Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

90 Pages«<888990
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#1781 Posted : Thursday, June 17, 2021 3:46:12 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

Chuc Mung ngay Hien Phu voi tat ca cac Dang Lam Cha ...
Va huong tron mot ngay tuyet voi ben vo hien va cac con chau ...

HONG VU LAN NHI & Team LN
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1782 Posted : Sunday, June 27, 2021 10:56:00 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Nếp Nhà Xưa: Văn Hóa Trong Bữa Ăn Của Người Việt


Minh Nguyên

September 20, 2020 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Bữa cơm gia đình của người Việt ẩn chứa nhiều đạo lý, thể hiện tình cảm yêu thương gắn bó giữa các thành viên trong gia đình thông qua việc quây quần bên mâm cơm vui vẻ trò chuyện sau một ngày vất vả… Bữa cơm chính là linh hồn của hạnh phúc, của sự yêu thương và cũng chính là nơi nuôi dưỡng tình cảm giữa các thế hệ trong gia đình.

Hình ảnh người phụ nữ tất bật trong khói bếp nghi ngút chuẩn bị những món ăn thơm ngon luôn khắc sâu vào ký ức của mỗi thành viên trong gia đình. Dù đó chỉ là những món ăn dân dã hàng ngày, người ta vẫn không thể nào quên hình ảnh ấy, vì nó chứa đựng tấm lòng của người nấu, của người phụ nữ mà chúng ta yêu thương.

Văn hóa dùng cơm của người Việt

Người Việt khi nói đến bữa ăn thì vẫn quen gọi là “bữa cơm”, vì cơm là thành phần chính trong các bữa ăn Việt. Sau đó là đến các loại rau quả dùng chung với cơm, và cuối cùng là thịt. Người Việt xưa không có xu hướng sử dụng nhiều thịt cho bữa ăn hàng ngày, chỉ những dịp giỗ tết, hội hè, đình đám mới có mâm cỗ nhiều thịt.Từ xưa, người Việt đã có thói quen khi dọn cơm vào mâm thì tất cả các món ăn đều dọn lên cùng một lúc. Điều này cũng khác với cách dùng cơm của phương Tây, dọn từng món, sau khi hết một món mới dọn món tiếp theo.

Tại sao mâm cơm của người Việt lại mang hình tròn? Cũng có nhiều cách giải thích như đó là hình tượng của mặt trời, mặt trăng… nhưng có lẽ trước hết là vì tròn thì mới hợp lý, tròn nên mới gắn kết được tất cả mọi người ngồi quanh mâm. Bữa cơm của người Việt có hạt cơm dẻo, có sợi rau dài, có thịt thái lát nên người Việt dùng đũa để linh hoạt trong lúc ăn. Đôi đũa có vai trò quan trọng trong bữa ăn, cách cầm đũa cho khéo để gắp thức ăn không rơi cũng cần phải học. Thời xưa nhìn một người cầm đũa là có thể đoán được người ấy sinh trưởng trong một gia đình như thế nào, được giáo dục ra sao… Đôi đũa cũng có tiếng nói riêng của nó trong đời sống gia đình Việt. Gia đình cổ truyền người Việt thường có xu hướng tập trung nhiều thế hệ. Có những gia đình tồn tại ba, bốn thế hệ cùng sống chung, sinh hoạt chung. Với tinh thần “kính trên nhường dưới”, thể hiện sự kính trọng yêu thương đối với người lớn tuổi và bao bọc, che chở cho trẻ nhỏ, những phần cơm mềm dẻo, những phần thức ăn ngon sẽ được mời ông bà, và để dành cho trẻ con trong gia đình.

Một bữa cơm không phải chỉ ở số lượng bao nhiêu món ăn được bày ra, mỗi món nhiều hay ít; mà cái quan trọng là ở sự hội ngộ đầm ấm của các thành viên trong gia đình: trò chuyện về những gì diễn ra trong ngày, ôn lại chuyện ngày xưa, kể lại những kỷ niệm đáng nhớ… Điều đó gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau, chia sẽ niềm vui nỗi buồn cho nhau. Cái ngon của bữa cơm chính là nằm ở đó. Trong bữa ăn gia đình, người Việt biết tôn trọng nhau và thể hiện một không khí hoà đồng. Thời xưa thì cũng có những quy tắc riêng dành cho người trên người dưới, nhưng ngày nay thì chúng trở thành những quy ước tự giác không bắt buộc. Tất nhiên tuân thủ các quy ước ấy chính là thể hiện một lối sống có văn hóa. Còn khi có khách được mời tham dự vào bữa cơm trong gia đình, thì người đó bao giờ cũng được mời ngồi ở vị trí ưu tiên, được chủ nhà hết sức ân cần chăm sóc khách.

Bữa ăn gia đình và đặc biệt là bữa ăn gia đình nhiều thế hệ là một không gian văn hóa thể hiện quá trình tiếp nối và bảo lưu văn hóa khá độc đáo của người Việt. Ở đây, yếu tố văn hóa không chỉ được truyền tải qua sự đầm ấm của bữa ăn, mà còn được gìn giữ trong những khuôn phép cổ truyền. Vị trí và tư thế ngồi dùng cơm được lưu ý rất cẩn trọng. Mọi người có bát đũa riêng cùng ngồi quanh chiếc mâm tròn và cùng gắp chung các thức ăn có trong mâm, chấm chung một bát nước chấm. Ông bà ta có câu “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, khi ngồi cũng cần có ý tứ. Người có tuổi thường ngồi ở chỗ được chăm chút cẩn thận nhất, với các món ăn ngon được bày khéo xung quanh.

Ngồi vào mâm rồi thì điều đầu tiên không gì khác hơn là hai tiếng “mời cơm”. Khi ngồi vào trong mâm cơm, trước khi bưng bát, cầm đũa, việc mời mọc trong gia đình là điều không thể thiếu, người ít tuổi mời những người nhiều tuổi hơn. Tuỳ theo tuổi tác của người ngồi cùng mâm mà thứ tự mời trước sau, lần lượt từ người nhỏ nhất (đôi khi được bố mẹ nhắc nhở) phải mời ông bà, cha mẹ, chú bác… ăn cơm. Sau khi mời xong rồi, người lớn tuổi nhất cầm chén lên thì những người khác mới cầm chén đũa của mình lên ăn.Mỗi khi vào mâm cơm ai cũng phải biết trông trước nhìn sau, ăn bao nhiêu thì vừa. Câu nói dân gian về cách ăn: “Ăn hết bị đòn, ăn còn mất vợ” chính là để người ta chú ý tới việc ăn uống, biết nhường nhịn từng miếng ăn, nhưng cũng biết quý trọng đồ ăn không để phí phạm.

Do mọi người trong bữa cơm đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau, đồng thời có người lớn, người nhỏ, nên trong mâm cơm mọi người luôn giữ ý tứ. Chuyện thân mật, chuyện nhà chuyện cửa, chuyện làng xóm… thì có thể nói, nhưng tối kỵ nhất là nói những chuyện căng thẳng hoặc đang bữa ăn lại bất ngờ giao việc cho người khác phải bỏ mâm. Trong những dịp giỗ tết thì vị trí cao thấp của các mâm thường được phân bổ theo vai thứ trong họ hàng, các cụ có mâm riêng, cha chú có mâm riêng, và thường thì mâm các ông các bà được bố trí riêng theo giới. Trẻ em được ngồi ở mâm dành cho trẻ nhỏ. Cỗ bàn tan, trước khi ra về mỗi người còn được lấy phần đem về cho người ở nhà, thể hiện sự quan tâm của người chủ đám cỗ, người đi ăn cỗ với những người thân ở nhà.

Văn hóa dùng cơm của người xưa thể hiện sự tinh tế, tính nhân văn, cũng giáo dục và nhắc nhở về nhân cách đạo đức cho từng thành viên trong gia đình.

Bữa cơm gia đình Việt ngày nay

Gia đình Việt Nam chuyển từ truyền thống sang hiện đại đã chịu ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố, cả khách quan lẫn chủ quan. Gia đình một thế hệ, hai thế hệ dần xuất hiện và thay thế cho gia đình nhiều thế hệ có từ trước tới nay. Điều này làm cho các bữa cơm gia đình đang ngày càng trở nên tẻ nhạt, thiếu đi sự quan tâm chăm sóc cho nhau, không những về mặt vật chất mà cả về tinh thần.Chúng ta ngày càng gắn liền với những công việc bề bộn, kèm theo đó là những bữa cơm công sở, làm cho bữa cơm gia đình không thể đông đủ. Các thành viên trong gia đình ít có thời giờ gặp gỡ nhau. Có khi cha mẹ ở nhà thì con cái đi học, đi làm; còn lúc con cái ở nhà thì ba mẹ đi làm, đi buôn bán chưa về. Do đó, bữa cơm gia đình đang dần bị phá vỡ và mai một dần dần.

Thế hệ trẻ ngày nay trong một số gia đình không còn biết đến bữa cơm gia đình là như thế nào nữa, cơm nước được nấu sẵn, ai đói thì cứ việc tự lấy mà ăn, ai có công việc phải đi sớm thì ăn trước, ai không có việc gì thì cứ từ từ ăn sau… Tình trạng ấy làm cho sự gắn kết trong gia đình giữa các thành viên trở nên lỏng lẻo, mọi sự chia sẻ hầu như không còn.Mặc dù, cũng còn khá nhiều gia đình vẫn duy trì được truyền thống ăn cơm chung, nhưng tiếc rằng, bữa cơm gia đình ngày nay không còn đầm ấm, không còn “no đủ tình người” như ngày xưa nữa. Bởi vì mặc dù ăn cơm chung, nhưng nhiều người phải ăn vội ăn vàng, ăn tranh thủ. Mỗi người đều có những bận rộn riêng làm cho sinh hoạt gia đình bị thụ động, không còn thoải mái và đánh mất bầu khí trò chuyện thân tình với nhau. Bữa cơm trở thành một cái gì đó mơ hồ, như là sự cố gắng duy trì một tập tục lâu đời của… gia đình…

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1783 Posted : Sunday, July 4, 2021 1:03:03 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Mỹ Tho Qua Mấy Vần Ca Dao


Phan Giang Sang

July 4, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Vài nét về Mỹ Tho

Mỹ Tho là một thành phố nằm bên trái của sông Tiền, ngày nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Tỉnh Tiền Giang có diện tích là 2,367 km2 và dân số khoảng 1,635,700 người. Những địa danh của tỉnh Tiền Giang bao gồm:

– Quận Châu thành Mỹ Tho.
– Cái Bè,
– Cai Lậy,
– Chợ Gạo,
– Gò Công Ðông,
– Gò Công Tây,
– Tân Phú Ðông,
– Tân Phước.

UserPostedImage

Với chương trình AusAid của Chính Phủ Úc, chiếc cầu dây căng Mỹ Thuận được bắt đầu xây dựng vào năm 1997 và hoàn tất vào năm 2000. Cầu Mỹ Thuận nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long. Cầu nằm cách Thành Phố Sài Gòn 125 cây số về hướng Tây Nam, trên Quốc lộ 1A, là trục giao thông chính của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Giống như chiếc cầu Mỹ Thuận, cầu Rạch Miễu cũng là một cây cầu dây căng nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre với nhau được khởi công vào năm 2002 và hoàn thành vào năm 2009. Bờ bắc của cầu này là thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, bờ nam là huyện Châu Thành của tỉnh Bến Tre, cách thành phố Bến Tre khoảng 14 cây số. Nhờ hai chiếc cầu này mà việc giao thông giữa Vĩnh Long và Mỹ Tho và giữa Mỹ Tho và Bến Tre thuận tiện hơn nhiều. Dân Miền Tây không phải chờ đợi phà để sang bờ bên kia.

Ngày xưa, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Mỹ Tho. Theo sử ký thì địa danh Mỹ Tho bắt nguồn từ tiếng Khmer Mi Sâr có nghĩa là xứ có những cô gái có làn da trắng đẹp, âm Mi Sâr được biến âm thành Mỹ Tho theo ngôn ngữ của người Việt. Vùng Mỹ Tho ngày xưa thuộc đất của người Khmer, còn có tên là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng), người mình bỏ đi chữ Srock và chỉ gọi Mỳ Xó mà thôi.

Qua những chặng đường lịch sử, Mỹ Tho, từ những vùng đất hoang vu có nhiều thú dữ, bằng mồ hôi và nước mắt của những người từ phương xa đến khai khẩn và lập nghiệp, đã dần dần trở thành một thành phố trù phú, dân cư đông đúc. Hơn hai trăm năm trước, thời Chúa Nguyễn, vùng đất của Mỹ Tho ngày nay là một phần của Gia Định Thành, chỉ có đồn quân vì nơi đây chỉ là rừng hoang và nhiều hổ, báo làm hang ổ…

Vào thế kỷ XVII, quân Mãn Châu vượt Vạn Lý Trường Thành, đánh chiếm Trung Hoa và lật đổ Nhà Minh. Bầy tôi của nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến cùng Cao Lôi Liêm tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình bất phục, đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung (cửa Tư Hiền) và Đà Nẵng xin đầu Chúa Nguyễn (năm 1679). Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần liền đưa họ về vùng đất mới, lúc bấy giờ còn hoang vu, để khẩn hoang.

– Tổng Binh Dương Ngạn Ðịch và tùy tùng được cho về vùng Mỹ Tho để lập nghiệp.

– Tổng Binh Trần Thượng Xuyên cùng phó tướng lên vùng Cù Lao Phố và Biên Hòa. Sau có một nhóm tách rời, chuyển đến vùng Chợ Lớn để lập nghiệp ở đó, tạo nên trung tâm buôn bán sầm uất.

Gia đình của những cựu thần, binh lính Nhà Minh chạy đến Việt Nam lập nghiệp rồi từ đó sinh con đẻ cháu và lập nên khu vực riêng gọi là làng Minh Hương. Người Việt ví von cách hành xử của người trong làng Minh Hương như sau:

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Ðố ai lịch sự bằng làng Minh Hương

UserPostedImage

Chùa Vĩnh Tràng – Tiền Giang Việt Nam (Nguồn: Internet Photo)

Đến thời Nhà Nguyễn, Mỹ Tho là một phần của tỉnh Định Tường. Lúc đó, Định Tường gồm cả Mỹ Tho, Gò Công và một phần của tỉnh Bến Tre. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì Mỹ Tho có nhiều phố lớn, chợ Mỹ Tho thuộc Kiến Hưng là nơi buôn bán tấp nập, thuyền bè tới lui như dệt cửi. Dưới thời vua Minh Mạng, vua lập ra cửa ải để thu thuế. Đến đời vua Thiệu Trị năm thứ ba thì mới bãi bỏ. Mỹ Tho cũng có nhiều đình, chùa, nhà cửa được xây dựng khang trang. Ngôi chùa xinh đẹp được xây cách đây 200 năm vẫn còn lưu đến ngày nay là chùa Vĩnh Tràng theo phái Cổ Sơn Môn, một lối kiến trúc đặc biệt khác hẳn với các ngôi chùa theo truyền thống Phật Giáo. Món ăn ngon nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho của những hàng quán nằm theo bờ sông hay hủ tiếu tôm ở Trung Lương mà đến nay vẫn còn nổi tiếng.

Sử gia người Pháp trong cuốn “Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ” (Histoire de la conquête de la Cochinchine) viết về Mỹ Tho như sau:

“Sài Gòn là trung tâm quân sự, Mỹ Tho là trung tâm thương mãi. Các ghe tuyền của người Nhật người Tàu, người An Nam, nười Xiêm có đáy cạn dễ di chuyển trên sông gần nơi sản xuất gạo, thêm vào truyền thống người dân địa phương từ bao thế kỷ, khiến cho Mỹ Tho trở thành trung tâm buôn bán lớn nhất của Nam kỳ, trước khi người Âu đến.

… Mỹ Tho là một vùng có nhà cửa rộng lớn, lợp bằng lá dừa nước theo theo tập quán. Nhưng dọc theo bờ kinh Bưu Điện (Arroyo de la Poste hay kinh Bảo Định) nhà cửa thanh nhã hơn nhiều, mái lợp ngói giữa những vườn dừa vườn cau, tất cả có vẻ trang nhã, phong lưu, đôi khi giàu có. Có thể so sánh với cảnh phồn hoa đô hội của Chợ Quán và kinh người Tàu ở Sài Gòn…”

Sau khi chiếm được Nam Kỳ, người Pháp mở đường xe lửa nối Mỹ Tho và Sài Gòn để chở hàng hóa từ các tỉnh ở sông Tiền qua Mỹ Tho về Sài Gòn và ngược lại. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì ga xe lửa Mỹ Tho được trưng dụng làm căn cứ Hải Quân, rồi sau năm 1975 nó cũng bị dẹp luôn và các quán hủ tiếu bên sông cũng bị cùng chung số phận.

UserPostedImage

Nét đặc sắc của Mỹ Tho là hàng phượng vĩ từ ngả ba Trung Lương vào thành phố, như chào đón khách viễn phương và những vườn hoa nghỉ mát. Vào mùa hè, hàng phượng vĩ đỏ thắm tươi làm tăng thêm vẻ mỹ miều, duyên dáng, yêu kiều cho thành phố này.
Ngoài những trung tâm du lịch trang nhã, Mỹ Tho có nhiều cây trái ngon ngọt, nổi tiếng nhiều vườn cây trái tươi xanh:

– mận hồng đào Trung Lương
– vú sữa Sầm Giang căng mộng, da vàng mỏng vỏ
– ổi xá lị thơm ngon An Hữu
– xoài cát Mỹ Thuận
– vú sữa Cái Bè

Ngoài ra, còn có rất nhiều loại đặc sản khác, nào là dừa, chuối, long nhãn… Nó cũng cung cấp thổ sản và hải sản như nghêu, sò, hào, cá, tôm…

Mỹ Tho qua mấy vần ca dao

Sự hy sinh của nàng để cho chàng ăn học

Nói tới ca dao Mỹ Tho thì không ai quên được câu nhắc nhở của người con gái miệt vườn, sợ người thương của mình lên học ở Sài Gòn, bị đời sống vật chất ở Sài Gòn quyến rũ mà quên đi đời sống bình dị ở quê nhà, nàng khuyên chàng cố tu tâm dưỡng tánh, tập trung vào việc học hành chóng thành tài cho dù nàng phải chờ đợi chín tháng hoặc mười năm:

Ðèn Sài gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Ðèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu.
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

Nàng cũng khuyên chàng hãy trở lại quê nhà, chớ nên đắm mê sắc đẹp, hoặc lao vào những cuộc chơi vì cuộc đời bạc bẽo và cuộc chơi nào cũng sẽ tàn, khi còn tiền thì lắm người theo, khi hết tiền thì chẳng ai ngó ngàng tới:

Anh ơi thôi ở lại nhà
Thôi đừng vui thú nguyệt hoa chơi bời
Còn tiền kẻ rước người mời
Hết tiền chẳng thấy một người nào ưa.

Về quê ở với nàng, nàng sẽ chăm sóc từng miếng ăn, giấc ngủ để cho chàng học sớm thành tài để cha mẹ nở mặt, nở mày với người ta:

Anh mau thức dậy học bài
Mong cho anh sớm thành tài
Trước làm đẹp mặt nở mày mẹ cha
Sau là không phụ lòng ta bao ngày?

hay:

Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.

Khi chàng con trai tỏ tình

Khi chàng trai muốn tỏ tình với một nàng con gái, khác với những chàng trai thời nay, chàng không dám nói thẳng mà nói “vòng vo tam quốc”:

Cúc mọc dưới sông kêu bằng cúc thủy
Chợ Sài Gòn xa chợ Mỹ cũng xa
Anh viết thơ thăm hết nội nhà,
Trước là thăm phụ mẫu sau đà thăm em.

(Nếu anh chàng khờ khạo này mà gặp các đối thủ từ Tây, Úc, Mỹ trở về, vòng vo tam quốc kiểu này thì thua là cái chắc vì mấy anh này giỏi nịnh người đẹp nào là: darling, my love, mon amour…cộng thêm nhánh hoa hường và vài món quà nho nhỏ…)

Đối với người nghệ sĩ, khi gặp người con gái, mến nàng thì hình ảnh và tình yêu của chàng với người trong mộng không bao giờ nhạt phai, cố gắng tìm kiếm hy vọng sẽ gặp lại nàng:

UserPostedImage

Sông Vàm Cỏ nước trong thấy đáy
Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng.
Ai về Mỹ Thuận Tiền Giang
Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa?

Bước xuống Bắc Mỹ Tho thấy sóng nhô nước chảy,
Bước lên bờ Rạch Miễu thấy nước chảy cây xanh.
Anh biết chắc là đất Châu thành,
Sao tìm hoài không thấy trong đám bộ hành có em.

Tình yêu trai, gái sao mà lắm chông gai, vì hẹn hò với chàng mà mà nàng bị cha mẹ đánh đòn:

Vì chàng em mới bị đòn oan
Không tin giở áo ra xem dấu lằn

Còn phần chàng khi đã thương ai thì dù cha, mẹ đánh đập bắt từ bỏ người mình thương, chàng cũng nhất định cũng không từ:

Cha mẹ anh có đánh quần, đánh quại
Bắt anh ra treo tại cành dương
Biểu anh từ anh từ đặng
Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ!

Cũng có chàng, không biết lý do gì đó, không dám liều lĩnh để tiến tới lấy người mình thương, bây giờ ngồi than thở, phải chi ta cưới nàng, thì bây giờ đã thành vợ thành chồng rồi cùng “sức chồng công vợ” mà làm ăn:

Phượng hoàng đậu nhánh vông nem,
Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi
Ngã tư Chợ Gạo nuớc hồi
Tui chồng mình vợ còn chờ đợi ai.

Cuộc sống trên sông nước, thấy cô gái quê có duyên, ngực nở xinh đẹp chèo thuyền trên sông, đấng mày râu nổi máu “dê xồm”:

Nước láng linh chảy ra Vàm cú,
Thấy dạng em chèo cặp vú muốn hun

Tệ hơn nữa, mấy ông còn dám “dê” luôn cả cô em vợ, thiệt là bạo phổi!

Giữa trưa đói bụng thèm cơm,
Thấy đùi em vợ như tôm kho tàu.

Tâm tình

Mỹ Tho lá xứ miệt vườn, đâu cũng có vườn với nhiều cây ăn trái, cô gái miệt vườn lại duyên dáng, dễ thương. Gặp nàng, chàng không ngần ngại thả lời ong bướm:

Ðồng Nai, Châu Ðốc, Ðịnh Tường
Lòng anh sở mộ gái vườn mà thôi.

Chuồn chuồn bay thấp
Mưa ngập ruộng vườn

Nghe lời em nói lại càng thương
Thương em anh muốn lập vườn, cưới em

Cô gái miệt vườn Mỹ Tho nhà ta cũng không vừa, nếu chàng đã dám thì nàng cũng sẵn sàng:

Khi nào anh thấy nhớ ai
Xin về chơi Mỹ đường dài dễ đi
Vườn xoài, vương ổi xum xê
Mặc tình anh…hái, anh…đòi em cho…

Nhưng mấy anh đừng tưởng thế mà lầm, muốn tiến tới thì mấy anh phải làm theo những điều kiện của nàng:

UserPostedImage

Sài Gòn xa chợ Mỹ không xa
Anh đi phải ghé qua nhà
Nghe em, em chịu, làm gà đãi anh!

Khi đã bắt đầu quen và bạo dạn hơn, chàng liền tỏ tình nhưng lần này có vẻ thực tình, không bỡn cợt:

Bấy lâu anh đợi anh trông,
Thấy ai anh thấy mà không thấy nàng.

Nàng cũng nhẹ nhàng trả lời, lần này không thách thức với lời chọc ghẹo mà biểu lộ tình cảm của mình với chàng:

Ngọc còn ẩn đá chờ vàng,
Em còn ẩn cội huệ tàn đợi anh.

Hay gắn bó hơn:

Trời mưa vần vũ tình cũ xa xôi,
Biết ai nương tựa lần hồi tấm thân.

Con nhà nề nếp

Nàng là con nhà nề nếp, đạo đức, lấy công, dung, ngôn, hạnh làm đầu, nên thấy nàng lạnh lùng, chàng trai không biết ý tứ của nàng thế nào:

Ngó lên trời mây bay vần vũ,
Ngó xuống âm phủ đủ mặt bá quan.
Ngó lên Nam Vang thấy cây trăm thước,
Nhìn sông trước sóng bủa lao xao.
Anh thương em ruột thắt gan bào,
Biết em có thương lại chút nào hay không?

Khi người con gái phải lòng người con trai, nàng khuyên chàng đưa mai mối tới để cưới nàng:

Ðắng khổ qua, chua là chanh giấy,
Ngọt thế mấy cũng tiếng cam sành
Thương em đừng dỗ đừng dành
Cậy mai dong tới, cha mẹ đành em ưng.

UserPostedImage

và sẵn sàng chờ đợi, chung thủy cùng chàng:

Ngó lên trời, trời trong lại trắng
Ngó xuống nước, nước trắng lại trong
Gái như em chắc dạ bền lòng
Lỡ duyên thì em chịu, đóng cửa loan phòng đợi anh.

Như bao phụ nữ Việt Nam, nàng là nơi nương tựa khi chồng hoặc người thương thất thế sa cơ:

Em là con cá hóa long,
Chín từng mây phủ da trời
Anh là quân tử lỡ thời
Nằm trong da trời úp cá hóa long

Còn chàng để chứng tỏ mình là con người đàng hoàng, không vì danh lợi mà trái đạo làm người:

Anh tỉ phận anh
Thà ở lều tranh
Như thầy Tăng, thầy Lộ
Chớ không ham mộ
Của Vương Khải, Thạch Sùng
Ðạo người anh giữ vẹn, bần cùng sá bao.

Đã yêu nhau thì không có gì ngăn trở, dù khó khăn cách mấy, chàng cũng cố gắng vợt qua để gặp được nàng cho dù phải ngăn sông Mỹ Tho để qua gặp nàng:

Chẻ tre, bện sáo cho dày,
Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau

Nhưng khi bị người thương phụ bạc, chàng trách móc thở than:

Trách lòng con nhện lăng loàn,
Chỉ bao nhiêu sợi, mỗi đàng mỗi giăng.

Người con trai Việt cũng ghen tức như bao chàng trai bản xứ khắp nơi trên thế giới khi thấy con gái xứ mình lấy người ngoại quốc. Tuy vùng Chợ Lớn tuy đông đảo người Tàu, nhưng trong việc giao tiếp hàng ngày, cũng có Tàu-Việt phải lòng nhau, thương yêu nhau rồi se duyên với nhau. Thấy cô gái Việt lấy chàng trai người Tàu, chàng bực tức kêu lên:

Bốn mùa bông cúc nở sai,
Ðể coi trời khiến duyên này về ai.
Bông lài trộn lộn bông ngâu,
Tiếc hường nhan bậu làm dâu bên Tàu.
(Tửng có xu có lúi giàu em ưng?)

hoặc:

Anh đứng làm trai, nam nhi chi khí
Em đứng làm gái, em chẳng biết suy,
Lấy Tây, lấy Chệt làm gì
So bề nhơn ngải sao bì An-Nam?

Gò Công qua mấy vần ca dao

Đã nói đến Mỹ Tho thì không thể không nói đến Gò Công. Gò Công và Mỹ Tho và một phần của tỉnh Bến Tre thuộc tỉnh Định Tường ngày xưa, do đó người Mỹ Tho và Gò Công cũng ít nhiều có cùng chung một sự suy nghĩ, cùng phong tục tập quán địa phương.

Xưa nay Gò Công luôn nổi tiếng là xứ có nhiều thiếu nữ xinh đẹp, hiền thục, thanh tú, tài sắc vẹn toàn. Dưới Triều Nguyễn, nhiều phụ nữ Gò Công đã trở thành hoàng hậu, phi tần, mệnh phụ phu nhân của của vua chúa nước ta như:

– Bà Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa (1791-1807), hoàng hậu của vua Minh Mạng, mẹ ruột của vua Thiệu Trị. Bà Hồ Thị Hoa là một người hiếu đức hiền thục.

– Bà Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Phạm Thị Hoàng, chánh thất quý phi của Vua Thiệu Trị. Bà Phạm Thị Hoàng là người phụ nữ nhân từ phúc hậu, được mệnh danh là Từ Dũ

UserPostedImage

– Nam Phương Hoàng Hậu Nguyễn Thị Lan, hoàng hậu của Vua Bảo Đại. Bà Nguyễn Thi Lan sinh ra từ một gia đình giàu có, có học thức, vừa đẹp người lại vừa duyên dáng.

Các cô gái Gò Công không chỉ đẹp mặt đẹp mày mà bàn tay cũng đẹp, vì thế hầu hết các vương tôn, công tử điều hướng về Miền Nam để tìm bạn trăm năm:

Tay bậu vừa trắng vừa tròn
Qua về nằm ngủ mỏi mòn đợi trông
Bậu về ở xứ Gò Công
Qua về Thành Nội nhớ trông tháng ngày.

Có chàng vì mơ tưởng đến người đẹp xứ Gò Công đến nỗi phải tương tư, có chăng ai biết nỗi lòng của chàng:

Anh đau tương tư nằm trên bộ vạc
Hồn anh thất lạc, thác xuống Diêm đình,
Diêm Vương ổng hỏi sự tình
Tui lụy vì tình, mới thác oan.

Sức quyến rũ của các cô gái Gò Công, được ví von như ngọn gió “độc” làm cho các ông mê mệt, bủn rủn tay chân, vì thế mấy bà hãy coi chừng mà giữ mấy ông kẻo hối hận thì không còn kịp:

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,
Gió nào độc bằng gió Gò Công,
Một ngọn đông phong lạc vợ xa chồng
Đêm nằm nhớ lại, nước mắt hồng tuôn rơi

Bày tỏ lòng quyến luyến, ca ngợi tình yêu trai gái là chuyện thời bình, còn khi đất nước lâm nguy, dân Gò Công thì không tiếc lời ca ngợi người anh hùng:

Gò Công anh dũng tuyệt vời,
Ông Trương đám lá tối trời đánh Tây

Kháng Chiến

Tỉnh Ðịnh Tường hay Tiền Giang ngày nay, là nơi có nhiều cuộc kháng chiến nổi lên chống Tây, nhứt là vùng Cai Lậy, gần Ðồng Tháp Mười, nơi có nhiều vị trí thuận lợi cho chiến tranh du kích. Lính Tây dẹp hoài không xong nên phải cho Hùm Xám Nguyễn Văn Tâm về quận Cái Bè để dẹp nghĩa quân.

Những kẻ sĩ cầm quân ở đây như Trần Công Thuận, Nguyễn Thành Long, Ngô Tấn Ðược và Trương Văn Rộng rất tài ba về chiến lược lẫn chiến thuật, họ thường dùng phương châm “Tịnh di dân, động di binh” để bảo vệ dân và hành binh hữu hiệu, tránh tổn thất. Những nhà ái quốc này sau này gia nhập lực lượng chống Pháp của Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều ở Ðồng Tháp.

Phụ nữ Mỹ Tho, tuy bề ngoài trông có vẻ xinh đẹp, da dẻ trắng trẻo, tay chân mền mại dễ thương, nhưng hãy coi chừng, họ anh hùng không kém đấng mày râu, luôn luôn tỏ ra rất xứng đáng là con cháu của hai Bà Trưng, Bà Triệu:

Gái Mỹ Tho mày tằm, mắt phượng,
Giặc tới nhà chẳng vụng quơ đao.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha, Mỹ Tho và Gò Công đã đào tạo nhiều anh tài cho Việt Nam. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Ánh có Võ Tánh phò Chúa chống lại Nhà Tây Sơn; thời Pháp thuộc có Nguyễn Hữu Huân (1830-1975) đứng lên khởi nghĩa chống Pháp; đặc biệt gần đây có nhạc sĩ Việt Khang nổi tiếng với hai bản nhạc “Việt Nam tôi đâu” và “Anh là ai”. Trong hai bản nhạc này, người nhạc sĩ yêu nước này nói lên nỗi ưu tư của mình trước viễn ảnh bị Bắc Thuộc một lần nữa. Thật mỉa mai, chính quyền cộng sản, chẳng những không ủng hộ tinh thần yêu nước của ông mà lại bắt bỏ tù ông hơn 4 năm trời.

BS Phan Giang Sang
Tháng 2 năm 2016

Sách tham khảo

1. Du Yên: Ca dao Việt Nam
2. Hồng Khanh: Ca dao Tục ngữ Việt Nam Ba Miền
3. Hồng Khanh-Kỳ Anh: Tục ngữ ca dao Việt Nam
4. Hồng Vũ Lan Nhi 1&2 Phong Thùy HKH: Văn Học dân gian Ðồng Bằng Sông Củu Long, Khoa Ngữ Văn, Đại Học Cần Thơ, NXB Giáo Dục1997
5. Kiều Văn; Ca dao dân ca Việt Nam
6. Thạc Sĩ Lê Diệu Hà: Nét riêng của yếu tố địa phương trong ca dao
7. Lê Công Lý: Mỹ Tho qua ca dao
8. Mã Giang Lân: Tục ngữ ca dao Việt Nam
9. Phan Tấn Tài: Ca dao Miền Nam
10. Thọ Ân: 300 năm hội nhập của người Hoa tại Miền Nam Việt Nam.
11. Trần Phông Diêu: Tánh cách người Nam Bộ qua ca dao.
12. Vikipedia: Mỹ Tho

Edited: by user Sunday, July 4, 2021 1:13:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1784 Posted : Sunday, July 4, 2021 2:46:25 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

Happy 4th of July

HONG VU LAN NHI

Edited by user Sunday, July 4, 2021 2:46:58 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1785 Posted : Monday, August 9, 2021 2:27:28 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Bún Nước Lèo


July 11, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Miền Nam, nói cho đủ là Miền Nam Việt nam, (tức là Việt Nam Cộng Hòa) có 22 tỉnh và một Đô Thành Sài Gòn, như xứ Cơ Hoa có 50 tiểu bang và 1 DC. Mỗi một tỉnh của Miền Nam đều có một hoặc nhiều món ngon vật lạ, khi đi xa vẫn nhớ không quên. Miền Nam (nói chung) và Miền Tây Nam Kỳ, (nói tắt là Miền Tây), vùng sông nước , vùng đất bồi do con sông Cửu Long đem phù sa từ núi cao về lấn biển. Cái thuở “về phương Nam đi mở nước”, từ những đồng lầy nước nổi quanh năm, chỉ một tấm nóp, một cái phảng là xây dựng cuộc sống ấm no. Người Nam “làm chơi ăn thiệt”, “gạo chợ nước sông” sống cùng thiên nhiên, tôm cá tràn đồng.

Hôm nay, bỏ lại sau lưng những ngày tháng an bình thạnh trị, mỗi lần gặp nhau “tha hương ngộ cố tri” là nhắc, là nhớ, nhớ những điều đơn giản ngày xưa bây giờ trở thành kỷ niệm. Ôi! Kỷ niệm chỉ là những giọt nước nhỏ nhoi, nhưng nó xoi mòn đất đá, nó xoáy trong tâm khảm làm thành những “hang động” không thể xóa nhòa!

Từ Sài Gòn theo quốc lộ 4 đi qua cầu Bến Lức (Long An), vượt qua ngã ba Trung Lương (Mỹ Tho)… qua song Tiền Giang, đi lần về phà Mỹ Thuận vượt Hậu Giang. Ở đó, Phà Mỹ Thuận, người khách đến thăm, sẽ gặp những ngạc nhiên…Mận, sa bô chê, xoài, ổi, cốc…đầy nhóc ra đó…với “chục có đầu”. Thói thường một chục là 10, cũng có thể một chục là 12; nhưng tới đây là “chục có đầu”. Có nghĩa là một chục được tính là 16. Dân Nam Kỳ rộng rãi là vậy.

Qua khỏi phà, du khách bị tràn ngập trong một mùi thơm nứt mũi, mùi thịt nướng. Dọc theo hai bên là những quán bán chim nướng, những xâu chim nướng vàng ươm, giòn rụm, béo ngậy… Ôi sao mà ngon quá chừng vậy cà! Còn nữa, hãy lên xe. Rẻ tay phải dẫn về Sa Đéc, Long Xuyên, Cao Lãnh; rẻ trái về Cần Thơ (Phong Dinh), đi tiếp đến Phụng Hiệp, ngã bảy, nơi hội tụ của những con kinh xáng múc, thẳng tắp, nước ngập ngụa phù sa, và những về lục bình bông tím lững lờ lên xuống theo con nước, những hàng dừa soi bóng, những chiếc thuyền chở khẳm trái cây, những chiếc tắc ráng xành xạch ngược xuôi …tạo nên cuộc sống rộn ràng, sung túc, bình dị và bình an.

Qua khỏi Phụng Hiệp, bước qua địa phận Ba Xuyên, để đặt chân đến đất Sóc Trăng. Cuộc đất này là một tập hợp của 3 chủng tộc Việt, Hoa, Miên. Những tên gọi nghe lạ, nhưng thân quen với dân Sóc Trăng: Chùa Dơi, Chùa Đất Sét (Bửu Sơn Tự), Chùa Chén Kiểu, Chùa La hán, Chùa Cây Điệp (Chùa Vĩnh Hưng), Chợ nổi Ngã Năm…

Dân Sóc Trăng đi xa có thể quên các danh lam thắng cảnh, nhưng sẽ không quên một món ăn dân dã, đời thường. Bún nước lèo.

Bún nước lèo vốn là một món ăn của người Khmer, nhưng qua bàn tay khéo léo của người dân Sóc Trăng đã trở thành một món riêng cho Sóc Trăng. Nguyên liệu chính để làm nước lèo của món bún này là con mắm được nấu đến khi thịt rã ra thì lọc bỏ xương trộn cùng với nước luộc từ xương heo.

Là một món ăn hấp dẫn bắt mắt ngay từ khi nhìn thấy tô bún được bưng dọn ra bàn. Hãy nhìn xem: Trầm mình trong tô nước luộc trong vắt là những miếng cá lóc gỡ hết xương, tôm tươi lột vỏ, thịt quay xắt nhỏ vuông vức, và bánh cống đi kèm. Để có được tô bún thơm ngon như vầy, người nấu phải trải qua nhiều giai đoạn chuẩn bị, và khéo tay.

Tô bún nước lèo Sóc Trăng là tổng hợp của tất cả các hương vị thân quen của 3 chủng tộc Việt Miên Tàu, nhưng vẫn làm người ta phải xuýt xoa ngay từ lần đầu tiên nếm thử. Không ở đâu mà có một tô bún với hương vị thơm thơm của mắm, vị ngọt, da dòn của thịt heo quay, và cắn ngập răng với những con tôm sư, tôm đất, cộng với chút hăng hăng, cay cay từ rau húng, chua chua của nước chanh. Đó là bún nước lèo Sóc Trăng của vùng đất miền Tây sông nước.

Nếu có dịp đến với xứ sở chùa Dơi, chùa đất sét…v.v., người ta không thể bỏ qua món ăn trứ danh với hương vị đặc biệt này. Với những vật thực đơn giản, quen thuộc; nhưng, tạo nên món bún khiến ai ăn một lần là nhớ mãi không quên.

Các nguyên liệu chính trong tô bún thơm phức đó chính là tôm, cá lóc, thịt heo quay. Và có: mắm (mắm cá linh, cá sặc…), bún, nước dừa tươi, nước mắm, đường, muối, bột ngọt, ớt, dấm, sả, chanh, ngải bún, rau húng quế, rau húng lủi, giá, hẹ, bắp chuối, rau muống (hoặc rau đồng)

Những sợi Bún làm từ loại gạo dẻo, gạo lúa mùa, ngâm nước một đêm rồi xay trong cối đá thành bột nước. Bột lại nhồi thật dẻo và nắm thành từng cục, sau đó cho vào khuôn bún và ép xuống. Các sợi bún xuống nồi nước sôi. Vớt bún đã chín trong nồi nước sang một nồi nước thật trong, pha âm ấm, sau đó bắt thành từng con bún để lên thúng tre đã lót lá chuối tươi.

Nước lèo được nấu từ một số loại mắm như mắm cá sặc, mắm cá linh, cá kèo, cá lóc . Những con mắm cá được nấu rã trong nước, thêm củ sả đập dập, ớt băm nhuyễn để lấy hương vị, ngãi bún (một loại củ giống củ nghệ, màu hơi đậm hơn nghệ) dùng để khử mùi tanh của mắm và nêm đường, bột ngọt cho vừa ăn. Có thể dùng nước dừa xiêm thêm vào nồi nước lèo.

Những loại rau như bắp chuối bào, rau muống chẻ, rau quế, rau răm, rau húng lũi, hẹ lá, giá…Làm nên tô bún.

Nhân tiện đây cũng không quên liệt kê cách nấu món bún nước lèo Sóc Trăng để quý vị nấu thử:

200 gram tôm

300 gram thịt heo quay

500 gram cá lóc

1 kg bún tươi

2 cây ngải bún

100 gram mắm bò hóc (mắm làm từ các loại cá đồng như cá sặc, cá linh…)

5 cây sả

1 củ tỏi

2 trái ớt

1 trái chanh

Các loại rau: giá, hẹ, bắp chuối, rau muống bào, bông súng…

2 trái dừa xiêm

1 củ gừng tươi

Gia vị: dầu ăn, muối, đường, bột nêm, nước mắm, tiêu

Cách Làm:

Cá lóc mua về làm sạch, chà với muối khử mùi tanh, cắt cá thành hai phần đầu và đuôi. Cắt cho phần lòng dính về đầu, bỏ mật cá. Rửa sạch để vào rổ.Tôm rửa sạch, lột vỏ, bỏ đầu, để đuôi lại.

Thịt heo quay cắt thành miếng vừa ăn. Ngải bún, sả rửa sạch, đập dập. Gừng cạo vỏ, cắt thành lát nhỏ. Dừa tươi lấy nước cho vào tô. Tỏi lột vỏ, cho vào máy xay nhuyễn. Mắm cho vào chén nước ấm lọc lấy nước. Các loại rau. Cắt khúc vừa ăn với hẹ.

Bắt nồi nước lên, sôi, cho cá và ít lát gừng, sả vô nồi. Khi cá chín vớt ra ngoài tránh làm nát cá. Gỡ bỏ xương, cắt thành từng miếng nhỏ, cho vào dĩa ướp cùng 1 muỗng canh nước mắm, 2 muỗng canh đường và bột nêm, 1 muỗng canh tiêu xay. Trộn cho các gia vị thấm vào thịt cá khoảng 10 phút. Bắt chảo lên, cho dầu ăn và tỏi xay nhuyễn vào phi vàng. Cho cá vào xào. Đảo nhẹ để miếng cá không bị nát. Bắt nồi lên cho nước nấu sôi, tôm vào luộc sơ.

