Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

89 Pages«<878889
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#1761 Posted : Friday, December 18, 2020 3:08:40 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
Mẹo làm sạch lò nướng


Lò nướng là một công cụ làm bếp tuyệt vời dành cho các bà nội trợ. Tuy nhiên, vệ sinh lò nướng là việc khiến chị em luôn cảm thấy “oải” nhất. Vết dầu bám, nước mỡ từ đồ nướng là những vết bẩn “cứng đầu” tốn nhiều thời gian lau rửa. Nhưng vệ sinh lò nướng sẽ không còn “đáng sợ” như bạn nghĩ khi thực hiện các bước đơn giản sau đây:

- Trước tiên, dùng một chiếc bình xịt nước làm ẩm lò

- Rải đều baking soda. Bạn nên cho nhiều baking soda hơn vào những vết cặn bám.

- Dùng bình xịt giấm trắng lên. Bạn sẽ thấy baking soda sủi bọt trắng. Đây chính là phản ứng hóa học an toàn mà bạn tạo ra giúp làm sạch vết bẩn. Sau đó đóng lò lại và để qua đêm.

- Ngày hôm sau, bạn làm nóng lò ở nhiệt độ 350F khoảng 20 phút. Tắt lò để nguội hoàn toàn. Bây giờ thì chỉ cần dùng khăn thấm nước sạch lau nhẹ là mọi vết bẩn sẽ bong sạch mà không cần tốn công sức chà xát.

Từ giờ bạn có thể yên tâm làm các món nướng mà không phải băn khoăn về việc vệ sinh lò nướng sau đó.

HH

Edited by user Friday, December 18, 2020 3:10:16 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1762 Posted : Thursday, December 24, 2020 2:36:26 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
UserPostedImage



MERRY CHRISTMAS

Chúc các bạn và độc giả thầm lặng & Gia đình
Hưởng mùa Giáng Sinh tràn đầy Hồng ân,
tràn đầy niềm vui, sức khỏe, đầm ấm bên gia đình và người thân.

HONG VU LAN NHI

Edited by user Thursday, December 24, 2020 3:03:15 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1763 Posted : Saturday, December 26, 2020 5:50:19 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)

Ngư Tiều Canh Mục


Nguyễn Dư


Ngày xưa, dân ta được chia thành bốn giai cấp: Sĩ, nông, công, thương.
Sĩ là những người có học, thi đỗ, ra làm quan. Sĩ được vinh dự làm... cha mẹ dân.

Nông là đám dân quê, có bổn phận nuôi sĩ.

Nếu không có kẻ quê mùa,
Lấy ai nuôi người quân tử?
Nếu không có người quân tử,
Lấy ai dạy kẻ quê mùa? (1)

Sau Sĩ, Nông là Công (thợ có tay nghề) và Thương (giới buôn bán).
Nông bao gồm bốn nghề: ngư (đánh cá, bắt cua...), tiều (kiếm củi, đốt than...), canh (làm ruộng, trồng trọt...) và mục (chăn trâu, nuôi gia súc...).

Dưới chế độ phong kiến, nông dân là những người thuộc thành phần nghèo khổ. Có lẽ chỉ có vua chúa và các quan ăn trên ngồi trốc mới không nghĩ như vậy. Thậm chí các bề trên còn cho rằng ngư, tiều, canh, mục là bốn thú vui (tứ thú) của bốn loại người sống ẩn dật (tứ ẩn)... bên Tàu.

Hai mươi tám ngôi sao sáng (nhị thập bát tú) của hội Tao Đàn đời Hồng Đức, gồm những ông được Khổng giáo giao cho trách nhiệm làm cha mẹ dân, thi nhau xướng hoạ, ca tụng ngư, tiều, canh, mục. Đúng hơn là ca tụng mấy nhân vật:

- Lã Vọng (Khương Tử Nha) ở ẩn câu cá tại Bàn Khê, được Văn Vương nhà Chu mời ra giúp đánh chúa Trụ nhà Thương.

- Nghiêm Tử Lăng là bạn thân của Lưu Tú. Khi Lưu Tú lên làm vua thì Tử Lăng giữ vững tiết tháo không chịu ra làm quan, lui về sống ẩn dật. Ngày ngày câu cá ở sông Đồng. (Có người nói Nghiêm Tử Lăng đi cày ruộng tại núi Phú Xuân).

- Lưu Thần và Nguyễn Triệu nhân ngày mồng năm tháng năm vào núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên.

- Chu Mãi Thần tính chăm học, nhà nghèo, phải làm nghề hái củi. Mãi Thần vừa hái củi vừa học. Vũ Đế nghe tiếng, cho triệu vào triều, phong chức Trung đại phu.

- Gia Cát Lượng cày ruộng ở Nam Dương. Lưu Bị ba lần đến lều tranh của Gia Cát Lượng mời ra giúp sức, để chống nhau với Tào Tháo và Tôn Quyền.

- Nịnh Thích vì nhà nghèo phải sang nước Tề ở chăn trâu cho người khác. Một hôm, đang gõ sừng trâu ca hát, gặp Tề Hoàn Công đi qua. Tề Hoàn Công nghe tiếng hát lấy làm cảm động, liền dùng Nịnh Thích làm thượng khanh.

- Lý Bá Hề làm quan ở nước Ngu, biết nước này sắp bị diệt vong, bèn bỏ sang nước Tần, đi ở chăn trâu. Mục Công nước Tần biết Hề là người giỏi, dùng làm tướng, làm nên nghiệp bá.

- Tô Vũ đi sứ sang nước Hung Nô, bị chúa Thuyền Vu bắt giam, rồi bị đày đến bể Bắc, chăn dê. Hẹn rằng bao giờ dê đực đẻ sẽ tha cho về. Mười chín năm sau Tô Vũ được tha, trở về với nhà Hán.

Thỉnh thoảng cũng có lúc các quan tạm quên tứ ẩn của Tàu, say sưa ngồi nghe Tứ thú (ăn nhậu của ta) cùng nhau nói chuyện:

Đêm rượu, ngày rồi họp bốn người,
Cùng bày sở thú bảo nhau chơi.
Con trâu tớ béo, cơm ngươi trắng,
Đon củi ngươi nhiều, cá tớ tươi.
Gặp thuở thái bình ngươi mến tớ,
Chứa lòng ưu ái tớ cùng ngươi.
Cắp cầm, con Tuyết tình cờ đến,
Bỏ nón, lùi chân khặc khặc cười. (2)

Ngày xưa, nghề làm ruộng của nước ta được vua làm lễ tịch điền để "tôn vinh", khuyến khích:

Mùa xuân năm 987, vua Lê Đại Hành bắt đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi, được một chĩnh nhỏ vàng, lại cày ở núi Bàn Hải, được một chĩnh nhỏ bạc, vì thế đặt tên là ruộng Kim Ngân. (Đại Việt sử ký toàn thư).

Đất vua cày là đất vàng, đất bạc. Tiếc rằng vua chỉ cày ở hai nơi.
Tháng 2 năm 1083, vua Lê Thái Tôn ngự ra Bố Hải khẩu cày ruộng tịch điền. Sai quan dọn cỏ đắp đàn. Vua thân tế Thần Nông xong, cầm cày muốn làm lễ tự cày, các quan tả hữu có người can rằng: "Đó là việc của nông dân, bệ hạ cần gì làm thế?". Vua nói: "Trẫm không tự cày thì lấy gì mà làm xôi cúng, lấy gì để xướng suất thiên hạ?". Thế rồi đẩy cày ba lần rồi thôi. (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lễ tịch điền của nhà Nguyễn được tổ chức long trọng và... kín đáo hơn. Bửu Kế, Nhìn qua các nghi lễ triều đình Huế, kể rằng:

"Vua, hoàng thân, các quan đại thần cày mấy đường cày đầu năm tại sở Tịch điền trong Kinh thành, để làm gương, khiến các nhà nông noi theo đó mà siêng năng trong việc cày cấy. Trong khi vua cày, ngài mặc áo chẽn, bịt khăn đường cân, mang hia, tay cầm roi, tay cầm chiếc cày sơn vàng, do hai con bò cũng phủ lụa vàng kéo. Đi theo hầu vua, có quan Phủ thừa và một viên ấn quan bộ Hộ, người mang thúng giống, kẻ vãi giống. Lại có viên quan đi phòng ngừa để hứng phân bò phòng hai con vật có lỡ bất kính mà làm bậy.

Vua cày xong lên ngồi trên nhà Quan canh để xem hoàng thân và quan lại cày. Đây chỉ là một công việc tượng trưng, vì sau đó sở ruộng được giao lại cho một số chức sắc chuyên về nông nghiệp phụ trách. Lúa gạo gặt được ở sở tịch điền sẽ dùng để tế Giao, tế các thần và các lăng miếu". (3)

Tiều phu thỉnh thoảng mới được nhắc tới:

Một gánh càn khôn quảy tếch ngàn
Hỏi chi bán đó dạ rằng than
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn...
(Bán than, tục truyền tác giả là Trần Khánh Dư)

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
(Bà huyện Thanh Quan)

Dân gian có cái nhìn thực tế hơn. Họ chỉ thấy tiều phu là hạng người khố rách áo ôm.
Cửa nhà nghĩ thảm trăm chiều
Gia tài có một búa rìu đốn cây
Sẵn nghề cha để lại đây
Đốt than, kiếm củi tháng ngày lân la.
...
Mình trần, khố có một manh
Giang sơn một gánh củi cành trên vai
(Truyện Thạch Sanh)

UserPostedImage
ngư

UserPostedImage
tiều

UserPostedImage
canh

UserPostedImage
mục

Ngư, tiều, canh, mục của văn học không có thay đổi gì đáng kể cho tới ngày lịch sử sang trang.

Ngày 6 tháng 6 năm 1884, triều đình nhà Nguyễn kí hoà ước, trao vận mệnh nước ta cho thực dân Pháp.
Cuối thế kỉ 19, Pháp đem chữ quốc ngữ vào giảng dạy tại nhà trường. Sách báo viết bằng chữ quốc ngữ được xuất bản. Đầu thế kỉ 20, chữ Hán, chữ nôm bị chữ quốc ngữ thay thế.

Văn học Việt Nam chuyển sang thời kì dùng chữ quốc ngữ.

Đời sống của nông dân được "thơ văn quốc ngữ" để ý nhiều hơn trước.

