Cộng sản chủ trương viết lại lịch sử loài người từ khi có Karl Marx. Họ tuyệt đối phủ nhận luật pháp quốc tế do nhiều thế hệ tích luỹ kinh nghiệm sống. Họ cướp không được thì ăn cắp rồi vẽ rắn thêm chân để xin cấp bằng sáng chế.

Chỉ có vài nước trên thế giới được thặng dư khi giao dịch với Trung Cộng. Nếu giao dịch với nhau mà chỉ từ lỗ tới lỗ thì quốc gia sớm bị phá sản.

Việt Nam đang có mức thặng dư thương mại 31 tỷ USD với Hoa Kỳ, với EU 9,4 tỷ và thâm hụt 23 tỷ so với Trung Cộng.

Infographics: Xuất nhập khẩu là điểm sáng của nền kinh tế | Thời Báo Tài Chính

Trong một thời gian dài, ASEAN vẫn không thể đoàn kết khi đối phó với Trung Cộng hoặc Hoa Kỳ vì giới lãnh đạo Đông Nam Á vẫn chưa thống nhất trên lộ trình ứng phó trong nguy cơ chiến tranh thương mại hoặc quân sự giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ.

Lý do, Việt Nam, Cambodia, Lào, Myanmar tuần tự gia nhập vào ASEAN mà vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của Bắc Kinh nên làm cho ASEAN dễ bị Trung Cộng chèn ép, bắt nạt hơn.

Trong bài “Washington’s Challenge in Southeast Asia: The View From Vietnam” do Ngô Minh Trí, Tổng biên tập Báo Thanh niên viết đã được The Diplomay đăng hôm 8 tháng 9. Trí biện minh “Trung Quốc là một nước láng giềng hùng mạnh … Việt Nam đang tìm cách để cùng tồn tại với Trung Quốc … Bắc Kinh nhiều lần ngừng thương mại qua cửa khẩu Lũng Vài, kể cả dịp Phó tổng thống Mỹ, Kamala Harris thăm Việt Nam trong khi nông sản của Trung Quốc vẫn tiếp tục nhập vào Việt Nam”.

Trí lờ chuyện Nhật Bản và Nam Hàn chấp nhận đồng minh với Hoa Kỳ nên Bắc Kinh khó bắt nạt. Bắc Kinh vi phạm luật thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mà sao Hà Nội không dám kiện. Trí khuyên “Hoa Kỳ phải thay đổi cách tiếp cận, tái cân bằng trọng tâm của mình khỏi an ninh để tập trung vào hợp tác kinh tế là trọng tâm”.

Do đó, không có an ninh hàng hải làm sao kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương phát triển?

Đại Dương

thao ly  
#14949 Posted : Wednesday, September 15, 2021 1:12:33 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,686
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)
Thế sự xoay vần sau ngày 11 Tháng Chín


September 11, 2021
Hiếu Chân/Người Việt

Ngày 11 Tháng Chín, 2001, al Qaeda thực hiện vụ tấn công khủng bố đẫm máu nhất từng xảy ra trong nội địa nước Mỹ, và lịch sử thế giới chuyển sang một lối rẽ bất ngờ. Hai mươi năm sau biến cố này, thế giới đã bước sang một cuộc đối đầu mới, quyết liệt hơn.

UserPostedImage

Người dân Mỹ tưởng niệm các nạn nhân bị thiệt mạng trong vụ tấn công khủng bố 11 Tháng Chín, 2001, hôm 11 Tháng Chín, 2021, ở New York. (Hình minh họa: Craig Ruttle-Pool/Getty Images)

Nhà nghiên cứu Nelly Lahoud, sau nhiều năm nghiền ngẫm các tài liệu của Osama bin Laden và al Qaeda mà đặc nhiệm Mỹ thu thập được sau vụ đột kích tiêu diệt tên trùm khủng bố tại hang ổ của bin Laden ở Abbottabad, Pakistan, Tháng Năm, 2011, ghi nhận ý đồ của bin Laden và al Qaeda khi tấn công nước Mỹ không chỉ là thực hiện một vụ khủng bố mà là “khởi đầu một chiến dịch bạo lực cách mạng nhằm khai sinh một kỷ nguyên lịch sử mới.” “Sứ mệnh của al Qaeda là phá hủy cái trật tự thế giới hiện tồn, dựng lại một “ummah” (*) từng có trong lịch sử – một cộng đồng giáo dân Hồi Giáo toàn cầu dưới một quyền lực chính trị chung,” bà Lahoud nhận định trên tạp chí Foreign Affairs.

Bà Lahoud cho rằng, mặc dù bin Laden lấy cảm hứng từ tôn giáo nhưng mục tiêu của bin Laden mang tính địa chính trị, cụ thể là lập lại trật tự thế giới trong đó vương quốc Hồi Giáo (caliphate) là trung tâm. Để thực hiện mục tiêu đó, bin Laden tin rằng al Qaeda phải thực hiện “một cú đấm quyết định” vào lãnh thổ nước Mỹ, từ đó buộc Mỹ phải rút hết quân đội từ các quốc gia Hồi giáo, tạo điều kiện cho các chiến binh Hồi Giáo (jihadis) chiến đấu và lật đổ các chế độ chuyên chế ngự trị ở đó, xóa sổ nhà nước Do Thái và giành lại xứ sở cho người Palestine.

Bin Laden đã ấp ủ âm mưu tấn công nước Mỹ từ năm 1986 và ngày càng quyết tâm thực hiện, nhất là sau khi Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan năm 1989 và Taliban chiếm được quyền lực ở nước này năm 1996. Nhưng diễn biến tình hình thế giới sau vụ 11 Tháng Chín cho thấy, bin Laden đã không bao giờ đạt được mục tiêu đề ra; cả tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo Iraq và Syria (ISIS) sau này cũng vậy.

Điều mà bin Laden và các thủ lĩnh của al Qaeda cũng như Taliban không tính tới được là vụ khủng bố 11 Tháng Chín chẳng những không làm cho Mỹ rút quân khỏi Trung Đông mà ngược lại, đã kích thích Tổng Thống George W. Bush phát động cuộc chiến tranh tấn công Taliban cuối năm 2001, và sau đó tấn công Iraq năm 2003. “Vụ khủng bố xảy ra trên đất Mỹ nhưng đó là vụ tấn công vào trái tim và linh hồn của thế giới văn minh. Và thế giới đã cùng nhau chiến đấu trong một cuộc chiến tranh mới và khác, chúng ta hy vọng là cuộc chiến duy nhất của thế kỷ 21. Một cuộc chiến chống lại những kẻ tìm cách xuất cảng nỗi khiếp sợ, cuộc chiến chống những chính phủ nào ủng hộ hoặc che chở chúng,” Tổng Thống George Bush tuyên bố ngày 11 Tháng Mười, 2001, bốn ngày sau khi tiếng súng bùng nổ trên mặt trận Afghanistan, quét sạch chế độ Taliban và tổ chức al Qaeda.

Sự hiện diện của quân đội Mỹ tại các quốc gia Hồi Giáo Trung Đông từ đó đã không giảm đi mà tiếp tục tăng lên trong những cuộc chiến Afghanistan, Iraq, Yemen, Syria và nhiều nơi khác. Cuộc chiến “chống khủng bố” trở thành tâm điểm, thành ưu tiên chiến lược hàng đầu trong chính sách quốc phòng và ngoại giao của Hoa Kỳ suốt mấy đời tổng thống.

Giấc mộng tái tạo “ummah” của Bin Laden đã không thành hiện thực mà trái lại, cuộc chiến chống khủng bố giữa Mỹ và Châu Âu chống lại các tổ chức Hồi Giáo cực đoan như Al Qaeda, ISIS kéo dài suốt 20 năm qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự trỗi dậy và bành trướng của các chính thể chuyên chế mới ở Nga và Trung Quốc, lợi dụng thời gian Hoa Kỳ và Châu Âu vướng vào các bãi lầy ở Afghanistan và Iraq. Ở các quốc gia này, Hồi Giáo chẳng những không thể phát triển được mà thậm chí còn bị đàn áp man rợ hơn mà điển hình là vụ “diệt chủng” người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) theo đạo Hồi ở Tân Cương miền Tây Trung Quốc.

***
Cuối năm 2001, để phục vụ cho cuộc chiến chống Al Qaeda và Taliban mới khởi phát ở Afghanistan, chính phủ Bush đã yêu cầu sự hợp tác của Bắc Kinh, sau một thời gian dài quan hệ lạnh nhạt do hậu quả của cuộc đàn áp đẫm máu trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Trung Quốc đồng ý cho Mỹ đặt một số trạm trinh sát và tiếp tế ở miền Tây nước này, giáp với Afghanistan, đổi lại Washington phải để cho Trung Quốc trở thành thành viên Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (World Trade Organization – WTO) – một yêu cầu mà Mỹ đã chấp nhận và Trung Quốc bước vào WTO ngày 11 Tháng Mười Hai, 2001, với những đặc quyền được ưu đãi tối đa trong tư cách một nền kinh tế đang phát triển.

Mở được cánh cửa WTO, Trung Quốc vào được các thị trường tiêu thụ khổng lồ của Châu Âu và Châu Mỹ, tiếp cận được nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của các nền kinh tế tiên tiến. Điều kiện tuyệt vời đó, cộng với nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ và các chính sách công nghiệp nặng tính lợi dụng chính là yếu tố đưa tới sự tăng trưởng thần kỳ của kinh tế Trung Quốc suốt 20 năm qua. Kinh tế phát triển mang lại nguồn lực để Bắc Kinh hiện đại hóa quân đội, và bành trướng ảnh hưởng, nhắm tới thay thế vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trên vũ đài thế giới. Có thể nói, nếu không có vụ khủng bố 11 Tháng Chín, không có phản ứng của Hoa Kỳ bằng cuộc chiến chống khủng bố, sẽ không hoặc chưa có một Trung Quốc mạnh mẽ và đầy tham vọng như hiện nay.

Nếu như trước ngày 11 Tháng Chín, 2001, thế giới “tương đối hòa bình” trong một trật tự toàn cầu đơn cực (unipolar) sau thời Chiến Tranh Lạnh mà Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất cả về quân sự, kinh tế và ngoại giao thì biến cố 11/9 và những cuộc chiến tranh sau đó đã đẩy thế giới tới một trật tự đa cực; một bên là Hoa Kỳ và các chính thể dân chủ tự do phương Tây, một bên là chế độ độc tài chuyên chế mới trỗi dậy đang đòi giành lại lãnh thổ và ảnh hưởng và một bên nữa là các tổ chức tôn giáo cực đoan, phi nhà nước, sẵn sàng tấn công khủng bố vào thường dân để gây rối loạn cho cuộc sống xã hội.

Cuộc đối đầu giữa các thế lực trên tất cả các lĩnh vực làm cho thế giới ngày nay trở nên bất ổn hơn, nguy cơ chiến tranh hủy diệt nhân loại đang treo lơ lửng và có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Bên cạnh chảo lửa ở Trung Đông và Bắc Phi, đã xuất hiện thêm nhiều điểm nóng mới như Đài Loan, Ukraine, Biển Đông.

***
Một hệ quả khác của cuộc chiến chống khủng bố là nó củng cố quyền lực của các chính phủ chuyên chế trong việc đàn áp các quyền tự do dân sự của người dân. Nhân danh chống khủng bố, nhiều nước đã giải tán các tổ chức chính trị đối lập, dập tắt các cuộc biểu tình đòi dân chủ, bắt giam và tuyên án nặng nề những nhà hoạt động đấu tranh cho nhân quyền… Các thành tựu kỹ thuật mới như mạng Internet, trí tuệ nhân tạo, lẽ ra đã giúp con người sống tự do hơn, dân chủ hơn, biến thế giới thành một “ngôi làng toàn cầu” nơi mọi người có thể giao tiếp với nhau vượt qua giới hạn thời gian và không gian, nhưng lại được các chính quyền sử dụng để theo dõi người dân và biến xã hội thành một thứ nhà tù kỹ thuật số, nhất cử nhất động của công dân đều bị ghi lại trong cơ sở dữ liệu lưu trữ ở đâu đó trong hệ thống giám sát của nhà cầm quyền.

Một lần nữa, Trung Quốc lại là quốc gia điển hình cho việc theo dõi công dân nhân danh chống khủng bố, bảo vệ trật tự xã hội; thậm chí giam cầm hàng triệu người Hồi giáo vào các trại tập trung chỉ vì nghi ngờ họ có âm mưu khủng bố chống lại sự cai trị của đảng Cộng Sản.

Hoa Kỳ – nền dân chủ hàng đầu thế giới – cũng không phải là ngoại lệ. Vụ khủng bố 11 Tháng Chín chia rẽ xã hội Mỹ giữa người theo đạo Hồi và những tôn giáo khác. Sắc lệnh của cựu Tổng Thống Donald Trump cấm nhập cảnh những người từ các quốc gia có đa số dân theo Hồi Giáo là đỉnh điểm của sự kỳ thị này. Nhưng không chỉ người Hồi Giáo. Đạo luật a1i quốc, tên đầy đủ là Uniting and Strengthening America by Providing Appropriate Tools Required to Intercept and Obstruct Terrorism, gọi tắt là PATRIOT Act, được Quốc Hội khóa 107 thông qua và được Tổng Thống Bush ký ban hành ngày 26 Tháng Mười, 2001, cho phép chính quyền liên bang (i) tăng cường an ninh nội địa chống khủng bố, (ii) tăng cường các thủ tục giám sát, bên cạnh các điều khoản về chống rửa tiền và bảo vệ biên giới. Đạo luật có những quy định xâm phạm sâu vào quyền tự do công dân như cho phép chính quyền ngăn chặn, can thiệp vào việc giao tiếp của công dân bằng lời nói, trên điện thoại, trên các phương tiện điện tử liên quan tới khủng bố (Điều 201).

Không ai phủ nhận luật Patriot Act đã có tác dụng giúp ngăn chặn khủng bố trên lãnh thổ nước Mỹ trong thời gian Châu Âu vẫn liên tục bị các nhóm Hồi Giáo cực đoan tấn công, nhưng hiệu ứng phụ của nó là làm cho người dân Mỹ – nhất là người nhập cư – cảm thấy bất an, lúc nào cũng lo ngại bị chính quyền theo dõi và giám sát – điều không nên có trong một xã hội dân chủ tự do.

Trên bình diện thế giới, nỗi ám ảnh bởi bóng ma khủng bố đã làm cho nhiều nước dân chủ chuyển sang áp dụng các biện pháp chuyên chế, tạo ra xu hướng thoái trào của trào lưu dân chủ hóa. Freedom House – một tổ chức uy tín nghiên cứu về dân chủ – ghi nhận thể chế dân chủ bắt đầu bị thoái hóa nặng nề từ năm 2006, lúc cuộc chiến chống khủng bố ở Iraq và Afghanistan lên tới cao trào.

Trong 15 năm qua, số quốc gia chuyển từ chế độ dân chủ, hoàn toàn hoặc một phần, sang chế độ chuyên chế tăng liên tục và áp đảo số quốc gia dân chủ tự do. Trong báo cáo nghiên cứu Freedom in the World 2021 công bố gần đây, Freedom House đã khảo sát 195 quốc gia, ghi nhận tình hình thực thi quyền dân sự và quyền chính trị của công dân bị giảm mạnh ở 73 nước, gia tăng ở 28 nước; có 38% dân số thế giới hiện đang sống ở 54 nước bị coi là hoàn toàn không có tự do và chưa đầy 20% dân số sinh sống ở những nước tự do – thành tích thấp nhất kể từ đầu thế kỷ 21.

Sự thoái hóa của trào lưu dân chủ trên toàn cầu đã góp phần củng cố niềm tin của giới lãnh đạo Cộng Sản ở Bắc Kinh rằng “phương Đông đang trỗi dậy, phương Tây đang suy tàn” và khởi động một chiến dịch tấn công dài hơi vào các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền của phương Tây.

***

Hai mươi năm sau biến cố 11 Tháng Chín, các tổ chức khủng bố al Qaeda và ISIS không còn mạnh như xưa, khả năng tổ chức tấn công trên lãnh thổ Mỹ là khó có thể xảy ra. Thế cuộc đã xoay vần: cuộc đối đầu hiện nay là giữa một siêu cường đang cố tìm lại uy tín và sức mạnh sau hai thập niên sa lầy trong cuộc chiến chống khủng bố với một cường quốc đang lên đầy tham vọng thay đổi trật tự thế giới. Không phải là tái lập một “ummah” Hồi Giáo như mơ ước của bin Laden mà là một hệ thống chuyên chế do một đảng độc tài toàn trị thống lĩnh các quốc gia chư hầu – như hệ thống của Trung Quốc trước khi tiếp xúc với văn minh phương Tây vài thế kỷ trước.

So với cuộc chiến chống khủng bố nhắm vào al Qaeda và ISIS, cuộc cạnh tranh ý thức hệ hiện nay phức tạp hơn nhiều, rộng lớn hơn nhiều và đòi hỏi Hoa Kỳ phải tập trung tối đa mọi nguồn lực kinh tế, quân sự, công nghệ, ngoại giao nếu không muốn bị vượt qua một cách cay đắng như sự kiện bất ngờ ngày 11 Tháng Chín. [qd]
—–
Chú thích: (*) ummah hoặc ummat al-Islām: cộng đồng các dân tộc Hồi Giáo chia sẻ cùng một niềm tin tôn giáo và một cơ cấu quyền lực chính trị.

thao ly  
#14950 Posted : Wednesday, September 15, 2021 6:26:26 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,686
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)

Từ chuyện Afghanistan là mồ chôn Đế quốc…


September 14, 2021

Nguyễn thị Cỏ May: Sơ lược diễn tiến tình hình Afghanistan gần đây

Năm 1747, lợi dụng sự suy yếu của 2 nước Perse và Ấn, Ahmad Khan thống nhứt Afghanistan lần đầu tiên. Thanh niên Ahmad còn là một thi sĩ, đã đánh chiếm các bộ lạc khác dể mở mang xứ Afghanistan. Sau khi ông chết, xứ sở rơi vào khủng hoảng triền miên kéo dài 150 năm, với cả cuộc chiến với Đế quốc Anh.

Qua năm sau, một vị tướng của Anh tới trình diện Triêu đình Kaboul để xin thiết lập mối quan hệ ngoại giao với Afghanistan.

Năm 1840, xảy ra vụ xung đột giữa Anh và Nga. Chỉ 2 năm sau, trong một cuộc diễn binh, quân afghans giết hết 16 000 quân Anh không võ trang. Để tránh xung đột, năm 1893, Anh kẻ một đường dài 2600 km trên vùng núi giữa Afghanistan và Ấn độ thuộc Đế quốc Anh.

UserPostedImage

Năm 1919, Liên-sô bắt đầu viện trợ cho Afghanistan. Đến năm 1973, Afghanistan bị Liên-sô lật đổ, thiết lập chế độ cộng sản. Năm 1979 Liên xô xâm chiếm afghanistan, bị dân Afghans làm thánh chiến chống lại. Trong thời chiến tranh lạnh giữa hai khối, Mỹ muốn đưa Liên sô vào thế khó khăn, cho những nhóm khủng bố hồi giáo từ các nơi lẻn về, trong đó có cả chàng trai trẻ Oussama Ben Laden. Năm 1989, cầm cự không nổi nữa, Liên sô rút ra khỏi Afghanistan để khỏi sa lầy thêm, tổn thất nặng, với 13, 000 người chết và 53, 000 thương tật.

Qua 2 năm sau, Mỹ thật sự nhảy vô Afghanistan để truy lùng tên khủng bố Oussama Ben Laden đã chỉ huy đánh sập 2 tòa cao ốc ở New York làm cho 2977 người chết, chỉ để chứng tỏ «Mỹ không phải là quốc gia bất khả xâm phạm».

Đúng 20 năm sau, Mỹ bỏ chạy khi quân Talibans chưa tới Kaboul. Taliban chỉ có 70, 000 quân trong lúc dưới tay Mỹ có 300, 000 quân Afghans được Mỹ huấn luyện và trang bị võ khí tối tân đủ loại.

Trước thực tế ở Afghanistan hôm rồi, có vài người của Nhà nước vc ở Hà-nội tự sướng, nói một cách tự hào «Quân đội nhân dân ta chưa từng bị thua, đánh đâu thắng đó. Thắng cả virus vũ hán!»

Kaki

Ở Việt nam trước 75, chắc ngày nay, vẫn còn vài người nhớ «Đảng kaki», «giới kaki», «dân kaki»,…Có lần, một vị cố vấn lớn tuổi, có dịp can thiệp trực tiếp với ông Tổng thống Nguyễn văn Thiệu về vụ «Phụ tá An ninh Đặng văn Quang tại Tổng thống Phủ mang tai tiếng tham nhủng». Ông Thiệu trả lời «Tôi biết nhưng kẹt cùng kaki với nhau. Khó quá»!

Vậy kaki là gì?

Nhân nói chuyện về Afghanistan, thật bất ngờ chúng ta có được một tin khá lý thú về tiếng «kaki» với cả nguồn gốc của nó.

Ai cũng biết và cũng thấy lính là vận quân phục kaki. Hay nói kaki là nói người lính.

«Kaki» là tiếng Afghan, viết đúng, phải như viết như vầy «Khaki». Khaki có nghĩa là màu đất của vùng núi khô cằn nơi những chiến binh pachtouns (sắc dân đông, thành lập xứ Afghanistan, chiếm phía Nam và Đông-Nam cùa Afghanistan) ngụy trang bằng y phục cùng màu đất. Năm 1900, quân Anh đóng quân ở biên giới Ấn-Afghan bắt chước cũng mặc quân phục cùng màu. Từ đó, quân đội là mặc quần áo màu đất khaki, tức loại vải màu kaki.

Ngoài ra, khi đi đánh giặc, dân Afghhans nghĩ ra cách làm cho đối phương không nhìn thấy quân ta nên ngụy trang cho tiệp với nơi mai phục. Từ xưa, Afghanistan vẫn là dân thiện chiến, lì lợm, thứ sớm đầu, tối đánh. Nên các nước địa phương gọi là «Vương quốc xấc xược», «Vương quốc du côn».

Phải chăng vì vậy mà lần lượt, cả 3 Đế quốc đầu sỏ Anh, Liên sô và Hoa Kỳ đã phải tháo chạy? Riêng Hoa kỳ chạy không kịp chuẩn bị, bỏ lại ngày nay cả ngàn dân với gia đình trong tay quân Talibans, một số lớn võ khí trị giá cả 82 tỷ đô-la! Nhưng ông TT Joe Biden vẫn khẳng định là ông có lý. Một quyết định cực kỳ thông minh!

Dân Afghans hung hăng, giỏi đánh giặc?

Nhưng tại sao dân Afghans lại lì lợm, đánh giặc dai dẳng, làm cho các nước lớn, binh lính tinh nhuệ, trang bị vũ khí tối tân, mà phải thua?Theo nhà nhân chủng học người Mỹ, ông Carleton Coon, dân Afghans có máu họ hàng với dân Kurdes và dân Berbères, giống dân miền núi, họ lúc nào cũng sống ly khai, chống đối, không giống những sắc dân ở đồng bằng. Có thử chinh phục họ, cũng không được.

Dân Turkestan, Afghanistan, Perse,…từng sống du mục xa. Bản chất cố hũu của họ là đánh và chiếm đoạt.

Nhưng nỗi lo sợ của Afghanistan không ở người Anh, mà Nga. Họ thấy nếu không có Anh tới thì Nga đã nuốt họ từ cuối thế kỷ 19e rồi. Với Anh, Afghanistan chỉ là bức thành bảo vệ Ấn độ cho họ. Còn Nga đi chậm, từng bước, nhưng là kẻ thù nguy hiểm của họ. Thế mà Nga cũng thua êm.

Thời hoàng kim của phụ nữ

Năm 1972, trên đường phố Kaboul, phụ nữ nhởn nhơ với mini-jupes đủ màu sắc. Đó là giai đoạn Afghanistan canh tân, thế tục, giải phóng, nhứt là giải phóng phụ nữ. Khăn trùm kín mặt không còn bị bắt buộc nữa. Thành phần dân chúng có học, đều học theo Anh, Pháp, theo văn minh Anh-Pháp. Một Trung học Pháp mở cửa. Giới khảo cổ pháp tới làm việc. Được uu đãi. Họ ở đó như một Quốc gia trong một Quóc gia.

Năm 1968, ông Georges Pompidou của Pháp tới Kaboul để đề nghị 2 nước hợp tác cùng khai thác mỏ sắt.

UserPostedImage

Đây thật sự là lúc các cô gái afghanes tới Đại học, đầu tóc chải kiểu mới, jupes ngắn khỏi đầu gối. Tuy nhiên hiện tượng này cũng chỉ mới xảy ra ở những thành phố lớn và chỉ trong giới khá giả, tây học mà thôi.

Đường sá bắt đầu tráng nhựa. Điện khí hóa. Du khách cũng lần lượt kéo nhau tới. Nhưng đại bộ phận xã hội bộ lạc vẫn chưa thay đổi được. Rất tiếc thời hoàng kim vừa mới nhá lên lại vội tắt mất vì Liên Sô tới. Mỹ nhắm qua Pakistan, phong tỏa Kabou.

Năm 1998, Ben Laden tuyên bố lệnh trừng phạt Hoa kỳ từ đất lánh nạn. Ben Laden chọn Afghanistan ẩn trốn để đánh Hoa kỳ vì nơi đây là đất màu kaki, là màu mà người ẩn trốn khó bị lộ diện.

Sau vụ khủng bố 9-11, Hoa kỳ tới Afghanistan và ở lại 20 năm.

Tại sao Huê kỳ tháo chạy khỏi Afghanistan?

«Suốt thời gian qua, Mỹ liên tục nói dối khủng khiếp là ta thành công tái thiết Afghanistan». Đó là lời tuyên bố trước Quốc hội Hoa kỳ của ông John Sopko, Tổng Thanh tra đặc trách về Afghanistan (Le Point, 10/09/21, Paris).

Ông lớn tiếng tố cáo cái văn hóa nói dối đang ngự trị các Cơ quan quan trọng của Hoa kỳ đặc trách tái thiết xứ Afghanistan. Ông còn dẫn chứng trước Quốc hội những thí dụ nổi cộm.

Ông đặt câu hỏi «145 tỷ đô la của Mỹ bỏ ra trong 20 năm qua để tái thiết Afghanistn đã chạy đi đâu?». Tính ra thì số tiến này nhiều hơn hồi năm 1945, Mỹ đã bỏ ra tái thiết Âu châu. Và đâu là kết quả?

Cuộc điều trần này đã xảy ra hồi đầu năm rồi nhưng nay mới được «Association National Security Archive» của Đại học George Washington tiết lộ. Đây là một tổ chức tranh đấu cho tính minh bạch của chánh sách đối ngoại Hoa kỳ.

Phải nhiều năm làm việc trên thực địa với một ê-kiếp 175 người, ông John Sopko mới có được kết quả như vậy. Tất cả những gian dối đó đều do những báo cáo «phịa», tức báo cáo «đểu» hoặc lập trên những dữ liệu hoàn toàn tưởng tượng.

UserPostedImage

Theo ông John Sopko, vấn đề là mọi người được ngăn cản nói ra sự thật. Nghĩa là chúng ta khuyến khích mọi người nói dối. Và không chỉ trên chương trình này hay chương trình kia. Mà trên tất cả các chương trình tái thiết Afghanistan do Hoa kỳ chủ trương.

Tham nhủng. Tất cả cấu kết với những Lãnh chúa. Tiền bạc lại đổ vào quá nhiều và quá nhanh. Tiền đã làm bại hoại nền kinh tế vốn yếu ớt cúa Afghanistan, nuôi dưỡng tham nhủng ngày thêm mập ra. Đã thấy có nhiều người mua nhà ở Dubai và Hoa kỳ, xây ở Kaboul nhiều Palaces nguy nga.

Cách các Cơ quan tái thiết nói dối để tham nhủng rất đơn giản. Như một báo cáo của Usaid về giáo dục viết «Nay có 3 triệu gái và 5 triệu trai đi học so với trước kia chỉ có không tới 900 000 trai gái đi học». Báo cáo này tuy không đúng sự thật nhưng Usaid đã không kiểm chứng lại.

Cũng theo báo cáo về y tế mà Usaid nhận được, số tử vong trẻ con giảm 60%, của các bà mẹ, giảm 80%, số người được săn sóc sức khỏe lên tới 90%. Nhưng khi điều tra lại thì tất cả báo cáo đều sai sự thật. Cụ thề như tuổi thọ suốt cả hai mươi năm qua, đàn ông chỉ thêm được 5 năm, phụ nữ tăng được 8 năm!

Ông John Sopko còn nói ra một chuyện mà không ai có thể nghĩ lại có thể xảy ra ở Afghanistan «Quân nhân mỹ dùng loạt phim TV loại NCIS làm phương tiện huấn luyện cảnh sát Afghhans» thay thế trường huấn luyện với huấn luyện viên tại chỗ.

Hoa kỳ tham nhủng có tổ chức. Nói dối để tham nhũng trở thành một thứ văn hóa! Mà mải tới hai mươi năm mới bị khám phá. Vậy Huê kỳ giỏi hơn VC? Trước giờ chỉ nghe người ta nói VC tham nhũng có hệ thống. Hệ thống đảng, đoàn! Còn VC nới dối vì họ được cấy từ gène đểu của Hồ Chí Minh!

Nay ông TT Biden vội rút quân Mỹ vế gấp như tháo chạy, trong khi Talibans chưa tới, vì sợ nếu để chậm, Mỹ sẽ bị mất thêm tiền cho tham nhũng, hay còn vì một lý do nào sâu kín, khác hơn nữa?

Nguyễn thị Cỏ May

Edited by user Wednesday, September 15, 2021 6:32:43 AM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#14951 Posted : Wednesday, September 15, 2021 6:06:25 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
ĐTC cử hành Phụng vụ Thánh Thể lễ Suy tôn Thánh giá
theo nghi lễ Byzantine


9/15/2021 9:38:49 AM

Sáng 13/09/2021 Đức Thánh Cha đã cử hành Phụng vụ Thánh Thể lễ Suy tôn Thánh Giá, theo nghi lễ Byzantine. Ngài mời gọi các tín hữu chiêm ngắm Thánh giá để nhận ra đó là vinh quang của Thiên Chúa, là nguồn ơn cứu độ của chúng ta, để không còn cảm thấy bị bỏ rơi, đơn độc. Chiêm ngắm Thánh gia để từ đó làm chứng cho Thánh Giá bằng đời sống theo Phúc âm và các Mối Phúc. Người mang Thánh Giá trong tâm hồn sẽ yêu thương và đi theo con đường yêu thương khiêm nhường của Chúa Giêsu.

http://conggiao.info/dtc...ghi-le-byzantine-d-62629

Sáng thứ Ba 14/9/2021, ngày thứ 3 trong chuyến viếng thăm Budapest và Slovakia, từ thủ đô Bratislava Đức Thánh Cha đi máy bay đến thành phố Košice cách đó 311 km. Khi đến phi trường Košice, Đức Thánh Cha được Đức tổng giám mục Bernard Bober, thị trưởng và chính quyền địa phương đón tiếp. Sau đó, ngài di chuyển bằng xe hơi đến sân vận động Mestska của thành phố Prešov cách đó 47 km, thành phố lớn thứ ba của Slovakia.

Khoảng 10 giờ, xe của Đức Thánh Cha đến sân vận động Mestska. Đức Thánh Cha được Đức tổng giám mục của Prešov, Đức cha Ján Babjak, dòng Tên, 68 tuổi, đón tiếp. Hai người tặng hoa cho ngài và hai thiếu nhi dâng bánh mì và rượu để ngài chúc lành. Sau đó Đức Thánh Cha và Đức tổng giám mục của giáo phận Prešov lên xe mui trần đi vòng quang quảng trường.

UserPostedImage

Giáo tỉnh Công giáo Hy Lạp tại Slovakia

Giáo hội Slovakia có một Giáo tỉnh Công giáo Hy Lạp tự quản, đặt trụ sở tại Prešov, bao gồm tổng giáo phận Prešov, giáo phận Bratislava và giáo phận Košice, chiếm 6% trong tổng số 5,5 triệu dân Slovakia.

Giáo phận Công giáo Hy Lạp Prešov được thành lập vào năm 1818 và đến năm 2008 được nâng thành tổng giáo phận. Những cột mốc đáng nhớ của Giáo hội Công giáo Hy Lạp Slovakia trong khoảng thời gian này là năm 1959, Giáo hội Công giáo Hy Lạp ở Tiệp Khắc, khi đó bao gồm cả Slovakia, bị chế độ cộng sản xoá bỏ, nghĩa là không còn hiện diện chính thức nữa; năm 1968, năm của “mùa xuân Praha”, khi Giáo hội Công giáo Hy Lạp, đã bị xoá bỏ nhưng không hoàn toàn bị tiêu diệt, đã có thể chính thức bắt đầu lại đời sống và hoạt động từ con số không. Tổng giáo phận Prešov có 117.800 tín hữu với 163 giáo xứ, 282 linh mục giáo phận, trong đó có 8 linh mục được truyền chức trong vòng một năm qua, 42 chủng sinh, 22 nam tu sĩ và 73 nữ tu. Giáo phận có 9 cơ sở giáo dục, 4 cơ sở bác ái. Trong năm vừa qua có 1.572 người được rửa tội.

UserPostedImage

50 ngàn tín hữu chào đón Đức Thánh Cha

Đức Thánh Cha đứng trên xe mui trần đi vòng quanh quảng trường trong sự reo hò hân hoan của hơn 50 ngàn tín hữu. Một rừng những lá cờ nhỏ của Toà Thánh với hai màu vàng trắng được các tín hữu vẫy chào đón khi xe chở Đức Thánh Cha đi ngang qua.

UserPostedImage

Nghi lễ Byzantine

Vào lúc 10 giờ 30, một số Hồng y và giám mục trong đoàn đồng tế với Đức Thánh Cha tiến ra lễ đài tại quảng trường trước sân vận động, có sức chứa hơn 50 ngàn người, bắt đầu Phụng vụ Thánh Thể lễ suy tôn Thánh giá, được cử hành theo nghi lễ Byzantine của thánh Gioan Kim Khẩu, có nhiều chi tiết khác với nghi lễ Latinh như chúng ta thường tham dự. Đây là nghi lễ được cử hành trong các Giáo hội Công giáo Đông phương. Nghi lễ Byzantine có 3 nghi thức, trong đó nghi thức của thánh Gioan Kim Khẩu được cử hành thường xuyên nhất.

UserPostedImage

Phụng vụ gồm các phần: nghi thức phụng vụ chuẩn bị, nghi thức phụng vụ tân tòng, các bài đọc (gồm một bài thư thánh Phao-lô: Cor 1, 18-24, và một bài phúc âm thánh Gioan: Gv, 19, 6b–11a. 13–20. 25–28a. 30b–35a), bài giảng của Đức Thánh Cha, nghi thức phụng vụ các tín hữu, và nghi thức kết thúc.

Bài giảng: thấy và làm chứng

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha suy tư về hai hành động: thấy và làm chứng cho Thập giá Chúa Giêsu. Ngài mời gọi các tín hữu chiêm ngắm Thập giá để nhận ra vinh quang của Thập giá, đó là con đường Chúa đi để cứu độ chúng ta, để không ai phải thất vọng và cảm thấy bị đơn độc, bị bỏ rơi; và từ đó làm chứng tá cho Thập giá bằng lối sống trong sáng của Tin Mừng và các Mối phúc.