Nấu nước lèo: Nồi nước luộc cá cho tô nước dừa tươi vô. Nấu sôi, cho chén nước mắm bò hóc, ngải bún, sả vô nấu. Cho các gia vị gồm 4 muỗng canh đường, và bột nêm vào nêm nếm lại.

Bây giờ tới lúc thưởng thức món ăn. Tư tư nhé, lấy bún để vô tô, sắp cá lóc, tôm, thịt heo quay và các loại rau lên trên, sau đó chan nước lèo. Có thể thêm miếng chanh, và chén muối ớt sẽ giúp tô bún nước lèo hấp dẫn hơn. Người Miền Tây hay dùng muối ớt khi ăn các món có nước như cà ry, bún nước lèo.

Quý vị đã có lần nào ăn bún nước lèo Sóc Trăng chưa? Món ăn dân dã, rất thông thường; nhưng qua cách chế biến, nó đã trở nên một phần của đời sống dân Lục Tỉnh. Đến Sóc Trăng, du khách có thể thăm Chùa Đất Sét, Chùa Dơi, thăm vườn chim…và ăn các món ăn quê mùa đạm bạc: Bánh Pía, bánh cống, hoặc chuột đồng nướng rơm, rùa, chim mỏ ác, cò, chàng nghịch …Và không thể quên công ơn của những người di dân theo chân Công Chúa Ngọc Vạn (1621) đi mở nước về phương Nam.

Cũng nên biết thêm một chút lịch sử Sóc Trăng, Tỉnh Ba Xuyên.

Sóc Trăng là một vùng ven biển, thuộc tỉnh Ba Xuyên, đồng bằng sông Cửu Long, Miền Tây Nam Phần.

Lịch sử

Ba Xuyên là một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thiết lập theo Sắc lệnh số 143-NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm ngày 22 tháng 10 năm 1956 để thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam. Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Ba Xuyên được thành lập do hợp nhất hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng trước đó. Tỉnh lỵ tỉnh Ba Xuyên đặt tại Sóc Trăng nhưng lúc này đổi tên là Khánh Hưng, do nằm trong địa phận xã Khánh Hưng thuộc quận Châu Thành (sau đó là quận Mỹ Xuyên).

Ngày 23 tháng 2 năm 1957, tỉnh Ba Xuyên giao quận Kế Sách cho tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ).

Tuy nhiên, vào ngày 16 tháng 9 năm 1958, tỉnh Ba Xuyên nhận lại quận Kế Sách từ tỉnh Phong Dinh. Quận Kế Sách trở lại thuộc tỉnh Ba Xuyên cho đến năm 1975.

Năm 1957, tỉnh Ba Xuyên bao gồm 8 quận, 16 tổng, 73 xã:

Quận Châu Thành có 12 xã; quận lỵ: xã Mỹ Xuyên. Gồm 2 tổng: Nhiêu Khánh, Nhiêu Hòa

Quận Thạnh Trị có 12 xã; quận lỵ: xã Thạnh Trị. Gồm 3 tổng: Thạnh An, Thạnh Lộc, Thạnh Lợi

Quận Long Phú có 12 xã; quận lỵ: xã Long Phú. Gồm 2 tổng: Định Hòa, Định Mỹ

Quận Giá Rai có 4 xã; quận lỵ: xã Phong Thạnh. Gồm 1 tổng: Long Thủy

Quận Vĩnh Lợi có 9 xã; quận lỵ: xã Vĩnh Lợi. Gồm 2 tổng: Thạnh Hòa, Thạnh Hưng

Quận Bố Thảo có 8 xã; quận lỵ: xã Thuận Hòa rồi chuyển sang xã Thuận Phú. Gồm 2 tổng: Thuận Phú, Thuận Mỹ

Quận Lịch Hội Thượng có 8 xã; quận lỵ: xã Lịch Hội Thượng. Gồm 2 tổng: Định Chí, Định Phước

Quận Phước Long có 8 xã; quận lỵ: xã Phước Long. Gồm 2 tổng: Thanh Bình, Thanh Yên.

Trong đó, các quận Châu Thành, Thạnh Trị, Long Phú, Bố Thảo, Lịch Hội Thượng trước năm 1956 cùng thuộc tỉnh Sóc Trăng cũ. Riêng 3 quận Giá Rai, Vĩnh Lợi và Phước Long lại cùng thuộc tỉnh Bạc Liêu cũ, đặc biệt quận Vĩnh Lợi lúc bấy giờ bao gồm cả quận Vĩnh Châu vừa giải thể vốn cũng thuộc tỉnh Bạc Liêu trước đây.

Ngày 13 tháng 1 năm 1958, Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng Hòa ban hành Nghị định số 9-BNV/NC/NĐ ấn định các đơn vị hành chánh của tỉnh Ba Xuyên gồm 7 quận, 14 tổng, 68 xã. Theo đó, quận Châu Thành đổi tên thành quận Mỹ Xuyên, quận Bố Thảo đổi tên thành quận Thuận Hòa, bỏ quận Lịch Hội Thượng, quận Thạnh Trị bỏ tổng Thạnh Lợi, quận Long Phú có thêm tổng Định Phước.

Năm 1958

Quận Mỹ Xuyên có 2 tổng, 9 xã:

Tổng Nhiêu Khánh có 4 xã: Khánh Hưng, Mỹ Xuyên, Tài Văn, Thạnh Thới An

Tổng Nhiêu Hòa có 5 xã: Đại Tâm, Tham Đôn, Thạnh Phú, Phú Mỹ, Hòa Tú

Quận Thạnh Trị có 2 tổng, 10 xã:

Tổng Thạnh An có 5 xã: Thạnh Trị, Châu Hưng, Châu Thới, Thạnh Kiết, Gia Hòa

Tổng Thạnh Lộc có 5 xã: Vĩnh Lợi, Mỹ Qưới, Vĩnh Qưới, Tuân Tức, Tân Long

Quận Long Phú có 3 tổng, 17 xã:

Tổng Định Mỹ có 5 xã: Long Phú, Tân Hưng, Đại Ân, Tân Thạnh, An Thạnh Nhì

Tổng Định Phước có 4 xã: Lịch Hội Thượng, Trung Bình, Viên An, Liêu Tú

Tổng Định Hòa có 8 xã: Châu Khánh, An Thạnh Nhứt, Đại Ngãi, Long Đức, Phú Hữu, Hậu Thạnh, Song Phụng, Trường Khánh

Quận Thuận Hòa có 2 tổng, 9 xã:

Tổng Thuận Mỹ có 5 xã: Thuận Hòa, Mỹ Hương, Thuận Hưng, Phú Tâm, An Ninh

Tổng Thuận Phú có 4 xã: Mỹ Phước, Mỹ Tú, Phương Long, Mỹ Hưng

Quận Vĩnh Lợi có 2 tổng, 10 xã:

Tổng Thạnh Hòa có 5 xã: Vĩnh Lợi, Long Thạnh, Hòa Bình, Hưng Hội, Vĩnh Trạch

Tổng Thạnh Hưng có 5 xã: Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa, Lạc Hòa, Khánh Hòa

Quận Giá Rai có 1 tổng là Long Thủy và 4 xã: Phong Thạnh, Long Điền, An Trạch, Vĩnh Mỹ

Quận Phước Long gồm 2 tổng, 9 xã:

Tổng Thanh Bình có 5 xã: Phước Long, Vĩnh Phú, Ninh Hòa, Ninh Qưới, Vĩnh Hưng

Tổng Thanh Yên có 4 xã: Phong Thạnh Tây, Ninh Thạnh Lợi, Lộc Ninh, Vĩnh Lộc.

Năm 1960

Ngày 5 tháng 12 năm 1960, quận Vĩnh Châu được tái lập, quận lỵ đặt tại xã Vĩnh Châu. Quận Vĩnh Châu có một tổng là Thạnh Hưng, do tách ra từ quận Vĩnh Lợi.

Ngày 16 tháng 6 năm 1961, quận lỵ Thạnh Trị dời đến chợ Ngã Năm và quận lỵ Mỹ Xuyên dời đến xã Hòa Tú.

Ngày 3 tháng 1 năm 1962, quận Phước Long và một phần nhỏ quận Thạnh Trị được cắt chuyển về tỉnh Chương Thiện mới được thành lập.

Ngày 27 tháng 8 năm 1962, quận lỵ Mỹ Xuyên được dời về Bãi Xàu, quận lỵ được gọi là Trang Kỉnh.

Ngày 8 tháng 9 năm 1964, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tách một phần tỉnh Ba Xuyên để tái lập tỉnh Bạc Liêu. Tỉnh Bạc Liêu khi đó gồm 4 quận: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai, Phước Long. Phần đất còn lại tương ứng với tỉnh Sóc Trăng trước năm 1956, tuy nhiên Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ tên gọi tỉnh Ba Xuyên cho vùng đất này đến năm 1975.

Năm 1965 bãi bỏ đơn vị hành chánh cấp Tổng.

Ngày 11 tháng 12 năm 1965, quận Lịch Hội Thượng được tái lập do tách ra từ quận Long Phú, quận lỵ đặt tại xã Lịch Hội Thượng.

Ngày 26 tháng 3 năm 1966, quận lỵ Thuận Hòa được dời từ Ngã Tư chợ Mỹ Tú đến xã Mỹ Hương.

Ngày 23 tháng 4 năm 1968, một phần đất quận Kế Sách được cắt chuyển về quận Phong Thuận (mới lập) thuộc tỉnh Phong Dinh. Quận lỵ quận Phong Thuận đặt tại Cái Côn (thuộc xã An Lạc Thôn).

Ngày 6 tháng 5 năm 1968, quận lỵ Thạnh Trị được dời từ chợ Ngã Năm (xã Vĩnh Qưới) đến Phú Lộc (xã Thạnh Trị).

Ngày 11 tháng 7 năm 1968, quận Hoà Tú được thành lập do tách đất từ quận Mỹ Xuyên và quận Thạnh Trị, quận lỵ đặt tại xã Hòa Tú.

Ngày 16 tháng 6 năm 1969, quận Ngã Năm được thành lập, quận lỵ đặt tại Ngã Năm (xã Vĩnh Qưới).

Năm 1970

Quận Hòa Tú gồm 2 xã: Gia Hòa, Hòa Tú

Quận Lịch Hội Thượng gồm 4 xã: Lịch Hội Thượng, Liêu Tú, Trung Bình, Viên An

Quận Long Phú gồm 13 xã: An Thạnh Nhứt, An Thạnh Nhì, Châu Khánh, Đại Ân, Đại Ngãi, Hậu Thạnh, Long Đức, Long Phú, Phú Hữu, Song Phụng, Tân Hưng, Tân Thanh, Trường Khánh

Quận Mỹ Xuyên gồm 8 xã: Đại Tâm, Khánh Hưng, Mỹ Xuyên, Phú Mỹ, Tài Văn, Tham Đôn, Thạnh Phú, Thạnh Thới An

Quận Ngã Năm gồm 5 xã: Mỹ Qưới, Tân Long, Vĩnh Lợi, Vĩnh Qưới, Vĩnh Tân

Quận Kế Sách gồm 9 xã: An Mỹ, An Lạc Tây, Ba Trinh, Đại Hải, Kế An, Nhơn Mỹ, Phú Tâm, Thới An Hội, Thuận Hòa

Quận Thạnh Trị gồm 4 xã: Châu Hưng, Thạnh Kiết, Thạnh Trị, Tuân Tức

Quận Thuận Hòa gồm 5 xã: An Ninh, Long Hưng, Mỹ Hương, Mỹ Phước, Mỹ Thuận.

Năm 1972

Quận Hòa Tú gồm 4 xã: Hòa Mỹ, Hòa Thạnh, Hòa Tú, Hòa Vân

Quận Lịch Hội Thượng gồm 4 xã: Lịch Hội Thượng, Liêu Tú, Trung Bình, Viên An

Quận Long Phú gồm 12 xã: An Thạnh Nhứt, An Thạnh Nhì, Châu Khánh, Đại Ân, Đại Ngãi, Hậu Thạnh, Long Đức, Long Phú, Phú Hữu, Tân Hưng, Tân Thanh, Trường Khánh

Quận Mỹ Xuyên gồm 8 xã: Đại Tâm, Khánh Hưng, Mỹ Xuyên, Phú Mỹ, Tài Văn, Tham Đôn, Thạnh Phú, Thạnh Thới An

Quận Ngã Năm gồm 4 xã: Mỹ Qưới, Tân Long, Vĩnh Qưới, Vĩnh Tân

Quận Kế Sách gồm 10 xã: An Mỹ, An Lạc Tây, Ba Trinh, Đại Hải, Kế An, Nhơn Mỹ, Phú Tâm, Song Phụng, Thới An Hội, Thuận Hòa;

Quận Thạnh Trị gồm 6 xã: Châu Hưng, Gia Hòa, Thạnh Kiết, Thạnh Trị, Tuân Tức, Vĩnh Lợi

Quận Thuận Hòa gồm 6 xã: An Ninh, Long Hưng, Mỹ Hương, Mỹ Phước, Mỹ Thuận, Mỹ Tú.

Năm 1973, tỉnh Ba Xuyên gồm 8 quận: Mỹ Xuyên, Thuận Hòa, Long Phú, Thạnh Trị, Kế Sách, Ngã Năm, Lịch Hội Thượng, Hòa Tú.

Nguồn gốc:

Tên gọi Sóc Trăng do chữ Srok Kh’leang, tiếng Khmer mà ra. Srok tức là “xứ”, “cõi”, Kh’leang là “kho”, “vựa”, “chỗ chứa bạc”. Srok Kh’leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là “Sốc-Kha-Lang” rồi sau đó thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng đổi là Nguyệt Giang tỉnh (chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi bị đổi thành Nguyệt Giang)

Đại Nam nhất thống chí viết về Ba Xuyên thuộc tỉnh An Giang nhà Nguyễn như sau: “… Sông Ba Xuyên ở phía Nam hạ lưu sông Hậu Giang, cách huyện Vĩnh Định 8 dặm về phía Bắc, trước là sông Ba Thắc, rộng 15 trượng sâu 8 thước, đi về phía Nam 15 dặm, đổ ra cửa biển Ba Xuyên, đi về phía Tây 60 dặm đến trường Tàu, tức là chỗ tàu biển đỗ. Ở đây người Trung Hoa và người Cao Miên ở lẫn lộn, chợ phố liên tiếp, lại 65 dặm đến ngã ba sông Nguyệt, tục gọi là Sóc Trăng,… Năm Kỷ Dậu (1789) hồi đầu thời trung hưng đặt bảo Trấn Di ở phía Bắc sông Ba Thắc, tức sông này.”

Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu Giang, cách Sài Gòn khoảng 230 km, cách Cần Thơ 60 km, nằm trên Quốc lộ 4 nối liền các tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ) Bạc Liêu, Cà Mau. Có bờ biển dài 70 km và 3 cửa sông lớn là Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra biển Đông Hải./.

(Lê Bình biên soạn)

Tài liệu tham khảo:


Đại Nam Nhất Thống Chí: https://sites.google.com...-nam-nhat-thong-chi-new.

CÔNG NỮ NGỌC VẠN (Ngô Viết Trọng)

Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ba_Xuy%C3%AAn

Edited by user Monday, August 9, 2021 2:29:54 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1786 Posted : Monday, August 9, 2021 2:40:49 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

8 lợi ích bất ngờ của quả táo tàu mà bạn nên biết


LĐO
| 23/07/2021 | 18:00

UserPostedImage

Táo tàu mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như kiểm soát cân nặng và làm trẻ hóa làn da. Đồ họa: Thanh Ngọc

Theo Boldsky, táo tàu là một vị thuốc đông y quen thuộc với vị ngọt và mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như ngăn ngừa ung thư, kiểm soát cân nặng và làm trẻ hóa làn da.

Ngăn ngừa ung thư

Táo tàu sấy khô rất giàu vitamin C với đặc tính chống ung thư mạnh mẽ. Ngoài ra, các axit triterpenic và polysaccharide có trong táo tàu giúp tiêu diệt và ngăn chặn sự lây lan của các tế bào ung thư.

Giảm nguy cơ mắc bệnh tim

Hàm lượng kali trong quả táo tàu giúp duy trì huyết áp ổn định và giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tim. Ngoài ra, táo tàu có công dụng chặn sự phân hủy chất béo, nhờ đó làm giảm tình trạng tắc nghẽn động mạch.

Điều trị táo bón

Hàm lượng chất xơ cao trong quả táo tàu có tác dụng điều chỉnh nhu động ruột, giúp thức ăn tiêu hóa nhanh hơn. Đồng thời, ăn táo tàu mỗi ngày rất có lợi cho hệ tiêu hóa và điều trị bệnh táo bón hiệu quả.

Cải thiện lưu thông và làm sạch máu

Lượng sắt và phốt pho dồi dào trong quả táo tàu giúp hình thành tế bào hồng cầu và hỗ trợ quá trình lưu thông máu. Ngoài ra, táo tàu còn chứa các hợp chất như saponin, ancaloit và triterpenoid có công dụng thanh lọc, loại bỏ các chất độc hại ra khỏi máu.

Điều trị nhiễm trùng

Chất flavonoid trong táo tàu hoạt động như một chất kháng khuẩn chống lại các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể. Ngoài ra, chất ethanolic giúp ngăn ngừa nhiễm trùng ở trẻ em.

Kiểm soát cân nặng

Táo tàu chứa nhiều chất xơ mang lại cảm giác no lâu mà không tiêu thụ nhiều calo. Do đó, bổ sung táo tàu vào chế độ ăn uống sẽ giúp kiểm soát cân nặng lý tưởng.

Giúp xương chắc khỏe

Táo tàu chứa nhiều khoáng chất như sắt, canxi và phốt pho, không chỉ giúp xương chắc khỏe mà còn giúp cơ thể tránh xa các bệnh về xương do tuổi tác như loãng xương.

Trẻ hóa làn da

Táo tàu rất giàu vitamin C giúp trẻ hóa làn da và ngăn ngừa các bệnh như chàm và kích ứng da. Thêm vào đó, táo tàu còn giúp giảm bớt nếp nhăn cũng như các vết đồi mồi và làm mờ sẹo.

THANH NGỌC (THEO BOLDSKY)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1787 Posted : Wednesday, August 11, 2021 7:17:58 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

Tranh sơn dầu- Khung trời cũ (Nguyễn Thanh Cảnh)

Edited by user Wednesday, August 11, 2021 7:20:13 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1788 Posted : Wednesday, August 11, 2021 8:55:09 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)


Cuộc di dân Bắc->Nam năm 1954


Lạp Chúc Nguyễn Huy


Sau hiệp định Genève 1954, sự chia đôi nước Việt thành hai quốc gia đã tạo nên luồng sóng chạy trốn cộng sản vào miền Nam đi tìm tự do. Cuộc di cư lịch sử này có thời hạn là 300 ngày. Sự giám sát thực thi hiệp định được trao cho Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến được thành lập theo điều 34 của hiệp định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada.
Để tiếp nhận và định cư Bắc Kỳ di cư tỵ nạn, chính phủ Quốc Gia miền Nam tổ chức ngay:

Các phương tiện chuyên chở người tỵ nạn vào Nam bằng đường thủy và hàng không,

Lâp ủy ban đón tiếp và hướng dẫn dân tỵ nạn đến tạm cư tại các trạm cư trú rải rác tại Sài Gòn và Gia định,

Thành lập cơ quan lo tái định cư như Phủ Tổng Ủy Di Cư Tỵ Nạn hoạch định một chính sách thành lập các khu định cư thường trực, lo chuyên chở nông dân và ngư dân đến định cư, giúp đỡ tiền bạc, thực phẩm và vật liệu xây cất trong thời gian đầu chưa ổn định. Các thành phần tư sản, trí thức, công tư chức và thương gia tự túc định cư tại các thành phố. Riêng các nông dân và ngư dân thì phải trông cậy vào kế hoạch định cư và trợ giúp tài chánh của chính phủ. Đến tháng 8 năm 1955, làn sóng di cư vào miền Nam tự do đã lên tới 887.917 người[1].

Thời hạn rút quân và di cư

Điều 14, đoạn b, của Hiệp Định Genève được ký kết ngày 20.7.1954 quy định: "TRONG THỜI GIAN KỂ TỪ KHI HIÊP ĐỊNH NÀY BẮT ĐẦU CÓ HIÊU LỰC ĐẾN NGÀY HOÀN THÀNH VIÊC CHUYỂN QUÂN, NẾU CÓ NHỮNG THƯỜNG DÂN Ở MỘT KHU THUỘC QUYỀN KIỂM SOÁT CỦA BÊN NÀY MÀ MUỐN SANG Ở VÙNG GIAO CHO BÊN KIA, THÌ NHÀ CHỨC TRÁCH CỦA KHU TRÊN PHẢI CHO PHÉP VÀ GIÚP ĐỠ SỰ DI CHUYỂN ẤY".

Sự chuyên chở người tỵ nạn hầu hết do hải quân Hoa Kỳ và Pháp phụ trách. Với trợ giúp tài chánh của Hoa Kỳ, chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức di cư như sau:

Thời hạn quân đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi Bắc Việt trùng hợp với di cư là 300 ngày chia làm 3 thời hạn:

- Khu Hà Nội: 80 ngày

- Khu Hải Dương: 100 ngày

- Khu Hải Phòng: 300 ngày

Công việc tiếp cư tại Hải Phòng kéo dài như thế cho đến ngày 19-5-55, nhưng vì số người di cư quá đông, Cao uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn, có thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam.

Phương tiện chuyên chở người tỵ nạn

Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam nên chính quyền Pháp và Việt Nam phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư. Các chính phủ Anh, Tây Đức, Hoa Kỳ, Nhật, Trung Hoa Dân quốc, Úc hưởng ứng cùng các tổ chức quốc tế (UNICEF, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), CARE).

Tổng thống Eisenhower hưởng ứng lời kêu gọi của thủ tướng Diệm đã ra lệnh cho chủ lực 90 của đệ thất hạm đội Mỹ đến Việt Nam giúp đỡ việc chuyên chở người di cư.

Các người tỵ nạn cộng sản dùng đủ mọi phương tiên di chuyển để đến địa điểm tập trung di tản, thí dụ như người tỵ nạn đi từ cửa Cồn Thoi ra Hải Phòng trên những mảnh bè tre nứa ghép lại một cách vội vã (xem hình). Đa số đi bằng đường thủy và đường hàng không để di cư vào miền tự do.

Đường thủy

Tàu thủy Pháp chở được 338 chuyến, tàu Mỹ 109 chuyến, tàu Anh 2 chuyến, tàu Trung Hoa, 2 chuyến, tàu Ba Lan, 4 chuyến, tổng cộng là 555.037 người. Hầu hết các tầu thủy đều cặp bến Sài Gòn.

Đường hàng không

Theo tài liệu trong CUỘC DI CƯ LỊCH SỬ, máy bay Pháp chở được 4280 chuyến, tổng cộng 213.635 người. Bên cạnh máy bay của Pháp còn có các hãng máy bay tư giúp sức như Air France, Air-Việt Nam, Autrex, Aigle-Azur, Air-Outremer, Cat, Cosara và U.A.T. Đó là cây cầu hàng không lớn nhất nối liền giữa Hà Nội, Hải Phòng- Sàigòn, dài 1174 cây số.

Và một số người đi bằng phương tiện riêng là 102.861 người.

Cộng chung tất cả là 871.5533. Một con số được coi là khá chính xác so với tài liệu chính thức trong trang 120 của cuốn CUỘC DI CƯ LỊCH SỬ của Phủ Tổng Ủy di cư.

Trại tiếp cư

Việc chỉ có 300 ngày để di cư trong khi số lượng người di cư rất lớn khiến chính quyền Ngô Đình Diệm phải xây 42 trung tâm tạm cư. Các trạm này sử dụng các công trình công cộng có sẵn như trại lính Pháp, nhà thờ, một số trường dòng. Hàng ngàn người đã ở trong các lều tạm ở sân bay Tân Sơn Nhất và trường đua Phú Thọ.

Sài Gòn có 10 trung tâm tiếp cư chính là: Phú Thọ, Xuân Trường (Thủ Đức), Nhị Thiên Đường, Bình Đông 1, Bình Đông 2, Bình Đông 3, Bảo Hưng Thái, Rạch Rừa, Bình Trị Đông và Bình Thới.

Ngoài ra còn có những trung tâm tiếp cư lẻ tẻ như Bệnh viện Bình Dân, Nhà Kiếng, Tân Sơn Nhất, Dạ Lữ Viện, Rạch Dừa và các trường học ở Sàigòn, Chợ Lớn, Gia Định, Thủ Đầu Một hay ở Gò Vấp như các trường Tôn Thọ Tường, Nguyễn Tấn Nghiệm, Pétrus Ký, Cây- Gỗ lớn, Cây-Gỗ nhỏ, Đỗ Hữu Phương, Phú Thọ, Đakao, Khánh Hội và các trạm cứu hỏa đường Trần Hưng Đạo, tỉnh Gia Định và trại tiếp cư Hòa Khánh ở Chợ Lớn v.v.

Các thành phần như sinh viên, học sinh, nhất là phái nữ thì được ưu tiên tạm trú tại trường Gia Long, trường Pétrus Ký và 2000 người tạm trú tại các trường học ở Gia Định vì lúc đó các trường đang nghỉ hè.

Đặc biệt là trại tạm cư Phú Thọ còn được gọi là Phú Thọ "lều", vì ở trong các lều. Các lều này được chuyên chở từ Nhật về trong các kho dự trữ của chính phủ Mỹ ngày 31/7/1954. Đợt đầu tiên là 2.000 căn lều bạt đã tới Sàigòn và trù liệu chỗ trú ẩn cho 40.000 dân di cư. Tức khoảng 4 gia đình với trung bình 4 người trong một nhà lều.

Cơ quan đặc trách di cư

Ngày 9/8/1954: Miền Nam lập phủ "Tổng-ủy phụ-trách đồng bào tị-nạn" theo NĐ 111TTP-VP, Ông Nguyễn Văn Thoại làm Tổng Ủy trưởng di cư, phụ tá là kỹ sư Đinh Quang Chiêu.

Năm 1955, thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư tỵ Nạn để hoạch định chương trình định cư dân tỵ nạn đặc biệt là các nông dân trên đồng bằng Cửu Long. Phụ trách là ông Mai Văn Hàm, Bùi Văn Lương. Ngoài ra còn có bốn vị đã lần lượt trông coi, chăm sóc cho người di cư là: Bác sĩ Phạm Hữu Chương, ông Ngô Ngọc Đối, bác sĩ Phạm Văn Huyến và bên cạnh đó, có đức cha Phạm Ngọc Chi được chỉ định làm chủ tịch Ủy ban hỗ trợ định cư. Tại Hà Nội. Phủ Tổng Ủy Di Cư đặt một nha Di Cư gồm ba người đảm nhiệm (Bác sĩ Hoàng Cơ Bình và ông Trần Trung Dung lo về dân sự và thiếu tướng Nguyễn văn Vận lo chuyển vận quân đội vào Nam).

Kế hoạch định cư

Kế hoạch định cư được thực hiện theo ba giai đoạn.

Giai đoạn 1: từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1954

Phủ Tổng Ủy Di Cư cố gắng giải quyết các vấn đề cấp bách trong các trại tạm cư như:

– cung cấp lều tạm trú, thực phẩm (gạo, mắm muối, cá khô...),

– tìm kiếm đất cho các khu định cư.

Trong thời gian này, đời sống của dân tỵ nạn rất là khó khăn: sống chui rúc dưới lều vải, chia nhau từng giọt nước uống cung cấp bởi các "camion citerne", làm bếp dưới nắng cháy da, muỗi, ruồi, bệnh tật quấy nhiễu ngày đêm. Thêm vào khổ ải đó là nhàn rỗi, nhớ thôn xóm xưa, lo lắng đến một tương lai bất định...Vì vậy một số di dân sanh ra bất mãn, phiền trách sự chậm chạp tìm đất định cư cho họ.

Giai đoạn 2: Định cư từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1955

Đây là thời kỳ thành lập các trung tâm định cư. Với sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, Phủ Tổng Ủy Di Cư quyết định chọn lựa các khu định cư, hoạch định đồ án xây cất (làm đất, chia lô...), ước tính kinh phí của chính phủ... rồi phổ biến tin tức đó trong các trại tạm cư. Sau đó một đại diện dân chính hoặc cha xứ của khu định cư tương lai sẽ đi quan sát khu định cư để lấy quyết định thay cho di dân. Tiếp theo, chính phủ sẽ lo việc chuyên chở, giúp đỡ tài chánh, thực phẩm, đồ gia dụng thiết yếu như mùng mền, đũa chén...

Giai đoạn 3: Kiện toàn định cư từ tháng 6 năm 1956

Sau khi di dân đã sống trong các khu định cư rồi, Phủ Tổng Ủy Di Cư làm nhiệm vụ cuối cùng là kiểm điểm và hoàn thiện một cách khoa học và hợp lý như tìm địa điểm, tài nguyên thích hợp cho từng nghề nghiệp cho từng loại dân di cư. Thí dụ, trước số di dân quá đông đảo, lại thiếu nhân viên phụ trách, Phủ Tổng Ủy Di Cư phạm một số sai lầm trong việc lựa chọn địa điểm định cư và phân chia di dân theo nghề nghiệp.

Năm 1955, chính phủ thành lập một Ủy Ban Cao Cấp gồm các chuyên viên nha định cư, nha kỹ thuật và phái đoàn viện trợ Mỹ. Ủy ban này duyệt xét lại các trung tâm định cư về mặt kỹ thuật và phối trí di dân theo ba nghề (nông, ngư, thủ công) cho phù hợp với mỗi trung tâm.

Theo tài liệu năm 1955 củaTổng Ủy Di Cư, số dân tỵ nạn do chính phủ trợ giúp được phân phối theo nghề nghiệp như sau: nông dân chiếm 80% trên tổng số, còn công nghiệp 10% và ngư nghiệp 10% được phân phối trong các trung tâm sau:

TỈNH
TRUNG TÂM ĐỊNH CƯ TỴ NẠN CÔNG NGHỆ

Sài Gòn
Gia Định
Biên Hòa
Thủ Trí, Phú Bình
Xóm Mới, Đông Hòa Xa, Giồng Ông Tố, Suối Lồ Ồ
Hố Nai, Tân mai, Hòa Bình, Thanh Bình

TỈNH DUYÊN HẢI
TRUNG TÂM ĐỊNH CƯ NGƯ DÂN TỴ NẠN

Bên Tre (Kiến Hòa)
Phước Tuy
Vũng Tàu (Phước Tuy)
Cồn Hựu, Khâu Băng
Phước Tĩnh, Tân Phước, Cù My
Thạnh Thới, Rạch Dừa A, Rạch Dừa B

Thành quả

Cuối năm 1955, Phủ Tổng Ủy Di Cư đã định cư trên đồng bằng Cửu Long 393.354 di dân trên tổng số 508.949 thôn dân di cư (Nguồn: Phủ Tổng Ủy Di Cư Tỵ Nạn).

Số di dân đã định cư được phân phối như sau.

Theo bảng phân phối trên, hai phần ba dân tỵ nạn sống tiếp cận Sài Gòn-Gia Định để hành nghề thủ công, dịch vụ...Riêng tỉnh Biên Hòa có 56 trung tâm định cư với 107.947 dân tỵ nạn sống nghề khai thác gỗ rừng và canh tác trên các mảng phù sa cổ. Từ 1955, các trung tâm định cư ở Gia Định và Biên Hòa giữ vai trò điều hòa dân số tỵ nạn như vừa cung cấp di dân cho các khu dinh điền và khu trù mật, vừa là nơi rút lui của những di dân gặp khó khăn về kinh tế cũng như an ninh do cộng sản gây ra.

Khảo cứu thực địa một khu định cư: Cái Sắn

Trong thời gian 1968-1972, chúng tôi đã đi khảo sát thực địa vài khu định cư thí dụ như khu định cư Cái Sắn của dân Bắc Kỳ di cư 1954 để đưa vào giáo trình Địa Lý Nông Thôn giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975 ( Xem Khu Dinh Điền, Khu Trù Mật đã đăng trong Chim Việt Cành Nam).

Năm 1955, nhằm đi tìm đất định cư dân tỵ nạn, chính phủ thành lập một phái đoàn gồm các chuyên viên hoa kỳ, tây đức và đại diện bộ canh nông và cải cách điền địa. Phái đoàn trình lên chính phủ dự án Cái Sắn tổn phí 228.607.252VN$ (1/4 ngân khoản Mỹ viện trợ cho 129 dự án định cư). Dự án Cái Sắn 1 (số 15), gồm bốn dự án định cư khoảng 100.000 dân tỵ nạn trên 77.000 ha đất bỏ hoang. Dự án chính là đào kênh và ba dự án phụ là cất nhà, mua nông cụ, thực phẩm và tiền trợ cấp cho di dân trong năm đầu.

Cái Sắn hội đủ các điều kiện về đất đai phì nhiêu, lý tưởng của một trại định cư kiểu mẫu và trù phú.Thủ tướng Ngô Đình Diệm gọi vùng đất này là để "DÀNH CHO CON NGƯỜI, ĐỂ NỐI LIỀN LONG XUYÊN VỚI RẠCH GIÁ VÀ QUA RẠCH GIÁ, MẢNH ĐẤT ĐEM LẠI YÊN HÀN VÀ TRẬT TỰ CHO VÙNG NÀY".

Còn đối với người Mỹ thì như nhận xét sau đây trong Passing the Torch: "CÁI SẮN WAS HAILED BY THE US AS A SYMBOL OF SOUTH VIET NAM 'S DETERMINATION TO SHELTER PEOPLE WHO LINKED THEIR FUTURE WITH THAT OF THE FREE GOVERNMENT"[2]. Cái Sắn được chính quyền Mỹ chào đón như biểu tượng về lòng quyết tâm của miền Nam Việt Nam để che chở những ai đặt tương lai của họ vào tương lai của một chính quyền tự do".

Nha định cư đã đưa tất cả 42.145 đồng bào tới định cư ở Cái Sắn, gồm 15 trại định cư và 8.325 căn nhà.

Giải đất hình chữ nhật, rộng đến 270.000 ngàn mẫu tây, chiều dài kênh Cái Sắn là 25 dặm, chiều ngang 16 dặm, được tưới tiêu bằng con kênh Rạch Sỏi, chạy dọc theo trại và đổ ra dòng sông Bassac. Kênh đó nay được gọi là kênh Cái Sắn, một trong những vùng đất lý tưởng nhất cho việc định cư. Phía Bắc có 14 con kênh đào, phía Nam có 3 kênh. Thêm vào đó là 13 kênh nhỏ với chiều dài tổng cộng là 159 cây số. Những con kênh này, bề ngang rộng 6 mét và sâu 4 mét, chiều sâu ở giữa kênh và bờ kênh thì sâu 1 mét 50. Bên mỗi bờ kênh, sâu vào 20 mét là những căn nhà ở của dân chúng. Đất đào ở các con kênh thì dùng để đắp nền nhà. Việc đào kênh đều làm bằng tay mà trung bình một người đào được khoảng 7mét khối/một ngày.

Các kênh được gọi là kênh 1, kênh 2, kênh 3, kênh 4, kênh 5 rồi kênh Tân Hiệp và sau đó tiếp theo là các kênh A, B, C, D, E, F, G, và H. Công chung tất cả các kênh gồm 8.086 lô đất. Mỗi lô đất dành cho một gia đình là 3 mẫu tây vừa là nhà ở và đất để trồng trọt. Mỗi lô đất rộng 30 mét tây chiều ngang và 1000 mét chiều dài.

Nhưng để đất có thể trồng trọt được, cơ quan USOM đã dùng 110 máy ủi đất để cào sới đất, sau đó dùng máy cầy san đất. Tính chung là 1.800.000 mét đất đã được ủi và cào xới.

Chính quyền có cấp phát cho các gia đình trâu để cầy ruộng. Trâu mua từ Thái Lan về. Đã có 2.148 con trâu đã được cấp phát cho các trại di cư ở Nam Phần và 40 con ở Trung Phần.

Riêng ở Cái Sắn, cứ 4, 5 gia đình chung nhau một con trâu để cầy ruộng. Sau này, nhiều người có tiền thì có thể mỗi nhà có một con trâu để lo việc cầy bừa ruộng.

Trên toàn thể các trại di cư, chính phủ đã giúp đào được 5.405 cái giếng và phân phối khoảng 400 tấn phân bón. Đồng thời phân phối khoảng 60 ngàn cuốc xẻng. Chính phủ cũng cho nông dân đi định cư vay một số tiền là 118.217.200 triệu đồng.

Hầu hết diện tích 270.000 mẫu tây dành cho người di cư và một phần dành cho người dân địa phương chưa có nhà cửa. Những cư dân địa phương, khoảng 20.000 ngàn người thì được ở khu vực kênh Tân Hiệp vốn đã có sẵn từ trước.

Chính phủ Hoa Kỳ còn cung cấp cho dân định cư, lúc đầu là 50.000 người, dự trù thêm 50.000 nữa, một số tiền là 400 triệu đồng cùng với tất cả các dụng cụ nông nghiệp mà số tiền tính ra khoảng 1 triệu Mỹ kim.

Mùa gặt đầu tiên ở Cái Sắn đã thu về được 4.000 tấn gạo mà phần lớn từ mùa thu hoạch "lúa xả, hay floating rice".

Cái Sắn là một tiêu biểu cho sự thành công của người di cư tị nạn cộng sản.

Thực hiện

TT Diệm ký sự vụ văn thư 133 TTP/KH ngày 17 tháng 1 năm 1956 bổ nhiệm bảy công chức cao cấp trách nhiệm thực hiện dự án Cái Sắn:

– Tổng Ủy trưởng Di Cư Tỵ Nạn và đại biểu chính phủ tại Nam Phần theo dõi thi hành huấn lệnh của Tổng Thống;

– Tổng giám đốc kế hoạch lo phối trí kế hoạch và thanh toán viên ngân sách;

– Đổng lý văn phòng bộ Cải Cách Điền Địa lo việc cày đất và bảo trì nông cụ;

– Giám đốc định cư thuộc Tổng Ủy trông nom việc chuyên chở di dân;

– Tổng thư ký bộ công chánh phụ trách đào vét kênh;

– Giám đốc nha canh nông phát lúa giống, cày cuốc...

Từ tháng 3 năm 1956, bộ Công Chánh đã vét hai kênh đào cũ nối với kênh Rạch Sỏi-Bắc Sắc và kênh Rạch Giá-Long Xuyên và đào 17 kênh mới song song với nhau, cách nhau từ 2 đến 2,5 cây số và thẳng góc với hai kênh trên. Mỗi kênh mới dài 12 cây số, rộng 8m, sâu 1,5 m. Công việc đào kênh kết thúc vào tháng 5 năm 1956.

Ngày 14 tháng 1 năm 1956, báo chí loan tin dự án Cái Sắn. Một tuần lễ sau, Tổng Ủy Di Cư nhận được 42 850 đơn xin định cư. Trung tâm Cái Sắn 1 được chính thức thành lập ngày 27 tháng 1 năm 1956 tại xã Thạnh Qưới trên một diện tích 27 153 Ha (16 337 Ha nằm trong địa phận tỉnh An Giang và 10 816 Ha thuộc tỉnh Kiên Giang). Trên lý thuyết, trung tâm Cái Sắn dự liệu định cư 9000 gia đình gồm khoảng 45 000 người trong giai đoạn đầu tiên.

Việc thu mua ruộng đất để cấp phát cho di dân thì dưạ vào dụ số 7 và 57 của luật cải cách điền địa :

– Dụ số 7 (ngày 5 tháng 2 năm1955) qui định dân tái canh ruộng hoang với tư cách tá điền. Chủ điền khai báo ruộng bỏ hoang và ruộng xin giữ lại, phần còn lại bán cho chính phủ cấp lại cho dân tỵ nạn nhưng việc thi hành dụ số 7 gặp rất nhiều khó khăn. Tổng kết ruộng Cái Sắn cấp phát cho dân qua dụ số 7 là 15 387 Ha.

– Dụ số 57 (ngày 22 tháng 10 năm 1956). Chủ điền chỉ giữ laị 100Ha và bán số Ha còn lại cho chính phủ. Tổng cộng 4 845 Ha (qua thỏa ước Việt Pháp) và 6 252 Ha công điền, công thổ đã được cấp phát theo dụ số 57.

Đón tiếp di dân

Khi tới Cái Sắn, dân di cư tỵ nạn sống tạm dưới lều nhà binh hoặc trong những lán lợp lá dừa nước cất tạm bên lộ đường. Mỗi lán dài 20m và rộng 9m, mỗi gia đình ở một căn (9m2) trong lán. Chính phủ trù liệu ngân khoản 45 360 000$ để giúp đỡ di dân trong những ngày khó khăn đầu tiên trên vùng đất bỏ hoang từ 10 năm nay.

Mỗi người di dân trên 18 tuổi nhận được trợ cấp như sau:

-244 VN$ để đầu tư lúc đầu vào việc định cư,

-lãnh 4 VN$ mỗi ngày trong 9 tháng kể từ ngày định cư,

15 giạ (300 lít) hạt giống lúa, một bao lớn đựng túi hạt giống bắp, đậu, cà chua.

Về thực phẩm hàng ngày, di dân được cung cấp gạo, bột bắp, nước mắm, muối, cá khô và thỉnh thoảng có bơ, sữa bột của chương trình viện trợ hoa kỳ dưới nhãn hiệu "Food for freedom".

Chính phủ cung cấp cho mỗi gia đình

– một chiếc ghe tam bản " dài 2,5 m trên 0,5 m) để di chuyển,

– cưa, liềm gặt lúa, dao phát cỏ, cuốc và hai thùng phuy đựng nước uống rất hiếm trong vùng này.

Trong chương trình y tế, chính phủ cho xây trường học và bệnh xá, mua 6730 chiếc mùng đơn trị giá 750 000 VN$ và 6 730 mùng đôi phí tổn 740 000 VN$.

Thiết kế và quản trị

Trung tâm định cư được chia thành lô rộng 30m, dài 1000m, chạy dài theo kênh đào tạo nên hình ảnh cư trú đươc hoạch định gồm những hàng nhà song song dọc theo hai bên bờ kênh và đâu mặt với nhau. Mỗi kênh dài 12Km, ngang 8M, sâu 1,5M gồm hai xứ đạo, mỗi xứ có một giáo đường xây dựng trên 3 hoặc 6 lô đất, ở cây số thứ 3 và 8 để cho tiện giáo dân di chuyển.