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
...
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
(Nguyễn Khuyến, Câu cá mùa thu)

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
...
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng (...)
(Tế Hanh, Quê hương)

Tản Đà ghi được những "lời qua tiếng lại" của một cặp vợ chồng làm nghề đốt than, sống trong rừng xanh. Vợ than thở trách chồng:

Chàng, chàng hỡi Tri âm từ thuở,
Nỗi sinh nhai rìu, búa, bếp, lò,
Nghĩ mình cũng đứng trượng phu,
Tây, nho chữ nghĩa không thua chi đời.
...
Làm cho phỉ chí nam nhi,
Trước là phu quý, sau thì phụ vinh.

Chồng "mắng yêu" vợ:

Dại đâu có dại lạ đời,
Ngu đâu mà lại có người quá ngu!
Người phải biết tự do là thú,
Mất tự do còn có ra chi.
Canh tàn, thôi liệu ngủ đi,
Ngủ cho đẫy giấc, mai thì bán than.
(Tản Đà, Vợ chồng người đốt than)

Tiều phu của Tản Đà thích đời sống nghèo nhưng được tự do hơn là giàu sang nhưng phải bon chen luồn cúi.

Khái Hưng nhìn thẳng vào hoàn cảnh của một cặp vợ chồng nghèo, đông con. Nước cùng phải đi vớt củi trên sông Hồng.

"Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại với sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô khi chìm, khi ẩn khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt trong nghiên son.

Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi.

Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ, thì trời đổ mưa... Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở.

Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu. Hai người cố bơi, nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi...

Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc:
- Giời ôi!
Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp.

(...)
Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ.

Đèn điện sáng rực suốt bờ sông. Gió đã im, sông đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì lòng thương con.

Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng". (Khái Hưng, Anh phải sống)

Làm ruộng không nguy hiểm như vớt củi trên sông hay chặt cây trong rừng, nhưng cực nhọc, nghèo khổ thì tất cả đều ngang nhau.

Phan Kế Bính có nhận xét:

"Nước ta là một nước Nông quốc, nghĩa là lấy việc làm ruộng làm gốc sinh nhai.

Nhà làm ruộng rất là cần khổ (...), chẳng những người lớn vất vả, dẫu đến trẻ con cũng vất vả. Nào khi chăn trâu chăn bò, nào khi mò cua bắt ốc, khố rách áo ôm, coi hình thù rất nên tiều tụy. Thôi nói cái cảnh nhà làm ruộng của ta, thì chẳng còn nước nào khổ hơn. Song cũng lắm lúc vui thú mà vui thú thật...". (4)

Thuở nhỏ được học bài ca dao nói lên những khó nhọc của nhà nông:

Ra công xới lúa giữa trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa luống cày,
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

Mãi sau này mới được biết bài ca dao là thơ của Lý Thân (780-846) đời Đường, được Tương Như dịch sang tiếng Việt. (5)

Các bài học khác thì nhẹ nhàng vui vẻ hơn.

- Hằng ngày tôi đi học, phải qua một cánh đồng rộng. Tôi thường thấy: đàn ông thì cày bừa, đàn bà thì đập đất, trẻ con thì chăn trâu, chăn bò. Lúc trời làm khô cạn, thì tôi thấy nào là người khai ngòi, đắp bờ, nào là người tưới cây, tát nước. Lúc nào ngoài đồng cũng có người làm, trông thật là vui vẻ. (Quốc văn giáo khoa thư).

Các cụ có câu Không ăn mẻ cũng chết. Nhưng muốn có miếng ăn thì bắt buộc phải trông nhờ vào người làm ra miếng ăn. Mấy ông sĩ bèn nhắc nhở, khuyến khích đám nhà nông:

Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu

Nhưng đồng thời sĩ cũng nhắc khéo nông rằng: Muôn thửa ruộng nương tốt, Chẳng bằng một nghề mọn. Ngàn vàng để cho con, chẳng bằng một quyển sách. (6)

Dù sao thì đời sống của nông dân của thế kỉ 20 cũng được văn nghệ sĩ lột tả mạnh dạn, sâu sắc hơn ngày xưa:

Ruộng khô có những ông già rách vai
Cuốc đất bên đàn trẻ gầy
Có người bừa thay trâu cầy
(Phạm Duy, Quê nghèo)

(...) Người đàn ông cúi rạp bước lầm lì

Người vợ cố đẩy bừa theo sát gót
Họ là những nông phu nghèo bậc chót
Không có trâu nên phải làm... trâu
Họ bừa ngầm một thửa ruộng chiêm sâu
Nước đến bụng, ôi, rét càng thêm rét...
(Bàng Bá Lân, Người trâu)

Có người đi xa hơn, tôn vinh nông dân:

"Nhà nông chân lấm tay bùn, Bền lòng kiên chí nêu cao gương cần lao (...) Khôn xiết gian lao, bao lầm than, bao cơ cầu. Vì nước, vì nhà, mới vất vả mới dãi dầu". (Thẩm Oánh, Nhà nông)

Riêng nghề chăn nuôi thì từ xưa tới nay thời nào cũng bị giới hạn vì thiếu vốn, thiếu đất mở trang trại.

"Những giống vật người ta nuôi trong nhà là : mèo, chó, lợn, gà, trâu, bò và ngựa. Mèo thì bắt chuột, chó thì giữ nhà, lợn gà thì để ăn thịt, trâu bò thì để cày bừa ruộng đất, ngựa thì để cỡi hay kéo xe. Giống nào cũng có ích cho ta cả, cho nên khi ta đã nuôi nó thì phải cho nó ăn uống và chăm nom đến nó, đừng đánh đập mà tội nghiệp". (Quốc văn giáo khoa thư).

UserPostedImage
câu cá

UserPostedImage
hái củi

UserPostedImage
chăn trâu

UserPostedImage
ông quan hưu trí (?)


Tranh Oger có bộ Tứ ẩn vẽ người câu cá, hái củi, chăn trâu và ông quan hưu trí (?).

Sách Tranh dân gian Việt Nam của Maurice Durand có hai bộ Ngư, tiều, canh, độc. (7)

Độc là nghề đọc sách của sĩ. Tranh vẽ một ông "áo quần bảnh bao" ngồi đọc sách, dạy học. Tranh Ngư, tiều, canh, độc (và cả tranh Tứ ẩn) tuy đẹp nhưng nếu để ý một chút thì thấy nội dung bị khập khiễng vì cho một ông quan sang trọng ngồi hưởng nhàn bên cạnh đám nông dân chân lấm tay bùn!

Ngày nay, bốn nghề ngư, tiều, canh, mục vẫn còn nhưng tên gọi đã được đổi mới.

Muốn biết đời sống mới của họ ra sao, xin chờ hạ hồi phân giải...

UserPostedImage
ngư, tiều

UserPostedImage
canh, độc

Nguyễn Dư
(Lyon, 11/2020)

Edited by user Saturday, December 26, 2020 6:05:34 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1764 Posted : Friday, January 1, 2021 6:06:53 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
UserPostedImage

CHUC MUNG NAM MOI

Chân thành gửi những lời tốt đẹp nhất đến gia đình thương yêu,
các bạn thân mến, và quí khách thầm lăng vãng lai ...
NĂM MỚI AN KHANG, TRÀN ĐẦY HỒNG ÂN,
HẠNH PHÚC, SỨC KHỎE, MAY MẮN SUỐT NĂM

HONG VU LAN NHI

Edited by user Friday, January 1, 2021 6:14:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1765 Posted : Saturday, January 2, 2021 2:05:53 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
Chùa Trúc Lâm ở Huế


Hồ Đắc Duy


UserPostedImage

Chùa Trúc Lâm ở về phía tây nam cách thành phố Huế khoảng 5km, tọa lạc trên đỉnh đồi Dương Xuân Thượng thuộc làng Thuận Hòa, xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy.

Đồi Dương Xuân Thượng nằm lọt thỏm giữa những ngọn đồi và núi bao quanh. Phía bắc giáp dốc Cầu Lim và đàn Nam giao; phía nam giáp đồi lăng mộ cụ thượng thư Hồ Đắc Trung và vùng núi Ngũ Tây, Thần Phù, Phú Bài; phía đông có núi Thiên Thai và vùng núi đá vôi và phía tây có đồi Thiên An, núi Kim Phụng mà xa hơn là dãy Trường sơn Nam. Sườn đồi Dương Xuân hình vòng cung , dưới chân đồi có khe suối uốn khúc chảy từ hướng nam bắc vòng qua dưới Cầu Lim vào địa phận Dương Xuân Hạ trước khi đổ ra sông Hương.

Cách đây hơn nửa thế kỷ về mùa mưa suối chảy xiết nước đổ ầm ầm, đến mùa khô hanh nước cạn dần, suối trở thành khe nước trong vắt ngọt lịm có thể thấy đá cuội dứới lòng khe và những đàn cá nhỏ tung tăng rượt đuổi nhau. Hai bên bờ suối là một dãi cát trắng phau nhất là ở trước mặt tiền của chùa, còn ở nơi khác thì cát chen lẩn với đá cuội đủ màu sắc (từ đen tuyền cho đến trắng bạch, xanh ngọc, xám, nâu vàng tím ...) to nhỏ tròn lép hay có những hình thù góc cạnh khác thường trông rất lạ mắt đúng là:

Trước mặt bờ khe phơi cát trắng
Sau lưng chòm núi rợp cây xanh.

Đến thập niên 60 thế kỷ trước, sư ông trù trì chùa Trúc Lâm là Hòa thượng Thích Mật Hiển cho ủi san bằng khu đất trước cổng chùa bên dưới chân đồi và đào sâu xuống thành một cái hồ hình chữ S. Sư ông còn đắp một con đường đi vòng quanh hồ, hai bên bờ trồng trúc, tre la ngà, dương liễu. Mé phải đầu con đường thiền hành này sư ông có cho dựng một cột đá có khắc chữ hình như là ba chữ Trúc Lâm Tự. Lâu ngày cột đá đổ xuống không rõ tấm bia nay còn hay đã mất.

Gần một thế kỷ khi mới lập chùa Trúc Lâm, chổ đó chỉ là một cái am lá thô sơ nằm trong một khu rừng hoang vắng rậm rạp tre trúc dày đặc. Chung quanh am là đồi núi khe suối chia cắt, theo đường chim bay thì từ kinh đô đến chùaTrúc Lâm còn xa hơn chùa Tra Am của sư Viên Thành ở dưới chân núi Ngự Bình. Ít người đến được nơi đây hoặc muốn tới phải băng rừng lội suối vạch lau sậy đi theo lối mòn của tiều phu hay thợ săn.

Đồi Dương Xuân là đất bìa rừng của dãy Trường Sơn, đứng trên núi Ngự Bình hay trên đỉnh Thiên Thai nhìn về phía tây là có thể định vị đỉnh đồi Dương Xuân Thượng nếu như có một tiều phu nào đó đốt củi làm than trên đó.