Nghịch lý của Thánh Giá

Mở đầu bài giảng, Đức Thánh cha nhấn mạnh đến nghịch lý của Thập giá. Dù thánh Phaolô nói rằng “chúng ta rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh... sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa”, nhưng ngài cũng không giấu giếm rằng theo sự khôn ngoan của con người, thập giá lại là một điều gì đó hoàn toàn khác: đó là “cớ vấp phạm” và “sự ngu xuẩn” (1Cr1, 23-24). Và Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa của ngày lễ Suy tôn Thánh giá: “Thập giá đã là công cụ của sự chết, nhưng nó đã trở thành nguồn gốc của sự sống. Đó là một cảnh tượng kinh khủng, nhưng nó đã mặc khải cho chúng ta vẻ đẹp của tình yêu thương của Thiên Chúa”. Chính thánh sử Gioan, người đứng dưới chân Thánh giá, “vừa nhìn thấy vừa làm chứng” về điều này. Đức Thánh Cha suy tư về hai điểm này.

UserPostedImage

Nhìn thấy Thánh Giá theo cái nhìn thế gian

Trước tiên là nhìn thấy. Điều thánh Gioan thấy và nhiều người cũng đã thấy qua hình ảnh Thánh giá là “Chúa Giê-su, một người vô tội và tốt lành, đã chết một cách tàn nhẫn giữa hai tên tội phạm; một điều bất công, một hy sinh không thay đổi được thế giới. Đức Thánh Cha lưu ý: “Chúng ta cũng có thể có nguy cơ không vượt trên cái nhìn đầu tiên, hời hợt này; chúng ta cũng có thể không chấp nhận thông điệp của Thánh giá, không chấp nhận rằng Thiên Chúa cứu độ chúng ta bằng cách cho phép tất cả những điều xấu xa trên thế giới của chúng ta hoành hoành trên chính than thể Người. Chúng ta có thể cũng không chấp nhận, có lẽ ngoại trừ bằng lời nói, một Thiên Chúa yếu ớt và bị đóng đinh, và mơ về một Thiên Chúa mạnh mẽ và chiến thắng. Đây là một cám dỗ lớn”. Nhưng “một Ki-tô giáo không có thập giá là một Ki-tô giáo của thế gian, và trở thành vô ích”.

Nhận ra vinh quang của Thánh Giá

Mặt khác, “thánh Gioan đã nhìn thấy nơi Thánh giá sự hiện diện và công trình của Thiên Chúa. Ngài đã nhận ra vinh quang của Thiên Chúa nơi Chúa Kitô chịu đóng đinh. Ngài đã thấy rằng bất chấp vẻ bề ngoài, Chúa Giê-su không phải là kẻ thua cuộc, mà là Thiên Chúa, Đấng sẵn lòng hiến thân vì mọi người”. Chúa chọn đi vào lịch sử nhân loại, chọn con đường thập giá, “Để không ai trên trái đất phải tuyệt vọng đến mức không thể tìm gặp Chúa, ngay cả ở đó, giữa đau khổ, tăm tối, bị bỏ rơi, tai tiếng về sự khốn khổ và sai lầm của chính mình. Ở đó, ở chính nơi mà chúng ta nghĩ rằng Chúa không thể hiện diện, thì Người đã đến. Để cứu những người tuyệt vọng, chính Chúa đã chọn nếm trải sự tuyệt vọng; tự mình gánh lấy nỗi thống khổ cay đắng nhất của chúng ta”. Với Người, chúng ta không bao giờ còn cô đơn nữa.

Học cách nhìn thấy vinh quang nơi Thánh Giá

Để học cách nhìn thấy vinh quang trên thập giá, theo Đức Thánh Cha, chúng ta cần chiêm ngắm Thánh giá. Thánh giá giống như một cuốn sách: để biết nó, chúng ta phải mở nó ra và đọc; chỉ mua sách thôi thì chưa đủ. Đức Thánh Cha nhận định rằng Thánh giá “được vẽ hoặc chạm khắc ở khắp mọi nơi trong các nhà thờ của chúng ta. Các cây Thánh giá được tìm thấy ở khắp nơi xung quanh chúng ta: trên cổ, trong nhà, trong xe hơi, trong túi. Điều này có ích gì, trừ khi chúng ta dừng lại để chiêm ngắm Chúa Giê-su chịu đóng đinh và mở lòng với Người, trừ khi chúng ta để mình bị ngạc nhiên bởi những vết thương Người đã chịu vì chúng ta, trừ khi trái tim chúng ta thổn thức vì xúc động và chúng ta khóc trước Thiên Chúa bị thương tích vì yêu chúng ta. Nếu chúng ta không làm điều đó, Thánh giá vẫn là một cuốn sách không được đọc, dù chúng ta biết tựa đề và tác giả nhưng nó không có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của chúng ta”. Ngài cảnh giác: “Chúng ta đừng biến Thánh giá thành một đồ vật để sùng kính, tệ hơn nữa là một biểu tượng chính trị, một dấu hiệu của địa vị tôn giáo và xã hội”.

UserPostedImage

Làm chứng

Chiêm niệm Chúa bị đóng đinh đưa chúng ta đến bước thứ hai: làm chứng. Đức Thánh Cha khẳng định: “Nếu chúng ta chăm chú nhìn vào Chúa Giê-su, khuôn mặt của Người sẽ được phản chiếu trên khuôn mặt của chính chúng ta: các nét của Người trở thành của chúng ta, tình yêu của Đấng Ki-tô chiến thắng chúng ta và biến đổi chúng ta”. Đức Thánh Cha nhắc lại chứng tá của các vị tử đạo Slovakia, những người không thể im lặng vì vì Danh Chúa Kitô! “Chứng tá của họ là chứng tá của tình yêu Chúa, Đấng mà họ đã chiêm ngắm lâu dài. Đến mức họ trở nên giống Người, ngay cả trong cái chết”.

Bằng lối sống thuần của Tin Mừng và các Mối Phúc

Đức Thánh Cha nhắc rằng thời nay chúng ta không thiếu cơ hội để làm chứng. Ngài lưu ý rằng chứng tá của chúng ta có thể bị suy yếu bởi tính thế tục và sự tầm thường trong khi thập giá đòi một chứng tá trong sáng, vì “thập giá không phải là ngọn cờ để vẫy, nhưng là nguồn mạch thuần khiết của một lối sống mới của Tin Mừng, của các Mối Phúc”.

Chứng nhân của Thánh Giá

Dấu hiệu của người mang Thánh giá trong lòng chính là “không xem ai là kẻ thù, nhưng xem tất cả mọi người đều là anh chị em mà Chúa Giê-su đã hiến mạng sống vì họ. Một chứng nhân của thập giá không bám vào những điều sai trái của quá khứ hoặc cứ than thở về hiện tại. Chứng nhân của thập giá không sử dụng những cách lừa dối và quyền lực thế gian: họ không muốn áp đặt bản thân và những gì của họ, nhưng muốn hiến mạng sống của mình cho người khác. Họ không tìm kiếm lợi ích cho riêng mình, để được coi là đạo đức: đây sẽ là một tôn giáo giả hình, không phải là một chứng tá cho Chúa bị đóng đinh. Các chứng nhân của thập giá chỉ có một chiến lược, đó là chiến lược của Thầy: tình yêu thương khiêm nhường. Họ không tìm kiếm những chiến thắng trên thế gian, bởi vì họ biết rằng tình yêu của Đức Ki-tô sinh hoa kết trái trong những biến cố của cuộc sống hàng ngày, đổi mới mọi sự từ bên trong, giống như hạt giống rơi xuống đất, chết đi và sinh nhiều bông hạt”.

“Con có muốn trở nên chứng nhân của Thầy không?”

Theo Đức Thánh Cha, đó là câu hỏi mà từ trên Thánh giá Chúa đang hỏi từng người chúng ta.

Kết thúc bài giảng, Đức Thánh Cha xin Mẹ Maria, người đã thấy cuốn sách thập giá mở rộng nhất và đã làm chứng cho điều này bằng tình yêu thương khiêm nhường, ban ơn để chúng ta hướng đôi mắt tâm hồn về Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Khi đó đức tin của chúng ta sẽ có thể nở hoa trong sự viên mãn của nó; và chứng tá của chúng ta sẽ sinh hoa kết trái.

UserPostedImage

Đức tổng giám mục của giáo phận Prešov cảm ơn Đức Thánh Cha

Cuối cử hành Phụng vụ Thánh Thể, Đức tổng giám mục của giáo phận Prešov của tín hữu Công giáo theo nghi lễ Byzantine, Đức cha Ján Babjak, đã đại diện cộng đoàn cảm ơn Đức Thánh Cha.

Đức cha Ján Bajak cảm ơn Đức Thánh Cha đã viếng thăm các con cái thiêng liêng của ngài, các tín hữu Công giáo nghi lễ Byzantine ở Slovakia. Đức cha nói rằng cộng đoàn sẽ suy tư về lời Chúa thốt ra từ miệng và con tim của Đức Thánh Cha và sẽ khắc sâu vào tâm hồn, để lời Chúa “có thể khơi dậy trong chúng con tình yêu và lòng trung thành lớn hơn nữa đối với Chúa Giêsu Kitô, với Mẹ Đồng Trinh Cực Thánh của Thiên Chúa, với Thập giá của Chúa Giêsu, cũng như đối với Đức Thánh Cha”.

“Thánh Phêrô của Roma” rất được Giáo hội Công giáo Hy Lạp ở Slovakia yêu mến. Do đó, Đức tổng giám mục của Prešov nói với Đức Thánh Cha: “Chúng con cầu nguyện cho ngài và cho hoạt động tông đồ mà ngài thực hiện trên toàn thế giới để củng cố các anh chị em trong đức tin”.

UserPostedImage

Kết thúc cử hành Phụng vụ Thánh Thể, Đức Thánh Cha di chuyển đến chủng viện Košice cách đó 43 km để dùng bữa trưa.

Hồng Thủy
(Vatican News 14.09.2021)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#14952 Posted : Wednesday, September 15, 2021 6:24:09 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Bài giảng của Đức Thánh Cha trong Thánh lễ kính Đức Mẹ Sầu Bi


9/15/2021 9:49:25 PM

Bài giảng của Đức Thánh Cha tại Đền thánh Quốc gia Šaštin, Slovakia, thứ Tư 15/9/2021

UserPostedImage

Trong Đền thờ Giêrusalem, đôi tay Đức Maria đã đưa về phía cụ già Simêon, ông đã đón lấy Giêsu trong vòng tay và nhận ra Người là Đấng Mêsia được sai đến để cứu dân Israel. Trong bối cảnh này, chúng ta chiêm ngắm Đức Maria, Người Mẹ trao ban cho chúng ta người con là Chúa Giêsu. Đó là lý do tại sao chúng ta yêu mến và sùng kính Mẹ. Trong Đền thánh Quốc Gia Šaštín này, người dân Slovakia chạy đến Mẹ với đức tin và lòng sùng kính vì họ biết rằng Mẹ đã trao Chúa Giêsu cho nhân loại. Logo của chuyến Tông Du này mô tả một con đường quanh co nằm bên trong một trái tim được đặt bên dưới Thánh giá: Mẹ Maria là con đường dẫn chúng ta đến với Thánh Tâm Chúa Kitô, Đấng đã hy sinh chính mạng sống vì yêu thương chúng ta.

Dưới ánh sáng của đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe, chúng ta có thể chiêm ngưỡng Đức Maria như một mẫu gương về đức tin. Và chúng ta có thể nhận ra ba đặc tính của đức tin: hành trình, ngôn sứ và lòng trắc ẩn.

Trên hết, đức tin của Mẹ Maria là một đức tin lên đường. Sau khi nghe thiên thần loan báo, thiếu nữ Nazareth, “đã vội vã đi đến miền đồi núi” (Lc 1, 39) để thăm và giúp đỡ người chị họ Elizabeth. Khi được kêu gọi trở thành Mẹ Đấng Cứu Độ, Đức Maria không coi đó là một đặc ân; Mẹ không đánh mất niềm vui đơn sơ khiêm nhường sau cuộc viếng thăm của thiên thần; Mẹ không dừng lại để chiêm ngưỡng chính mình trong bốn bức tường của ngôi nhà. Trái lại, Mẹ đã cảm nghiệm hồng ân lãnh nhận như một sứ vụ phải thực hiện; Mẹ cảm thấy được thúc bách mở cửa đi ra ngoài căn nhà; Mẹ nôn nóng dâng hiến cuộc sống và thân xác như ý Chúa muốn để mọi người được cứu độ. Đó là lý do tại sao Mẹ Maria lên đường. Trong hành trình này, Mẹ đã chọn những điều chưa biết của cuộc hành trình hơn là sự thoải mái của những thói quen hàng ngày; sự mệt nhọc của việc đi đường hơn là sự yên bình trong ngôi nhà; sự mạo hiểm của đức tin được đem ra để trở thành một món quà yêu thương cho người khác hơn là sự an toàn của lòng đạo đức tĩnh tại.

Tin Mừng hôm nay cũng cho chúng ta thấy Mẹ Maria lên đường, hướng về Giêrusalem, nơi cùng với thánh Giuse, Mẹ đã dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ. Và cả cuộc đời Mẹ sẽ là một cuộc hành trình theo sau Con Mẹ, với tư cách là môn đệ đầu tiên của Người, đến đồi Canvê, dưới chân Thánh giá. Mẹ Maria không bao giờ dừng cuộc hành trình.

Đối với anh chị em, người dân Slovakia, Đức Trinh Nữ là một mẫu gương về đức tin: một đức tin luôn bước đi, một đức tin được gợi hứng từ lòng sùng kính đơn sơ và chân thành, một cuộc hành hương liên tục tìm kiếm Chúa. Khi thực hiện cuộc hành trình này, anh chị em phải vượt qua cám dỗ của một đức tin thụ động, vốn hài lòng với nghi lễ hoặc truyền thống cổ xưa. Thay vào đó, anh chị em hãy ra khỏi chính mình, mang theo niềm vui và nỗi buồn trong hành trang, và làm cho cuộc sống trở thành một cuộc hành hương của tình yêu hướng về Thiên Chúa và anh chị em. Cảm ơn vì chứng tá này! Và xin hãy kiên trì bước đi trong hành trình! Luôn luôn! Đừng dừng lại.

Tôi cũng muốn nói thêm một điều. Tôi nói: “Đừng dừng lại”, nhưng khi Giáo hội dừng lại, Giáo hội sẽ bị bệnh; khi các giám mục dừng lại, họ làm cho Giáo hội bị bệnh; khi các linh mục dừng lại, họ làm cho dân Chúa bị bệnh.

Đức tin của Mẹ Maria cũng là một đức tin mang tính ngôn sứ. Bằng chính cuộc sống, thiếu nữ Nazareth là lời ngôn sứ về công trình của Thiên Chúa trong lịch sử, về hành động thương xót của Người làm đảo lộn luận lý của thế giới, nâng cao người khiêm nhường và hạ bệ kẻ kiêu căng Lc (1, 52). Đức Maria là đại diện cho tất cả “người nghèo của Giavê”, những người kêu cầu lên Chúa và chờ đợi sự xuất hiện của Đấng Mêsia. Các ngôn sứ của Israel đã loan báo rằng Mẹ là Thiếu Nữ Sion (Xp 3, 14-18), Đức Trinh Nữ sẽ thụ thai Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Is 7, 14). Là Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Maria là biểu tượng cho ơn gọi của chúng ta: như Mẹ, chúng ta cũng được kêu gọi nên thánh và vô nhiễm trong tình yêu (Ep 1, 4), giống hình ảnh của Chúa Kitô.

Truyền thống ngôn sứ của Israel đạt đến đỉnh cao trong Đức Maria, bởi vì Mẹ cưu mang Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, Chúa Giêsu, Đấng đã hoàn thành trọn vẹn và dứt khoát chương trình của Thiên Chúa. Ông Simeon nói với Đức Maria về Chúa Giêsu: “Con trẻ này làm duyên cớ cho nhiều người Israel vấp ngã hay đứng lên…dấu hiệu cho người đời chống báng” (Lc 2, 34).

Chúng ta đừng bao giờ quên điều này: đức tin không thể bị giảm xuống thành đường làm ngọt cuộc sống. Không thể! Chúa Giêsu là dấu chỉ của sự đối nghịch. Người đến để mang ánh sáng vào nơi tối tăm, đưa bóng tối ra chỗ nhận biết và bắt nó phải phục tùng. Vì lý do này, bóng tối luôn chiến đấu chống lại Người. Ai đón nhận và mở lòng ra với Người thì sẽ được Người làm cho sống lại; ai chối từ Người thì vẫn ở trong bóng tối, và tự huỷ hoại mình. Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Người rằng Chúa đến không phải để mang lại hòa bình nhưng là gươm giáo (Mt 10, 34): thật vậy, Lời Chúa, như gươm hai lưỡi, đi vào cuộc sống chúng ta, tách ánh sáng ra khỏi bóng tối và yêu cầu chúng ta chọn lựa. Trước Chúa Giêsu, chúng ta không thể hâm hẩm, xỏ “chân trong hai chiếc giày”. Không thể như thế. Khi đón nhận Người, có nghĩa là chúng ta để cho Người làm tỏ lộ những mâu thuẫn của chúng ta, các ngẫu tượng và những cám dỗ của chúng ta. Người trở thành sự sống lại của chúng ta, Đấng luôn nâng chúng ta lên khi chúng ta vấp ngã, Người nắm lấy tay và cho phép chúng ta bắt đầu lại. Luôn luôn đứng dậy lại.

Ngày nay, Slovakia cần những ngôn sứ như vậy. Điều này không có nghĩa là trở thành thù địch với thế giới, nhưng là “dấu chỉ của sự đối nghịch” trong thế giới. Các Kitô hữu là người biết thể hiện vẻ đẹp Tin Mừng bằng cuộc sống, là những người dệt nên cuộc đối thoại nơi chiến tranh lạnh làm đông cứng. Các Kitô hữu là những người làm cho đời sống huynh đệ được chiếu sáng ở nơi xã hội đang có sự chia rẽ và thù địch, là những người mang lại hương thơm ngọt ngào của lòng hiếu khách và tình liên đới ở những nơi mà sự ích kỷ cá nhân và tập thể thường chiếm ưu thế; họ là những người bảo vệ và gìn giữ cuộc sống ở những nơi mà văn hóa sự chết ngự trị.

Cuối cùng, Mẹ Maria là Mẹ của lòng trắc ẩn. Đức tin của Mẹ là lòng trắc ẩn. Mẹ tự nhận mình là “nữ tỳ của Chúa” (Lc 1, 38), và là người, với sự ân cần, đã quan tâm để rượu trong tiệc cưới ở Cana không bị thiếu (Ga 2, 1-12), là người đã chia sẻ với Con Mẹ sứ vụ cứu độ, cho đến dưới chân Thánh giá. Tại đồi Canvê, trong nỗi đau tột cùng, Mẹ đã hiểu lời ngôn sứ của cụ già Simêon: “Một lưỡi gươm cũng sẽ đâm thấu tâm hồn của bà” (Lc 2,35). Đau khổ của người Con đang hấp hối, Đấng đã tự gánh lấy tội lỗi và đau khổ của nhân loại, đã xuyên thấu tâm hồn của Mẹ. Chúa Giêsu đau đớn trong thân xác, Con Người của đau khổ, bị biến dạng bởi sự dữ (Is 53,3). Mẹ Maria đau khổ trong linh hồn, là Mẹ cảm thương Mẹ sẽ lau khô những giọt nước mắt chúng ta, sẽ an ủi chúng ta và chỉ cho chúng ta thấy chiến thắng cuối cùng trong Đức Kitô.

Đức Maria, Mẹ Sầu Bi, luôn đứng dưới chân Thánh giá. Mẹ không chạy trốn, hay cố gắng tự cứu mình, hay tìm cách giảm bớt sự đau buồn. Đây là bằng chứng của lòng trắc ẩn thực sự: luôn đứng dưới Thánh giá. Vẫn với khuôn mặt nước mắt nhưng với đức tin, biết rằng nơi Con của Mẹ, Thiên Chúa đã biến đổi đau thương và chiến thắng sự chết.

Và chúng ta cũng vậy, khi nhìn vào Đức Mẹ Sầu Bi, chúng ta hãy mở lòng đón nhận đức tin, để đức tin trở thành lòng trắc ẩn, một đức tin trở thành sự chia sẻ cuộc sống với những ai đang bị tổn thương, đau khổ và buộc phải mang thập giá nặng nề. Anh chị em thân mến, một đức tin không còn trừu tượng, nhưng nhập thể và liên đới với những ai gặp khó khăn. Một đức tin, theo cung cách của Chúa, âm thầm và khiêm hạ xoa dịu nỗi đau của thế giới và tưới mát dòng lịch sử bằng ơn cứu độ.

Anh chị em thân mến, nguyện xin Chúa luôn giữ gìn nơi anh chị em sự ngạc nhiên và lòng biết ơn đối với hồng ân đức tin! Và xin Đức Maria giúp anh chị em có được ân sủng luôn giữ vững đức tin trong hành trình, có hơi thở của ngôn sứ và một đức tin giàu lòng trắc ẩn.

(Vatican News 15.09.2021)

Slovakia: Đức Giáo Hoàng tới Kosice và Presov, gặp gỡ
người Công Giáo Hy Lạp, người Roma, những người trẻ tuổi


Vũ Văn An 14/Sep/2021

Theo hãng tin Zenit, ấn bản tiếng Pháp, vào ngày thứ ba của cuộc Tông du lần thứ 34, ngày 14 tháng 9 năm 2021, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến thăm Kosice và Presov, các thành phố lớn thứ hai và thứ ba của đất nước, cách Bratislava khoảng 300 km về phía đông.

Theo chương trình chính thức, ngài đáp máy bay vào khoảng 8 giờ sáng và hạ cánh xuống Kosice một giờ sau đó, nơi ngài được chào đón bởi Đức Tổng Giám Mục phụ trách những người Công Giáo theo nghi thức Byzantine, Đức Cha Cyril Vasil, cũng như thị trưởng và chính quyền địa phương.

Từ đó, ngài dùng xe hơi để tới Presov, khoảng ba mươi cây số về phía Bắc. Lịch sử của thành phố được đánh dấu một cách đáng chú ý bởi một vụ thảm sát vào năm 1687: 24 người theo đạo Tin lành bị xử tử vì nổi loạn, theo lệnh của Tướng Ý Antonio Carafa, phục vụ cho Đế quốc Rôma Thần thánh. Năm 1995, khi Đức Gioan Phaolô II đến thăm thành phố, ngài đã đọc kinh trước tượng đài được dựng lên để tưởng nhớ họ.

UserPostedImage

Đức Giáo Hoàng Phanxicô cử hành Thánh lễ Byzantine – phụng vụ của Thánh Gioan Kim khẩu - trên sân dạo bộ của cung thể thao "Mestska sportova hala" ở Presov lúc 10:30 sáng. Ở nơi có sức chứa khoảng 53,000 người ngoài trời, có một tấm bảng kỷ niệm chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng người Ba Lan. Phòng tập thể dục liền kề được sử dụng như một trung tâm chích ngừa đại dịch Covid-19.

Sau lễ kỷ niệm, Đức Giáo Hoàng sẽ trở lại Kosice để dùng bữa trưa tại Chủng viện Saint Charles Borromeo, nơi có khoảng năm mươi chủng sinh và là nơi có khoa thần học của Đại học Công Giáo Ruzomberok. Tòa nhà này mở cửa vào năm 1809, bị đóng cửa dưới chế độ cộng sản và được trả lại cho giáo phận vào năm 1992. Đức Gioan Phaolô II đã qua đêm tại đó.

Dịp trên, vị Giáo hoàng người Ba Lan đã phong thánh cho ba linh mục bị binh lính của phái Calvin giết năm 1619. Năm 1657, giám mục của Eger, Đức Cha Benedict Kishdy, thành lập gần nơi họ tử đạo Đại học Kosice đầu tiên, ngày nay là Đại học Pavol Jozef Šafárik, được ủy thác cho Dòng Tên.

Trong số các di tích đáng chú ý của thành phố: nhà thờ Gothic Thánh Elisabeth thế kỷ 14, nhà thờ lớn nhất trong nước, và tháp Saint-Urbain; nhà nguyện Gothic Tổng Lãnh Thiên Thần Michael, Cột Đức Mẹ Vô nhiễm, một bức tượng kiểu baroque dâng kính Đức Trinh Nữ Maria vì đã chấm dứt một trận dịch hạch từ năm 1709 đến năm 1710, và bức tượng của vận động viên chạy marathon để tưởng nhớ Cuộc thi Marathon Hòa bình Quốc tế, lâu đời nhất ở Châu Âu, được tổ chức hàng năm tại Kosice từ năm 1924.

Người Roma và những người trẻ

Cuộc gặp tiếp theo của Đức Giáo Hoàng Phanxicô là cuộc gặp gỡ lúc 4 giờ chiều với cộng đồng Roma ở khu Luník IX. Kể từ năm 1990, khu này của thành phố, nơi có dân số chủ yếu là người Roma - khoảng 4,300 người - đã được hưởng chế độ tự quản. Các vấn đề về cơ sở hạ tầng, nước, khí đốt, hệ thống sưởi, đều đáng được lưu ý ở đó.

UserPostedImage

Các tu sĩ dòng Phanxicô đã thành lập một khu truyền giáo tại khu phố này từ năm 2008, với một “Trung tâm Mục vụ” được khánh thành vào năm 2012 để hội nhập, trợ giúp và truyền giáo cho người Roma. Trung tâm do Cha Peter Besenyei chỉ đạo này bao gồm một phòng tập thể dục, một khu vực để đón tiếp các nhóm, và Nhà thờ “Chúa Kitô Phục sinh”. Các tu sĩ làm công việc giáo dục và giúp công ăn việc làm.

Cuối cùng, cũng tại thị trấn đại học này - thủ đô văn hóa châu Âu năm 2013 - dưới chân dãy núi Slovak Ore, cách biên giới Hungary 20 km, Đức Giáo Hoàng đã gặp gỡ những người trẻ tại sân vận động Lokomotiva với sức chứa 10,000 người. Lịch sử của sân vận động này gắn liền với Câu lạc bộ Lokomotíva Košice, đội bóng quan trọng thứ hai trong nước, nơi đây từng là trụ sở, trước khi trở thành đội MFK Košice.

Cuộc gặp gỡ với những người trẻ tuổi này diễn ra dưới dấu hiệu của Anna Kolesarova, một phụ nữ trẻ người Slovakia bị giết trong Thế chiến thứ hai bởi một người lính Liên Xô vì đã bảo vệ sự trong trắng của cô và được phong chân phước vào năm 2018.

Chuyến trở lại Bratislava của Đức Giáo Hoàng dự kiến vào lúc 7:30 tối.

Đức Thánh Cha thăm Trung Tâm Bác Ái Bê-lem ở Bratislava


9/14/2021 10:27:37 AM

Sau khi ăn trưa tại Tòa Sứ Thần, khoảng 15h45, Đức Thánh Cha Phanxicô di chuyển đến Trung Tâm Thừa Sai Bác Ái Bê-lem.

http://conggiao.info/duc...lem-o-bratislava-d-62618

Trung tâm Thừa sai Bác ái Bê-lem nằm giữa những tòa nhà dân cư cao tầng thuộc quận Petržalka. Ở đây, trong hơn hai mươi năm, cộng đoàn quốc tế của các nữ tu thuộc dòng Mẹ Têrêsa Calcutta đã chăm sóc cho những người vô gia cư, những người nghèo khổ, những người cần giúp đỡ và trên hết là những người bệnh.

Một phần cấu trúc của tòa nhà gồm một tòa nhà nhỏ hai tầng, trước đây từng là trường mẫu giáo, nay được dùng để giường, thức ăn và nhà vệ sinh. Tầng trệt là nơi cung cấp các nhu cầu thiết yếu cũng như phòng cho những ai cần ở lại ngắn ngày. Trên lầu có một phòng dành cho những người nằm viện dài ngày hoặc những người bệnh nặng và bên cạnh là một nhà nguyện dành riêng để sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria. Nhờ những tấm lòng hảo tâm, các nữ tu đã có thể giúp đỡ quần áo và các đồ dùng thiết yếu cho những người vô gia cư đến xin trợ giúp.

Gần Trung tâm, có nhà thờ "Thánh Gia", được Thánh Gioan Phaolô II thánh hiến vào năm 2005. Vào năm 2003, ngài đã phong chân phước cho hai vị tử đạo dưới thời cộng sản. Đó là nữ tu Zdenka Schelingova và Đức Giám mục Công giáo Hy Lạp Vasil Hopko.

Bề trên của “Trung tâm Bê-lem” đã tiếp đón Đức Thánh Cha Phanxicô và ngài đã chào mọi người đang hiện diện tại trung tâm.

UserPostedImage

Ảnh: Tiziana FABI AFP

Ngài nói: “Xin chào anh chị em!”

“Tôi rất vui khi đến thăm anh chị em. Cảm ơn anh chị em đã đón tiếp tôi!

“Và tôi cảm ơn các sơ rất nhiều vì công việc các sơ làm, công việc đón tiếp, giúp đỡ, đồng hành. Cám ơn rất nhiều! Tôi cảm ơn những người mẹ, những người cha đã có mặt ở đây cùng với các cháu bé; và tôi cảm ơn tất cả những người đã có mặt ở đây ngay bây giờ. Và xin Chúa cũng ở với chúng ta: khi chúng ta ở bên nhau. Ngài ở với chúng ta ngay cả khi chúng ta gặp thử thách: Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta, Chúa luôn ở gần chúng ta. Chúng ta có thể thấy Ngài hay chúng ta không thể nhìn thấy Ngài, nhưng Ngài luôn đồng hành với chúng ta trên hành trình của cuộc đời: xin đừng quên điều này, đặc biệt là trong những lúc khó khăn. Cảm ơn anh chị em rất nhiều!”

Sau đó, các sơ đã giới thiệu Đức Thánh Cha một số phòng trong toàn bộ cấu trúc tòa nhà. Trong sân có một ca đoàn thiếu nhi ca hát.

Trước khi chào tạm biệt, Đức Thánh Cha đọc kinh Kính Mừng cùng với mọi người đang hiện diện. Ngài trao tặng một món quà và ban phép lành kết thúc buổi gặp gỡ.

Món quà Đức Thánh Cha trao tặng là một bức tượng nhỏ bằng gốm sứ khắc hình Đức Mẹ với Hài nhi đang ôm một chùm nho. Trong Cựu Ước, những trái nho không chỉ tượng trưng cho niềm vui và tình bạn, mà còn cho Israel, là dân Thiên Chúa. Trong Tân Ước, vườn nho là Thiên Đàng và cây nho là Chúa Giêsu. Rượu nho trong bàn tiệc Thánh Thể trở thành máu của Chúa Giêsu. Rượu nho, hay “máu nho” nói trong tiếng Do Thái là sự hợp nhất của Giáo Hội, được đánh dấu trong một Giao ước Tình Yêu của Chúa Giêsu.

Khi ra về, Đức Thánh Cha có đặt tay và chúc tay cho các em nhỏ và những người bệnh.

Khoảng 16h30, Đức Thánh Cha đi chuyển đến quảng trường Rybné námestie ở Bratislava, cách đó 4km.

(Vatican News 13.09.2021)


Edited by user Wednesday, September 15, 2021 8:19:29 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#14953 Posted : Wednesday, September 15, 2021 6:59:57 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Độc đáo: Đức Thánh Cha cử hành Thánh Lễ Đức Mẹ Sầu Bi
theo Phụng Vụ Byzantine huy hoàng tại Prešov


Thế Giới Nhìn Từ Vatican 14/Sep/2021

UserPostedImage

Lúc 08:10 sáng thứ Ba 14 tháng 9, Đức Thánh Cha đã khởi hành bằng máy bay đến Košice

Lúc 09:00, ngài đến nơi. Sau khi nghỉ ngơi, lúc 10:30, Đức Thánh Cha đã cử hành Phụng Vụ Thánh Thể theo nghi thức Byzantine tại Quảng trường thể thao Mestská ở Prešov

https://vietcatholic.net/News/Html/271037.htm

Trong bài giảng thánh lễ, Đức Thánh Cha nói:

Chúng tôi công bố Chúa Kitô bị đóng đinh... quyền năng của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Thiên Chúa". Thánh Phaolô cho chúng ta biết như thế, nhưng ngài không giấu giếm sự kiện này là, về mặt khôn ngoan của loài người, thập giá xuất hiện như một điều hoàn toàn khác: đó là “tai tiếng”, “ngu xuẩn” (1Cr 1,23-24). Thập giá là một công cụ của sự chết, nhưng nó đã trở thành nguồn sự sống. Đó là một cảnh tượng khiếp đảm, nhưng nó đã tiết lộ cho chúng ta vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao, trong ngày lễ hôm nay, dân Chúa tôn kính thập giá và Phụng vụ cử hành nó. Tin Mừng của Thánh Gioan cầm tay chúng ta và giúp chúng ta đi vào mầu nhiệm này. Chính thánh sử đã hiện diện, đứng dưới chân thập giá. Nhìn chằm chằm vào Chúa Giêsu, treo lơ lửng ở đó, ngài viết: “Người thấy điều này, đã làm chứng” cho nó” (Ga 19:35). Thánh Gioan vừa thấy vừa làm chứng.

Đầu tiên là thấy. Thánh Gioan đã thấy gì khi đứng dưới chân thập giá? Chắc chắn, những gì người khác cũng đã thấy: Chúa Giêsu, một người vô tội và tốt lành, đã bị giết một cách tàn nhẫn giữa hai tên tội phạm. Tuy nhiên, một bất công nữa trong nhiều bất công, nhiều hy sinh đẫm máu vẫn không thay đổi được lịch sử, bằng chứng mới nhất cho thấy dòng biến cố trong thế giới của chúng ta không thay đổi: điều thiện bị gạt sang một bên và điều ác thắng thế và phát triển rực rỡ. Trong mắt người đời, thập giá tượng trưng cho sự thất bại. Chúng ta cũng có thể có nguy cơ không đi quá cái nhìn đầu tiên, hời hợt này; chúng ta cũng có thể không chấp nhận sứ điệp của thập giá cho rằng Thiên Chúa cứu chúng ta bằng cách để mọi điều ác trong thế giới của chúng ta đổ sụp xuống trên Người. Chúng ta có thể không chấp nhận, ngoại trừ có lẽ bằng lời nói, một Thiên Chúa yếu đuối và bị đóng đinh, và thay vào đó, chúng ta thích mơ về một Thiên Chúa quyền năng và đắc thắng. Đây là một cơn cám dỗ rất lớn. Biết bao lần chúng ta khao khát một Kitô giáo của những người chiến thắng, một Kitô giáo đắc thắng, quan trọng và gây ảnh hưởng, nhận được vinh quang và danh dự? Tuy nhiên, một Kitô giáo không có thập giá là một Kitô giáo trần tục, và tự cho thấy mình cằn cỗi, vô sinh.

Trái lại, Thánh Gioan đã nhìn thấy trong thập giá sự hiện diện và công việc của Thiên Chúa. Nơi Chúa Kitô chịu đóng đinh, ngài đã nhận ra vinh quang của Thiên Chúa. Ngài thấy rằng bất chấp bề ngoài, Chúa Giêsu không phải là kẻ thua cuộc, mà là Thiên Chúa, Đấng sẵn lòng hiến thân vì mọi người. Tại sao Người làm điều này? Người có thể cứu mạng sống mình, Người có thể giữ khoảng cách với sự khốn khổ và tàn bạo của lịch sử nhân loại. Thay vào đó, Người đã chọn đi vào lịch sử đó, để đắm mình trong đó. Đó là lý do tại sao Người chọn con đường khó khăn nhất: thập giá. Để không ai trên trái đất nên tuyệt vọng đến mức không thể tìm thấy Người, ngay ở đó, giữa sầu khổ, tăm tối, bị bỏ rơi, tai tiếng về sự khốn khổ và sai lầm của chính họ. Ở đó, ở chính nơi mà chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa không thể hiện diện, thì Người đã đến. Để cứu những người tuyệt vọng, chính Người đã chọn nếm trải sự tuyệt vọng; tự mình gánh lấy nỗi thống khổ cay đắng nhất của chúng ta, Người kêu lên từ thập giá: "Chúa ơi, Chúa ơi, tại sao Chúa lại bỏ rơi con?" (Mt 27:46; Tv 22: 1). Một tiếng kêu cứu rỗi. Nó cứu rỗi vì Thiên Chúa đã nhận lấy cho Người cả kinh nghiệm bị bỏ rơi của chúng ta. Và bây giờ, với Người, chúng ta không còn cô đơn bao giờ nữa.