Sau khi bốc thăm chọn lô đất, mỗi chủ gia đình được phát 800 VN$ để làm nền nhà và một số vật liệu kiến trúc để dân tự cất, mướn, đổi công đắp nền. Ngoài ra chủ gia đình phải tham dự đắp đường làng trải dài theo bờ kênh và vui lòng đóng góp công sức vào việc xây cất giáo đường của xứ.

Về việc điều hành hành chánh, các nhà dọc theo kênh tập hợp thành nhiều trại. Mỗi trại có một ban quản trị gồm ba người (chủ tịch do Tổng Ủy bổ, thư ký và ủy viên tài chánh do dân của trại bầu). Tất cả các ủy ban quản trị đặt dưới sự điều hành của ủy ban định cư do tỉnh trưởng làm chủ tịch quản trị nội bộ, thi hành dự án. Về an ninh, 100 nhà cử 20 người vào ban tự vệ do quận trưởng điều động. Trên thực tế, các cha xứ là người nắm giữ nhiều quyền hành, nhất là về ổn định đời sống tinh thần và vật chất của di dân.

Khó khăn

Việc định cư gặp rất nhiều khó khăn trong những năm đầu.

Khó khăn thứ nhất là sự bất mãn của 636 điền chủ bị truất hữu hoặc không hưởng được tiền bồi thường vì không cung cấp được cho chính quyền giấy tờ chứng minh sở hữu và thừa kế.

Khó khăn tiếp là vấn đề kỹ thuật và tổ chức. Để sửa soạn cho mùa lúa 1956-1957, bộ Canh Nông gởi 200 máy cày, máy ủi và trâu đến cày 12 000 ha. Vì thiếu kinh nghiệm kỹ thuật (ráp nhầm, máy hư, thiếu người lái...) nên chỉ có 63 máy cày hoạt động được. Công việc cày rất là gian khổ vì đất bỏ hoang từ 10 năm nay, đất lún, nhiều mô đất cao, cỏ dại khó ủi mọc lại ngay sau một tháng. Đến tháng 7 chỉ cày được 9126 Ha cho mùa 1956. Đầu tháng 7 năm 1957, chính phủ gởi đến 466 con trâu mua của Thái Lan (dự trù 2400 con mới đủ một con cho bốn gia đình) nhưng trâu này nghịch phá, không thuần như trâu việt. Tiếp theo, chính phủ cung cấp thêm 650 cày tay mua của Đài Loan nhưng cày tay loại này quá yếu ớt nên gãy dễ dàng khi gặp đất thịt cứng.

Trong mùa lúa đầu, chính phủ cung cấp cho mỗi gia đình: 15 giạ thóc giống (Một giạ bằng khoảng 20 lít), 1 bao hạt giống (bắp, đậu, bí, cà chua...), cào cỏ, liềm, xẻng, cuốc bản, bình xịt thuốc. Ban quản trị và cha xứ hết sức đôn thúc dân làm tập thể vụ mùa 1956 nhưng vì nạn chuột và cỏ dại nên chỉ thu hoạch được 7 882 tấn lúa.

Tiến đến thành công

Trước khi chính thức thành lập khu định cư Cái Sắn, nhờ thông tin của chính phủ cùng với phóng sự báo chí rất là lạc quan về tương lai của miền đất hứa nên rất nhiều đơn xin đi định cư. Sau vài tháng thu hoạch thất bại vụ mùa 1956, dân tỵ nạn mất tin tưởng và ảnh hưởng đến tinh thần định cư tại Cái Sắn.

Các ban quản trị và các cha xứ cố gắng đốc súc dân cải thiện điều kiện canh tác cho mùa lúa 1957 như xử dụng máy cày, vét kênh rút nước, san bằng đất gồ ghề, chăm phạt cỏ giết chuột. Kết quả sự thâu hoạch vụ mùa 1957 tăng lên 13 400 tấn lúa. Tương đối tổng số thâu hoạch chưa đủ thỏa mãn nhu cầu thực phẩm của dân chúng nhưng cũng đủ để dân chúng an tâm cho thu hoạch vụ mùa tới nếu chịu cải thiện điều kiện canh tác. Cuối năm 1957, Cái Sắn được địa phương hóa.

Tháng 2 năm 1958, Tổng Ủy Dinh Điền loan báo Cái Sắn phải tự túc cho những vụ mùa tới và thu lại đoàn máy cày của Quốc Gia Nông Cụ Cơ Giới Cuộc. Sợ dân bỏ đất hoang vì tiền thuê máy cày và trả công rất cao (550$/Ha), cha xứ kênh D (Linh mục Nguyễn đức Do) được Quốc Gia Nông Tín Cuộc cho vay 1 090 000 VN$ mua 4 máy cày Fiat, 350 000 VN$ mua hạt giống, 510 000 VN$ bảo trì máy cày. Nhờ vậy mà dân hăng hái ra đồng làm việc và dân đã bỏ đi thì trở lại. Tới tháng 6, dân đã cày đủ 21 000Ha ruộng. Theo gương đó, kênh G (230 gia đình) cũng góp mua được 2 máy cày. Các kênh khác cũng được Quốc Gia Nông Tín cho vay để mướn cày máy cho kịp vụ mùa. Các biện pháp tự túc trên làm cho khu định cư nhộn nhịp trở lại với đầy tin tưởng vào tương lai.

Vụ mùa 1958 đã nâng số sản xuất lên 21 500 tấn lúa, tăng thêm đất canh tác, trồng thêm nhiều loại hoa màu mới (thuốc lá, bắp, rau cải...) và số lượng sản xuất nông phẩm tăng đều mỗi năm.

Để kết luân bài khảo cứu thực địa, tôi mượn vài vần thơ nhớ về Cái Sắn của thi sĩ Thanh Huyền trong Hồi Ký Không Trọn Vẹn dưới đậy.

NGƯỢC GIÒNG (Di Cư 1954-Cái Sắn)

January 24, 2016

TỪ VÀM CÁI SẮN HẬU GIANG
ĐỔ VỀ RẠCH GIÁ ĐẾM BẰNG ĐẦU KÊNH...
CUỐI KÊNH THÌ GIÁP THOẠI GIANG
THÔNG THƯƠNG ĐƯỜNG THỦY DỌC NGANG TOÀN VÙNG...
DI CƯ TỪ BẮC MỚI VÀO
KINH QUA CÁC TRẠI, TRẠI NÀO CŨNG VUI
NHƯNG VÌ LỐI SỐNG ĐÃ QUEN
RUỘNG ĐỒNG CẤY HÁI HỢP HƠN MIỀN RỪNG
NỒI NIÊU GẠO THÓC CÁ KHÔ
LƯƠNG THỰC ĐẦY ĐỦ PHÁT CHO TỪNG NHÀ
TỚI KHI HOÀN TẤT KINH ĐÀO
THÌ THEO THỨ TỰ CÙNG VÀO ĐỊNH CƯ
RUỘNG CHIA BA MẪU MỘT LÔ
BA NĂM CẰY CẮY GIÚP CHO KHÔNG HÒAN
VẬT LIÊU MỘT BỘ NHÀ TRÀM
PHƯƠNG TIÊN ĐẨY ĐỦ NHƯ LÀ "RA RIÊNG"!
RUỘNG SÂU DẦY ĐẶC CÁ TÔM
LÚA MÙA CĂNG SỮA CHĨU BÔNG MỘNG VÀNG
ÐƯỢC MÙA KHU XÓM RỘN RÀNG
NHÀ TRỤC NHÀ CẮT NHIP NHÀNG GOM THU
KHÔNG LÂU ĐÃ TRỞ NÊN QUEN
VÀO MÙA NƯỚC NỔI CHÚNG EM ĐUA THUYỀN
KHI ĐI CHÈO VỘI ĐẾN TRƯỜNG
LÚC VỀ CHIA TOÁN NHẬN XUỒNG CỦA NHAU.

Hình ảnh ban đầu của khu định cư Cái Sắn


Khu định cư tỵ nạn Cái Sắn
(hình Bộ Thông Tin chụp năm 1957)

Một nhà thờ mới được dựng lên tại khu định cư của đồng bào miền Bắc di cư năm 1954 tại Cái Sắn,vừa kịp thời để Mừng Chúa Giáng Sinh 1957.

Bản đồ khu định cư Cái Sắn (Nha Địa Đồ Đà Lạt, năm 1969)

Hình ảnh hiện nay của khu Cái Sắn
(Hình: Đinh Tiến Khôi và Google)







Đô thị hóa: Hình ảnh thành công

Ngày nay nếu trở về thăm nhiều khu định cư các người Bắc Kỳ tỵ nạn cộng sản năm 1954 như khu định cư Xóm Mới, khu Hố Nai... thuộc khu định cư công nghệ, chúng ta không còn nhận ra hình ảnh cư trú ngày nào của những người chạy trốn đi tìm tự do. Hình ảnh đô thị hóa hiện nay của khu định cư Bắc Kỳ di cư 1954 đủ nói lên một khía cạnh thành công của thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Khu định cư Xóm Mới

Khu định cư Xóm Mới nằm trong địa phận xã An Nhơn, cách Sài Gòn 4 cây số. Xã An Nhơn lập năm 1868 trên một diện tích 5,8 cây số vuông gồm những mảng phù sa cổ cao ráo để dân dựng nhà cửa trồng rẫy và dưới thấp phủ bởi phù sa mới ẩm ướt làm ruộng cấy lúa. Năm 1954, chính phủ cho một số dân tỵ nạn tạm trú trên những mảng phù sa cổ đất cát nghèo nàn bỏ hoang.

Đầu năm 1954, dân tỵ nạn gốc Thái Bình, Bắc Ninh và Hà Nội đến tạm trú hai bên hương lộ 12 rồi chiếm dần hai bên tỉnh lộ 16 và hương lộ 11 (ấp 9 và 4). Vào cuối năm 1954, dân tỵ nạn gốc Cao Bằng, Lạng Sơn đến tạm trú phía cuối hương lộ 16 (ấp 10). Tất cả khu này mang tên Xóm Mới gồm 15 trại định cư tổ chức thành những xứ đạo. Năm 1955, dân số tỵ nạn ước lượng 20 000, cư ngụ trên cả ruộng đất hai bên tỉnh lộ 16, hương lộ 11 và 12 lập thành một khu tam giác chia thành 7 ấp.Tại đây dân tỵ nạn sống về công nghiệp như sản xuất pháo tết (Pháo Từ Châu, Việt Quang...), nấu rượu, thương mại như dệt, nhuộm, chăn nuôi heo, gà và đủ thứ dịch vụ cung cấp cho Sài Gòn-Gia Định. Nhờ làm ăn phát đạt, khu định cư Xóm Mới thành thị hóa dần dần, nhà lầu gạch, xi măng thay thế cho nhà tôn vách ván trông như một thị trấn nối liền với thủ đô.

Hình thức cư trú Xóm Mới gồm hai khu vực khá rõ rệt :

– Khu phố thương mại dọc theo tỉnh lộ 16 và hương lộ 11 và 12 thuộc về thương gia, cơ xưởng công nghiệp, công chức thợ thuyền. Từ năm 1957, Xóm Mới có 15 thánh đường, hai tu viện, trường công lập (2 trung học, 6 tiểu học) và tư thục (4 trung học, 11 tiểu học), 3 hợp tác xã dệt được hưởng tiền bồi thường của Nhật...

– Khu ngõ hẻm. Đằng sau các cửa tiệm sầm uất là những hẻm bùn lày, nhà cửa chen chúc sống chui rúc thợ thuyền, lính tráng, dân chăn nuôi heo gà và những người trở về từ những trại định cư gặp khó khăn.

Giống như khu định cư Hố Nai (Biên Hòa), Bùi Chu (gia Định), Xóm Mới giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa dân số tỵ nạn bất ổn. Chính các khu định cư này cung cấp dân số cho các trung tâm định cư mới thành lập và đồng thời là nơi trú ẩn khi rút lui khỏi những trung tâm định cư bất ổn. Thí dụ năm 1956-57, khoảng 5000 dân tỵ nạn rời bỏ trại định cư tỵ nạn về trú ẩn ở Xóm Mới để tìm việc ở tỉnh thành. Nhất là sau 1963, tình trạng an ninh nông thôn và cộng sản tấn công nhiều trại tỵ nạn đã làm dân số Xóm Mới tăng lên 55 600 dân.




Xóm Mới năm 1972

Khu định cư Hố Nai

Trước năm 1954, Hố Nai thuộc làng Bình Trước. Năm 1955, trước làn sóng dân cư từ miền Bắc di cư vào, chính quyền Sài Gòn lập nhiều trại định cư trên quốc lộ 1 và đến 1957 thì thành lập xã Hố Nai, với các ấp Tây Hải, Nam Hải, Đông Hải, Bắc Hải thuộc quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa. Đa số dân xã Hố Nai là tín đồ đạo Công giáo, chuyên nghề nông, trồng trọt và sản xuất các ngành nghề thủ công. Hố Nai đi hàng đầu với 26.912 người ở giai đoạn đoạn đầu. Sau này con số người đến Hố Nai là trên 40 chục ngàn người mà dự liệu lúc ban đầu chỉ là 10 ngàn người.

Người dân Hố Nai cần cù, hiếu khách, sinh động trong làm ăn kinh tế, ngoài chăn nuôi, trồng trọt, Hố Nai còn có làng Kim Bích nổi tiếng về ngành nghề gò thùng thiếc và sản xuất các sản phẩm từ nông nghiệp như tráng bánh đa, bánh phở, mì sợi cung cấp cho nhiều tỉnh thành phía nam và được nhiều người ưa thích. Phường Hố Nai là cửa ngõ của thành phố Biên Hòa rất phát triển về thương mại – dịch vụ, khu công nghiệp Hố Nai thu hút nhiều lao động vào làm việc trong các công ty.

Ngày nay xã Hố Nai đã được đô thị hóa và tách thành 4 xã, năm 1976: Hố Nai 1, Hố Nai 2 (nay là 2 phường Tân Biên và Tân Hòa), Hố Nai 3, Hố Nai 4 (nay là 3 xã Bắc Sơn, Bình Minh, Quảng Tiến thuộc huyện Trảng Bom) thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 23 tháng 10 năm 1978, xã Hố Nai 1 được chuyển về thành phố Biên Hòa và đổi thành phường Hố Nai 1.

Năm 1996, phường Hố Nai 1 được đổi tên thành phường Hố Nai. Phường Hố Nai nằm ở ngoại ô phía Đông thành phố Biên Hòa, cách trung tâm thành phố khoảng 6 km, có Quốc lộ 1A và đường Nguyễn Ái Quốc đi qua, nằm gần các khu công nghiệp lớn của tỉnh và thành phố.

Tổng kết

Theo tài liệu chính thức của phủ Tổng Ủy di cư thì tính đến ngày 30/10/1955 có tất cả là 887.890 người đã được di cư vào miền Nam. Trong đó cần định cư 596.031 người. Còn lại 140.000 sống rải rác khắp nơi và 125.393 là gia đình các quân nhân. Để định cư con số hơn nửa triệu người thì chính quyền đã cho thiết lập được 156 trại ở Nam Phần, 65 trại ở Trung Phần và 34 trại ở vùng Cao Nguyên.

Tính đến ngày 30/6/1955, người vào Nam bằng tàu thủy: 534.761 người; bằng tàu bay: 213.657 người và bằng các phương tiện khác: 61.582 người.

Về phân phối theo tôn giáo theo tổng kết của Phủ Tổng ủy di cư tị nạn (số liệu tính đến tháng 11/1955):

1. Tin Lành 1.041,

2. Phật giáo 209.132,

3. Công giáo 676.348,

Tổng cộng: 886.881.

Kết luận

Năm 1957 đánh dấu kết thúc chính sánh định cư dân tỵ nạn di cư vào Nam. Từ đó vì thiếu tài liệu (phúc trình, thống kê chính thức) nên sự nghiên cứu và đánh giá kết quả chính xác các khu định cư này rất là khó khăn. Tuy nhiên, sau 1970, sự thiếu sót đó được bổ túc một phần nhỏ bởi khảo cứu thực địa của tác giả cho giáo trình ‘Cư trú nông thôn" giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Về thành bại của các khu định cư người Bắc Kỳ tỵ nạn cộng sản, tác giả có những nhận xét sau.

Mặc dầu những xáo trộn chính trị xã hội sau hiệp định Genève, thiếu nhân viên kinh nghiệm và tài chánh, chính phủ đã định cư tốt đẹp hơn 300 000 dân tỵ nạn. Kết quả này là nhờ thời kỳ an ninh trên quê hương và các ban quản trị nhất là các vị linh mục ở các xứ đạo.

Sau nữa chúng tôi nhận xét thấy những khu định cư phát triển, tồn tại là phần nhiều nhờ vào yếu tố chính sau:

– Dân tỵ nạn cùng gốc ở một tỉnh hoặc một xứ đạo miền Bắc,

– Người dân mộ đạo nên rất có kỷ luật nghe lời cha xứ.

– Đa số dân sống tựa vào khu thành thị thí dụ như Xóm Mới, Hố Nai, Hòa Bình, Bùi Chu...

Sau cùng, các khu định cư quá nhỏ bé khiến cho dân bỏ đi vì:

– Thiếu đất canh tác thí dụ như khu định cư ấp Sơn Lộc (xã Tân Phú Trung, tỉnh Hậu Nghĩa) mỗi gia đình hưởng một lô đất canh tác là 0,3Ha trên đất cát nghèo nàn;

– Không hội nhập được với dân địa phương vì khác biệt nếp sống, tôn giáo thí dụ như khu định cư ở ấp Sơn Hải (xã Đại Hải, tỉnh Ba Xuyên) thuộc giáo xứ Phụng Hiệp.


Khu Bắc Kỳ di cư tỵ nạn cộng sản tại xã Đại Hải tỉnh Ba Xuyên

vẫn giữ cách xây cất cổ truyền miền Bắc mái tranh, vách đất (hình Nguyễn Huy chụp năm 1970)

Để kết luận Bắc Kỳ Di Cư 1954 về mặt tình cảm, chúng ta hãy nghe lại các nhạc sĩ Bắc Kỳ di cư diễn tả nỗi lòng mình qua những bản nhạc: Ghé bến Sài Gòn (Văn Phụng), Hình ảnh quê xưa (Hoàng Trọng), Chuyến đò vĩ tuyến, Nắng đẹp Miền Nam, Đoàn người lữ thứ...

Thư tịch

Cuộc Di Cư Lịch Sử, Phủ Tổng Ủy Di Cư, Sài Gòn, 1958

Kế hoạch di cư Bắc Việt 1954, hồ sơ số 14613, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

Hồ sơ về hoạt động của Phủ Tổng ủy di cư tị nạn năm 1955, hồ sơ số 4042, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II

Nguyễn văn Lục, Nhìn lại cuộc di cư 1954-1955 (nguồn internet)

Ronald B. Frankum, Jr, Operation Passage to Freedom – The United States Navy in Vietnam, 1954-1955" (Texas Tech University Press, Lubbock, Texas, 2007). Đặc biệt là cuốn sách này ghi lại những cái nhìn, những điều suy nghĩ khi thủy thủ các chiến hạm trao đổi, tiếp cận với người tỵ nạn. Thí dụ thủy thủ Majesky trên chiến hạm Menard đã viết thư về cho cha mẹ tả lại hoàn cảnh khốn cùng của những người di cư chân đất, chân không, không một thứ gì mang theo, bước lên tầu, nhưng lòng lại tràn ngập niềm tin tưởng.

Ghi chú.
1. Các số thống kê thường do các cơ quan hay tổ chức khác nhau cung cấp nên có khác biệt nhưng không nhiều,
2. Các tài liệu chi tiết của khu định cư Cái Sắn được rút ra từ tư liệu khảo cứu thực địa của tác giả.
Hình ảnh đi tìm tự do "Từ Bắc vô Nam"


Ra đi từ thôn quê Bắc Việt Đến bến tự do Sài Gòn

1. Con đường lựa chọn



2.Các phương tiện chạy trốn cộng sản




Bỏ lại tất cả để tìm tự do: Chợ trời Hà Nội

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1789 Posted : Tuesday, August 17, 2021 5:52:45 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Triết Lý của Người Việt Qua Tục Ngữ Ca Dao


Phạm Hy Sơn

February 17, 2020 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Triết lý hiểu theo nghĩa thông thường là suy nghĩ, tìm hiểu nguồn gốc, nguyên lý của vũ trụ và mọi sự vật, trong đó có con người . Người Việt không có những triết gia lớn nhưng với những suy nghĩ về trời đất, về sự vật, về con người cũng đủ để tạo ra một nền triết học riêng cho mình .

Đứng trước núi cao, biển rộng, sông dài người ta tự hỏi ai tạo ra những cảnh vật vĩ đại ấy:

– Non cao ai đắp mà cao,
Sông kia, bể nọ ai đào mà sâu?

Còn vầng trăng vằng vặc trên đầu chiếu sáng bầu trời, cả ngọn núi cao ngất kia ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác sao mãi không thấy già đi, không thấy thay đổi:

– Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?

_ Trăng bao nhiêu tuổi trăng tròn,
Núi bao nhiêu tuổi núi còn trơ trơ?

Và con chim kia, cây trái kia ai sinh ra chúng ? Loài chim ai dạy bay, dạy hót ? Gai kia ai vót mà nhọn, trái ai vo mà tròn ?

– Chim trời ai dạy mà khôn,
Cây suông ai uốn, trái tròn ai vo?

Từ những suy tư đó, người ta nghĩ rằng phải có một đấng tối cao tạo ra muôn vật . Người ta gọi đấng tối cao đó là Trời và vì vậy người Việt Nam có Đạo Trời:

– Dù ai nói ngược, nói xuôi,
Thì ta vẫn giữ Đạo Trời khăng khăng.

Nhìn ra thế giới, người Do Thái gọi đấng tối cao ấy là Jéhova, người Ả Rập gọi là Allah, người Trung Hoa ở sát bên chúng ta gọi là Thiên (Trời, thiên tử: Con trời) hay Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Về con người, người Việt cho rằng sống là gửi tạm thân xác nơi trần thế, chết mới là trở về quê thật của mình ở bên kia thế giới:

– Sống gửi, thác về.

Cụ Nguyễn Du viết trong truyện Kiều rằng thân xác chẳng qua chỉ là cái hình dáng bên ngoài, linh hồn mới là phần tinh anh bất diệt của con người:

– Thác là thể phách, còn là tinh anh .(Kiều)

Người Việt tin rằng sau khi chết, mà người ta gọi là “về chầu tổ tiên”, linh hồn vẫn luôn luôn quanh quẩn nơi con cháu để coi sóc, phù hộ . Do đó phần mộ là nơi an nghỉ ngàn thu của tổ tiên nên được con cháu săn sóc chu đáo:

– Sống về mồ về mả, chẳng ai sống về cả bát cơm.

Sắp đến ngày giỗ con cháu đi viếng mộ, giẫy cỏ xung quanh, đắp thêm đất cho cao lên để ông bà yên ấm an nghỉ bên trong:

– Cao nấm ấm mồ.

Trước mỗi tết Nguyên Đán con cháu cũng làm như vậy và chiều 30 tháng Chạp (tháng 12 Â.L. ), người ta làm lễ đón ông bà, ông vải về ăn tết với con cháu.

Theo quan niệm ấy, chết không phải là hư vô, mà là sự thay đổi hình thái . Cho nên trong cuộc sống hạn hẹp ở trần gian có biết bao nhiêu công việc phải làm. Trước mắt là lo tu nhân tích đức cho bản thân, lo làm điều lành để đức cho con cháu về sau :

– Ai ơi cứ ở cho lành,
Tu nhân, tích đức trời dành phúc cho.

– Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

Thứ đến là lo gây dựng con cháu có cuộc sống đầy đủ, không bị nghèo đói . Từng ấy công việc làm, làm sao cho hết trong cuộc đời ngắn ngủi nên phải tận dụng thời gian, đừng lười biếng:

– Đời người chỉ một gang tay,
Ai hay ngủ ngày chỉ được nửa gang .

Trái lại có những người thấy cuộc sống thật là phi lý . Sinh tử, tử sinh như cái hoa sớm nở tối tàn:

– Đời người khác nữa là hoa,
Sớm còn, tối mất, nở ra lại tàn !

Công danh, sự nghiệp, địa vị cao cả, giàu có như vua chúa, quan quyền phải mưu mô tính toán, vất vả tranh đấu có khi một mất một còn mới đạt được . Nhưng có đấy mà không đấy vì lúc nhắm mắt lìa đời không mang theo được gì cả:

– Dã tràng xe cát Biển Đông,
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì !

Đất cát, vàng bạc, của cải hàng trăm, hàng ngàn năm trước của ai mà đến tay ta để rồi trăm, ngàn năm tới sẽ về tay ai ?

– Đến ta mới biết của ta,
Ngàn trăm năm trước biết là của ai ?

Sự ngắn ngủi, hư vô của cuộc đời tạo ra một số người bi quan, buông xuôi, hưởng thụ:

– Ai ơi chơi lấy kẻo chầy,
Xem hoa bốn mắt, đi giày ba chân.

– Lẳng lơ chết cũng ra ma,
Chính chuyên chết cũng khiêng ra ngoài đồng .

– Vua Ngô ba sáu tàn vàng,
Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì .

Chúa Chổm uống rượu tì tì,
Chết xuống âm phủ kém gì vua Ngô !

Những bậc cao nhân thì xa lánh ngựa xe, danh lợi trói buộc, tìm cách sống ẩn dật nơi núi rừng, thôn dã, vui với cỏ cây hoa lá:

– Ở như cây quế giữa rừng,
Cay không ai biết, ngọt đừng ai hay .

Ruộng đồng mặc sức chim bay,
Biển hồ lai láng mặc bày cá đua .

– Chi bằng cần trúc, áo tơi,
Danh cương, lợi tỏa mặc đời đua tranh .

Sau đây là bài hát của một người sống ẩn dật bằng nghề đốn củi :

-Tay cầm con dao,
Làm sao cho sắc,
Để mà dễ chặt,
Chặt lấy củi cành,
Chặt lấy cả cành cây.
Trèo lên rừng xanh,
Chạy quanh sườn núi,
Một mình lủi thủi,
Chặt cây, chặt củi.
Tìm chốn ta ngồi,
Ta ngồi, ngồi mát thảnh thơi.
Kìa một đàn chim,
Ở đâu bay đến,
Ở đâu bay lại,
Con đang cắn trái,
Con đang tha mồi,
Quá lối nọ nó ăn.
Cái con hưu kia,
Mày đang ăn lộc,
Lộc vả, lộc sung,
Mày trông thấy tớ,
Tớ không đuổi mày,
Mày quá lối nọ làm chi.

Một người không tìm bổng lộc, giàu sang muôn chung ngàn tứ để sống nơi núi rừng, tuy vất vả đốn củi sinh sống nhưng khi đốn đã đủ thì thảnh thơi, tự do, làm bạn với bầy chim trời ăn trái, với hưu nai gặm lộc . Lời thơ bình dị, dân dã, ý tưởng phóng khoáng. Chúng ta không nên vội cho rằng những tư tưởng trong bài thơ bị ảnh hưởng của Lão Trang .

Sách vở, thơ văn Trung Hoa thường tả những ông tiên ung dung ngồi đánh cờ nơi hang núi hay ngồi câu trên bàn đá (thạch bàn). Đó chỉ là sự tưởng tượng không thực tế.

Các bậc cao sĩ Việt Nam sống rất thực với cuộc sống của mình: Làm việc để kiếm sống bằng con dao đốn củi hay “Một mai, một cuốc, một cần câu” như cụ Nguyễn bỉnh Khiêm từng sống ẩn dật ở làng quê Trung Am, tỉnh Hải Dương.

(Trích trong Khảo Sơ Về Tục Ngữ Ca Dao)

Edited by user Tuesday, August 17, 2021 5:54:10 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1790 Posted : Wednesday, August 18, 2021 4:57:58 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Lời ru của mẹ


August 14, 2016
Huy Phương

Ầu ơ tiếng hát thiên thu
Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn.
(Minh Ðạo)

Nếu có một điều gì chúng ta được nuôi dưỡng từ người mẹ, thì một phần là từ những lời mẹ ru. Không ít thì nhiều mỗi người Việt Nam lớn lên, nhớ và hiểu được những câu ca dao cũng nhờ mẹ. Tôi muốn nói đến người Việt Nam của thế kỷ trước, mà không phải con cháu chúng ta bây giờ! Phải nói rằng chúng ta lấy làm tiếc là con em người Việt ở hải ngoại ngày nay và có thể trẻ em bây giờ ở quê nhà không được nghe những lời ru hời đầy văn chương, chuyên chở biết bao nhiêu tâm tình của người mẹ Việt Nam quê mùa mộc mạc.

Bây giờ những đứa trẻ được đưa vào giường ngủ, ôm bình sữa hay được vặn cho nghe một đoạn nhạc êm dịu và tự tìm lấy giấc ngủ, nhưng ngày xưa trên thế giới này từ Ðông sang Tây những bà mẹ đều có những khúc nhạc “à ơi” để ru con ngủ. Ở Tây phương những khúc nhạc này được gọi là “lullaby,” phát xuất từ chữ “Lilith-bye” hay “Lilith-Abi” (tiếng Do Thái xưa Abi có nghĩa là begone), “Lilith, đi đi!” Theo truyền thuyết cổ, Lilith là một con quỷ cái xinh đẹp, khỏa thân, mình quấn một con rắn, chuyên đi bắt con nít vào ban đêm, nên những bà mẹ hát những bài hát này để xua đuổi: “Lilith, đi đi!” và ở Tây Phương “Lilith-bye” lâu ngày thành ra “lullaby.” Nhưng những bài hát phương Tây làm sao có được những lời thơ trau chuốt dịu dàng và chứa đựng cả một trời tâm sự của người ru.

Những bài hát ru của bà mẹ Việt Nam không phải để xua đuổi ma quỷ, nhưng nhiều lúc thấy con chưa chịu ngủ, bà ngừng lời ru, và dọa con: “Ngủ đi. Ông Kẹ kia kìa!” hay ông Ba Bị, Cụ Ngáo… tùy theo các nhân vật đặc biệt ở mỗi địa phương.

Kho tàng ca dao của quê hương Việt Nam đồ sộ, giàu có đến nỗi không có một người Việt nào trên đời này có thể cho mình là thuộc hết các câu ca dao, trong khi có người đã có thể đọc thuộc lòng được một cuốn Truyện Kiều gồm 3254 câu lục bát của cụ Nguyễn Du.

Lớn lên tôi cũng như các bạn, may mắn thuộc lòng chút ít ca dao. Nhà trường chỉ dạy học sinh vài ba câu để làm ví dụ qua các thể loại của loại văn chương bình dân này, nhưng sao mọi người ai cũng nhớ, cũng thuộc nhiều ca dao. Ca dao không có tác giả, tác giả là tất cả mọi người Việt Nam, và tôi thường nghĩ rằng lục bát ca dao là những câu lục bát hay nhất trên cuộc đời này. Hình như chúng ta không thể sống thiếu ca dao, như không thể thiếu lời ru của mẹ.

Chỉ sau này khi lớn lên, nghe lời mẹ bên nôi, mới hiểu được lờ mờ những câu hát, và phải đến khi trưởng thành, chúng ta mới nhớ lại, hiểu hết những lời hát ru mang những nỗi đắng cay, xót xa, phiền muộn của một đời người.

Ở Việt Nam, chúng ta không hề có những lời ru dành cho con trẻ với những giấc mơ thần tiên đầy hoa bướm, bánh kẹo, bong bóng và những khung trời đầy màu sắc rực rỡ, mà những lời ru cho con trẻ bên nôi thời thơ ấu toàn là chuyện của thế gian người lớn, chuyện trai gái, chuyện tình yêu, biệt ly, khổ lụy, rồi phụ bạc, tan vỡ, đau đớn… Phải chăng vì những lời hát như thế “lậm” vào người, mà người Việt Nam lớn lên phải đắm chìm trong chiến tranh, tai ương, khổ ải, phiền muộn cho cả một đời.

Tội nghiệp cho đứa trẻ nằm trong nôi có hiểu gì lời ru của người mẹ chuyên chở bao nhiêu nỗi đắng cay, xót xa của phận đàn bà, mở đầu bằng một ngọn gió thoảng qua, nhưng dẫn đến nỗi đau của con người bị phụ bạc:

“Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh theo vợ bé bỏ bè con thơ!”

Có một đêm nào đó, một thời đã xa, bạn thức giữa đêm khuya, nghe bên nhà hàng xóm có tiếng trẻ thơ thức giấc khóc, rồi giọng ngái ngủ của một bà mẹ cất lên lời ru, một lời ru không làm bạn dễ dàng tìm giấc ngủ trở lại:

“Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?”

Mẹ hát những lời ru ngọt ngào ấy không phải để cho đứa con thơ trong nôi nghe, đứa trẻ con quá nhỏ, đâu đủ trí khôn để nghe hết những lời ca dao, làm sao để hiểu những tâm tình chứa đựng trong những lời ru, ngoài tiếng à ơi trầm bổng. Ðó là tâm sự của mẹ, muốn mượn những vần thơ ca dao, bên con giãi bày tấm lòng mình, cho ai nghe, không cho chồng, không cho con, mà cho chính mình. Mẹ nuốt lại hết những lời ru của chính mẹ vào lòng, như nuốt hết những đắng cay, xót xa của một đời làm dâu, một đời làm vợ, rồi một đời làm mẹ. Mẹ gởi hết tâm sự của một đời người qua tiếng hát ru.

Một số lớn ca dao đã dành riêng cho tấm lòng thương cha nhớ mẹ, nhất là đối với đứa con gái lớn lên phải đi lấy chồng, luôn luôn nhớ đến người mẹ, nhớ đến quê nhà, bây giờ “gối nghiêng ai sửa chén trà ai bưng?,” rồi nghĩ đến tuổi già lúc xế chiều, bóng ngã:

“Mẹ già như mít chín cây
Gió Ðông cũng sợ gió Tây cũng buồn”

hay não lòng biết bao nhiêu:

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.”

Ngày xưa người con gái về nhà chồng phải chịu cảnh làm dâu, gặp cảnh bà mẹ chồng độc ác, chồng lạnh nhạt, thì bỏ phí một đời con gái, tiếng hát não lòng người, có khi nào mẹ vô tình để những giọt nước mắt rớt xuống trên khuôn mặt con thơ:

“Con cuốc kêu réo rắt trên ngàn
Gà rừng táo tác gọi con tha mồi
Lạnh lùng thay láng giềng ơi
Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều.”

Hãy nghe lời ru xót xa của mẹ:

“Người ta tuổi Dậu, tuổi Mùi,
Sao em lại chịu ngậm ngùi tuổi Thân.”

Khi chữ “tuổi thân” được đọc trại đi là “tủi thân,” thì làm sao một đứa trẻ còn bú mẹ hay mới chập chững biết đi, đang còn nằm trong nôi mà hiểu hết những lời mẹ ru!

Mẹ ít học, có khi chỉ đủ biết đọc biết viết, nhưng duyên cớ đâu mẹ lại thuộc nằm lòng nhiều ca dao đến thế. Ở trường hợp nào mẹ cũng nhớ ra những câu ca dao phù hợp với hoàn cảnh. Ca dao là nỗi lòng: tình yêu, biệt ly, phụ bạc, trái ngang, khổ đau… Phải chăng người xưa học ca dao qua truyền khẩu, bằng nghe những lời ru bên nôi của những người bà, người mẹ, của người góa phụ láng giềng những buổi trưa hè oi ả, những đêm khuya vắng lặng. Không có lời ru nào vui, không có lời ru nào mang hình ảnh của hạnh phúc. Lúc lòng bình thản, thì mẹ ru em bằng những lời ca dao vô thưởng vô phạt, buồn thì mẹ hát những lời ru xót xa đến tận cõi lòng người nghe.

Trong lời ru của mẹ có biết bao nhiêu lời giáo huấn để dạy con nên người, mô tả bao nhiêu cảnh đời đen bạc, nói đến lòng người đảo điên, nhưng những câu ca dao than thân trách phận của mẹ bên nôi mới là tiếng thở dài xót xa, là nỗi lòng của mẹ.

Ngoài mẹ ru con ra, còn là bà ru cháu. Bà thì ru cháu ban ngày, mẹ thời ru con về đêm:

“Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về…”

Cháu nghe êm tai, ra chừng thiu thiu ngủ, mà bà cũng ra dáng lim dim hai con mắt:

“Ừ, cái ngủ mày ngủ cho say,
Mẹ mày vất và chân tay tối ngày.”

(Quốc Văn Giáo Khoa Thư)

Bà một thời đã là mẹ. Hai người đều là những người đàn bà một ngày nọ, từ giã cha mẹ ra đi lấy chồng, dù gần hay xa, hạnh phúc hay khổ đau, họ đều mang một tâm sự riêng, không hề nói cho ai nghe, không biết than vãn cho ai, đành gởi gắm vào những lời ru con.

Bây giờ bao nhiêu người con gái Việt Nam lưu lạc xứ người, còn nhớ chăng một lời ru của mẹ, để bên nôi con, “à âu,” “ví dầu” một câu hát cho nguôi tấm lòng tha hương.

Ca dao còn đó, nhưng giờ này mẹ ở đâu?

(Vu Lan 2016)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1791 Posted : Tuesday, August 24, 2021 8:48:24 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Mách bạn 3 công thức làm gà ủ muối vàng ươm,
thơm ngon dễ làm tại nhà


1 month ago

Món từ gà luôn là món ăn yêu thích, quen thuộc của nhiều người. Hôm nay cùng vào bếp với mình để tìm hiểu thêm 3 cách làm gà ủ muối thơm ngon, lạ miệng, dễ làm ngay sau đây nhé!

1. Gà ủ muối

Nguyên liệu làm Gà ủ muối cho 4 người

Gà ta 1 con (khoảng 1.5kg)

Sả 6 nhánh, gừng 2 nhánh, lá chanh 10 lá, ớt 3 quả, hành tây 1 củ, hành tím 4 củ, bột nghệ 1 muỗng cà phê

Gia vị thông dụng 1 ít (Muối hạt/ đường/ hạt nêm/ bột ngọt/ tiêu hạt/ tiêu xay)

UserPostedImage

Cách chế biến Gà ủ muối

Bước 1. Sơ chế nguyên liệu và làm gia vị ướp

Lá chanh rửa sạch, để ráo. Gừng cạo bỏ vỏ, rửa sạch, cắt lát. Sả cắt bỏ gốc rễ, rửa sạch, để ráo.

Ớt bỏ cuống, rửa sạch. Hành tây lột bỏ vỏ, cắt làm đôi, 1 nửa để nguyên, 1 nửa cắt lát. Hành tím lột bỏ vỏ, để nguyên củ.

Bạn cho vào chén 2 muỗng cà phê hạt nêm, 1 muỗng canh đường, 1/2 muỗng cà phê bột ngọt, 1 muỗng cà phê tiêu xay, 1 muỗng cà phê bột nghệ, trộn đều là bạn có được gia vị ướp rồi.

UserPostedImage

Bước 2. Sơ chế và ướp gà

Để tiết kiệm thời gian bạn có thể nhờ người bán làm sạch gà, mau về bạn chỉ cần dùng muối chà xát vào khắp thân gà khoảng 3 phút cho gà ra hết chất bẩn. Sau đó bạn rửa lại với nước sạch và để ráo.

Ướp gà với gia vị ướp, dùng tay xoa cho gà tan đều gia vị.

UserPostedImage

Tiếp đó bạn nhồi vào bụng gà 1/2 củ hành tây, 4 củ hành tím, 1 nhánh gừng, 5 lá chanh, 2 nhánh sả, để khoảng 30 phút cho gà thấm gia vị.

UserPostedImage

Bước 3. Ủ gà

Bạn dàn đều lá chuối dưới đáy nồi, thêm 1kg muối hạt trải đều.

Đặt lên bề mặt muối 4 nhánh sả, nửa củ hành tây cắt lát, 5 lá chanh, 1 nhánh gừng, cho gà lên trên, đậy nắp và hấp ở lửa nhỏ 45 phút là gà chín.

UserPostedImage

Bước 4. Làm muối chấm

Cho vào chén 2 muỗng canh muối hạt, 1 muỗng canh tiêu hạt, 3 quả ớt, 1/2 muỗng cà phê bột ngọt, giã nhuyễn là bạn có hỗn hợp muối chấm rồi!

UserPostedImage

Thành phẩm

Vậy là món gà ủ muối đã hoàn thành rồi, món gà này thơm nức mũi và có màu sắc rất bắt mắt, hấp dẫn.

UserPostedImage

Từng miếng gà mọng nước, mềm thơm thấm gia vị ăn rất vừa miệng, đảm bảo bạn thử 1 lần là sẽ nghiền. Nào hãy cùngvào bếp làm món ăn này để chiêu đãi cả gia đình thôi!

2. Gà ủ muối hoa tiêu

Nguyên liệu làm Gà ủ muối hoa tiêu cho 4 người

Gà 1 kg (1 con)

Sả 40 gr, rau răm 20 gr, lá chanh 10 gr, hành tím 20 gr, gừng 10 gr, ớt băm 5 gr

Muối hột 1 kg, nước mắm 1 muỗng canh, nước cốt nghệ 2 muỗng canh

Muối 1/2 muỗng cà phê, tiêu 1/2 muỗng cà phê

UserPostedImage

Cách chế biến Gà ủ muối hoa tiêu

Bước 1. Sơ chế nguyên liệu

Bạn mua gà ta được làm sẵn ở chợ hoặc siêu thị, về rửa lại với nước sạch, chà ít muối hột để khử mùi tanh và rửa sạch lại nước, để ráo nguyên con (đã được lấy ra hết bộ lòng).

Với các nguyên liệu rau củ khác, bạn rửa sạch và tiến hành sơ chế như sau: sả cắt khúc dài khoảng 4 – 5cm và một phần đem băm sả khoảng 10gr. Hành tím thái lát và một phần băm nhỏ khoảng 10gr. Gừng cạo vỏ và thái lát. Ớt băm nhuyễn.

UserPostedImage

Bước 2. Pha hỗn hợp ướp gà

Lần lượt cho vào bát gồm có: 10gr sả băm, 10gr hành tím băm, 5gr ớt băm, 1 muỗng canh nước mắm, 2 muỗng canh nước cốt nghệ, 1/2 muỗng cà phê muối và 1/2 muỗng cà phê tiêu, trộn đều.

Sau đó, bạn ướp hỗn hợp gia vị này lên toàn bộ con gà (đã được sơ chế), để thấm gia vị khoảng 30 phút.

UserPostedImage

Bước 3. Ủ gà với muối

Đặt nồi lên bếp, bạn trải đều 1kg muối hột dưới đáy nồi, rồi đến sả cắt khúc, rau răm, lá chanh và đặt con gà (đã được ướp) nằm gọn vào trong lòng nồi.