UserPostedImage

Tồ khai sơn chùa là Thiền sư Giác Tiên, câu chuyện ngôi chùa được thành lập là một hạnh duyên cực kỳ lý thú :
Nguyên vào mùa xuân năm Ất Mùi (1895) triều Thành Thái, chùa Phổ Quang ở dốc Bến Ngự càng ngày càng hư hỏng. Theo tương truyền là một thảo am của ông Nguyễn Hữu Hào (Đôn Hậu Công Thần Trấn Thủ sinh năm 1642 mất năm 1712 tức anh ruột của Nguyễn Hữu Cảnh ngưởi khai sinh ra thành phố Saigòn) tác giả của một truyên thơ bằng chữ Nôm truyền đời đó là truyện Song Tinh (một tác phẩm văn học cổ nước ta trước cả truyện Hoa Tiên và truyện Kiều hơn một thế kỷ). Lúc ấy, tự trưởng là Chánh Động Đại sư đem ngôi chùa cúng dường cho đại lão hòa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu. Bấy giờ có một tỳ kheo ni là bà Hồ Thị Nhàn người làng Chuồn ( An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên) con ông Hồ Đắc Tuấn và bà Công Nữ Thức Huấn, cháu ngoại của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Bà sinh năm 1863 kết duyên cùng ông Nguyễn Đôn Lý, sau ngày chồng mất bà xuất gia thụ giáo với hòa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu (1898) pháp danh Thanh Linh hiệu Diên Trường. Bà xin phép đại lão hòa thượng được trùng tu chùa Phổ Quang. Điện Phật, cửa chùa, nhà tăng, buồng bếp, ảnh tượng, đồ thờ được sửa sang trang nghiêm đầy đủ. Bà lại đem chuyện đó tâu lên với đức Thái hoàng Thái hậu Trang Ý Thuận Hiếu xin ban cho hai mẫu ruộng chi dùng vào việc đèn hương... Đấy cũng là thời điểm đang mở đường xe lửa chạy ngang qua dưới chân đồi của chùa Phổ Quang, nơi ấy trở nên thị tứ ồn ào đông đúc, dân cư tụ tập, chơ búa ghe thuyền tấp nập... nên sư bà Diên Trường tìm đường rẻ lối tới chốn sơn lâm cùng cốc xa hơn lập một thảo am khác để tiếp tục tu hành. Duyên lành đã hạnh ngộ trên đỉnh đồi Dương Xuân là vậy, khi thảo am đã xong sư bà Diên Trường mời sư Giác Tiên về làm trụ trì và sư cũng là tổ khai sơn của chùa Trúc Lâm ngày nay.

Trước khi về nhận chùa, sư Giác Tiên đã cùng sư cụ Diên Trường du hành đó đây. Khi đến Trúc Lâm Yên Tử (một trung tâm Phật Học dưới triều đại nhà Trần) hai vị đã lưu lại một thời gian, sưu tầm một số pháp bảo quý giá như kinh điển, pháp khí. Trở về Huế, sư đã quyết định đặt tên chùa là Trúc Lâm Đại Thánh, có ý liên hệ với Trúc Lâm tinh xá thời Phật còn tại thế và thiền phái Trúc Lâm ở Yên Tử nước ta do Trúc Lâm Đầu Đà Đại Sĩ (hiệu của vua Trần Nhân Tông) thiết lập.

Tổ khai sơn pháp danh Trừng Thành, tự Chí Thông thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 42. Sư thế danh Nguyễn Duy Quyển sanh năm 1879 tại làng Dạ Lê Thượng, Thủy Phương, Hương Thủy. Lên 4 tuổi thì song thân mất, phải về ở với ông bà đến năm 11 tuổi (1890) xin xuất gia và được thọ giáo với tổ sư Tâm Tịnh (đời thứ 41 thuộc dòng Lâm Tế, người khai sơn tổ đình Tây Thiên). Đầu tiên ngài được tu học tại tổ đình Từ Hiếu, nơi ngài Hải Thiệu đang làm trụ trì và ngài Tâm Tịnh làm giám tự. Năm 14 tuổi ngài được tổ cho thọ giới Sa-di. Năm 1907, Hòa thượng đàn đầu Vĩnh Gia tổ chức đại giới đàn tại chùa Phước Lâm tỉnh Quảng Nam, ngài được cho đăng đàn thọ cụ túc giới. Tại đây ngài được cử làm thủ chúng Sa-di khi vừa 28 tuổi.

Năm 1918 sư mở đại giới đàn tại chùa Từ Hiếu, mời Hòa thượng Tâm Tịnh làm đàn đầu. Năm 1924 vân tập đại Tăng an cư kiết hạ tại chùa, năm sau sư được chiếu chỉ của triều đình mời làm trú trì ngôi quốc tự Diệu Đế.

Năm 1926, sư cho trùng tu toàn bộ Phật điện và tăng xá chùa Trúc Lâm. Đến năm 1928 ngài biến Trúc Lâm thành nơi đào tạo tăng tài. Năm Kỷ Tỵ 1929, ngài vào Tổ đình Thập Tháp ở Bình Định mời Hòa thượng Phuớc Huệ ra Huế làm chủ giảng. Năm 1930, sư khuyến khích và giúp đỡ sư bà Diệu Hương xây dựng và mở Ni trường Diệu Đức.

Năm 1931, sư là người đầu tiên khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo và vận động thành lập Hội An Nam Phật học, thỉnh nhiều vị thiền sư tài đức về chung lo Phật sự. Năm 1932, nhờ sự giúp đỡ của bà Từ Cung (Đoan Huy Hoàng Thái hậu), vua Bảo Đại cho phép An Nam Phật học hội ra đời do sư đứng đầu, trụ sở đầu tiên đặt tại chùa Trúc Lâm Huế. Năm 1933, sư ủy cử thiền sư Mật Khế vị đệ tử xuất sắc của ngài mở trường An Nam Phật học sơ cấp tại chùa Vạn Phước. Năm 1934 vua Bảo Đại ban sắc chỉ đặt tên chùa là "Sắc tứ Trúc Lâm Đại Thánh tự ".

Năm 1935, pháp sư Trí Độ đảm nhiệm chức vụ Đốc giáo sau khi trường dời từ chùa Túy Vân (chùa Thánh Duyên ) về chùa Báo Quốc. Trong năm này sư cùng đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật học tại Trúc Lâm, thu nhận 50 học tăng. Đến cuối năm ngài lại quy tụ các học tăng có trình độ cao về Trúc Lâm để mở thêm cấp Đại học Phật giáo, và đó là lớp Đại học Phật giáo đầu tiên có tại miền Trung. Ngoài vị đệ tử lớn của sư là thiền sư Mật Khế, còn có vị đệ tử tại gia rất xuất sắc là Bác sĩ Lê Đình Thám, người đã soạn thảo chương trình tu học cho thanh thiếu niên Phật tử. An Nam Phật học hội đã hơn một lần tổ chức một đại lễ Phật đản lớn chưa từng có ở Huế.

An Nam Phật học hội qui tụ được nhiều nhà tu hành uyên bác như các Thiền sư Mật Khế, Mật Thể, Đôn Hậu, Diệu Hương, Diệu Không... các cư sĩ như Tiến sĩ Đinh Văn Chấp, Nguyễn Khoa Tân, Bửu Bác... và ra báo Viên Âm, tổ chức các buổi thuyết pháp, dịch Kinh sách

Ngày 2 tháng 10 năm Bính Tý, sư cho quy tụ đồ chúng để nghe giảng kinh Pháp Bảo Đàn. Hai hôm sau khi giảng xong phẩm Bát nhã, sư nhìn từng đệ tử để truyền kệ và vào lúc 20 giờ ngày mùng 4 tháng 10 niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (tức ngày 17.11.1936) sư thị tịch lúc 57 tuổi trong lúc đang đảm nhận trách vụ trú trì hai tổ đình Trúc Lâm - Diệu Đế và chứng minh đạo sư cho hội An Nam Phật học.

Với công hạnh và đức độ của sư, ngài Tâm Tịnh đã phó pháp bài kệ sau :

Giác đạo kiếp không Tiên
Không không bát nhã Thuyền
Quả nhân phù hạnh giải
Xứ xứ tức an nhiên.

(Đường giác kiếp không trước, thuyền bát nhã không không, hạnh giải hợp nhân quả, ở đâu cũng thung dung).

Ông Nguyễn Lang viết : "Thiền sư Giác Tiên có thể gọi là người đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung. Thiền sư hướng đạo cho hội An Nam Phật học được bốn năm thì viên tịch. Các đệ tử của ngài là thiền sư Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể đều đóng những vai trò quan trọng trong phong trào chấn hưng Phật giáo sau này".

Thiền sư Mật Khế là một trong những đại đệ tử của sư Giác Tiên. Sư là con ông Khóa họ Lê ở Thần Phù và bà Nguyễn thị Lài người làng Cầu Ngói Thanh Toàn. Xuất gia từ năm lên 7 tuổi sau khi cha qua đời, sư là một người thông minh lanh lợi làu thông kinh sử ngay từ thuờ niên thiếu được mọi người trong chùa gọi là chú tiểu Nam. Năm 20 - 22 tuổi khi đang tu học ở chùa Thánh Duyên - Túy Vân (quê hương của đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại). Bà Từ Cung nghe tiếng sư là người uyên bác nên cho vời sư vào cung để thuyết giảng phật pháp.

Thiền Sư Mật Khế qua đời khi còn rất trẻ khoảng 30 tuổi vì bị viêm phúc mạc do viêm ruột thừa, hiện tại thiền sư còn một người em gái là cụ bà Hồ Thị Huyền vợ của ông Ưng Úy (thượng thư bộ Lễ) và bà đang sống tại Tp HCM.

Thiền sư Mật Thể thế danh là Nguyễn hữu Kê người làng Nguyệt Biều (Hương Thủy, Thừa Thiên) sinh năm 1912, xuất gia năm 12 tuổi, tu học tại chùa Diệu Hỷ, Từ Quang, Trúc Lâm. Năm 1930, được Hòa Thượng Giác Tiên nhận làm đệ tử pháp danh Tâm Nhất, hiệu Mật Thể. Năm 1937 sang Trung Quốc học ỡ Phật Học Viện Tiêu Sơn, năm 1941 dạy tại Phật học đường Lữơng Xuyên Trà Vinh, năm 1944 làm trụ trì chùa Phổ Quang ở Huế và mất năm 1961 tại Nghệ An.