Làm thế nào chúng ta học được cách nhìn thấy vinh quang trong thập giá? Một số vị thánh dạy chúng ta rằng thập giá giống như một cuốn sách: để biết nó, chúng ta phải mở nó ra và đọc nó. Mua một cuốn sách mà thôi chưa đủ, hãy nhìn nó và đặt nó trên giá sách trong nhà của chúng ta. Điều này cũng đúng đối với thập giá: nó được vẽ hoặc khắc ở khắp mọi nơi trong các nhà thờ của chúng ta. Các thập giá được tìm thấy ở khắp nơi xung quanh chúng ta: trên cổ, trong nhà, trong xe hơi, trong túi. Điều này có ích gì, trừ khi chúng ta dừng lại để nhìn vào Chúa Giêsu bị đóng đinh và mở lòng ra với Người, trừ khi chúng ta để mình bị xúc động bởi những vết thương mà Người phải mang vì chúng ta, trừ khi trái tim chúng ta tràn ngập xúc động và chúng ta khóc trước vị Thiên Chúa bị thương vì yêu thương chúng ta. Trừ khi chúng ta làm điều đó, thập giá vẫn là một cuốn sách chưa đọc tuy tựa đề và tác giả của nó chúng ta đều biết, nó chưa có bất cứ tác động nào đến cuộc sống của chúng ta. Chúng ta đừng giản lược thập giá thành một đối tượng của lòng sùng kính, càng ít thành một biểu tượng chính trị, thành một dấu hiệu của địa vị tôn giáo và xã hội hơn.

Việc chiêm ngưỡng Chúa bị đóng đinh đưa chúng ta đến bước thứ hai: làm chứng. Nếu chúng ta chăm chú nhìn vào Chúa Giêsu, khuôn mặt của Người sẽ được phản chiếu trên chính khuôn mặt của chúng ta: các nét của Người trở thành các nét của chúng ta, tình yêu của Chúa Kitô chiến thắng chúng ta và biến đổi chúng ta. Ở đây tôi nghĩ đến các vị tử đạo trên đất nước này đã làm chứng cho tình yêu của Chúa Kitô trong những thời kỳ khó khăn, khi mọi sự được khuyên phải im lặng, che giấu, không tuyên xưng đức tin. Tuy nhiên, họ không thể - không thể - không thể không làm chứng. Biết bao người quảng đại đã phải chịu đau khổ và chết ở đây tại Slovakia này vì danh Chúa Kitô! Nhân chứng của họ phát sinh từ tình yêu đối với Người, Đấng mà họ đã chiêm ngưỡng từ lâu. Đến mức họ giống như Người cả trong cái chết của họ.

Tôi cũng nghĩ đến thời đại của chúng ta, trong đó không thiếu cơ hội để làm chứng. Ở đây, tạ ơn Chúa, chúng ta không thấy những kẻ bách hại các Kitô hữu, như ở quá nhiều nơi khác trên thế giới. Tuy nhiên, chứng tá của chúng ta có thể bị suy yếu đi bởi tính thế gian và sự tầm thường. Thay vào đó, thập giá đòi hỏi một lời chứng khập khiễng. Vì thập giá không phải là ngọn cờ để vẫy, nhưng là nguồn thuần khiết của một lối sống mới. Lối sống nào? Lối sống của Tin Mừng, lối sống của các Mối phúc. Một nhân chứng biết mang thập giá trong lòng mình, chứ không chỉ trên cổ mình, không xem ai là kẻ thù, nhưng mọi người đều là anh chị em mà Chúa Giêsu đã hiến mạng sống cho. Nhân chứng của thập giá không dừng lại ở những điều sai trái của quá khứ hoặc khư khư than thở về hiện tại. Nhân chứng thập giá không sử dụng những cách thức lừa dối và cao ngạo của thế gian: họ không muốn áp đặt bản thân và lối sống riêng, nhưng hiến mạng sống của mình cho người khác. Họ không tìm kiếm lợi thế cho riêng mình, để được coi là sùng đạo: đấy là thứ tôn giáo giả hình, chứ không phải nhân chứng cho Chúa bị đóng đinh. Các nhân chứng thập giá chỉ có một chiến lược, đó là chiến lược của Thầy: tình yêu khiêm nhường. Họ không tìm chiến thắng ở đây ở dưới này, vì họ biết rằng tình yêu của Chúa Kitô sinh hoa kết trái trong những biến cố của cuộc sống hàng ngày, đổi mới mọi sự từ bên trong, giống như hạt giống rơi xuống đất, chết đi và sinh nhiều hoa trái.

Anh chị em thân mến, anh chị em đã từng thấy các chứng nhân như vậy. Hãy trân trọng ký ức về những người đó, họ đã nuôi dưỡng anh chị em và giúp anh chị em trưởng thành trong đức tin. Những người thấp kém và đơn giản, những người đã cống hiến cuộc đời mình trong yêu thương đến cùng. Đây là những anh hùng của chúng ta, những anh hùng của cuộc sống hàng ngày, và cuộc đời của họ đã thay đổi lịch sử. Các nhân chứng tạo ra những nhân chứng khác, vì họ là những người trao ban sự sống. Đó là cách mà đức tin được loan truyền: không phải bằng quyền lực thế gian mà bằng sự khôn ngoan của thập giá; không phải bằng cơ cấu mà bằng nhân chứng. Hôm nay, Chúa, từ sự im lặng hùng hồn của thập giá, đang hỏi tất cả chúng ta, như Người đang hỏi bạn, và bạn, và bạn và tôi: Các con có muốn làm nhân chứng cho Thầy không?

Đứng cùng với Thánh Gioan trên đồi Canvê là Thánh Mẫu của Thiên Chúa. Không ai thấy sách thập giá rộng mở như ngài, và ngài đã làm chứng cho điều đó bằng tình yêu khiêm nhường. Qua lời chuyển cầu của Mẹ, chúng ta hãy cầu xin ơn biết hướng đôi mắt trái tim ta về Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Khi đó đức tin của chúng ta sẽ có thể nở hoa trong sự viên mãn của nó; và rồi chứng tá của chúng ta sẽ sinh hoa kết trái đầy đủ.

Diễn từ của Đức Thánh Cha cho giới trẻ Slovakia:
hãy ước mơ một cách mạnh mẽ


Thanh Quảng sdb
14/Sep/2021

UserPostedImage

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp gỡ những người trẻ Slovakia tại Sân vận động Košice Lokomotiva và trả lời ba câu hỏi của giới trẻ về tình yêu, tình yêu trang lứa và tình yêu đối với thập giá.

(Tin Vatican - Francesca Merlo)

Biến cố cuối cùng của chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô là cuộc gặp gỡ giới trẻ tại Sân vận động Lokomotiva của thành phố Košice, nơi Chân phước Anna Kolesarova được phong chân phước vào năm 2018.

Đức Thánh Cha Phanxicô bắt đầu bằng cách trả lời ba câu hỏi mà ngài đã được hỏi bởi một số người trẻ hiện diện. Đức Thánh Cha nói: “Cha cố gắng trả lời một số thắc mắc của chúng con…”

Trả lời câu hỏi của Peter và Zuzka về tình yêu giữa hai con người, Đức Thánh Cha lưu ý rằng “giống như tất cả những điều tuyệt vời trong cuộc sống, tình yêu thật tuyệt diệu, nhưng không dễ dàng”. "Đó là ước mơ lớn nhất của chúng ta, mặc dù nó "không dễ dàng cắt nghĩa được". ĐTC nói cách tiếp cận đúng nhất về tình yêu là nhìn nó bằng “đôi mắt mới”, đôi mắt không bị ngoại hình thu hút và không tầm thường hóa tình yêu, bởi vì “tình yêu không chỉ đơn giản là một cảm xúc hay cảm giác... nó là lòng trung thành, là món quà và trách nhiệm."

Đức Thánh Cha giải giải thêm "Chúng ta được sinh ra ở đây không chỉ để làm việc, mà để tạo ra một cái gì đó trong cuộc sống của chúng ta." Ngài kêu gọi những người trẻ hãy dũng mạnh và anh hùng, hãy "mơ ước mà không sợ hãi! Đừng để cuộc sống của các bạn qua đi!”

Đâm rễ sâu

Sau đó, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với những người trẻ đang tụ tập tại Sân vận động Lokomotiva rằng ngài muốn gửi lại cho họ một lời khuyên: “Để tình yêu đơm hoa kết trái, chúng con đừng quên cội nguồn của mình. Ngày nay, thế giới có nguy cơ trồng cây mà không có rễ, vì chúng ta cảm thấy mình luôn phải di chuyển, làm mọi thứ một cách vội vàng”. Thay vào đó, ĐTC giải thích, chúng ta phải luôn rộng mở ra cho người khác.

"Ngày nay, có quá nhiều người gây rối, rất nhiều người sẵn sàng đổ lỗi cho người khác, những kẻ truyền bá tiêu cực, những người khiếu nại chuyên nghiệp", Đức Thánh Cha nói. "Đừng để ý đến họ, vì bi quan và than trách không phải là một Kitô hữu".

Vượt qua chướng ngại vật

Sau đó, ĐTC trả lời câu hỏi của Petra về cách những người trẻ tuổi có thể vượt qua những trở ngại trên con đường đến với lòng thương xót của Chúa, Đức Thánh Cha nói đây cũng là “vấn đề về cách chúng ta nhìn mọi thứ và tìm kiếm những gì thực sự quan trọng”.

ĐTC tự hỏi "nếu cha hỏi tất cả các con những gì các con nghĩ khi đi xưng tội", Cha dám chắc rằng "câu trả lời của các con sẽ là 'tội lỗi của chúng con'". Nhưng tội lỗi không thực sự là trung tâm của sự thú tội, Đức Thánh Cha nói: “Chúng ta không đi Xưng tội để bị trừng phạt và sỉ nhục, nhưng là như những người con chạy tới vòng tay yêu thương của Chúa Cha”.

Đức Thánh Cha xác quyết: "Cha sẽ cho các con một lời khuyên nhỏ, sau mỗi lần xưng tội, hãy ngồi yên trong giây lát để cảm nghiệm sự tha thứ mà các con đã lãnh nhận".

Hãy ôm lấy Thánh giá Chúa

Cuối cùng, Đức Thánh Cha trả lời vấn nạn của Peter và Lenka, làm thế nào để người trẻ có thể được khuyến khích ôm lấy Thánh giá Chúa mà không sợ hãi! "Cái ôm giúp chúng ta vượt qua nỗi sợ hãi!" Đức Thánh Cha nói: "Bất cứ khi nào chúng ta được ôm, chúng ta lấy lại được niềm tin vào bản thân và cuộc sống. Vì vậy, chúng ta hãy để cho Chúa Giêsu ôm chúng ta. Các con hãy ôm lấy Thập giá Chúa Giêsu, hầu kín múc cho chúng con niềm vui của Chúa Giêsu", Đức Thánh Cha nói - "đó cũng là niềm vui, mà Cha muốn để lại cho chúng con".

Diễn từ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô với giới trẻ Slovakia


Vũ Văn An
15/Sep/2021

Tại Sân vận động Lokomotiva (Košice), Thứ ba, ngày 14 tháng 9 năm 2021

Các bạn trẻ thân mến, anh chị em thân mến, dobrý večer! [Chào buổi tối!]

Cha rất vui khi nghe những lời tốt đẹp của Đức Tổng Giám Mục Bernard, các chứng từ và câu hỏi của các con. Các con đã đặt ra ba câu hỏi và cha sẽ cố gắng tìm câu trả lời cho các con.

UserPostedImage

Cha bắt đầu với Peter và Zuzka, từ câu hỏi của các con về tình yêu lứa đôi. Tình yêu là giấc mơ lớn nhất đời người, nhưng nó không phải là giấc mơ rẻ tiền. Nó tốt đẹp, nhưng không dễ dàng, giống như mọi điều tuyệt vời trong cuộc sống. Đó là một giấc mơ, nhưng nó không phải là một giấc mơ dễ dàng giải thích. Cha mượn trộm một câu của các con: "Chúng con cần có đôi mắt hoàn toàn mới, đôi mắt không chỉ nhìn ngoại hình". Thực sự như các con đã nói, cần phải có một đôi mắt mới, một đôi mắt không bị vẻ bề ngoài đánh lừa. Các bạn thân mến, chúng ta đừng tầm thường hóa tình yêu, vì tình yêu không chỉ là tâm tình và cảm xúc, nếu có, thì cũng chỉ là một khởi đầu. Tình yêu không có mọi sự ngay bây giờ, nó không phải là một phần của nền văn hóa vứt bỏ của thời nay. Tình yêu là sự chung thủy, là ơn phúc, là trách nhiệm.

Ngày nay, thực sự độc đáo và cách mạng có nghĩa là nổi loạn chống thứ văn hóa phù du, chính là vượt quá các bản năng nông cạn và các khoái lạc nhất thời, chính là quyết tâm yêu thương suốt đời với cả con người mình. Chúng ta ở đây không phải để qua giờ, mà để biến cuộc sống thành một công việc phải lo toan. Nếu các con nghĩ tới những câu chuyện tuyệt vời mà các con từng đọc trong tiểu thuyết, từng xem trong một số bộ phim không thể nào quên, đã từng nghe trong một số câu chuyện cảm động, các con sẽ thấy, trong những câu chuyện tuyệt vời đó, luôn có hai thành tố: một là tình yêu, hai là phiêu lưu, anh hùng. Chúng luôn đi với nhau. Muốn làm cho cuộc sống trở nên tuyệt vời, cần có cả hai: tình yêu và đức tính anh hùng. Nếu chúng ta nhìn lên Chúa Giêsu, nhìn lên Tượng Chịu Nạn, chúng ta sẽ thấy cả hai điều: tình yêu vô bờ bến và lòng dũng cảm hiến mạng sống cho đến cùng, không nửa chừng. Ở đây, trước mặt chúng ta là Chân phước Anna, một nữ anh thư của tình yêu. Bà nói với chúng ta rằng hãy nhắm các mục tiêu cao cả. Làm ơn, xin đừng để những tháng ngày của cuộc đời trôi qua như những tình tiết trong vở kịch ướt át.

Và khi mơ ước tình yêu, các con đừng tin vào những hiệu ứng ảo đặc biệt của phim ảnh (special effect), nhưng tin rằng mỗi người trong các con đều đặc biệt, mỗi người trong các con. Mỗi người đều là một hồng phúc và có thể biến cuộc sống, cuộc sống của chính mình, thành một hồng phúc. Nhiều người khác, xã hội, những người nghèo đang mong đợi nơi các con. Các con hãy mơ ước vẻ đẹp vượt quá ngoại hình, vượt quá trang điểm, vượt quá xu hướng thời trang. Các con đừng sợ hãi mơ ước thành lập một gia đình, hạ sinh và giáo dục con cái, dành cả cuộc đời để chia sẻ mọi điều với một người khác. Các con đừng xấu hổ về các lỗi lầm và thiếu sót của mình, vì có ai đó ở kia sẵn sàng chào đón và yêu thương các con, các con có thế nào họ yêu các con như vậy. Đấy là tình yêu: yêu người khác như họ vốn là, và điều này thật đẹp! Những giấc mơ của chúng ta cho chúng ta biết cuộc sống chúng ta muốn có. Những giấc mơ lớn không phải là một chiếc xe hơi mạnh mẽ, một bộ áo thời trang hay một kỳ nghỉ táo bạo (transgressive vacation). Các con đừng lắng nghe những người nói với các con về các giấc mơ nhưng thay vào đó lại rao bán cho các con các ảo tưởng. Mơ ước là một điều mà ảo tưởng lại là một điều hoàn toàn khác. Những người rao bán ảo tưởng bằng cách nói về những giấc mơ là những kẻ thao túng hạnh phúc. Chúng ta được tạo dựng vì một niềm vui lớn hơn: mỗi người trong chúng ta đều độc đáo và ở trên thế giới này để cảm thấy được yêu thương trong tính độc đáo của mình và yêu người khác như không ai có thể yêu thay thế mình. Đời sống không phải là một trò chơi, trong đó chúng ta ngồi chờ được gọi. Không, mỗi người là duy nhất trong mắt Chúa. Nên các con đừng bao giờ để mình bị “đồng nhất hóa” hay biến thành một món đồ vô danh trên dây chuyền lắp ráp. Không ai trong chúng ta là “vấn đề tiêu chuẩn”, chúng ta là duy nhất, tự do, và sống động, được kêu gọi sống một câu chuyện tình, chuyện tình với Thiên Chúa, để chấp nhận sự táo bạo thực hiện các lựa chọn cương quyết, để dấn thân vào tính rủi ro tuyệt vời của tình yêu. Nên Cha hỏi các con: các con có tin điều này không? Cha hỏi các con: các con có mơ ước điều này không? [họ trả lời: “Có!”] Các con có chắc không? ["có!] Rất tốt!

Cha muốn cho các con một lời khuyên khác. Để tình yêu đơm hoa kết trái, đừng quên cội nguồn. Và đâu là cội nguồn của các con? Cha mẹ và đặc biệt là ông bà. Hãy lưu ý: ông bà của các con. Các ngài đã chuẩn bị cơ sở cho các con. Hãy tưới tắm gốc rễ, hãy đến với ông bà của các con, điều đó rất tốt đối với các con: hãy hỏi các ngài những câu hỏi, dành thời gian để lắng nghe những câu chuyện của các ngài. Ngày nay, có nguy cơ mất gốc ngày càng lớn, vì chúng ta có khuynh hướng chạy, làm mọi điều một cách vội vàng: những gì chúng ta thấy trên internet có thể đến với chúng ta ngay lập tức tại nhà; chỉ một cú nhấp chuột và mọi người và mọi thứ xuất hiện trên màn hình. Những khuôn mặt này kết cục có thể trở nên quen thuộc hơn những gương mặt của gia đình chúng ta. Bị tràn ngập bởi các thông điệp ảo, chúng ta có nguy cơ đánh mất nguồn gốc thực sự của mình. Cắt đứt khỏi cuộc sống, mơ mộng viển vông, là điều không tốt, đó là cơn cám dỗ của kẻ ác. Thiên Chúa muốn chúng ta được trồng vững chắc trên mặt đất, được kết nối với sự sống; không bao giờ khép kín, nhưng luôn cởi mở đối với mọi người! Bám rễ và cởi mở. Các con có hiểu không? Bám rễ và cởi mở.

Đúng, đúng như thế, nhưng - các con sẽ nói với cha - thế giới nghĩ khác. Người ta nói nhiều về tình yêu, nhưng trên thực tế lại áp dụng một nguyên tắc khác: mỗi người tự nghĩ cho chính mình. Các bạn trẻ thân mến, đừng để mình bị ảnh hưởng bởi điều đó, bởi điều sai trái, bởi điều ác đang hoành hành. Đừng để bản thân bị giam cầm bởi nỗi buồn, bởi sự chán nản cam chịu của những người nói rằng sẽ không có gì thay đổi cả. Nếu các con tin vào điều này, các con sẽ mắc bệnh bi quan. Các con có thấy khuôn mặt của một người trẻ, một người trẻ tuổi bi quan chưa? Các con đã thấy họ có khuôn mặt như thế nào chưa? Một khuôn mặt cay đắng, một khuôn mặt cay đắng. Sự bi quan khiến chúng ta mắc bệnh cay đắng, nó khiến chúng ta già đi ở bên trong. Và các con già đi lúc còn trẻ. Ngày nay có quá nhiều lực lượng gây rối, quá nhiều người chuyên đổ lỗi cho mọi người và mọi thứ, những kẻ khuếch đại tính tiêu cực, những chuyên viên phàn nàn. Các con đừng lắng nghe họ! đừng, vì phàn nàn và bi quan không phải là Kitô hữu, Chúa ghét sự buồn bã và cho mình là nạn nhân. Chúng ta không được dựng nên để gián mặt vào mặt đất, nhưng để nâng cao tầm nhìn của chúng ta lên Thiên đàng, người khác, xã hội.

Và khi chúng ta xuống tinh thần - bởi vì mọi người trong cuộc sống đều có những lúc hơi xuống tinh thần một chút, chúng ta đều có trải nghiệm này - và khi chúng ta xuống tinh thần, chúng ta có thể làm gì? Có một phương thuốc không thể sai lầm giúp chúng ta hồi phục. Đó là những gì con đã nói với chúng ta, Petra ạ: Xưng tội. Các con đã nghe Petra chưa? [“Có!”] Phương thuốc Xưng tội. Các con hỏi Cha: "Làm thế nào một người trẻ có thể vượt qua các trở ngại trên đường đến với lòng thương xót của Chúa?" Đây cũng là một câu hỏi về việc phải nhìn sự vật ra sao, nhìn những điều đáng kể. Nếu Cha hỏi các con: "Các con nghĩ tới điều gì khi đi xưng tội?" - đừng nói lớn điều đó ra -, Cha gần như chắc chắn về câu trả lời: "tới tội". Nhưng - Cha hỏi các con, các con trả lời – các tội có thực sự là trung tâm của việc Xưng tội hay không? [“Không!”] Cha không nghe thấy... [“Không!”] Tốt lắm! Thiên Chúa muốn các con đến gần Người bằng cách nghĩ tới các con, tới tội lỗi của các con hay tới Người? Chúa muốn gì? Các con trả lời đi [tới Người!], Nói to hơn, Cha điếc tai... [“Tới Người!”] Đâu là trung tâm, các tội hay Chúa Cha là Đấng tha thứ mọi tội lỗi? Chúa Cha. Chúng ta không đi xưng tội như những người bị trừng phạt phải hạ mình xuống, nhưng như những đứa con chạy đến để đón nhận vòng tay của Chúa Cha. Và Chúa Cha nâng chúng ta lên trong mọi hoàn cảnh, Người tha thứ cho chúng ta mọi tội lỗi. Các con hãy nghe điều này cho rõ: Thiên Chúa luôn tha thứ! Các con có hiểu chưa? Thiên Chúa luôn tha thứ!

Cha cho các con một lời khuyên nhỏ: sau mỗi lần Xưng tội, hãy ở lại một vài giây phút để nhớ lại ơn tha thứ mà các con đã nhận được. Hãy giữ sự bình an đó trong trái tim các con, sự tự do mà các con cảm thấy ở bên trong. Không phải tội lỗi, là thứ không còn nữa, mà là sự tha thứ được Thiên Chúa ban cho các con, sự âu yếm của Thiên Chúa Cha. Các con hãy giữ điều đó, đừng để nó bị cướp mất. Và lần sau khi các con đi xưng tội, hãy nhớ điều này: Tôi sắp lại nhận được cái ôm đã giúp tôi rất nhiều. Tôi không đi đến một quan tòa để giải quyết các tài khoản, tôi đến với Chúa Giêsu, người yêu thương tôi và chữa lành cho tôi. Bây giờ, cha cảm thấy muốn đưa ra một số lời khuyên cho các linh mục: Cha muốn nói với các linh mục rằng các ngài nên cảm thấy mình đang thay mặt Thiên Chúa Cha, Đấng luôn tha thứ và bao dung và chào đón. Chúng ta dành cho Chúa vị trí thứ nhất trong việc xưng tội. Nếu Thiên Chúa, nếu Người là nhân vật chủ đạo, mọi sự đều trở nên đẹp đẽ và việc xưng tội trở thành Bí tích của niềm vui. Vâng, của niềm vui: không phải của sợ hãi và phán xét, nhưng là của niềm vui. Và điều quan trọng là các linh mục phải có lòng thương xót. Không bao giờ tò mò, không bao giờ tra vấn, nhưng, xin làm ơn, hãy để các ngài thành anh em biết trao ban ơn tha thứ của Chúa Cha, các ngài hãy là những người anh em đồng hành trong vòng tay Chúa Cha này.

Nhưng ai đó có thể nói: "Dù sao con vẫn xấu hổ, con không thể vượt qua sự xấu hổ của việc đi xưng tội". Không có vấn đề, đó là một điều tốt! Biết xấu hổ trong cuộc sống đôi khi lại tốt cho các con. Nếu các con xấu hổ, có nghĩa là các con không chấp nhận những gì các con đã làm. Xấu hổ là một dấu hiệu tốt, nhưng cũng giống như bất cứ dấu hiệu nào, nó yêu cầu phải tiến xa hơn. Đừng là tù nhân của sự xấu hổ, vì Thiên Chúa không bao giờ xấu hổ về các con. Người yêu các con ngay ở đó, ở chỗ các con đang xấu hổ về chính mình. Và Người luôn yêu các con. Cha nói với các con một điều không có trong bản văn nguyên thủy: Ở quê Cha, những kẻ trơ trẽn làm mọi điều sai trái, chúng tôi gọi họ là "đồ vô liêm sỉ".

Và một điều nghi ngờ cuối cùng: "Nhưng thưa Cha, con không thể tha thứ cho chính mình, nên cả Thiên Chúa cũng không thể tha thứ cho con, vì con sẽ luôn rơi vào những tội lỗi tương tự". Nhưng - nghe này – Thiên Chúa có bao giờ bị xúc phạm đâu? Người có bị xúc phạm khi các con đến xin tha thứ không? Không bao giờ. Chúa đau khổ khi chúng ta nghĩ Người không thể tha thứ cho chúng ta, vì điều đó chẳng khác nào nói với Người: “Tình yêu của Chúa không đủ mạnh!”. Cha dám nói điều ấy mới tồi tệ! Khi nói với Người rằng "Tình yêu của Chúa không đủ mạnh!". Thay vào đó, Thiên Chúa vui mừng khi tha thứ cho chúng ta, mọi lúc. Khi lượm chúng ta lên, Người tin tưởng chúng ta như thuở ban đầu, Người không bao giờ nản lòng cả. Chính ta mới nản lòng, Người thì không. Người không thấy tội nhân để dán nhãn, nhưng thấy những đứa con để yêu thương. Người không thấy những người làm sai, nhưng những đứa con yêu quý; có thể bị thương, và lúc đó thậm chí Người còn có lòng trắc ẩn và sự dịu dàng hơn nữa. Và mỗi khi chúng ta đi xưng tội – các con đừng bao giờ quên - đều có tiệc mừng vui trên Thiên đàng. Mong có cả điều đó trên trái đất!

Cuối cùng, Peter và Lenka ạ, các con đã trải qua thập giá trong cuộc đời. Cảm ơn chứng từ của các con. Các con hỏi làm thế nào để "khuyến khích giới trẻ đừng sợ hãi khi ôm lấy thập giá". Ôm: đó là một động từ tốt đẹp! Ôm giúp vượt qua nỗi sợ hãi. Khi được ôm, chúng ta lấy lại niềm tin vào bản thân và cuộc sống. Vì vậy, chúng ta hãy để cho mình được Chúa Giêsu ôm ấp. Bởi vì khi chúng ta ôm lấy Chúa Giêsu, chúng ta ôm lấy hy vọng. Thập giá không thể được ôm một mình; đau đớn tự nó không cứu được bất cứ ai. Chính tình yêu đã biến đổi nỗi đau. Vì vậy, với Chúa Giêsu, chúng ta hãy ôm lấy thập giá, không bao giờ ôm một mình! Nếu các con ôm lấy Chúa Giêsu, niềm vui sẽ được tái sinh. Và niềm vui của Chúa Giêsu, ngay trong đau đớn, được biến đổi thành bình an. Các bạn trẻ thân mến, các bạn trẻ thân mến ơi, cha cầu chúc cho các con niềm vui này, mạnh mẽ hơn bất cứ điều gì khác. Cha muốn các con đưa nó đến các bạn bè của các con. Không phải các bài giảng, mà là niềm vui. Các con hãy mang lại niềm vui! Không phải lời nói, mà là nụ cười, tình huynh đệ gần gũi. Cha cảm ơn các con đã lắng nghe Cha và Cha xin các con một điều cuối cùng: đừng quên cầu nguyện cho Cha. Ďakujem! [Cảm ơn!]

Xin mọi người hãy đứng lên và cầu nguyện với Thiên Chúa là Đấng yêu thương chúng ta, chúng ta hãy cầu nguyện với Cha của chúng ta: "Lạy Cha chúng con..." [bằng tiếng Slovak]

[Ban phước lành]

  • Bài nguyên thủy dựa vào bản tiếng Ý, nay được sửa đổi sau khi tham chiếu Bản tiếng Anh do Tòa Thánh cung cấp

    Edited by user Wednesday, September 15, 2021 7:13:01 PM(UTC)  | Reason: Not specified

  • Chỉ trong một phút giây hoài niệm
    Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

    hvln

    hongvulannhi  
    #14954 Posted : Wednesday, September 15, 2021 7:28:02 PM(UTC)
    hongvulannhi

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 3/18/2011(UTC)
    Posts: 32,704

    Thanks: 2503 times
    Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
    Chúa quan phòng, may mắn vừa mỉm cười với
    Đức Thánh Cha Phanxicô. Nhận định của John Allen


    Thế Giới Nhìn Từ Vatican 15/Sep/2021

    UserPostedImage

    Cơ hội bằng vàng của Đức Thánh Cha để tháo ngòi nổ trong căng thẳng với Do Thái Giáo sau lời bình luận về Kinh Torah

    John Allen, ký giả kỳ cựu chuyên về Vatican của tờ Crux, có bài bình luận nhan đề “Pope gets lucky as trip offers unplanned chance to reassure Jews”, nghĩa là “Đức Thánh Cha may mắn khi chuyến tông du mang đến cơ hội ngoài dự liệu để trấn an người Do Thái.”

    https://vietcatholic.net/News/Html/271048.htm

    Mở đầu bài viết, John Allen cho biết như sau:

    Ở trường đại học, tôi có một giáo sư lịch sử là người khăng khăng cho rằng điểm tối chính yếu trong môn lịch sử của ông là nó không chấp nhận sự may mắn vô tình như một lời giải thích. Vị giáo sư ấy nói rằng ông đã từng muốn viết một bài nghiên cứu về việc Meade đã may mắn như thế nào trước Lee tại Gettysburg, nhưng ông ấy được người ta cho biết điều đó là không thể được vì làm như thế thì có khác gì thừa nhận rằng các nhà sử học không thể giải thích được mọi thứ.

    Tuy nhiên, dù những nhà thông thái có thích điều đó hay không đi nữa, thì không nghi ngờ gì về việc Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp những may mắn trong vài ngày qua về mối quan hệ của Giáo Hội với người Do Thái.

    Vào cuối tháng 7, khi lịch trình cho chuyến công du từ ngày 12 đến 15 tháng 9 của Giáo hoàng đến Hung Gia Lợi và Slovakia được công bố, không có cách nào để biết nó sẽ xảy ra sau mối quan hệ rạn nứt với người Do Thái gây ra bởi những bình luận về Torah mà Đức Thánh Cha Phanxicô đưa ra vào ngày 11 tháng 8, cũng không thể biết ngài sẽ đến Hung Gia Lợi chỉ 48 giờ sau khi phụ tá hàng đầu của ngài về quan hệ với người Do Thái buộc phải gửi một vài bức thư cho các giáo sĩ Do Thái để cố gắng dập tắt ngọn lửa.

    Tuy nhiên, sự đúng lúc đã được chứng minh là rất có lợi cho Đức Phanxicô. Hai lần trong vài ngày gần đây, ngài đã tham gia các phiên họp đã được lên lịch trước đó với các nhà lãnh đạo Do Thái, một lần ở Hung Gia Lợi vào hôm Chúa Nhật và một lần nữa vào ngày hôm nay ở Slovakia, và dù ngài không trực tiếp giải quyết tranh cãi về bài hùng biện của mình từ tháng 8, ngài đã có thể sử dụng cả hai phiên họp để nhắc nhở người Do Thái về mong muốn mạnh mẽ về tình huynh đệ và sự phản đối quyết liệt của ngài đối với chủ nghĩa bài Do Thái đương thời.

    Tại Quảng trường Rybné námestie, Bratislava, Đức Thánh Cha nói:

    Anh chị em thân mến,

    Chúc anh chị em một buổi tối tốt đẹp! Tôi cảm ơn anh chị em vì những lời chào đón tốt đẹp của anh chị em và những chứng từ mà anh chị em đã cung cấp. Tôi đã đến như một người hành hương, đến thăm nơi này và xúc động vì nó. Quảng trường này là một nơi rất có ý nghĩa cho cộng đồng của anh chị em. Nó giữ cho ký ức về một lịch sử phong phú luôn sống động. Trong nhiều thế kỷ, nó là một phần của khu Do Thái. Tại đây, giáo sĩ Do Thái nổi tiếng Chatam Sofer đã lao khổ. Ở đây có một hội đường Do Thái đứng cạnh Nhà thờ Chính tòa Đăng quang. Như chúng ta đã nghe, khung cảnh kiến trúc nói lên sự chung sống hòa bình giữa hai cộng đồng, một biểu tượng khác thường và đầy gợi hình, và một dấu hiệu nổi bật của sự hợp nhất nhân danh Thiên Chúa của các tổ phụ chúng ta. Ở đây, giống như rất nhiều vị trong số các ngài, tôi cũng cảm thấy ý muốn được “cởi giầy” ở một nơi được chúc phúc bởi tình huynh đệ nhân loại nhân danh Đấng Tối Cao.

    Tuy nhiên, trong thời gian sau đó, danh thánh Thiên Chúa đã bị ô nhục: trong Thế Chiến thứ hai, trong cơn thù hận điên cuồng, hơn một trăm nghìn người Do Thái Slovakia đã bị giết. Trong một cố gắng nhằm xóa bỏ mọi dấu vết của cộng đồng, nguyện đường Do Thái đã bị triệt hạ. Có lời chép: “Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng” (Xh 20: 7). Danh Thiên Chúa, chính Chúa, bị phạm thượng bất cứ khi nào phẩm giá độc đáo và khác biệt của con người, được tạo dựng theo hình ảnh của Người, bị vi phạm. Ở đây, tại nơi này, Danh của Thiên Chúa đã bị làm nhục, vì hình thức phạm thượng tồi tệ nhất là lợi dụng nó cho mục đích riêng của chúng ta, từ chối tôn trọng và yêu thương người khác. Ở đây, khi suy gẫm về lịch sử của dân tộc Do Thái bị đánh dấu bởi cuộc lăng nhục bi thảm này với Đấng Tối Cao, chúng ta cảm thấy xấu hổ về việc Danh khôn tả của Người đã thường xuyên bị sử dụng xiết bao cho những hành vi phi nhân tính không thể nào diễn tả được! Biết bao kẻ áp bức từng nói: “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”; nhưng chính chúng là những kẻ không ở với Thiên Chúa!

    Anh chị em thân mến, lịch sử của anh chị em là lịch sử của chúng tôi, các đau khổ của anh chị em là các đau khổ của chúng tôi. Đối với một số anh chị em, Đài tưởng niệm Diệt chủng này là nơi duy nhất mà anh chị em có thể tôn vinh ký ức của những người thân yêu của mình. Tôi tham gia với anh chị em trong việc này. Chữ “zechor” - “Tưởng niệm!” - được ghi bằng tiếng Do Thái trên Đài tưởng niệm này. Tưởng niệm không thể và không được nhường chỗ cho sự lãng quên, vì sẽ không có bình minh lâu dài của tình huynh đệ, trừ khi, trước nhất, chúng ta phải cùng nhau xua tan bóng đêm. Đối với cả chúng ta, câu hỏi của nhà tiên tri vẫn vang vọng: “ Này người canh gác, đêm đến đâu rồi?” (Is 21:11). Bây giờ là lúc không được làm lu mờ hình ảnh của Thiên Chúa sáng ngời trong nhân tính. Chúng ta hãy giúp đỡ lẫn nhau trong nỗ lực này. Vì trong thời đại của chúng ta, rất nhiều ngẫu thần trống rỗng và giả dối làm ô danh Danh Đấng Tối Cao: ngẫu thần quyền lực và tiền bạc vượt trội hơn phẩm giá con người; một tinh thần thờ ơ nhìn đi phía khác; và các hình thức thao túng lạm dụng tôn giáo để phục vụ quyền lực hoặc cách khác giản lược nó xuống mức không còn liên quan chi nữa. Nhưng cả quên đi quá khứ, sự ngu dốt cũng sẵn sàng biện minh cho bất cứ điều gì, giận dữ và hận thù. Tôi nhắc lại: chúng ta hãy đoàn kết lên án mọi bạo lực và mọi hình thức bài Do Thái, và làm việc để bảo đảm rằng hình ảnh của Thiên Chúa, hiện diện trong nhân tính mà Người đã tạo dựng, sẽ không bao giờ bị xúc phạm.