Sau đó, bạn xếp hành tím và gừng thái lát lên mình gà, rồi phủ giấy bạc kín quanh miệng nồi, đậy nắp và bật bếp với ngọn lửa nhỏ để tiến hành ủ gà từ 20 – 30 phút. Bạn sẽ nghe tiếng muối nổ “tách, tách” trong nồi khi gần ủ gà xong.

UserPostedImage

Thành phẩm

Gà ủ muối hoa tiêu có lớp da gà vàng ươm, bóng bảy và trông rất hấp dẫn. Thịt gà vẫn giữ được độ ngọt, dai và nhất là thoảng hương thơm của lá chanh và gừng. Bạn có thể chặt gà thành từng khúc vừa ăn hoặc xé, rồi chấm với muối tiêu chanh, muối ớt xanh đều được.

UserPostedImage

3. Gà ủ muối sả

Nguyên liệu làm Gà ủ muối sả cho 3 người

Gà 1 kg (1 con)

Muối hột 1 kg

Hành tím 7 củ, tỏi 4 tép, lá chanh 10 gr, sả 4 cây (chọn cây to), ớt hiểm 7 trái

UserPostedImage

Cách chế biến Gà ủ muối sả

Bước 1. Sơ chế nguyên liệu

Bạn mua gà đã được làm sẵn và lấy bộ lòng gà ra ngoài, để nguyên con, không cần chẻ dưới bụng gà. Sau đó, bạn chà với muối hột để khử mùi tanh và rửa lại với nước sạch, để ráo.

Còn sả, bạn đem cắt nhỏ phần đầu 2 cây sả, còn phần sả còn lại thì bạn cắt khúc khoảng 5cm. Tỏi và hành tím lột vỏ rồi đem cắt nhỏ. Lá chanh thái nhỏ.

UserPostedImage

Bước 2. Xay hỗn hợp ướp gà

Cho vào chén lá chanh vừa thái nhỏ, 1 muỗng cà phê hạt nêm, 1/2 muỗng cà phê muối, 1/2 muỗng cà phê bột ngọt và 2 muỗng cà phê dầu ăn, trộn đều.

Tiếp đó, bạn cho vào cối xay sinh tố gồm có phần sả được cắt nhỏ và toàn bộ phần tỏi và hành tím, bấm nút để xay nhuyễn.

UserPostedImage

Bước 3. Hấp gà với muối

Trước tiên, bạn cho gà nguyên con vào thố sạch, rồi đem hỗn hợp gia vị vừa mới xay và chén gia vị có lá chanh, tẩm ướp đều toàn bộ con gà và để thấm gia vị khoảng 15 phút.

Sau đó, đặt nồi lên bếp, bạn trải đều 1kg muối hột, xếp các khúc sả rồi cho gà vào nằm gọn bên trong. Bọc giấy bạc quanh miệng nồi và đâm 1 lỗ nhỏ trên giấy bạc giúp hơi nước thoát ra ngoài.

Đậy nắp và chỉnh lửa lớn, sau khi cảm nhận nồi nóng lên thì bạn mới chỉnh lại lửa vừa và hấp thêm khoảng 35 – 40 phút.

Mách nhỏ: Bạn có thể cho vào gà ướp 1 muỗng cà phê rượu trắng để làm gà hấp được thơm và ngon hơn.

UserPostedImage

Thành phẩm

Gà hấp muối sả có hương thơm hấp dẫn từ sả, thịt gà mềm nóng hổi nhưng vẫn giữ được độ dai vừa phải. Bạn nên chấm gà với muối ớt xanh hoặc muối tiêu chanh có lá chanh thái nhỏ thì còn gì bằng, mặn ngọt cay làm kích thích cả bao tử.

UserPostedImage

Cách chọn gà ngon và sơ chế gà không hôi

Cách chọn gà tươi ngon

Đối với gà sống: Tùy theo sở thích bạn có thể chọn gà trống hoặc gà mái. Thường gà trống có thịt chắc, dai và ngon hơn. Ngoài ra, bạn nên chọn con gà có mắt nhìn linh hoạt, không lờ đờ và phần mào nhìn đỏ tươi. Mỏ gà nhìn bén nhọn và không có dấu hiệu bị chảy nhớt. Chân gà thon nhỏ, thẳng, da sáng có màu vàng.

Đối với gà làm sẵn: Bạn nên chọn con gà ta có lớp da vàng nhạt, mỏng và có thể hơi vàng đậm ở một số bộ phận như lưng, cánh và ức. Đồng thời, trên da không xuất hiện vết bầm hay tụ máu.

Kích thước gà ta thường nhỏ, nhìn săn chắc, phần thịt trông tươi, có độ đàn hôi và không xuất hiện mùi hôi thiu.

Cách sơ chế gà không hôi

Để gà không bị hôi, làm ảnh hưởng đến hương vị của món ăn, bạn có thể dùng nhiều cách tùy theo sở thích của bạn. Tuy nhiên, đầu tiên, bạn cần đảm bảo lông đã được loại bỏ hoàn toàn trên mình gà, nhất là phần lông tơ và tuyến nhờn ở phần đuôi gà.

Ngoài ra, bạn có thể dùng giấm và muối theo tỉ lệ 2:1, chà lên mình gà và rửa lại nước sạch, hoặc dùng chanh hay gừng cũng có tác dụng tương tự.

Edited by user Tuesday, August 24, 2021 9:06:02 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1792 Posted : Tuesday, September 7, 2021 6:36:55 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Bạc-Liêu : quê hương bài ca "Vọng cổ"


UserPostedImage

Khu tưởng niệm nhạc sĩ Cao-Văn-Lầu

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

Lịch sử đất phương Nam của chúng ta ngày trước được phát triển thành hình, là do nhờ đã lọt vào bàn tay của những thế hệ con người vốn có ý thức tinh thần tiền phong, dậy sớm.

Địa thế đất đai địa phương, thủy chung vốn là một vật thể vô tình nhưng có ảnh hưởng hòa quyện vào môi trường sống của người dân sở tại. Do vậy, cho nên người ta cũng thường hay có đưa ra những nhận xét về yếu tố hoàn cảnh vùng miền, để mà phán đoán về những nguyên nhân của lịch sử. Chẳng hạn như nơi sơn kỳ thủy tú thì hay sản sinh ra anh hùng hào kiệt, chốn lâm tuyền hiểm trở hoang vu thì lắm kẻ hảo hán, giang hồ. Còn vùng địa hình không núi, không đồi, ít chông gai, không cần vất vả lắm để mưu sinh, thì tâm lý con người thường hay phát sinh ra có những nhu cầu an nhàn, thụ hưởng về phương diện vật chất lẫn tinh thần qua các lạc thú tiêu khiển trôi theo cuộc sống hằng ngày.

Và cái tên địa phương đặc biệt Bạc-Liêu ở miền Tây an nhàn quen thuộc, dễ sống, từ lâu là một trong những vùng đất, mà ngày xưa, từng nổi tiếng có hình ảnh của nào là những nhân vật tiền hiền với công lao khai phá tạo dựng xóm làng. Nào là hình ảnh người dân chịu khó, chịu khổ, thương yêu, đoàn kết gắn bó với quê hương. Và cũng như còn có thêm hình ảnh của những con người hào phóng ăn chơi, hình ảnh của những con người nghệ sĩ rạng danh vào trong lãnh vực nghệ thuật sáng tác dòng nhạc văn nghệ dân gian tuyệt diệu, bất hủ lưu truyền cho hậu thế.

Điều mà hiếm có xưa nay đã từng làm cho người dân sở tại hết sức luôn luôn rất lấy làm trân quý tự hào, và hãnh diện mỗi khi muốn nói đến về quê hương của chính mình.

Đi thực tế, Bạc-Liêu ngày nay mặc dù là một tỉnh nhỏ, và thành phố Bạc-Liêu bây giờ cũng vẫn hãy còn mang vóc dáng của một thành phố yên lặng, buồn, chưa có đủ điều kiện khả quan để cất cánh vươn mình theo kịp các tỉnh đàn anh nhờ có yếu tố hoàn cảnh thuận tiện hơn. Tuy nhiên, với ý chí quyết tâm thực hiện các công trình phúc lợi nhằm đáp ứng những nhu cầu văn hóa, xã hội, tâm linh, giải trí, tạo cơ hội tiện dụng cho người dân hân hoan trọn quyền thụ hưởng, thì quả thật người ta có thể nhận thấy rõ nét về các nỗ lực chỉnh trang phố phường, tân tạo đường sá trên đà kiến thiết, phát triển chưa ngừng lại ở tại địa phương nầy.

UserPostedImage

Duyên dáng thành phố Bạc-Liêu

UserPostedImage

Bạc-Liêu về đêm

Là mái nhà chung của cộng cư các dân tộc Việt, Hoa, Khmer, Chăm cùng đoàn kết thương yêu xây dựng quê hương từ mấy trăm năm qua, và dấu ấn để lại bây giờ là sự trộn pha dòng máu đã làm cho người dân sở tại biết ý thức được tình nghĩa bà con thân thuộc địa phương chính là thực thể trong một đại gia đình gắn bó, không thể tách rời. Chính vì vậy mà cho dù trong hoàn cảnh hiện tại, Bạc-Liêu đang đứng trước những thử thách lớn lao, vì thiếu thốn về nhiều phương tiện nguồn vốn hầu để đầu tư khai thác các công trình tân tạo, chỉnh trang thành phố, phát triển nông thôn. Tuy nhiên, hình ảnh sinh hoạt hằng ngày của người dân sở tại thì lúc nào lại cũng tỏ ra có tinh thần lạc quan như cách sống với tinh thần của người nghệ sĩ tài tử giản dị, bình thường, tâm hồn vẫn luôn luôn thư thái sau những thời giờ làm việc vất vả, nhọc nhằn.

Thực vậy, cách nay mấy năm trong dịp triển lãm hình ảnh về làng xưa phố cũ Bạc-Liêu được tổ chức vào năm 2012, nhằm kỷ niệm sự tái lập tỉnh Bạc-Liêu được tròn 15 năm. Ban-Tổ-Chức địa phương đã có sưu tầm trưng bày ra được một số tài liệu hình ảnh trắng đen quý hiếm, để giới thiệu cùng khách tham quan về những nét sinh hoạt chính của bức tranh toàn cảnh thành phố từ dưới thời nước nhà còn chìm đắm trong hoàn cảnh chiến tranh. Qua những tấm hình thể hiện từ những dấu tích cảnh quan sinh hoạt cộng đồng, chợ búa, đường phố, văn nghệ giải trí đờn ca tài tửv.v. Người ta có nhận xét rằng, Bạc-Liêu quả là một thành phố năng nổ, mang đậm tính nhân văn về các loại hình sinh hoạt văn hóa địa phương không kém bất cứ thành phố nào khác ở miền Tây vào lúc bấy giờ.

UserPostedImage

Sinh hoạt thể thao đua ghe ở Bạc-Liêu

UserPostedImage

Chợ nhà lồng

UserPostedImage

Cầu Quay

Còn giờ đây, sau ngày đất nước tái lập hòa bình thì Bạc-liêu cũng đã không trễ hẹn với thời gian để kịp thời phát huy sáng kiến thế mạnh về tiềm năng sẵn có ở địa phương, để tiếp tục mở mang hình ảnh quê nhà trên đà phát triển vươn mình về mọi mặt. Và những bức tranh phối cảnh diện mạo thành phố Bạc-Liêu ở tương lai, hiện nay chính là những thách thức lớn lao chưa từng có trong lịch sử quyết tâm của người dân chủ nhà nhiệt tình đầu tư trí tuệ, đóng góp tài lực cố gắng thực hiện bằng mọi giá hầu để làm đẹp quê hương sở tại.

Song song với các dự án lợi ích khả thi, Bạc-Liêu cũng đã là một trong những tỉnh ở miền Tây tiên phuông đặt trọng tâm vào vấn đề ưu tiên chiêu hiền đãi sĩ để nhằm kêu gọi, thu hút. Và đãi ngộ xứng đáng công lao các nhân tài có thực chất khả năng về nhiều lãnh vực khác nhau, để cùng đến cộng tác triển khai trong những nhu cầu cấp bách mà Bạc-Liêu đang cần thiết.

Ngược dòng thời gian, nếu thử lấy cái mốc của năm 2013, thì toàn tỉnh Bạc-Liêu lúc bấy giờ đang cần có thêm khoảng 117 nhân tài. Trong đó gồm có 1 Giáo-sư&Tiến-sĩ, 1 Phó Giáo-sư&Tiến-sĩ, 1 Tiến-sĩ, 33 Thạc-sĩ, 8 Bác-sĩ chuyên khoa II, 7 Bác-sĩ chuyên khoa I, 1 Dược-sĩ chuyên khoa I, và 65 chuyên viên có trình độ đại học. Và các nhân tài trên đây được phân bố nhằm vào các lãnh vực chuyên môn như ngành y, dược, điều dưỡng, xét nghiệm, kỹ thuật nhiệt lạnh, công nghệ thông tin, điện công nghiệp, điện tử công nghiệp, kinh tế, luật, xây dựng, hành chính, trồng trọt, chế biến nông sản, văn hóa, thể dục&thể thao, thủy lợi, kiến trúc v.v. Tuy nhiên, chương trình nào cũng đều có những điều bất cập, khuất tất, làm chậm lại con đường thực hiện hóa thể theo như kế hoạch đã đề ra. Vì thế cho nên, Bạc-Liêu cũng như các tỉnh ở miền Tây hiện nay đã rút tỉa ra được rất nhiều kinh nghiệm về vấn đề nầy. Và hiện đang có những cuộc thực nghiệm thường xuyên trên các địa bàn sở tại hầu tìm ra những phương thức mới, để ứng dụng nhân tài sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế ở tại mỗi địa phương.

Tuy nhiên, bên cạnh đó thì Bạc-Liêu cũng không chờ đợi cho tới ngày có được một tổ chức đội ngũ nhân sự xã hội hoàn hảo. Do vậy, lúc nào khách tham quan cũng nhận thấy thành phố nầy luôn luôn tranh thủ thời gian, tìm cách phát huy sáng kiến, khai thác tiềm năng thế mạnh ở tại địa phương để đổi thay màu sắc, làm đẹp quê nhà.

UserPostedImage

Khu nhà máy điện gió tại xã Vĩnh-Trạch-Đông, thành phố Bạc-Liêu

Tỉnh Bạc-Liêu kể từ ngày được tái lập sau cùng từ năm 1997, thì theo tổ chức tái cấu trúc về hành chánh hiện nay thì gồm có thành phố Bạc-Liêu, thị xã Giá-Rai. Và 5 huyện khác là Hồng-Dân, Hòa-Bình, Phước-Long, Vĩnh-Lợi, Đông-Hải. Về diện tích đất đai toàn tỉnh thì có được 2.526 km², còn dân số được thống kê trước đây (năm 2013) là khoảng 876.800 người, trong đó có 3 sắc dân chính là Việt, Hoa và Khmer. Theo địa lý, thì tỉnh Bạc-Liêu nằm trên bán đảo Cà-Mau, thuộc miền duyên hải có chiều dài 56km rất thuận tiện cho nghề khai thác làm muối, và đánh bắt nuôi trồng thủy sản.

Là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu-Long, đất đai chịu ảnh hưởng của gió mưa vùng nhiệt đới, cho nên từ lâu nền kinh tế nông nghiệp sở tại chủ yếu là nhờ vào lúa gạo. Và đó cũng chính là nguồn tài nguyên thu hoạch nồng cốt, mang về lợi tức hàng đầu cho người dân ở tại địa phương nầy. Dưới thời thế lực thuộc địa ngày trước, thì Bạc-Liêu cũng đã từng nổi tiếng là nơi có cả ông chủ điền giàu có sở hữu lên tới con số cả trăm ngàn mẫu ruộng lúa, muối bao la, cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi, nhà cửa sang trọng, lắm của nhiều tiền đứng đầu trong cả nước.

UserPostedImage

Cánh đồng lúa bao la

UserPostedImage

Ruộng muối

Còn thành phố Bạc-Liêu bây giờ (sau khi tỉnh Minh-Hải tách ra thành 2 tỉnh Cà-Mau và Bạc-Liêu vào năm 1997) có vị thế nằm cách duyên hải khoảng 10km được thành lập vào năm 2010, và mãi cho đến đến năm 2014 thì mới chính thức được nâng cấp trở thành đô thị loại II, trực thuộc tỉnh Bạc-Liêu.

Trong quá khứ, sự kiện cải tổ về địa lý hành chánh ở trong nước quá nhiều lần (trước và sau ngày thống nhất nước nhà) đã làm cho quá trình ảnh hưởng xã hội địa phương của Bạc-Liêu bị đổi thay vai trò chủ yếu quan trọng. Do vậy, cho nên Bạc-Liêu đã bị mất rất nhiều cơ hội, và trễ hẹn với thời gian để bắt kịp trở thành một thành phố có diện mạo khang trang, tân tiến như nhiều thành phố khác từ lâu đã có nhiều lợi thế hơn.

Tuy nhiên, điều làm cho người ta không khỏi ngạc nhiên là tinh thần phát huy nội lực địa phương đã cố gắng năng nổ, vươn mình phát triển liên tục không ngừng cho đến ngày hôm nay đã làm cho vị thế đô thị Bạc-Liêu bây giờ được sánh vai ngang hàng cùng với Cà-Mau, Rạch-Giá, Long-Xuyên v.v. Điều nầy, chính là nguyên động lực phấn khởi để cho người dân địa phương lấy làm điểm tựa, xúc tiến đẩy mạnh các công trình quy hoạch thăng tiến xã hội theo chiều hướng thuận lợi của tỉnh nhà. Nhất là, phát huy thế mạnh về văn hóa nghệ thuật đờn ca tài tử, và triển khai đầu tư vào nền kinh tế du lịch địa phương.

UserPostedImage

Bạc-Liêu ngày nay

Ngược dòng thời gian, Bạc-Liêu thuở xa xưa vốn là một vùng hoang dã đất mặn dồng chua, dân cư thưa thớt ngay cả trước khi được phân chia trực thuộc về hành chánh của hai tỉnh Rạch-Giá, Sóc-Trăng. Tuy nhiên, chính nhờ vậy mà đã có một số người trở thành đại điền chủ vì đã biết tận dụng thời cơ, để đứng ra thuê mướn nhân công dốc sức khai phá biến thành ruộng nương xanh tươi màu mỡ trên những cánh đồng ngút ngàn thường được ví von gọi là dường như bất tận.

Ngay cả về thân phận của các tá điền, lúc bấy giờ, tuy sống trong hoàn cảnh nghèo khổ (vì bị nhiều áp lực của chủ điền) nhưng nhờ lợi tức thủy sản của trời cho cua cá ê hề, quả rau không thiếu, cho nên ảnh hưởng tâm lý của người dân bản địa phần đông cũng đều vô tình đã có được một tư duy cởi mở, khoáng đạt. Họ thích nhậu nhẹt say sưa, hát ca giải trí, giao lưu cùng bè bạn lối xóm xa gần, sau khi chấm dứt một ngày làm lụng chân lấm tay bùn. Và cũng như, họ biết sắp xếp dành thời gian để tham gia vào các lễ hội sinh hoạt văn hóa xã hội đình làng, vui chơi thoải mái. Do vậy, về phương diện tinh thần thì người ta có thể nói rằng Bạc-Liêu ngày xưa chính là một vùng đất văn nghệ trữ tình, tiếng lành đồn xa, nổi trội về tính ăn chơi hào phóng của người dân sinh sống ở tại địa phương.

Do vậy, ngày nay du khách bước chân vào thành phố Bạc-Liêu là có dịp nhìn thấy ngay được hình ảnh biểu tượng của thành phố nầy là cây đờn Kìm vươn lên không trung, như đang toát ra mảnh phần hồn của lời ca phím nhạc với phong cách tinh thần của người nghệ sĩ tài tử địa phương tình thắm duyên quê.

UserPostedImage

Đờn kìm biểu tượng công trình văn hóa Bạc-Liêu

Không dừng lại đó, để nhằm mục đích bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa đất Nam-Kỳ Lục-Tỉnh, và Bạc-Liêu – là cái nôi của đờn ca tài tử từng được tổ chức UNESCO chính thức vinh danh* – bây giờ cũng còn chính là nơi thường xuyên rầm rộ đứng ra tổ chức các chương trình liên hoan văn nghệ đờn ca tài tử như là Giai điệu phương Nam, Giọng ca cải lương, Chuông vàng Vọng cổ v.v để cho nghệ nhânở từ khắp phương Nam có dịp quy tụ về đây phối hợp trình diễn. Và tạo ra nhiều cơ hội khuyến khích, nâng đở cho những mầm non có năng khiếu về nghệ thuật cầm ca, đặc biệt là về âm nhạc cổ truyền.

Do vậy, sau nhiều năm chuẩn bị chu đáo thì Bạc-Liêu cũng đã có quyết định đăng cai tổ chức Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần đầu tiên trong cả nước vào hạ tuần tháng 4 năm 2014 với những lại quả thành công tốt đẹp, và đầy khích lệ. Thực ra, cũng không phải vô cớ mà Bạc-Liêu tự đứng ra tổ chức mà chính vì do có sự ủng hộ, biểu đồng tình nồng nhiệt của các tỉnh bạn Nam-bộ đã đồng thanh nhất trí, quyết định chọn cho Bạc-Liêu nhận trách nhiệm vinh dự nầy. Lý do, là vì địa phương nầy chính là quê hương của nhạc sĩ lừng danh Lê-Tài-Khí, nguyên là thầy của nhạc sĩ Cao-Văn-Lầu. Lý do nữa, cũng là vì địa phương nầy là nguồn lịch sử xuất phát ra bài ca Dạ Cổ Hoài Lang vốn là tiền thân của bài ca Vọng cổ.

UserPostedImage

Biểu diễn

UserPostedImage

Đờn ca tài tử Nam-bộ

Tham dự Festival nầy gồm có 21 đoàn nghệ sĩ đại diện cho 21 tỉnh, thành ở miền Nam, và trên 400 nghệ nhân kể cả của tỉnh Bạc-Liêu phối hợp cùng nhau biểu diễn các tiết mục nghệ thuật. Với nội dung chủ đề "Tình người, tình đất phương Nam", chương trình giới thiệu trình diễn trong lễ hội đã thể hiện ra được những thông tin về nét đẹp truyền thống về bản sắc cố hữu của đất phương Nam. Và nói riêng về địa phương nhà, qua những chứng từ lịch sử về dấu ấn dân sinh với tinh thần phóng khoáng, có ý nghĩa sâu đậm tính nhân văn đượm tình quê hương, dân tộc. Và đồng thời cũng là điểm chính, để cho Festival nhằm vào mục đích quảng bá, tôn vinh, khắc họa lại về quá trình hình thành, phát triển của bộ môn nghệ thuật đờn ca tài tử Nam-bộ.

UserPostedImage

Nhà hát mang tên cố nhạc sĩ Cao-Văn-Lầu

Với con số thu hút hơn 300.000 lượt đại biểu và du khách, trong đó có hơn 50.000 lượt khách lưu trú, các khán giả tham dự đã được dịp tham quan lễ khánh thành Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam-bộ và Nhạc-sĩ Cao-Văn-Lầu, cùng với 21 địa điểm chính diễn ra trên khắp địa bàn trong thành phố Bạc-Liêu. Và tham dự các hoạt động hội thảo khoa học nhằm bảo tồn, và phát huy tinh hoa văn hóa cổ truyền miền Nam từng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Cũng như, được hiểu thêm nguồn gốc của bài tổ về đờn ca tài tử, các hình thức nghệ thuật lưu truyền v.v.

Do vậy, người ta có thể nói rằng bắt đầu từ thời điểm nầy, thì tiếng đờn viễn vọng thiên thu hòa nhịp vào với cái ý nghĩa phần hồn của bài ca Dạ Cổ Hoài Lang bình dị, thủy chung sẽ đem lại cho không gian văn nghệ cổ nhạc dân tộc nước nhà một hình thức sắc hương giá trị mới. Và ý nghĩa về sựthành công của chương trình công phu tổ chức cũng sẽ được đánh giá coi như là một thông điệp cốt cách, bản lĩnh, mãi mãi sẽ còn tồn đọng lại dư âm theo cách khoảng thời gian.

UserPostedImage

Lễ khai mạc Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần I tại Bạc-Liêu 2014

UserPostedImage

Trình diễn bế mạc

Ngoài ra, trong sự kiện văn hóa lớn nầy thì Bạc-Liêu cũng được dịp để giới thiệu, trưng bày thêm ra được những hình ảnh hấp dẫn, tự tin hơn về tiềm năng du lịch ở tại địa phương ngày càng trên đà khởi sắc. Thực vậy, Bạc-Liêu chỉ cách Tây đô Cần-Thơ có 112km, và cách thành phố Hồ-Chí-Minh có 280km, đường giao thông ngày nay đi lại dễ dàng. Và vì thành phố văn nghệ Bạc-Liêu từ lâu được coi như là quê hương tổ nghiệp của bài ca Vọng cổ, một loại hình nghệ thuật trong kho tàng văn hóa nước nhà, đặc biệt là ở phương Nam. Cho nên, du khách tham quan khi vừa mới đến Bạc-Liêu, thì trước tiên, đa số người đều thường có khuynh hướng tìm đến thăm Khu lưu niệm Nhạc-sĩ Cao-Văn-Lầu, một Di tích Lịch-sử Văn-hóa cấp quốc gia.

UserPostedImage

Khuôn viên Khu lưu niệm Nhạc-sĩ Cao-Văn-Lầu

Tuy nhiên, đối với những thành phần du khách vốn có tinh thần đam mê về cổ nhạc, thích khám phá về mọi hình thức sinh hoạt nghệ thuật văn hóa dân gian địa phương, thì mục đích chính của họ viếng thăm Bạc-Liêu, là để được dịp tìm hiểu nhiều hơn về lịch sử của thành phố văn nghệ nầy. Và thật sự là họ cũng bất ngờ rằng Bạc-Liêu ngày trước, có khá nhiều danh tài về cổ nhạc hơn bất cứ nơi nào khác ở trên đất phương Nam. Chẳng hạn như nào là nhạc sĩ Ba Chột (Nguyễn-Văn-Túc) đứa con duy nhứt của nhạc sĩ Nhạc-Khị. Ông là người đã từng phát minh ra chiếc đờn sến ba dây, cũng như, còn để lại di sản 18 bài sáng tác về bài bản cổ nhạc. Và nhạc sĩ Hai Thơm là người đầu tiên sử dụng nhạc khí vĩ cầm vào cổ nhạc đờn ca tài tử. Còn nhạc sĩ Năm Nhỏ (Nguyễn-Tấn-Hưng) cũng là người đầu tiên sử dụng lục huyền cầm như là một nhạc cụ chính thống trong cổ nhạc. Tài năng của các ông từng được các nhạc sĩ đương thời hết lòng khâm phục về biệt tài điêu luyện, khi trình diễn toát ra những âm điệu du dương, nhẹ nhàng, thao thức, truyền cảm lòng người, ít ai sánh được. Ngoài ra, ở Bạc-Liêu dạo ấy cũng hãy còn có thêm những nhạc sĩ khác có ngón đờn hay không kém như là Mười Khói, Tư Bình, Ba Khi, Đỗ-Hữu-Trí, Mộc-Thái, Nhạc-Tẹn, v.v.

Và đặc biệt, là về trường hợp của người nhạc sĩ tài hoa Sáu Lầu, tên thật là Cao-văn-Lầu.

UserPostedImage

Cao-Văn-Lầu
(1890-1976)

Hiện tượng nhạc sĩ Cao-Văn-Lầu, là một sự kiện xảy ra có thể nói là độc nhất vô nhị trong lịch sử đờn ca tài tử Nam-bộ. Ông sinh ra ở tại huyện Vàm-Cỏ, Long-An nhưng khi còn trong tuổi thiếu thời thì đã theo gia đình di cư về Bạc-Liêu sinh sống. Năm 18 tuổi, thì ông mới bắt đầu theo học lớp đờn ca cổ nhạc do nhạc sĩ danh tiếng nhất ở xóm Rạch Ông Bổn (bị mù cả đôi mắt) tục gọi Nhạc-Khị, hay Hai Khị, tên thật là Lê-Tài-Khí hướng dẫn.

Do nhờ có năng khiếu về cổ nhạc, cho nên chẳng bao lâu Sáu Lầu sử dụng thành thạo các loại nhạc khí như đờn tranh,đờn cò,đờn kìm v.v đến mức điêu luyện, và mỗi lần có dịp trình diễn thì được hầu hết khán giả vỗ tay ngợi khen, thán phục. Về trường hợp giá trị của bài ca "Dạ Cổ Hoài Lang" (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng), thì từ lâu cũng từng đã được các nhà nghiên cứu tổ chức hội thảo rất nhiều lần trong mấy thập niên qua. Điểm tinh hoa vi diệu, và độc đáo của nó là từ ở chỗ nguyên nhân, động lực gợi nguồn cảm hứng sáng tác cá nhân đến sự tham gia hợp lực phát huy thành hình của tập thể, biến đổi hình thức phát triển không ngừng, để trở thành bản Vọng cổ diễm tuyệt. Từ 2 nhịp gốc trong Dạ cổ hoài lang lần sang qua Vọng cổ thành 4, 8, 16, 32 cho tới 64 nhịp như ngày hôm nay.

Và cho dù từ nguyên gốc ra đời cho tới khi bị biến thể ra bằng cách nào, thì âm điệu của tiếng đờn cùng ý nghĩa trong bài ca nầy luôn luôn bao giờ cũng mang đậm tính chất dân dã, như muốn được dịp để giải tỏa một cái gì đượm nỗi u buồn man mác, chứa chan. Cốt cách thấm sâu đạo nghĩa, duyên phận với bao nỗi oán hờn, tủi nhục, thủy chung phản ảnh tấm gương hoài cổ, luyến lưu góc cạnh hoàn cảnh đời thường trong xã hội, và xót xa cho thân phận của con người,

Và cũng kể từ khi bản Vọng cổ chính thức được tiếp nối đem vào nghệ thuật sân khấu cải lương, hay được coi như là cốt lõi (bài ca Vua) của mọi hình thức đờn ca tài tử Nam-bộ, thì người dân đất phương Nam hết sức vô cùng trân quý, tự hào. Nhất là, sau khi di sản tinh thần nầy đã được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là văn hóa phi vật thể của nhân loại. Do vậy, mà giờ đây người ta có thể khẳng định rằng:

- Ngày nào âm thanh của bản Vọng cổ còn, thì văn hóa đặc trưng của đất phương Nam sẽ không bao giờ mất.

Trở lại cuộc hành trình vào đất Bạc-Liêu. Hồi trước, người ta thường được biết là mảnh đất nầy có những bóng dáng của các đại gia hào hoa phong nhã, thì ngày nay, người ta vẫn thường còn đồn đãi về câu chuyện của một nhân vật nổi tiếng ăn chơi xả láng. Và tiếng tăm có một không hai, từng được mệnh danh là Hắc công tử, do ông có nước da ngăm đen (để phân biệt với Bạch công tử có nước da hơi trắng ở Mỹ-Tho). Đây là thực thoại về câu chuyện đời thường trong xã hội vô cùng lý thú, và từ lâu được người đời ví như là một cổ tích ly kỳ có ý nghĩa giá trị trong hoàn cảnh xã hội dân gian về nhiều mặt. Không riêng gì ở đất Nam-kỳ, mà ở khắp trên cả nước hồi trước ai cũng biết đến nguyên nhân vì sao mà đất Bạc-Liêu lại có thể có được những con người bá hộ, giàu sụ như thế nầy. Đó là do nhờ vào nguồn lợi tức chủ yếu lúa gạo, được sản xuất ra ở tại địa phương, và tên gọi công tử Bạc-Liêu được xướng danh là số một ở nơi đây vào lúc bấy giờ, thì không ai khác hơn là Ba Huy, hay Hội-đồng Ba, tên thật Trần-Trinh-Huy (1900-1974).

UserPostedImage

Hắc công tử

Thực ra, tài sản khổng lồ nầy là của ông Hội đồng Trần-Trinh-Trạch cha ruột của ông Trần-Trinh-Huy để lại cho con. Và cụm từ công tử Bạc-Liêu, là tiếng gọi chung chỉ về các con cái của những vị đại điền chủ đang sinh sống ở tại địa phương vào thuở bấy giờ. Tuy nhiên, vì Hắc công tử là một tay ăn chơi trà đình tửu quán lừng danh ngoại hạng, không có đối thủ, thuở ấy mà đã thừa tiền mua sắm cả chiếc máy bay riêng. Cho nên, thành ngữ công tử Bạc-Liêu, trước sau, thường được người ta nhắc đến nhưng thường là để gán riêng cho ông. Riêng tư liệu về cuộc đời huy hoàng của cá nhân ông, cũng như về bi kịch của cả gia đình ông, về sau nầy, thì nó là cả một đề tài nhân thế vô thường có nhiều ý nghĩa trong cuộc sống, thịnh suy phúc họa của con người.

Hiện nay, di sản kỷ niệm quý hiếmcủa ông còn để lại bây giờ là "Khách sạn Công tử Bạc-Liêu" tọa lạc tại số 13, đường Điện-Biên-Phủ, thành phố Bạc-Liêu. Đây là một công trình kiến trúc hài hòa không gian khoáng đảng, tạo ra nét đẹp quý phái kiểu phương Tây được khởi công xây dựng từ năm 1919, phần nội thất được thiết kế sang trọng và hiện còn lưu giữ được một vài cổ vật.

UserPostedImage

Khách-sạn Công-tử Bạc-Liêu

UserPostedImage

Cổ vật còn lại trong nhà

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn có 4 cổ vật có giá trị khác bị lưu lạc qua tỉnh Sóc-Trăng, và được trưng bày ở tại chùa Sà-Lôn (chùa Chén Kiểu). Đó là 2 chiếc giường ngủ (vào mùa lạnh, vào mùa nóng) chạm khắc hoa văn tuyệt mỹ, 1 tủ cẩn xà cừ, và 1 bộ trường kỷ cũng có cấu trúc hoa văn rất công phu, khéo léo của bàn tay nghệ nhân lúc đương thời.

UserPostedImage

Giường mùa Đông

UserPostedImage

Giường mùa hè

Ngoài ra, cuộc đời hào hoa ngoại hạng của ông ngày nay cũng còn là một đề tài tình tứ, hấp dẫn và đã được hãng phim Tây-Đô tái hiện qua cuốn phim "Công-tử Bạc-Liêu" vào những năm 90 do đạo diễn Xuân-Cường thực hiện, với sự tham gia góp mặt của các diễn viên gạo cội như Việt-Trinh, Huỳnh-Anh-Tuấn, Công-Hậu, Diệp-Lang v.v. Và đặc biệt là Lê-Tuấn-Anh, một ngôi sao điện ảnh nổi tiếng vào bậc nhất vào lúc bấy giờ đóng vai chính là Hắc công tử, phản diện tính cách phong lưu của một Trần-Trinh-Huy giàu sang quí phái ngày xưa. Và người ta cũng còn có thể nói thêm rằng, nếu không cầu toàn thì ít ra cuốn phim nầy nó cũng đã đem lại cho khán giả có dịp nhìn thấy được một vài hình ảnh sự kiện có giá trị nhân chứng trong mỗi thời kỳ biến động lịch sử xã hội từng có xảy ra ở quanh vùng miền đồng chua nước mặn trên đất phương Nam.

UserPostedImage

Lê-Tuấn-Anh trong vai Công tử Bạc-Liêu

Đất Bạc-Liêu ngày nay tuy không phải là cửa ngõ để đi vào thiên đàng du lịch, nhưng Bạc-Liêu bây giờ lại là một địa điểm nằm trên tuyến đường du lịch xuyên Việt, và hành hương tôn giáo rất quan trọng ở đất phương Nam. Do nhờ có sự hiện diện mầu nhiệm về màu sắc văn hóa tâm linh của Khu Quán-Âm Phật Đài, và của Thánh Đường Tắc-Sậy.

Khu Quán-Âm Phật Đài tọa lạc gần bên bở biển Bạc-Liêu còn được người dân quen gọi là Phật Bà Nam-Hải, hay Mẹ Nam-Hải được khởi công xây cất từ năm 1973 tại phường Nhà Mát, cách thành phố Bạc-Liêu 8km. Trải qua bao năm tháng trùng tu xây dựng, thì hiện nay nó đã được trở thành một công trình kiến trúc văn hóa tâm linh có sức hút lớn lao con số du khách thập phương tìm đến để tham quan, hoặc được các tín đồ chọn làm điểm hành hương của các phái đoàn tổ chức vào mỗi khi có dịp xảy ra những ngày lễ hội.

Cảnh trí bao la ở nơi đây hết sức ấn tượng với hình ảnh của tôn tượng Phật Bà Nam-Hải trên đài cao, với nét mặt uy nghi phúc hậu, dịu hiền, tay như lúc nào cũng sẵn sàng nhiễu giọt nước cam lộ cứu nạn chúng sanh, cao 11m hướng ra biển Đông. Kế bên, là các công trình như Điện Quán-Âm, Điện Địa-Tạng, các tôn tượng uy nghi Tiêu-Diêu Đại-Sĩ, và núi Quán-Âm sừng sững cao 45m, rộng 90m, ngang 45m. Phần giữa của Khu Quán-Âm Phật Đài là một hành lang, hai bên là hai gian nhà dùng vào nhu cầu để tiếp khách nghỉ ngơi, ăn uống.

Vào những ngày lễ chính hằng năm, nơi đây tràn ngập tín đồ bá tánh thập phương quy tụ về tham dự đông đảo để nghe thuyết pháp, tế anh hùng tử sĩ, nguyện cầu quốc thái dân an, âm siêu dương thới. Không gian toàn khu du lịch nhộn nhịp khác thường nhưng vẫn giữ được sự trật tự, bình yên, và các gian hàng bày bán đồ lưu niệm mở cửa suốt đêm lúc nào cũng có du khách tham quan mua sắm, với nụ cười cảm khái theo từng làn gió biển thổi vào làm thư thái lòng người.

UserPostedImage

Cổng vào Quán-Âm Phật Đài

UserPostedImage

Quán-Thế-Âm Phật Đài lung linh về đêm

Cách đó không xa, là chùa Hưng-Thiện tọa lạc tại huyện Vĩnh-Lợi. Đây là một ngôi cổ tự đã được xây cất lên từ 200 năm qua. Điểm độc đáo của chùa Hưng-Thiện là do có công trình pho tượng Phật khổng lồ cao nhất ở ĐBSCL, với kích thước chiều cao là 43,5m. Và nhìn từ phía ngoài vào, thì người ta còn nhận thấy có thêm 32 pho tượng Quán-Thế-Âm khác được bàn tay của nghệ nhân tạo khắc rất đẹp. Hiện nay, trong toàn quốc chỉ có hai pho tượng Phật cao nhất là Tượng Quán-Thế-Âm Bồ-Tát tọa lạc tại chùa Linh-Ứng (Đà-Nẳng) cao 67m, và Tượng Quán-Thế-Âm Bồ-Tát an vị tại chùa Hưng-Thiện được xếp vào hàng thứ nhì.

UserPostedImage

Tượng Quán-Thế-Âm chùa Hưng-Thiện cao nhất ĐBSCL

Còn thánh đường Tắc-Sậy thì có vị trí nằm trên quốc lộ 1A, đi về hướng Cà-Mau, thuộc huyện Giá-Rai, và nằm cách thành phố Bạc-Liêu 37km. Đây là một công trình kiến trúc nguy nga, đường bệ hơn bất cứ nhà thờ nào khác ở trên dãy đất miền Tây. Nhà thờ gồm có 3 tầng. Tầng một là nơi tiếp khách. Tầng 2 và tầng 3 là nơi dâng thánh lễ được thiết kế rất trang trọng. Bên ngoài khuôn viên thoáng rộng, có an vị nhiều tượng thánh. Còn bên trong có trang trí các tượng vị thánh lớn gấp đôi người thật, làm toàn bằng loại gỗ đỏ quý hiếm với nét điêu khắc tinh vi. Ngoài ra, nhà thờ còn có dự trù trên 100 phòng dành riêng cho du khách tham quan, hoặc hành hương tùy nghi sử dụng miễn phí.

Điểm đặc biệt của thánh đường Tắc-Sậy là từ ở một chỗ đồng không mông quạnh, ít dược nhiều người biết tới mà giờ đây đã trở thành một địa danh về văn hóa tâm linh nổi tiếng do lòng ngưỡng mộ không những của tín đồ Công-giáo mà còn của cả nhiều thành phần người khác nữa. Chính câu chuyện Linh-mục Trương-Bữu-Diệp nguyện hi sinh đem thân mình cứu thoát nạn cho 70 con chiên họ đạo đang trong lúc cùng cực hiểm nguy, thì đó quả là một nét son thể hiện tinh thần Bác-Ái bao la của Đức Chúa ban phúc cho con người. Một tấm gương rất xứng đáng để cho khách thập phương tìm đến để bày tỏ lòng cảm phục, và tạ ơn.

Do vậy, giờ đây hằng năm vào ngày giỗ lễ của Ông thì thánh đường Tắc-Sậy trở thành một điểm hẹn tâm linh tràn ngập tín đồ đổ về tham dự thánh lễ và cầu nguyện. Riêng ngôi mộ chứa hài cốt của Ông hiện nay nằm trong khuôn viên thánh đường Tắc-Sậy, thì cũng đã được trùng tu rất khang trang và tôn nghiêm.

UserPostedImage

Cổng vào thánh Đường Tắc-Sậy

UserPostedImage

Nguy nga Thánh Đường Tắc-Sậy

Hiện nay, cả hai biểu tượng văn hóa tâm linh Quán-Âm Phật Đài và Thánh đường Tắc-Sậy đều đã được hầu hết du khách, không phân biệt tôn giáo, tìm đến tham quan ngày một nhiều hơn. Họ đến với tất cả sự thành kính tùy theo tấm lòng của mình, dù là để cầu nguyện hoặc tham quan, vì đây là chốn bình an mang lại cho tất cả con người hưởng được vẹn toàn sự nhẹ nhàng tĩnh tâm, vứt bỏ mọi ưu phiền trong cuộc sống.

Và nói riêng, là sự kiện nầy đã tạo ra cho Bạc-Liêu có thêm một hình ảnh ưu thế mới trên con đường phát triển tiềm năng sở tại, hầu để trở thành địa điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng có sức hấp dẫn hơn xưa.