Thiền sư Mật Hiển là sư ông trụ trì chùa Trúc Lâm lâu nhất, mất năm 1992 là ngươi có công nhiều nhất trùng tu và xây dựng chùa Trúc Lâm để có được dáng vẻ như ngày hôm nay.

Từ thành phố Huế xe đi qua cầu Nam Giao vào con dường thẳng mà không bằng ấy đến đàn rẽ trái vượt qua cầu Lim găp một con đường đất bên trái đi thêm khoảng 500 mét là đến cổng chùa. Chỉ mất chừng nửa giờ đi xe là đến nơi, con đường đá vàng cát trắng quanh co ngày xưa mà bác sĩ Lê Đình Thám đã từng mô tả :

Đường Trúc Lâm đá vàng cát trắng,
Cảnh Trúc Lâm, cảnh vắng người thanh
Dòng khe lượn khúc như tranh
Rừng cây rợp bóng tươi xanh bốn mùa.

Thoạt đầu để mở được con đường quả thật là cam go vì khu vực này còn là rừng nguyên sinh, cây cối tre trúc um tùm ít bóng ngươi lai vãng. Đất đai chưa có ai khai phá có rất nhiều đoạn phải xẻ núi bởi triền đồi Dương Xuân Thượng có độ dốc khá dựng đứng bên phải là vực sâu có giòng khe nước chảy xiết nhất là mùa mưa bão.
Một trăm năm trước nhà chùa chỉ làm được một lối mòn ven triền đồi để đi lại, xe ngựa không thể vào đây được (dấu tích nay vẫn còn thấy). Sau những đợt trùng tu chùa vào các năm 1926, 1942, 1968, 1992 con đường mới được rộng rãi như hôm nay.

Tôi sinh ra và trọn tuổi ấu thơ đã được sống bên cạnh chùa Trúc Lâm, ngôi chùa đã in một dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn tôi. Vả lại gia đình nhà tôi còn có một mối liên hệ rất mật thiết với ngôi chùa này. Sư bà Diên Trường là em gái của ông nội tôi là cụ Hồ Đắc Trung (Thượng thư bộ Học, Đông Các Đại Học Sĩ, thầy dạy vua Duy Tân, bạn của hai ông Thái Phiên, Trần cao Vân và là người duyệt lại bộ " Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu " một quyển sử quan trọng của Quốc Sử Quán triều Nguyễn ).
Ờ trong Hậu tổ Chùa Trúc Lâm hiện nay vẫn còn hai câu đối của ông nội tôi đề tặng khi Thiền sư Giác Tiên viên tịch:
Học hạnh khiêm ưu bình tố năng linh nhơn cảnh mộ

Tử sanh vô ngại tu trì định hoạch Phật siêu thăng.
(nghĩa : Học hạnh khiêm ưu thường được người ta mến mộ . Sống chết không ngại tu trì kết quả Phật siêu thăng).

Vị kế Đông sơn phi cụ nhãn yên minh tổ ý
Pháp khai Nam lĩnh thị mê nhơn bất khế Phật tâm.

(nghĩa : Ngôi nối núi Đông, không mắt tỏ sao rõ ý tổ . Pháp mở rừng Nam, nếu người mê, không hiễu tâm Phật).

UserPostedImage

Năm 1942 thiền sư Mật Hiển đại trùng kiến chùa theo hình chữ khẩu, đưa chánh điện lên phía trước, hai bên là đông đường dùng làm nhà khách và tây đường làm thiền thất. Chánh điện cũ dùng làm nhà hậu để thờ chư vị tiền bối hữu công và hương linh thiện nam tín nữ (trong đó gian giữa có khán thờ ông bà nội và cha tôi).

Năm lên 6 tôi được mẹ cho đi học ở một trường do các Cha cố dòng Thiên An lập ra ở ngã ba Cầu Lim. Để đến trường có hai con đường, một là đi băng qua chùa Trúc Lâm và hai là phải đi qua một cánh đồng.

Nhà tôi ở là cơ ngơi dinh thự của bác tôi ông Hồ Đắc Khải , thượng thư bộ hộ để lại tọa lạc trên một đỉnh đồi kế cận với đồi Thiên An

Tôi trở lại Trúc Lâm lần cuối vào năm 1952 khi cha tôi qua đời, lúc ấy quân Pháp đóng đồn ở Nam Giao. Chúng ngăn con đường cấm dân chúng không được đi lại qua đồn. Từ Huế muốn lên chùa Trúc Lâm hay lăng Khải Định dân phải đi vòng núi Bân, Ba Đồn, Tây Thiên hoặc phải đi vòng qua Long Thọ. Mẹ tôi phải xin phép viên sĩ quan Pháp để xe chở quan tài của cha tôi được đi ngang qua.

Sau tang lễ chúng tôi rời Huế vào Saigon và 4 năm sau khi hòa bình được tái lâp, chúng tôi trở lại Huế và kể từ đó cuộc sống của tôi gắn liền mật thiết với ngôi chùa này hơn bởi nhiều lý do.

Lần đầu tiên tôi khám phá những điều kỳ diệu của đạo Phật là ở nơi lầu chuông, trong chùa lúc bấy giờ có mấy chú điệu cùng trang lứa với anh em tôi là Lưu Ân và Lưu Phương. Ngày nọ, họ nói với tôi là " sáng mai mồng một Tết rán thức dậy thật sớm, tui sẽ dẫn anh Thiện (tên tôi) lên lầu cho anh gióng chuông, hay và vui lắm".

Đêm đó là đêm 30 tết, tôi ra đứng ngoài sân chùa nhìn về hướng thành phố Huế thấy sáng rực lên một góc trời. Pháo của nhà ai đó ngoài xóm nổ đi đùng vang tới cảnh chùa khiến lòng tôi cũng nao nao.

Tối thiếp đi cho tới khi bị lay dậy Lưu Ân suỵt môi ra dấu cho tôi đi rửa mặt và thay áo quần, Lưu Phương đi trước cầm cái đèn hột vịt. Ngang qua nhà khách, leo một bậc cấp dọc theo phía đông của nhà Tổ và chánh điện. Lầu chuông có hình vuông. ba mặt tường có hoa văn nhìn ra phía ngoài, lối đi vào ăn thông với hành lang của chánh điện. Một quả chuông rất to màu xám xanh được treo trên một giá đỡ bằng gỗ. Mặt ngoài chuông trơn láng gờ lên những hoa văn, so với thân hình của tôi lúc đó thì quả chuông thật vĩ đại. Trên giá đỡ có một sợi dây căng ngang để móc các thẻ tre, cứ mỗi lần dộng chuông thì kéo một thẻ từ phía nam qua bắc. Chày dộng bằng gỗ rất đơn sơ được treo lên nóc bằng một sợi dây thừng, nghe nói là sư ông đã cho thay cả chục cái chày, cho đến khi lựa được một cái chày vừa ý mà sau này tôi cho là cái chày của sự tỉnh thức vì chỉ có cái chày đó khi dộng chuông mới tạo ra một âm thanh vô cùng huyền diệu. Một âm sắc có khả năng đưa con người trở về với thanh tịnh tâm. Tiếng chuông phát ra từ cái dộng dầu tiên đã làm cho máu huyết trong cơ thể tôi muốn đảo ngược lên sau đó điều hòa một cách nhẹ nhàng êm ái, tâm hồn trở nên vắng lặng hư không. Tôi không còn ham muốn, ray rứt hoặc giận hờn. Hình như mọi chuyện đều trở nên đơn giản và thân thiện khi nghe tiếng ngân mơ hồ như từ một cõi ta bà nào đó vọng tới, một thông điệp cuộn tròn trong những tiếng ngân cuối cùng. Tâm hồn thơ ấu của tôi đang theo sau bước hành thiền của tiếng chuông, tôi đang được tách rời ra khỏi với thế giới hiện tại thì có tiếng thúc giục của Lưu Ân báo cho tôi biết là đến lúc phải dộng tiếng chuông kế tiếp.

Sau lần được gióng chuông , tôi bắt đầu tìm hiểu những điều bí ẩn trong gian chánh điện là nơi mà tôi ít khi được lên đó một mình hay nói cách khác là tôi không dám lên khi không có ai. Lúc đó tôi chỉ thích cái sàn nhà của chánh điện, nó mát lạnh tuyệt vời mà không phải bất cứ chùa nào ở Huế cũng có được. Chỉ cần nằm lăn lên trên cái sàn nhà đó là hạnh phúc và bình an đến với tôi, tôi không còn sợ hãi ma quỉ hù dọa, cảm giác như được mẹ ôm vào lòng, che chở và từ đó thỉnh thoảng nếu thấy không có ai thì tôi lén chạy lên nằm lăn lên đó cho "đã thèm" ! Một lần tôi bị sư ông bắt gặp, có lẽ sư ông thấy hêt hành động của tôi từ đầu chí cuối, tôi lăn lộn như một chú chó con mừng chủ đi xa trở về, ngụp lặn hạnh phúc trong cõi bình an một cách tột độ trước mặt hình tượng im lặng trang nghiêm của đức Thế Tôn đang ngự trên tòa sen. Tôi đã hốt hoảng biết chừng nào khi nhận ra là sư ông đang nhìn mình nằm lăn ra như vậy.

Ngài không nói mà chỉ nhìn tôi đang sợ hãi bối rối đứng lên rồi ngài đến nhẹ nhàng cầm bàn tay nhỏ bé của tôi đang run rẩy dẫn qua phía tây của chánh điện, vòng ra phía nhà Tổ và chỉ cho tôi ảnh của một người râu ria xồm xoàm vai vác một cây gậy có treo một chiếc giày. Mãi đến mấy chục năm sau, tôi mới biết người ấy là ai

Tôi chưa bao giờ kể chuyện sư ông bắt gặp tôi nằm lăn ra sàn nhà chánh điện với ai. Đó là ảo ảnh, hư cấu hay là một giấc mơ tẩu hỏa nhập ma trong thời thơ ấu của mình để mà suy nghiệm lời của đức Thế Tôn dạy " Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào ảnh như lộ, diệc như điểu, ưng tác như thị quán "

Sư ông đã viên tịch cách đây 10 năm, nhục thân của sư ông không biết bây giờ ra sao, duy chỉ có đôi mắt của và thần cách của sư ông là vẫn còn sống mãi trong tâm hồn tôi. Cho đến bây giờ đã qua tuổi 60 tôi vẫn còn "mơ hồ" về đôi mắt ấy, sự im lặng thiêng liêng, bàn tay âm áp của ngài khi cầm bàn tay nhỏ bé đang run rẫy của tôi và cái mật hiễn mà sư ông chỉ cho tôi hình của ngài Bồ Đề Đạt Ma là gì tôi cũng đang còn "mơ hồ " !
Một năm trước khi sư ông viên tịch, tôi có gặp ngài tại chùa Già Lam và đôi mắt ấy sáng hơn, mạnh mẽ và dữ dội hơn. Những tia sáng từ mắt ngài xuyên thủng mọi mầm mống ác độc, nghi ngờ và đọc dò cả một quá khứ ẩn chứa trong tiềm thức của tôi. Hình như trước đôi mắt của sư ông, tôi không thể dấu diếm, che đậy, ma mãnh được bất cứ điều gì và cũng trong tia sáng từ đôi mắt ấy tôi tìm được sự bình an vĩnh cửu, thảnh thơi và hình như sư ông cũng "mơ hồ" không muốn giải mã về hành động của sư ông khi chỉ tay về phía hình của ngài Bồ Đề Đạt Ma...