    Anh chị em thân mến, Quảng trường này cũng là nơi ánh sáng hy vọng tỏa sáng. Mỗi năm, anh chị em đến đây nhân dịp lễ Hanukkah để thắp ngọn đèn đầu tiên lên cây đèn nhiều nhánh (menorah). Bóng tối được xua tan bởi thông điệp nói rằng sự hủy diệt và cái chết không có lời cuối cùng, mà đúng hơn sự đổi mới và sự sống. Mặc dù nguyện đường Do Thái trên địa điểm này đã bị phá bỏ, nhưng cộng đồng Do Thái vẫn hiện diện. Một cộng đồng sống động và cởi mở đối với đối thoại. Ở nơi này, lịch sử của chúng ta lại gặp nhau. Ở đây, chúng ta hãy cùng nhau khẳng định trước mặt Thiên Chúa rằng chúng ta sẵn lòng kiên trì trên con đường sáp lại gần nhau và thân hữu.

    Tôi có những kỷ niệm sống động về cuộc gặp năm 2017 của tôi tại Rome với đại diện của các cộng đồng Do Thái và Kitô giáo của anh chị em. Tôi vui mừng nói rằng sau đó một Ủy ban đối thoại với Giáo Hội Công Giáo đã được thiết lập và anh chị em đã cùng nhau xuất bản một số văn kiện quan trọng. Quả là tốt đẹp khi chia sẻ và truyền bá những điều hợp nhất chúng ta. Và quả là tốt đẹp khi tiến bước, trong sự thật và trung thực, dọc theo con đường huynh đệ nhằm thanh tẩy ký ức, chữa lành các vết thương trong quá khứ và tưởng nhớ những gì tốt đẹp đã nhận được và dâng tặng. Theo sách Talmud, bất cứ ai tiêu diệt một cá nhân sẽ hủy diệt cả thế giới, trong khi bất cứ ai cứu một cá nhân sẽ cứu cả thế giới. Mọi cá nhân đều quan trọng và những gì anh chị em đang làm qua các cuộc trao đổi quan trọng của mình đều rất quan trọng. Tôi cảm ơn anh chị em vì những cánh cửa anh chị em đã mở ra cả hai phía.

    Thế giới của chúng ta cần những cánh cửa rộng mở. Chúng là những dấu hiệu của phước lành cho nhân loại. Thiên Chúa phán cùng Tổ phụ Ápraham: “Nhờ ngươi mà mọi gia đình trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12: 3). Đây là một chủ đề lặp đi lặp lại xuyên suốt cuộc đời các Tổ phụ (xem St 18:18; 22:18; 26: 4). Đối với Giacóp, tức Israel, Thiên Chúa phán: “Dòng dõi ngươi sẽ giống như bụi đất, và các ngươi sẽ lan ra nước ngoài tới tận phương tây và phương đông, phương bắc và phương nam; và từ chính ngươi và dòng dõi của ngươi, tất cả các gia đình trên mặt đất được chúc phúc” (St 28:14). Ở đây trên lãnh thổ Slovakia này, một lãnh thổ của gặp gỡ giữa đông và tây, bắc và nam, xin cho gia đình con cái Israel tiếp tục phát huy ơn gọi này, lời triệu tập trở thành dấu hiệu chúc phúc cho tất cả mọi gia đình trên mặt đất. Phước lành của Đấng Tối Cao được tuôn đổ trên chúng ta, bất cứ khi nào Người thấy một gia đình của anh chị em tôn trọng, yêu thương nhau và cùng nhau làm việc. Cầu xin Đấng toàn năng chúc phúc cho anh chị em, để giữa tất cả những bất hòa đang làm ô uế thế giới của chúng ta, anh chị em có thể cùng nhau luôn là nhân chứng của hòa bình. Shalom!

    Khả thể vừa xảy ra Phép lạ Thánh Thể ở quê hương
    Đức Thánh Cha. Tuyên bố của giáo phận Morón, Argentina

    Thế Giới Nhìn Từ Vatican 13/Sep/2021

    UserPostedImage

    1. Phải chăng đã xảy ra Phép lạ Thánh Thể ở Á Căn Đình?

    Tuyên bố của Giáo xứ St. Vincent de Paul

    Các giáo dân tại Giáo xứ St. Vincent de Paul ở Hurlingham, Buenos Aires, Á Căn Đình cho rằng sau Thánh lễ ngày 30/8 một cục máu đông hình thành trên một bánh thánh.

    Giáo xứ cho biết hai người đàn ông đang dọn dẹp nhà thờ cho biết đã thấy các bánh thánh rơi trên sàn nhà. Vị linh mục đã hướng dẫn họ đặt các bánh này vào một chiếc ly và để chúng tan ra. Những người đàn ông báo cáo rằng nước đã chuyển sang màu máu và các cục máu đông hình thành trên các bánh thánh.

    https://vietcatholic.net/News/Html/271014.htm

    Nội dung bản tin của giáo xứ như sau: “ Phép lạ này xảy ra tại giáo xứ St. Vincent de Paul vào ngày 30 tháng 8. Một số bánh thánh rơi xuống sàn, và hai người đàn ông phụ trách dọn dẹp giáo xứ đã thông báo cho linh mục. Ngài ra lệnh đặt những bánh này vào một cái ly, đổ nước vào cho đến khi các bánh thánh tan ra hết”.

    “ Ngày hôm sau, 31 tháng 8, họ lại dọn dẹp giáo xứ. Họ tìm một kính lúp để quan sát cho rõ và không thể tin vào những gì mắt mình nhìn thấy.

    Nước có màu máu, và vào lúc 3 giờ chiều, nó trở nên đặc hơn hình thành một cục máu đông. Vào lúc 6 giờ chiều, phép lạ đã hoàn tất.”

    “Vị linh mục đã giao phép lạ cho Đức Giám Mục giáo phận Morón”.

    Tuyên bố của giáo phận Morón

    Kính thưa quý vị và anh chị em,

    Giáo phận Morón ở Buenos Aires sau đó đã ra thông báo làm rõ vụ việc. Cha Martín Bernal, phát ngôn viên giáo phận cho biết cha xứ đã không truyền phép các bánh thánh và vụ việc có lẽ “không phải là một phép lạ Thánh Thể”.

    Tuy nhiên, Giám mục Morón Jorge Vázquez cho biết “để mọi người yên tâm”, ngài bắt đầu “một cuộc điều tra và phân tích những bánh thánh nói trên”.

    Đây là toàn bộ thông cáo báo chí của Giáo phận Morón

    “Đối diện với các tuyên bố khác nhau về một phép lạ Thánh Thể được cho là đã xảy ra vào ngày 31 tháng 8 năm nay, Đức Cha Jorge Vázquuz, Giám mục của Morón, khẳng định qua lời chứng của linh mục đã cử hành Thánh lễ ngày hôm đó rằng điều này không phải là một phép lạ Thánh Thể, vì các bánh thánh mà các bản ghi âm và các bản văn đề cập đến chưa hề được thánh hiến bởi bất kỳ linh mục nào, nhưng đã bị làm rớt trước khi được thánh hiến.

    Các bánh thánh này được giữ trong một túi nhựa, và sau đó được cho vào nước để làm tan ra, như quy định thường lệ trong những trường hợp như thế này.

    Tuy nhiên, để mọi người yên tâm, Đức Cha đã bắt đầu một cuộc điều tra thích ứng và việc phân tích các bánh thánh nói trên sẽ được thực hiện trong phòng thí nghiệm.”
    Source:Church POPEucharistic Miracle in Argentina? Diocese Issues Statement About Alleged Blood Clots on Hosts

    2. Slovakia đã thay đổi sâu sắc kể từ chuyến thăm lần trước của Giáo hoàng, nhận định của một vị Giám Mục

    Theo một giám mục địa phương, khi Đức Thánh Cha Phanxicô đến thăm Slovakia vào Chúa Nhật, ngài sẽ thấy một đất nước đã thay đổi rất nhiều kể từ lần cuối cùng một vị giáo hoàng đặt chân đến đất nước này.

    Đức Cha Jozef Haľko, Giám Mục Phụ Tá của tổng giáo phận Bratislava, nói rằng “bầu không khí xung quanh Giáo Hội” đã thay đổi kể từ khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến thăm vào năm 2003, trong chuyến công du thứ ba của ngài đến quốc gia trung tâm Âu Châu này.

    “Chuyến thăm Slovakia của Đức Thánh Cha Phanxicô phải được xem xét trong bối cảnh chuyến tông du của Thánh Gioan Phaolô II,” vị giám mục 57 tuổi nói với CNA.

    “Ngay trong thời cộng sản, trước năm 1989, một bản kiến nghị lớn đã được đưa ra yêu cầu mời giáo hoàng đến Slovakia. Mật vụ cộng sản đã bóp nghẹt tiếng nói này của người dân, thậm chí bắt bớ những người đứng ra tổ chức thu thập chữ ký”.

    “Tuy nhiên, họ vẫn không thể ngăn chặn phong trào phổ biến này. Bằng cách này hay cách khác, các bức thư đã đến được với Đức Gioan-Phaolô II. Đức Giáo Hoàng Ba Lan đã rất cảm động vì điều đó. Vì điều này, ngài đã đến thăm chúng tôi ba lần”.

    Đức Giáo Hoàng Ba Lan đến thăm Slovakia lần đầu tiên vào năm 1990, bốn tháng sau khi Bức màn sắt sụp đổ, khi Slovakia vẫn còn là một phần của Tiệp Khắc. Ngài đã đến Praha và Bratislava, thủ đô của Slovakia kể từ khi nước này trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1993.

    Năm 1995, Đức Gioan Phaolô II đã đến thăm Bratislava, Nitra, Šaštín, Košice, Prešov, Spišská Kapitula, Levoča, Poprad, và Dãy núi Tatra, nơi tạo thành biên giới tự nhiên giữa Slovakia và quê hương Ba Lan của Đức Giáo Hoàng.

    Năm 2003, Đức Gioan Phaolô II đã đến Banská Bystrica, Rožňava và Bratislava.

    “Các thế hệ lớn tuổi giữ một ký ức mạnh mẽ về chuyến tông du này,” Đức Cha Haľko nói.

    Ngài giải thích rằng trong 25 năm sau đó, Slovakia đã thay đổi sâu sắc.

    “Vào những năm 1990, dân chúng có sự nhiệt tình sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ. Sự nhiệt tình này cũng liên quan đến Giáo hội, được coi là cơ quan chính thức duy nhất chống lại chế độ cộng sản.”

    Nhưng thế hệ mới “không nhìn nhận mọi thứ theo cách đó, Giáo hội không còn được coi là những gì Giáo Hội đã là trong thời cộng sản. Bầu không khí xung quanh Giáo hội đã thay đổi. “

    Đức Cha Haľko, được Đức Bênêđíctô XVI phong làm giám mục vào năm 2012, cho biết rất khó để đánh giá liệu có nhiều hay ít sự tin tưởng vào Giáo hội ngày nay. Nhưng ngài gợi ý rằng sự sụt giảm ơn gọi là một chỉ dấu mạnh mẽ, mặc dù nó là một phần của xu hướng Âu Châu rộng lớn hơn.

    “Không thể phủ nhận việc thế tục hóa. Nó mạnh mẽ. Nó đi sâu hơn nhiều vào tâm lý, vào ý thức, vào vô thức, qua mạng xã hội và các phương tiện truyền thông”.

    Mặc dù chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ, một số vết sẹo vẫn còn. Và mặc dù nhận thức về Giáo hội đã thay đổi, nhưng ký ức về những gì Giáo hội đã làm phải được duy trì.

    “Trong thời cộng sản, các linh mục vẫn đứng thẳng lưng, không thỏa hiệp. Hành vi của các ngài phải có tác động ngày nay. Đối mặt với các xu hướng tư tưởng và tự do mới, chúng ta phải chống lại chúng bằng cách dựa trên tấm gương của những người trung tín với Giáo hội trong thời kỳ khó khăn.”

    “Lời kêu gọi lớn nhất bây giờ là phải dựa trên sự thật và có thể hiểu được đối với con người hiện đại, mà không làm tan loãng sự thật Phúc Âm. Lời chứng của chúng ta phải nói về Nước Chúa mỗi ngày”.

    Đức Cha Haľko hy vọng rằng chuyến thăm từ ngày 12 đến 15 tháng 9 của Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ giúp vực dậy tinh thần này.

    Nói về thế hệ trẻ Công Giáo ở Slovakia, ngài nói: “Ít nhiều có những nhóm thanh niên tự phát cầu nguyện, ca hát, những người cùng nhau trải qua kỳ nghỉ”.

    Ngài nói: “Đó là một di sản từ thời kỳ cộng sản khi một số người đã tổ chức các phong trào trong vòng quen biết”. Ngài giải thích rằng các nhóm khoảng 15 người quen biết nhau, được hỗ trợ bởi các linh mục bí mật, bao gồm cả Hồng Y người Slovakia Ján Chryzostom Korec.

    “Điều này cho thấy những người trẻ có một tiềm năng tinh thần rất lớn. Động lực này mang lại hy vọng cho tương lai”.
    Source:Catholic News AgencyCatholic bishop: Slovakia has changed profoundly since last papal visit

    3. Đức Hồng Y người Nigeria nói: Không nên đón nhận Thánh Thể một cách bất xứng.

    Các linh mục có nhiệm vụ nhắc nhở người Công Giáo không được rước Thánh Thể trong tình trạng đang mắc tội trọng và phải làm cho việc xưng tội được dễ dàng, một Hồng Y người Nigeria cho biết tại Đại hội Thánh Thể Quốc tế hôm thứ Năm.

    “Giáo lý của Giáo Hội vẫn luôn cho rằng bất cứ ai biết mình đang ở trong tình trạng tội lỗi nghiêm trọng khiến họ xa cách với tình yêu thương của Thiên Chúa, thì không nên tiến lên rước lễ đơn giản chỉ vì mọi người đều rước lễ”, Đức Hồng Y John Onaiyekan cho biết trong một buổi dạy giáo lý được phát trực tiếp tại thủ đô Budapest của Hung Gia Lợi vào ngày 9 tháng 9.

    “Trước hết anh ta phải tận dụng bí tích hòa giải để giao hòa với Thiên Chúa qua việc xưng tội”.

    “Nhưng thật không may, những gì chúng ta thấy ngày nay là một dòng người đông đảo rước lễ trong Thánh lễ, và có vẻ như họ không thực sự bận tâm về việc liệu họ có ở trong trạng thái tâm linh phù hợp để rước lễ hay không”.

    “Các mục tử có nhiệm vụ nhắc nhở các tín hữu về điều này, nhưng đừng đưa ra những lời phóng đại không cần thiết. Nhiệm vụ của các mục tử cũng là làm sao để tín hữu có thể xưng tội dễ dàng”.

    Đức Hồng Y Onaiyekan giữ chức tổng giám mục của Abuja từ năm 1994 cho đến năm 2019, khi Đức Thánh Cha Phanxicô chấp nhận cho ngài nghỉ hưu ở tuổi 75. Ngài đã giảng một bài giáo lý dài một giờ về giáo lý Công Giáo liên quan đến Bí tích Thánh Thể tại Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 52 diễn ra ở Hung Gia Lợi từ ngày 5 đến 12 tháng 9.

    Vị Hồng Y 77 tuổi khuyến nghị các linh mục hãy giảng về việc rước lễ xứng đáng để mọi người biết khi nào họ ở trong tình huống bất thường và “sẽ điều chỉnh hành vi của mình mà không phải lâm vào cảnh bị từ chối Rước lễ một cách công khai”.

    “Có một cuộc tranh luận đang diễn ra ở một số quốc gia về việc liệu một chính trị gia vì lý do chính trị đã bỏ phiếu cho một đạo luật trái đạo đức thì người ấy có nên bị cấm Rước lễ hay không”

    “Ngay cả trong một quốc gia thế tục, bỏ phiếu cho một đạo luật vô luân có thể trở thành đồng phạm của tội ác. Thành ra, chúng ta đang đối diện với một quyết định luân lý khiến người ấy không phù hợp với việc rước lễ”.

    “Nhưng theo quan điểm mục vụ, không rõ là liệu một người như vậy khi thực sự hiện diện trong dòng người tiến lên rước lễ, thì chúng ta có nên công khai từ chối cho người ấy Rước lễ hay không, xét rằng làm thế sẽ gây ra một sự náo động và tai tiếng lớn. Cả Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinô đều đề xuất một sự thận trọng trong việc đương đầu với những trường hợp như vậy”.

    Vị Hồng Y người Phi Châu nói thêm rằng “một chính trị gia Công Giáo không đồng ý công khai với Giáo hội của mình về vấn đề đạo đức thì tốt nhất là nên tránh đừng cố tình kích động những tranh cãi xung quanh Bí tích Thánh Thể”.

    Đức Hồng Y Onaiyekan nói rằng với tư cách là một giám mục, ngài đã cố gắng hết sức để khuyến khích các chính trị gia Công Giáo “luôn có lập trường rõ ràng và phản đối bất kỳ luật nào trái với luật Chúa”.

    “Nếu vì lý do chính trị, anh ta không thể ngăn chặn một đạo luật trái đạo đức, thì ít nhất anh ta phải được ghi nhận là đã phản đối nó”

    “Một tình huống gần đây đã tạo ra rất nhiều cuộc thảo luận liên quan đến trách nhiệm của các chính trị gia Công Giáo phải đề cao luật của Giáo Hội trong các lựa chọn và quyết định chính trị của họ, đặc biệt là liên quan đến tội ác nghiêm trọng phá thai.”

    “Quan điểm của Giáo Hội Công Giáo kiên quyết nhấn mạnh rằng phá thai là giết chết những đứa trẻ vô tội chưa chào đời. Điều đó vẫn luôn là như vậy. Bất kỳ người Công Giáo nào phạm tội phá thai, hoặc hợp tác trong việc phá thai, phải biết rằng mình đã phạm tội giết người và không nên tiến lên Rước lễ, trừ khi và cho đến khi đã đi xưng tội”.

    “Không quá khó để trở lại với Chúa, ngay cả khi đã làm một điều như vậy. Vấn đề là thay vì coi đó là một tội lỗi, người ta lại tự hào về những gì họ đã làm”.

    Theo Đức Hồng Y Onaiyekan, câu hỏi liệu một chính trị gia Công Giáo có nhất thiết phải bỏ phiếu chống lại bất kỳ những dự luật cho phép phá thai hoặc hành động trái đạo đức hay không là “tế nhị và có nhiều vấn đề hơn. “

    “Vấn đề quan trọng ở đây là rất thường xuyên, trong lĩnh vực chính trị đảng phái, Giáo hội cần phải cẩn thận để không lôi kéo Thánh Thể vào các cuộc tranh cãi chính trị, kẻo gây ra nhiều thiệt hại hơn là chúng ta cố gắng tránh né.”

    Đức Hồng Y Onaiyekan đã là giám mục trong 38 năm và trước đây từng là chủ tịch của hội đồng giám mục Công Giáo Nigeria.

    Ngài nói rằng kinh nghiệm sống bên cạnh những người Hồi giáo ở Nigeria, những người rất quyết liệt muốn áp đặt luật Sharia đã dạy “những bài học hữu ích về cách đừng áp đặt luật tôn giáo của một cộng đồng tín ngưỡng lên một quốc gia đa tôn giáo”.

    “Tôi ước mình có thời gian để nói về Nigeria, và về những gì Chúa đang làm ở giữa chúng ta, nhưng đó không phải là nhiệm vụ của tôi trong buổi sáng nay,” ngài nhấn mạnh và lưu ý rằng ngài được yêu cầu nói về giáo lý Công Giáo liên quan đến Bí tích Thánh Thể.

    “Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta được kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chúng ta có một sự kết hợp mật thiết với Ba Ngôi Chí Thánh. Qua Bí tích Thánh Thể, Chúa không chỉ đến với chúng ta mà Chúa sống trong chúng ta và chúng ta ở trong Người”.

    “Trước hết, chúng ta có thể nói rằng, nói đúng ra, không ai đáng được rước lễ cả. Tất cả chúng ta đều là những người tội lỗi trước mặt Chúa. Đó là lý do tại sao khi bắt đầu Thánh lễ, chúng ta đọc Lời xưng thú – ‘Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng’ - chúng ta phải làm điều đó một cách chân thành. Nó không chỉ là một hình thức”.

    “Chúng ta nên cảm tạ Thiên Chúa vì đã cho chúng ta kết hợp với Người, và khiến chúng ta xứng đáng được cử hành Thánh Thể với Người, nhờ lòng thương xót của Người”.

    Edited by user Wednesday, September 15, 2021 7:50:04 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    Chỉ trong một phút giây hoài niệm
    Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

    hvln

    hongvulannhi  
    #14955 Posted : Wednesday, September 15, 2021 7:40:34 PM(UTC)
    hongvulannhi

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 3/18/2011(UTC)
    Posts: 32,704

    Thanks: 2503 times
    Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
    Đức Thánh Cha Phanxicô cám ơn Đức Maria về những thành quả
    của chuyến tông du đến Budapest và Slovakia


    Thanh Quảng sdb
    15/Sep/2021

    UserPostedImage

    Đức Thánh Cha Phanxicô đã trở về Vatican sau chuyến tông du tới Budapest và Slovakia, Ngài đã ghé vào Vương cung thánh đường Đức Bà Cả để cảm ơn sự che chở phù trì của Đức Mẹ.

    (Tin Vatican - Devin Watkins)

    Theo truyền thống trước và sau các chuyến tông du, ĐTC luôn ghé vào Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả trước và sau mỗi chuyến tông du để cầu xin sự bảo vệ chở che của Đức Mẹ, trên đường ra sân bay cũng như lúc trở về lại Vatican.

    Theo Văn phòng Báo chí Tòa thánh, Đức Thánh Cha đã cầu nguyện một lúc trước bàn thờ Đức Maria cứu dân thành Roma.

    ĐTC cũng dâng lên Mẹ một bó hoa dưới chân Mẹ để tỏ lòng biết ơn.

    Bức ảnh Đức Mẹ là "Sự cứu rỗi của dân thành La Mã" được đặt trong nhà nguyện của Bá tước Borghese trong Vương cung thánh đường.

    Theo tương truyền thì bức ảnh này đã có ở Rome dưới triều đại Thánh Giáo hoàng Gregoriô Cả, vào khoảng năm 590 sau Công nguyên, mặc dù nguồn gốc của bức ảnh có lẽ còn lâu đời hơn nữa.

    Nữ tổng thống và nội các chào từ biệt Đức Thánh Cha
    với lễ nghi quốc khách. Chuyến bay Alitalia sau cùng


    Thế Giới Nhìn Từ Vatican 15/Sep/2021

    UserPostedImage

    Chuyến tông du thứ 34 của Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết thúc vào hôm thứ Tư với việc cử hành Thánh lễ tại Đền thờ Quốc gia Đức Mẹ Sầu Bi ở Šaštín, sau đó ngài đã khởi hành đến Sân bay Quốc tế Bratislava.

    https://vietcatholic.net/News/Html/271066.htm

    Trong chuyến viếng thăm nước ngoài kéo dài 4 ngày này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến thăm Budapest, Hung Gia Lợi để dự Thánh lễ bế mạc Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 52, trước khi bay đến Slovakia.

    Trong ba ngày quay cuồng ở Slovakia, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với mọi người hãy kiên trì với đức tin, đồng thời tự mình nhìn thấy một Giáo hội của lòng bác ái, và một Giáo hội thở bằng “hai lá phổi”, ý muốn nói Giáo Hội Tây phương và Giáo Hội Đông phương

    Khi Đức Giáo Hoàng đến Slovakia vào Chúa Nhật này, các biểu ngữ chào mừng ngài có nội dung “Viva Papa Francesco”, nghĩa là “Đức Giáo Hoàng Phanxicô muôn năm”.

    Khi ngài khởi hành vào hôm thứ Tư, sau khi cử hành Thánh lễ tại Đền thờ Quốc gia ở Šaštín, các biểu ngữ đã được thay thế bằng “Cảm ơn Đức Thánh Cha”.

    Chuyến thăm này là một tấm thảm của nhiều sự kiện quan trọng: Việc cử hành Phụng vụ Thánh Byzantine và Thánh lễ tại Šaštín đã thể hiện các giá trị Kitô giáo đã ăn sâu vào xã hội ở đây qua nhiều thế kỷ và tiếp tục cho đến ngày nay.

    Chuyến thăm cũng là dịp để Đức Thánh Cha Phanxicô nêu bật tầm quan trọng của sự hiệp nhất và tình huynh đệ trong cuộc họp đại kết và cuộc gặp gỡ với cộng đồng Do Thái.

    Nhưng có lẽ hai sự kiện đã chiếm được trái tim của Kitô Giáo, và tinh thần bác ái trong hành động, là chuyến thăm Trung tâm Bethlehem ở Petržalka và đến Cộng đồng Roma tại Lunik IX.

    Hầu hết những người có mặt tại Lunik IX hôm thứ Ba đã chứng kiến một cộng đoàn đã toàn lực chào đón Đức Giáo Hoàng trong bầu không khí vui vẻ, được hướng dẫn trong lời cầu nguyện bởi các Salêdiêng của Don Bosco.

    Khi Đức Thánh Cha Phanxicô đến quận Košice này, mọi người đã bày tỏ hy vọng rằng chuyến thăm này sẽ mang lại kết quả thực sự cho cộng đồng ở đây.

    Slovakia là một đất nước vẫn luôn thấm nhuần đức tin, nhưng giống như bất kỳ loài thực vật nào, nếu không được chăm bón, nó sẽ chết. Giáo hội ở đất nước này nhận thức rõ rằng chủ nghĩa thế tục đã đến trước ngưỡng cửa của nhiều quốc gia Âu Châu cũng đang gõ cửa ở đây. Vì vậy, đối với các giám mục Slovakia, rời mắt khỏi trái bóng không phải là một lựa chọn.

    Trong chuyến tông du Slovakia, Đức Giáo Hoàng đã ban một nguồn năng lượng dồi dào cho các tín hữu; Không nơi nào điều đó được nhìn thấy nhiều hơn tại cuộc gặp gỡ với những người trẻ tuổi tại Sân vận động Lokomotiva ở Košice, nơi Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói với họ, “Để tình yêu đơm hoa kết trái, đừng quên cội nguồn của mình”.

    Trước khi lên đường trở về Rôma vào hôm thứ Tư, Đức Giáo Hoàng đã rời đất nước với một thông điệp: Ngài nói với họ rằng đức tin là một cuộc hành trình “được truyền cảm hứng bởi một lòng sùng kính đơn sơ và chân thành”; và kêu gọi họ kiên trì với lòng trắc ẩn và lòng biết ơn.

    Người phát ngôn của Hội đồng Giám mục Slovakia, Cha Martin Kramara, phản ánh về chuyến thăm Tông đồ vừa kết thúc của Đức Thánh Cha Phanxicô tới Slovakia, nêu bật niềm vui của các tín hữu của đất nước và sự khích lệ mà sự hiện diện của Đức Thánh Cha mang lại.

    Suy ngẫm về chuyến thăm vừa kết thúc của Đức Giáo Hoàng tới đất nước, Cha Martin Kramara, phát ngôn nhân của Hội đồng Giám mục Công Giáo Slovakia, bày tỏ sự vui mừng của người dân Slovakia.

    “Chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha đến Slovakia đã để lại cho chúng tôi những cảm xúc, niềm vui tuyệt vời cũng như nhiều tác nhân kích thích rất đẹp để suy tư. Chúa đã ban phước cho chúng tôi với thời tiết tuyệt vời và vì vậy Đức Thánh Cha đã có thể tiếp đón hàng chục ngàn người hành hương”.

    Trong chuyến thăm, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến thăm ba giáo tỉnh ở Slovakia. Hai giáo tỉnh Latinh, Košice và Bratislava, và giáo tỉnh Prešov, nơi có Tòa Công Giáo Đông phương theo nghi thức Byzantine.

    Bất chấp những hậu quả do đại dịch Covid-19, Cha Kramara lưu ý rằng khoảng 60,000 tín hữu đã có mặt trong Thánh lễ do Đức Thánh Cha cử hành tại Šaštín hôm thứ Tư.

    Đức Thánh Cha đã gặp gỡ một số nhóm trong chuyến viếng thăm Tông Tòa, bao gồm hàng giáo sĩ của Slovakia.

    Cha Kramara nhớ lại rằng những lời động viên của Đức Giáo Hoàng “rất phong phú”, đặc biệt là trong bài diễn văn của ngài với các giám mục, linh mục và những người được thánh hiến.

    Vị linh mục nói rằng Đức Thánh Cha đã thúc giục họ “hãy sống một đức tin không cứng nhắc, nhưng luôn chuyển động. Một đức tin đi ra ngoài để gặp gỡ, mang tính tiên tri, không tập trung vào những con số và biểu hiện của quyền lực, nhưng tin tưởng, ngay cả trong những điều nhỏ nhặt.

    Cha Kramara nói thêm rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã khuyến khích họ hơn nữa trong bước nhảy vọt về đức tin, nhấn mạnh rằng họ “làm chứng xác thực cho Tin Mừng và không bao giờ rơi vào ích kỷ và hời hợt”.

    “Cảm ơn Đức Thánh Cha, cảm ơn rất nhiều”, Cha Kramara nói. “Và chúng tôi sẽ không quên cầu nguyện cho Đức Thánh Cha. Xin hãy cầu nguyện cho Slovakia!”

    Sau thánh lễ tại Đền thờ Quốc gia Đức Mẹ Sầu Bi ở Šaštín, là thánh lễ cuối cùng của Đức Giáo Hoàng trong cuộc hành trình, ngài nói với các tín hữu ở Slovakia, rằng “Đã đến lúc tôi phải rời khỏi đất nước của anh chị em. Trong buổi cử hành Thánh Thể này, tôi tạ ơn Thiên Chúa đã cho phép tôi đến giữa anh chị em và kết thúc cuộc hành hương của tôi trong vòng tay nồng nhiệt của dân tộc anh chị em, cùng nhau cử hành một đại lễ vừa là một ngày lễ tôn giáo và vừa là một ngày quốc lễ trọng đại Bổn mạng của anh chị em, Đức Mẹ Đồng trinh Sầu Bi.

    Thưa các Giám mục, tôi xin gửi đến các chư huynh đệ lời cảm ơn chân thành về tất cả sự chuẩn bị và sự chào đón của các anh em. Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Tổng thống Cộng hòa và các cơ quan dân sự. Và tôi biết ơn tất cả những ai, cách này cách khác, đã hợp tác trong cuộc hành hương này, trên hết là lời cầu nguyện của họ.

    Tôi mang anh chị em trong trái tim tôi. Ďakujem všetkým! [Cảm ơn tất cả!]”

    Tại sân bay quốc tế Bratislava, Đức Thánh Cha Phanxicô đã được chào đón tại sân bay bởi Tổng thống Cộng hòa và các cơ quan dân sự, trước khi cất cánh về Rôma trên chuyến bay Alitalia cuối cùng của Giáo hoàng trước khi công ty đóng cửa.

    Chuyến bay của Giáo hoàng hạ cánh tại sân bay Fiumicino của Rome lúc 3:30 chiều, giờ địa phương. Chuyến bay kéo dài 90 phút đánh dấu lần cuối cùng Đức Thánh Cha Phanxicô bay với hãng hàng không Alitalia. Hãng hàng không quốc gia đang gặp khó khăn sẽ được thay thế vào tháng tới bằng một hãng hàng không mới có tên Italia Trasporto Aereo.


    Chỉ trong một phút giây hoài niệm
    Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

    hvln

    Hoàng Nam  
    #14956 Posted : Friday, September 17, 2021 8:33:44 AM(UTC)
    Hoàng Nam

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/12/2011(UTC)
    Posts: 6,082

    Thanks: 778 times
    Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

    Những Bài Học Cho Hoa Kỳ Qua Cuộc Chiến 20 Năm
    Ở Afghanistan


    September 16, 2021
    Cali Today News

    UserPostedImage

    Nhận định của Đô Đốc James Stavridis, cựu tư lệnh bộ chỉ huy quân sự Liên Minh Bắc Đại Tây Dương – NATO- . Ông đang là Phó Chủ Nhiệm nhóm Carlyle Group đặc trách nghiên cứu về tình hình thế giới.

    Giai đoạn kết thúc của một cuộc chiến thường đau đớn. Trong cả một quá trình dài, xuyên qua vài chính quyển khác nhau, công luận Mỹ đã trở nên mệt mỏi vì cuộc chiến ở Afghanistan , và họ chỉ muốn một điều đơn giản là phải chấm dứt cuộc chiến ở đây. Chính quyền của Tổng thống Biden quyết định tháo gỡ lớp băng của vết thương, song tiếc thay việc tháo băng đó làm cho máu chảy đầm đìa. Chúng ta chứng kiến danh dự của người Mỹ bị băng huyết, cũng như cái chết tức tưởi của ước mơ, của hy vọng mà nhiều người Afghan mong chờ, đặc biệt là phụ nữ và các em bé gái của nước này.

    Vì đâu xảy ra nông nỗi đó? Mời các bạn nghe tôi chia sẻ hành trình của cá nhân tôi liên quan đến chiến tranh ở Afghanistan .

    Cuộc chiến tranh ở Afghanistan bắt đầu từ ngày 11 tháng Chín năm 2001, lúc đó tôi vừa được vinh thăng lên cấp tướng, đô đốc một sao. Ngôi sao mạ vàng mới tinh lấp lánh trên bộ quân phục màu xanh biển. Văn phòng làm việc của tôi đặt ở góc phía ngoài xa của Ngũ Giác Đài,tên là “E-ring”, xuyên qua một hành lang dài, tôi có thể trông thấy chiếc phản lực cơ Boeing 757 đâm vào tòa nhà qua khung cửa sổ lớn của căn phòng. Mũi của chiếc máy bay American Airlines, Flight # 77, đâm vào tầng một của tòa nhà, trong lúc tôi đang đứng ở tầng lầu 4 chỉ cách khoảng 150 feet, và tôi đã thoát chết.

    Khói và lửa bao trùm nguyên cả một góc của Ngũ Giác Đài, trong đó có văn phòng làm việc của tôi, tôi chạy vội xuống cầu thang bộ và phóng ra ngoài sân cỏ. Tôi làm mọi cách để tự cứu lấy mình, và tôi chỉ bị thương nhẹ khi nhân viên cấp cứu đến. Điều khiến tôi nhớ mãi trong ngày hôm đó là tôi cảm thấy bực tức vì trong vài chục năm của đời binh nghiệp, tôi đã sống sót qua nhiều lần nguy hiểm, thế mà ngày hôm đó tôi lại suýt chết ngay tại bin đinh an toàn nhất thế giới.