Nói về di tích văn hóa tâm linh ở Bạc-Liêu, tác giả cũng không quên nhắc đến hình ảnh của tháp cổ Vĩnh-Hưng tọa lạc tại huyện Vĩnh-Lợi cũng chỉ cách trung tâm thành phố Bạc-Liêu có chừng 20km về phía Tây-Bắc. Đến đó vào lúc xế chiều, tác giả không còn có dịp nhìn thấy bóng dáng của du khách tham quan nào, mà chỉ gặp được có vài cô cậu sinh viên cũng đến viếng tháp đang còn trò chuyện vui vẻ như muốn nấn ná lại thêm với chút thời gian thư dãn. Tháp nầy tuy nhỏ với hình thể kiến trúc tuy không có gì đặc biệt, nhưng trong thời đại bấy giờ thì cũng là cả một công trình văn minh, văn hóa có sự góp công rất lớn của nghệ nhân. Và cũng theo sự nhận định của các nhà khảo cổ, thì tháp nầy chính là nơi thờ phụng vị vua có tên là Khmer Yacova-Man. Và cũng kể từ ngày tháp được xếp vào hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia (1992), thì người dân địa phương mới hiểu ra thêm rằng quê hương mình đang có một trong những báu vật thiêng liêng chứa đựng nhiều bí ẩn tâm linh, quý hiếm nhất ở miền Tây. Tháp Vĩnh-Hưng cũng được các nhà khảo cổ nghiên cứu quá trình xây cất cùng vào thời văn minh Angkor của dân tộc Khmer, vào khoảng thế kỷ thứ IX sau Công-nguyên, với kiểu kiến trúc mang dấp dáng của thời kỳ hậu văn hóa Óc-Eo của dân tộc Phù-Nam. Và đây cũng là một di tích cổ, thuộc dạng cư trú sinh hoạt phân bố duy nhất còn sót lại ở quanh vùng.

Trải qua sau các cuộc khai quật vào những năm 1911, 1917, 1957 cho đến năm 2002 về sau nầy, các nhà khảo cổ đã khai quật tìm ra được nhiều hiện vật như nào là tượng đồng bốn mặt, tượng nữ thần bằng đá xanh, đinh ba lửa đồng, những đoạn gỗ, những tấm ngói có hoa văn, mảnh gốm v.v. Hiện nay tất cả những cổ vật nầy đã trở thành một bộ sưu tập hết sức giá trị được lưu giữ và trưng bày ở tại Bảo-Tàng Bạc-Liêu. Riêng về tháp Vĩnh-Hưng nay đã được trùng tu, để nhằm bảo tồn được hình thể di sản bị xoáy mòn theo lớp bụi thời gian, và hằng năm địa phương cũng đều có tổ chức các ngày giỗ lễ để cho khách thập thương tìm đến tham quan, cầu nguyện phước lành.

UserPostedImage

Tháp cổ Vĩnh-Hưng

Và tại trung tâm thành phố, cách nhà của công tử Bạc-Liêu chừng vài trăm thước, ngày nay còn có một kỳ tích sẽ làm thỏa mãn tính tò mò cho những vị du khách nào muốn tiện dịp để nhĩ mục quan chiêm về chiếc đồng hồ đá Thái-Dương do nhà bác vật Lưu-Văn-Lang sáng chế ra từ hồi đầu thế kỷ XX. Đây là chiếc đồng hồ đá độc đáo và duy nhất của VN, được xây bằng gạch tàu và xi măng, có chiều cao 1m, rộng 0,8m, mặt quay về hướng Đông. Hai bên mặt có khắc chữ số La-Mã theo hình vòng cung biểu thị cho số giờ. Tuy nhiên, người ta chỉ biết được số giờ, là khi nào có ánh nắng chói trực tiếp vào phần hình chữ nhật đứng sẽ tạo ra vệt sáng, tối. Và nằm dưới giữa hai vệt đó, là số giờ hiện tại chính xác.

Ông Lưu-Văn-Lang là một nhà trí thức Nam-bộ, một vị kỹ sư đầu tiên của nước Việt-Nam và của cả Đông-Dương dưới thời Pháp thuộc. Và di tích đồng hồ đá Thái-Dương của ông ngày nay còn để lại tại Bạc-Liêu, là do kết quả của công trình nghiên cứu về sự vận hành từ chiếc đồng hồ Thái-Dương ở trong Đài-Thiên-Văn Jaipur, Ấn-Độ.

UserPostedImage

Đồng hồ Thái-Dương ở Bạc-Liêu

UserPostedImage

Tác giả lưu niệm trước đồng hồ Thái-Dương khổng lồ ở trong khu Đài-Thiên-Văn Jaipur, Ấn-Độ

Ngoài ra, Bạc-Liêu còn có các di tích cấp quốc gia khác ở trong thành phố như nào là: di tích Kiến trúc Nghệ thuật Phước-Đức Cổ Miếu (chùa Bang), di tích Kiến trúc Nghệ thuật Phước-Đức Cổ Miếu (miếu ông Bổn), di tích Kiến trúc Nghệ thuật Thành-Hoàng Cổ Miếu (chùa Minh), và di tích Kiến trúc Nghệ thuật đình An-Trạch. Ở tại Vĩnh-Lợi,còn có Đình thần "Tân-Long", một trong số 22 đình thờ những vịtiền hiền ở rải rác khắp địa bàn v.v. Tất cả các công trình nầy tuy không đạt đến đỉnh nghệ thuật kiến trúc tầm vóc, nhưng đều có ý nghĩa giá trị văn hóa đặc biệt suốt theo chiều dài lịch sử của cộng đồng người dân kết đoàn sinh sống ở tại địa phương.

UserPostedImage

Phước-Đức cổ miếu (Chùa Bang)

Và cách thành phố Bạc-Liêu không xa về phía Đông-Nam, gần khu du lịch vườn nhãn trăm tuổi, thì cũng còn có sự hiện diện uy nghi của ngôi chùa Khmer "Komphir Sakor Prêchru" (chùa Xiêm-Cán). Đây là một công trình kiến trúc đậm nét Angkor của người Khmer được xây dựng lên từ đầu thế kỷ XX. Ngoài phần thiết kế bên trong chánh điện có những mái vòm, hàng cột được nghệ nhân trang trí họa tiết độc đáo, thì ở phía bên ngoài tầng một người ta thấy có cột tượng Phật nhiều mặt xây cất mô phỏng theo kiến trúc cổng vào đền Angkor Thom ở tại Siêm-Riệp (Campuchia). Hằng năm, chùa Xiêm-Cán đón nhận con số rất đông Phật tử và du khách không ngớt tìm đến tham quan.

UserPostedImage

Vườn nhãn cổ trăm tuổi

UserPostedImage

Chùa Xiêm-Cán (Komphir Sakor Prêchru)

Và cũng giống như trong các miệt đầm lầy sông nước khác ở miền Tây, tại quanh khu vực nầy còn có thêm cả một sân chim thiên nhiên hoang dã đã góp phần tạo dáng cho bức tranh sinh động rừng ruộng Bạc-Liêu có được những nét chấm phá hòa quyện nên thơ của địa phương, quyến rũ tình du khách. Vườn chim nầy cũng chính là di tích của một phần thảm rừng còn sót lại ở ven biển Đông, và đã được khoảng 46 các loài chim chọn làm nơi cư trú rất lâu đời. Ngoài các loài chim có tên trong sách Đỏ như Giang-Sen, Cốc-Đế v.v, thì còn có nhiều loài chim nước khác như cò, vạc, diệc, le-le, còng-cọc v.v ở nơi đây thường ngày cất cánh đi săn mồi đến chiều tối mới trở về. Hiện nay, tổng số các loài chim sinh sống trong vườn chim nầy đã được ước lượng lên tới hơn bốn vạn con, và khoảng năm ngàn tổ chim các loại.

UserPostedImage

Sân chim Bạc-Liêu

UserPostedImage

Chim cốc-đế

Ngày nay, du khách đến tham quan đất Bạc-Liêu càng ngày càng nhiều do nhờ địa phương có nhiều lợi thế về tiềm năng du lịch. Ngoài những dịp xem lễ hội Dolta,Ok-Om-Bok của dân tộc Khmer, thì du khách cũng thường không bỏ qua cơ hội để thưởng thức các món ăn đặc sản văn hóa ẩm thực địa phương như nào là món dưa bồn bồn, xá pấu, lẩu mắm, bánh củ cải. Hay mua về làm quà các loại khô cá lóc, mắm cá, nhãn trăm tuổi v.v.

UserPostedImage

Món dưa bồn bồn

Tuy nhiên, trong bất cứ mọi trường hợp nào, khi du khách tham quan Bạc-Liêu ra về mà chưa kịp biết đến một di tích lịch sử từng được coi như là có giá trị nhân chứng về mặt dân sinh xã hội dưới thời nước nhà bị trị, thì quả là lỡ dịp. Đó là khu di tích Đồng-Nọc-Nạng.

Di tích Đồng-Nọc-Nạng ở Giá-Rai là cả một thảm kịch xã hội bị thống trị, hết sức bi thương xảy ra vào năm 1928, dưới thời Pháp thuộc. Và thủ phạm không ai khác hơn là các kẻ có thế lực đương thời, cấu kết với thực dân đã nhẫn tâm bóc lột, dồn ép dân lành đến bước đường cùng, khiến cho họ phải có phản ứng tự vệ vùng lên. Về sau, sự kiện xót xa, tủi nhục đầy uất hận của người dân định cư trong địa bàn nô lệ tối tăm nầy đã được các nhà soạn giả, đạo diễn làm sống lại, đem lồng vào trong các tác phẩm kịch nghệ, cải lương. Và tái hiện ấn tượng một đoạn trong tập truyện phim dài "Đất Phương Nam" do nhóm điện ảnh TFS sản xuất năm 1997 có nội dung đau đáu tình tự quê hương, hoàn cảnh bất công xã hội hỗn mang chứa đầy nước mắt.

UserPostedImage

Bích chương quảng cáo phim "Đất Phương Nam"

Giờ đây, do tầm ảnh hưởng về chứng tích giá trị lịch sử gắn bó trong đời sống của người dân địa phương, cho nên hằng năm tại đây đều có tổ chức cử hành một ngày lễ hội ở tại khu di tích nầy. Cần nói rõ thêm cánh đồng Nọc-Nạng khi xưa vốn là một vùng đất sình lầy hoang vắng, các lưu dân hồi đó đã phải trực diện đối đầu hằng ngày với những loài thú dữ cọp beo, rắn độc, muỗi mòng sốt rét. Do vậy, họ phải cực kỳ vất vả lắm mới có thể khai khẩn được những mảnh đất đai rừng tràm gai góc mọc đầy cỏ dại, lau sậy phủ dày.

UserPostedImage

Di tích Đồng-Nọc-Nạng

...Bóng tối đi qua, đất Bạc-Liêu ngày nay đã có một Khu du lịch Nhà Mát lý tưởng tọa lạc tại phường Nhà Mát, cận ven biển. Đây là nơi vui chơi giải trí, với đầy đủ tiện nghi để cho du khách xa gần khách tìm đến tham quan du lịch sinh thái, hoặc có nhu cầu nghỉ dưỡng trong bầu không khí yên tĩnh, trong lành. Khu du lịch Nhà Mát Bạc-Liêu cũng từng là nơi đầu tiên, có xảy ra buổi trình diễn bikini vòng chung khảo khu vực phía Nam của cuộc thi Hoa hậu Việt Nam.

UserPostedImage

Các thí sinh thi Hoa hậu VN năm thứ 26 khu vực phía Nam lọt vào vòng chung khảo đang trình diễn bikini tại Nhà Mát

Khu Du Lịch Nhà Mát ở Bạc-Liêu là khu vui chơi giải trí lớn nhất ở miền Tây (ĐBSCL), và được coi như là một bản sao (nhỏ) của Khu du lịch Suối Tiên ở miền Đông.

UserPostedImage

Một góc nhìn khu du lịch Nhà Mát

​ Ngược dòng thời gian, vào năm 2014 thì tỉnh Bạc-Liêu cũng từng là nơi hân hạnh được chọn để đứng ra tổ chức một cuộc thi vòng chung khảo Hoa hậu Việt-Nam khu vực phía Nam lần đầu tiên ở ngay tại thành phố Bạc-Liêu, với con số 39 thí sinh tham dự. Trong khi đó, thì vòng chung khảo Hoa hậu Việt-Nam khu vực phía Bắc được diễn ra tại Hà-Nội, với 38 thí sinh tham dự. Và sau cùng, là vòng chung kết Hoa hậu Việt-Nam 2014 toàn quốc cũng đã được tổ chức hoành tráng xảy ra ở tại đảo ngọc Phú-Quốc, Kiên-Giang. Cần nói rõ thêm, Bạc-Liêu là nơi từng được nhiều người gọi là xứ ăn chơi, vì dư âm nổi tiếng vượt trội của Hắc công tử ngày xưa còn để lại. Dạo ấy, chính ông cũng đã từng có tổ chức một cuộc thi đấu xảo sắc đẹp (thi hoa hậu) ở ngay tại địa phương nầy.

UserPostedImage

20 thí sinh phía Nam được chọn vào vòng chung kết ở Phú-Quốc

Miền Tây ở đất phương Nam là tiếng gọi theo của tổ chức hành chánh chỉ về những vùng đất ảnh hưởng thuộc đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long, có vị trí địa dư nằm dính liền cho tới mũi Cà-Mau. Địa hình ở toàn miền, khi mới thoáng qua thấy có vẻ gống nhau nhưng thực tế thì có phần đa dạng. Tuy nhiên, không gian cảnh sắc ở địa phương, nói chung thì đó chính là hình ảnh của những cánh đồng ruộng lúa bao la, vườn tược ngút ngàn, sông rạch chằng chịt đan xen giống nhau như mạng nhện, và về mặt tài nguyên nông sản cũng như về thủy sản thì rất là phong phú, dồi dào.

UserPostedImage

Địa lý miền Tây

Là mảnh đất chung của cư dân trong 13 tỉnh thành sông nước Nam-bộ, lịch sử của miền Tây xưa nay thường được gắn liền vào với thời kỳ mở mang lãnh thổ biên cương của dân tộc từ hơn đã mấy trăm năm qua. Khác với vùng địa lý của miền Đông Nam-bộ, trong quá khứ Miền Tây có một nền kinh tế tương đối khả quan hơn nhờ vào hệ thống đường thủy thuận tiện, cũng như về tài nguyên đất đai màu mỡđể sản xuất nông ngiệp, đánh bắt nuôi trồng thủy sản. Ngày trước, miền Tây thường được các chuyên gia nghiên cứu về địa lý cho rằng, nơi đây chính là vùng đất bọc điều được thiên nhiên ưu đãi, vô tình ban tặng cho dải đất ở phương Nam.

Thực vậy, trước những thập niên con sông Cửu-Long bị nước biển tràn vào nhiễm mặn, thì cư dân địa phương nhất là đồng bào ở nông thôn thừa hưởng được một đời sống thư thả, yên bình với sản vật lúa chứa đầy bồ, cá tôm không thiếu trong những bữa ăn hằng ngày trong cuộc sống. Còn ngày nay, đặc biệt kể từ đầu năm 2016 thì ngoài ảnh hưởng của hiệu ứng El Nino đã làm cho lượng mưa giảm nhiều ở trong khu vực, thì vùng ĐBSCL cũng đã bị xâm thực mặn nghiêm trọng hơn bất cứ bao giờ, do nguyên nhân tác hại của các con đập được xây cất từ ở thượng nguồn của con sông Cửu-Long.

UserPostedImage

Cánh đồng lúa chết do bị ngập mặn ngày nay

UserPostedImage

Cá chết còn trơ xương

Từ lâu, đối với những thành phần du khách từng có dịp trải nghiệm xuyên qua các vùng miền địa lý thân yêu của đất nước, thì hình ảnh duyên dáng đáng yêu của miền Tây chắc chắn sẽ là một ấn tượng kỳ thú đi vào trái tim của họ qua những kỷ niệm rất khó phai mờ. Và nếu như trước đây đường về miền Tây từng đã bị gián đoạn bởi những bến phà, thì ngày nay, nhờ vào công dụng của những cây cầu hiện đại được bắc sang sông cho nên xe cộ lưu thông tha hồ chạy suốt ngày đêm cho tới khi dừng lại trên bến đỗ, tiết kiệm được cho du khách rất nhiều thời gian để khám phá địa phương. Và cùng với bức tranh nước sông hòa quyện, thì chính nụ cười thân thiện của người miền Tây cũng lại là một nhịp cầu kết nối giao lưu hữu hiệu, từng chinh phục được mọi cảm tình của bao hàng du khách bốn phương có dịp tìm đến để tham quan. Vả lại, nhờ vào cảnh quan sắc màu nông thôn, miền Tây có từng dãy tiếp dãy vườn cây trái xanh tươi, cánh đồng lúa bao la, bạt ngàn làm tăng thêm nét đẹp.

Hơn thế nữa, miền Tây là vùng đất trẻ trung nhất trong lịch sử hình thành nên bản đồ nước Việt, vì thế cho nên lúc nào nó cũng mang tính nhân văn khai phóng, đa dạng, hòa nhập xã hội cộng đồng, và tạo thành ra được một bản sắc địa phương rất là dặc biệt đậm nét của vùng miền. Tuy nhiên, nói chung là ngoài những hình ảnh thành thị tiếp cận ánh sáng văn minh hiện đại, thì còn lại cũng đã có những bức tranh quê bùn lầy, sông nước mênh mông, và người dân chật vật trong cuộc sống hằng ngày.

UserPostedImage

Cảnh quan sông nước miền Tây

Và trường hợp của vùng đất Bạc-Liêu cũng không thể đi ra ngoài, để biến thành ngoại lệ.

Tuy nhiên, hơn bao giờ hết người dân Bạc-Liêu ngày nay - dù trong hoàn cảnh nào - họ cũng vẫn hãy còn có mang ảnh hưởng thói quen khoáng đạt về tư duy trong cuộc sống. Vì thế cho nên, phương tiện giải trí tinh thần là nghệ thuật đờn ca tài tử thì lúc nào cũng không thể thiếu vắng trong các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Do vậy, họ luôn luôn tìm bằng đủ mọi cách trong những khoảng trống của thì giờ để được cất lên lời ca, tiếng hát đậm chất quê hương.

Ngoài ra, Đài Phát-Thanh&Truyền-Hìnhvà Câu-Lạc-Bộ ĐCTT thành phốBạc-Liêu cũng thường xuyên tạo cơ hội khuyến khích, nâng đỡ, mời các mầm non nổi tiếng có tài năng được nhiều người biết đến. Và từng được coi như là "hiện tượng cổ nhạc Việt-Nam" như là trường hợp của bé Ngọc-Gấm (Đỗ-Thị) ở Sóc-Trăng, bé Quỳnh-Như (Lâm) ở An-Giang, v.v đến tận địa phương, để hợp tác trình diễn ca hát, quảng bá các chương trình liên hoan văn hóa, sinh hoạt văn nghệ cộng đồng.

UserPostedImage

Quỳnh-Như

UserPostedImage

Ngọc-Gấm

Riêng từ cuối năm 2016 kéo dài sang qua thời điểm tháng ngày của năm mới, thì Bạc-Liêu lần đầu tiên lại cũng đã vinh dự được Ban-Tổ-Chức trong nước (với một ê-kíp hùng hậu) chọn làm nơi tổ chức một cuộc thi sơ tuyển chương trình "Đường đến danh ca Vọng cổ" với phương thức tuyển chọn thí sinh tương tợ theo như phiên bản của chương trình "The Voice" của nước ngoài.

Và đây cũng là cơ hội để cho Ban-Tổ-Chức (với sự tham gia góp mặt của NSND Tiến-sĩ Bạch-Tuyết trong vai trò cố vấn chỉ đạo nghệ thuật&chuyên môn, các NSUT Thoại-Mỹ, Ngọc-Huyền, Kim-Tử-Long trong vai trò huấn luyện viên) có dịp đãi cát tìm vàng, chắt lọc tinh hoa cổ nhạc ở trong tất cả mọi thành phần thế hệ ở khắp các nơi quy tụ về đây để so tài. Với kỳ vọng, là sẽ phát hiện được những tài năng mới, chất lượng cao nhưng từ lâu chưa bao giờ có dịp lộ diện ra mắt trước đa số công chúng. Và người ta cũng còn có thể nói thêm rằng, đây là cuộc thi tài vô vùng hào hứng với những tiết mục ấn tượng, kết hợp kỹ thuật sinh động, đột phá mới mẻ mang lại sắc hương cho nghệ thuật sân khấu cải lương có một hình thức khác lạ nhiều hơn. Điều mà chưa từng có xảy ra từ trước đến nay, và đã lôi cuốn được mọi sự chú ý của hầu hết thành phần khán giả ái mộ tinh hoa cổ nhạc nước nhà. Chương trình nầy đã đạt đến mức kỷ lục về con số hàng chục triệu người theo dõi trong toàn quốc, nhất là ở miền Nam.

UserPostedImage

NSND Tiến-sĩ Bạch-Tuyết (cải lương chi bảo)

UserPostedImage

Các HLV Thoại-Mỹ, Kim-Tử-Long và Ngọc-Huyền đang reo mừng thuyết phục thí sinh

Và sau gần năm tháng tuyển chọn vô cùng hào hứng, thì vòng chung kết "Đường đến danh ca Vọng cổ" mùa đầu tiên đã được diễn ra vào ngày 1-4-2017 với kết quả là thí sinh Trần-Thị-Thu-Vân xuất sắc đoạt giải nhất, và hai thí sinh Lê-Minh-Chí cùng Lê-Văn-Gàn đồng đoạt giải nhì.

UserPostedImage

Quán quân Thu-Vân (người đứng giữa tấm bảng)

Hơn thế nữa, đặc biệt là vào trong những ngày Tết Đình-Dậu 2017 thì đường hoa Nguyễn-Huệ tại thành phố Hồ-Chí-Minh cũng đã được Ban-Tổ-Chức có trang trí trang trọng vào không gian một cây đờn kìm phỏng theo mô hình của cây đờn kìm cách điệu ở Bạc-Liêu, để nhằm mục đích tôn vinh ý nghĩa giá trị văn hóa nghệ thuật của đất phương Nam. Và cũng đề cho khách du Xuân thập phương có dịp tham quan chú ý, được biết nhiều hơn về biểu tượng văn hóa đặc trưng của nơi nầy. Và nhân dịp kỷ niệm 97 năm, ngày ra đời bản "Dạ cổ hoài lang", thì Bạc-Liêu lại cũng có tổ chức một ngày lễ hội "Dạ cổ hoài lang" để nhằm mục đích tôn vinh giá trị nghệ thuật cổ nhạc, và tri ân các nghệ nhân tài hoa. Đặc biệt, là về hình ảnh của nhạc sĩ Cao-Văn-Lầu, một người từng có công đóng góp rất lớn vào loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ. Lễ hội nầy không những đã được người dân địa phương hưởng ứng nồng nhiệt, mà còn có sự đóng góp tham gia của cả hai tỉnh khác là Sóc-Trăng và Cà-Mau.

UserPostedImage

Trình diễn văn nghệ trong ngày lễ hội

Còn nữa, Bạc-Liêu ngày nay cũng còn được người ta biết đến nhiều hơn do nhờ là quê hương duyên dáng của một giai nhân sở hữu vẻ đẹp tinh khôi là Đặng-Thu-Thảo, từng đoạt giải "Hoa Hậu Việt Nam 2012". Cô là một người đẹp xuất thân từ ở miền Tây đất phương Nam, mà người địa phương Bạc-Liêu lần đầu tiên được vinh dự đăng quang vương miện ở ngôi vị nầy. Và hiện nay, kể từ khi được đăng quang vương miện thì hoa hậu Thu-Thảo luôn luôn vẫn còn có những hoạt động tích cực tham gia vào các công tác phúc thiện xã hội.

UserPostedImage

Đặng-Thu-Thảo (Hoa hậu VN 2012)

Đất phương Nam ngày nay mỗi khi nói đến địa lý miền Tây, thì trước hết, người ta thường hay mường tượng ra thành phố hoa lệ Cần-Thơ từng được mệnh danh là Tây đô, rồi sau đó mới tới hình ảnh của những thành phố nổi tiếng khác như là Mỹ-Tho, Vĩnh-Long, Bến-Tre, Long-Xuyên, Sóc-Trăng v.v. Còn nói về thắng cảnh thiên nhiên miền Tây, thì có dãy Thất-Sơn, non nước Hà-Tiên, Ramsa Đông-Tháp, Ramsa Cà-Mau, rừng Tràm U-Minh, cảnh quan Phú-Quốc v.v. Tuy nhiên, mỗi khi muốn nói đến các hình thức sinh hoạt phong phú về liên hoan văn nghệ cộng đồng, thì ai cũng biết Bạc-Liêu bây giờ còn có hai công trình đặc sắc từng đã được Tổ-Chức Kỷ-Lục Việt-Nam (VietKings) công nhận thành tích đạt danh hiệu kỷ lục Việt-Nam. Đó là Cây đờn kìm cách điệu lớn nhất, biểu tượng cho văn hoá Bạc-Liêu. Và Nhà hát Cao-Văn-Lầu, và Trung tâm triển lãm văn hoá nghệ thuật tỉnh Bạc-Liêu có hình dạng ba chiếc nón lá lớn nhất Việt-Nam.

Và nói riêng, là về lãnh vực di sản văn hóa dân gian thì hình ảnh của thành phố Bạc-Liêu mới được coi như là cái nôi của nghệ thuật đờn ca tài tử Nam-bộ. Lý do, là nhờ địa phương thường hay có nhiều tổ chức sinh hoạt văn nghệ miệt vườn. Nói cách khác, vì duyên quê cục đất thanh bình sở tại vô tình có mang ảnh hưởng vào nghệ thuật. Và đã là nơi từng khai sinh ra được một tác phẩm văn hóa phi vật thể tuyệt vời lưu truyền hậu thế, mãi mãi không bao giờ có thể tách rời trong bộ môn nghệ thuật đờn ca tài tử ở đất phương Nam.

Đó là bài ca Dạ Cổ Hoài Lang.

Và như ai cũng biết, nhạc sĩ tài hoa Cao-Văn-Lầu, viên ngọc quý hiếm hoi sáng giá của mảnh đất Bạc-Liêu, là người đã khai sinh ra bài ca Dạ Cổ Hoài Lang vốn là tiền thân của bài ca Vọng cổ về sau nầy. Và danh dự cao quý của bài ca hồn quê dân gian đó, ngày trước, cũng đã được Giáo-sư Tìến-sĩ Trần-Văn-Khê từng khẳng định có những ý kiếnphát biểu tôn vinh, đánh giá nghệ thuật như sau:

- "Trong nền cổ nhạc Việt-Nam, chưa có bài bản nào được như "Dạ cổ hoài lang" biến thành "Vọng cổ". Từ một sáng tác cá nhân đã trở thành sáng tác tập thể, sanh từ đầu thế kỷ, lớn lên sống mạnh khỏe, biến hóa thiên hình vạn trạng, và sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt khắp năm châu bốn bể"...

UserPostedImage

Bạc-Liêu thành phố tài tử văn nghệ, cảnh quan sông nước yên bình, giàu lòng hiếu khách, có những con người nhiệt tình ấp ủ, ước vọng nét đẹp quê hương sẽ được hoàn hảo, lộ hình khoe sắc thắm tươi hơn qua nghệ thuật dân ca, giai điệu phím nhạc cung đàn từ ở Câu-Lạc-Bộ đờn ca tài tử. Từ tổ chức ở các phố phường, ấp, khóm, nhà trường, cũng như từ ở trong dòng họ, gia đình. Hơn thế nữa, từ lâu chứ không phải bây giờ, Bạc-Liêu cũng đã từng thể hiện ra bằng những cơ hội gặp gỡ giao lưu trong tình bè bạn ở khắp vùng miền. Đặc biệt, là Bạc-Liêu của đất phương Nam có tình người thân thiện luôn luôn bao giờ cũng tạo ra được nguồn cảm hứng đầy ấn tượng cho hàng du khách bốn phương, qua những âm điệu quê hương làng mạc tình tứ, ngọt ngào, êm dịu của các nghệ nhân đờn ca tài tử vọng lên từ trong đêm thanh vắng.

Trong khoảnh khắc không gian đó, khách lãng du sẽ có cơ hội được dịp lắng nghe để gìn giữ lại nhiều kỷ niệm đậm đà lưu luyến hơn, về ý nghĩa viễn vọng thiên thu của cây đờn kìm** đã thực sự được thấm sâu vào hồn quê máu thịt của người dân sở tại từ hôm qua, bây giờ, và mãi mãi. Còn nữa, khác với các hình thức sáng tạo tân nhạc thời đại. Bản Dạ Cổ Hoài Lang được hóa thân ra thành bài ca Vọng cổ từ ở Bạc-Liêu, một vùng đất phong phú về văn nghệ, trữ tình. Và đã được rất nhiều nghệ nhân, các tài tử đờn ca mộ điệu từ các thế hệ ở khắp bốn phương góp phần thay nhau phổ biến, tiếp tục duy trì bản sắc văn hóa địa phương để bảo tồn, phát huy tinh hoa cổ nhạc nước nhà.

Do vậy, mà ngày nay người ta đã không những không còn ngạc nhiên, trái lại, họ còn quen thuộc với những câu thơ bình dị trong bao bài hát, câu hò đượm màu cá biệt vùng miền ở trên dải đất phương Nam:

Bạc Liêu sông nước yên bình
Bài ca Vọng cổ đẹp tình quê hương (A)

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

* - Đờn ca tài tử Nam-bộ đã được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào ngày 5-12-2013 tại Baku, Azerbaijan.

** - Theo nhà soạn nhạc dân tộc Giáo-sư, Tiến-sĩ Trần-Quang-Hải: - Cây đờn kìm (Nguyệt cầm) vốn được tôn vinh là "Quân tử cầm" và là... "thầy" của các loại nhạc cụ khác trong dàn nhạc tài tử cải lương. Vai trò, vị trí của cây đờn kìm quan trọng như thế nào trong giới đều đã rõ, thế mà có một thời gian khá dài, nó đã bị lu mờ và tưởng chừng bị mai một... Song, từ khi phong trào đờn ca tài tử cải lương được khơi dậy, những năm gần đây, cây đờn kìm đã dần khôi phục lại được "chỗ đứng" của mình

(A) - Thơ An-Tiêm Mai-Lý-Cang.

Dưới đây là tượng của Nhạc-sĩ Cao-Văn-Lầu, và nguyên văn của bài ca "Dạ Cổ Hoài Lang" được trưng bày trong Khu lưu niệm của ông.

UserPostedImage

Tượng Nhạc-sĩ Cao-Văn-Lầu

UserPostedImage

Edited by user Tuesday, September 7, 2021 7:06:23 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1793 Posted : Wednesday, September 8, 2021 2:30:05 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Sự tích bài thơ Trèo lên cây bưởi hái hoa


UserPostedImage

1-

“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay!

2-

“Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?

3

“Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”

Trèo Lên Cây Bưởi…

Chùm thơ này đã có trong dân gian từ lâu; nhiều người tưởng rằng nó là chỉ một bài ca dao thuần túy; mà đã là ca dao thì không biết ai là tác giả. Gọi nó là chùm thơ vì đây không phải là một bài mà là ba bài hợp lại, gieo theo thể liên vận, gắn với “Giai thoại Đào Duy Từ”.

Truyện kể rằng: “Năm Đinh Mão (1627), chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương (chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và đòi Sãi Vương phải cho con vào chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh. Chúa Sãi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hội họp triều thần hỏi mưu kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Sãi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ tìm kế đối phó.

Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê hầu mới bàn với Sãi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long (Hà Nội này nay), tạ ơn vua Lê và chúa Trịnh.

Nhờ có chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa Trịnh, Lại Văn Khuông ứng đối rất trôi chảy. Chúa Trịnh hậu đãi, cho phép Khuông cùng phái đoàn sứ giả đi thăm kinh thành, để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Đọc xong, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn sứ giả đột ngột trốn về, chúa Trịnh sinh nghi, bèn cho người đập vỡ mâm lễ, lại thấy tờ sắc phong khi trước, và 1 tờ giấy viết bốn câu thơ chữ Hán sau:

“Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch.”

Cả triều đình không ai hiểu ý nghĩa bài thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải cho mời một nhà nho thông thái uyên bác tới giải nghĩa. Đọc xong, nhà nho giải thích rằng:

Mâu nhi vô dịch nghĩa là chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ Dư; Mịch phi kiến tích nghĩa là chữ Mịch bỏ bớt chữ Kiến còn lại là chữ Bất; Ái lạc tâm trường nghĩa là chữ Ái để mất (lạc) chữ Tâm thì thành chữ Thụ; vàLực lai tương địch nghĩa là chữ Lực đối địch (tương địch) với chữ Lai là chữ Sắc. Vậy, gộp cả bốn chữ mới lại thành câu: “DƯ BẤT THỤ SẮC,” nghĩa là “Ta không nhận sắc phong.”

Nghe xong, Trịnh Tráng vội thét lính đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng lúc đó Khuông cùng cả phái đoàn đã cao chạy xa bay rồi. Trịnh Tráng muốn ra quân đánh chúa Nguyễn nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc giã nổi lên, đành phải hoãn lại. Trịnh Tráng cho người dò la biết được việc Sãi Vương không nhận sắc phong đều do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa Trịnh tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn (Đàng Trong) về với triều đình vua Lê và chúa Trịnh (Đàng Ngoài).

Chúa Trịnh lập mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ:

1

“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay!”.

Lời thơ nói đến chuyện anh (chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ý thơ trong như ngọc, là lời nhắn nghĩa tình, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý đe dọa.

Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Gia Cát Lượng đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. Vì thế Đào Duy Từ không sợ hãi chúa Trịnh trả thù; và ông đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau:

2

“Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?”

Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.

Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:

3“Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng (*) em ghen!”

(*) Chồng, có ý nói là chúa Nguyễn.Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời…”

(Nguồn: My Opera/Danh nhân story)

Vài điều nói thêm về Đào Duy Từ

Đào Duy Từ (1572- 1634) sinh tại tỉnh Thanh Hóa. Ông rất thông minh nhưng ông không đươc dự thi vì cha ông làm nghề ca hát. Ông giận chúa Trịnh đối xử bất công cho nên ông bỏ vào Nam (dưới sự cai trị của chúa Nguyễn) Đào Duy Từ vào Nam, sống bằng nghề chăn trâu thuê cho một nhà giàu ở Bình Định. Chủ nhà là người ham mê văn học, đã phát hiện ra Đào Duy Từ là người có tài, nên đã tiến cử Đào Duy Từ cho quan Khám lý Trần Đức Hòa. Vì mến tài của Đào Duy Từ, Trần Đức Hòa đã gả con gái cho, đồng thời tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau cuộc gặp gỡ với Đào Duy Từ, Chúa Sãi đã phong cho ông làm Nha Úy Nội Tán. Trong chín năm, từ 1625 đến 1634, Đào Duy Từ đã giúp chúa Nguyễn xây dựng và mở mang bờ cõi về phương nam vì ông có tài cả về chính trị, kinh tế, quân sự, và văn chương thơ phú nữa.Trong cuộc chiến Trịnh – Nguyễn, ông đã xây một chiến lũy để ngăn ngừa quân Trịnh. Chiến lũy này chạy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Người dân gọi chiến lũy này là Lũy Thầy (tức là lũy do Thầy Đào Duy Từ xây dựng).

Nguyễn Văn Thái

Edited by user Monday, September 13, 2021 4:31:44 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1794 Posted : Monday, September 13, 2021 4:36:19 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Bún Nước Lèo


July 11, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Miền Nam, nói cho đủ là Miền Nam Việt nam, (tức là Việt Nam Cộng Hòa) có 22 tỉnh và một Đô Thành Sài Gòn, như xứ Cơ Hoa có 50 tiểu bang và 1 DC. Mỗi một tỉnh của Miền Nam đều có một hoặc nhiều món ngon vật lạ, khi đi xa vẫn nhớ không quên. Miền Nam (nói chung) và Miền Tây Nam Kỳ, (nói tắt là Miền Tây), vùng sông nước , vùng đất bồi do con sông Cửu Long đem phù sa từ núi cao về lấn biển. Cái thuở “về phương Nam đi mở nước”, từ những đồng lầy nước nổi quanh năm, chỉ một tấm nóp, một cái phảng là xây dựng cuộc sống ấm no. Người Nam “làm chơi ăn thiệt”, “gạo chợ nước sông” sống cùng thiên nhiên, tôm cá tràn đồng.

Hôm nay, bỏ lại sau lưng những ngày tháng an bình thạnh trị, mỗi lần gặp nhau “tha hương ngộ cố tri” là nhắc, là nhớ, nhớ những điều đơn giản ngày xưa bây giờ trở thành kỷ niệm. Ôi! Kỷ niệm chỉ là những giọt nước nhỏ nhoi, nhưng nó xoi mòn đất đá, nó xoáy trong tâm khảm làm thành những “hang động” không thể xóa nhòa!

Từ Sài Gòn theo quốc lộ 4 đi qua cầu Bến Lức (Long An), vượt qua ngã ba Trung Lương (Mỹ Tho)… qua song Tiền Giang, đi lần về phà Mỹ Thuận vượt Hậu Giang. Ở đó, Phà Mỹ Thuận, người khách đến thăm, sẽ gặp những ngạc nhiên…Mận, sa bô chê, xoài, ổi, cốc…đầy nhóc ra đó…với “chục có đầu”. Thói thường một chục là 10, cũng có thể một chục là 12; nhưng tới đây là “chục có đầu”. Có nghĩa là một chục được tính là 16. Dân Nam Kỳ rộng rãi là vậy.

Qua khỏi phà, du khách bị tràn ngập trong một mùi thơm nứt mũi, mùi thịt nướng. Dọc theo hai bên là những quán bán chim nướng, những xâu chim nướng vàng ươm, giòn rụm, béo ngậy… Ôi sao mà ngon quá chừng vậy cà! Còn nữa, hãy lên xe. Rẻ tay phải dẫn về Sa Đéc, Long Xuyên, Cao Lãnh; rẻ trái về Cần Thơ (Phong Dinh), đi tiếp đến Phụng Hiệp, ngã bảy, nơi hội tụ của những con kinh xáng múc, thẳng tắp, nước ngập ngụa phù sa, và những về lục bình bông tím lững lờ lên xuống theo con nước, những hàng dừa soi bóng, những chiếc thuyền chở khẳm trái cây, những chiếc tắc ráng xành xạch ngược xuôi …tạo nên cuộc sống rộn ràng, sung túc, bình dị và bình an.

Qua khỏi Phụng Hiệp, bước qua địa phận Ba Xuyên, để đặt chân đến đất Sóc Trăng. Cuộc đất này là một tập hợp của 3 chủng tộc Việt, Hoa, Miên. Những tên gọi nghe lạ, nhưng thân quen với dân Sóc Trăng: Chùa Dơi, Chùa Đất Sét (Bửu Sơn Tự), Chùa Chén Kiểu, Chùa La hán, Chùa Cây Điệp (Chùa Vĩnh Hưng), Chợ nổi Ngã Năm…

Dân Sóc Trăng đi xa có thể quên các danh lam thắng cảnh, nhưng sẽ không quên một món ăn dân dã, đời thường. Bún nước lèo.

Bún nước lèo vốn là một món ăn của người Khmer, nhưng qua bàn tay khéo léo của người dân Sóc Trăng đã trở thành một món riêng cho Sóc Trăng. Nguyên liệu chính để làm nước lèo của món bún này là con mắm được nấu đến khi thịt rã ra thì lọc bỏ xương trộn cùng với nước luộc từ xương heo.

Là một món ăn hấp dẫn bắt mắt ngay từ khi nhìn thấy tô bún được bưng dọn ra bàn. Hãy nhìn xem: Trầm mình trong tô nước luộc trong vắt là những miếng cá lóc gỡ hết xương, tôm tươi lột vỏ, thịt quay xắt nhỏ vuông vức, và bánh cống đi kèm. Để có được tô bún thơm ngon như vầy, người nấu phải trải qua nhiều giai đoạn chuẩn bị, và khéo tay.

Tô bún nước lèo Sóc Trăng là tổng hợp của tất cả các hương vị thân quen của 3 chủng tộc Việt Miên Tàu, nhưng vẫn làm người ta phải xuýt xoa ngay từ lần đầu tiên nếm thử. Không ở đâu mà có một tô bún với hương vị thơm thơm của mắm, vị ngọt, da dòn của thịt heo quay, và cắn ngập răng với những con tôm sư, tôm đất, cộng với chút hăng hăng, cay cay từ rau húng, chua chua của nước chanh. Đó là bún nước lèo Sóc Trăng của vùng đất miền Tây sông nước.

Nếu có dịp đến với xứ sở chùa Dơi, chùa đất sét…v.v., người ta không thể bỏ qua món ăn trứ danh với hương vị đặc biệt này. Với những vật thực đơn giản, quen thuộc; nhưng, tạo nên món bún khiến ai ăn một lần là nhớ mãi không quên.

Các nguyên liệu chính trong tô bún thơm phức đó chính là tôm, cá lóc, thịt heo quay. Và có: mắm (mắm cá linh, cá sặc…), bún, nước dừa tươi, nước mắm, đường, muối, bột ngọt, ớt, dấm, sả, chanh, ngải bún, rau húng quế, rau húng lủi, giá, hẹ, bắp chuối, rau muống (hoặc rau đồng)

Những sợi Bún làm từ loại gạo dẻo, gạo lúa mùa, ngâm nước một đêm rồi xay trong cối đá thành bột nước. Bột lại nhồi thật dẻo và nắm thành từng cục, sau đó cho vào khuôn bún và ép xuống. Các sợi bún xuống nồi nước sôi. Vớt bún đã chín trong nồi nước sang một nồi nước thật trong, pha âm ấm, sau đó bắt thành từng con bún để lên thúng tre đã lót lá chuối tươi.

Nước lèo được nấu từ một số loại mắm như mắm cá sặc, mắm cá linh, cá kèo, cá lóc . Những con mắm cá được nấu rã trong nước, thêm củ sả đập dập, ớt băm nhuyễn để lấy hương vị, ngãi bún (một loại củ giống củ nghệ, màu hơi đậm hơn nghệ) dùng để khử mùi tanh của mắm và nêm đường, bột ngọt cho vừa ăn. Có thể dùng nước dừa xiêm thêm vào nồi nước lèo.

Những loại rau như bắp chuối bào, rau muống chẻ, rau quế, rau răm, rau húng lũi, hẹ lá, giá…Làm nên tô bún.