Giếng nước trước và sau lưng chùa, khóm trúc, con suối vòng vèo, tiếng ngân cuối cùng trong lầu chuông, sàn nhà trước chánh điện, đôi mắt của sư ông và kỷ niệm của những đêm trừ tịch là tất cả những gì về chùa Trúc Lâm trong tâm trí tôi.

" Đảnh lễ hay là quỳ lạy thì cũng vậy thôi , sửa làm chi anh cứ để nguyên như vậy " lời của thầy Trí Quang nói với tôi khi mẹ tôi qua đời lúc bà 92 tuổi .

Mẹ đả có lần nói " ngồi bên mộ ba tôi , mẹ vẫn còn nghe được tiêng chuông chùa Trúc Lâm vọng đến , âm vang của tiếng chuông bay qua núi đồi khe suối len vào những tàng thông già cỗ thụ , vổ về những tia nắng cuối cùng của buổi chiều tĩnh lặng.... "

Còn đối với tôi chùa Trúc Lâm là hóa thân của đôi mắt sư ông.

Edited by user Saturday, January 2, 2021 2:10:52 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1766 Posted : Friday, January 15, 2021 9:33:01 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
Ý nghĩa ngày tết Việt Nam


1/6/2017 5:10:45 PM

Lịch sử ra đời ngày Tết

Tết Nguyên đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, năm mới hay chỉ đơn giản Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Chữ "Tết" do chữ "Tiết" mà thành. Hai chữ "Nguyên đán" có gốc chữ Hán; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán" .

Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

Nguyên nghĩa của từ "Tết" chính là "tiết". Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.

Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ cho đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng tất bật đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em sau khi chúc Tết người lớn còn được lì xì bằng một phong bì đỏ thắm có đựng ít tiền dành cho chúng tiêu xài ngày Tết. Tết ở 3 miền Bắc, Trung, Nam ở Việt Nam cũng có những điều khác nhau.

Ý nghĩa ngày tết Việt Nam:

Ở Việt Nam là những ngày lễ hội lớn cho cả nước. Những ngày ấy mọi xóm làng, nhà nhà, ai ai cũng nghỉ làm việc và vui vầy đoàn tụ. Ngày tết có tính thiêng liêng và là một dịp làm mới lại mọi việc.

Chính thức Tết là ngày lễ gồm ba ngày đầu tiên của năm mới âm lịch. Giây phút thiêng liêng nhất là đêm giao thừa, là lúc 0 giờ bắt đầu bước qua năm mới.

Người Việt ăn mừng Tết với niềm tin thiêng liêng Tết là ngày đoàn tụ, là ngày làm mới, là ngày tạ ơn và là ngày của hy vọng.

Ngày Đoàn Tụ - Tết luôn luôn là ngày đoàn tụ của mọi gia đình. Dù ai buôn bán, làm việc hay đi học ở xa, họ thường cố gắng dành tiền và thời giờ để về ăn Tết với gia đình. Đó là nỗi mong mỏi của tất cả mọi người, người đi xa cũng như người ở nhà đều mong dịp Tết gặp mặt và quây quần đoàn tụ.

Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình theo Phật giáo đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên đã qua đời về ăn cơm vui Tết với các con các cháu.

Ngày Tết người ta cũng hay thực hiện những nghi lễ, để dâng hương lên các vị thần ban phúc cho gia đình được nhiều sức khỏe, nhiều tiền tài, nhiều may mắn và an vui hạnh phúc trong năm.

Ngày Làm Mới - Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và làm mới mọi việc. Việc làm mới có thể về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Hoặc làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần của con người, để mối liên hệ với người thân được cảm thông hơn hoặc để tinh thần mình thoải mái, thanh thản hơn. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi phủi bụi. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa gội đầu sạch sẽ, mặc quần áo mới may bảnh bao. Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới để xả xui hay để tạo một sự tín nhiệm nơi người chủ nợ. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối liên hệ được tốt đẹp. Người Việt tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm sẽ báo hiệu một năm mới tốt đẹp sắp tới.

Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi, còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được nhờ phúc.

Ngày của lạc quan và hy vọng - Năm cũ đã qua mang theo mọi xui xẻo và năm tới sắp đến mang theo đầy niềm tin lạc quan. Nếu năm cũ khá may mắn, thì tin sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.

Ngày Tết người ta múa rồng múa lân sư tử khắp mọi nơi, nhất là những cửa hàng buôn bán để rước may mắn thịnh vượng về.

Mùa Tết cũng là mùa cưới hỏi. Các cặp trai gái thích làm đám cưới vào dịp đầu năm, mùa xuân đất trời đang đẹp và đang mùa hy vọng. Họ hy vọng cho một cuộc đời mới vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau và sẽ có đàn con ngoan.

Ngày Tạ Ơn - Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn ân nghĩa mình đã được hưởng năm vừa qua. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, cấp chỉ huy cũng cám ơn nhân viên qua những buổi tiệc đãi hoặc quà thưởng để ăn tết.

Nhiều gia đình đi chùa lễ Phật đêm giao thừa để tạ ơn và theo truyền thống họ thường hái lộc, mang về nhà những nhánh cây có lá non nụ mới, như xin Phật được sự tươi mát cùng phúc lành mang về nhà.

Mồng Một tết - là ngày đầu trong năm, thường dành riêng cho gia đình nhỏ của mình và gia đình bố mẹ chồng. Trẻ con người lớn đều mặc quần áo đẹp quây quần bên nhau. Con cháu bắt đầu chắp tay trước ngực cung kính mừng tuổi và chúc tết, chúc sức khỏe ông bà, cha mẹ. Sau đó, ông bà cha mẹ và người lớn lì xì mừng tuổi cho trẻ con. Lì xì đây là tặng một chút tiền, thường là tiền giấy mới tinh, gọi là chút quà đem lại may mắn cho trẻ con kèm lời chúc khuyến khích trẻ con cố gắng học và sống hòa thuận với những người chung quanh.

Mùng hai tết - là ngày thứ nhì trong năm mới, thường dành để thăm viếng và chúc tết gia đình bên vợ và gia đình những người bạn thân. Đi tới đâu trẻ con cũng được lì xì và lời chúc mừng năm mới.

Mùng ba tết - là ngày thứ ba trong năm mới. Mối giây liên hệ xã giao mở rộng ra ngoài phạm vi gia đình. Trong ngày này, người Việt đi chúc tết thầy giáo, hàng xóm, bạn bè....

Tối ngày mùng ba tết là bữa cơm cúng tiễn đưa tổ tiên về lại thiên đường. Các gia đình đốt vàng mã là tiền và thỏi vàng, bạc bằng giấy để gửi tiền lộ phí cho tổ tiên về chầu trời.

Mùng bốn tết - là ngày thứ tư, là ngày chẵn tốt ngày. Mọi cơ quan, văn phòng dịch vụ, cửa hàng thường chọn ngày này để mở cửa lại. Khi xưa, các vị học giả nhà nho cũng cẩn thận chọn ngày tốt, giờ tốt đem bút giấy ra khai bút làm thơ hay viết câu đối.

Ta thường nói “Ba ngày Tết” nhưng thật ra không khí Tết kéo dài cả tháng. Những lễ hội mừng Tết lan rộng từ phạm vi gia đình, tới họ hàng, làng xã, đâu đâu cũng có hội mừng xuân. Người ta nô nức rủ nhau đi thật nhiều chùa để xin được nhiều phúc lộc. Tất cả mọi người vui đùa với nhau, sống trong sự hòa thuận và đoàn kết. Đó là những ý nghĩa tuyệt vời của ngày TẾT Việt Nam./.

Sưu tầm
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1767 Posted : Thursday, February 11, 2021 9:29:31 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
UserPostedImage

Chuc cac ban & doc gia tham lang & GD
Nam Moi Tan Suu duoc Hanh Phuc, Binh an va Suc khoe ...

HONG VU LAN NHI

Edited by user Thursday, February 11, 2021 9:40:52 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1768 Posted : Sunday, March 7, 2021 8:13:52 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)

Tại sao gọi là “Áo Bà Ba”?


(mà không gọi “Áo Bà Tư”?)

UserPostedImage

Người Việt ai cũng biết “Áo Bà Ba.” Đặc biệt là dân miền Nam thì ai cũng biết bởi đó gần như là trang phục hàng ngày của phụ nữ từ đầu làng đến cuối xóm.

Cái tên “Bà ba.” cũng là điều tranh cãi rất nhiều, vì không rõ nguồn từ đâu, và có từ khi nào. Từ hai giả thuyết đáng tin cậy nhất, có thể thấy cái tên “Bà ba” xuất phát từ nhà văn Sơn Nam, và hoàn toàn không liên quan gì đến các bà Tư hay bà Năm…

Giả thuyết thứ nhất, với nhiều tài liệu cũ trước năm 1975 ghi rằng “Áo Bà Ba” xuất hiện đầu tiên ở miền Nam Việt Nam, vào nửa đầu thế kỷ 19, được học giả Trương Vĩnh Ký biến cách từ áo của người dân đảo Pénang (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt. Người ta tin rằng tên gọi chiếc áo bắt đầu từ hai chữ “Baba-Nyonya.”

Người “Baba-Nyonya” (峇 峇娘惹), tiếng địa phương là “Peranakan,” có nghĩa là hậu duệ của những người nhập cư Trung Hoa đầu tiên đến định cư tại các thuộc địa của Anh trên Eo biển ở Malacca, Pénang và Singapore từ thế kỷ 16 đến 18. “Baba” (峇 峇) là một từ tiếng Trung Hoa có nghĩa là “Cha” và dùng để chỉ nam giới. Nyonyaxuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha “Donha” (có nghĩa là “quý bà”), và dùng để chỉ phụ nữ. Có thể học giả Trương Vĩnh Ký đã thích thú trước cái áo rất dễ nhìn, dễ vận dụng trong đời sống làm việc lẫn sinh hoạt hàng ngày và mang về, chỉnh lại đôi chút cho người Việt.