    Vài tuần sau, tôi được giao trách nhiệm lãnh đạo một đơn vị ưu tú của Hải Quân, tên là “Deep Blue” phụ trách việc thảo ra chiến lược, và những cuộc hành quân chiến thuật để sử dụng khả năng của Hải Quân trong “Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố.”. Sau một năm công tác ở đây, tôi được thuyên chuyển đi công tác trên biển. Tôi được bổ nhiệm làm tư lệnh hàng không mẫu hạm nguyên tửU.S.S Enterprise thực hiện những cuộc hành quân ở Mỏm Sừng Phi Châu, sau đó ở cả hai nơi Afghanistan và Iraq . Một thời gian sau, tôi trở thành phụ tá đặc biệt cho Bộ trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld, cuối cùng thì trở thành Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Quân Sự khối NATO có trách nhiệm về chiến lược với cuộc chiến tranh ở Afghanistan.

    Do đó, tôi đã can dự sâu đậm với cuộc chiến tranh có cái tên đáng tiếc là “Forever Wars” “Cuộc Chiến Kéo Dài Không Có Ngày Kết Thúc”, bắt đầu từ năm 2001 ở Afghanistan, rồi chuyển sang cuộc phiêu lưu sai lầm ở Iraq, đến ngày tôi nghỉ hưu, ra khỏi binh chủng Hải Quân vào năm 2013 với chức vụ Tư Lệnh Quân Sự ở khối NATO. Mọi lực lượng quân sự của Hoa Kỳ đều đã thay đổi qua kinh nghiệm chiến đấu từ hai cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq . Tôi đã chứng kiến với sự buồn bã trong cuộc rút lui hoảng loạn, vô trật tự của những thường dân Mỹ, của các nhà ngoại giao, và lính Mỹ ra khỏi Afghanistan khi thủ đô Kabul bị rơi vào tay Taliban

    Tất cả những sự kiện trên đây có nghĩa như thế nào, và đâu là bài học mà giới quân sự Hoa Kỳ rút tỉa được qua cuộc chiến tranh kéo dài này?

    Hơn 3,000 lính Hoa Kỳ và đồng minh bị chết, hàng chục ngàn người bị thương tật nặng, và hàng ngàn tỉ đô la đã đổ vào đây- đấy là chưa nói đến hàng trăm ngàn dân Afghan bị giết hay bị thương.

    Trong một chừng mực nào đó, chúng ta có thể nói rằng mọi cuộc chiến tranh đều là sự phí phạm về thời gian, tiền của, và quan trọng nhất là máu đổ thịt rơi. Nhưng tôi tin rằng những quân nhân đi tham chiến ở Afghanistan có thể ngẩng đầu cao trong hãnh diện và nói rằng: Chúng tôi được gửi đi chiến đấu ở Afghanistan để đi tìm những kẻ đã tấn công vào nước Mỹ trong vụ 9/11 và đem chúng nó ra trước công lý để xét xử, cũng như để ngăn ngừa một vụ tấn công khủng bố khác xảy ra một lần nữa trên lãnh thổ Hoa Kỳ khi không gian chưa được quản lý chặt chẽ. Trong suốt 20 năm, chúng ta đã làm được nhiệm vụ ngăn chặn được tấn công khủng bố. Những người lính Mỹ anh hùng đã đứng từ bên kia thế giới để bảo vệ cho đất nước của mình.

    Người dân Afghan cũng thu hoạch được nhiều lợi lạc. Một phần là nhờ vào chiến lược chống nổi dậy của chúng ta. Hàng triệu người từ nay không còn mù chữ, họ biết đọc, biết viết, nhiều người trong đó là các em gái và phụ nữ. Tuổi thọ của người dân tăng lên rất nhiều, và tỉ lệ chết khi còn nhỏ cũng giảm đi đáng kể. Việc tiếp cận với thông tin, khoa học kỹ thuật mới, hệ thống hạ tầng cơ sở, và y tế thực sự được cải tiến, mặc dù những điều này đang có nguy cơ bị hư hao khi Taliban nắm quyền cai trị.

    Tôi đã từng ký 2,026 lá thư phân ưu để gửi đến gia đình những người lính tử trận khi tôi làm việc ở NATO. Trong đó có tới gần một phần ba được gửi đến gia đình thân nhân ở Âu châu, và những nước đồng minh. Tôi nói với gia đình những tử sĩ rằng con em của họ đã hy sinh trong sứ mệnh cao quý bảo vệ cho hơn 50 quốc gia khác nhau. Nhưng có lẽ tôi nên thêm rằng lẽ ra chúng ta phải làm tốt hơn, ít người hy sinh, và tốn ít tiền hơn, biết dùng những kinh nghiệm học hỏi qua chiến tranh Việt Nam và chiên tranh ở Afghanistan lần trước. Chúng ta lẽ ra phải biết cách truyền đạt, giải thích tốt hơn về mục đích, về lý tưởng dân chúng Mỹ muốn đạt tới, và muốn giúp người dân ở nước chúng ta đang chiến đấu. Lẽ ra chúng ta phải biết quản lý tài nguyên của chúng ta, biết ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng, và phí phạm tài nguyên tốt hơn. Lẽ ra chúng ta nên từ bỏ thái độ kiêu căng, tự mãn ra ngoài trước khi đến giúp nước bạn.

    Tất cả là những hình ảnh khá rõ ràng khi chúng ta hồi tưởng nhớ lại cuộc chiến đấu của tổ tiên người dân Afghan chống lại đế quốc Nga Xô Viết hồi thế kỷ 20, đế quốc Anh hồi thế kỷ 19, chống lại đại đế Alexander ngày xa xưa. Giống như ở Việt Nam, quân đội Mỹ không hề bị đánh bại ngoài chiến trường, như một sĩ quan quân đội Bắc Việt từng nói với sĩ quan Mỹ sau chiến tranh: “Điều đó rất đúng, nhưng không liên quan gì đến việc thua trận của người Mỹ.”.. Tất cả những sự kiện trên đều có thể tiên đoán trước được trong quá trình diễn tiến của chiến tranh. Câu hỏi chính được đặt ra là vì sao chúng ta không học được bài học của lịch sử?

    Cuộc thảo luận xoay quanh chủ đề: “Ai đã thua trong cuộc chiến tranh Afghanistan ?” mới chỉ là bước đầu. Giống như trường hợp chiến tranh Việt Nam , có vô số điều hoài nghi được thảo luận mãi không hết. Lịch sử sẽ san định, phân loại rõ những điều nghi vấn này.

    Đối với tôi, điều khiến tôi quan tâm hơn cả là chúng ta đã rút tỉa được những bài học nào trong cuộc chiến vừa qua?

    Trước hết là chúng ta phải học hỏi về lịch sử, văn hóa, và ngôn ngữ của bất cứ quốc gia nào mà chúng ta muốn can thiệp vào – dù là can thiệp bằng quân sự hay bằng kinh tế. Ở Afghanistan , chúng ta đã thất bại vì không hiểu rõ những khía cạnh này, và thái độ kiêu ngạo, tự mãn của chúng ta đã khiến chúng ta phạm sai lầm này. Thực vậy, chiến tranh chống nổi dậy thường là một trò chơi kéo dài rất lâu, và chúng ta đã không để ý đến khía cạnh này, nó cần phải có sự kiên nhẫn. Nó không cho phép thái độ tự tin quá đáng, thiếu đảm bảo. Hơn thế nữa, tệ nạn tham nhũng là căn bệnh phổ biến ở khắp mọi tầng lớp trong chính phủ Afghanistan , tạo ra sự bất ổn trong chính phủ.

    Yếu tố thứ hai là sự thay đổi liên tục thành phần quân đội Mỹ đi công tác ở Afghanistan , nó gây thiệt hại trầm trọng. Thông thường lính Mỹ trong binh chủng Lục Quân hay Thủy Quân Lục Chiến đi công tác mỗi đợt kéo dài khoảng 1 năm, còn bên Hải quân đợt công tác kéo dài sáu tháng, bên Không quân thời gian công tác còn ngắn hơn nữa. Lực lượng đặc biệt thay đổi công tác vài tháng một lần. Tất cả những thay đổi trong hạn kỳ công tác như trên là điều cần làm xét theo khía cạnh nhân sự, nhưng nếu đứng về phương diện kinh nghiệm, và tính liên tục của công tác, thì đây là việc làm đưa đến hậu quả rất xấu.

    Điều thứ ba cần nói đến là chúng ta đã không ứng dụng hiệu quả kỹ thuật tân tiến nhanh chóng kịp thời trong cuộc chiến tranh mới này. Chúng ta đã mất thì giờ quá lâu để tìm cách chống lại loại bom nổ cải tiến, không kịp thời có hệ thống tình báo bằng vệ tinh để có kiểm soát chiến trường từ xa, cần phải đơn giản hóa thủ tục gửi không quân đến trợ lực trong thế đất hiểm nghèo của nước Afghanistan, thiết lập hệ thống truyền tin viễn thông hữu hiệu giữa các lực lượng đồng minh. Hồi tưởng lại, chúng ta đã thiếu sót không huấn luyện binh lính quốc gia Afghan chiến đấu nhanh nhẹn, gọn nhẹ, không lệ thuộc vào tiếp liệu, không quân yểm trợ, và kỹ thuật tình báo tinh vi, giống như lính của Taliban.

    Sau cùng, chúng ta đã không tạo được sự ủng hộ ổn định tại mặt trận ở quê nhà, trên nước Mỹ, để có thể chịu đựng thử thách lâu dài. Dưới thời tổng thống Obama, khi số thương vong của lính Mỹ giảm bớt đa số lính Mỹ được đem về nước, cuộc chiến ở Afghanistan không còn được dân chúng và giới truyền thông lưu ý đến nữa. Qua nhiều chính quyền khác nhau, chúng ta đã thiếu sót không giải thích cho công luận hiểu rõ vì sao chúng ta có mặt ở Afghanistan , Hoa Kỳ và các nước đồng minh có những lợi lạc gì khi tham chiến ở quốc gia xa xôi này. Cơ hội rút hết lính Mỹ về nước được dùng làm chủ đề trong cuộc vận động tranh cử tổng thống của ông Trump, mặc dù thật ra đã có tới 90% trong số 100,000 lính Mỹ được đem về nước trước đó. Đề tài đó thực ra là đề tài rỗng tuếch, không có thực chất, nhưng nghe ra vẫn hấp dẫn đối với dư luận quần chúng. Khi ông Biden lên nắm chính quyền chỉ còn có 2,500 lính Mỹ ở Afghanistan , kể ra như thế cũng là rất ít. Nhưng về mặt chính trị, sự kiên nhẫn không còn nữa.

    Thật khó để có thể xây dựng một hoàn cảnh tốt, tích cực. Nếu may mắn lắm, tình hình ở nước này dưới sự cai trị của Taliban mới tránh được thảm họa ghê gớm. Nhưng chúng ta không thể trông chờ vào vận may.

    Trong nhiều năm, Hoa Kỳ phần nào đã tỏ ra lạc quan quá đáng, đến mức gần như ảo tưởng khi thực hiện những kế hoạch Hoa Kỳ mong muốn. Đáng buồn ở chỗ Chiến Dịch Operation Ending Freedom – Rút quân, và di tản thường dân- đã không kết thúc được chiến tranh hay đem lại tự do cho người dân Afghan. Kết quả của cuộc chiến tranh kéo dài này là nó giúp cho Hoa Kỳ không bị khủng bố tấn công trong hai thập niên. Nhưng rõ ràng là chúng ta cần phải học lại những bài học của lịch sử và ứng dụng nó vào những trường hợp cần thiệp trong tương lai, nếu công chúng ta sẽ gặp phải những thất bại khi chúng ta kết thúc sự can thiệp quan trọng mới ở ngoại quốc.

    Bài nhận định của Đô đốc James Stavridis trên báo TIME ngày 13/9/2021

    Nguyễn Minh Tâm dịch

    Edited by user Friday, September 17, 2021 8:35:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    Hoàng Nam  
    #14957 Posted : Friday, September 17, 2021 8:45:46 AM(UTC)
    Hoàng Nam

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/12/2011(UTC)
    Posts: 6,082

    Thanks: 778 times
    Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)
    Chuyển Đổi Tận Gốc Nước Mỹ


    Nguyễn Thị Bé Bảy

    September 13, 2021

    Nhiều người hẳn chưa quên lời tuyên bố của Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Chuck Schumer vào thời điểm bầu cử đặc biệt 2 Thượng Nghị Sĩ của tiểu bang Georgia được tổ chức từ 3/11/2020 và chung kết vào ngày 5/1/2021: “We take Georgia and change America”. Sau khi thắng thêm 2 ghế TNS tại Georgia, đảng Dân Chủ nắm quyền kiểm soát ở Thượng Viện, Hạ Viện và Bạch Ốc lập tức bắt tay vào việc thay đổi nước Mỹ.

    Mark Levin, tác giả của nhiều quyển sách viết về chính trị bán chạy nhất đã đề cập đến vấn đề “thay đổi nước Mỹ” như sau:

    UserPostedImage

    (tạm dịch) Joe Biden là tổng thống vĩ đại nhất – không phải đối với đất nước hay các đồng minh của chúng ta mà đối với kẻ thù của chúng ta. Hamas nhìn thấy điều này, Hồi Giáo Jihad nhìn thấy, những kẻ khủng bố Palestine nhìn thấy, đó là tại sao chúng làm những gì mà chúng đang làm. Những người cộng sản Tàu nhìn thấy, họ đang cười vào mũi Biden. Putin nhìn thấy, tất cả họ đều nhìn thấy. Một thế giới nguy hiểm hơn nhiều khi Biden hiện diện trong Bạch Ốc. Thật quá thảm hại!!!

    Tổng Thống Biden và đảng Dân Chủ đang thể hiện sự “ghét bỏ đất nước này” và muốn “thay đổi nước Mỹ từ căn bản”!

    – Mọi khủng hoảng hiện nay đều do Joe Biden tạo ra. Joe Biden là đại dịch. Đó là rất chính xác về con người của ông ta. Từ vấn đề biên giới cho đến tiền tệ, lạm phát, giá thực phẩm, giá xăng dầu, giá đồ chơi, đồ nhựa và thép, cả một danh sách dài. Ông ta đã mở cái hộp đựng quái vật Pandora để cho con lạm phát thoát ra và rất khó mà đóng chiếc hộp này lại.

    -Nhưng, đảng Dân Chủ đã quen với những thứ này kể từ khi họ tạo ra lạm phát, suy thoái và suy thoái liên tục. Họ lấy tiền của chúng ta, thậm chí cả những đồng tiền không hiện hữu và vung vải đi khắp nơi để cung cấp cho những cơ sở theo hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác về chiến tranh giai cấp của kẻ áp bức.

    – Mục đích của di dân không phải là để hỗ trợ quốc gia của người nhập cư hoặc thậm chí là chính người nhập cư. Mục đích của di dân từ trước đến nay có lịch sử là đem lại lợi ích tốt nhất cho người dân Hoa Kỳ. Nhưng khi bạn tin rằng người dân Mỹ phân biệt chủng tộc có hệ thống, thì bạn không thực sự quan tâm đến lợi ích tốt nhất của người Mỹ. Đảng Dân Chủ không yêu đất nước này. Trên thực tế, mỗi ngày trôi qua là mỗi ngày họ chứng tỏ sự thù ghét đất nước này, và Tổng Thống Hoa Kỳ (Joe Biden) cũng vậy. Bạn nghe bài phát biểu về tình trạng bối rối đó, nó rất rõ ràng. Ông ta chưa bao giờ nói về tự do. Ông ta không bao giờ nói về trách nhiệm cá nhân. Ông ta không bao giờ nói về những quyền bất khả xâm phạm. Ông ta không bao giờ nói về quyền tư hữu. Ông ta không bao giờ nói về những điều căn bản mà quốc gia này dựa vào. Joe Biden, đảng Dân Chủ muốn thay đổi những căn bản của nước Mỹ. Nếu bạn muốn thay đổi một cách căn bản điều gì đó mà bạn không thích, thì thực sự là bạn ghét nó.

    – Đánh thuế nặng, đặt ra những quy định phiền phức, chi tiêu thả giàn, nợ nần chồng chất. Lạm phát được kích hoạt trong lúc chúng ta đang nói chuyện ở đây. Biên giới phía Nam bị mở toang. Băng đảng MS-13, ma túy tràn qua biên giới. Trẻ em bị lạm dụng, nhưng Joe Biden & Harris không thèm đoái hoài tới. Họ cũng đứng về phe Nghiệp Đoàn Giáo Chức và đặt để sức mạnh của nghiệp đoàn này lên trên việc giáo dục con cái của chúng ta. Họ đang phá hoại lực lượng cảnh sát và quân đội. Họ đang thúc đẩy sự phân biệt chủng tộc trong các trường học, vì vậy mọi người thường xuyên tấn công nhau. Họ đang củng cố chế độ ở Iran, cái chế độ đe dọa sẽ bắn hoả tiễn hạt nhân vào chúng ta một khi họ chế tạo được nó. Biden đã khấu đầu trước Trung Cộng. Mục tiêu ông ta nhắm tới là mở rộng Tối Cao Pháp Viện, phá hoại thủ tục câu giờ tại Thượng Viện và phá nát luật bầu cử. Có phải tất cả những điều này phát xuất từ một nhân vật và từ một đảng yêu nước? Tôi không nghĩ như thế.

    (ngưng trích)

    Trên đây là những “thay đổi, change” mà chúng ta đã chứng kiến trong vòng 8 tháng qua của nhà cầm quyền Biden & Harris. Nhưng đúng ra thì nước Mỹ đã bị thay đổi từ lâu, chính xác là dưới thời của chính quyền Obama & Biden.

    Nếu Chuck Schumer chỉ nói một cách tổng quát “change America, thay đổi nước Mỹ” thì Obama đã nói một cách rõ ràng hơn là “fundamentally transforming the United States of America, chuyển đổi cơ bản của nước Mỹ”, nói nôm na là “chuyển đổi tận gốc nước Mỹ“!

    Với khẩu hiệu “Change We Can Believe In”, trong cuộc vận động tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ vào ngày 30 tháng 10 năm 2008 tại Columbia, Missouri, ứng cử viên Dân Chủ Barack Hussein Obama đã tuyên bố như sau:

    “Now, Mizzou, I just have two words for you tonight: five days. Five days. After decades of broken politics in Washington, and eight years of failed policies from George W. Bush, and 21 months of a campaign that’s taken us from the rocky coast of Maine to the sunshine of California, we are five days away from fundamentally transforming the United States of America.”

    “Giờ đây, Mizzou, tôi chỉ có hai chữ cho quý vị tối hôm nay: năm ngày. Năm ngày. Sau nhiều thập niên chính trị khập khểnh ở Washington, và tám năm chính sách thất bại của George W. Bush, và 21 tháng của một chiến dịch vận động đã đưa chúng ta từ bờ biển gập ghềnh của Maine đến miền nắng ấm California, chúng ta chỉ còn 5 ngày nữa để chuyển đổi căn bản của nước Mỹ”.

    Đây là một “tuyên ngôn” táo bạo, thậm chí mang tính cách mạng (đúng hơn là nổi loạn) nhưng đã vượt qua phản ứng của những người tham dự. Những người tham dự, thay vì dừng lại để suy ngẫm về một khẳng định táo bạo như thế, thì họ lại hoan nghênh Obama rất cuồng nhiệt.

    Nước Mỹ lạc lối dưới thời “trị vì” của Tổng thống Barack Obama | NTD Việt Nam (Tân Đường Nhân)

    UserPostedImage

    Có một điều chắc chắn là vào thời điểm đó, Obama được xem như là một giáo chủ của một giáo phái mới rất được sùng bái. Với vị trí này, Obama có hứa hẹn bất cứ điều gì thì cũng được đám đông đón nhận một cách say mê. Chính Obama cũng thừa nhận rằng, ông ta đã phục vụ như một “màn ảnh trống” luôn phản chiếu những “hy vọng và thay đổi” ấm áp dễ chịu đối với bất cứ điều gì mà đám đông mong muốn.

    Vì thế, chả trách là cụm từ “chuyển đổi căn bản của nước Mỹ” đã không được mọi người cảnh giác vào lúc đó! Cũng dễ hiểu thôi, bởi vì những căn bản lập quốc đã được người dân Mỹ mặc nhiên xem là bất di bất dịch, là một thực thể hiển nhiên không bàn cãi. Tuy nhiên vào lúc ấy, thực thể hiển nhiên có từ bao đời đã bị nhận chìm bởi khuynh hướng muốn thay đổi cái gì đó đang được kích động và bừng bừng cháy bỏng từ miệng lưỡi của Obama:

    “Now, Mizzou, I just have two words for you tonight: five days. Five days. After decades of broken politics in Washington, and eight years of failed policies from George W. Bush, and 21 months of a campaign that’s taken us from the rocky coast of Maine to the sunshine of California, we are five days away from fundamentally transforming the United States of America.”

    “In five days, you can turn the page on policies that put greed and irresponsibility on Wall Street before the hard work and sacrifice of folks on Main Street. In five days, you can choose policies that invest in our middle class, and create new jobs, and grow this economy, so that everyone has a chance to succeed, not just the CEO, but the secretary and janitor, not just the factory owner, but the men and women on the factory floor.”

    Giống như bất cứ quốc gia nào, nước Mỹ cũng có nhiều vấn đề, nhưng những vấn đề đó đều được giải quyết mà không cần phải chuyển đổi những điều căn bản.

    Thật vậy, người Mỹ đã thực hiện rất nhiều thay đổi, vâng, những thay đổi nhỏ có lớn có, nhưng không có bất cứ một sự thay đổi nào chạm đến tận gốc những nền móng căn bản của quốc gia. Không một ai thậm chí nghĩ đến hay có tư tưởng chuyển đổi những điều căn bản ấy cho đến khi những nhà cách mạng cấp tiến nhất xuất hiện, trong số đó có Barack Hussein Obama.

    Vậy câu hỏi được đặt ra: Obama có chuyển đổi tận gốc nước Mỹ như ông ta đã tuyên bố không?

    Câu trả lời là Có. Tuyệt đối Có!



    Sau khi thắng cử, Tân Tổng Thống Obama đã bắt tay ngay vào việc chuyển đổi nước Mỹ.

    Để đạt được sự chuyển đổi này, ông ta đã thực hiện một số chính sách “phi-Mỹ, un-American”, dẫn đến một nền kinh tế trì trệ, giảm cơ hội cho tầng lớp trung lưu, buộc hàng triệu người trở nên phụ thuộc vào chính phủ và dập tắt ngọn lửa cơ hội vốn thường được thắp lên bởi tinh thần Mỹ.

    Obama có kỷ lục kinh tế tồi tệ nhất so với bất kỳ tổng thống nào trong lịch sử. Tăng trưởng kinh tế trung bình là 1,5% hàng năm trong chính quyền Obama. Điều này có nghĩa là gần như không tạo ra được việc làm mới. Nó dẫn đến tình trạng thất nghiệp đáng kể và buộc hàng triệu người Mỹ đầy đủ sức lực làm việc phải rời bỏ lực lượng lao động. Tầng lớp trung lưu thu hẹp lại và số lượng người Mỹ sống dưới mức nghèo khổ đạt đến mức kỷ lục.

    Còn chương trình Obamacare thì tạo ra các hậu quả cũng không tốt đẹp gì!

    Obamacare bắt buộc các cơ sở xử dụng lao động phải cung cấp bảo hiểm y tế cho bất kỳ nhân viên nào làm việc ít nhất là 30 giờ mỗi tuần. Điều này dẫn đến 1 giải pháp mà chủ nhân buộc phải thực hiện là giảm nhân viên toàn thời và tăng nhân viên bán thời dưới 30 tiếng đồng hồ để khỏi cung cấp bảo hiểm cho họ. Do đó, những người Mỹ có tay nghề thấp phải làm hai công việc trở lên mới đủ sống và những người này phải tự lo bảo hiểm cho mình.

    Sự chuyển đổi những nguyên tắc căn bản của nước Mỹ thật khủng khiếp và đáng sợ, bởi vì các nguyên tắc căn bản giúp Hoa Kỳ từ một quốc gia mới khai sinh trở thành một đất nước hùng cường vĩ đại có nền kinh tế thịnh vượng nhất thế giới đã bị Obama đảo ngược hoàn toàn.

    Bốn nguyên tắc căn bản làm cho nước Mỹ hùng cường và vĩ đại là:

    1- Khuyến khích tự do cá nhân, vì vậy người Mỹ được tự do theo đuổi tư lợi của họ.

    2-Khuyến khích trách nhiệm cá nhân để mọi người tự chăm sóc bản thân khi có thể.

    3-Mức thuế thấp để người lao động luôn có thể giữ phần lớn những đồng tiền họ kiếm được.

    4-Và thứ tư, vai trò rất hạn chế của chính phủ đối với dân chúng. Không kể những trách nhiệm công cộng rõ ràng, chính phủ đứng ngoài cuộc sống riêng tư của người dân.

    Trong khi đó như đã nói, sự chuyển đổi của Obama hoàn toàn trái ngược với từng nguyên tắc đó. Một nước Mỹ mới, với những chuyển đổi căn bản của Obama là:

    – Có sự can thiệp rộng lớn của chính phủ vào nền kinh tế và thậm chí xa hơn nữa vào đời sống riêng tư. Điều này xiết chặt tự do cá nhân.

    – Khuyến khích trách nhiệm xã hội chứ không phải trách nhiệm cá nhân, Obama muốn chính phủ can thiệp đến mọi nhu cầu căn bản của người Mỹ. Đây là mô hình chủ nghĩa xã hội đã thất bại. Tất nhiên, những nhu cầu này sẽ được thanh toán bằng mức thuế cao hơn.

    Tóm tắt, nước Mỹ do Obama biến đổi sẽ có ít tự do cá nhân, nhiều trách nhiệm xã hội, thuế suất cao hơn và vai trò lớn hơn của chính phủ. Và như đã nói, những điều này hoàn toàn trái ngược với những gì đã làm cho nước Mỹ hùng cường và vĩ đại.

    Nhưng khủng khiếp và đáng sợ hơn hết là sự chuyển đổi nước Mỹ trong lãnh vực văn hoá.

    Nó diễn ra trong suốt 8 năm trị vì của Obama, đặc biệt trong các vấn đề xu hướng tình dục, hôn nhân và gia đình. Sự thay đổi ở lãnh vực này là chưa từng có và vượt xa trí tưởng tượng của bất kỳ ai, kể từ nhiệm kỳ của Obama trở về sau.

    Đây mới chính là trọng tâm, là trái tim của Obama, là mục tiêu sâu xa nhất mà ông ta muốn đạt tới. Những chuyển đổi này vượt lên trên bất cứ điều gì khác, nó được xem là kỳ diệu, hơn cả những kỳ diệu về phục hưng tôn giáo, hoặc tư tưởng tâm linh đạo đức. Và hiện nay, cuộc cách mạng văn hóa của Obama trên mặt trận tình dục, giới tính và gia đình đang diễn ra xung quanh chúng ta ráo riết hơn bao giờ hết.

    Một hậu quả của những chuyển đổi đó, là chúng ta hiện đang chứng kiến loại “văn hóa sợ hãi” được thành hình bởi sự đe dọa của các lực lượng nhân danh “sự đa dạng” và “sự khoan dung”.

    Những người này tìm cách tố cáo, triệt hạ nhân tính, ma quỷ hóa và tiêu diệt bất cứ ai không đồng ý những quan niệm “siêu cấp tiến” của họ về hôn nhân và gia đình, hoàn toàn trái với truyền thống của 99,99% quảng đại quần chúng, của loài người nói chung đã thống trị trái đất kể từ buổi bình minh của nhân loại.

    Đối với họ, những người bình thường chúng ta được miêu tả là những kẻ bất bình thường, những kẻ ngoại giới, cực đoan, và là những kẻ “hận thù”. Nếu chúng ta không đồng ý với loại người mới, không xác định lại bản chất con người như ý muốn của họ, thì họ kiện, họ bỏ tù, họ bôi nhọ, họ tẩy chay, họ quấy rối, họ hủy hoại chúng ta, và như đã nói, họ làm những điều này dưới danh nghĩa vô cùng đẹp đẽ là “sự khoan dung” và “sự đa dạng”.

    Cho dù quý vị là một bà Baptist làm bánh hay một nhiếp ảnh gia Công Giáo chụp ảnh cưới hay một người Mormon cắm hoa, họ đều mặc kệ tiếng gọi lương tâm và niềm tin tôn giáo của quý vị, họ bắt quý vị phải khuất phục, họ hấp chín quý vị bằng những vụ kiện tụng và cáo buộc quý vị về tội …kỷ thị!

    Với sự tiếp tay của truyền thông dòng chính thiên tả và truyền thông xã hội Big Tech, nhóm người mới đã thành công trong việc ngăn chận tất cả những điều trái ý họ. Điều đáng sợ là một số người trong chúng ta đã tự động xóa sổ quyền tự do ngôn luận của chính mình, đã tự kiểm duyệt những phát ngôn của mình, đã ngậm miệng trước những điều tai quái ngược ngạo, vì quá sợ hãi sẽ phạm vào điều úy kỵ nhất hiện giờ, đó là kỳ thị, là RACISMS! Bất cứ ai làm điều gì khiến họ không ưng ý đều bị họ dán cho cái nhãn RACIST, bị họ chụp cho cái mũ RACIST!

    Quá khủng khiếp!

    Thật vậy, vì những chuyển đổi căn bản do Obama và các đồng chí thực hiện đã tạo thành một cuộc tấn công mạnh mẽ vào Tu Chính Án Thứ Nhất bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và tự do tư tưởng của người dân Hoa Kỳ suốt 200 năm qua.

    Hiện nay, bản tuyên ngôn nhân quyền này đã bị đốt cháy bởi các “chiến binh văn hóa hiện đại” được trang bị bằng những loại quyền cao cấp hơn mà từ trước đến nay chưa được biết đến, như quyền “bình đẳng hôn nhân” và quyền có “nhà vệ sinh trung tính”, là những sản phẩm văn hoá mới, vốn dĩ không hề hiện hữu trước khi Barack Obama lên ngôi.

    Và đây là những tiêu biểu về sự chuyển đổi tận gốc nền văn hoá căn bản của nước Mỹ dưới thời Obama:

    UserPostedImage

    – Đầu tiên là trang bìa Newsweek tháng 5 năm 2012 cho thấy Barack Obama với vầng hào quang cầu vồng trên đầu kèm theo dòng chữ “Tổng Thống đồng tính đầu tiên”. Đây là bước nối tiếp sau khi Obama ra mặt ủng hộ “hôn nhân đồng giới”, điều mà ông ta đã từng phản đối trong 5 năm. Sự thay đổi công khai này xảy ra khi Obama đang đẩy mạnh chiến dịch tái tranh cử của mình, và Hillary Clinton cũng đã làm khi công bố chiến dịch tranh cử năm 2016 của bà ta.

    Sau tuyên bố này, Obama đã áp dụng một chương trình nghị sự tích cực về chuyển đổi cơ bản trên mặt trận tình dục-giới tính-gia đình, một chương trình tăng cường tốc độ, chiều sâu và sự ngạo mạn trong suốt nhiệm kỳ thứ nhì của ông ta.

    – Thứ hai, một sự kiện khác sâu sắc hơn việc tạo hình đăng quang trên Newsweek, vì sự kiện này có thật. Đó là vào ngày 26 tháng 6 năm 2015, khi Bạch Ốc của Obama, Đệ Nhất Công Ốc của quốc gia, được thắp sáng bằng màu sắc của cầu vồng “LGBTQ” vào ngày Tối Cao Pháp Viện phán quyết vụ kiện Obergefell vs Hodges. Trong vụ kiện này, thẩm phán Công Giáo Anthony Kennedy đã dẫn đầu khối cấp tiến định nghĩa lại danh từ ‘hôn nhân’ và áp đặt “quyền hiến định” không tồn tại này lên tất cả 50 tiểu bang. Nếu có một bức tranh dành cho Obama về sự chuyển đổi nước Mỹ từ căn bản, thì đây chính là NÓ!

    – Thứ ba là phòng tắm tại trường học, khi tất cả các trường công lập theo lệnh của Obama “cách mạng hóa” phòng vệ sinh và phòng thay đồ của nhà trường, để cho các nam sinh tự xưng là con gái được xử dụng chung với nữ sinh.

    Thật khó có thể hình dung một thí dụ siêu thực nào hơn nữa về quan điểm cấp tiến quá mức của người đứng đầu ngành Hành Pháp.

    George Washington chắc hẳn đang trăn trở trong ngôi mộ của ngài.

    – Thứ tư là một điều mỉa mai cho Obama, nhưng không được báo chí đưa tin. Câu chuyện xảy ra trong một cuộc họp tại tòa thị chính London vào tháng 4 năm 2015, nơi Obama bị một thanh niên mắng mỏ vì đã không làm đủ trong vấn đề “trung lập hoá giới tính”. Người thanh niên này không muốn chính phủ Anh xử dụng những đại danh từ như “he” hoặc “she”, mà phải là “hir” hoặc “ze”, bên cạnh việc “cam kết cho xử dụng nhà vệ sinh không giới tính.”

    Sau sự việc ở London chỉ vài tuần, văn phòng Báo Chí toà Bạch Ốc đã phát hành một bản tin chi tiết về những nỗ lực to lớn của Obama trong việc thúc đẩy quyền “LGBT” tại quê nhà và hải ngoại. Khó có thể tìm thấy bất kỳ bản tin nào tương tự so với sự thay đổi mạnh mẽ về vấn đề này trong Bạch Ốc của Obama. Bản tin viết về quyền “LGBTQ” chạy hết trang này đến trang khác mà ngay cả những bản tin về chính sách quan trọng của quốc gia cũng không thể sánh bằng!

    UserPostedImage

    Tóm lại, những gì mà chúng ta nhìn thấy rõ hiện nay về di sản của Barack Obama chính là một sự chuyển đổi tận gốc những điều căn bản của nước Mỹ. Và như đã nói, điều khủng khiếp đáng sợ hơn hết là nó xảy ra trong lãnh vực văn hóa. Khi nhìn lại tám năm của Barack Obama, chúng ta sẽ không thấy điều gì nổi bật trong chính sách nội trị hay đối ngoại, mà điều nổi bật là một Bạch Ốc được chiếu sáng bằng bảy sắc cầu vồng vào ngày 26 tháng 6 năm 2015, và một vầng hào quang tôn vinh Obama là “tổng thống đồng tính đầu tiên”.

    Đó là những cái vương miện về sự chuyển đổi cơ bản của nước Mỹ mà Barack Hussein Obama đã đạt được và hiện nay thì chính quyền Biden & Harris đang tiếp tục thực hiện.

    Vì vậy, nếu cho rằng nhiệm kỳ của Biden&Harris chính là nhiệm kỳ thứ ba của Obama&Biden thì cũng không ngoa, vì kể từ khi nhậm chức Tổng Thống, Joe Biden đã ký trên dưới 60 Sắc Lệnh đảo ngược tất cả những gì TT Trump đã làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại.

    Có như thế thì mới đáp ứng được mục tiêu change America, là thay đổi nước Mỹ trở nên tồi tệ như chúng ta đang chứng kiến, đặc biệt là trọng tâm “chuyển đổi nước Mỹ từ căn bản” mà nhiệm kỳ 2 của Obama & Biden chưa đủ thời gian để hoàn chỉnh.

    Nguyễn Thị Bé Bảy
    Ngày 13/9/2021

    Tham khảo:

    - Mark Levin slams Biden for creating crises: ‘He’s a human …
    - Obama fundamentally transformed America. Trump’s …
    - How Barack Obama Fundamentally Transformed the United …
    Hoàng Nam  
    #14958 Posted : Friday, September 17, 2021 9:11:55 AM(UTC)
    Hoàng Nam

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/12/2011(UTC)
    Posts: 6,082

    Thanks: 778 times
    Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

    Trung Quốc giải bài toán bất bình đẳng, tạo ‘thịnh vượng chung’


    September 14, 2021
    Hiếu Chân/Người Việt

    Những tháng gần đây đã có nhiều bằng chứng cho thấy giới lãnh đạo Trung Quốc đang thực hiện một đường lối cứng rắn nhằm gia tăng sự kiểm soát của đảng Cộng Sản trong mọi mặt đời sống nhằm tiến tới một xã hội “thịnh vượng chung.” Quy mô và tốc độ của các chương trình “chấn chỉnh” đã làm nhiều người Trung Quốc lo ngại đất nước có thể đang bắt đầu đi vào một cuộc biến động về ý thức hệ và những thành quả cải cách kinh tế theo hướng thị trường có thể bị đảo ngược.