Nhân tiện đây cũng không quên liệt kê cách nấu món bún nước lèo Sóc Trăng để quý vị nấu thử:

200 gram tôm

300 gram thịt heo quay

500 gram cá lóc

1 kg bún tươi

2 cây ngải bún

100 gram mắm bò hóc (mắm làm từ các loại cá đồng như cá sặc, cá linh…)

5 cây sả

1 củ tỏi

2 trái ớt

1 trái chanh

Các loại rau: giá, hẹ, bắp chuối, rau muống bào, bông súng…

2 trái dừa xiêm

1 củ gừng tươi

Gia vị: dầu ăn, muối, đường, bột nêm, nước mắm, tiêu

Cách Làm:

Cá lóc mua về làm sạch, chà với muối khử mùi tanh, cắt cá thành hai phần đầu và đuôi. Cắt cho phần lòng dính về đầu, bỏ mật cá. Rửa sạch để vào rổ.Tôm rửa sạch, lột vỏ, bỏ đầu, để đuôi lại.

Thịt heo quay cắt thành miếng vừa ăn. Ngải bún, sả rửa sạch, đập dập. Gừng cạo vỏ, cắt thành lát nhỏ. Dừa tươi lấy nước cho vào tô. Tỏi lột vỏ, cho vào máy xay nhuyễn. Mắm cho vào chén nước ấm lọc lấy nước. Các loại rau. Cắt khúc vừa ăn với hẹ.

Bắt nồi nước lên, sôi, cho cá và ít lát gừng, sả vô nồi. Khi cá chín vớt ra ngoài tránh làm nát cá. Gỡ bỏ xương, cắt thành từng miếng nhỏ, cho vào dĩa ướp cùng 1 muỗng canh nước mắm, 2 muỗng canh đường và bột nêm, 1 muỗng canh tiêu xay. Trộn cho các gia vị thấm vào thịt cá khoảng 10 phút. Bắt chảo lên, cho dầu ăn và tỏi xay nhuyễn vào phi vàng. Cho cá vào xào. Đảo nhẹ để miếng cá không bị nát. Bắt nồi lên cho nước nấu sôi, tôm vào luộc sơ.

Nấu nước lèo: Nồi nước luộc cá cho tô nước dừa tươi vô. Nấu sôi, cho chén nước mắm bò hóc, ngải bún, sả vô nấu. Cho các gia vị gồm 4 muỗng canh đường, và bột nêm vào nêm nếm lại.

Bây giờ tới lúc thưởng thức món ăn. Tư tư nhé, lấy bún để vô tô, sắp cá lóc, tôm, thịt heo quay và các loại rau lên trên, sau đó chan nước lèo. Có thể thêm miếng chanh, và chén muối ớt sẽ giúp tô bún nước lèo hấp dẫn hơn. Người Miền Tây hay dùng muối ớt khi ăn các món có nước như cà ry, bún nước lèo.

Quý vị đã có lần nào ăn bún nước lèo Sóc Trăng chưa? Món ăn dân dã, rất thông thường; nhưng qua cách chế biến, nó đã trở nên một phần của đời sống dân Lục Tỉnh. Đến Sóc Trăng, du khách có thể thăm Chùa Đất Sét, Chùa Dơi, thăm vườn chim…và ăn các món ăn quê mùa đạm bạc: Bánh Pía, bánh cống, hoặc chuột đồng nướng rơm, rùa, chim mỏ ác, cò, chàng nghịch …Và không thể quên công ơn của những người di dân theo chân Công Chúa Ngọc Vạn (1621) đi mở nước về phương Nam.

Cũng nên biết thêm một chút lịch sử Sóc Trăng, Tỉnh Ba Xuyên.

Sóc Trăng là một vùng ven biển, thuộc tỉnh Ba Xuyên, đồng bằng sông Cửu Long, Miền Tây Nam Phần.

Lịch sử

Ba Xuyên là một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thiết lập theo Sắc lệnh số 143-NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm ngày 22 tháng 10 năm 1956 để thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam. Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Ba Xuyên được thành lập do hợp nhất hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng trước đó. Tỉnh lỵ tỉnh Ba Xuyên đặt tại Sóc Trăng nhưng lúc này đổi tên là Khánh Hưng, do nằm trong địa phận xã Khánh Hưng thuộc quận Châu Thành (sau đó là quận Mỹ Xuyên).

Ngày 23 tháng 2 năm 1957, tỉnh Ba Xuyên giao quận Kế Sách cho tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ).

Tuy nhiên, vào ngày 16 tháng 9 năm 1958, tỉnh Ba Xuyên nhận lại quận Kế Sách từ tỉnh Phong Dinh. Quận Kế Sách trở lại thuộc tỉnh Ba Xuyên cho đến năm 1975.

Năm 1957, tỉnh Ba Xuyên bao gồm 8 quận, 16 tổng, 73 xã:

Quận Châu Thành có 12 xã; quận lỵ: xã Mỹ Xuyên. Gồm 2 tổng: Nhiêu Khánh, Nhiêu Hòa

Quận Thạnh Trị có 12 xã; quận lỵ: xã Thạnh Trị. Gồm 3 tổng: Thạnh An, Thạnh Lộc, Thạnh Lợi

Quận Long Phú có 12 xã; quận lỵ: xã Long Phú. Gồm 2 tổng: Định Hòa, Định Mỹ

Quận Giá Rai có 4 xã; quận lỵ: xã Phong Thạnh. Gồm 1 tổng: Long Thủy

Quận Vĩnh Lợi có 9 xã; quận lỵ: xã Vĩnh Lợi. Gồm 2 tổng: Thạnh Hòa, Thạnh Hưng

Quận Bố Thảo có 8 xã; quận lỵ: xã Thuận Hòa rồi chuyển sang xã Thuận Phú. Gồm 2 tổng: Thuận Phú, Thuận Mỹ

Quận Lịch Hội Thượng có 8 xã; quận lỵ: xã Lịch Hội Thượng. Gồm 2 tổng: Định Chí, Định Phước

Quận Phước Long có 8 xã; quận lỵ: xã Phước Long. Gồm 2 tổng: Thanh Bình, Thanh Yên.

Trong đó, các quận Châu Thành, Thạnh Trị, Long Phú, Bố Thảo, Lịch Hội Thượng trước năm 1956 cùng thuộc tỉnh Sóc Trăng cũ. Riêng 3 quận Giá Rai, Vĩnh Lợi và Phước Long lại cùng thuộc tỉnh Bạc Liêu cũ, đặc biệt quận Vĩnh Lợi lúc bấy giờ bao gồm cả quận Vĩnh Châu vừa giải thể vốn cũng thuộc tỉnh Bạc Liêu trước đây.

Ngày 13 tháng 1 năm 1958, Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng Hòa ban hành Nghị định số 9-BNV/NC/NĐ ấn định các đơn vị hành chánh của tỉnh Ba Xuyên gồm 7 quận, 14 tổng, 68 xã. Theo đó, quận Châu Thành đổi tên thành quận Mỹ Xuyên, quận Bố Thảo đổi tên thành quận Thuận Hòa, bỏ quận Lịch Hội Thượng, quận Thạnh Trị bỏ tổng Thạnh Lợi, quận Long Phú có thêm tổng Định Phước.

Năm 1958

Quận Mỹ Xuyên có 2 tổng, 9 xã:

Tổng Nhiêu Khánh có 4 xã: Khánh Hưng, Mỹ Xuyên, Tài Văn, Thạnh Thới An

Tổng Nhiêu Hòa có 5 xã: Đại Tâm, Tham Đôn, Thạnh Phú, Phú Mỹ, Hòa Tú

Quận Thạnh Trị có 2 tổng, 10 xã:

Tổng Thạnh An có 5 xã: Thạnh Trị, Châu Hưng, Châu Thới, Thạnh Kiết, Gia Hòa

Tổng Thạnh Lộc có 5 xã: Vĩnh Lợi, Mỹ Qưới, Vĩnh Qưới, Tuân Tức, Tân Long

Quận Long Phú có 3 tổng, 17 xã:

Tổng Định Mỹ có 5 xã: Long Phú, Tân Hưng, Đại Ân, Tân Thạnh, An Thạnh Nhì

Tổng Định Phước có 4 xã: Lịch Hội Thượng, Trung Bình, Viên An, Liêu Tú

Tổng Định Hòa có 8 xã: Châu Khánh, An Thạnh Nhứt, Đại Ngãi, Long Đức, Phú Hữu, Hậu Thạnh, Song Phụng, Trường Khánh

Quận Thuận Hòa có 2 tổng, 9 xã:

Tổng Thuận Mỹ có 5 xã: Thuận Hòa, Mỹ Hương, Thuận Hưng, Phú Tâm, An Ninh

Tổng Thuận Phú có 4 xã: Mỹ Phước, Mỹ Tú, Phương Long, Mỹ Hưng

Quận Vĩnh Lợi có 2 tổng, 10 xã:

Tổng Thạnh Hòa có 5 xã: Vĩnh Lợi, Long Thạnh, Hòa Bình, Hưng Hội, Vĩnh Trạch

Tổng Thạnh Hưng có 5 xã: Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa, Lạc Hòa, Khánh Hòa

Quận Giá Rai có 1 tổng là Long Thủy và 4 xã: Phong Thạnh, Long Điền, An Trạch, Vĩnh Mỹ

Quận Phước Long gồm 2 tổng, 9 xã:

Tổng Thanh Bình có 5 xã: Phước Long, Vĩnh Phú, Ninh Hòa, Ninh Qưới, Vĩnh Hưng

Tổng Thanh Yên có 4 xã: Phong Thạnh Tây, Ninh Thạnh Lợi, Lộc Ninh, Vĩnh Lộc.

Năm 1960

Ngày 5 tháng 12 năm 1960, quận Vĩnh Châu được tái lập, quận lỵ đặt tại xã Vĩnh Châu. Quận Vĩnh Châu có một tổng là Thạnh Hưng, do tách ra từ quận Vĩnh Lợi.

Ngày 16 tháng 6 năm 1961, quận lỵ Thạnh Trị dời đến chợ Ngã Năm và quận lỵ Mỹ Xuyên dời đến xã Hòa Tú.

Ngày 3 tháng 1 năm 1962, quận Phước Long và một phần nhỏ quận Thạnh Trị được cắt chuyển về tỉnh Chương Thiện mới được thành lập.

Ngày 27 tháng 8 năm 1962, quận lỵ Mỹ Xuyên được dời về Bãi Xàu, quận lỵ được gọi là Trang Kỉnh.

Ngày 8 tháng 9 năm 1964, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tách một phần tỉnh Ba Xuyên để tái lập tỉnh Bạc Liêu. Tỉnh Bạc Liêu khi đó gồm 4 quận: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai, Phước Long. Phần đất còn lại tương ứng với tỉnh Sóc Trăng trước năm 1956, tuy nhiên Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ tên gọi tỉnh Ba Xuyên cho vùng đất này đến năm 1975.

Năm 1965 bãi bỏ đơn vị hành chánh cấp Tổng.

Ngày 11 tháng 12 năm 1965, quận Lịch Hội Thượng được tái lập do tách ra từ quận Long Phú, quận lỵ đặt tại xã Lịch Hội Thượng.

Ngày 26 tháng 3 năm 1966, quận lỵ Thuận Hòa được dời từ Ngã Tư chợ Mỹ Tú đến xã Mỹ Hương.

Ngày 23 tháng 4 năm 1968, một phần đất quận Kế Sách được cắt chuyển về quận Phong Thuận (mới lập) thuộc tỉnh Phong Dinh. Quận lỵ quận Phong Thuận đặt tại Cái Côn (thuộc xã An Lạc Thôn).

Ngày 6 tháng 5 năm 1968, quận lỵ Thạnh Trị được dời từ chợ Ngã Năm (xã Vĩnh Qưới) đến Phú Lộc (xã Thạnh Trị).

Ngày 11 tháng 7 năm 1968, quận Hoà Tú được thành lập do tách đất từ quận Mỹ Xuyên và quận Thạnh Trị, quận lỵ đặt tại xã Hòa Tú.

Ngày 16 tháng 6 năm 1969, quận Ngã Năm được thành lập, quận lỵ đặt tại Ngã Năm (xã Vĩnh Qưới).

Năm 1970

Quận Hòa Tú gồm 2 xã: Gia Hòa, Hòa Tú

Quận Lịch Hội Thượng gồm 4 xã: Lịch Hội Thượng, Liêu Tú, Trung Bình, Viên An

Quận Long Phú gồm 13 xã: An Thạnh Nhứt, An Thạnh Nhì, Châu Khánh, Đại Ân, Đại Ngãi, Hậu Thạnh, Long Đức, Long Phú, Phú Hữu, Song Phụng, Tân Hưng, Tân Thanh, Trường Khánh

Quận Mỹ Xuyên gồm 8 xã: Đại Tâm, Khánh Hưng, Mỹ Xuyên, Phú Mỹ, Tài Văn, Tham Đôn, Thạnh Phú, Thạnh Thới An

Quận Ngã Năm gồm 5 xã: Mỹ Qưới, Tân Long, Vĩnh Lợi, Vĩnh Qưới, Vĩnh Tân

Quận Kế Sách gồm 9 xã: An Mỹ, An Lạc Tây, Ba Trinh, Đại Hải, Kế An, Nhơn Mỹ, Phú Tâm, Thới An Hội, Thuận Hòa

Quận Thạnh Trị gồm 4 xã: Châu Hưng, Thạnh Kiết, Thạnh Trị, Tuân Tức

Quận Thuận Hòa gồm 5 xã: An Ninh, Long Hưng, Mỹ Hương, Mỹ Phước, Mỹ Thuận.

Năm 1972

Quận Hòa Tú gồm 4 xã: Hòa Mỹ, Hòa Thạnh, Hòa Tú, Hòa Vân

Quận Lịch Hội Thượng gồm 4 xã: Lịch Hội Thượng, Liêu Tú, Trung Bình, Viên An

Quận Long Phú gồm 12 xã: An Thạnh Nhứt, An Thạnh Nhì, Châu Khánh, Đại Ân, Đại Ngãi, Hậu Thạnh, Long Đức, Long Phú, Phú Hữu, Tân Hưng, Tân Thanh, Trường Khánh

Quận Mỹ Xuyên gồm 8 xã: Đại Tâm, Khánh Hưng, Mỹ Xuyên, Phú Mỹ, Tài Văn, Tham Đôn, Thạnh Phú, Thạnh Thới An

Quận Ngã Năm gồm 4 xã: Mỹ Qưới, Tân Long, Vĩnh Qưới, Vĩnh Tân

Quận Kế Sách gồm 10 xã: An Mỹ, An Lạc Tây, Ba Trinh, Đại Hải, Kế An, Nhơn Mỹ, Phú Tâm, Song Phụng, Thới An Hội, Thuận Hòa;

Quận Thạnh Trị gồm 6 xã: Châu Hưng, Gia Hòa, Thạnh Kiết, Thạnh Trị, Tuân Tức, Vĩnh Lợi

Quận Thuận Hòa gồm 6 xã: An Ninh, Long Hưng, Mỹ Hương, Mỹ Phước, Mỹ Thuận, Mỹ Tú.

Năm 1973, tỉnh Ba Xuyên gồm 8 quận: Mỹ Xuyên, Thuận Hòa, Long Phú, Thạnh Trị, Kế Sách, Ngã Năm, Lịch Hội Thượng, Hòa Tú.

Nguồn gốc:

Tên gọi Sóc Trăng do chữ Srok Kh’leang, tiếng Khmer mà ra. Srok tức là “xứ”, “cõi”, Kh’leang là “kho”, “vựa”, “chỗ chứa bạc”. Srok Kh’leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là “Sốc-Kha-Lang” rồi sau đó thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng đổi là Nguyệt Giang tỉnh (chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi bị đổi thành Nguyệt Giang)

Đại Nam nhất thống chí viết về Ba Xuyên thuộc tỉnh An Giang nhà Nguyễn như sau: “… Sông Ba Xuyên ở phía Nam hạ lưu sông Hậu Giang, cách huyện Vĩnh Định 8 dặm về phía Bắc, trước là sông Ba Thắc, rộng 15 trượng sâu 8 thước, đi về phía Nam 15 dặm, đổ ra cửa biển Ba Xuyên, đi về phía Tây 60 dặm đến trường Tàu, tức là chỗ tàu biển đỗ. Ở đây người Trung Hoa và người Cao Miên ở lẫn lộn, chợ phố liên tiếp, lại 65 dặm đến ngã ba sông Nguyệt, tục gọi là Sóc Trăng,… Năm Kỷ Dậu (1789) hồi đầu thời trung hưng đặt bảo Trấn Di ở phía Bắc sông Ba Thắc, tức sông này.”

Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu Giang, cách Sài Gòn khoảng 230 km, cách Cần Thơ 60 km, nằm trên Quốc lộ 4 nối liền các tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ) Bạc Liêu, Cà Mau. Có bờ biển dài 70 km và 3 cửa sông lớn là Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra biển Đông Hải./.

(Lê Bình biên soạn)

Tài liệu tham khảo:

Đại Nam Nhất Thống Chí: https://sites.google.com...-nam-nhat-thong-chi-new.

CÔNG NỮ NGỌC VẠN (Ngô Viết Trọng)

Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ba_Xuy%C3%AAn

Edited by user Monday, September 13, 2021 4:37:02 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1795 Posted : Wednesday, September 15, 2021 12:06:56 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Ngó Lên Xã Tắc Hai Hàng Mù U


Tuệ Chương Hoàng Long Hải

September 13, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Người ta chia hoa ra làm nhiều loại khác nhau. Thứ nhứt là hoa vương giả, thường trồng trong cung điện để vua và hoàng gia thưởng thức. Loại nầy gồm các thứ như phù dung, mẫu đơn, quỳnh hoa… Khi hoa nở, vua cùng hoàng hậu, phi tần mỹ nữ xúm lại xem hoa. Hoa đó đẹp lắm, chẳng hạn như hoa phù dung là loại hoa Lý Bạch đem ví với sắc đẹp Dương Quí Phi: “Phù dung như diện, liễu như mi.”

Hoa hồng là loài hoa tình yêu. Ở Mỹ, không ít chàng hằng ngày, hằng tuần mua hoa hồng tặng cho bồ. Ở Việt Nam cũng vậy. Tuy vậy, ông Phan Khôi có bài thơ hoa hồng khá nổi tiếng thời Nhân Văn Giai Phẩm:

Hồng nào mà chẳng có gai
Hay là những thứ hồng dài không hoa
Hồng nào mà chẳng có hoa
Không hoa chỉ có gai mà ai chơi
Ta yêu hồng lắm hồng ơi!

Phan Khôi ví công cuộc khánh chiến chống Pháp giành độc lập như cái hoa, còn gai là Cộng Sản. Vì yêu kháng chiến mà người ta bị gai chích.

Nhưng hoa hồng thường thấy tặng nhau trong giới có học. “Cô ấy” đẹp như hoa hồng. Và chắc gì cô ấy không có gai?!

Thế còn giới bình dân?

Giới bình dân có nhiều loại hoa biểu tượng cho tình yêu. Trong thơ Nguyễn Bính chẳng hạn, đó là hoa mồng tơi. Khi mồng tơi trổ hoa, người ta tìm đến nhau, nhưng “Từ độ mồng tơi thôi trổ lá, Thì cô hàng xóm cũng thôi sang.” Đó là trong thơ! Còn trong văn? Trong “Quê Người” của Tô Hoài, Hời cũng có một người yêu. Tới khuya, khi vắng người, Hời đến nhà người yêu, ném qua cửa sổ một hoa bưởi. Đang dệt vải, ngửi thấy mùi hoa bưởi, cô thợ dệt vải biết người yêu của mình đang chờ ở bên ngoài. Trong cải lương, trước đây có vở tuồng “Hoa Tím Bằng Lăng.” Khi tôi còn ở trại cải tạo, có anh binh nhì địa phương quân, bị bắt về “tội” phục quốc. Khi trại có tổ chức văn nghệ, anh ta thường lên ca một bài cải lương nhan đề “Hoa Tím Bằng Lăng.” Ở tù hơi lâu mà không có án, không biết ngày về, đôi khi anh chàng bỗng sinh bệnh tâm thần, nằm lăn xuống đất la lối, nên bài ca anh ta thường ca được anh em đổi tên là “Hoa Tím Nằm Lăn.”

Hoa biểu tượng cho lòng chung thủy của người vợ là hoa quỳ, tên chữ là hướng dương:

Ca dao có câu:

Lòng em như hoa hướng dương,
Trăm nghìn đổ lại một phương mặt trời.

Trong Chinh Phụ Ngâm, bà Đoàn Thị Điểm viết như sau:

Tin thường lại, người không thấy lại,
Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.

Hoa hướng dương đã tàn mà chưa thấy người chồng về, ý nói người vợ đợi chờ đã lâu.

Hướng dương lòng thiếp như hoa,
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương

Lòng người đàn bà như hoa hướng dương, lúc nào cũng hướng về chồng, là nói tấm lòng của người chinh phụ với chinh phu đang đi đánh giặc ở xa.

Việt Nam thuộc xứ nóng, có nhiều nắng nên cây cỏ dễ mọc, hoa cỏ cũng vậy. Ở nhà quê, người ta nhìn hoa, hái hoa để tặng nhau nên cũng có nhiều loại hoa tượng trưng cho tình của chàng đối với nàng hay ngược lại. Chẳng hạn như “Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân” để tặng cô hàng xóm bên kia hàng rào mà than rằng “Em có chồng anh tiếc lắm thay…”

Có những hoa nghe tên rất hay. Hoa mơ chẳng hạn. Người nấu thịt chó phải dùng thêm lá mơ. Tôi chưa từng ăn thịt chó nên không rành. Ở xứ tôi người ta không gọi là hoa mơ, mà gọi là hoa thúi địt (Xin lỗi độc giả). Có một thứ mọc hoang bên bụi gọi là bông lẹo, tụi trẻ dặn nhau đừng hái bông đó mà chơi, dễ bị mụt lẹo nơi mắt. Một số loại hoa có tên bắt nguồn từ thực tế.

Sau nầy, nhiều loại hoa được đưa vào văn chương, thi nhạc, chẳng hạn như hoa phượng để nói tới chuyện tình cảm đám học trò choai choai, hoa mắc cở. Người Nam gọi là mắc cở, người Bắc văn vẻ hơn, gọi là hoa trinh nữ. Trần thiện Thanh, trong bài hát của ông, biến hoa trinh nữ thành một thiên tình sử giữa một đấng quân vương và giai nhân.

Loài hoa tôi nói ở đây, tên nghe cũng không văn vẻ gì, nôm na lắm, đó là hoa mù u. Ngày xưa, người ta trồng cây mù u vì hai lý do. Một là để lấy dầu thắp đèn, hai là có bóng mát. Cây mù u lá dày, tàng cây rậm, cho bóng mát rất tốt.

Dĩ nhiên, ngày xưa không có ngọn đèn thắp ngược như lời tấu trình của chánh sứ Phan Thanh Giản với vua Tự Đức, khi ông ta đi Pháp xin chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Bộ về. Các loại đèn thường có hồi ấy là đèn thắp bằng mỡ, bằng dầu. Mỡ thì dùng mỡ heo, khi bấc cháy, có mùi khét. Dầu lạc không hôi nhưng mắc tiền, chỉ có dân hít-tô-phe mới dùng đèn dầu lạc. Ngoài ra còn có đèn dầu chai, dầu chai là dầu lấy ở câu dầu trong núi, đốt rất sáng.

Ca dao có câu:

Ai ơi chớ phụ đèn chai,
Thắp trong nhà ngói, rạng ngoài nhà tranh

Thông dụng là đèn dầu mu u, vừa rẻ, vừa ít khói mà lại sáng.

Vì nhu cầu ánh sáng, người dân ta trồng nhiều mù u.

Võ mù u cứng, bọn trẻ dùng làm bi để đánh chơi. Các bà cụ bán nước mắm, cắt vỏ mù u như cái gáo dừa, tra một cái cán để múc nước mắm trong hủ, bán cho khách hàng. Ngày xưa không có chai thủy tinh như ngày nay. Đồ nung bằng đất sét thì nhiều. Hủ làm bằng đất sét.

Từ việc trồng mù u để lấy dầu, mới sinh ra sáng kiến đánh Tây bằng trái mù u. Năm 1857, Pháp và Tây Ban Nha đánh Đà Nẵng, do tướng Regault De Genouilly chỉ huy. Pháp thì tàu sắt súng đồng, còn quân ta chỉ có gươm giáo, không tới gần quân Pháp và Y Pha Nho được. Quân ta bèn lấy trái mù u rải giữa đường, rồi phục binh hai bên. Quân địch mang giày sơn-đá (soldat), tới chỗ rải mù u, bị trơn trượt, té xuống đất. Quân ta bèn xông ra đánh giáp lá cà. Một phần vì quân ta gan dạ, một phần vì bị bệnh thời khí, vã lại ông cố đạo Pellerin có hứa rằng, hễ quân Tây Dương tấn công thì người có đạo trong nước sẽ nổi lên tiếp ứng, nhưng chờ lâu không thấy gì, bèn rút đi.

Trong Đại Nội ngày xưa cũng dùng đèn mù u. Có phải vì vậy mà ở nền Xã Tắc trồng nhiều mu u để lấy dầu cung cấp cho triều đình. Huế có mấy câu ca dao:

Văn Thánh trồng thông,
Võ Thánh trồng bàng,
Ngó lên xã tắc hai hàng mù u.

Tại sao Văn Thánh trồng thông, Võ Thánh trồng bàng mà không trồng ngược lại?

Tại vì cây thông gần với Văn hơn Võ. Nguyễn Công Trứ có câu thơ:
Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.

Đến đầu thế kỷ 20, Võ Liêm Sơn cũng viết:
Bên mồ có mọc một cây thông

Để cho xương thịt máu vun trồng
Theo gió reo lên một khúc nhạc
Kêu vang chín chín ngọn non Hồng.

Sự gần gủi giữa cây thông với văn học, triết học (Lão giáo) không phải đến Nguyễn Công Trứ mới có tư tưởng ấy, có lẽ trước đó đã lâu.

Còn trồng bàng?

Bàng là loại cây cho nhiều bóng mát. Trồng bàng là để tạo nên bóng im cho các quan khi họ đến Võ Thánh vào những ngày lễ cúng.

Bây giờ Võ Thánh không còn, mà thông Văn Thánh cũng bị đốn cả, khi Tây tái chiếm Huế và đóng đồn ở đây. Sau nầy là một trung tâm huấn luyện của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

Ông Ngô Đình Diệm chủ trương chấn hưng Khổng Giáo tại sao lại không chỉnh đốn, tu sửa Văn Thánh là nơi thờ ông Khổng Tử và thất thập nhị hiền. Chấn hưng là chấn hưng cái văn hóa đó trong đời sống dân tộc, trong sự Trung-Hiếu (Trung với nước, Hiếu với cha mẹ). Cái Trung đó cũng có lợi cho cái ghế tổng thống của ông Ngô Đình Diệm ít nhiều, bớt lo bị đảo chánh; chớ còn việc dựng lại bàn thờ để cúng thờ ma quỉ thì đâu có hợp với một người theo đạo thiên Chúa. Bát nhang thờ ông bà còn ra nằm ngoài hàng rào thì sá chi một ông thánh mặt mày lạ hoắc đời xửa đời xưa nào đó ở tận bên Tàu?!

Sau 1945, Xã Tắc không còn mù u. Người dân chặt làm củi hết rồi. Trong nội thành Huế, chỉ còn con đường trước Tam Tòa là còn hai dãy mù u trồng hai bên. Lá mù u lớn, chứa nhiều nước nên giọt nước trên lá mù u rớt xuống vừa to vừa nặng, tiếng kêu cũng lớn. Nhà thơ Đỗ Tấn tả cảnh đêm mưa ở Huế với cây mù u như sau:

Đêm Huế mưa buồn như em không nói

Những cây mù u gục đầu
Lạnh về cắn xé đêm thâu.

Về mùa xuân, mù u nở hoa. Hoa mù u xấu, nhỏ lại nở trên tàng cây cao và lớn, ít ai thấy, để ý. Ít ai dùng hoa mu u để biểu tượng cho con gái, tuổi trẻ, hạnh phúc. Vì vậy ca dao có câu:

Bướm vàng đậu trái mu u
Lấy chồng càng trẻ lời ru càng buồn.

Người thì đẹp lấy người chồng không “xứng đôi vừa lứa” như con bướm vàng đậu trên cái bông mu u thì đời vui làm sao được. Vì vậy mà tiếng ru con nghe sao buồn lắm!

Có một người từng học hành lớn lên ở Huế, cảm nhận được “Hồn Thu Thảo” của người xưa qua bóng cây mù u nên bày tỏ tấm lòng hoài cổ qua bài thơ như sau:

DẤU HOÀNG CUNG

Hoàng Thành lấp loáng ánh mù u
Cảnh cũ người xưa dáng mịt mù
Giọng hát liêu trai chiều nắng xế
Tiếng đàn cung nữ buổi trăng lu
Phấn hương ràng buộc đời nô lệ
Kinh sử xua tan nỗi hận thù
Xa giá xiêm y thời cổ tích
Lâu đài soi bóng nước hồ thu.

Lê Ngọc Phái
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1796 Posted : Wednesday, September 15, 2021 12:14:30 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Tại Gia Tòng … Mẫu


Bùi Quý Chiến

September 12, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Ca dao phản ảnh phong tục tập quán. Qua ca dao ta biết ngày xưa mẹ là người mà con gái phải phục tùng. “Tại gia tòng phụ” của Nho giáo không ảnh hưởng gì tới văn hóa Việt nam. Sự kiện lớn nhất đời con gái là lấy chồng. Nhưng lấy ai là quyền của mẹ

mh conmeCa dao phản ảnh phong tục tập quán. Qua ca dao ta biết ngày xưa mẹ là người mà con gái phải phục tùng. “Tại gia tòng phụ” của Nho giáo không ảnh hưởng gì tới văn hóa Việt nam. Sự kiện lớn nhất đời con gái là lấy chồng. Nhưng lấy ai là quyền của mẹ. Mẹ nào chẳng muốn con sung sướng, nên có ca dao rằng:

Canh suông khéo nấu thì ngon
Mẹ già khéo tán thì con đắt chồng .

(Canh suông là canh chỉ có rau nấu với mắm muối, không có thịt hoặc cá. Ngụ ý con gái không đẹp nhưng mẹ biết cách ăn nói thì con vẫn đắt chồng.)

Tuy nhiên con có thể bị ế chồng nếu mẹ quá kén rể:

Trăng khuyết rồi trăng lại tròn
Mụ còn kén rể con còn góa lâu.

Có khi con bị ép duyên vì mẹ gả con như mua bán:

Mẹ em tham thúng xôi dền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng
Em đã bảo mẹ rằng: Đừng!
Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào
Bây giờ kẻ thấp người cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

(Tiền Cảnh Hưng = tiền phát hành vào đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786) niên hiệu Cảnh Hưng.)

Nhưng chưa tội nghiệp bằng cô gái miền Nam thời các Chúa Nguyễn khẩn hoang lập ấp. Bị ép lấy chồng nơi xa xôi hẻo lánh, cô van xin mẹ:

Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.

(Có vào trong rừng sâu mới biết tiếng hú của vượn thê thảm như thế nào. Dường như vượn hú từ ruột gan chứ không phải từ cuống họng.

Có 3 loại chim phát tiếng khác nhau: loại hót thì nghe vui tai, loại gáy thì vui hoặc buồn, nhưng loại kêu thì ma quái như quạ, cú, các loài sơn điểu và hải âu. “Chim kêu vượn hú” dùng để chỉ rừng tràm hoang dại ở Đồng Tháp và Cà Mau thời các Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi.)

Ca dao là văn chương của giới bình dân nên có người cho rằng Nho giáo không thấm nhuần tới giới này. Tuy nhiên con gái phục tùng mẹ vẫn là phong tục chung cho cả giới Nho học. Một bài văn nôm của Lê Quý Đôn viết theo thể kinh nghĩa với đề tài “Mẹ ơi con muốn lấy chồng” chứng tỏ điều này. Sau đây là vài đoạn con gái tâm sự với mẹ:

Nói nhỏ tình riêng cùng mẹ, muốn sao muốn quá thế vậy…
Tuổi bằng này mà không vẫn hoàn không, lỡ bước quá long đong sao, hả mẹ?…
Ôi buồng hương lạnh lẽo, tuy đã có áo đơn lồng áo kép, sao bằng da nọ ấp da kia, phỏng con mà già kén kẹn hom, quá mù ra mưa, lờ đờ trông bóng trăng chi quạ.
Mà duyên phận vuông tròn, thì sum vầy cành trúc tựa cành mai, ríu rít tiếng cầm pha tiếng sắt, phỏng con chẳng có tình rình bụi, lỡ ra tha bước, lênh đênh trôi mặt nước chi bèo.
Nghĩ nguồn cơn phàn nàn cái số, nông nỗi này mẹ đã thấu cho chưa? (1)

Bài này tuy tác giả thay lời cô gái nhưng phải phù hợp với phong tục thời đó.

Trong giới quý tộc, ý muốn của con gái không phải lúc nào cũng được mẹ chiều chuộng. Bằng chứng là một truyện tình tuyệt vọng vào đầu thế kỷ 19 được người trong cuộc tự thuật qua văn chương.

Khi vua Quang Trung phá tan giặc Thanh tại Thăng Long, triều Lê sụp đổ. Một số cựu thần khởi binh nhằm khôi phục nhà Lê, trong đó có Trạch Trung Hầu (tước hiệu của một cựu thần). Khi cựu thần này chết, con là Phạm Thái nối chí cha. Nhưng vì thất bại và bị tầm nã, chàng phải giả dạng tu hành tại chùa Tiêu Sơn, Bắc Ninh. Kế đó chàng được bạn là Trương Đăng Thụ đang làm quan ở Lạng Sơn đón lên cho ẩn náu. Không lâu, Trương Đăng Thụ chết. Phạm Thái về quê bạn ở Nam Định để phúng viếng. Tại đây chàng gặp em gái bạn là Trương Quỳnh Như. Cùng dòng dõi thế gia vọng tộc, chàng và nàng yêu nhau. Người cha có ý thuận nhưng bà mẹ quyết chia uyên rẽ thúy. Thất vọng, chàng ra đi lấy rượu tiêu sầu, làm thơ phú giải muộn và viết truyện “Sơ kính tân trang” thuật lại mối tình của mình.

Về phần Quỳnh Như, nàng phát bệnh vì buồn rồi chết. Sau đó Phạm Thái cũng chết vì rượu. Khi ấy chàng mới 37 tuổi (1777-1813).

Truyện thật này chứng tỏ quyền của mẹ áp đặt lên con gái vào đầu thế kỷ 19 vẫn còn khắt khe.

Bước thứ nhì sau khi lấy chồng là về nhà chồng. Nho giáo coi “xuất giá tòng phu” là nghĩa vụ. Nhưng cô gái Việt theo chồng vì tình yêu hơn là nghĩa vụ. Có 3 câu ca dao chứng tỏ điều này.

Lại cô gái tội nghiệp miền Nam :

Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.

(Trước khi lấy chàng thiếp sợ “chim kêu vượn hú”, bây giờ là vợ chàng, hương lửa bén duyên, thiếp thương chàng, xin chàng cho thiếp đi cùng để chia xẻ với chàng đói no ấm lạnh.)

Cô thứ nhì vội vã sang sông :

Vai mang khăn gói sang sông
Mẹ kêu mặc mẹ, thương chồng phải theo.

(Con quỷ! Tao kêu mày đâu phải vì cái cối, cái chày, cái cọc cầu ao (2). Mấy cái đó dã có bố mày thay mày rồi.Tao kêu mày đứng lại để tao dặn dò đôi điều. Mà thôi, đi đi! Đừng ngó lui mà tao khóc.)

Cô thứ ba khiến ta sửng sốt khi nghe cô thốt ra sự thật từ đáy lòng :

Mẹ cha bú mớm nâng niu
Tội Trời thì chịu, không yêu bằng chồng.

Rất ngay thẳng và mạnh dạn, cô nói ra 3 điều:

Thứ nhất, cô biết công ơn cha mẹ bú mớm nâng niu.
Thứ nhì, cô có yêu cha mẹ nhưng thú thật không bằng yêu chồng.
Thứ ba, cô biết như vậy là có tội với Trời nhưng vì yêu chồng, cô cam chịu tội.

(Thần Venus (3) phán rằng: “Nếu Trời bắt tội con chết, ta sẽ phong Thánh cho con: THÁNH CỦA TÌNH YÊU VỢ CHỒNG”.)
Bùi Qúy Chiển
(Đặc San Lâm Viên)

Ghi chú:

(1) Tác giả dùng những tục ngữ: già kén kẹn hom, quá mù ra mưa, lờ đờ như quạ trông bóng trăng, có tình rình bụi… mà không dùng điển tích của Tàu. Câu “lỡ ra tha bước” đồng nghĩa với “sa chân lỡ bước” . Miền Bắc có vùng nói phụ âm s thành th (sất phu = thất phu).

(2) Ca dao có câu:

Giã ơn cái cối cái chày
Đêm khuya giã gạo có mày có tao
Giã ơn cái nhịp cầu ao
Đêm khuya giã gạo có tao có mày.

Phạm Duy đã dùng ca dao này trong Trường ca Con Đường Cái Quan.

(3) Theo thần thoại Hy lạp , Venus là thần chủ về sắc đẹp và tình yêu.

Edited by user Wednesday, September 15, 2021 12:15:13 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1797 Posted : Wednesday, September 22, 2021 8:47:52 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Vài cảm nghĩ về tình tự dân tộc

Miền Nam và Ca Dao


Hòa Đa


Kính Tặng Má,
tặng Hồng, vợ tôi,
người đã ru con bằng ca dao.

Một trong những thiếu sót trong chương trình học ở Việt Nam từ trước đến nay là sự mất cân đối trong việc giới thiệu đến học sinh những dữ kiện về văn học theo sự phân bố về địa dư.

Nói cho rõ hơn, chương trình văn ở bậc trung học nghiêng nặng về những tác giả tác phẩm ở ngoài Bắc và đã bỏ quên những sinh hoạt văn học trong Nam. Không thể chối cãi là ở trung học, chúng ta học quá nhiều về Tự Lực Văn Đoàn, về Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo... mà không hề nói gì về những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc...chẳng hạn; chúng ta học quá nhiều về Nam Phong, Đông Dương tạp chí, học Nguyễn văn Vĩnh, Phạm Quỳnh... mà không nhắc gì về Gia Định Báo, Phụ Nữ Tân Văn, Phan Khôi...

Có thể nói, trong mọi lãnh vực về văn học ở chương trình trung học, miền Nam đã bị bỏ quên, khiến cho sau bao nhiêu năm, sự lãnh hội về kiến thức trong chúng ta về văn học đã bị thiếu sót. Ca dao miền Nam cũng chịu chung số phận như thế.

Mặc dù không hề được nhắc đến ở trường học, nhưng ca dao miền Nam vẫn có sức sống của nó. Chẳng những thế nó còn được phát triển mạnh và là một sinh hoạt tiềm tàng trong cuộc sống của người bình dân, cho dù chúng ta không còn thấy những màn hò đối đáp trong công việc hàng ngày ở trên đồng ruộng, sân lúa hay trên sông rạch như tiểu thuyết đã mô tả. Nó nằm ngay trên cửa miệng người bình dân, họ đọc ra như một phản xạ tự nhiên phù hạp với hoàn cảnh đang xảy ra không chê được.

Chẳng hạn, thấy một chàng trai ở rể bị lợi dụng, miệng đời đã có câu đàm tiếu:

Công anh làm rể đốn rào
Tào lao phất ngọn, chớ nào vợ anh? (1)

Câu này làm chúng ta nghĩ ngay đến câu tương tự ở ngoài Bắc:

Công anh làm rể chương đài
Một mình ăn hết mười hai vại cà,
Giếng đâu thì dắt anh ra
Không thì anh chết với cà nhà em.

Hay để trêu chọc sự dan díu ngoài khuôn phép của gia đình và xã hội của một đôi trai gái, chúng ta đã có sẵn câu:

Mùng ba thì có trăng non,
Anh đi lên xuống có con anh bồng

Nó cũng nằm ngay trong câu hát ru con của các mẹ, các chị bình dân, những câu ca dao cứ tuần tự tuôn ra một cách tự nhiên, không gò ép, không sửa soạn, cứ hết câu này đến câu khác, ru trẻ vào giấc ngủ. Nhiều khi họ còn dùng để diễn tả, kể lể tâm trạng của họ:

- Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.

- Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi

- Giả đò mua khế bán chanh
Giả đi đòi nợ thăm anh đỡ buồn

...
Năm 1970, tôi về làm việc tại một tỉnh nhỏ ở đồng bằng Cửu Long nên có dịp tiếp xúc với người bình dân, nông dân.

Sau 1975, do chính sách của chính quyền Việt Nam lúc bấy giờ, tôi lại có dịp sống hẳn ở nông thôn, gần gũi với nếp sống bình dị, làm quen với cách ứng xử, sinh hoạt của họ. Do đó xin nêu lên vài cảm nhận có tính rất chủ quan về ca dao miền Nam.

Tôi không có tham vọng trình bày về ca dao miền Nam như một bài khảo cứu, công việc này xin dành cho những nhà biên khảo hay cho những công trình luận văn cao học, tiến sĩ. Cũng xin nói thêm, vì sự thuần nhất (một cách tương đối) về âm sắc trong cách nói, sự tương đồng về sinh hoạt, xin được nới rộng yếu tố địa dư miền Nam ra đến phần đất tam Phan (Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết) mà do sự phân chia hành chánh, vùng này được xếp vào Trung phần. Và cũng xin nhấn mạnh bài viết chỉ nhằm đóng góp, nêu lên một phần di sản văn hóa bị bỏ quên trong văn học sử, tuyệt nhiên không có ý phân biệt địa phương.

I. Vài nét về sự hình thành cư dân Miền Nam

Kể từ sau cuộc hôn nhân Việt -Chiêm giữa Huyền Trân Công Chúa và Chế Mân , nước Việt chúng ta có thêm hai châu Ô, châu Rí (Thế kỷ XIV, XV).

Để đối kháng với thế lực thống trị từ phía Bắc, Việt Nam cần phát triển hậu cứ, lập nền tảng kinh tế để phát triển tiềm năng kháng cự với Tàu, nên đã bắt đầu chú ý đến việc phát triển về địa lý vào phương Nam. Nhưng phải chờ đến khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá (năm 1558) và tuyên xưng là Chúa Nguyễn (năm 1600), hướng phát triển vào Nam mới được phát triển một cách có qui củ để tạo thành một thế lực ngang ngửa với chúa Trịnh ở miền Bắc.