Viết trong cuốn “Văn minh miệt vườn,” nhà văn Sơn Nam ghi rằng: “Ở miệt vườn, kiểu quần áo bà ba là tiện lợi nhất, đồng thời quần áo bà ba cũng tiêu biểu cho sự trang nghiêm trong giới trung lưu… Áo bà ba gọn gàng, cởi ra mặc vào dễ dàng, giúp con người đi đứng khoan thai, ít câu thúc.”

Điều đáng chú ý, luận điểm của nhà văn Sơn Nam nhắc về việc người dân miền Nam nói trại đi chữ “Baba” nguyên gốc thành “Áo Bà ba.” Tương tự như giả thuyết về học giả Trương Vĩnh Ký, nhà văn Sơn Nam cũng ghi: “Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa. Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba.”

Sau năm 1975, có một vài nhà nghiên cứu từ phía Bắc vào, và phủ nhận nhận quan điểm này, và nói rằng người Mã Lai không có tộc nào tên “Baba” hay “Babas” cả. Thậm chí còn bịa ra câu chuyện là có một phụ nữa Nam Bộ nào đó chế ra kiểu áo này từ áo dài, và tệ hơn, có giả thuyết từ giới trí thức ấy, là “Áo Bà Ba” được khởi đầu may tạo ra ba tà, nên có tên liên quan số 3.

Miền Nam là vùng đất của tất cả những con người lập lũ và khởi đầu cuộc sống mở mang, khai hoang ở thế kỷ 18 và 19. Do đó có thể khẳng định rằng tất cả hình thái ban đầu của chiếc “Áo Bà Ba,” từ xưa đó cho đến nay, đã trải qua rất nhiều cải cách, dựa theo tính vận động và nghi thức lễ lạc của người miền Nam Việt Nam. Về sau nhiều tôn giáo và trang phục lễ nghi tôn giáo ở miền Nam cũng chấp nhận dùng “Áo Bà Ba,” có nơi dùng “Áo Bà Ba” nhưng khác màu sắc ngày thường.

Vì sao “Áo bà ba” trở nên phổ biến ở miền Nam? Có một giả thuyết khác từ sử liệu nói rằng khi Chúa Nguyễn đời thứ tám, là chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765), nắm quyền từ năm 24 tuổi, đã đặt ra nhiều cải cách về hành chính cũng như thay đổi y phục từ quan đến dân.

Người dân ở phía Nam đã chọn kiểu “Áo Bà Ba” với màu tối, dùng chung cho cả đàn ông và đàn bà như một cách ứng xử tiện gọn cho sinh hoạt thường nhật. Bên cạnh đó, giai đoạn Chúa Nguyễn Phúc Khoát cầm quyền cũng là lúc hiềm khích giữa Đại Việt và Chân Lạp (tức triều đại cổ của người "Khmer") ngày càng gia tăng.

Đặc biệt là Vua Chân Lạp là Nặc Nguyên chủ trương tấn công vào biên giới Đại Việt để hà hiếp, cướp bóc những tộc du cư đến Đại Việt như người Chăm, Mã Lai, Che Mạ (gọi chung là Côn Man) nên dân Việt hay mặc “Áo Bà Ba” để phân biệt “người mình.”

Về mặt thẩm mỹ mà nói, cho đến hôm nay, “Áo Bà Ba” là một loại trang phục hết sức đặc biệt của miền Nam: Áo đàn ông thì trang nghiêm, đĩnh đạc. Áo cho đàn bà thì thanh thoát duyên dáng – thậm chí còn rất quyến rũ khi phối dựng với chất liệu vải và kiểu may cổ và xẻ tà.

Nguyên gốc “Áo Bà Ba” vốn là áo không cổ – đó là sự khác biệt lớn giữa các trang phục có nét tương tự của các dân tộc khác. Thân áo phía sau may bằng một mảnh vải nguyên, thân trước gồm hai mảnh, ở giữa có hai dải khuy cài chạy dài từ trên xuống.

UserPostedImage

Áo chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông. Tương tự như áo dài, “Áo Bà Ba” có độ dài trùm qua mông, gần như bó sát thân làm tôn lên những đường cong tuyệt mỹ của cơ thể người phụ nữ.

Trong bối cảnh Trung Quốc đang lấn và chiếm nhiều giá trị văn hóa của Việt Nam, để mô tả tính chất chịu ảnh hưởng của chư hầu, chiếc “Áo Bà Ba” cũng đang bị dòm ngó, không khác gì “Kim chi” Hàn Quốc đang bị tiếm danh bởi Trung Quốc. Có tài liệu bậc tiến sĩ ở Hà Nội, gần đây còn chứng minh “Áo Bà Ba” là trang phục từ người Minh Hương di cư đến miền Nam nên được lấy lại. Tài liệu gốc chứng minh thì được dẫn từ sách Trung Quốc.

Lịch sử Việt Nam từ sau 1975 đến nay đang bị nói lại, diễn giải lại hết sức tùy tiện (?), không thể không gọi “làm đau lòng tiền nhân.” Hãy nhớ lại, để dạy cho con cháu, những thứ đơn giản như tên gọi “Áo Bà Ba.” Đó cũng là một cách kính trọng tổ tiên Việt đã khai phá, và giữ lòng tự trọng của một người Việt Nam đứng ngoài nạn sính chữ điêu xằng.

Tuấn Khanh

Trần Văn Giang (ghi lại)

Edited by user Sunday, March 7, 2021 8:33:05 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1769 Posted : Sunday, March 7, 2021 8:25:50 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
Ngày Phu Nu

UserPostedImage

Hôm nay mồng 8 tháng 3
Ngày hạnh phúc, chị em ta an nhàn
Không phải nước rót, cơm mang
An ngon mặc đẹp, mặc chàng hầu lo

HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1770 Posted : Tuesday, March 30, 2021 11:17:44 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
Hủ Tiếu Thương Hồ


Xưa nay chỉ thấy tô phở bò, gà theo chân người Việt tỵ nạn tràn lan và nổi danh toàn thế giới; còn tô hủ tiếu quê mình hình như đã tàn phai nhan sắc.

Chớ hồi xưa trong nước, nhứt là Lục tỉnh Nam Kỳ, tô hủ tiếu quê mình vẫn vô địch quyền vương, độc cô cầu bại. Tô phở Bắc mon men về tới cái đất Mỹ Tho danh trấn giang hồ về hủ tiếu cũng đành phải chịu xếp ve luôn. Mỹ Tho có cả hàng chục tiệm hủ tiếu chỉ loe ngoe vài ba tiệm phở tái, nạm, gầu…

Phở Bắc chỉ làm “đại ca” trên chốn giang hồ Sài Gòn, ngay cả vô Chợ Lớn cũng phải chào thua.

Hủ tiếu là của người Tàu, người Quảng Ðông; còn người Triều Châu thì ăn hủ tiếu bò vò viên, tức “ngầu dục viễn!”

Nổi tiếng nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho! Nó khác với hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế, bún mắm Sóc Trăng.

Hủ tiếu Mỹ Tho của người Quảng Ðông nhưng bánh hủ tiếu lại do người Việt ở Gò Cát, bên bờ kia sông Bảo Ðịnh, vùng ven thành phố Mỹ Tho làm.

Bánh hủ tiếu bằng bột gạo, không pha bột mì, bột lọc. Sợi hủ tiếu tươi chỉ cần trụng sơ với nước nóng là trong, giòn và dai và dẻo hơn các loại bánh hủ tiếu mềm xèo ở Chợ Lớn.

Cái thùng nước lèo của mấy xe hủ tiếu Mỹ Tho có hai ngăn. Một là nước sôi để trụng bánh; một ngăn chứa nước lèo, có vị ngọt từ xương, giò heo và khô mực nướng cùng với củ cải. Thịt heo nạc xắt mỏng như tờ giấy quyến, gan heo trải lên mặt tô rồi chan nước lèo lên, rắc tiêu. (Sau nầy người ta thêm phèo non, tôm thẻ và trứng cút… Nhưng ăn thấy nó làm sao đâu vì làm mất cái vị, cái mùi hủ tiếu!)

Hủ tiếu là phải ăn với giá sống, hẹ, cải xà lách, củ hành phi. (Ðừng có bỏ rau tần ô rau ghém vô, ăn lãng xẹt hè). Nêm nếm là phải có xì dầu và giấm đỏ. Nêm bằng nước mắm y, rồi vắt chanh vào (để ăn phở) là trật lất.

***

Sở dĩ tui nói kỹ từng chút một về tô hủ tiếu là vì em yêu của tui là “á xẩm.” Tía vợ tui là Chú Sồi, chuyên nghề bán hủ tiếu. Chính vì khoái ăn hủ tiếu mà tui mới “cuỗm” được Quế Thanh, tên con vợ tui đó.

Chú Sồi có một chiếc xe có thành vách ba bên, lộng kiếng vẽ hình trong truyện Tam Quốc như Quan Công phò nhị tẩu, Giang tả cầu hôn, Ðương Dương trường bản, Khổng Minh tọa lầu. Ở giữa xe là một thùng nước lèo, bốc hơi nghi ngút, những rổ nhỏ đựng bánh hủ tiếu, mì nhỏ, mì lớn, hoành thánh, dầu cháo quẩy.

Hồi xưa lúc đói bụng, trong túi lại có kha khá tiền, tui bèn tấp vào lề, ngồi lên cái ghế xếp, trước mặt xe, có miếng ván hình chữ nhựt gài chốt bè ra, đủ đặt vừa tô hủ tiếu.

Lập tức chú Sồi đon đả:

“Hà cái lầy thằng Tửng ‘xực mý dệ’ (ăn cái gì)?”

(Thằng nhỏ nào Chú Sồi cũng kêu là Tửng hết trơn hè. Hèn chi sau về làm rể cho Chú Sồi tui cũng bị hơi tửng tửng!)

Tui chơi lại tiếng Tàu luôn, cho dù tiếng Tàu của tui là loại “Tào Lao”:

“Dách cô phảnh, thím xực xí quách…tố tố sủi!”

(Một tô hủ tiếu nhiều xí quách, nhiều nước lèo). “Hầy lá!” (Ðược rồi!)