    UserPostedImage

    Hiện nay, các tập đoàn công nghệ tư nhân như Alibaba, Tencent, Didi Global, Meituan, Kuaishou và nhiều công ty khác bị chính quyền Trung Quốc trấn áp nặng nhất. (Hình minh họa: Noel Celis/AFP via Getty Images)

    Trấn áp tư bản tư nhân

    Bắt đầu từ Tháng Mười Hai năm ngoái, Bắc Kinh bất ngờ ngăn chặn vào phút cuối vụ bán cổ phần ra các thị trường chứng khoán Thượng Hải và Hồng Kông của công ty tài chính Ant thuộc tập đoàn Alibaba. Lúc ấy có tin đồn rằng động tác này nhằm trừng phạt Mã Vân (Jack Ma), ông chủ của Alibaba, vì đã dám phạm thượng khi phát biểu trước một hội nghị rằng thị trường tài chính Trung Quốc giống như một chuỗi cửa tiệm cầm đồ được điều hành bởi những ông lão ngu ngốc và lạc hậu.

    Nhưng không hoàn toàn như vậy; sau công ty Ant, đã có hàng loạt các công ty công nghệ, các triệu phú tỷ phú, các công ty cung ứng dịch vụ giáo dục đều lọt vào tầm ngắm “điều chỉnh” của đảng và nhà nước Trung Quốc. Theo một phóng viên về kinh doanh và công nghệ Trung Quốc, hiện Trung Quốc có 14 “cuộc đàn áp” được tiến hành đồng thời trên các lĩnh vực kinh doanh và cá nhân.

    Trên lĩnh vực kinh tế, bị trấn áp nặng nhất là các tập đoàn công nghệ tư nhân như Alibaba, Tencent, Didi Global, Meituan, Kuaishou và nhiều công ty khác. Tận dụng các thành tựu công nghệ của phương Tây, sao chép và ứng dụng mô hình kinh doanh của các công ty Mỹ vào thị trường khổng lồ nhưng khép kín của Hoa Lục, một số cá nhân Trung Quốc đã nhanh chóng xây dựng được những đế chế kinh doanh lớn và trở thành những tỷ phú đô la. Tuy chưa có dấu hiệu tranh quyền đoạt lợi với đảng Cộng Sản cai trị, nhưng tầng lớp tư bản mới này được giới trẻ tôn sùng, noi gương, và đặt ra thách thức cho sự độc tôn của đảng. Và đó là điều mà ông Tập Cận Bình, chủ tịch Trung Quốc, không thể chấp nhận được.

    Chính sách “thịnh vượng chung”

    Những biện pháp “chấn chỉnh” kinh tế-xã hội của đảng Cộng Sản Trung Quốc được đưa ra dồn dập dưới khẩu hiệu vì một sự “thịnh vượng chung” (common prosperity) – cái mà ông Tập gọi là “đặc điểm của chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc.”

    Phát biểu trước Ban Kinh Tế Tài Chính Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc vào ngày 17 Tháng Tám, ông Tập lên án tình trạng bất bình đẳng trong xã hội, nhấn mạnh rằng “thịnh vượng chung” là yêu cầu cơ bản của chủ nghĩa xã hội và là điều kiện cần thiết để cân bằng giữa tăng trưởng và ổn định. Ông yêu cầu các quan chức chính phủ phải “điều chỉnh hợp lý thu nhập dư thừa; khuyến khích các cá nhân và doanh nghiệp có thu nhập cao phải đóng góp nhiều hơn cho xã hội.”

    Hàng loạt hành động “chấn chỉnh” đó của Bắc Kinh đã làm giới quan sát chính trị, nhà đầu tư, nhà báo trong và ngoài Trung Quốc đặt ra câu hỏi điều gì đang thúc đẩy hành động của đảng Cộng Sản cầm quyền. Đã có những ý kiến lo ngại Trung Quốc đang chuẩn bị thực hiện một cuộc Cách Mạng Văn Hóa theo kiểu Mao Trạch Đông; hoặc cảnh báo Tập Cận Bình đang làm ngược lại với châm ngôn của Đặng Tiểu Bình, nhắm tới bình đẳng xã hội theo kiểu cách mạng vô sản.

    Dù giải thích theo hướng nào, thông tin về chính sách “thịnh vượng chung” của ông Tập cũng đã thổi một luồng gió lạnh vào gáy của các nhà kinh doanh và đầu tư ở Trung Quốc; cổ phiếu của các công ty tư nhân lớn nhất nước này bị giảm giá thảm hại; chỉ trong vài tuần đã có hơn $1,000 tỷ giá trị cổ phần bị thổi bay khỏi các thị trường chứng khoán Trung Quốc.

    Có thật ông Tập Cận Bình muốn xây dựng ở Trung Quốc một xã hội bình đẳng, “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” như quan niệm kinh điển của chủ nghĩa Cộng Sản? Trong 100 năm hoạt động vừa qua, đảng Cộng Sản Trung Quốc – cũng như mọi phong trào Cộng Sản toàn thế giới – đều đặt mục tiêu “bình đẳng” “xóa bỏ giai cấp” như một ngọn cờ để huy động những “quần chúng lao khổ,” những công nhân và nông dân, đi theo họ để lật đổ ách bóc lột của các ông chủ tư bản, thực dân và phong kiến. Nhưng phương thức tạo lập sự bình đẳng của họ là xóa sổ người giàu, cướp của người giàu chia cho người nghèo.

    Từ Nga sang Trung Quốc và Việt Nam, các tầng lớp địa chủ, phú nông bị đem ra đấu tố rồi xử tử, ruộng vườn tài sản chia cho các ông bà “bần cố nông” cả đời chỉ biết làm thuê làm mướn để sống. Ở thành phố, nhà máy công xưởng bị quốc hữu hóa, rơi vào tay nhà nước, trở thành công ty quốc doanh hoặc công tư hợp doanh, được các công chức hành chính không quan tâm tới các quy luật thị trường quản lý. Hậu quả là các nền kinh tế bình quân chủ nghĩa kiểu Cộng Sản đều sụp đổ, đời sống người dân cơ cực, lầm than.

    Ở Trung Quốc, khái niệm “thịnh vượng chung” được Nhân Dân nhật báo – cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng Sản – đề cập tới lần đầu tiên vào ngày 12 Tháng Mười Hai, 1953, mở đầu cho cuộc cải cách ruộng đất của Trung Quốc, toàn bộ ruộng đất của nông dân bị đưa vào các “công xã nông thôn,” dẫn tới nạn đói tràn lan và kéo dài ở Hoa Lục. Bây giờ, nghe ông Tập nói tới “thịnh vượng chung,” những người cao niên ở Trung Quốc không khỏi rùng mình!

    Làm gì để thu hẹp bất bình đẳng

    Liệu Trung Quốc đang đi vào một thời kỳ biến động xã hội, hay giới lãnh đạo cảm thấy đủ tự tin để thực hiện các điều chỉnh chính sách lớn?

    Sau khi Mao Trạch Đông chết năm 1976 và Đặng Tiểu Bình bắt đầu công cuộc “đổi mới” kinh tế Trung Quốc theo thị trường, chấp nhận “cho một số người làm giàu trước,” “mèo đen mèo trắng không quan trọng, bắt được chuột là tốt,” Trung Quốc đã nhanh chóng trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

    Hiện Trung Quốc có số triệu phú, tỷ phú đô la thậm chí còn đông hơn cả Hoa Kỳ, nhưng cũng có gần một nửa dân số (hơn 600 triệu người) sống dưới mức thu nhập $150 mỗi tháng. Quả là Bắc Kinh có lý do chính đáng để lo lắng về tình trạng bất bình đẳng về thu nhập đang ngày càng rộng ra. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thậm chí còn đặt ra nhiệm vụ sửa chữa một số điểm thái quá trong châm ngôn “để một số người làm giàu trước” của Đặng.

    Chắc chắn đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ không trở lại với các chương trình quốc hữu hóa, lấy của người giàu chia cho người nghèo mà họ đã từng thực hiện và gây ra thảm họa trong thế kỷ trước. Vậy thì ông Tập sẽ làm thế nào?

    Ở phương Tây tư bản chủ nghĩa, để tạo lập sự công bằng, chính quyền có biện pháp phân phối lại của cải, tạo cơ hội thăng tiến cho mọi người và giảm bất bình đẳng xã hội thông qua các chính sách về thuế thu nhập lũy tiến, thuế tài sản hoặc thuế thừa kế. Nhưng Trung Quốc khó có thể ban hành các chính sách thuế như vậy bởi vì tầng lớp giàu có trong xã hội đều là những người có quan hệ mật thiết với đảng cầm quyền và đội ngũ quan chức, xã hội không có đối lập về chính trị và đại đa số người dân không có tiếng nói trong vấn đề quản trị đất nước.

    Từ khi lên cầm quyền cuối năm 2012 đến nay, ông Tập đã làm chậm lại hoặc đảo ngược đường lối cải cách kinh tế; tập trung đầu tư và thúc đẩy các tập đoàn kinh tế quốc doanh do nhà nước sở hữu để thực hiện các mục tiêu đầy tham vọng của đảng Cộng Sản như chiếm vị trí dẫn đầu các ngành công nghệ cao được đề cập tới trong chương trình “Made in China 2025.” Song song đó là siết chặt quản lý, tiến tới xói mòn vai trò của các doanh nghiệp tư nhân, nhân danh quyền tự do cạnh tranh hoặc an ninh quốc gia.

    Khi đề ra yêu cầu “điều chỉnh hợp lý thu nhập dư thừa; khuyến khích các cá nhân và doanh nghiệp có thu nhập cao phải đóng góp nhiều hơn cho xã hội,” chính phủ của ông Tập chỉ nhắm tới các công ty tư nhân, các tập đoàn công nghệ lớn. Để hưởng ứng yêu cầu của chính quyền, và cũng để yên thân, các công ty Alibaba, Tencent đã nhanh chóng cam kết đóng góp hàng chục tỷ đô la vào các quỹ từ thiện, quỹ xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn do nhà nước điều hành, dù biết một số quỹ này là các ổ tham nhũng và kém hiệu quả.

    Cách ưu đãi doanh nghiệp nhà nước, chèn ép tư nhân có đem lại sự bình đẳng xã hội mà ông Tập nhắm tới hay không thì chưa rõ nhưng chắc chắn đây là một bước lùi, sẽ gây ra một số hậu quả xấu cho kinh tế Trung Quốc.

    Và hậu quả của sự thay đổi chính sách

    Việc chuyển một phần tiền lời cho nhà nước mà không chia cho nhà đầu tư chắc chắn sẽ làm giảm động lực sáng tạo, lao động để tìm kiếm lợi nhuận của các công ty; các tập đoàn tư nhân thậm chí sẽ đi vào con đường của các công ty quốc doanh: liên tục khai lỗ để tránh phải đóng góp cho nhà nước.

    Dường như để trấn an các nhà tư bản Trung Quốc, tại Hội Chợ Thương Mại Dịch Vụ Quốc Tế Trung Quốc năm 2021 vào ngày 2 Tháng Chín vừa qua, ông Tập phát biểu nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ duy trì sự cởi mở, hợp tác, cùng có lợi, cùng chia sẻ cơ hội trong sự tăng trưởng của thương mại dịch vụ và thúc đẩy sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế thế giới.”

    Chưa đầy một tuần sau đó, Phó Thủ Tướng Lưu Hạc (Liu He) đã công khai cam kết với các doanh nghiệp về sự hỗ trợ của chính phủ Trung Quốc đối với khu vực tư nhân. Vào ngày 8 Tháng Chín, tờ Nhân Dân nhật báo đăng trên trang nhất bài xã luận cam đoan rằng Trung Quốc sẽ “kiên quyết thúc đẩy mở cửa, bảo vệ tài sản và quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời nâng cao tính minh bạch và khả năng dự đoán của chính sách.”

    Rõ ràng giới lãnh đạo chóp bu của đảng và nhà nước Trung Quốc đã thấy hậu quả tiêu cực của đường lối chấn chỉnh kinh tế-xã hội theo hướng lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo của ông Tập Cận Bình. Họ sẽ làm như thế nào để thúc đẩy bình đẳng, phân phối lại của cải mà không thui chột nỗ lực sáng tạo của giới kinh doanh Trung Quốc là điều chưa biết trước được. Trong những tháng tới cần thận trọng theo dõi các dấu hiệu về hướng đi của nước này; hành động chứ không phải lời nói sẽ là thước đo ý định của Bắc Kinh. [qd]

    Hoàng Nam  
    #14959 Posted : Friday, September 17, 2021 7:27:28 PM(UTC)
    Hoàng Nam

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/12/2011(UTC)
    Posts: 6,082

    Thanks: 778 times
    Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

    Messi trở thành ‘vua phá lưới’ Nam Mỹ, phá kỷ lục của Pele


    September 12, 2021

    BUENOS AIRES, Argentina (NV) – Với bàn thắng thứ 79 trong màu áo đội tuyển quốc gia Argentina, Lionel Messi vừa phá kỷ lục của huyền thoại bóng đá Pele, trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất Nam Mỹ, theo ESPN.

    Trong trận tranh vòng loại World Cup tại sân vận động Monumental Stadium ở Buenos Aires, Argentina, hôm Thứ Năm, 9 Tháng Chín, Messi ghi một “hat-trick” (ba bàn thắng) giúp Argentina thắng Bolivia 3-0, qua mặt vua phá lưới Pele 2 bàn.

    UserPostedImage

    Siêu sao Lionel Messi vui mừng sau khi ghi bàn thắng đầu tiên cho Argentina trong trận thắng Bolivia 3-0. (Hình: Juan I. Roncoroni – Pool/Getty Images)

    Hiện danh thủ vang bóng một thời Pele, nay đã 80 tuổi, vừa trải qua một cuộc giải phẫu và đang bình phục.

    Xét ở góc độ cầu thủ ghi bàn nhiều nhất tính cả hai giới tính ở khu vực Nam Mỹ, Messi vẫn chưa thể qua mặt cả hai nữ cầu thủ người Brazil là Marta (109 bàn thắng) và Cristiane (96 bàn thắng).

    Trong khi đó, nếu chỉ tính trong phạm vi nam cầu thủ, với 69 bàn thắng cho Brazil, danh thủ Neymar, đồng đội của Messi ở câu lạc bộ Paris Saint-Germain (Pháp), là người đứng thứ ba trong danh sách nam cầu thủ ghi bàn nhiều nhất khu vực Nam Mỹ.

    “Tôi đã chờ đợi giây phút này từ lâu, giờ chỉ muốn tận hưởng đêm nay. Chúng tôi đã thắng. Đó là điều quan trọng, giờ ăn mừng thôi!” Messi trả lời phỏng vấn.

    Messi có một mùa Hè đáng nhớ, từ chuyện từ giã Barcelona đầu quân cho Paris Saint-Germain gây xôn xao dư luận trong suốt Tháng Tám cho đến chuyện được vinh danh là cầu thủ xuất sắc nhất trước đó và chuyện đoạt giải vô địch Copa America từ Brazil với tỷ số 1-0 ngay trên sân Maracana, Rio de Janeiro.

    Với 26 bàn thắng trong vòng loại World Cup, Messi cũng qua mặt người bạn thân, đồng đội cũ ở Barcelona là Luis Suarez, cầu thủ người Uruguay, để giữ kỷ lục ghi bàn nhiều nhất khu vực này.

    Trong 11 trận đụng độ với Bolivia, Messi ghi 8 bàn thắng, trở thành cầu thủ phá lưới Bolivia nhiều nhất trong màu áo đội tuyển quốc gia Argentina.

    UserPostedImage

    Messi ăn mừng bàn thắng thứ nhì trong trận đấu với Bolivia. (Hình: Natacha Pisarenko/POOL/AFP via Getty Images)

    Với kỷ lục vừa đạt được, Messi cũng là cầu thủ giữ kỷ lục ghi bàn nhiều nhất qua mọi thời đại của nền bóng đá Argentina, phá kỷ lục 54 bàn của danh thủ Gabriel Batistuta lập được năm 2016. Messi cũng là cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất với 153 lần, tính cả trận đấu với Bolivia hôm Thứ Năm vừa qua.

    Trong màu áo đội tuyển quốc gia Argentina, Messi từng thất bại ở trận chung kết World Cup 2014 và ở chung kết Copa America trong các năm 2007, 2015 và 2016.

    (KV) [đ.d.]

    Sự kiện 9/11 tác động thế giới thể thao như thế nào?


    September 11, 2021
    NEW YORK, New York (NV)

    Sự kiện nước Mỹ bị khủng bố tấn công cách đây 20 năm ảnh hưởng đến mọi ngóc ngách cuộc sống người Mỹ. Riêng lĩnh vực thể thao phải gánh chịu những khủng hoảng và thiệt hại như thế nào, hãy nhìn lại tác động của nó qua phóng sự đặc biệt trên sportmediawatch.com

    Thứ Hai, 10 Tháng Chín, 2001, giới thể thao xôn xao với thông tin ngôi sao bóng rổ Michael Jordan trở lại. Thông tin nóng hổi này không chỉ xuất hiện trên SportsCenter tối hôm đó, mà sáng sớm hôm sau, 11 Tháng Chín, những dòng tít lớn về sự trở lại của Jordan xuất hiện trên báo in, ra rả cả trên đài và truyền hình như The Early Show của CBS, Good Morning America của ABC, hay The Today Show trên NBC. Mọi thứ diễn ra bình thường như mọi khi trong 90 phút tin tức buổi sáng.

    UserPostedImage

    Sự trở lại của ngôi sao bóng rổ Michael Jordan (số 23) bị vụ tấn công khủng bố 9/11 làm lu mờ. (Hình: Mike Nelson/AFP via Getty Images)

    Không chỉ có Jordan là câu chuyện chính ngày hôm đó. Nào là Barry Bonds đeo đuổi mục tiêu phá kỷ lục trên sân nhà. Venus và Serena Williams, hai chị em ngôi sao quần vợt Mỹ lần đầu tiên đứng chung sân ở chung kết Grand Slam…

    Chẳng ai tin rằng ngày hôm sau, những thông tin kia chẳng còn ý nghĩa gì. Tất cả, không chỉ có thế giới thể thao, đều bị cuốn phăng đi trong một buổi sáng đẹp trời nhất của nước Mỹ.

    Những tác động tức thì

    Những người dân sống ở miền Tây nước Mỹ có thói quen sáng sớm ngủ dậy, mở đài SportsCenter để nghe bản tin Monday Night Football, thì buổi sáng hôm đó, 11 Tháng Chín, họ bàng hoàng với bản tin “simulcast” cùng một lúc truyền đi qua đài phát thanh và đài truyền hình trên ABC về sự kiện lịch sử nước Mỹ bị khủng bố tấn công.

    Tất cả các đài truyền hình và phát thanh đều chuyển qua tiếp sóng trực tiếp sự kiện kinh hoàng này hoặc để màn hình đen.

    Sự kiện 9/11 tác động nghiêm trọng mọi ngóc ngách cuộc sống người Mỹ.

    Giải Vô Địch Bóng Chày Quốc Gia (Major League Baseball) nhanh chóng hủy ngay 15 trận ngày hôm đó và các ngày tiếp theo.

    Vòng đầu tiên của Giải American Express Championship bị hủy trong khi đó LPGA Tour quyết định vẫn giữ giải đấu như đã lên lịch. Rất nhiều tay golf kêu gọi hoãn giải Ryder Cup và các cuộc tranh tài quốc tế cũng bị hủy.

    Thế Vận Hội Mùa Đông 2002 được ấn định tổ chức tại thành phố Salt Lake, Utah. Tuy nhiên, vụ tấn công 9/11 làm người ta phải suy xét nhiều hơn khi nghĩ đến việc tổ chức một sự kiện quốc tế ở Mỹ.

    Những quyết định khó khăn

    Thời gian trôi đi, quyết định như thế nào cho đúng trở nên dễ dàng hơn. Thứ Năm, 13 Tháng Chín, PGA Tour hủy bốn sự kiện, gồm cả giải đánh golf American Express Championship. Cùng ngày, Bud Selig công bố ý định hủy các trận đấu bóng chày.

    Lần lượt có những quyết định của các giải bóng đá, bóng rổ, golf, bóng đá trường học… nhưng có lẽ quyết định của Liên Đoàn Bóng Bầu Dục Quốc Gia (NFL) là quan trọng hơn cả. Quyết định không tổ chức thi đấu vào cuối tuần đó của NFL có tác dụng lan truyền trong thế giới thể thao.

    Quyết định này phần nhiều nhờ vào tác động của các cầu thủ. Trong khi có đến 31 ông chủ các đội, chiếm phân nửa tổng số giải, muốn tiếp tục, các cầu thủ, đặc biệt là các cầu thủ hai đội Jets và Giants của thành phố New York cho biết họ sẵn sàng tẩy chay. Đại diện các cầu thủ ở giải NFL bỏ phiếu 17-11 chống lại việc tiếp tục thi đấu.

    NFL hoãn kế hoạch thi đấu có tác động cần thiết đến quyết định của những trận football các đại học NCAA, tiếp theo sau đó là NASCAR, NBA… cũng hủy các giải đấu.

    Theo sau việc hủy bỏ thi đấu của ngành thể thao, các đài truyền hình cũng không còn nội dung để phát. CNN bỏ chương trình “Sports Tonight,” ESPN vật lộn với việc thiếu thốn thông tin để lên sóng, thay vì đưa tin các sự kiện thể thao như trước đây, kênh truyền này thực hiện những chương trình về tác động của sự kiện 9/11 lên lĩnh vực thể thao. Chương trình đầu tiên là SportsCenter vốn đã trực tiếp sự kiện ngày 11 Tháng Chín.

    UserPostedImage

    Hai chị em Venus (trái) và Serena Williams, hai tay vợt nữ nổi tiếng hồi thập niên 2000 cũng bị sự kiện 9/11 làm bớt sự chú ý của công chúng. (Hình: Clive Brunskill /Allsport)

    Tác động gần, ảnh hưởng xa

    Rồi các nhà tổ chức cũng phải xoay xở, tìm hướng ra cho các giải đấu. NFL tính toán lại lịch thi đấu trong khi các môn thể thao khác lục tục vào sân tập trở lại. NFL dự kiến lên lịch thi đấu trong 16 tuần, bỏ trận tranh tài cho đủ túc số – Wildcard, đồng nghĩa với việc giảm số đội chơi vòng loại – playoff từ sáu xuống bốn. Giải đấu phải giảm giá cho các đài truyền hình, ABC, CBS và FOX, “lệ phí bản quyền từ $70-$75 triệu nếu các trận wildcard cuối tuần bị hủy, bởi vì mỗi trận wildcard có giá từ $17 triệu đến $21 triệu.”

    Lên lịch thi đấu lại cho giải Super Bowl ngay sau sự kiện 9/11 cũng là điều khó thực hiện. Để Super Bowl tiếp diễn sau sự kiện đó một tuần, chỉ ở New Orleans, đòi hỏi “Hiệp Hội Các Đại Lý Bán Xe Hơi (NADA) phải tổ chức sự kiện hàng năm vào ngày 3 Tháng Hai.”

    Điều đó không chắc chắn, nên các nhà tổ chức nghĩ đến một giải pháp khác, chẳng hạn như “tổ chức riêng giải vô địch ở New Orleans còn Super Bowl thì dời qua tuần sau ở một địa điểm khác, hoặc tổ chức trận wildcard vào giữa tuần (ngày 8 và 9 Tháng Giêng)…”

    NFL phải tính toán và thương lượng những khoản tiền lên đến hàng chục triệu đô la. Nhờ thương lượng được với NADA mà NFL có thể tổ chức được cả một mùa thi đấu bị hoãn qua năm 2002.

    Sau sự kiện 9/11 khán giả đến xem giải bóng chày giảm mạnh. Bốn đội thi đấu trên sân nhà chứng kiến lượng khán giả giảm 13%. Trong khi đó, số khán giả truyền hình tăng lên do họ ở nhà theo dõi giải đấu. TBS tăng 36%, ESPN tăng 30%.

    Rõ ràng vụ tấn công khủng bố 9/11 tác động sâu sắc đến đời sống dân Mỹ. Tuy nhiên, tác động vào lĩnh vực thể thao tương đối nhẹ hơn so với các lĩnh vực khác như ngoại giao, quân đội và quốc gia nói chung. Những ngày sau sự kiện bi thương này, các nhà lãnh đạo thể thao phải ra những quyết định khó khăn chưa từng có.

    Tác động lâu dài của sự kiện này đối với thể thao cũng như đời sống sẽ vơi đi. Nhưng chắc chắn đây là cơ hội để đánh giá lại tầm quan trọng của thể thao trong đời sống xã hội, và ít nhất là trong tạm thời, nó hạ thấp vai trò thể thao xuống đúng vị trí vốn có của nó.

    (KV) [đ.d.]

    Edited by user Friday, September 17, 2021 7:48:24 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    linhphuong  
    #14960 Posted : Saturday, September 18, 2021 8:03:02 AM(UTC)
    linhphuong

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 3/22/2011(UTC)
    Posts: 3,385

    Thanks: 327 times
    Was thanked: 364 time(s) in 256 post(s)
    Tin Tong Hop
    Điều gì xảy ra khi một giám mục anh giáo
    vào đạo công giáo


    9/18/2021 10:24:40 AM

    Ngày 3 tháng 9, giám mục anh giáo Jonathan Goodall bất ngờ thông báo ngài sẽ từ nhiệm chức vụ của mình để vào đạo công giáo. Nhưng ngài không phải là một tân tòng bình thường: ngài là giám mục giáo phận Ebbsfleet của Cộng đồng anh giáo từ 8 năm nay, là thư ký và tuyên úy ủy ban đại kết của cựu tổng giám mục Rowan Williams, giáo phận Canterbury. Con đường của ngài là hiếm nhưng không phải là không có: ngài theo bước chân của bốn giám mục anh giáo khác, những người đã vào đạo công giáo hơn một thập kỷ trước.

    UserPostedImage

    Giám mục Jonathan Goodall, trước đây là giám mục anh giáo của giáo phận Ebbsfleet, (bên phải) cùng với Đức Bênêđictô XVI và Tổng giám mục Rowan Williams, giáo phận Canterbury năm 2010. (Ảnh CNS / L’Osservatore Romano qua Reuters)

    Nhiều tín hữu ở hai bờ sông Tibre (sông băng ngang Rôma) sẽ ngạc nhiên khi thấy một nhân vật cao cấp như vậy của Giáo hội anh giáo lại bơi qua dòng sông này. Làm thế nào và tại sao một số giáo sĩ anh giáo lại chọn thông hiệp trọn vẹn với Giáo hội công giáo?

    Lịch sử anh giáo

    Trước hết để hiểu mối quan hệ giữa Cộng đồng anh giáo (hay Khối Hiệp thông Anh giáo, Anglican Communion) và Giáo hội công giáo la-mã, điều quan trọng là phải nhớ lại những gì đã dẫn đến sự rạn nứt giữa hai thể chế. Chúng ta ngược về gần 500 năm trước, năm 1534, khi vua Henry VIII ly khai Rôma và thành lập Cộng đồng anh giáo độc lập; Trong số các lý do của nhà vua, có việc Giáo hoàng Clement VII từ chối hủy hôn của vua Henry với bà Catherine of Aragon.

    Theo James Weiss, giáo sư lịch sử tôn giáo tại Đại học Boston và là linh mục thuộc Cộng đồng anh giáo ở Hoa Kỳ, nhà vua chỉ muốn dùng đặc quyền hoàng gia trong các vấn đề tôn giáo như cách các nhà vua Âu châu khác đã làm. Các nhà cầm quyền của các quốc gia châu Âu, trước và sau vua Henry, đều có quyền bổ nhiệm các giám mục độc lập với giáo hoàng. Trên quan điểm này, giáo hoàng từ chối yêu cầu của nhà vua vì lý do chính trị hơn là vì có bất kỳ bất đồng nào về thần học.

    Chỉ đến năm 1791, người công giáo mới được hợp pháp thờ phượng lại, và phải đến năm 1829, người công giáo mới có một ghế trong Quốc hội.

    Qua năm tháng, vô số luật được thông qua làm cho việc giữ đạo công giáo ở Anh là bất hợp pháp. Chỉ đến năm 1791, người công giáo mới được hợp pháp thờ phượng lại, và phải đến năm 1829, người công giáo mới có một ghế trong Quốc hội.

    Cho đến ngày nay, việc nhà vua Anh là người công giáo là điều vi hiến.

    Làm rõ các thuật ngữ

    Để hiểu về cơ bản quyết định của giám mục thì chúng ta cần xem lại các thuật ngữ để hiểu. Anh giáo quy chiếu truyền thống tôn giáo được Cộng đồng anh giáo bắt đầu, nhưng nó không phải là một giáo hội thống nhất. Ngày nay có 41 Cộng đồng anh giáo tự trị trên khắp thế giới, nhưng tất cả đều hiệp thông với ngai tòa Canterbury.

    Dù chính thức cắt đứt với Rôma nhưng anh giáo vẫn giữ nhiều điểm tương đồng với Giáo hội công giáo. Dễ thấy nhất là các phụng vụ anh giáo rất giống các phụng vụ công giáo. Chẳng hạn các thánh lễ chúa nhật của cả hai truyền thống đều có các bài đọc Cựu ước, các sách Phúc âm và các sách Tân ước khác; lời cầu nguyện thánh thể của anh giáo cũng dùng ngôn ngữ gần giống với ngôn ngữ của người công giáo. Trong hầu hết các giáo xứ, linh mục cũng mặc các loại lễ phục giống như các linh mục công giáo.

    Dù chính thức cắt đứt với Rôma nhưng anh giáo vẫn giữ nhiều điểm tương đồng với Giáo hội công giáo.

    Cũng vậy, hệ thống cấp bậc của Cộng đồng anh giáo gồm các giám mục, những người nắm phần lớn việc chăm sóc giáo phận như bên công giáo. Về vấn đề tín lý, một đối thoại liên-giáo hội đã xác định, anh giáo và công giáo gần như hoàn toàn liên kết với nhau về thần học Bí tích Thánh Thể.

    Tuy nhiên, vẫn có những xác tín, trong số các xác tín của anh giáo, mâu thuẫn với quan điểm của công giáo về khái niệm các thánh và lòng kính mến Đức Mẹ.

    Dàn xếp mối quan hệ với Rôma

    Sau khi Công đồng Vatican II kêu gọi mở ra với đại kết với các tín hữu kitô khác, Giáo hội công giáo đã có các cuộc thảo luận với Cộng đồng anh giáo trong nỗ lực hòa giải những khác biệt lịch sử của các Giáo hội. Đức Phaolô VI có quan hệ nhiệt tình với tổng giám mục Michael Ramsey, giáo phận Canterbury và ngài đã thành lập một ủy ban đối thoại giữa hai Giáo hội. Cơ quan đạt được kết quả từ những nỗ lực này, Ủy ban Quốc tế Anh giáo-Công giáoRôma hiện đang tham gia vào nhóm thảo luận kéo dài nhiều năm lần thứ ba của mình.

    Mối quan hệ giữa hai bên cũng dẫn đến việc thành lập Trung tâm anh giáo ở Rôma, đóng vai trò như một đại sứ quán anh giáo tại Vatican.

    Từ năm 2005 đến năm 2013, dưới triều giáo hoàng Bênêđictô XVI, một số tu sĩ anh giáo đã quyết định vào đạo công giáo do sự tiến triển trong nội bộ anh giáo về các vấn đề xung quanh giới tính và tình dục. Kinh sĩ C. K. Robertson, nhà giáo luật Cộng đồng anh giáo Mỹ cho biết, dù được nói lên, nhưng số người theo công giáo rất ít, gần như không đáng kể.

    Khi một số ít nhân vật anh giáo nổi tiếng trở thành người công giáo, đó chỉ là một triệu chứng của khó khăn mà các giáo phái Kitô phải đối diện khi đấu tranh chống cuộc cách mạng tình dục và các dư chấn của nó. Kể từ những năm 1970, một số giáo hội anh giáo cho phép phụ nữ và sau đó là những người đồng tính nam công khai không độc thân trở thành linh mục và giám mục. Đáp lại một số mong muốn của những người anh giáo muốn được nhận vào đạo công giáo, năm 2009, Đức Bênêđictô XVI đã tạo sắc phong riêng cho anh giáo. Các chức vụ trong anh giáo kể cả các linh mục có thể được nhận vào Giáo hội công giáo mà vẫn giữ một số yếu tố trong thờ phượng anh giáo.

    Dù có các khác biệt, Đức Phanxicô và Tổng Giám mục giáo phận Canterbury, Justin Welby, tuyên bố họ vẫn “không nản lòng” trong nỗ lực tìm kiếm điểm chung.

    Một năm sau khi Đức Bênêđictô XVI thiết lập sắc phong, năm giám mục của Giáo hội anh giáo vào đạo công giáo, và cũng năm này có khoảng 100 giáo xứ thuộc Cộng đồng anh giáo ở Hoa Kỳ – các linh mục, giáo dân và tất cả – cũng đã làm như vậy. Nhiều người trong Cộng đồng anh giáo cho việc thành lập Chức vụ Bản quyền (Ordinariat) là xem thường; có vẻ như Giáo hội công giáo đã từ bỏ việc cố gắng hòa giải với anh giáo. Kinh sĩ Robertson nói, tuy nhiên, hầu hết các Giáo hội anh giáo bên ngoài nước Anh đã không phật ý bao nhiêu.

    Sau đó, năm 2016, Đức Phanxicô gặp tổng giám mục Justin Welby, tổng giám mục đương nhiệm của Canterbury. Trong tuyên bố chung, hai nhà lãnh đạo thừa nhận, cuộc tranh luận về việc phong chức cho phụ nữ và các vấn đề khác đã nảy sinh trong nửa thế kỷ qua “đã tạo những trở ngại nghiêm trọng cho sự thống nhất trọn vẹn của chúng ta.” Mặc dù vậy, họ vẫn hy vọng vào tương lai, cho rằng dù có các trở ngại cho việc hòa giải, hai nhà lãnh đạo vẫn “không nản lòng” trong nỗ lực tìm kiếm điểm chung.

    Trên thực tế thì như thế nào

    Ngày nay, trên thực tế khi một linh mục hoặc giám mục anh giáo muốn vào đạo công giáo thì sẽ như thế nào?

    Để tín hữu anh giáo – tu sĩ hay giáo dân – được tiếp nhận vào Giáo hội công giáo qua Chức vụ Bản quyền, họ phải viết một thư nói lên mong muốn của mình. Nhưng họ không cần phải rửa tội lại: Giáo hội công giáo công nhận phép rửa của anh giáo, giống như bất kỳ giáo phái kitô nào dùng nước, cầu xin Chúa Ba Ngôi và hoàn thiện bí tích với những lý do tương tự như trong đạo công giáo.

    Để được khai tâm đầy đủ, tín hữu anh giáo muốn theo đạo công giáo phải học giáo lý và phải chịu phép Thêm sức. Một số có thể chọn khóa học như những người có tôn giáo khác muốn vào đạo công giáo, nhưng vì giáo lý anh giáo trùng lặp với giáo lý công giáo rất nhiều nên họ có thể chọn một khóa học ngắn hơn.

    Khi hàng giáo sĩ anh giáo vào công giáo, họ không tự động xem như có đủ điều kiện cho chức thánh (hay giám mục). Giáo hội công giáo không công nhận các phong chức của anh giáo là hợp lệ. Theo quan điểm công giáo, một tu sĩ anh giáo muốn thành linh mục công giáo phải được thụ phong dưới các nghi thức công giáo.