Với chính sách tầm ăn dâu, người Việt cứ bành trướng dần vào Nam. Những người tiền phong là những lính thú khai hoang lập ấp, họ là những người vừa chiến đấu vừa sản xuất. Họ cũng là những lưu dân từ vùng Thanh Nghệ, tìm đến phần đất của chúa Nguyễn để sinh sống, người có tài như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Cảnh... thì được trọng dụng, người bình dân thì được đưa vào dần trong Nam theo chân các tập đoàn quân sự khai hoang lập ấp. Họ cũng là những tù, hàng binh của Trịnh do Nguyễn bắt được, đưa sâu vào Nam để dễ bề quản thúc, kiểm soát...

Cũng có những cuộc tình duyên có tính chính trị nhằm mở rộng lãnh thổ như cuộc tình duyên của công chúa Ngọc Hoan (hay Ngọc Vạn?) với vua Miên Chey Chetty dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi), bà hoàng người Việt này đã mang theo nhiều người Việt vào sinh sống ở vùng đất Chân Lạp.

Sang thế kỷ XVII, các di thần nhà Minh không chấp nhận Thanh Triều đã đem bộ hạ và gia quyến vào xin đầu phục Chúa Nguyễn, Chúa Hiền cũng cho vào định cư vùng Đồng Nai, Biên Hòa (Trần Thắng Tài), Mỹ Tho (Dương Ngạn Địch, TrầnThượng Xuyên) và sau đó (2) vùng đất Hà Tiên do Mạc Cửu mộ dân khai thác được dâng cho Chúa Nguyễn.

Khi Gia Long lên ngôi, một trong những chính sách quan trọng ở miền Nam là ổn định đời sống về kinh tế, miễn thuế cho cư dân thuộc vùng đã giúp nhà vua khi còn bôn đào trong thời chiến tranh với Tây Sơn. Sau Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị đã cho phát triển những đơn vị bán quân sự, cho đào kinh (3) khuyến khích việc mộ dân lập làng, tiếp tục miễn giảm thuế cho những vùng vừa khai thác nên dân số ngày càng đông .

Thành phần cư dân hình thành trong vùng gồm phần đông là binh lính, di dân Việt từ Thuận-Quảng chuyên làm ruộng ít học, sau đó là người Miên, sống rải rác trong các sốc (làng Miên) trên những vùng đất cao ráo và người Hoa làm rẫy hay buôn bán, tập trung cạnh các con sông lớn, tạo thành những thị tứ thịnh vượng. Phát triển của vùng này chỉ được chú trọng vào quân sự và kinh tế, còn văn hóa chỉ phát triển có hệ thống về phía tôn giáo ở các miếu, đình, chùa.

Hơn thế kỷ sau, Pháp xâm chiếm Việt Nam, chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ, miền Nam gần như mất hẳn ảnh hưởng chính quyền trung ương, văn hóa miền Nam cũng theo trào lưu đó mà biến đổi. Nền học cũ bị bãi bỏ, cái học mới chỉ để phục vụ cho chế độ thực dân. Đại đa số người dân miền Nam thiếu học, lại mất đi nguồn bổ sung nhân lực chính là các binh lính từ các phiên trấn thuộc chính quyền trung ương, sinh hoạt văn hóa thông thường và dễ dãi của người bình dân là hát hò với nhau.

Với sự hinh thành về thành phần cư dân cho vùng đất miền Nam như thế, Sự giao lưu về văn hóa giữa ba nhóm cư dân nói trên (Việt, Miên, Hoa) nhất định phải xảy ra và vì vậy, chúng ta không thể không để ý đến tính đa văn hóa sẽ phát triển trên vùng đất này và có thể giải thích được tại sao văn hóa miền Nam không bị gò bó vào khuôn mẫu và có tính cách thuần nhất như ở miền Bắc. Người bình dân, lính thú... thiếu học, đơn giản, sống tương đối rải rác sẽ khó có thể có những sinh hoạt văn hóa dựa trên chữ viết, sân khấu... mà sinh hoạt truyền miệng, phóng khoáng hơn, dễ dãi hơn được phát tirển mạnh.

Có điều nhận xét khá lý thú là âm sắc trong ngôn ngữ càng vào sâu trong Nam càng nhẹ dần, nhưng vốn từ vựng từ phía nam Hải Vân vẫn còn được duy trì thống nhất và được phát triển thêm, làm giàu thêm trong suốt chiều dài phát triển lãnh thổ về phía nam (4) .

Tinh thần văn hóa ở phần đất này có những độc đáo, tự nhiên, bình dị và đôi khi đi đến sỗ sàng, trong khi tinh thần văn hóa ở phần đất thuộc Đàng Ngoài (thuộc chúa Trịnh) đã đạt đến mức tinh luyện, khuôn mẫu, nghiêm túc.

Người dân miền Nam chịu ảnh hưởng của luồng văn hóa có tính bình dân của các văn nhân theo vào với Chúa Nguyễn trong giai đoạn đầu đan kết với những luồng văn hóa của Khmer, Hoa, Pháp, cộng với điều kiện sinh hoạt dễ dàng, đất rộng người thưa, sông sâu nước chảy, tài nguyên thiên nhiên thừa thải. Họ sống bình dị, không muốn bó mình trong những khuôn mẫu có sẵn là điều dễ hiểu. Có khi do điều kiện sinh hoạt riêng rẽ (trong giai đoạn đầu tiên không phải ở làng xã nào cũng có những bậc túc nho hay người biết chữ), nên sự tùy tiện trong giải thích hay trong sinh hoạt văn hóa làm nảy sinh tính dễ dãi, uyển chuyển, sao cũng được, miễn là mọi người vui và hạnh phúc là được rồi. Hơn nữa, đối với những con người tiền phong, sau những lúc phấn đấu với thiên nhiên còn mang tính hoang dã:

Xứ đâu có xứ lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh

hay

Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um

thì trong những lúc có dịp ngồi lại với nhau như sau vụ mùa, buổi chợ, trong những dịp ma chay cưới hỏi, cất nhà... người bình dân còn có nhu cầu giải trí nào khác ngoài những dạng nói thơ, kể chuyện tiếu lâm, hát, hò....? Họ không có khả năng ngâm vịnh, sáng tác.

Ca dao miền Nam đã phát triển trong chiều hướng đó. Chính yếu tố bình dị, nghĩ sao nói vậy, mộc mạc, dễ hiểu đã làm cho ca dao miền Nam có sức sống rất mạnh, được quần chúng chấp nhận dễ dàng và do đó làm ảnh hưởng đến sự sinh hoạt và tư tưởng của quần chúng:

- Hủ qua (khổ qua) xanh, hủ qua trắng
Hủ qua mắc nắng hủ qua đèo
Thương em, thì anh làm giấy giao kèo
Lăn tay điểm chỉ mới thiệt con mèo của em

- Thấy em gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hun

thật khó tìm thấy những câu tương tự như vậy ở ca dao miền Bắc.

II. Vài tính chất có tính đặc trưng

Ca dao, ở đâu cũng vậy, là sản phẩm của quần chúng. Chúng ta không biết tác giả hay hoàn cảnh sáng tác, nhưng chúng ta biết chắc một điều: ca dao được người bình dân biết đến, sử dụng và truyền bá. Không có quần chúng, ca dao nói riêng, văn chương bình dân nói chung không thể phát triển và lưu truyền.

Qua ca dao, chúng ta có thể mường tượng được nếp sinh hoạt, hoàn cảnh sống và phần nào tâm tư của người bình dân. Do vậy, tuy ca dao có những cái chung nhưng cũng có những cái riêng của vùng. Chúng ta khó có thể tưởng tượng được ca dao miền Nam lại có những câu nói về núi cao, ao cá:

- Núi cao chi lắm núi ơi,
Che khuất mặt trời, không thấy người yêu.

- Tiếc công anh đào ao nuôi cá,
Năm bảy tháng trời, người lạ tới câu.

dù trên thực tế, không phải người dân miền Nam không biết núi, biết ao.
Chúng ta thử lược qua những tính chất đặc sắc của ca dao miền Nam.

1/ Tính uyển chuyển.

Một trong những nét dễ nhận thấy là người miền Nam không chịu bó trong những khuôn mẫu có sẵn, có lẽ do cuộc sống quá được ưu đãi từ thiên nhiên hào phóng, con người cũng trở nên phóng khoáng. Từ một câu có tính nhận xét trong đời sống hàng ngày, mà chúng ta thấy ở đâu cũng đúng:

Chiều chiều quạ nói với diều
Tìm nơi đống trấu có nhiều gà con

vào đến miền Nam chúng ta nghe thấy nó biến thể thành:

Chiều chiều quạ nói với diều
Cù Lao Ông Chưởng (5) có nhiều cá tôm

Người miền Nam có thể chuyển nhóm chữ "Cù Lao Ông Chưởng" thành một nhóm chữ nào đó thích hợp với địa danh họ đang sống, họ chẳng hề bị bó buộc phải rập khuôn theo câu ca có sẵn. Vùng Ô Môn, Bình Thủy (Cần thơ) cũng có câu tương tự, chỉ đổi bốn chữ cù lao Ông Chưởng bằng bốn chữ Ô Môn Bình Thủy. Chúng ta có thể tìm thấy dạng này khắp nơi ở miền Nam, lâu dần chúng ta không còn biết câu nào là nguyên bản, câu nào là sao chép. Ở vùng Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười chúng ta có câu:

Nước chảy Láng Linh, chảy ra Vàm Cú
Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun

Nhưng vùng Trà Cú (Vĩnh Long - Vĩnh Bình), ta lại nghe:

Nước chảy sông xa, chảy qua Trà Cú
Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun

Một câu khác mà chúng ta ai cũng biết:

Nam Vang đi dễ khó về,
Trai đi có vợ, gái về có con

để chỉ Nam Vang là xứ ở xa, rất xa, đi lại không tiện, ai đi Nam Vang (nghĩa là qua Miên) làm ăn thì thường lập gia đình luôn ở bên ấy. Ở miền Nam, chúng ta nghe không thiếu gì câu hát trên, chì đổi chữ Nam Vang thành Long Xuyên, Cần Thơ, Gò Công... và nghe những câu ấy, chúng ta cảm được cái tình ấm áp của người địa phương làm cho kẻ lãng du phải dừng chân:

Tới đây thì ở lại đây,
Chừng nào bén rễ xanh cây rồi về

Thật ra. tính uyển chuyển vừa nêu không phải là một đặc thù của ca dao miền Nam, nhưng ở miền Bắc và miền Trung, những dị bản của những câu ca dao ít tìm thấy hơn ở trong Nam. Một trong những câu điển hình là câu:

Gió đưa cành trúc la đà
Hồi chuông Trấn Quốc, canh gà Thọ Xương

ở ngoài Bắc, vào đến Huế biến thành:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.

Cũng vì tính chất này mà ở miền Nam, chúng ta thấy ca dao thường ở dạng lục bát biến thể nhiều hơn. Số chữ trong mỗi câu hoàn toàn tùy thuộc vào cách nói, không bị gò cho đủ 6 hay 8 chữ, miễn sao diễn tả đủ ý muốn nói và có vần điệu dễ đọc, dễ nhớ. Phải chăng tính thực tiển và phóng khoáng của người dân Nam bộ đã làm cho sự uyển chuyển dễ xảy ra hơn? Nhân đây, xin nói thêm về tính uyển chuyển đó: ở trong Nam: Ai đã từng sống ở nông thôn vùng Cửu Long đều biết, khi cúng dựng nhà người nông dân miền Nam thường bày dĩa trái cây trên bàn thờ theo công thức: dừa, đu đủ, xoài; hay mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài biểu thị lòng mơ ước của họ: vừa đủ xài hay cầu vừa đủ xài, họ không bao giờ cúng chuối, dù trên bàn thờ của gia đình vào ngày Tết, cho rằng như vậy là chúi nhủi, khác với cư dân từ Nha Trang vào đến Xuân Lộc luôn có chuối trên bàn thờ, bất luận dịp nào- Đó là do cách phát âm trong Nam không phân biệt dừa và vừa, xoài và xài, chuối và chúi. Ở đồng bằng Nam Bộ người ta chỉ bày chuối trên bàn thờ Phật. Cũng do sự dễ dãi trong phát âm, không chàng trai gốc ngoài Bắc hay Trung nào, lần đầu tiên khi vào miền Nam (đặc biệt miệt vườn Cửu Long) không hết hồn khi gặp mấy cô gái ruộng tay cầm vòng hái (lưỡi hái) chấp lại kính cẩn chào xin vái thầy hay bị chới với khi cô gái vườn niềm nở mời hôm nào "quởn" ( hưởn), mời anh vô vườn em chơi. Xin nhắc lại là người miền Nam không phân biệt được âm v và âm d, gi .

2/ Tính cường điệu:

Người bình dân miền Nam nói riêng, và cả nước nói chung ít học, nhưng ở miền Nam, người bình dân lại thường ra vẻ "ta đây" hay chứng tỏ mình ngon lành, thích nói chữ như muốn chứng tỏ mình là người hay chữ, đôi khi không trúng trật vào dâu

- Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm
Bủa xua (6) ông Tham biện, chớ bạc tiền ông để ở đâu?

- Cách một khúc sông, kêu bằng cách thủy (?)
Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa (7) ...

Chính vì tính hay phô trương không đúng chỗ, nên chúng ta đừng chờ đợi ở ca dao miền Nam những cách sử dụng đúng từ ngữ, diễn tả đúng cách, đúng chỗ. Cái mà chúng ta thường gặp ở đó là những cách nói vô nghĩa, cốt chỉ có vần, có điệu; nhất là trong các câu hò, chúng ta thấy hình như họ cố ý kéo dài câu hò, nói lan man, cốt để tranh thủ thời gian tìm ý. Họ thường ưa nói quanh co, không đi ngay vào đề tài chính, mà đôi khi lối quanh co này chẳng dính dáng gì đền việc họ muốn nói. Muốn trêu chọc một cô gái, chàng trai nói lan man:

Đầu giồng có bụi chuối
Cuối giồng có cây đa
Ngã ba đường cái có cây tơ hồng
Con gái chưa chồng, cái lòng hực hở,
Con trai chưa vợ, ruột thắt tầm canh

để cuối cùng mới nói :

Ngó lên mây trắng trời xanh,
Ưng đâu cũng vậy, ưng anh cho rồi

hay cô gái muốn từ chối nhẹ nhàng lời tỏ tình của chàng trai vì còn phải lo phụng dưỡng cha mẹ già (không chừng đó chỉ là cái cớ nêu ra để từ chối), cô không nói thẳng vào vấn đề, mà xa xôi bóng gió trước:

Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc
Gió nào độc cho bằng gió Nam Vang
Một tiếng anh than, hai hàng lụy nhỏ
Có chút mẹ già, biết bỏ ai nuôi ?

Ta thấy ngay, tính chất này khác hẳn với cách nói có tính cách khuôn mẫu ở ngoài Bắc, người dân miền Bắc thường nghiêm túc hơn, trữ tình một cách khách sáo hơn, mang ít nhiều tính nghệ thuật hơn, và thường "đi thẳng" vào vấn đề hơn:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay...

hay khen tặng vẻ đẹp của cô gái một cách kín đáo trong:

...Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay,
Đừng rửa lông mày chết cá ao anh.

Kiểu nói dông dài này gặp rất thường trong ca dao miền Nam, nơi mà con người thường ồn ào chứng tỏ sự "thông thái" của mình một cách rất dễ dãi, mà cũng rất dễ thương :

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.

hay:

Tàu xúp lê một, còn thương còn nhớ
Tàu xúp lê hai, còn đợi còn chờ
Tàu xúp lê ba, tàu ra biển Bắc,
Tay vịn song sắt, nước mắt ròng ròng
Thương em từ thủa mẹ bồng
Bây giờ em lớn, em lấy chồng bỏ anh!

3/ Tính trữ tình

Trữ tình vốn là một thuộc tính của tình nam nữ, cho dù ở phần nào của đất nước, người bình dân diễn tả tình cảm của mình một cách rất nhẹ nhàng, thoải mái. Quả thật, kho tàng văn chương bình dân cho ta vô vàn những câu tỏ tình bóng gió có, lộ liễu có, và rất đậm tình quê hương. Miền Nam cũng không ra khỏi thông lệ đó. Ca dao miền Nam dùng để tỏ tình có nhiều như bất cứ vùng nào của đất nước. Ta có thể đơn cử vài câu:

-Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng Nai,
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài,
Thương người xa xứ lạc loài tới đây.

-Thò tay anh ngắt ngọn ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ.

- Mù u bông trắng, lá thắm, nhị (nhụy) vàng,
Anh đi khắp xứ, tới đây mới gặp nàng thiệt dễ thương.

- Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh
Thương anh cũng muốn theo anh
Ngặt cha với mẹ không đành thì sao?

Cũng như các phần khác của đất nước, ca dao miền Nam thể hiện rõ nét phong cảnh, sinh hoạt, đồng ruộng màu mỡ, sông rạch của miền Nam. Đời sống tình cảm của người dân cũng trải rộng với thiên nhiên, sông nước:

-Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi
Qua khỏi chỗ này lùm bụi tối tăm.

- Cầu cao ván yếu,
Con ngựa nhỏ xíu nó kiệu tứ linh
Em đi đâu tăm tối một mình
Hay là em có tư tình với ai?

- Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát,
Xuồng câu tôm bơi sát mé nga
Thấy em cha yếu mẹ già
Muốn vô hoạn dưỡng biết là được chăng.

-Mười giờ xe lửa nhỏ bỏ chợ Bến Thành,
Xúp lê kia dạo thổi, bộ hành xôn xao.

Đối với những tình cảm nhẹ nhàng khác, tình gia đình chẳng hạn, cách diễn tả ở miền Nam cũng đơn giản và thực tế hơn:

- Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.

- Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

- Sông dài cá lội biệt tăm
Phải duyên chồng vợ, mấy năm cũng chờ.

khác hẳn với tính sâu sắc, nên thơ như ở miền Bắc:

Hôm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ...

...Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

hay thâm trầm như ở miền Trung.

Chồng chài, vợ lưới, con câu
Sông Ngô, bể Sở, biết đâu bến bờ?
Khi nên tay kiếm tay cờ
Không nên thì cũng chẳng nhờ cậy ai.

Qua ca dao chúng ta có thể tìm thấy nhiều từ rất thông dụng ở miền Nam. Đây là nguồn tài liệu quan trọng cho những ai muốn khảo cứu về ngữ âm miền Nam:

- Nước rong (8) nước chảy tràn đồng
Tơ duyên có đó, chỉ hồng chưa xe.

- Nước ròng bỏ bãi xa cừ
Mặt em có thẹo, anh trừ đôi bông.

- Bậu nói với qua bậu không hái mận bẻ đào
Chớ mận đâu bậu bọc, đào nào bậu cầm tay.

- Mưa lâm thâm, ướt dầm bông sói
Bậu đi lấy chồng, sao không nói anh hay?

4/ Tính chớt nhả, cắt cớ:

Tính phóng khoáng trong cuộc sống ở miền Nam thể hiện rất rõ nét trong ca dao miền Nam, tính chất này còn được đẩy xa hơn, trở thành chớt nhả. Hơn đâu hết, chính miền Nam là nơi người ta tìm thấy dễ dàng sự cắt cớ, sống sượng đến độ bất ngờ khiến người trong cuộc (dù có học) chưa chắc thoát ra được. Cô gái đang làm việc dưới ruộng, mình mẩy dầy bùn sình, hỏi chàng trai đang ở trên bờ:

Hai tay em cắm xuống bùn
Mình mẩy lấm hết, chớ anh hun chỗ nào?

chàng trai trả lời tỉnh bơ:

Cầu trời đổ trận mưa rào
Bùn sình trôi hết, chỗ nào anh cũng hun!

Chàng trai, muốn đặt cô gái vào tình trạng khó xử, sống sượng yêu cầu

Đôi mình mới gặp ngày nay
Cho hun một cái em Hai đừng phiền.

chàng trai đắc ý, tưởng sẽ nhận được ở cô gái sự e thẹn, hay lời rủa sả hay một cái bộp tai; không dè cô gái không phải tay vừa, đốp chát liền:

Ừ, muốn hun thì hun cho liền
Đừng làm thố lộ xóm giềng cười em.

trong trường hợp nếu bạn là chàng trai đó bạn làm sao? không biết bây giờ ai là người bị lúng túng, ở đây chàng trai chẳng những không lúng túng mà còn liều lĩnh sống sượng hơn, lỡ rồi đành tới luôn:

Tui hun mình dẫu có la làng
Thì tui ra đó hai đàng chịu chung
Tui hun mình dẫu có làm hung
Nhơn cùng tắc biến, tui chun xuống sàn (9)

Về tính cắt cớ, muốn đặt đối phương vào trong những tình huống khó tháo gỡ, chúng ta thường gặp trong những câu hò đố. Nếu ở ngoài Bắc những câu hát đố luôn có tính nghiêm trang, có tính "bác học" đến độ chúng ta phải đặt dấu hỏi liệu đó có phải là sản phẩm của lớp bình dân ít học? xin đơn cử:

...Chùa nào mà lại có hang
Ở đâu lắm gỗ thời chàng biết không?
Ai mà xin được túi đồng
Ở đâu lại có con sông ngân hà
Nước nào dệt gấm thêu hoa...

...Chùa Hương Tích mà lại có hang
Trên rừng lắm gỗ thời nàng biết không?
Ông Nguyễn Minh Không xin được túi đồng
Trên trời lại có con sông ngân hà
Nước Tàu dệt gấm thêu hoa...

hay những câu hát đố đẹp và hay như một bài thơ:

Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng
Đố ai quét sạch lá rừng
Để tôi khuyên gió, gió đừng rung cây...

ở miền Trung, chúng ta có câu:

Đố anh con rít mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người (10)

thì ở miền Nam, chúng ta khó tìm thấy những câu hò, câu hát đố có tính trữ tình như thế, nhưng chúng ta lại tim thây khá nhiều những câu có tính buộc thắt, khiến đối phương phải rất nhanh trí để thoát khỏi thế bí, và như chúng ta sẽ thấy, họ "thoát hiểm" rất dễ dàng và gài lại đối phương. Những câu sau đây sưu tập được từ Vĩnh Long (11)

-Thấy anh ăn học có thi
Em đây xin hỏi con chi không đầu.

Sao em lại hỏi cơ cầu
Thượng cầm hạ thú, không đầu là con cua.

- Thấy anh theo dõi bút nghiên
Em đây xin hỏi, trời nghiêng bên nào.

Anh từng đọc sách bên Tàu
Đất nghiêng thì có, trời nào đâu nghiêng

- Thấy anh ăn học lảu thông
Em đây xin đố, khăn lông có mấy đường .

Em về đếm hết cỏ vườn
Lại đây anh nói mấy đường khăn lông.

- Thấy anh ăn nói có tài
Em đây xin đố cây xoài có mấy bông.

Em về đếm cá dưới sông
Lại đây anh nói mấy bông cây xoài.

Những câu trên có cùng một dạng thức, điều đó chứng tỏ có thể từ một người làm ra, nhưng trong một đám cưới ở một vùng nông thôn thuộc Vĩnh Long, trong đêm nhóm họ ở nhà cô dâu, chính người viết đã nghe ít nhất có hai câu đố trên, tất nhiên không thấy có câu trả lời thích đáng từ đối phương. Cũng có những câu đố mắc mỏ, không mong gì tìm được câu trả lời xác đáng:

Đố ai kiếm được
Cái vảy con cá trê vàng,
Lá gan con tép bạc
Mấy ngàn em cũng mua.

chỉ còn nước trả lời theo kiểu huề vốn:

Kiếm đâu cho được
Cái vảy con cá trê vàng,
Lá gan con tép bạc
Để nàng chịu mua?

III. Vài cảm nghĩ

Trong những phần trên, chúng ta đã lượt qua một vài đặc sắc của ca dao miền Nam. Trong khuôn khổ của bài báo, người viết không thể trình bày hết những nét đặc thù của ca dao miền Nam nói riêng cũng như những dạng văn chương truyền khẩu khác như hò, vè... nói chung.

Điều đáng nói là văn hóa miền Nam chưa có chỗ đứng dúng đắn trong văn học sử của Việt Nam, cũng chưa được đề cập một cách đầy đủ trong chương trình học ngày trước (và cả ngay bây giờ). Chúng ta có thể có nhiều cách giải thích. (1) Có lẽ do người viết chương trình của bộ giáo dục trong những năm đầu chuyển tiếp từ chương trình Pháp sang chương trình Việt (và cả những vị về sau, trong các chương trình cải tổ) không có tài liệu nhiều về văn học trong Nam; hay (2) người viết chương trình không biết gì về văn học trong Nam; hay (3) người viết chương trình cho rằng văn học trong Nam quá nôm na, không có vẻ "bác học"; hay (4) đơn giản hơn hết là văn học trong Nam chưa có đủ chiều dài về thời gian để có chỗ đứng trong văn học sử...

Dù vì bất cứ nguyên nhân nào, chúng ta đã không dành một chỗ đứng thích đáng cho văn học trong Nam. Chúng ta đã bỏ quên tính đại chúng trong giáo dục, phần nào, chúng ta đã tự tách rời người có học với quần chúng; và quần chúng này, tuyệt đại đa số là những người có rất ít những liên hệ văn hóa với những phần đã được dạy ở nhà trường. Làm thế nào đại đa số quần chúng ở miền Nam ấy có thể hiểu và thông cảm với những gì mà chính họ, hay con cái của họ đã nhận được từ trường, khi những điều đó không thấy được thể hiện quanh họ? - Mặc dù không thể không nói đến những đóng góp về văn học Việt Nam do những nhà văn, nhà báo tiền phong (mà hầu hết đều xuất thân từ phân nữa trên của đất nước), nhưng sự mất cân đối trong chương trình học đã làm học sinh trở thành xa lạ với môi trường họ đang sống, trở thành vong thân với chính xã hội của họ.

Ngày nay, phần nào văn chương bình dân của miền Nam đã đi vào đời sống qua các bài hát dựa vào các điệu lý, điệu hò.

Nếu cách đây ít lâu, ngoại trừ lãnh vực cải lương, cổ nhạc Nam phần, ca sĩ dù người miền Nam, trình bày những bài hát về miền Nam cũng ráng tập phát âm bằng giọng Bắc, càng chuẩn càng tốt, không dám hát bằng giọng Nam sợ bị chê là quê mùa, thì bây giờ nhạc sĩ, ca sĩ (có cả người gốc ngoài Bắc) dùng hẳn giọng Nam để sáng tác, để hát, không có cái "mặc cảm" quê mùa như trước.

Thử tưởng tượng Phi Nhung hát bài Lý con Sáo Bạc Liêu (Phan Ni Tấn) bằng giọng Bắc thì nó ra làm sao? Còn những bài khác nữa: Tiếng Hát Chim Đa Đa (Võ Đông Điền), Bài Tình Ca Đất phương Nam (Lư nhất Vũ - Lê Giang), Chiếc Áo Bà Ba (Trần Thiện Thanh), Còn Thương rau đắng mọc sau hè (Bắc Sơn), Điệu Buồn Phương Nam (Vũ Đức Sao Biển)... làm thế nào để ca sĩ diễn tả tính Nam bộ trong các bài hát đó bằng giọng Bắc.

Cũng vậy, ngày xưa lúc ban Hợp Ca Thăng Long hát bài Tiếng Sông Cửu Long (trong trường ca Hội Trùng Dương), nghe Thái Thanh ngâm:

Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ngang sông Mỹ, có ngày gặp em

hay thì có hay, nhưng thấy nó vẫn là lạ.

Cũng nhân đây, xin nói thêm về cái thiếu hiểu biết về miền Nam, hay coi nhẹ tinh thần Nam bộ, mà các tác giả về mọi lãnh vực đã không đặt nặng việc sử dụng đúng ngôn ngữ trong Nam cho các công việc của họ. Trong Việt Nam Sử Lược, khi nói về Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh, sử gia Trần Trọng Kim chỉ dùng Nguyễn Hữu Kính, người dân miền Nam không thể nhận ra đó là vị Chưởng Cơ đã có rất nhiều công trong việc xây dựng và bảo vệ phần đất này trong giai đoạn đầu. Cũng vậy, khi Phạm Duy viết đến miền Nam (trong Con Đường Cái Quan) đã dùng:

Giả ơn cái cối cái chày
Đêm khuya giả gạo có mày có tao
Giả ơn cái nhịp cầu ao
Đêm khuya vo gạo, có tao có mày.

Không ai có ý kiến gì về lãnh vực âm nhạc mà nhạc sĩ Phạm Duy đã là bậc thầy, nhưng cách dùng chữ, rõ ràng là ông vẫn còn ảnh hưởng miền Bắc nên không dùng đúng những chữ mà người miền Nam đã dùng. Nghe nó ngọng nghịu và làm giảm ít nhiều giá trị đích thực của bài hát. Người miền Nam không ai nói "giả ơn" mà nói "trả ơn" hay "cám ơn". Chúng ta cũng có thể bỏ qua vì cứ xem người "lữ khách" của Phạm Duy chỉ mới vừa vào miền Nam, chưa đổi được thói quen của mình; nhưng "cầu ao" để vo gạo thì không có.

Ở miền Nam chỉ có "cầu nước, cầu nhủi", đơn giản vì miền Nam không có ao (trừ ao Bà Om của Người Miên ở Trà Vinh, một địa điểm để du ngoạn, cắm trại), miền Nam chỉ có hồ, đìa, đầm, vũng, giếng...

Chúng ta phải chấp nhận tính đơn giản mộc mạc... của miền Nam như là một đặc thù của văn chương ở vùng đất non trẻ này của đât nước, chúng ta không có mặc cảm gì về sự nôm na, chất phác của lớp người bình dân ấy. Trả lại cho văn chương và văn hóa miền Nam chỗ đứng đúng đắn trong văn học sử là việc nên làm, phải làm. Công việc đó qui mô và cần công sức của nhiều học giả, nhà nghiên cứu, của nhiều người. Bài viết này xin được là một đóng góp nhỏ cho công việc to lớn ấy.

Tài liệu Tham Khảo:

1. Việt Nam Sử Lược (Quyển II) - Trần Trọng Kim -Trung Tâm học Liệu xb 1971

2. Việt Sử Tân Biên (Quyển 3) - Phạm văn Sơn - Cơ sở xuất bản Đại Nam (in lại)

3. Đồng Bằng Sông Cửu Long hay là Văn Minh Miệt Vườn - Sơn Nam - Nhà xuất bản Xuân Thu (in lại)

4. Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam - Sơn Nam - Nhà xuất bản Xuân Thu (in lại)

5. Tiến Trình Văn Nghệ Miền Nam - Nguyễn Q. Thắng - Văn Hiến xb 1994

6. Sưu tầm Ca Dao Đồng Bằng Cửu Long - Tài liệu in roneo, trung học Tống Phước Hiệp - Vĩnh Long.

Chú thich

(1) - Trong toàn bài, những câu in nghiêng, theo thiển ý của người viết,là những câu trong miền Nam.

(2) - Năm 1708, đời Nguyễn Phúc Chu

(3) - Kinh Vĩnh Tế, Kinh Thoại Hà (Kinh Núi Sập) do Thoại Ngọc Hầu đốc xuất dân binh đào.

(4) - Trong chuyện Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) ta thấy còn rất nhiều từ không có ở ngoài Bắc, nhưng lại vẫn còn dùng trên cửa miệng của dân miền Nam như dươn (duyên), làm riết, tu hoài tu huỷ, cho xuê, hây hây, ấm cật, bậu, xinh ghê...

(5) - Tức Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh, cù lao thuộc huyện Chợ Mới - Long Xuyên, An Giang,

(6) - Phiên âm chữ "bonjour" (tiếng Pháp)

(7) - Cũng có chỗ đọc: Cúc mọc dưới sông, kêu bằng cúc thủy

Chợ Sài gòn xa, chợ Mỹ cũng xa...

không biết có loại cúc nào mà mọc dưới sông?

(8) - Nước rong: nước lớn do thủy triều cao, nước từ sông không đổ ra biển được, chảy vào rạch, đồng ruộng; khác với nước ròng do thủy triều thấp, nước từ ruộng chảy ra rạch, sông lớn.

(9) - Một dị bản khác:

Tui ôm, bậu có la làng,
thì tui ôm riết hai đàng xấu chung.
Tui ôm bậu có làm hung,
nói cùng bất quá tui chun xuống sàn.

(10) - Câu này nghe được ở vùng Phan Rang Nha Trang. Không biết Cầu Ô ở đâu, nhưng chợ Dinh có thể là chợ Kinh Dinh ở Phan Rang. Cũng có người cắt nghĩa cầu Ô là cầu Ô Thước (trong chuyện Ngưu Lang Chức Nữ), chợ Dinh là chợ tại các Dinh, các Trấn ở miền Nam, nơi dân cư đông đúc.

(11) - Sưu Tầm Ca Dao Đồng Bằng Cửu Long - Tài liệu lưu hành nội bộ, in roneo do Trung Học Tống Phước Hiệp - Vĩnh Long ấn hành

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1798 Posted : Wednesday, September 22, 2021 3:47:20 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Bắc Ninh : quê hương quan họ


Sao Khuê


Bèo Dạt Mây Trôi

Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi
Anh ơi em vẫn đợi… bèo dạt.
Mây trôi chim sa tang tính tình, cá lội
Ngậm một tin trông, hai tin đợi, ba bốn tin chờ
Sao chẳng thấy đâu ?
Một mảnh trăng treo suốt canh thâu,
Anh ơi trăng đã ngả ngang đầu.
Thương nhớ… ai sương rơi đêm sắp tàn, trăng mờ.
Cành tre đưa trước gió, là gió la đà
Em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh?
Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi
Anh ơi, em vẫn đợi… bèo dạt
Mây trôi chim sa tang tính tình cá lội
Ngẫm một tin trông, hai tin đợi, ba, bốn tin chờ
Sao chẳng thấy đâu ?
Ngày ngày ra trông chốn xa xăm
Anh ơi em vẫn đợi mỏi mòn.
Ra trông sao sa tang tính tình hoa tàn,
Người đi xa có nhớ,
Là nhớ ai ngồi trông cánh chim trời,
Sao chẳng, sao chẳng thấy anh ?

UserPostedImage
UserPostedImage

Thưa quí vị, khi xưa đọc truyện Tiêu Sơn tráng sĩ, Sao Khuê cứ vương vấn cái tên trấn Kinh Bắc. Lúc mà chung quanh mình chỉ có tỉnh, thành phố, thị xã mà đột nhiên lại có cái tên trấn Kinh Bắc, nghe sao huyền bí lạ lùng…. Rồi, nào là Phạm Thái, nào là Trương Quỳnh Như, nào là Sơ Kính Tân Trang do chính Phạm Thái viết kể chuyện tình oan trái của chính mình, truyện và thực cứ trộn lẫn vào nhau khiến người đọc không khỏi bâng khuâng lưu luyến của một thời xưa vang bóng…

Thế rồi có vị bác sĩ gợi ý một buổi nói chuyện về 'Quan Họ' mà đã nói đến Quan Họ là phải nói đến Bắc Ninh, quê hương của Quan Họ.

Thưa quí vị, đây là bản đồ trấn Kinh Bắc, Bắc Ninh

UserPostedImage
UserPostedImage

Tỉnh Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh là cửa ngõ của cố đô Thăng Long. Do có các đường thuỷ, đường bộ chạy qua, nên vị trí quân sự của Bắc Ninh cực kỳ quan trọng.

Đường bộ có các quốc lộ 1A, cao tốc 1B (Hà Nội - Lạng Sơn), cao tốc Hà nội - Bắc Ninh nằm trên đường quốc lộ 18 nối sân bay quốc tế Nội Bài với Thành phố Hạ Long và hải cảng Cái Lân, Quảng Ninh và đường 38 nối Bắc Ninh với tỉnh Hải Dương.

Đường sắt: tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội- Hữu Nghị Quan.

Đường thủy: qua sông Cầu, sông Thái Bình và sông Đuống nối ra sông Hồng; các sông nhỏ như sông Ngũ huyện Khê, sông Dân, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê (nay không còn), sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.

Thời Bắc thuộc, Bắc Ninh là trị sở của Giao Chỉ Bộ là nơi pháy huy văn hoá Lạc Việt, nơi tiếp nhận Nho giáo từ Trung quốc phương Bắc truyền xuống, trạm của Phật Giáo Ấn Độ truyền sang Trung Quốc theo đường biển, nơi khởi phát Phật giáo tại Giao Châu mà di tích còn lại là trung tâm Phật giáo Luy Lâu, thủ phủ của Lĩnh Nam còn lưu lại đền thờ tôn Sĩ Nhiếp.

Bắc Ninh ngày xưa gọi là Kinh Bắc có lẽ vì nằm về phía Bắc của kinh đô Hà Nội? Kinh Bắc là nơi có 3 kinh đô cổ của Việt Nam: Cổ Loa, Mê Linh và Long Biên.

Theo sử, năm Canh Tuất 1490 vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước gồm 13 đạo sau gọi là xứ. Từ triều Tây Sơn tới đầu triều Nguyễn đổi sang gọi là trấn: từ Nghệ An trở ra Bắc gồm: (trấn) xứ Kinh Bắc, xứ Sơn Nam (trấn Sơn Nam Thượng, trấn Sơn Nam Hạ), Xứ Đông (trấn Hải Dương), Xứ Đoài (trấn Sơn Tây- em nhớ xứ Đoài mây trắng lắm...), trấn Hưng Hóa, trấn Cao Bằng, trấn An Quảng (Yên Quảng), xứ Thái Nguyên, xứ Lạng Sơn, xứ Tuyên Quang, phủ Hoài Đức (Thăng Long), đạo Thanh Bình, nội trấn Thanh Hoa, trấn Nghệ An.

Thời vua Gia Long nhà Nguyễn, Kinh Bắc vẫn được gọi là xứ: xứ Kinh Bắc hay trấn Kinh Bắc thuộc Bắc thành tổng trấn. Trấn Kinh Bắc xưa gồm 4 phủ (20 huyện), bao gồm toàn bộ ranh giới 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh lân cận Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng).

Năm 1831 trấn Kinh Bắc đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Đây là một tỉnh rất lớn bao gồm toàn bộ Bắc Ninh hiện nay, gần hết Bắc Giang, một phần Hà Nội, một phần Vĩnh Phúc và một ít của Lạng Sơn, chia thành 20 huyện: Đông Ngàn, Tiên Du, Yên Phong, Quế Dương, Võ Giàng, Siêu Toại, Gia Bình, Lang Tài, Văn Giang, Gia Lâm, Thiên Phúc, Hiệp Hòa, Kim Anh, Phượng Nhãn, Bảo Lộc, Lục Ngạn, Yên Thế, Hữu Lũng, Yên Dũng, Việt Yên.Trấn lỵ của trấn Bắc Ninh trước kia ở xã Đáp Cầu thuộc huyện Võ Giàng. Tháng 2 năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long cho dời trấn lỵ đến xã Lỗi Đình thuộc huyện Tiên Du.

Lúc đầu, thành Bắc Ninh chỉ được đắp bằng đất, cho tới năm Minh Mạng thứ 6 (1825), thành được xây lại bằng đá ong và cuối cùng xây lại bằng gạch vào thời Thiệu Trị (1841). Thành xây tại chỗ giáp giới của 3 xã thuộc 3 huyện là Đỗ Xá (huyện Võ Giàng), Khúc Toại (huyện Yên Phong) và Lỗi Đình (huyện Tiên Du).

Các sắc dân sinh ống ở Bắc Ninh gồm : Việt (Kinh), Nùng, Mường, Tày...

Từ mấy nghìn năm trước người Việt cổ đã cư trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Tương,... sống bằng nông nghiệp và thủ công nghệ. Hàng loạt di vật như trống đồng, dao găm, rìu, giáo, tấm che ngực, mảnh giáp,... bằng đồng với những hoa văn độc đáo được tìm thấy ở các di tích Lăng Ngâm, Đại Trạch, Quả Cảm, Đại Lai,... Mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ người xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tạo các đồ trang sức và làm gốm,...

Bắc Ninh không những chỉ có vị trí quân sự quan trọng mà còn là cái nôi cuả văn hoá lịch sử và Phật pháp cũng như thủ công nghệ của Việt Nam.
Trên mảnh đất Bắc Ninh này, những huyền thoại về ông Đùng, bà Đùng, về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mỵ Châu - Trọng Thuỷ và thành Cổ Loa. Các di tích lịch sử như lăng Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân Âu Cơ, đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du,,.. đền Đô, chùa Phúc Nghiêm Tự (chùa Tổ), đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, đình làng Tam Tảo v.v…Chùa Dâu, Chùa Phật Tích là những nơi phát sinh Phật giáo Việt Nam; nơi phát sinh vương triều Lý như Đền Đô, Chùa Dận...

UserPostedImage[rightUserPostedImage[/right]

Đền Đô và thành Cổ Loa

UserPostedImage

Tường thành Cổ Loa

UserPostedImage

Chùa Bút tháp

UserPostedImage

cầu đá chùa Bút Tháp

UserPostedImage

Chùa Dâu

A. Các làng làm nghề truyền thống

UserPostedImage

Làng nghề đúc đồng truyền thống Quảng Bố-Lương Tài
Làng Gỗ mỹ nghệ Hương Mạc
Làng gò đúc đồng Đại Bái
Làng tranh dân gian Đông Hồ
Làng dệt Tam Tảo
Làng dệt Hồi Quan
Làng gốm Phù Lãng
"Làng" Giấy Phong Khê
Làng Gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ
Làng nghề sắt thép
Làng Gỗ mỹ nghệ Mai Động
Làng Gỗ mỹ nghệ Phù Khê
Làng tơ tằm Vọng Nguyệt
Làng đúc phế liệu
Làng tre Xuân Lai

B. Chùa ở Bắc Ninh :

Bắc Ninh được xem như nơi khởi phát của Phật Giáo Việt Nam mà chùa Pháp Vân là cổ tự lâu đời nhất ngoài ra còn rất nhiều chùa như Chùa Bút tháp, Cảm Ứng Tự, Chùa Dâu, Chùa Dạm, chùa Dận, chùa Kim đài, Chùa Phúc Lâm, Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Phật Tích, chùa Trăm Gian….

Chùa Bút Tháp

UserPostedImage

Theo sách Địa chí Hà Bắc (1982) thì chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) đã trụ trì ở đây. Ông cho dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Ngọn tháp này nay không còn nữa. Đến thế kỷ 17, chùa đã trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là "Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư". Tiếp đó, người kế nghiệp trụ trì chùa Bút Tháp là Thiền sư Minh Hạnh, học trò xuất sắc của Hòa thượng Chuyết Chuyết. Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (Diện Viên) đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị

Chùa có tượng Phật Quan Âm ngàn tay.

UserPostedImage

Ngọc Duyên (Diệu Tuệ), xin phép Chúa Trịnh Tráng, rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Chùa kiến trúc theo kiểu "Nội Công Ngoại Quốc".