Ðưa tay đón lấy tô hủ tiếu từ bàn tay búp măng của á xẩm Quế Thanh, con gái chú Sồi, tui xịt một chút xì dầu, giấm đỏ, gắp thêm vài lát ớt, xốc bánh hủ tiếu lên, gắp một đũa khá lớn đưa vào miệng, bắt đầu hẩu xực.

Nước lèo nóng, cay vì ớt, vì tiêu, hơi nước lèo phả vào mặt, mồ hôi tươm ra ướt cả lông mày. Tui chiến đấu quyết liệt, hai hàm răng kêu kèn kẹt, chỉ trong chốc lát là tô hủ tiếu cạn queo.

Quế Thanh mang cho tui cái bình trà “Thái Ðức’ bằng nhôm nóng hổi, rót cho tui một ly rồi hỏi:

“Hẩu lớ hia Tửng?”

(Ngon không anh Tửng?)

Tui cười hè hè:

“Hẩu hẩu” (ngon ngon)! “Nị hụ len, hụ len!” (Em đẹp lắm).

Em nguýt tui một cái thậm thượt dài chừng 3 cây số, xổ luôn một tràng tiếng Việt:

“Tía em nghe được là rượt anh chạy có cờ đó nhe! Ai biểu hia Tửng no bụng cững lên, dám dê ‘tiểu thư’, con cưng của Tía!”

***

Rồi sau khi CS chiếm miền Nam, gia đình bà con mình ai cũng đều suy sụp, ai cũng mạt, không còn tiền ăn hủ tiếu.

Xã hội mình trước 75, dù đang chịu đựng cuộc chiến đẫm máu kinh hoàng để vệ quốc vẫn còn chút ổn định nhưng khi tiếng súng ngưng rồi tàn phá còn hơn cả lúc chiến tranh.

Người dân bị bức hại, bị trả thù, bị đe dọa cướp nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, bị đày đi kinh tế mới. Ðêm nào công an Phường cũng xét hộ khẩu để bắt người đem đi nhốt khơi khơi.

Không còn chịu đựng nổi, bà con mình ai nấy cũng âm thầm nhưng rất quyết tâm là tìm đường ra biển. Muốn ra biển là phải biết đường sông vì tất cả các dòng sông đều xuôi dòng ra biển, nên phải chấp nhận cuộc sống gạo chợ nước sông, đời sương gió buôn bán qua ngày dò đường để dzọt.

Phần trên đường bộ bọn chúng rào đường chặn ngõ ác liệt không bán buôn gì được hết. Thế là ở những ngã ba sông: chợ nổi Cái Bè, chợ nổi Lục Sĩ Thành (Trà Vinh), chợ nổi Cái Răng, Phong Ðiền và chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp, (Cần Thơ) nổi lên.

Tui trở về Mỹ Tho thăm Quế Thanh lần cuối trước khi đi. Không biết lành dữ thế nào, tui nói với em rằng:

“Nị ráng chờ chừng nào biết Tửng nầy chết chắc, rồi hãy đi lấy chồng nhe!”

Chú Sồi nghe được, kêu tui lại biểu:

“Tửng à! Nị dắt nó đi luôn đi. Thương nhau là sống chết phải có nhau, đồng tịch, đồng sàng, đồng quan, đồng quách mới được lớ!”

Người ta thương hồ khấm khá thì có ghe lườn, ghe cui, ghe rỗi, ghe cà vom… mui lợp ván chắc chắn, chịu được nắng mưa. Còn hai đứa tui nghèo, nhờ Chú Sồi vét hết trong nhà được chưa tới 5 chỉ vàng, mua cho một chiếc ghe tam bản be kèm, lợp mui giả khung bằng nan tre đan bện lá dừa nước, chạy máy đuôi tôm "Kohler 4."

Sáng em bán hủ tiếu, tui bán cà phê, nước đá và rượu trên chợ nổi Cái Răng. Chiều về một bến sông nào đó qua đêm thì Quế Thanh chèo mũi, tui chèo lái hoặc căng bốn góc mền nhờ gió đưa đi cho đỡ tốn xăng.

***

Chợ nổi họp theo con nước lớn, 5 giờ sáng tiếng máy ghe, thuyền trên chợ nổi cứ bồng bềnh trên sông trong tiết trời mờ mờ đục đục đẫm hơi sương.

“Chợ đã nổi từ nửa đêm về sáng
Ta vẫn chìm từ giữa bữa hoàng hôn
Em treo ‘bẹo’ Cái Răng, Ba Láng
Ta thương hồ Vàm Xáng, Cần Thơ”

(Em treo "bẹo" là treo lủng lẳng trên cây sào trái khóm, trái xoài, dưa hấu, bầu, khoai lang, bưởi, khóm, chuối, cam, quýt, mía… bẹo hình, bẹo dạng, treo gì bán nấy).

Giang hồ gạo chợ nước sông, dù có á xẩm em yêu kè kè một bên nhưng bữa nào đi bán một mình cũng có vài em bẹo hình bẹo dạng với tui. Con gái đồng bằng trên sông nước, gió thổi phần phật lật lên vạt áo bà ba, có cái gì trăng trắng làm tui cũng thèm nhểu nước miếng hè.

“Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi.
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê!”

Thôi thì cám cảnh nhau, tui lén Quế Thanh, cho em thương hồ ăn chịu hủ tiếu, chừng nào có tiền trả cũng được mà giựt luôn cũng hổng sao!

Có em bạo dạn ướm lời:

“Nước xuôi chạy gió buồm mền,
muốn vô làm bé, biết bền hay không?”

Nhưng Quế Thanh, em yêu của tui, đánh hơi được, nhứt định không chịu; nếu tui rước thêm một con "ngựa bà" nữa xuống ghe là em sẽ nhảy xuống sông tự trầm mà chết.

Sau sợ tui lạc lòng, nấn ná lâu sanh biến, nên Quế Thanh về lại Mỹ Tho “ráp” với mấy xì thẩu có đóng tàu vượt biên cho hai đứa tui, vốn quen kiếp sông hồ làm “taxi” đưa khách ra cá lớn.

Hôm cuối cùng, đưa khách bị bể, không dám quay vô, tui với em bèn ngộ biến phải tùng quyền, leo đại lên thuyền theo luôn ra cửa biển. Cái đó gọi là "canh me!"

Vật đổi sao dời. Ðá mòn sông cạn. Trần ai chớp mắt trăm năm mộng. Gần 4 chục năm rồi, đêm đêm bên Quế Thanh, mơ màng tui vẫn còn nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền hủ tiếu thương hồ trên chợ nổi năm nào.

Đoàn Xuân Thu
Melbourne
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1771 Posted : Tuesday, March 30, 2021 11:47:55 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
BỘT NGỌT LÀ GÌ ?


UserPostedImage

Lời phi lộ: Trong bài này những danh từ hóa học được dùng theo quốc tê, thí dụ Na, Ca, K, được gọi là Sodium, Calcium, Potassium. Không dùng cách gọi của VN cách đây nửa thế kỷ và hiện nay trong nước vẫn còn dùng như Na, K, Ca, trong nước văn minh CHXHCN gọi là Natri, Kali, Canxi

Bột ngọt là gia vị quen thuộc được dùng trong chế biến món ăn.

Bột ngọt, tên hóa học là MonoSodium Glutamate (MSG). Đây là muối Sodium (Na) của Acid Glutamic, một trong hơn 20 loại Amino-Acid cấu tạo nên protein của cơ thể con người. Bột ngọt ở dạng tinh thể rắn, màu trắng, không mùi, dễ tan trong nước, có vị ngọt, được sử dụng như một gia vị khá quen thuộc trong chế biến món ăn. Công thức hóa học là C5H8NNaO4 , danh pháp IUPAC là Sodium (2S)-2-amin-5-hydroxy-5-oxo-pentanoate. Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ đã công nhận bột ngọt là an toàn và Liên minh châu Âu phân loại bột ngọt là phụ gia thực phẩm. Bột ngọt có mã HS 29224220 và số E là E621. Bột ngọt cho vị 'umami' (vị ngọt của thịt) tương tự như các loại thực phẩm khác. Về phương diện hóa học, glutamate trong bột ngọt và glutamate từ thực phẩm tự nhiên là giống nhau.

Thành phần chính của bột ngọt là Acid Glutamic, một trong nhiều Amino-Acid (Acid Amin) có vai trò quan trọng với quá trình xây dựng cấu trúc protein. Nhiều kết quả thí nghiệm cũng như khảo sát khoa học trên động vật và cả con người đã kết luận rằng: “Bột ngọt an toàn khi sử dụng đối với mọi lứa tuổi” và “chưa thấy bột ngọt ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng”, bột ngọt sẽ rất tốt nếu ta dùng đúng liều lượng phù hợp với các loại thức ăn.

Bột ngọt chỉ là một chất phụ trong thực phẩm, giúp món ăn ngon miệng hơn chứ không thể thay thế các loại thực phẩm khác. Bột ngọt là muối Sodium Glutamate nên có Na+ (sodium) như muối ăn (NaCl), là một chất điện giải cần thiết cho hoạt động của các tế bào trong cơ thể. Việc sử dụng bột ngọt như thế nào là hợp lý để vừa giúp tăng cường vị ngon cho món ăn, vừa đảm bảo sức khỏe chính là việc cần nghiên cứu và hiểu biết sâu rộng hơn.

Nhiều tổ chức y tế và sức khỏe uy tín trên thế giới như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đều xác nhận bột ngọt là một gia vị an toàn khi thêm vào trong thức ăn hàng ngày. Tại Việt Nam, bột ngọt nằm trong danh sách các chất phụ gia thực phẩm được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm và không quy định liều lượng dùng hàng ngày. Lượng bột ngọt dùng mỗi ngày tùy thuộc vào khẩu vị và sở thích của người sử dụng miển sao đạt đến vị ngon, vừa miệng nhất.

Năm 1908, Giáo sư Kikunae Ikeda đã trích một dung dịch Acid Glutamic từ tảo bẹ Laminaria japonica, kombu, sau khi kết tinh. Nước dùng từ các hạt đã kết tinh của người Nhật nấu từ katsuobushi và kombu có một vị độc đáo mà khoa học thời đó chưa miêu tả được, nó khác với các vị ngọt, mặn, chua và đắng bình thường. Để xác minh MSG ở trạng thái ion hóa tạo ra vị Umami, giáo sư Ikeda đã nghiên cứu nhiều loại muối glutamate khác nhau như Calcium (Ca), Potassium (K), Magnesium (Mg). Tất cả các vị umami này tùy thuộc vào các loại muối của các kim loại. Trong đó, muối Sodium (Na) glutamate là loại muối dễ hòa tan, dễ kết tinh và có vị ngon nhất. Giáo sư Ikeda đặt tên sản phẩm này là MonoSodiumGlutamate và đăng ký bản quyền để sản xuất. Anh em nhà Suzuki bắt đầu sản xuất bọt ngọt rộng rãi trên quy mô thương mại vào năm 1909 với tên gọi AJI-NO-MOTO®, trong tiếng Nhật có nghĩa là "tinh chất của vị". Đó chính là lần đầu tiên bột ngọt được sản xuất trên thế giới.