    Linh mục công giáo Edward Tomlinson, của nhà thờ Thánh Anselm ở Pemsbury, nước Anh và là tác giả của quyển sách Hiểu về Chức vụ Bản quyền: Người Công giáo của Di sản Anh giáo (Understanding the Ordinariate: Catholics of the Anglican Patrimony) cho biết, tốt nhất nên nghĩ nó theo hình thức các tiền tệ khác nhau. Trong một e-mail ngài viết: “Không ai nghi ngờ tính hợp pháp của đồng bảng Anh, nhưng nó không hợp pháp ở Hoa Kỳ. Ở Mỹ phải dùng đô-la. Vì vậy, các chức thánh của anh giáo có giá trị trong anh giáo mà không có giá trị trong công giáo.”

    Thay vào đó, nếu họ muốn phục vụ với tư cách là giáo sĩ trong Giáo hội công giáo, trước tiên các cựu linh mục anh giáo phải qua quá trình kiểm tra lý lịch (cũng như bất kỳ ai muốn làm mục vụ chính thức trong Giáo hội công giáo). Sau đó, nếu ứng viên nhận được sự chấp thuận của Chức vụ Bản quyền của họ và từ Vatican, họ phải qua chương trình đào tạo về học thuật và mục vụ – thường là học bán thời gian trong vòng hai năm ở một chủng viện. Và khi xong quy trình này, họ sẽ được một giám mục phong chức. Nhưng với các linh mục anh giáo đã lập gia đình thì sao? Chẳng hạn giám mục Goodall đã có vợ và hai con. Trong điều có thể gây ngạc nhiên cho nhiều người công giáo, các linh mục anh giáo đã lập gia đình có thể được phong chức linh mục công giáo bằng cách theo quy trình nói trên. Tuy nhiên, Giáo hội công giáo nhấn mạnh, đây là một ngoại lệ, không phải là quy tắc: các linh mục anh giáo đã kết hôn phải được Vatican chấp thuận cho thụ phong trong từng trường hợp cụ thể, và vợ của linh mục phải đồng ý đi theo tiến trình này. Nếu linh mục anh giáo chưa kết hôn thì khi thành linh mục công giáo, linh mục này không được kết hôn sau đó, giống như bất kỳ linh mục công giáo nào khác. Ở cấp bậc cao hơn, các cựu giám mục anh giáo như giám mục Goodall không tự động trở thành giám mục trong Giáo hội công giáo la-mã. Cũng như với bất kỳ linh mục công giáo nào khác, để trở thành giám mục đòi hỏi phải được giáo hoàng chấp thuận và được ít nhất một giám mục công giáo phong chức.

    Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
    (phanxico.vn 18.09.2021 / americamagazine.org, Doug Girardot, 2021-09-15)

    La Croix: Nếu không có vụ khủng bố New York 11/9,
    Đức Phanxicô có thể đã không trở thành Giáo Hoàng


    Thế Giới Nhìn Từ Vatican 18/Sep/2021

    UserPostedImage

    https://vietcatholic.net/News/Home/Article/271122

    1. Nếu không có vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, Đức Phanxicô có thể đã không trở thành Giáo Hoàng

    Ký giả Christopher White của La Croix International, khi những kẻ khủng bố gây tàn phá cho Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, nó đã thay đổi vĩnh viễn các vụ việc hoàn cầu - bao gồm cả việc vô tình mở đường cho một vị Hồng Y người Á Căn Đình tương đối vô danh cuối cùng trở thành giáo hoàng.

    Hai mươi năm trước đây, sau biến cố bi thảm của vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, Đức Hồng Y Edward Egan có nhiệm vụ chăm sóc một thành phố và đoàn chiên đau buồn ở Thành phố New York, tâm điểm của các vụ tấn công.

    Trước đó, ngài đã được giao nhiệm vụ làm tổng tường trình viên của Thượng Hội đồng Giám mục năm 2001 tại Rôma, dự kiến bắt đầu vào ngày 30 tháng 9.

    Với tư cách đó, ngài chịu trách nhiệm phác thảo các chủ đề của Thượng hội đồng, tổ chức và liên lạc với các nghị phụ Thượng hội đồng và tóm tắt các cuộc thảo luận của Thượng hội đồng trước khi Đức Giáo Hoàng xem xét các đề nghị cuối cùng được đưa ra.

    Joseph Zwilling, phát ngôn viên của tổng giáo phận New York, nói với tờ National Catholic Reporter rằng Đức Hồng Y Egan đã xin Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, qua Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh lúc đó là Đức Hồng Y Angelo Sodano, cho phép ngài trình bầy tường trình khai mạc tại Thượng hội đồng và sau đó trở về ngay New York.

    Zwilling nhớ lại rằng “Khi Đức Hồng Y Sodano chuyển lời lại cho Đức Hồng Y Egan, ngài cho biết Đức Thánh Cha đã yêu cầu ngài ở lại, là điều mà ngài đã làm, một cách miễn cưỡng nhưng ngoan ngoãn”.

    Nhưng một thành phố tang tóc cuối cùng đã lôi kéo Đức Hồng Y Egan trở về nhà, và nửa chừng trong thượng hội đồng kéo dài một tháng, ngài đã được phép trở lại New York để chủ tọa buổi cầu nguyện cho các nạn nhân của ngày 11 tháng 9, sau đó, trở lại Rôma trong một thời gian ngắn trước khi cuối cùng được phép trở về Hoa Kỳ luôn.

    Lúc bấy giờ Đức Hồng Y Jorge Mario Bergoglio, là tổng giám mục của Buenos Aires, Á Căn Đình, và là phụ tá tổng tường trình viên của Thượng hội đồng. Từ vị trí người số hai sau Đức Hồng Y Egan, ngài đã đảm nhận hầu hết công việc của tổng tường trình viên.

    Trong suốt một tháng tập hợp các giám mục từ khắp nơi trên thế giới, khi giáo phận quê hương của Đức Hồng Y Egan khiến ngài phải tập chú vào nơi khác, vị Hồng Y người Á Căn Đình đã đảm nhận những trách nhiệm lớn hơn, cả công khai lẫn riêng tư, khiến ngài được chú ý khắp Vatican và hơn thế nữa.

    Nhà báo Á Căn Đình Elisabetta Piqué cho hay, “Vai trò của Đức Hồng Y Bergoglio tại Thượng hội đồng năm 2001 rất quan trọng và cốt yếu đối với cuộc bầu cử sau này của ngài. Thực thế, ngài đã làm việc rất tốt trong tư cách tổng tường trình viên, thay thế Đức Hồng Y Egan, đến nỗi ngài bắt đầu được biết đến và chú ý ở Rôma như một papabili” nghĩa là có thể là ứng viên Giáo Hoàng trong Cơ Mật Viện tiếp theo.

    Source:La CroixHow Sept. 11 inadvertently paved the way for the future election of Pope Francis

    2. Kỷ niệm ngày 11 tháng 9 là một lời nhắc nhở Vatican đã nói rất đúng, không phải một lần mà là hai lần

    Ký giả John Allen của tờ Crux, có bài tường trình nhan đề “9/11 anniversary a reminder the Vatican had it right, not once but twice”, nghĩa là “Kỷ niệm ngày 11 tháng 9 là một lời nhắc nhở rằng Vatican đã nói rất đúng, không phải một lần mà là hai lần”. Theo Allen, Hoa Kỳ đã không nghe theo các lời khuyên của Tòa Thánh, không chỉ một mà là hai lần, dẫn đến các tổn thất kinh hoàng về nhân mạng và vật chất.

    Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh

    Cuộc xung đột kéo dài 20 năm tại Afghanistan, trị giá 2.6 nghìn tỷ đô la, đã kết thúc với việc Taliban một lần nữa nắm quyền và vị thế toàn cầu của Mỹ lại tan nát. Việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan, ít nhiều xảy ra cùng thời điểm với lễ kỷ niệm 20 năm vụ khủng bố ngày 11 tháng 9.

    Hai chiến dịch quân sự lớn của Hoa Kỳ ở Afghanistan và Iraq là kết quả trực tiếp của các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9. Cả hai đều đã dẫn đến thất bại hoặc thất vọng. Trong cả hai trường hợp, các nhà ngoại giao Vatican ngày nay sẽ có lý khi nói: “ Đừng nói rằng chúng tôi đã không nói trước với các bạn như vậy”.

    Afghanistan là hậu quả tức thì của vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, đó là nỗ lực của một siêu cường tức giận nhằm đáp trả những kẻ mà nước này cho là phải chịu trách nhiệm về vụ tấn công khủng bố đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại.

    Ngay từ đầu, chính quyền Bush đã tỏ rõ ý định sử dụng vũ lực để đánh bật chế độ Taliban. Chưa đầy một tháng sau, vào ngày 7 tháng 10, bom và tên lửa được hướng dẫn bắt đầu rơi xuống các mục tiêu của Taliban. 12 ngày sau các binh sĩ đã hành quân trên mặt đất.

    Trong khoảng thời gian ngắn ngủi sau sự kiện ngày 11 tháng 9 nhưng trước khi chiến tranh Afghanistan nổ ra, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là một trong số rất ít các nhà lãnh đạo toàn cầu đã có chuyến tông du tới khu vực này. Vị Đức Giáo Hoàng Ba Lan dự kiến đến Kazakhstan gần đó từ ngày 22 đến 25 tháng 9, và bất chấp những lo ngại về an ninh sau vụ tấn công Tòa Tháp Đôi, chuyến đi vẫn diễn ra theo kế hoạch.

    Chuyến tông du cho phép Đức Gioan Phaolô II có cơ hội cân nhắc trước những lựa chọn định mệnh mà thế giới phải đối mặt vào thời điểm đó. Ngay sau khi các cuộc tấn công xảy ra, Đức Gioan Phaolô II đã tố cáo “nỗi kinh hoàng không thể diễn tả được” đã xảy ra ở New York và gửi một bức điện cho Bush để bày tỏ “nỗi buồn sâu sắc của tôi và sự gần gũi của tôi trong lời cầu nguyện cho đất nước vào thời điểm đen tối và bi thảm này”. Tuy nhiên, tình cảnh này đã thúc đẩy Đức Giáo Hoàng đề cập đến không chỉ là những cảm xúc mà còn là những phản ứng có tính chính sách.

    Ngài đã làm điều đó. Trong bài huấn dụ trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật sau thánh lễ ở thủ đô Astana của Kazakhstan ngày 23 tháng 9, Đức Giáo Hoàng đã đưa ra một lời kêu gọi đặc biệt, bằng tiếng Anh để bảo đảm rằng cộng đồng quốc tế sẽ nghe thấy thông điệp ấy: “Với tất cả trái tim của tôi, tôi cầu xin Chúa giữ cho thế giới được hòa bình”, ngài nói. Trong hầu hết các bản tin trên các phương tiện truyền thông, thông điệp này được coi là đèn đỏ của Đức Giáo Hoàng cho cuộc can thiệp quân sự sắp xảy ra do Hoa Kỳ lãnh đạo.

    Hai tháng sau, sau khi Taliban bị lật đổ và bắt đầu hai thập kỷ chiếm đóng của nước ngoài tại Afghanistan, Đức Gioan Phaolô II đã làm cho lời cảnh báo của mình trở nên sắc nét hơn trong thông điệp hàng năm của ngài cho Ngày Thế giới Hòa bình.

    Trong thông điệp đó, Đức Giáo Hoàng thừa nhận quyền tự vệ trước những kẻ khủng bố nhưng nhấn mạnh rằng hành động nên được giới hạn ở chính những kẻ khủng bố, chứ không phải toàn bộ quốc gia, và bất kỳ hành động quân sự hoặc vũ trang nào cũng phải đi kèm với “một chính sách chính trị, ngoại giao và kinh tế can đảm và kiên quyết, trong đó cam kết giảm bớt các tình huống bị áp bức và gạt ra bên lề vốn tạo điều kiện thuận lợi cho các kế hoạch của những kẻ khủng bố”.

    Mặc dù Đức Gioan Phaolô II không bao giờ đề cập cụ thể đến Hoa Kỳ, bối cảnh thông điệp dường như đã hoàn toàn rõ ràng: Đừng sử dụng vũ lực bừa bãi, và đừng sử dụng một chiến dịch quân sự không có kế hoạch tái thiết.

    Hai năm sau, ký ức về vụ tấn công ngày 11 tháng 9 cũng thúc đẩy cuộc xâm lược Iraq do Hoa Kỳ dẫn đầu, khiến Đức Giáo Hoàng và đội ngũ Vatican của ngài lên án rõ ràng hơn. Đức Gioan Phaolô II thậm chí đã cử một đặc phái viên đến Tòa Bạch Ốc, đó là cựu Sứ thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ, Đức Hồng Y Pio Laghi, trong nỗ lực vào phút cuối để thuyết phục chính quyền Bush, nhưng vô ích.

    Tóm lại, Đức Giáo Hoàng và các nhân viên ngoại giao của ngài đã cảnh báo Mỹ rằng cả Afghanistan và Iraq sẽ chứng tỏ là những cuộc xung đột không có hồi kết, có khả năng khiến dân thường của cả hai nước, bao gồm cả thiểu số Kitô Hữu đáng kể của Iraq, trở nên tồi tệ hơn. Các vị cũng cảnh báo rằng những nỗ lực áp đặt mô hình chính phủ và công lý của phương Tây lên các xã hội Á Châu sẽ cho thấy rằng những truyền thống xa lạ đó sẽ không bao giờ có hiệu quả và bóng ma của một cường quốc phương Tây xâm lược một quốc gia Hồi giáo khác sẽ thổi bùng tình cảm Hồi giáo và cuối cùng thúc đẩy chính các phong trào thánh chiến lao vào một cuộc chiến tranh được trù liệu là diễn ra trong một phạm vi giới hạn.

    Vào tháng Giêng năm 2003, trong một bữa ăn trưa làm việc với các nhà báo do đại sứ quán Ý tại Vatican tổ chức, Đức Hồng Y Angelo Sodano, người Ý, lúc đó là Ngoại trưởng của Đức Gioan-Phaolô, đã đánh giá theo cách này: “ Chúng tôi nói với những người bạn Mỹ của chúng tôi: chọc giận một tỷ người Hồi giáo sẽ có nguy cơ gây ra sự thù địch của thế giới Hồi giáo trong nhiều thập kỷ.”

    Chỉ ba ngày trước khi cuộc xâm lược của Hoa Kỳ bắt đầu, Đức Gioan Phaolô II đã sử dụng bài huấn dụ trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật của mình để đưa ra một lời kêu gọi cuối cùng khác.

    “Đối mặt với những hậu quả to lớn mà một hoạt động quân sự quốc tế sẽ gây ra cho dân chúng Iraq và cho sự cân bằng của khu vực Trung Đông, vốn đã rất khốn cùng, và đối với những hành động cực đoan có thể xuất phát từ đó, tôi nói với tất cả: vẫn còn thời gian để thương lượng; vẫn còn chỗ cho hòa bình, không bao giờ là quá muộn để hiểu và tiếp tục thảo luận”, ngài nói.

    Mặc dù bây giờ tất cả những điều đó có vẻ hiển nhiên, nhưng vào thời điểm đó, Vatican là một trong số ít các quốc gia phương Tây sẵn sàng công khai nói lên sự e ngại của mình đối với các chính sách của Hoa Kỳ. Mặc dù có thể là khó mường tượng ra thế giới ngày nay có thể trông khác như thế nào nếu Hoa Kỳ đã lắng nghe lời kêu gọi của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nhưng câu trả lời gần như chắc chắn là sẽ khác “rất xa”.

    Cột mốc 20 năm kể từ ngày vụ khủng bố 11 tháng 9, trong số nhiều điều khác, đưa ra một lời nhắc nhở rằng Vatican đã đúng, không chỉ một lần mà là hai lần, về những đau lòng sẽ xảy ra sau các phản ứng quân sự của Mỹ và các đồng minh sau các cuộc tấn công.

    Có lẽ đó không phải là niềm an ủi nghiệt ngã cho những người Công Giáo trong ngày kỷ niệm khủng khiếp này. Tuy nhiên, nếu không có gì khác, có lẽ nó cũng mang lại một lợi ích nhất định cho sự nghi ngờ vào lần tiếp theo khi các nhà ngoại giao Vatican cố gắng cảnh báo thế giới rằng “Làm theo cách đó thật là một sự điên rồ”.
    Source:Crux9/11 anniversary a reminder the Vatican had it right, not once but twice

    3. Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm tân Tổng giám mục cho thủ đô Belarus

    Hôm thứ Ba, Tòa Thánh chi biết Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm một tổng giám mục Công Giáo mới cho thành phố thủ đô Belarus.

    Tòa thánh Vatican thông báo vào ngày 14 tháng 9 rằng Đức Giáo Hoàng đã chọn Đức Cha Iosif Staneuski, tổng thư ký Hội đồng Giám mục Công Giáo Belarus, làm nhà lãnh đạo tổng giáo phận Minsk-Mohilev.

    Việc bổ nhiệm diễn ra vào một thời điểm đầy thách thức đối với Giáo Hội Công Giáo ở Belarus, quốc gia có 9.6 triệu dân giáp với Nga, Ukraine, Ba Lan, Lithuania và Latvia.

    Đất nước đã chứng kiến các cuộc biểu tình lan rộng kể từ khi nhà lãnh đạo lâu năm Alexander Lukashenko được tuyên bố là người chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 8 năm 2020 với 80% phiếu bầu.

    Cùng tháng đó, Đức Tổng Giám Mục Tadeusz Kondrusiewicz, Tổng giám mục Minsk-Mohilev, đã bị cấm trở lại Belarus sau khi đi thăm Ba Lan.

    Đức Tổng Giám Mục Kondrusiewicz, khi đó là chủ tịch hội đồng giám mục Belarus, đã cầu nguyện bên ngoài một nhà tù nơi những người biểu tình bị giam giữ bị tra tấn và yêu cầu điều tra về các báo cáo theo đó cảnh sát chống bạo động đã chặn cửa của một nhà thờ Công Giáo ở Minsk trong khi bắt bớ những người biểu tình ở một quảng trường gần đó.

    Sau các dàn xếp, ngày 22 tháng 12, ngài được cho về nước. Tuy nhiên, chỉ hơn một tuần sau đó, ngày 3 tháng Giêng, ngài được cho về hưu. Chế độ cũng đã trừng phạt các linh mục đã ủng hộ các cuộc biểu tình, gần đây nhất là vụ lùng bắt Cha Vyacheslav Barok vì phản đối gian lận bầu cử và các hành vi bạo lực của chế độ. Rất may, đầu tháng 7 năm 2021, ngài kịp thời trốn sang nước láng giềng Ba Lan.

    Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm Đức cha Kazimierz Wielikosielec làm giám quản tông tòa của tổng giáo phận Minsk-Mohilev.

    Phát biểu trong thánh lễ chia tay ở Minsk, Đức Tổng Giám Mục Kondrusiewicz nói: “Thay đổi một giám mục sau khi ngài bước qua tuổi 75 là một điều bình thường. Tôi ra đi với tư cách là một giám mục bản quyền, nhưng với tư cách là một giám mục, tôi vẫn ở lại”.

    “Điều quan trọng là, bất chấp sự thay đổi của các giám mục, Giáo hội vẫn tồn tại, hoạt động và các cánh cổng địa ngục sẽ không thể chống lại nó”.

    Đức Cha Iosif Staneuski, 52 tuổi, đã từng là Giám Mục Phụ Tá của Grodno, miền tây Belarus, kể từ năm 2014.

    Ngài sinh ngày 4 tháng 4 năm 1969, tại làng Zanevich, gần Grodno. Ngài được thụ phong linh mục giáo phận Grodno ngày 17 tháng 6 năm 1995.

    Năm 1999, ngài nhận được Chứng chỉ Giáo luật tại Đại học Công Giáo Gioan Phaolô II ở Lublin, Ba Lan.

    Ngài từng là giảng viên, và cuối cùng là hiệu trưởng của đại chủng viện ở Grodno. Ngài giám sát việc đào tạo mục vụ cho các linh mục trẻ của giáo phận Grodno từ năm 2007 đến năm 2013.

    Ngài được bầu làm tổng thư ký Hội đồng Giám mục Belarus vào năm 2015 và lần thứ hai vào tháng 4 năm nay.

    Lý do nữ tổng thống Slovakia đã khóc.
    Dư âm chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha
    tại Hung Gia Lợi và Slovakia


    Giáo Hội Năm Châu 16/Sep/2021

    UserPostedImage

    https://vietcatholic.net/News/Html/271086.htm

    1. Nữ tổng thống Slovakia xác nhận đã rất xúc động và đã khóc.

    Trong một diễn biến chưa từng có trong các chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô, Nữ Tổng thống đã khóc khi Đức Thánh Cha lên máy bay. Các hình ảnh thu được cho thấy bà đứng chết trân tại chỗ nhìn theo Đức Thánh Cha khi ngài lên máy bay và trong lúc máy bay chạy ra đường băng để cất cánh.

    Trong cuộc họp báo sau đó tại dinh tổng thống, đích thân bà Zuzana Čaputová xác nhận là bà đã rất xúc động và đã khóc.

    Zuzana cho biết bà đặc biệt xúc động trước sự đơn sơ chân thành của Đức Thánh Cha cũng như thông điệp mà Đức Thánh Cha gởi đến cho đất nước Slovakia.

    Trong cuộc gặp gỡ tại phủ tổng thống, Đức Thánh Cha đã nói: “Lịch sử lâu đời của quốc gia này thách thức Slovakia trở thành một thông điệp hòa bình giữa lòng Âu Châu. Lời kêu gọi đó được gợi lên bởi sọc xanh lớn trên lá cờ của các bạn, biểu tượng cho tình anh em với các dân tộc Slav. Tình huynh đệ như vậy là cần thiết cho tiến trình hội nhập ngày càng bức thiết. Hơn nữa, trong những ngày này, sau những tháng dài và vất vả của đại dịch, hoàn toàn nhận thức được những khó khăn phải đối mặt, chúng ta mong đợi với hy vọng về một sự trỗi dậy kinh tế được ủng hộ bởi các kế hoạch phục hồi của Liên minh Âu Châu. Tuy nhiên, luôn có nguy cơ khuất phục trước sự thiếu kiên nhẫn và sự lôi cuốn của lợi nhuận, dẫn đến cảm giác hưng phấn thoáng qua, thay vì gắn kết mọi người lại với nhau, lại chỉ chứng tỏ sự chia rẽ. Sự phục hồi kinh tế mà thôi cũng chưa đủ trong một thế giới tự nó đã trở thành ngã ba đường, trong đó tất cả đều được kết nối với nhau. Ngay cả khi các cuộc chiến giành ưu thế được tiến hành trên nhiều mặt trận khác nhau, cầu mong quốc gia này vẫn có thể khẳng định lại thông điệp về hội nhập và hòa bình. Và cầu mong Âu Châu được phân biệt bởi một tình đoàn kết, khi vượt lên trên các biên giới, có thể đưa nó trở lại trung tâm của lịch sử.

    Lịch sử Slovakia đã được ghi dấu ấn không thể xóa nhòa bởi đức tin. Tôi hy vọng rằng đức tin, tự bản chất của nó, sẽ khuyến khích các dự án và cảm xúc được truyền cảm hứng từ tình huynh đệ, dựa trên kinh nghiệm sử thi của hai anh em thánh Cyrilô và Methođiô. Họ đã làm việc để truyền bá Phúc âm vào thời điểm mà các Kitô Hữu của lục địa này đang hợp nhất; ngày nay họ tiếp tục đoàn kết các cộng đồng tôn giáo khác nhau ở vùng đất này. Cyrilô và Methođiô đồng hóa với tất cả, và tìm kiếm sự hiệp thông với tất cả: người Slav, người Hy Lạp, cũng như người Latinh. Niềm tin vững chắc của họ được thể hiện qua sự cởi mở tự phát hướng đến người khác. Đây là di sản mà bây giờ anh chị em được kêu gọi để bảo tồn, để trong thời đại của chúng ta, các bạn cũng có thể là một dấu chỉ của sự hợp nhất.”

    Bà Zuzana Čaputová sinh ngày 21 tháng 6 năm 1973, trong một gia đình lao động nghèo, là một chính trị gia, luật sư và nhà hoạt động môi trường người Slovakia. Bà là Tổng thống Slovakia từ ngày 15 tháng 6 năm 2019. Zuzana là người phụ nữ đầu tiên nắm giữ chức vụ tổng thống, và cũng là tổng thống trẻ nhất trong lịch sử của Slovakia, được bầu ở tuổi 45. Bà Zuzana Čaputová không phải là người Công Giáo. Bà đã ly dị và có 2 đứa con.

    Báo chí tại Bratislava cho biết gia đình bà Zuzana nguyên là người Công Giáo. Trong thời kỳ cộng sản, hoàn cảnh khó khăn quá nên có lẽ đã không thể giữ đạo. Tuy nhiên, bà Zuzana chưa bao giờ cho rằng mình là người vô thần. Bà được tin là tập thiền Yoga. Hy vọng, có thể qua chuyến tông du này và những liên hệ tiếp theo đây, nữ tổng thống có thể trở lại đạo. Chúng ta hãy hy vọng như thế.

    Dư âm chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha tại Hung Gia Lợi và Slovakia

    Những hình ảnh quý vị và anh chị em là cảnh quan trên đường Đức Thánh Cha ra sân bay quốc tế Bratislava để trở về Rôma. Dư luận về chuyến viếng tông du của Đức Thánh Cha tại Hung Gia Lợi và Slovakia rất thuận lợi.

    Đình Trinh xin kể với quý vị và anh chị em câu chuyện sau.

    Một người sống sót sau thảm họa Holocaust, tức là cuộc diệt chủng người Do Thái, đã cảm ơn Đức Thánh Cha Phanxicô vì ngài đã nêu bật chủ nghĩa bài Do Thái trong chuyến thăm Trung Âu.

    Nhà văn Do Thái gốc Hung Gia Lợi Edith Bruck đã bày tỏ lòng biết ơn của mình trong một bức thư được một ký giả gửi cho Đức Giáo Hoàng vào ngày 15 tháng 9 trong cuộc họp báo trên chuyến bay của ngài khi kết thúc chuyến công du bốn ngày tới Hung Gia Lợi và Slovakia.

    Đức Giáo Hoàng đã gặp các cộng đồng Do Thái ở cả hai quốc gia trong chuyến thăm từ ngày 12 đến 15 tháng 9, nhắc lại những đau khổ của họ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai và bày tỏ sự bất mãn đối với chủ nghĩa bài Do Thái đương thời.

    Bà Bruck, 90 tuổi, viết: “Đức Giáo Hoàng Phanxicô kính yêu, những lời của ngài về chủ nghĩa bài Do Thái, chưa bao giờ bị xóa bỏ, ngày nay phù hợp hơn bao giờ hết. Không chỉ ở các quốc gia bạn đang đến thăm, mà ở khắp Âu Châu”.

    Hôm 23 tháng 2, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến thăm nhà của nhà văn này ở Rome.

    Bà Bruck 89 tuổi là người Hung Gia Lợi, nhưng đã sống ở Ý từ những năm đầu 20 tuổi. Bà sống sót sau các trại tập trung của Đức Quốc xã ở Auschwitz và Dachau, nơi bà bị đưa đến cùng cha mẹ, hai anh trai và một em gái vào năm 12 tuổi.

    Cha mẹ và một người anh của bà đã chết trong trại tập trung. Bruck và các anh chị em còn lại của bà được quân Đồng minh giải thoát khỏi trại Bergen-Belsen vào năm 1945.

    Theo Vatican, trong một cuộc họp khoảng một giờ vào ngày 20 tháng 2, Bruck và Đức Giáo Hoàng đã nói về “những khoảnh khắc ánh sáng đánh dấu trải nghiệm địa ngục của các trại tập trung”.

    Cuộc trò chuyện của hai vị cũng đề cập đến “nỗi sợ hãi và hy vọng cho thời đại chúng ta đang sống, nhấn mạnh giá trị của trí nhớ và vai trò của người già trong việc nuôi dưỡng nó và truyền nó cho người trẻ”.

    Khi đến thăm Bruck, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Tôi đến đây để cảm ơn lời chứng của bà và để tri ân những người đã tử vì đạo trong sự điên cuồng của chủ nghĩa dân túy Quốc xã”.

    “Và tôi chân thành lặp lại với bà những lời tôi đã nói từ trái tim mình tại Yad Vashem và tôi lặp lại trước mặt tất cả những người, giống như bạn, đã phải chịu đựng rất nhiều vì điều này: ‘Hãy tha thứ cho nhân loại!’,” ngài nói.

    Sau năm 1945, Bruck trở lại Hung Gia Lợi và sau đó đến Tiệp Khắc nơi một người chị đang sinh sống. Bà kết hôn lần đầu năm 16 tuổi và chuyển đến Israel. Cuộc hôn nhân đó kết thúc bằng ly hôn sau một năm, và tiếp theo là hai cuộc hôn nhân và ly hôn khác.

    Bruck chuyển đến Ý vào năm 1954, nơi bà kết hôn với Nelo Risi, một nhà thơ, đạo diễn phim, dịch giả và biên kịch người Ý, người đã qua đời vào năm 2015 sau một thời gian dài chiến đấu với căn bệnh thoái hóa thần kinh.

    Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Risi đã chiến đấu trên mặt trận Nga và bị giam trong một trại tạm giam ở Thụy Sĩ.

    Bruck đã xuất bản một cuốn hồi ký về thời gian của bà trong các trại tập trung và những năm sau đó bằng tiếng Ý vào năm 1959. Năm 2001 nó được dịch sang tiếng Anh với tiêu đề “Ai yêu bạn như thế này.”

    Là một nhà văn từng đoạt giải thưởng, Bruck cũng đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, tuyển tập truyện ngắn, các vở kịch và kịch bản phim bằng tiếng Ý. Cô cũng đã đạo diễn một số bộ phim của Ý, một trong số đó ra mắt vào giữa những năm 1980, đã bị cấm đối với người xem dưới 18 tuổi vì những mô tả khiêu dâm về loạn luân.

    Trong những năm gần đây, Bruck đã tiếp tục nói về Holocaust trong các trường học và đại học.
    Source:Catholic News AgencyHolocaust survivor thanks Pope Francis for highlighting anti-Semitism on Central Europe trip

    2. Đức Thánh Cha tạ ơn Đức Mẹ tại Đền Thờ Đức Bà Cả

    Chuyến bay của Đức Giáo Hoàng hạ cánh tại sân bay Fiumicino của Rome lúc 3:30 chiều, giờ địa phương. Ngài đã ghé vào Đền Thờ Đức Bà Cả để cảm ơn sự che chở phù trì của Đức Mẹ. Chuyến tông du này của Đức Thánh Cha có thể coi là một cuộc trắc nghiệm tình trạng sức khoẻ của ngài sau phẫu thuật ruột kết vào đầu tháng 7 vừa qua.

    Theo truyền thống trước và sau các chuyến tông du, Đức Thánh Cha luôn ghé vào Đền Thờ Đức Bà Cả trước và sau mỗi chuyến tông du để cầu xin sự bảo vệ chở che của Đức Mẹ, trên đường ra sân bay cũng như lúc trở về lại Vatican.

    Theo Văn phòng Báo chí Tòa thánh, Đức Thánh Cha đã cầu nguyện một lúc trước bức ảnh Maria Salus Populi Romani, tức là Đức Maria là phần rỗi của dân thành Roma.

    Đức Thánh Cha cũng dâng lên Mẹ một bó hoa để tỏ lòng biết ơn.

    Bức ảnh Đức Maria là phần rỗi của dân thành Roma được đặt trong nhà nguyện của Bá tước Borghese trong Đền Thờ Đức Bà Cả.

    Tương truyền bức ảnh này đã có ở Rôma dưới triều đại Thánh Giáo hoàng Gregoriô Cả, vào khoảng năm 590 sau Chúa Giáng Sinh, mặc dù nguồn gốc của bức ảnh có lẽ còn lâu đời hơn nữa.
    Source:Vatican NewsPope Francis thanks Mary for visit to Budapest and Slovakia

    3. Đức Thánh Cha Phanxicô đã từ chối đơn từ chức của tổng giám mục Hamburg

    Đức Thánh Cha Phanxicô đã từ chối đơn từ chức của một tổng giám mục người Đức, sứ thần Tòa thánh tại Berlin thông báo hôm thứ Tư.

    Sứ thần cho biết vào ngày 15 tháng 9 rằng Đức Giáo Hoàng đã yêu cầu Đức Tổng Giám Mục Stefan Heße tiếp tục làm tổng giám mục của Hamburg, miền bắc nước Đức, sau cuộc điều tra của Vatican về việc xử lý các trường hợp lạm dụng của ông, CNA Deutsch, đối tác tin tức tiếng Đức của CNA đưa tin.

    Sứ thần Tòa Thánh giải thích rằng cuộc điều tra đã phát hiện ra những thiếu sót về thể chế và sai sót về thủ tục của Đức Tổng Giám Mục Heße, nhưng “cuộc điều tra không cho thấy rằng những sai sót này được thực hiện với ý định che đậy các vụ lạm dụng tình dục”.

    Dức Sứ thần Tòa Thánh nói rằng “vấn đề cơ bản” là “sự thiếu chú ý và nhạy cảm đối với những người bị ảnh hưởng bởi sự lạm dụng” trong bộ máy hành chính của tổng giáo phận Köln.

    Sau những cáo buộc đầu tiên chống lại ngài vào năm 2020, Đức Tổng Giám Mục Heße đã viết thư cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô yêu cầu xem xét lại trường hợp của mình. Dưới thời của cố Hồng Y Meisner, là Tổng giám mục Köln từ năm 1989 đến năm 2014, Đức Cha Heße, lúc đó chỉ mới là một linh mục, đã lần lượt đảm nhận các chức vụ quản lý nhân sự từ năm 2003-2012 và sau đó là tổng đại diện từ năm 2012-2014. Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám mục Hamburg vào năm 2015.

    Bản báo cáo 800 trang được chờ đợi từ lâu về việc đối phó với các trường hợp lạm dụng giáo sĩ ở tổng giáo phận Köln đã được công bố vào ngày 18 tháng 3 năm nay. Trong đó, Cha Heße bị buộc tội không giải quyết các tội lỗi lạm dụng tính dục của hàng giáo sĩ đến nơi đến chốn, và ngài đã đề nghị xin Đức Giáo Hoàng cho từ chức. Vào ngày 29 tháng 3, tổng giáo phận Hamburg thông báo rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cho phép Đức Tổng Giám Mục Heße nghỉ phép vô thời hạn nhưng vẫn để ngỏ câu hỏi về việc liệu ngài có chấp nhận đề nghị từ chức của Đức Cha Heße hay không. Thời hạn ba tháng để chấp nhận một đề nghị như vậy, được quy định bởi giáo luật, đã trôi qua.

    Trên chuyến máy bay từ Slovakia trở lại Vatican,
    Đức Phanxicô đề cập đến việc rước lễ của những người
    chủ trương phá thai


    Vũ Văn An 16/Sep/2021

    UserPostedImage

    Theo VatricanNews, trên chuyến bay từ Slovakia trở lại Vatican ngày 15 tháng 9, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã trả lời nhiều câu hỏi của các ký giả tháp tùng, trong đó, câu trả lời về việc rước lễ của các chính trị gia ủng hộ phá thai được ngài quảng diễn nhiều hơn cả.

    Có lẽ cũng vì thế, Thông tin chính thức của Tòa Thánh đã cho đăng tải trọn vẹn cuộc phỏng vấn trên không bằng tiếng Ý, một điều hiếm khi nào diễn ra, và được VaticanNews tạm dịch sang tiếng Anh.