Đời vua Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm.

Chùa Dâu

UserPostedImage

còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân, hay Cổ Châu, là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Chùa còn được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như chùa Cả, Cổ Châu tự, Duyên Ứng Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam. Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây. Vào cuối thế kỷ 6, nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này, lập nên một phái Thiền ở Việt Nam. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam.

Chùa Dâu gắn liền với sự tích Phật Mẫu Man Nương thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn Mãn Xá cách chùa Dâu 1 km.

Chùa được xây dựng lại vào năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa Trăm Gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Hiện nay, ở tòa thượng điện, chỉ còn sót lại vài mảng chạm khắc thời nhà Trần và thời nhà Lê.

Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có bốn ngôi chùa cổ: Pháp Vân ("mây pháp), Pháp Vũ (mưa pháp), Pháp Lôi (sấm pháp) và Pháp Điện (chớp pháp). Bốn chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần: Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng.

Chùa Phật Tích

UserPostedImage

(Phật Tích tự) còn gọi là chùa Vạn Phúc (Vạn Phúc tự) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên), xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trong chùa có tượng đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam .

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ 4 (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý nhưng ngôi chùa vào thời Lý hiện nay không còn nữa.

Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích.
Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686) ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc, phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá..."

Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ "Phật" dài tới 5 m, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Bà Nguyên phi Ỷ Lan có đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích.
Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ "Bảo Hoa dư bút" dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ).

Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự. Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am - đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: "... Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, lầu rộng và tay rồng với tới trời sao,cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng...". Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.

Theo tương truyền, bậc nền thứ nhất là sân chùa với vườn hoa mẫu đơn, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên: "...Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội làm gẫy cành hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên. Do tích này, trước đây chùa Phật Tích có mở hội Hoa Mẫu đơn hàng năm.

Đền Đô

UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage

nằm trên vùng đất "địa linh nhân kiệt" Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh (cách Thủ đô Hà Nội gần 20 km). Từ xưa vùng đất này đã nổi tiếng là vùng văn hóa, là nơi có phong cảnh đẹp. Đền Đô được xây dựng từ thời Lý Công Uẩn (thế kỷ XI). Đền thờ 8 vị vua nhà Lý đó là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009-1028); Lý Thái Tông (1028-1054); Lý Thánh Tông (1054-1072); Lý Nhân Tông (1072-1128); Lý Thần Tông (1128-1138); Lý Anh Tông (1138-1175); Lý Cao Tông (1175-1210) và Lý Huệ Tông (1210-1224).Quê hương nhà Lý là nơi tiêu biểu cho các làng quê vùng kinh Bắc. Nơi đây có các di tích lịch sử - văn hóa như chùa Cổ Pháp, Kim Đài (một trong những trung tâm Phật giáo cực thịnh vào thế kỷ VIII); đình làng Lý Khánh Văn, nơi thờ và tưởng niệm người cha nuôi của vua Lý Thái Tổ; Thọ Lăng Thiên Đức, khu lăng mộ của 8 vua nhà Lý khiêm tốn, giản dị.

Chùa Kim Đài (còn gọi là chùa Đài, chùa Quỳnh Lâm (Quỳnh Lâm tự), chùa Lục Tổ) là một ngôi chùa tại xóm Xuân Đài, làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tương truyền, Lý Công Uẩn, người sáng lập triều Lý Việt Nam, lúc nhỏ từng là một chú tiểu tại chùa này.[1]

Chùa Thiên Tâm (Chùa Tiêu)

Chùa Thiên Tâm hay còn gọi là chùa Ba Sơn, chùa Tiêu, "Thiên Tâm tự" là tên chính của chùa vì vốn từ khi mới khởi dựng, đứng trên đỉnh núi - giữa đất trời bao la, dân cư, làng xóm thưa vắng, núi Tiêu như là nơi tụ hội, trung tâm của đất trời vậy, còn cái tên Tiêu Sơn là gọi theo tên đất, tên làng, tên núi nơi đây.

Chùa Thiên Tâm được xây dựng khoảng trước thời Tiền Lê, đến thời Lý đã được tôn tạo khá khang trang và trở thành nơi tu thiền, giảng đạo của nhiều bậc cao tăng như Thiền sư Lý Vạn Hạnh - Quốc sư, người có công nuôi dưỡng và dạy dỗ Lý Công Uẩn (vị vua khai sáng Vương triều Lý) trụ trì và viên tịch...

C. Lễ hội

Hàng năm, tỉnh Bắc Ninh có hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau:

Lễ hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 tháng giêng hàng năm, tổ chức thi hát quan họ.

Lễ hội làng Tam Tảo - Phú Lâm - Tiên Du. Được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 2 hàng năm, Kỷ niệm ngày sinh của ông bà Phụ Quốc Đại Vương Trần Quý và Minh Phúc Hoàng Thái Hậu Phương Dung. Tưởng nhớ ơn hai vị tướng Đào Lại Bộ người có công giúp Thục Phán An Dương Vương đánh Triệu Đà xâm lược.

Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, thị xã Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ - 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, và tưởng niệm các vị vua nhà Lý.

Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du) ngày 9- tháng 4 để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương.

Lễ hội Thập Đình (của mười xã thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công).

Lễ hội Đền Cao Lỗ Vương ngày 10 - tháng 3 ở làng Tiểu Than(làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình.

Lễ hội Đền Tam Phủ xã Cao Đức, huyện Gia Bình.
Lễ hội Đồng Kỵ ngày 4 - tháng Giêng.
Lễ hội Chùa Dâu ngày 8 - tháng 4.
Lễ hội Đình Châm Khê ngày 4 - tháng tám (âm)

Có câu:

Mùng bẩy hội Khám
Mồng tám hội Dâu
Mồng chín hội Gióng
Mồng mười hội Bưởi
đâu đâu cũng về

Thành Cổ loa
Đền Phù Đổng
Bút Tháp
Chùa Lim

D. Di tích lịch sử :

Đền thờ Nguyễn Cao
Chùa Bút Tháp

Chùa Tiêu - Trung tâm Phật giáo xưa của Việt Nam. Nơi thụ thai và nuôi dưỡng Lý Thái Tổ đến năm 15 tuổi.
Chùa Tổ - Huyền tích của một vùng Tứ Pháp
Đền Lý Bát Đế thờ tám vị vua triều Lý
Chùa Dạm
Chùa Dâu
Chùa Phật Tích
Chùa Phúc Lâm - Làng Tam Tảo - Phú Lâm - Tiên Du
Đình làng Hồi Quan
Đình làng Đình Bảng
Đình làng Hoài Trung
Đình làng Tam Tảo
Đền Phụ Quốc - Làng Tam Tảo
Đình Chùa Làng Yên Mẫn
Đền Cao Lỗ Vương
Đình Quan Đình
Đình Mẫn Xá
Đình Tiểu Than, Lăng mộ Cao Lỗ Vương

Lăng và đền thờ Kinh Dương Vương - Nam Bang Thủy Tổ (Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân)

E. Các vị trạng nguyên:

Bắc Ninh có 544 vị tiến sĩ với 15 vị trạng nguyên trong tổng số 49 trạng nguyên VN

-Lê Văn Thịnh (1075]] - Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử
-Lý Đạo Tái (1272)
-Lưu Thúc Kiệm (1400)
-Nguyễn Nghiêu Tư (1448)
-Vũ Kiệt (1472)
-Nguyễn Quang Bật (1484)
-Nghiêm Hoản (1496)
-Nguyễn Giản Thanh (1508)
-Ngô Miễn Thiệu (1518)
-Hoàng Văn Tán (1523)
-Nguyễn Lượng Thái (1553)
-Phạm Quang Tiến (1565)
-Vũ Giới (1577)
-Nguyễn Xuân Chính (1637)
-Nguyễn Đăng Đạo (1683)

F. Danh nhân

*Cao Lỗ Vương (Tướng chế nỏ thần thời An Dương Vương)
*Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ)
*Trần Qúy (Phụ Quốc Đại Vương - Người có công cứu Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ)
*Đặng Thị Phương Dung (Minh Phúc Hoàng Thái Hậu - Người có công cứu Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ)
*Nguyên Phi Ỷ Lan (Tay cầm bán nguyệt xênh xang Một trăm thức cỏ lại hàng tay ta)
*Đàm Quốc Sư
*Nguyễn Đăng Đạo (lưỡng quốc Trạng nguyên)
*Nguyễn Văn Cừ
*Ngô Gia Tự
*Lê Quang Đạo
*Nguyễn Cao
*Hàn Thuyên ( vơí văn tế cá sấu )
*Lê Văn Thịnh (Thủ khoa Đại Việt đầu tiên)
*Tuyên Phi Đặng thị Huệ tức bà chúa Chè người làng Phù Đổng (Gióng) huyện Tiên Du
* Cao Bá Quát
Văn như Siêu Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường
* Nữ sĩ Đoàn thị Điểm ( người làng Hiến Phạm huyện Văn Giang) với dịch phẩm nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm khúc.
* Thân mẫu của Nguyễn Du là bà Trần thị Thấn.
* Hoàng Cầm với lá Diêu bông

Lá Diêu Bông

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em đi tìm thấy lá

Chị chau mày:
Đâu phải Lá Diêu Bông.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãn bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời...
ới Diêu Bông!
( Hoàng Cầm)

Quan họ Bắc Ninh


UserPostedImage

Vào lúc 16h55 ngày 30/9/2009 tại thủ đô Abu Dhabi của Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ủy ban UNESCO đã công nhận quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa của nhân loại dựa trên các giá trị văn hóa, giá trị lưu giữ tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, phong cách ứng xử văn hóa, ca từ và trang phục. Phạm vi công nhận chính thức gồm có 49 làng quan họ phân bố như sau: tỉnh Bắc Giang có 5 làng là Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ; tỉnh Bắc Ninh có 44 làng là: Bái Uyên, Duệ Đông, Hạ Giang, Hoài Thị, Hoài Trung, Lũng Giang (Lim), Lũng Sơn, Ngang Nội, Vân Khám, Tam Sơn, Tiêu, Đông Mai, Đông Yên, Bồ Sơn, Châm Khê, Cổ Mễ, Dương Ổ, Đẩu Hàn, Điều Thôn, Đông Xá, Đỗ Xá, Hòa Đình, Hữu Chấp, Khả Lễ, Khúc Toại, Ném Đoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Niềm Xá, Phúc Sơn, Thanh Sơn, Thị Chung, Thị Cầu, Thọ Ninh, Thượng Đồng, Trà Xuyên, Vệ An, Viêm Xá, Xuân Ái, Xuân Đồng, Xuân Ổ, Xuân Viên, Y Na, Yên Mẫn.
Vậy quan họ là gì ?

A.Truyền thuyết :Thời vua Gia Long có hai họ quan người làng Diềm và làng Bịu kết bạn vơi nhau tổ chức ca hát sau đó lối ca hát này truyền ra ngoài nên mang tên hát quan họ.

B. Quan họ là loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam, truyền từ đời này sang đời khác bằng cách truyền khẩu ở vùng đồng bằng miền Bắc, tập trung ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang).

Dân ca quan họ là hát đối đáp nam,nữ. Họ hát quan họ vào mùa xuân, mùa thu khi có lễ hội hay khi có bạn bè. Một cặp nữ của làng này hát với một cặp nam của làng kia với một bài hát cùng giai điệu, khác về lời ca và đối giọng. Cặp hát phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng hát của hai người phải hợp thành một giọng. Họ hát những bài ca mà lời là thơ, ca dao và có từ ngữ trong sáng, mẫu mực thể hiện tình yêu lứa đôi, không có nhạc đệm kèm theo.

Khi hát hai bên hát với nhau, bên hát trước giọng nào thì bên sau phải theo giọng nấy để trả lời và phải theo cho đúng như thế mới gọi là đối chọi, không đối được là tỏ ra cái kém cỏi của mình.

* Có 4 giọng chính :

Giọng sổng (transitor air)
Giọng vặt (diverse air)
Giọng hãm (recitative air)
Giọng bỉ (tunes borrowed from other sources)

* Những lối hát quan họ :

Quan họ cầu đảo ; tại làng Diềm cầu cho nhà nông khi bị hạn hán tại đền Vua Bà tức Tối Linh Thượng Đẳng thần hay Đại Vương Nam Hải tức thần Nước

Quan họ trùm đầu : tại làng Diềm vào những tuần trăng sáng mùa thu theo đó khi hát thì trùm đầu bằng áo hay khăn nên được hát tự do cử chỉ cũng tự do.

Quan họ Hiếu : tại làng Lũng Giang (làng Lim) và Tam Sơn là hai làng kết chạ,

cầu cho luá tốt, cây xanh, nước trong và hát khúc Nhị Thập Tứ Hiếu.

Quan họ kết chạ : kết chạ có ăn giải thưởng tại làng Bồ Sơn trong 3 ngày từ 10 tháng giêng đến 12 tháng giêng âm lịch

UserPostedImage

* Vơí 4 kỹ thuật : Vang, rền nền, nảy.
* và 4 hình thức chính:

- Hát canh = hát tại nhà giữa hai nhóm quan họ
- Hát hội = hát ở hội thi lấy giải
- Hát mừng = hát ở đám
- Hát cầu = hát ở cửa đình cửa đền

* Tục lệ quan họ

Hát quan họ gắn liền với tục kết chạ, tục kết bạn giữa các bọn quan họ,tục "ngủ bọn

Đầu tiên là tập quán "kết chạ" giữa các làng quan họ. Từ tục "kết chạ", trong các "bọn" quan họ xuất hiện một tập quán xã hội đặc biệt là tục kết bạn quan họ. Mỗi "bọn" quan họ của một làng đều kết bạn với một "bọn" quan họ ở làng khác theo nguyên tắc quan họ nam kết bạn với quan họ nữ và ngược lại. Với các làng đã "kết chạ", trai gái trong các "bọn" quan họ đã kết bạn không được cưới nhau.

Một điểm khác biệt của quan họ Bắc Ninh so với các loại dân ca khác ở Việt Nam là tục "ngủ bọn". Sau một ngày làm việc,"bọn" quan họ, nhất là thiếu niên nam, nữ từ 9 đến 17 tuổi thường rủ nhau "ngủ bọn" ở nhà ông / bà Trùm để tập nói năng, ứng xử, giao tiếp, học câu, luyện giọng, và nhất là phải biết bẻ giọng, ứng đối kịp thời. Yêu cầu đặt ra với tục "ngủ bọn" là "liền anh" và "liền chị" phải ghép đôi và luyện sao cho từng đôi một thật hợp giọng nhau để đi hát.

Muốn hát quan họ phải có "bọn": "bọn nam" hoặc "bọn nữ". Trong một làng quan họ thường có nhiều "bọn nam" và "bọn nữ". Mỗi "bọn" thường có 4, 5, 6 người và được đặt tên theo thứ tự: chị Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu hoặc anh Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu. Nếu số người đông tới 7, 8 người thì đặt tên là chị Ba, chị Tư (bé) hoặc anh Ba, anh Tư (bé)… mà không đặt chị Bảy, Tám hay anh Bảy, Tám. Trong các sinh hoạt quan họ, các thành viên của "bọn" quan họ không gọi nhau bằng tên thật mà gọi theo tên đặt trong "bọn".

C. Ẩm thực quan họ.

UserPostedImage
UserPostedImage

* trầu quan họ thì phải là trầu têm cánh phượng hoặc trầu têm cánh quế, chè phải là chè Thái Nguyên.

* Cơm quan họ dùng mâm đan nghĩa là mâm gỗ tròn sơn đỏ, còn gọi là "mâm son", vừa trang trọng vừa thể hiện tình cảm thắm thiết của chủ nhà đối với khách. Các món ăn trong bữa cơm phụ thuộc vào tập quán của từng làng nhưng phải có một đĩa thịt gà, hai đĩa giò lụa, thịt lợn nạc, đặc biệt không dùng thức ăn nhiều mỡ để tránh hỏng giọng.

UserPostedImage
UserPostedImage

Mâm cơm quan họ

UserPostedImage
UserPostedImage

Thi nấu cơm quan họ

D.Y phục quan họ

Y phục của "liền anh" và "liền chị" có sự khác biệt.

UserPostedImage

Y phục của "liền chị" gồm nón ba tầm hoặc nón thúng quai thao, khăn vấn và khăn mỏ quạ, yếm đào xẻ con nhạn, áo tứ thân nhiễu điều nhiễu tía, váy, thắt lưng, dép.

Chiếc nón quai thao đi kèm với bộ áo mớ ba (3 áo ), mớ bảy ( 7 áo) màu hoa đào, màu hoa hiên, màu xanh thiên lý hay màu vàng chanh của những lớp áo trong.

Phía dưới, các quý bà, quý cô thường mặc váy lưỡi trai bảy bức bằng lĩnh hay sồi đen buông chấm gót, làm nền cho những dải thắt lưng cánh sen hay mỡ gà thắt nút so le rủ xuống, đong đưa mỗi khi cơn gió thoảng qua. Các cô còn vấn khăn nhiễu tím hay đen, vắt cao lọn tóc đuôi gà dài óng ả, bên mình là bộ xà tích kèm ống vôi quả đào bằng bạc và con dao gấp xinh xinh, vừa để trang sức lại vừa để têm trầu, bổ cau… Và bộ trang phục này càng thêm hài hòa khi các cô xỏ chân vào đôi dép cong da trâu, hay đôi guốc gỗ cong sơn then quai bằng da hoặc sợi mây.

UserPostedImage

Y phục của "liền anh" gồm khăn xếp, ô lục soạn, áo cánh bên trong và áo dài 5 thân bên ngoài, quần, dép.

Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài. Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn mầu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh…gọi là áo kép. Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà. Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu. Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện.

Trong các lễ hội quan họ có cả những cuộc thi trang phục quan họ.

UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage

E.Lời ca quan họ

Dân ca quan họ chủ yếu là nghệ thuật phổ lời ca dao và thơ. Nghệ thuật này đòi hỏi phải sử dụng những tiếng phụ, lời phụ bên cạnh những tiếng chính, lời chính nhằm làm cho tiếng hát trôi chảy, bổ sung ý nghĩa cho lời ca chính, làm cho lời ca thêm phong phú, linh hoạt, tăng nhạc tính của bài ca, phát triển giai điệu, làm cho âm nhạc của bài ca trở nên sinh động, bố cục trở nên hợp lý. Không dùng tiếng phụ, lời phụ, lời ca dễ đơn điệu, mất cân đối.

Chuyển điệu thức là hiện tượng đặc biệt của Dân ca quan họ với 2 hình thức: cách biệt và nối liền. Nghệ nhân ghép hai, ba âm giai ngũ cung trong một bài hát, đã khéo vận dụng nhiều dạng điệu thức khác nhau. Duy trì ở một mức độ nhất định lối cấu trúc mở, họ đã kết hợp một số mô hình cấu trúc tương phản và những thủ pháp đan điệu, chuyển điệu trong cùng một hệ thống ngũ cung hoặc chuyển hệ để phá vỡ sự đơn điệu trong một bài.

Khi hát họ sử dụng những thể thơ và ca dao nhất định của người Việt, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp. Lời các bài ca quan họ đều là những câu thơ, ca dao được trau chuốt, từ ngữ trong sang, mẫu mực. Những bài ca quan họ cũng được sáng tạo ngẫu hứng trong các kỳ hội làng, hoặc ứng tác ngay trong một cuộc thi tranh giải của làng. Nội dung các bài ca thể hiện các trạng thái tình cảm của con người: nhớ nhung, buồn bã khi chia xa, sự vui mừng khi gặp lại của những người yêu nhau, mà không được cưới nhau theo quy định của những tập quán xã hội bằng một ngôn ngữ giàu tính ẩn dụ.

Dân ca quan họ có 213 giọng khác nhau, với trên 500 bài ca.

Lời một bài ca có hai phần: lời chính và lời phụ. Lời chính là thể thơ và ca dao của Việt Nam, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp với từ ngữ giàu tính ẩn dụ, trong sáng, mẫu mực. Đây là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của bài ca là thể hiện tình yêu lứa đôi. Lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi như i hi,ư hư, a ha v.v…

Lời cũng được lấy từ những tác phẩm văn học như Tống Trân Cúc Hoa, Lục Vân tiên, Nhị Độ Mai, Nữ Tú Tài, Sơ Kính Tân Trang … và nhất là Truyện Kiều.

Truyện Kiều anh thuộc đã lâu
Đố anh kể được hai câu năm chữ "này" (1) hay năm người (2)

hoặc

Truyện Kiều anh đã thuộc lòng
Đố anh kể được hai dòng toàn nôm

Thì câu trả lời đều là:

* Này chồng, này mẹ này cha
Này là em ruột này là em dâu

Truyện Kiều anh đã thuộc thông
Đố anh kể được hai dòng toà nho

Câu trả lời là :

Hồ công quyết kề thừa cơ
Lễ tiên binh hậu, khắc cờ lập công

Truyện Kiều anh thuộc đã lâu
Đố anh kể được một câu mười người

Hai bên mười vị tướng quân
Đặt gươm cơỉ giáp trước sân khấu đầu

Truyện Kiền anh thuộc đã lâu
Đố anh đọc được hai câu hết Kiều

Trăm năm trong cõi người ta
Mua vui cũng được một và trống canh

Truyện Kiền anh thuộc từng vần
Đố anh kể được ba lần trăm năm

Trăm năm trong coĩ người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Rằng trăm năm cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không

Truyện Kiều anh thuộc đã nhiều
Đố anh kể được câu Kiều mười cho

Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho coi
Đã cho lấy chữ hồng nhan
Làm cho cho hại cho tàn cho cân!

Thấy em hay đọc truyện Kiều
Cho nên anh hỏi mấy điều xem sao
Kiều, Vân em chị thế nào
Tuổi ai hơn kém, má đào giỏi giang

Hỏi chi ngoắt nghéo hỡi chàng
Thúy Kiều là chị rõ ràng hẳn hoi
Hai người cùng đẻ sinh đôi
Chàng xem trong truyện chàng thời hiểu ra
Đầu lòng hai ả Tố Nga
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân
Hai người một tuổi một năm
Lấy đâu hơn kém mà thăm hỏi dò
Kiều càng sắc sảo mặn mà
Cho nên bạc mệnh ai mà chẳng hay

Truyện Lục Vân Tiên

Trai thì trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình

Sơ Kính Tân Trang

Bốn chúng tôi quyến bạn yên hà
Say sưa đồng quyến la đà xuân phong…..

Văn thể của Hát Quan họ tuy là lối lục bát, nhưng khi hát, vì những chỗ lên xuống trầm bổng, vì những nhu cầu của sự chuyển giọng, chuyển lời nên loại dân ca này có mang vài đặc tính là bài hát bao giờ cũng có thêm vào nhiều tiếng không có trong nguyên văn. Đó là những tiếng vô nghĩa, hoặc những chữ hát chệch hẳn đi, những tiếng dùng để đưa hơi như; y, a, ư, ô, ơ, ha, ối, ý, này, a, i, ì.v.v.v… Nhờ những tiếng đệm, tiếng láy lập lại như thế mà tính chất nhịp điệu của tiết tấu câu thơ lục bát được thay đổi luôn, trở nên phong phú vô cùng.

Ví dụ bài trống cơm:

"Trống cơm khéo vỗ nên bồng,
Một bầy con nít lội sông đi tìm.
Thương ai con mắt lim dim
Một bầy con nhện giăng tơ đi tìm.
Thương ai duyên nợ tang bồng"

Khi trở thành bài hát Quan họ Bắc Ninh là :

1.(Tình bằng có cái) trống cơm (khen ai) khéo vỗ (ố mấy bông) nên bông.
2.Một bầy (tang tình) con nít (ố mấy lội) lội sông (ố mấy) đi tìm.
3.(em nhớ ) thương ai (đôi) con mắt (ô mấy) lim dim
4.Một bầy(tang tình) con nhện (ớ ớ ớ ố mấy) giăng tơ (giăng tơ ố mấy) đi tìm.
5.(em nhớ ) thương ai duyên nợ (khách) tang bồng.

Đó là chưa kể đến chỗ hát lại hai lần như phần đầu câu 2 và ở cuối câu 1,2,3,5.

Ngoài ra những tiếng đưa hơi, tiếng đệm, tiếng láy, có khi trong bài hát có cả những tiếng dùng để ghi hệ thống âm giai của cổ nhạc là : Hò, xàng, xư, xê, cống.

Ví dụ như bài "Xe chỉ luồn kim"

"May quần tình chung là vuông nhiễu tím (í a, í a)
Gởi ra (gởi ra chồng) cho chồng.
Ứ xàng, ừ xàng u cái liu

F. Đặc thù của quan họ

** Hát chia làm từng bên. Mỗi bên, trai hay gái phải có ít nhất 4 người để thay phiên nhau hát vì hát rất hao hơi. Quan họ phải hát giọng đôi, nghĩa là hai người hát cùng một lúc, một người "dẫn" (chính) và một người luồn (phụ). Mỗi bên Quan họ có một người đứng đầu đại diện và được tôn làm Chị hai, Anh hai. Những người khác cứ theo thứ tự hát hay, hát kém mà lấy tên anh ba, anh tư, chị ba, chị tư. Chỉ cần bốn người hát được, còn bao nhiêu dựa vào cho đông cũng không sao.

** Trai gái hát Quan họ không phải sống nghề về hát, không thể gọi là những người hát chuyên nghiệp nhưng không phải bất cứ ai ai cũng có thể hát được Quan họ. Muốn hát Quan họ phải có nhiều điều kiện, phải có giọng tốt, phải chịu khó luyện tập, phải có trí nhớ và ít nhiều thông minh, nghĩa là có ít nhiều tài đối đáp, biết bình tĩnh để trả lời người đối diện không những trong ‎ý câu hát mà nhất là trong giọng bài hát.

Tình bạn hữu, tình anh em giữa những người cùng chung "gia đình" Quan họ thật thân thiết. Họ coi cha mẹ của nhau như cha mẹ của mình. Những dịp hiếu hỉ, buồn vui, họ đều đến thăm hỏi, cha mẹ bạn có yếu đau họ tìm đến chăm sóc an ủi.

Cũng như hầu hết các loại dân ca trữ tình ở Việt nam, hát Quan họ vay mượn nhiều ở phong dao. Hầu hết các bài Quan họ đều theo thể lục bát biến thể. Đó là những bài tình ca do nam nữ thanh niên Bắc Ninh hát lên để ca tụng tình yêu, nói lên những oán trách, hờn ghen và giận tủi về yêu đương hoặc biểu lộ những tâm tình sôi sục yêu đương.

** Hát quan họ là hình thức hát đôi đồng giọng: người hát dẫn, người hát luồn, hát đối đáp dẫn giọng, luồn giọng một cách điêu luyện. Giọng của hai người hát cặp với nhau phải tương hợp đến mức hai giọng trở thành một để tạo ra một âm thanh thống nhất. Có 4 kỹ thuật hát quan họ là: nền, rền, vang, nảy nhưng hát quan họ không chỉ đòi hỏi hát tròn vành, rõ chữ, mượt mà, duyên dáng mà còn bằng nhiều kỹ thuật như: rung, ngân, luyến, láy mà còn phải hát nảy hạt. Kỹ thuật nảy hạt của các nghệ nhân quan họ tuy có nét chung với lối hát chèo và ca trù nhưng lại rất riêng, khó lẫn. Tùy theo theo cảm hứng và thị hiếu của người hát, những hạt nảy có thể lớn nhỏ về cường độ.

** Khác biệt của Dân ca quan họ Bắc Ninh so với các loại hình dân ca ở Việt Nam trong việc truyền dạy là tục ngủ bọn. Sau một ngày lao động, đêm đến, bọn quan họ, nhất là thiếu niên nam, nữ từ 9 đến 16, 17 tuổi thường rủ nhau ngủ bọn nhà ông/bà Trùm để học câu, luyện giọng: phải học đủ lối, đủ câu, luyện giọng sao cho vang, rền, nền, nảy, tập nói năng, ứng xử, giao tiếp và phải biết đặt câu, bẻ giọng, ứng đối kịp thời. Yêu cầu đặt với tục ngủ bọn là liền anh/liền chị phải ghép và luyện sao cho từng đôi một thật hợp giọng nhau để đi hát.

UserPostedImage

Tính chất trữ tình của các điệu hát ấy có thể chia thành nhiều loại. Loại có tính chất nhẹ nhàng, chân thật vui tươi, cởi mở, hoạt bát, thoải mái. Có loại bài có tính chất bày tỏ, tin tưởng lạc quan, yêu đời, trìu mến. Có loại tình tứ, duyên dáng, thắm thiết say sưa. Có loại mang tính chất vui tươi nửa trào phúng, nửa tình tứ một cách ý nhị. Có loại đượm nỗi nhớ nhung, trách móc. Trong các bài Quan họ nhiều nhất là những bài để tỏ tình. Rất ít bài nói lên sự thất tình. Nhưng trong sự tỏ tình có nhiều hình thức : khi thổ lộ tâm tình, khi thăm dò lòng bạn, khi hy vọng, mong mỏi nhớ nhung người tình, khi trách hờn giận, ghen tuông người tình; nhưng rút cuộc những câu thổ lộ tâm sự cũng là để thăm dò tình bạn là nhiều hơn cả.

Ví dụ:

"Anh như cây gỗ xoan đào,
Em như câu đối dán vào nên chăng?"
"Em như cây cảnh trên chùa,
Anh như con bướm đậu nhờ nên chăng?"

G. Hát quan họ lúc nào? ở đâu

Ngày xưa trai gái vùng Bắc ninh có thể hát bài quan họ quanh năm. Mỗi khi có dịp lễ là họ mời nhau đến hát, ban đêm không có việc gì, họ cũng rủ nhau đến một làng nào đó trong vùng để cùng nhau vui hát.. Nhưng hát Quan họ đặc biệt thịnh hành vào mùa thu tháng tám, và nhất là vào tiết mùa xuân trong ba tháng giêng, hai, ba…

Dịp hát quan trọng nhất là những dịp đám cưới, đám khao, đám giỗ, đám hội.

Hát Quan họ là lối hát không dính dáng đến lao động, trái với nhiều loại dân ca khác như hò hát, ví, vì thế không hát ở ngoài đồng trong khi làm lụng mà có thể hát tại nhà trong các dịp cưới hỏi, giỗ, khao… hay sau khi hát ở hội đình, hội chùa rồi mời nhau về nhà. Tại nhà có khi liền chị ngồi trong nhà hát ra, và liền anh trên bờ hát vọng xuống. Có khi họ cùng ngồi trong thuyền trên mặt hồ để vui hát trong một đêm hè hay một chiều thu. Có đến 100 bài ca nói đến thuyền bè bến nước trong 500 bài dân ca quan họ:

Thuyền ơi có nhớ bến không
Bến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền

hay

Ngồi tựa mạn thuyền
Trăng in mặt nước
Càng nhìn non nước càng xinh
Sơn thủy hữu tình
Thơ ngâm ngoài lái
Rượu bình giải trí trong khoang.

UserPostedImage

Tại hội đình trai gái hát trước bàn thờ Thành hoàng. Lắm khi các bài hát, lúc đầu chỉ có tính chất tôn giáo một ít, còn về sau đều có tính chất tình tứ. Tại hội chùa, họ hát trước cửa chùa, giữa sân chùa, có khi cả trong chùa. Nhưng thường hát ở các sườn đồi hay giữa các đám ruộng hoặc trên những bờ đê bên cạnh chùa.

UserPostedImage

H. Hội quan họ

UserPostedImage
UserPostedImage

Hội hát Quan họ thường gắn với hội chùa. Cho nên chùa là nơi tụ hội và đón nhận khách Quan họ. Có tới 49 làng hát quan họ, phân bố trong bốn huyện, xã phía nam tỉnh Bắc Ninh. Nhưng nói tới Quan họ, người ta nghĩ ngay đến hội Lim. Lim là tên nôm của xã Lũng Giang xưa. Hội mở trên đồi, nơi có chùa Lim (chùa Hồng Ân). Hội Lim đông vui và nổi tiếng nhất trong các hội Quan họ. Hội mở vào ngày 13 tháng giêng, đúng phiên đầu năm của chợ Lim. Đến hội Lim, khách du xuân được xem và nghe hát trên đồi, hát sau chùa, hát trên thuyền và hát trong các tư gia (hát trong nhà); lại có thể nghe hát đối từng cặp (đôi nam, đôi nữ), hoặc "bọn" nam, nữ.

Hội Lim chính là hội chùa làng Lim và đôi bờ sông Tiêu Tương huyện Tiên Du. Hội Lim trở thành hội hàng tổng (hội vùng) vào thế kỷ 18. Khi quan trấn thủ xứ Thanh Hóa Nguyễn Đình Diễn là người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc, có nhiều công lao với triều đình, được phong thưởng nhiều bổng lộc, đã tự hiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mở mang hội hè, gìn giữ thuần phong mỹ tục. Ông còn cho xây dựng trước phần lăng mộ của mình đặt tên là lăng Hồng Vân trên núi Lim. Do có nhiều công lao với hàng tổng và việc ông đặt hậu ở chùa Hồng ân, nên khi ông mất nhân dân tổng Nội Duệ đã tôn thờ làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng. Văn bia lăng Hồng Vân có tên Hồng Vân từ bi ký niên đại Cảnh Hưng 30 (1769) hiện giữ ở đình thôn Đình Cả đã cho biết khá rõ lai lịch, công trạng và việc thờ phụng hậu hàng tổng Nguyễn Đình Diễn mỗi năm hai dịp vào "ngày sinh" và "ngày hóa" của ông tại lăng Hồng Vân và chùa Hồng Ân trên núi Lim.

Hội Lim được mở từ ngày 12 đến 14 tháng giêng Âm lịch hàng năm, trong đó ngày 13 là chính hội, thường được kéo dài trong khoảng thời gian 3-5 ngày (11/1 - 15/1 Âm lịch).

Hội Lim bao giờ cũng gồm 2 phần tách bạch: Lễ và Hội. Các làng Duệ Khánh, Đình Cả, Lộ Bao, Lũng Giang hội tụ thành một đoàn rước từ từ tiến vào trung tâm hội thu hút sự chú ý, quan tâm đặc biệt của hội. Đây là tâm điểm của phần Lễ, hoạt động tế lễ của các đoàn rước chính là chương trình khai hội.

Ngày 13 mới là chính hội. Nhưng từ sớm ngày 12, đồi Lim - trung tâm lễ hội đã tưng bừng với các lán hát Quan họ và các trò chơi dân gian như: Thi tổ tôm điếm, đu tiên, vật, đập niêu, thi cờ người, dệt cửi hội, trò bịt mắt bắt dê và kéo co.

Lúc 8 giờ sáng ngày 13/1 Âm lịch, Hội Lim được mở đầu bằng lễ rước. Đoàn rước với đông đảo người dân tham gia trong những bộ lễ phục ngày xưa, sặc sỡ sắc màu và cũng vô cùng cầu kì, đẹp mắt kéo dài tới cả gần km. Trong ngày lễ, có nhiều nghi lễ và tục trò dân gian nổi tiếng, trong đó có tục hát thờ hậu. Toàn thể quan viên, hương lão, nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệ phải tề tựu đầy đủ tại lăng Hồng Vân để tế lễ hậu thần. Trong khi tế có nghi thức hát quan họ thờ thần.

Để hát thờ, các liền anh,liền chị quan họ nam và nữ của tổng Nội Duệ đứng thành hàng trước cửa lăng hát vọng vào. Trong khi hát, họ chỉ được hát những giọng lề lối để ca ngợi công lao của thần.

Hội Lim đi vào lịch sử và tồn tại và phát triển cho đến ngày nay được hàng tổng chuẩn bị tập rượt rất chu đáo từ ngày 9 và 10, rồi được diễn ra từ ngày 11 đến hết ngày 14 tháng giêng. Chính hội là ngày 13, với các nghi thức rước, tế lễ các thành hoàng các làng, các danh thần liệt nữ của quê hương tại đền Cổ Lũng, lăng Hồng Vân, lăng quận công Đỗ Nguyên Thụy. Trong các nhà thờ họ Nguyễn, họ Đỗ ở làng Đình Cả, dâng hương cúng Phật, cúng bà mụ Ả ở chùa Hồng Ân.

Đặc sắc hơn cả là phần hát hội và là phần căn bản và đặc trưng nhất của hội Lim. Từ hát mời trầu, hát gọi đò đến con sáo sang sông, con nhện giăng mùng...

Hội thi hát diễn ra khoảng gần trưa, được tổ chức theo hình thức du thuyền hát quan họ. Tại một hồ nước nhỏ sát bên cánh đồng làng Lim, chiếc thuyền hình rồng được sơn son thiếp vàng rời bến trong những câu hát đậm đà nghĩa tình. Một bên thuyền là các liền chị, đối diện là những em nhỏ súng sính trong những tà áo tứ thân. Các liền anh thì đứng hoặc ngồi sát hai phía đầu và cuối thuyền.

Tối ngày 12 sẽ là đêm hội hát thi quan họ giữa các làng quan họ. Mỗi làng quan họ có được dựng một trại tại phần sân rộng của đồi Lim. Đây là phần hội hay nhất của cả lễ hội Hội Lim.

Về với Hội Lim là về với một trời âm thanh, thơ và nhạc náo nức không gian đến xao xuyến lòng người. Những áo mớ bảy mớ ba, nón ba tầm, quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp the hoa gấm... như ẩn chứa cả sức sống mùa xuân của con người và tạo vật. Cách chơi hội của người quan họ vùng Lim cũng là cách chơi độc đáo, mỗi cử chỉ giao tiếp đã mang trong nó một sắc thái văn hoá cao.

Lễ hội diễn ra khắp các làng xã trong tổng Nội Duệ, trung tâm là núi Hồng Vân, với nghi thức tế lễ rước xách uy nghiêm, hùng tráng và nhiều trò vui, đặc sắc mà hấp dẫn nhất là đánh cờ người, tổ tôm điếm, thi dệt vải, thi làm cỗ và đón bạn, ca hát Quan họ.Là lễ hội lớn của vùng Kinh Bắc, với những hoạt động phong phú của lễ và hội đã có nội dung và tầm cỡ lễ hội văn hóa dân gian Kinh Bắc, gần như hội đủ những hoạt động văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh của các lễ hội trên vùng quê Bắc Ninh - mảnh đất có nhiều lễ hội dân gian.

Đến hội Lim, du khách được xem và nghe hát trên đồi, hát sau chùa, hát trên thuyền và hát trong các tư gia (hát trong nhà); lại có thể nghe hát đối từng cặp (đôi nam, đôi nữ), hoặc "bọn" nam, nữ.

Mời trầu

Nam: Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền nan i,
có về là về với hội có gái ngoan gái ngoan tầm (tìm) chồng

N :Ô mấy dẫu tình rằng anh

Nam :cô cả cô hai nay đấy ơi.

N :Anh cả anh hai nay đấy ơi.

Nam: Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền rồng
Có về là về với hội có cái công cái công đi tìm

N :Ô mấy dẫu tình rằng

Nam:cô cả cô hai có biết ko?

N:Anh cả anh hai vẫn còn không?

Nam:Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền không
Có về là về với hội có bến sông bến sông bãi bồi

N :Ô mấy dẫu tình rằng,

Nam :Cô cả cô hai ớ làng Đôi

N :anh cả anh hai ớ làng Chanh.

Nam:Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền mành i,
Có về là về với hội có cái danh cái danh với đời

N: Ô mấy dẫu tình mời,

Nam:cô cả cô hai ra hát chơi,

N: anh cả anh hai ra hát chơi

Nam:Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền không,
Có về là về với với hội (có) bến sông (có a) con thuyền

N: Ô mấy dẫu tình rằng anh cả anh hai nay có duyên,

Nam:cô cả cô hai nay có duyên.
cả 2:Ô mấy dẫu tình rằng.ô mấy dẫu tình ơi!….

Nam:Trên trời – có đám mây xanh
Có con ngựa bạch chạy quanh i gầm í trời

N:Ô mấy dẫu tình rằng,ô mấy dẫu tình ơi

Nam:Ðôi ta – muốn lấy nhau chơi
Nhưng cái duyên ko định thì trời ko xe

N:Ô mấy dẫu tình rằng,ô mấy dẫu tình ơi.

Nam:Những nơi tít tắp bờ tre (ô mấy dẫu tình ơi)
Nhưng cái duyên cứ định, trời xe anh vào (Ô mấy dẫu tình rằng,ô mấy dẫu tình ơi)

Nam:Ba đồng (Ba đồng) một sợi chỉ đào (một sợi chỉ đào)
Áo vóc không vá, vá vào áo tơi

N:ô mấy dẫu tình ơi
Tủi lòng ì thiếp lắm chàng ơi, dẫu rằng lên ngược xuống xuôi lỡ làng.

cả 2:Ô mấy dẫu tình rằng ô mấy dẫu tình ơi, Ô mấy đãu tình rằng ô mấy dẫu tình ơi

Nói tự do:

Gặp chàng dưới ánh trăng thanh,
Xin mời ăn miếng trầu xanh thắm nồng.
Trầu xanh, cau trắng, tranh hồng.
Ðẹp duyên phải phận tơ hồng trời xe…

Dạ! Xin mời anh Cả, anh Hai ăn với em miếng trầu…

Nam:Ăn một miếng trầu gặp đây ăn một miếng trầu,không ăn ơ cầm lấy í, không ăn ơ cầm lấy í cho nhau bằng lòng,
Trầu này trầu tính ớ trầu tình, trầu này trầu tính i trầu tình.
Ăn vào cho đỏ ăn vào cho đỏ môi mình môi ta, miếng trầu là miếng trầu vàng.

N:Đứng ở đằng xa yêu nhau i đứng ở đằng xa,
con mắt liếc lại í con mắt liếc lại í bằng ba đứng gần.

Nam:Anh còn son,

N:em cũng còn son. Anh còn son i, em i cũng ư còn son i
cả 2: Ước gì ta được ước a gì ta được í làm con một nhà.

N:Em về thưa với me cha

Nam: Anh về thưa với mẹ cha

cả 2:ta về thưa với mẹ cha
…………….

Hội làng Phù Đổng

UserPostedImage
UserPostedImage

Trong một nội san của Edmonton Canada có nói về một vị linh mục đã soạn những bài thánh ca quan họ nhưng Sao Khuê chưa tìm ra được để viết cho quí vị đọc, vị nào tình cờ biết được xin cho biết.

Thưa quý độc giả nội dung của bài viết trên đây hoàn toàn tìm thấy trên mạng, Sao Khuê chỉ là ngươì sắp xếp lại cho có thứ tự mạch lạc mà thôi.

Edited by user Wednesday, September 22, 2021 9:21:45 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (2)
90 Pages«<888990
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.