    Trước nhất ngài cho biết năm tới, ngài sẽ trở lại thăm Hung Gia Lợi một cách chính thức. Về liên hệ với Thủ tướng Orbán của Hung Gia Lợi, ngài cho biết trong cuộc gặp gỡ với Ông này cũng như với Tổng thống Hung Gia Lợi, Tổng thống nói nhiều hơn và họ không bàn tới vấn đề di dân. Nhân cơ hội này, ngài nói tới Âu Châu, đúng hơn Liên hiệp Âu Châu: nó không phải là một hội đồng để làm việc này việc nọ, mà có một tinh thần làm cơ sở.

    Đề cập tới vấn đề chích ngừa COVID-19, Đức Phanxicô cho hay trước đây, chích ngừa bệnh sởi, bệnh tê liệt, có ai phản đối đâu. Lần này có phản đối có lẽ vì tính cực hại của căn bệnh, vì không biết chắc không những về đại dịch mà còn về các loại thuốc chích khác nhau. Ngài bảo có những thuốc chích “không là gì khác hơn là nước cất”. Nên người ta sợ, sợ bị hại bởi thuốc chích. Ngài chỉ khuyên mọi người nên “minh giải và nói một cách thanh thản về việc này”.

    Về “hôn nhân” đồng tính, ngài cho biết ngài đã nhiều lần nói rõ: hôn nhân là một bí tích nên Giáo Hội không có quyền thay đổi. Nó là thế vì Chúa đã thiết lập như thế cho chúng ta”. Nhưng ngài cho hay có những đạo luật nhằm giúp hoàn cảnh của nhiều người có xu hướng tính dục khác nhau. Điều này quan trọng, tức việc giúp đỡ những người này. Nhưng không được áp đặt những điều tự bản chất của chúng không thể du nhập vào Giáo Hội được. Nếu người ta muốn trợ giúp một cặp đồng tính sống với nhau, nhà nước có khả thể trợ giúp họ về mặt dân luật, cung cấp an toàn cho họ qua việc thừa kế, bảo hiểm sức khỏe. Pháp còn cung cấp các phương tiện này cho cả những người sống chung không liên hệ gì tới tình dục.

    Nhưng ngài quả quyết hôn nhân là hôn nhân. Điều này không có nghĩa phải lên án những người như trên, “Không phải thế, xin làm ơn, họ là anh chị em của chúng ta và chúng ta phải đồng hành với họ. Nhưng hôn nhân như một bí tích là điều rõ ràng, nó rất rõ ràng... hôn nhân như một bí tích phải là giữa một người đàn ông và một người đàn bà”.

    Ngài thú nhận, “Đôi khi, điều tôi nói gây hoang mang. [Tuy nhiên] Tất cả như nhau, tôn trọng mọi người. Chúa tốt lành muốn cứu mọi người, đừng nói to điều này [cười], nhưng Chúa muốn cứu mọi người. Xin vui lòng, đừng bắt Giáo Hội phải bác bỏ chân lý của mình”. Ngài cho biết nhiều người có xu hướng đồng tính tìm đến Bí Tích Giải tội xin ý kiến linh mục, và Giáo Hội giúp họ tiến tới trên đường đời. “Nhưng bí tích hôn nhân thì...”. Tường trình ngưng ở đó.

    Câu hỏi đáng chú ý nhất được Gerard O’Connell của tạp chí America nêu ra là về việc rước lễ của các chính trị gia phò phá thai. Câu hỏi đó như sau: “Chính Đức Thánh Cha từng nói rằng tất cả chúng ta đều là kẻ có tội và Thánh Thể không phải là phần thưởng của người hoàn thiện, nhưng là thuốc và của nuôi dưỡng dành cho kẻ yếu. Như Đức Thánh Cha đã thấy, tại Hoa Kỳ, sau những cuộc bầu cử vừa qua, nhưng cả từ năm 2004, vẫn có một cuộc tranh luận giữa các Giám Mục về việc cho rước lễ các chính trị gia ủng hộ các đạo luật phò phá thai và quyền của phụ nữ được lựa chọn. Và như Đức Thánh Cha đã tường, có những Giám Mục muốn từ khước việc rước lễ đối với tổng thống và nhiều người khác, có những Giám Mục khác chống lại việc này, lại có một số Giám Mục nói rằng không nên sử dụng Thánh Thể như một vũ khí. Đức Thánh Cha nghĩ gì về thực tại ấy và Đức Thánh Cha có lời khuyên nào với các Giám Mục? Và rồi câu hỏi thứ hai, trong tư cách một Giám Mục, suốt trong những năm qua, có bao giờ Đức Thánh Cha từ khước Thánh Thể đối với bất cứ ai không?”

    Cách và thứ tự đặt câu hỏi của O’Connell hẳn là cố ý. Nhưng cách và thứ tự các câu trả lời của Đức Phanxicô không hẳn là không có nghĩa. Ngài trả lời câu hỏi thứ hai trước nhất. Dành phần chính cho câu hỏi đầu về phá thai. Sau đây là câu trả lời của Đức Phanxicô:

    Tôi chưa bao giờ từ chối Thánh Thể cho bất cứ ai. Không một ai. Tôi không biết có ai đến với tôi trong hoàn cảnh đó hay không, nhưng tôi không bao giờ từ chối Thánh Thể. Cho đến ngày nay với tư cách là một linh mục, không bao giờ. Nhưng tôi chưa bao giờ rõ liệu có người nào đến trước mặt tôi như ông mô tả hay không. Đúng như thế.

    Đơn giản, lần duy nhất tôi gặp chuyện buồn cười là khi tôi đi cử hành thánh lễ trong một viện dưỡng lão. Và chúng tôi đang ở trong phòng khách và tôi nói: "Ai muốn Rước lễ, hãy giơ tay lên". Và tất cả mọi người, họ lớn tuổi, đều giơ tay lên. Và tôi đã cho rước lễ một mệnh phụ, và [sau đó] bà ấy nắm lấy tay tôi và nói, "Cảm ơn Cha, cảm ơn Cha, con là người Do Thái." Bà ấy nắm lấy tay tôi. Ngay cả người mà tôi đã nói với bạn là một phụ nữ Do Thái, tuy nhiên, vẫn cứ tiến hành. Điều kỳ lạ duy nhất. Nhưng sau đó người phụ nữ mới nói với tôi.

    Rước lễ không phải là một giải thưởng cho những người hoàn thiện, hãy nghĩ đến [...], phái Jansen, chỉ những người hoàn thiện mới được rước lễ. Rước lễ là một hồng ân, một hồng ân, là sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Giáo hội của Người. Nó nằm trong cộng đồng. Đó là thần học. Vậy thì những ai không ở trong cộng đồng không thể rước lễ - như mệnh phụ Do Thái này, nhưng Chúa muốn ban thưởng cho bà ấy mà tôi đâu có biết. Tại sao [họ không thể rước lễ]? Bởi vì họ ở ngoài cộng đồng, bị vạ tuyệt thông, họ bị “vạ tuyệt thông”, người ta nói như thế. Đó là một thuật ngữ khắc nghiệt, nhưng ý nghĩa của nó là họ không ở trong cộng đồng, hoặc bởi vì họ không thuộc về hoặc họ đã được rửa tội nhưng đã trôi dạt khỏi một số điều.

    Thứ hai, vấn đề phá thai. Phá thai không chỉ là một vấn đề. Phá thai là giết người. Phá thai, không nói bóng gió: kẻ nào thực hành việc phá thai đều giết người. Ông lấy bất cứ cuốn sách giáo khoa nào về phôi thai học của các sinh viên học trong trường y khoa. Ở tuần thứ 3 thai kỳ, thứ 3, nhiều khi bà mẹ chưa để ý, tất cả các cơ quan đều đã có rồi. Tất cả các cơ quan. Ngay cả DNA. [...]

    Đó là một sự sống con người, không lôi thôi gì cả. Sự sống con người này phải được tôn trọng. Nguyên tắc này quá rõ ràng. Và đối với những người không thể hiểu nó, tôi muốn hỏi hai câu hỏi: Có đúng không, có công bằng không, khi giết một mạng người để giải quyết một vấn đề? Về mặt khoa học, đó là một sự sống con người. Câu hỏi thứ hai: Có đúng không khi thuê một sát thủ để giải quyết một vấn đề? Tôi đã nói điều này một cách công khai [...] khi tôi làm vậy, tôi đã nói điều đó với COPE, tôi muốn lặp lại điều đó. Và chấm hết. Đừng tiếp tục với những cuộc thảo luận kỳ dị nữa: Về mặt khoa học, đó là một sự sống con người rồi. Sách giáo khoa dạy chúng ta điều đó. Nhưng có đúng không khi lấy nó ra để giải quyết một vấn đề? Đây là lý do tại sao Giáo hội rất nghiêm khắc đối với vấn đề này bởi vì chấp nhận điều này giống như chấp nhận giết người hàng ngày.

    Một nguyên thủ quốc gia đã nói với tôi rằng sự suy giảm dân số bắt đầu với thời đại phá thai. Bởi vì trong những năm đó có luật phá thai mạnh mẽ đến nỗi có sáu triệu ca phá thai được thực hiện và điều này đã để lại một sự suy giảm rất lớn trong xã hội của đất nước đó.

    Bây giờ chúng ta hãy quay lại với người không ở trong cộng đồng và không thể rước lễ vì người đó ở ngoài cộng đồng. Đây không phải là một hình phạt: bạn đang ở bên ngoài. Rước Lễ là để hợp nhất cộng đồng.

    Nhưng vấn đề không phải là một vấn đề thần học, một vấn đề đơn giản. Vấn đề là một vấn đề mục vụ: làm thế nào các giám mục chúng ta quản lý nguyên tắc này về mặt mục vụ. Nếu nhìn vào lịch sử của Giáo Hội, chúng ta sẽ thấy rằng mỗi khi các giám mục không quản lý một vấn đề như các mục tử, họ đã đứng về phía sinh hoạt chính trị, về vấn đề chính trị. Vì không quản lý tốt một vấn đề, nên họ đã đứng về phía mặt trận chính trị.

    Chúng ta hãy nghĩ tới đêm đen của Thánh Bartholomêô: Dị giáo, vâng, dị giáo là điều rất nghiêm trọng [...] mọi người, đó là một sự kiện chính trị. Hãy nghĩ tới Gioan thành Arc, với sứ mệnh này. Hãy nghĩ tới các cuộc săn phù thủy. Chúng tôi luôn nghĩ tới Campo de ’Fiori, Savonarola, tất cả những thứ ấy. Khi, để bảo vệ một nguyên tắc, Giáo hội không thực hiện nó về mặt mục vụ, thì, Giáo hội đứng về phía chính trị. Và điều này đã luôn luôn như vậy. Chỉ cần nhìn vào lịch sử.

    Mục tử phải làm gì? Hãy là một người chăn chiên, đừng đi loanh quanh để lên án, đừng lên án, nhưng hãy là một mục tử. Nhưng có phải ngài cũng là mục tử của người bị vạ tuyệt thông không? Có, ngài là mục tử và ngài phải chăn dắt họ, và ngài phải là người chăn dắt theo phong cách của Thiên Chúa. Và phong cách của Thiên Chúa là sự gần gũi, cảm thương và dịu dàng. Toàn bộ Kinh thánh nói điều đó. Sự gần gũi. Ngay trong sách Đệ nhị luật, Ngài nói với Israel: Dân tộc nào có các thần minh gần gũi như ngươi có Ta? Sự gần gũi. Lòng cảm thương: Chúa thương xót chúng ta. Chúng ta đọc tiên tri Êdêkien, chúng ta đọc tiên tri Hôsê, ngay từ đầu. Và sự dịu dàng - chỉ cần nhìn vào Tin Mừng và các việc làm của Chúa Giêsu.

    Một mục tử không biết cách xoay xở theo phong cách của Thiên Chúa sẽ trơn trượt và sẽ thêm thắt nhiều điều không phải là mục vụ. Đối với tôi, tôi không muốn nói đặc thù tới [...] Hoa Kỳ vì tôi không biết rõ các chi tiết, tôi đưa ra nguyên tắc.

    Ông có thể nói với tôi: nhưng nếu Đức Thánh Cha gần gũi, dịu dàng và cảm thương một ai đó, Đức Thánh Cha phải cho họ Rước lễ - nhưng đó chỉ là giả dụ. Hãy là một mục tử và vị mục tử biết mình phải làm gì mọi lúc, nhưng phải như một người chăn chiên. Nhưng nếu ngài ngưng việc chăn dắt Giáo hội này, ngay lập tức ngài trở thành một chính khách. Và ông sẽ thấy điều này trong tất cả những lời kết án, trong tất cả những lời lên án phi mục vụ mà Giáo hội đưa ra. Với nguyên tắc này, tôi tin rằng một mục tử có thể hành động tốt. Các nguyên tắc là từ thần học, việc chăm sóc mục vụ là thần học và Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn dắt ông làm điều đó với phong cách của Thiên Chúa. Tôi dám mạo hiểm nói xa đến thế...

    Nếu ông bảo tôi: nhưng Đức Thánh Cha có thể cho hay không thể cho [Rước lễ]? Như các nhà thần học vốn nói, đó là lối giải nghi học. Ông còn nhớ cơn bão đã được gây ra bởi Tông huấn Niềm vui Yêu thương (Amoris laetitia) khi chương nói về việc đồng hành với các cặp vợ chồng ly thân, ly dị xuất hiện không: "Dị giáo, dị giáo!" Cảm ơn Chúa đã có Đức Hồng Y Schönborn, một nhà thần học vĩ đại đã làm sáng tỏ mọi điều.

    Nhưng luôn luôn có kết án, kết án, vạ tuyệt thông đã đủ rồi. Xin vui lòng, chúng ta đừng đặt thêm bất cứ vạ tuyệt thông nào nữa. Tội nghiệp người ta. Họ là con cái của Thiên Chúa. Họ tạm thời ở bên ngoài, nhưng họ là con cái của Thiên Chúa và họ muốn, và cần sự gần gũi mục vụ của chúng ta. Sau đó, các mục tử phải giải quyết mọi sự nhờ Thánh Thần của Thiên Chúa.

    Nhìn Về Tương Lai Trong Dịp Kỷ Niệm Biến Cố 9/11


    September 11, 2021
    Cali Today News

    UserPostedImage

    Cuộc chiến tranh dài nhất trong lịch sử của Hoa Kỳ cuối cùng đã kết thúc trong sự hoảng loạn, và bạo động ở Afghanistan . Cái chết của 13 lính Mỹ, và cảnh người Afghan hoảng hốt dành nhau chạy lên máy bay vận tải ở phi trường Kabul, khiến cho việc kỷ niệm 20 năm ngày quân khủng bố tấn công vào Hoa Kỳ mang nhiều nét cay đắng. Cũng nhân dịp này, chúng ta ghi nhận tình hình chính trị trong nội địa nước Mỹ thay đổi rất nhiều. Thái độ hiềm khích theo sau cuộc bầu cử Tổng thống năm 2000 đã từ từ lắng dịu so với tâm lý chia rẽ trầm trọng trong dân chúng Mỹ suốt năm năm vừa qua.

    Trong lúc kỷ niệm 20 năm ngày xảy ra biến cố 9/11 và quan tâm đến những gì sẽ xảy ra ở Afghanistan trong tương lai. người Mỹ nên nhớ rằng những gì xảy ra ở nước Afghanistan sẽ quan trọng đối với những nước khác hơn là đối với Hoa Kỳ. Ba nước, Trung cộng, Nga và Iran cảm thấy hả hê vui mừng khi thấy Hoa Kỳ phải rút lui trong tình trạng hết sức tồi tệ, vô trật tự, khiến cho uy tín của Hoa Kỳ bị suy giảm trầm trọng. Nhưng cũng chính từ lúc người Mỹ ra đi, ba nước kể trên sẽ bắt đầu lo âu nhiều hơn người Mỹ.

    Việc rút lui của Hoa Kỳ và phe Taliban đứng ra nắm quyền lãnh đạo ở Kabul sẽ đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho các nước láng giềng của Afghanistan . Phe quân sự và thành phần tôn giáo cực đoan ở Pakistan lấy làm vui mừng khi thấy nước Afghanistan rơi vào tay nhóm lãnh đạo do họ yểm trợ. Nhưng từ khi đặt chân vào thủ đô Kabul để nắm quyền lãnh đạo, phe Taliban sẽ trở nên bớt lệ thuộc vào Pakistan, họ không còn phải lệ thuộc vào thiện chí của Pakistan, nhất là khi họ biết có nhiều chọn lựa khác để xin được viện trợ bằng tiền mặt, hay bằng tài nguyên khác (nhất là nhờ vào Trung cộng) hơn là việc họ phải làm hồi năm 2001, trước khi lực lượng NATO tiến vào Afghanistan. Cùng lúc đó, nước Pakistan sẽ phải đối phó với rất đông người tị nạn Afghanistan xin vào Pakistan để trốn chạy phe Taliban, và phe cực đoan ở Pakistan bắt đầu dùng chiến thắng của phe Taliban để đòi hỏi chia sẻ thêm quyền lực.

    Ông Vladimir Putin của nước Nga rất thích thú khi thấy Hoa Kỳ phải rút lui trong sự nhục nhã. Nhưng tình trạng bất ổn ở Afghanistan rồi đây sẽ đe dọa nước Nga. Nước này vẫn tiếp tục coi phe Taliban là nhóm khủng bố. Chính phủ của những nước trong vùng Trung Á như Uzbekistan và Tajikistan cũng bắt đầu lo sợ khi thấy làm sóng người tị nạn Afghanistan xin vào tá túc, định cư một khi phe chống Taliban tiếp tục lớn mạnh.

    Trong suốt 20 năm qua, không có nước láng giềng nào thay đổi nhiều như Trung cộng. Bây giờ chính Trung cộng lần đầu tiên sẽ phải giữ vai trò tích cực trong việc duy trì sự ổn định ở Afghanistan . Bắc Kinh phải tìm mọi cách để không cho Afghanistan trở thành nơi ẩn náu của những phần tử cực đoan tức giận về việc Trung cộng ngược đãi sắc dân thiểu số Duy Ngô Nhĩ, và tung ra những cuộc tấn công khủng bố ở nhiều nơi trên lãnh thổ Trung Hoa. Bắc Kinh cũng lo sợ tình trạng bạo động, xô xát ở Afghanistan sẽ lây lan sang vùng Trung Á. Ở đó, Trung cộng đã đầu tư rất nhiều tiền của vào những dự án hạ tầng cơ sở.

    Khi người Mỹ tạm nghỉ không can dự vào chuyện ở nước ngoài, để hồi tâm suy tưởng lại những gì đã thay đổi trong nội tình nước Mỹ cũng như vai trò của Hoa Kỳ đối với thế giới trong 20 năm qua, để hiểu được đâu là giới hạn quyền lợi của Hoa Kỳ ở Afghanistan . Những suy nghĩ đó sẽ đóng vai trò chủ yếu khi nhìn về tương lai trong 20 năm sắp tới. Thất bại lớn nhất kể từ sau biến cố 9/11 không phải là ở chỗ chúng ta không thể xây dựng được thể chế dân chủ ở Iraq và Afghanistan . Chúng ta đã thất bại ở chính ngay trong giới lãnh đạo nước Mỹ – và trong tâm lý dân chúng Mỹ. Chúng ta đã không thực hiện được sự đoàn kết sau khi xảy ra cuốc tấn công của quân khủng bố, để giúp Hoa Kỳ xây dựng một quốc gia hoàn thiện. Khi đó, dân chúng Mỹ cùng một lòng với nhau chung sức đánh trả bọn khủng bố.

    Sự đoàn kết hiếm có đó dĩ nhiên đã không tồn tại lâu, song đã có một khoảng thời gian rất ngắn khi người Mỹ được nhắc nhở rằng chúng ta có những mục tiêu chung với nhau. Câu hỏi mà chúng ta phải trả lời là phải chăng những ngày người dân Mỹ đồng chung một lòng nay đã vĩnh viễn không còn tìm lại được nữa hay chăng!

    Bài phân tích của Ian Bremmer trên báo TIME ngày 13/9/2021

    Nguyễn Minh Tâm dịch

    Biden tăng cường chuyến bay trục xuất về Haiti,
    ngăn chặn di dân ào ạt đổ về Texas


    September 18, 2021

    UserPostedImage

    (Washington Post) – Chính phủ Biden đang chuẩn bị những chuyến bay đưa hàng loạt di dân trở lại Haiti bắt đầu từ Chủ nhật, trong một đợt trục xuất nhằm làm nhụt chí những người vượt biên giới đang đổ về Nam Texas, với 14.000 người đang chen chúc đóng trại ở Del Rio.

    Theo hai nguồn tin thông thạo vấn đề, Bộ Nội An đang dự tính thực hiện 8 chuyến bay đi Haiti mỗi ngày, tuy nhiên, những kế hoạch này có thể thay đổi.

    Chính phủ Haiti cũng đồng ý nhận ít nhất 3 chuyến bay mỗi ngày, nhưng các viên chức của Tổng thống Joe Biden muốn nâng các chuyến bay lên mức tối đa nhằm phá vỡ động lực của dòng người đang đổ về Del Rio cắm trại chờ.

    Một viên chức khác tham gia vào việc lên kế hoạch nhấn mạnh, các chuyến bay không phải là một biện pháp mục tiêu nhắm vào di dân Haiti, nhưng luật di trú của Mỹ cho phép chính phủ trả lại những người vượt biên giới trái phép.

    “Điều này không phải về bất cứ quốc gia nào hay quốc gia xuất xứ,” viên chức này nói, “mà là về thực thi hạn chế biên giới đối với những người vẫn tiếp tục vào Mỹ bất hợp pháp, đặt mạng sống của họ và của lực lượng nhân lực liên bang vào nguy hiểm.”

    Chính phủ Biden tiếp tục sử dụng biện pháp thực thi đại dịch có tên Title 42 nhằm nhanh chóng trục xuất di dân từ Mexico hay từ quốc gia quê nhà vượt biên vào Mỹ.

    Bằng thông báo dự tính trục xuất người Haiti trước khi khởi sự các chuyến bay, chính phủ hy vọng một số di dân trong trại từ bỏ nỗ lực tìm cách vào Mỹ và quay trở lại Mexico. Di dân đến trại được Tuần Cảnh Biên giới phát số khi chờ đến lượt được chính thức đưa vào các cơ sở tạm giam của Mỹ – bước đi đầu tiên trong thủ tục xin tị nạnh ở Mỹ, hoặc một số hình thức khác bảo vệ khỏi bị trục xuất.

    Một số người Haiti tìm cách tránh trục xuất có thể bỏ trại Del Rio và tìm cách sống lậu ở Mỹ, hoặc quay trở lại Mexico, hai viên chức Mỹ thừa nhận.

    Nhiều di dân tập trung dưới gầm cầu xa lộ nằm trong làn sóng di dân Haiti lớn hơn đã đến Brazil, Chile, và các quốc gia Nam Mỹ khác, sau trận động đất kinh hoàng ở quốc gia họ vào năm 2010.

    Làn sóng di dân tại biên giới Mỹ-Mễ lại một lần nữa gây ra đau đầu cho nhà chức trách liên bang và địa phương ở Texas.

    Các viên chức Quan thuế và Tuần cảnh Biên giới cho hay, hàng ngàn người di dân, chủ yếu từ Haiti, đã vượt sông Rio Grande, vào Mỹ trong tuần này. Nhà chức trách nhanh chóng làm thủ tục nhưng chắc chắn có chậm trễ đáng kể.

    Hơn 9000 di dân tạm giữ trong khu vực chờ tạm thời dưới gầm cầu Del Rio International vào thứ 5. Con số này gia tăng mỗi ngày.

    Chính phủ Thống đốc Texas Greg Abbott vào thứ 5 yêu cầu chính phủ liên bang hỗ trợ đóng trạm xuất nhập cảnh Del Rio Port of Entry, nơi hiện đang tràn ngập di dân Haiti. Nhưng mấy tiếng sau, chính phủ Biden đảo ngược quyết định.

    Hương Giang (Theo Washington Post)

    Biểu tình ở Washington, DC chấm dứt trong ôn hòa; chỉ 1 người bị bắt


    September 18, 2021

    WASHINGTON, DC (NV) – Cuộc biểu tình có tên “Công Lý cho 6 Tháng Giêng” (Justice for J6) ở Washington, DC chấm dứt trưa hôm Thứ Bảy, 18 Tháng Chín, sau khoảng một giờ đọc diễn văn, và không có bạo động hay các hành vi mất trật tự công cộng do thành phần biểu tình hay chống biểu tình gây ra, như đã lo ngại.

    Giới chức công lực trước đó đã báo động là có đe dọa bạo động, khiến cảnh sát Quốc Hội phải chuẩn bị sẵn sàng để chống bạo loạn và kêu gọi sự hỗ trợ của toàn thể các cơ quan công lực trong khu vực, cũng như của khoảng 100 lính Vệ Binh Quốc Gia, theo bản tin của ABC News.

    UserPostedImage

    Tòa nhà Quốc Hội được tạm rào lại và cảnh sát gia tăng tuần tiễu. (Hình: Tasos Katopodis/Getty Images)

    Đơn xin tổ chức biểu tình dự trù có khoảng 700 người tham dự, tuy nhiên cảnh sát DC nói sau khi cuộc biểu tình chấm dứt là có khoảng 400 tới 450 người hiện diện, không kể nhân viên công lực và giới truyền thông.

    UserPostedImage

    Từ sáng sớm ngày Thứ Bảy, cảnh sát đã tuần tiễu bằng xe đạp quanh khu vực biểu tình. (Hình: Win McNamee/Getty Images)

    Một người đàn ông bị bắt gần khu tòa nhà Quốc Hội, vào lúc khoảng 12 giờ 40 phút trưa, vì mang theo dao trong người. Hiện chưa rõ là người này có định đến tham dự biểu tình hay không. Các cảnh sát viên cũng nhanh chóng giải tán cuộc tranh cãi, đối đầu giữa thành phần biểu tình và chống biểu tình.

    UserPostedImage

    Ông Matt Braynard, trưởng ban tổ chức biểu tình, và một ủng hộ viên. (Hình: Tasos Katopodis/Getty Images)

    Cảnh sát nói không có báo cáo thương tích hay có ai khác bị bắt giữ trong cuộc biểu tình. Sau các bài diễn văn, ban tổ chức kêu gọi giải tán, đề nghị người tham dự hãy đi về theo từng nhóm để được an toàn.

    UserPostedImage

    Cảnh sát thường phục cản người biểu tình,trái, và người chống biểu tình. (Hình: Tasos Katopodis/Getty Images)

    Trưởng ban tổ chức biểu tình, ông Matt Braynard, một cựu nhân viên của cựu Tổng Thống Donald Trump và nay đứng đầu một nhóm có tên “Look Ahead America,” kêu gọi có cuộc biểu tình ôn hòa.

    Trong bài diễn văn mở đầu, ông kêu gọi mọi người tham dự hãy tuân hành chỉ thị của cảnh sát và nhớ đến các cảnh sát viên bảo vệ Quốc Hội đã chết sau khi xảy ra cuộc tấn công hôm 6 Tháng Giêng.

    UserPostedImage

    Một người chống biểu tình bị cảnh sát mời ra khỏi khu vực biểu tình. (Hình: Win McNamee/Getty Images)

    Các diễn giả gọi hàng trăm người bị bắt trong cuộc bạo loạn tấn công vào tòa nhà Quốc Hội là những “tù nhân chính trị.” Cá nhân ông Braynard kêu gọi thả hết những người không bị cáo buộc có hành vi bạo động trong cuộc tấn công hồi Tháng Giêng.

    (V.Giang)

    Trung Quốc lại nắn gân Đài Loan sau khi đảo này
    tăng ngân sách quân sự


    Thứ Sáu, 17 Tháng Chín 20216:01 SA
    voatiengviet.com

    UserPostedImage

    Reuters
    3 minutes

    Bộ Quốc phòng Đài Loan cho biết lực lượng không quân của họ đã được điều động hôm thứ Sáu 17/9 để xua đuổi 10 máy bay Trung Quốc xâm nhập vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan, một ngày sau khi hòn đảo này tuyên bố tăng chi tiêu quân sự thêm 9 tỷ đô la để chống lại mối đe dọa từ Trung Quốc.

    Trung Quốc tuyên bố họ có chủ quyền đối với Đài Loan. Trong khoảng hơn một năm nay, Đài Loan than phiền rằng lực lượng không quân Trung Quốc liên tục tiến hành các hoạt động gần hòn đảo có chính quyền dân chủ, thường là ở phía tây nam của vùng nhận dạng phòng không gần quần đảo Pratas do Đài Loan kiểm soát.

    Tham gia hoạt động mới nhất của Trung Quốc là các máy bay chiến đấu gồm 6 chiếc J-16 và 2 chiếc J-11, cùng với một máy bay chống ngầm và một máy bay trinh sát, Bộ Quốc phòng Đài Loan cho biết.

    Bộ cho biết Đài Loan điều máy bay chiến đấu lên để xua đuổi máy bay Trung Quốc, trong khi các hệ thống tên lửa được triển khai để theo dõi chúng.

    Các máy bay chiến đấu của Trung Quốc bay ở khu vực gần Pratas, trong khi máy bay chống ngầm và trinh sát bay vào Kênh Ba Sĩ ở giữa Đài Loan và Philippines, theo bản đồ đường bay do Bộ Quốc phòng Đài Loan công bố.

    Phía Trung Quốc không đưa ra bình luận ngay về vụ việc.

    Vụ này xảy ra chỉ một ngày sau khi Đài Loan đề xuất tăng chi tiêu quốc phòng thêm 8,69 tỷ đô la trong vòng 5 năm tới, bao gồm cả chi tiêu cho các tên lửa mới, họ lưu ý về nhu cầu cấp thiết phải nâng cấp vũ khí trước "mối đe dọa nghiêm trọng" từ Trung Quốc.

    Trước đó, cũng hôm 17/9, Thủ tướng Đài Loan Su Tseng-chang nói rằng chính phủ phải nghiêm túc xem xét mối đe dọa từ Trung Quốc.

    Ông nói: “Trung Cộng luôn luôn có âm mưu chống lại chúng ta”.

    Chi tiêu quốc phòng của Đài Loan "có nền tảng là bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh quốc gia. Chúng ta không được lơi lỏng. Chúng ta phải có sự chuẩn bị tốt nhất để không xảy ra chiến tranh", ông nói thêm.

    Về phần mình, chính phủ Trung Quốc hôm 17/9 chỉ trích Bộ trưởng Ngoại giao Đài Loan Joseph Wu về những phát biểu của ông trong tuần này, bao gồm những lời của ông nói rằng Đài Loan là một "pháo đài trên biển" ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc ra Thái Bình Dương.

    "Mục đích của ông Wu là đánh lừa dư luận, câu kết và thông đồng với các thế lực nước ngoài chống Trung Quốc", Văn phòng chuyên trách về Đài Loan của Trung Quốc cho biết trong một tuyên bố.

    Hàng trăm con chim chết sau khi lao vào các tòa nhà chọc trời ở New York


    Tường Vy

    17 tháng 9, 2021

    UserPostedImage

    Những chú chim chết sau khi đâm vào vách kính những tòa tháp chọc trời ở thành phố New York – Ảnh: Melissa Breyer/Twitter

    Trong chuyến di cư thường kỳ, hàng trăm con chim bay qua thành phố New York trong tuần này đã chết sau khi đâm vào các tòa tháp bằng kính của thành phố. Tweet của một tình nguyện viên tổ chức Audubon ở thành phố New York cho thấy hình ảnh Trung tâm Thương mại Thế giới đầy xác chim.

    Kaitlyn Parkins, Phó giám đốc khoa học và bảo tồn của NYC Audubon cho biết, số động vật chết trong tuần này đặc biệt cao, nhưng chim đâm vào các tòa nhà chọc trời ở Manhattan là một vấn đề dai dẳng mà NYC Audubon đã ghi nhận trong nhiều năm.

    Thời tiết mưa bão từ đêm Thứ Hai đến Thứ Ba đã góp phần vào số chim chết. Parkins cho biết: “Thành phố đã gặp phải một cơn bão lớn và một thời tiết kỳ lạ khiến rất nhiều loài chim bay va vào các cửa kính rồi rơi xuống đất.”

    Parkins nói thêm: “Có vẻ như cơn bão đã khiến lũ chim bay xuống thấp hơn so với mức bình thường, hoặc làm chúng mất phương hướng. Ảnh hưởng của ánh sáng vào ban đêm đối với chim cũng khá mạnh, đặc biệt là khi đó là một đêm nhiều mây.”

    Các tình nguyện viên của NYC Audubon ghi lại cái chết của chim tại các điểm có nguy cơ cao trong các đợt di cư vào mùa Xuân và mùa Thu.

    Melissa Breyer, tình nguyện viên đã tweet về việc tìm thấy gần 300 con chim trên vỉa hè xung quanh các tòa tháp của Trung tâm Thương mại Thế giới mới, cho biết trải nghiệm này là “quá sức”.

    I did this for 65 minutes straight doing one loop around @4WTC and @3NYWTC — most of these before sunrise. Please can we turn off lights during migration??? pic.twitter.com/pCXoJkUXo0

    — Melissa Breyer (@MelissaBreyer) September 14, 2021

    Breyer nói: “Ngay khi tôi đến các tòa nhà, những con chim đã nằm khắp nơi trên vỉa hè. Các hướng Đông-Tây-Nam-Bắc đều bao phủ xác chim trên vỉa hè”.

    NYC Audubon muốn chủ sở hữu các tòa tháp của Trung tâm Thương mại Thế giới và các tòa nhà khác giúp giảm số lượng chim va vào bằng cách làm mờ đèn vào ban đêm và xử lý kính để chim dễ nhìn thấy hơn. Parkins nói: “Hãy làm để chúng có thể nhìn thấy nó và nhận ra rằng đó là một rào cản vững chắc mà chúng không thể bay qua.”

    Jordan Barowitz, phát ngôn viên của Tổ chức Durst, đồng phát triển của Trung tâm Thương mại Một Thế giới, cho biết trong một email, “200 feet đầu tiên của One WTC được bọc trong các vây thủy tinh không phản chiếu. Thiết kế này được chọn vì nó giúp giảm đáng kể các cuộc tấn công của chim, chủ yếu xảy ra ở độ cao dưới 200 feet và thường do kính phản chiếu gây ra. ”

    Dara McQuillan, người phát ngôn của Silverstein Properties, nhà phát triển ba tòa nhà chọc trời ở Trung tâm Thương mại, cho biết, “Chúng tôi rất quan tâm đến các loài chim hoang dã và bảo vệ môi trường sống của chúng. Ánh sáng nhân tạo vào ban đêm nói chung có thể thu hút và làm mất phương hướng của chim, chúng tôi đang tích cực khuyến khích khách thuê văn phòng tắt đèn vào ban đêm và hạ rèm che bất cứ nơi nào có thể, đặc biệt là trong mùa chim di cư ”.

    Không phải tất cả những con chim đâm vào cửa sổ kính đều chết. Tổng cộng có 77 con chim đã được đưa đến cơ sở của Quỹ Wild Bird ở Upper West Side vào Thứ Ba.

    McMahon, người đã lên lịch cho nhân viên để chăm sóc cho một đàn chim bị thương, cho biết qua theo dõi radar, sẽ có một cuộc di cư lớn của các loài chim trong thời gian tới.

    Các nhân viên của Quỹ Wild Bird đã cho những con chim này thức ăn, nước uống, và thuốc chống viêm để giảm sưng. McMahon cho biết 30 con chim đã hồi phục và được thả tại công viên của Brooklyn vào Thứ Tư vừa qua.

    Edited by user Saturday, September 18, 2021 1:35:04 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    Users browsing this topic
    Guest (11)
    751 Pages«<746747748749750>»
    Forum Jump  
    You cannot post new topics in this forum.
    You cannot reply to topics in this forum.
    You cannot delete your posts in this forum.
    You cannot edit your posts in this forum.
    You cannot create polls in this forum.
    You cannot vote in polls in this forum.