Từ lần đầu tung ra thị trường cho đến nay, bột ngọt đã được sản xuất với 3 phương pháp:

1/- thủy giải protein thực vật với Acid hydrochloric (HCl) để phá vỡ các liên kết của protein (1909 - 1962),

2/- tổng hợp hóa học trực tiếp từ acrylonitrile (1962 - 1973),
3/- lên men nhờ vi khuẩn. Ban đầu, gluten lúa mì được sử dụng cho phương pháp thủy phân bởi trong 100g protein gluten (30g glutamate và glutamine). Nhưng với nhu cầu bột ngọt ngày càng tăng, các phương pháp sản xuất mới đã được nghiên cứu. Ngành công nghiệp sợi polyacrylic bắt đầu ở Nhật Bản từ giữa những năm 1950 và acrylonitrile được sử dụng như nguyên liệu ban đầu để sản xuất bột ngọt.

Hiện nay, hầu hết quá trình sản xuất bột ngọt trên thế giới sử dụng phương pháp lên men vi khuẩn, tương tự như cách sản xuất rượu vang, giấm, sữa chua ...... Sodium được thêm vào sau để trung hòa Acid. Trong suốt quá trình lên men, các vi khuẩn chọn lọc (vi khuẩn coryneform) được nuôi cấy với Ammoniac (NH3) và đường từ củ cải đường, đường mía, tinh bột của sắn. Sự lên men sẽ tạo thành một hổn hợp chứa những Amino-Acid, L-glutamate, hỗn hợp sau đó sẽ được tách ra. Kyowa Hakko Kogyo Co Ltd là công ty đầu tiên phát triển quá trình lên men công nghiệp để sản xuất L-glutamate.

Ngày nay, năng suất chuyển đổi và công suất sản xuất glutamate từ​ ​đường ngày càng được cải thiện trong sản xuất bột ngọt công nghiệp, nhờ đó đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng. Sản phẩm cuối cùng thu được sau khi lọc, cô đặc, acid hóa và kết tinh là glutamat tinh khiết, sodium và nước. Sản phẩm có dạng bột tinh thể màu trắng, không mùi và khi hòa tan sẽ cho ra glutamate và sodium. Nó dễ tan trong nước nhưng không hút ẩm và trên thực tế không tan trong các dung môi hữu cơ phổ biến như ether. Nhìn chung, bột ngọt ổn định trong các điều kiện chế biến thực phẩm thông thường. Trong quá trình nấu, bột ngọt không bị phân hủy, nhưng cũng như các Acid Amin khác, ở nhiệt độ cao nó có thể bị phân hóa vì thế không dùng MSG ở nhiệt độ cao.

Bột ngọt tinh khiết có vị không dễ chịu lắm, với liều lượng hợp lý, bột ngọt có thể giúp tăng cường cho các vị khác. Bột ngọt phù hợp với các món thịt, cá, thịt gia cầm, nhiều loại rau, nước dùng vv...vv , nhưng cũng như các chất tạo vị khác ngoại trừ đường mía, bột ngọt chỉ có thể cải thiện vị ngon của món ăn với liều lượng thích hợp. Dùng quá nhiều bột ngọt có thể nhanh chóng làm hỏng hương vị của món ăn. Mặc dù liều lượng này là tùy theo loại thực phẩm, nhưng vị ngon của món súp chắc chắn sẽ bị giảm nhanh nếu sử dụng quá 1g bột ngọt trên 100ml. Hơn nữa, có một sự tương tác giữa bột ngọt và muối ăn (muối NaCl) và các chất tạo vị umami khác như nucleotic.

Tất cả phải được bổ sung ở liều lượng hợp lý mới giúp món ăn ngon nhất. Với các đặc tính này, bột ngọt có thể được dùng để giảm lượng muối ăn NaCl, nguyên nhân gây bệnh cao huyết áp, tim mạch và đột quỵ. Vị của những món ăn ít muối được cải thiện bằng cách thay thế muối NaCl bởi MSG và có thể thay thế NaCl đến 30%. Hàm lượng Sodium trong bột ngọt thấp hơn Sodium trong muối ăn khoảng 3 lần. Các loại muối Glutamate khác như MonoPotassiumGlutamate (MPG) cũng được dùng trong các món súp ít muối, nhưng hiệu quả tăng hương vị thấp hơn MSG. Vì vậy những người có vấn đề với muối ăn NaCl, có thể giảm lượng muối ăn NaCl bằng cách thay thế MSG.

Bột ngọt được sử dụng một cách an toàn để nêm nếm thực phẩm trong hơn 100 năm qua. Trong suốt thời gian đó, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện để làm sáng tỏ vai trò, lợi ích và tính an toàn của bột ngọt.

Hiện nay, các cơ quan quản lý an toàn phụ gia thực phẩm quốc gia và quốc tế đều cho rằng, bột ngọt là chất điều vị an toàn cho mục đích sử dụng của con người. Vấn đề tiêu cực của MSG ban đầu được phát hiện ở các nhà hàng tàu, khi Robert Ho Man Kwok báo cáo về các triệu chứng mà ông cảm nhận sau khi ăn ở một nhà hàng tàu tại Mỹ. Kwok cho rằng nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng đó là do trong thức ăn có rượu, muối NaCl, đường, hay bột ngọt. Tác động xấu do rượu, hàm lượng muối, đường chưa từng được nghiên cứu nhưng do sự cạnh tranh trong vấn đề thực phẩm, mọi nghi vấn tiêu cực đều tập trung vào bột ngọt.

Trong nhiều năm, tưởng tượng về những triệu chứng do sử dụng bột ngọt tiếp tục gia tăng. Ở điều kiện bình thường, cơ thể chúng ta có khả năng chuyển hóa glutamate, một chất vốn có độc tính rất thấp (đã thí nghiệm độ độc của MSG trên chuột và các loài gặm nhấm). và ở lượng glutamate thấp không gây độc hại cho con người. Một báo cáo của Hiệp hội Sinh học Thực nghiệm Mỹ (FASEB), năm 1995, ủy quyền bởi Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) kết luận rằng bột ngọt an toàn khi "sử dụng ở hàm lượng thông thường ".

Báo cáo này cũng cho thấy không có dữ liệu nào chứng minh về tác động của glutamate đối với các bệnh mãn tính và suy nhược. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Tarasoff và Kelly (1993), 71 đối tượng ở trạng đói tham gia thí nghiệm được cho sử dụng 5 g bột ngọt và sau đó ăn bữa sáng tiêu chuẩn. Chỉ có duy nhất 1 trường hợp bị phản ứng nhạy cảm với bột ngọt.

Trong một nghiên cứu khác của Geha et al. (2000), các nhà khoa học đã kiểm tra phản ứng nhạy cảm với bột ngọt trên 130 đối tượng chỉ có 2 đối tượng trong cả nghiên cứu này có phản ứng. Do tỷ lệ thấp nên các nhà nghiên cứu kết luận rằng việc phản ứng với bột ngọt không quan trọng. Cũng có những nghiên cứu kiểm tra MSG có gây béo phì hay không, nhưng kết quả khá khác nhau khó kết luận. Một vài nghiên cứu khác đang điều tra lời đồn về mối liên hệ giữa MSG và bệnh hen suyễn; nhưng các bằng chứng hiện tại chưa tìm thấy mối liên hệ nào.

Vì glutamate là chất dẫn truyền thần kinh quan trọng trong não, đóng vai trò chính trong hoạt động học hỏi và ghi nhớ, một nghiên cứu vẫn đang được thực hiện bởi các nhà thần kinh học về các tác dụng phụ có thể có của bột ngọt trong thực phẩm, nhưng hiện chưa có kết quả cho thấy có bất kỳ mối liên hệ nào.

Cơ quan Tiêu chuẩn Thực phẩm Úc - New Zealand (FSANZ) dẫn chứng từ rất nhiều nghiên cứu khoa học" đã bác bỏ dứt khoát mọi mối liên hệ giữa bột ngọt và "các phản ứng nghiêm trọng" hoặc "tác động lâu dài". Họ tuyên bố bột ngọt "an toàn để sử dụng rộng rãi".

Tuy nhiên, tổ chức này cũng đề cập có dưới 1% dân số, các đối tượng nhạy cảm có thể bị các tác dụng phụ "thoáng qua" như "đau đầu, bị tê/ngứa, đỏ mặt, mỏi cơ và bị mệt" nếu dùng nhiều bột ngọt cùng lúc. Những ai tự cho rằng mình nhạy cảm với bột ngọt được khuyến khích nên kiểm nghiệm là trong máu có chứa nhiều Sodium hay không?.

Bột ngọt có thể chiết xuất từ protein thực vật, nấm, đậu nành. Các phụ thực phẩm khác như disodium inosinate, disodium guanylate, các ribonucleotides, thường được kết hợp với MSG vì các chất trên cho vị ngọt hơn hẳn MSG.

Tuy nhiên, ngày nay ngành công nghiệp thực phẩm thường dùng cụm từ "hương vị tự nhiên" khi sử dụng Acid Glutamic (bột ngọt không có Sodium). Do thiếu quy định của FDA, không thể xác định có bao nhiêu phần trăm "hương vị tự nhiên".

FDA cho rằng các nhãn ghi "Không chứa MSG" hoặc "Không bổ sung MSG" sẽ gây hiểu lầm nếu thực phẩm chứa các nguồn glutamat tự do, ví dụ như protein thủy phân. Vào năm 1993, FDA đã đề nghị thêm cụm từ "(có chứa glutamat)" vào tên chung hoặc tên thường gọi của các protein thủy phân nhất định có chứa lượng lớn glutamat.

Trong phiên bản năm 2004 của cuốn sách On Food and Cooking, tác giả và cũng là một người đam mê thực phẩm Harold McGee tuyên bố rằng "[sau rất nhiều nghiên cứu], các nhà nghiên cứu độc tính học đã kết luận rằng bột ngọt là thành phần vô hại đối với hầu hết con người, thậm chí nếu dùng một liều lượng lớn.

Thực hư về dị ứng bột ngọt

Dị ứng bột ngọt có thể là mối lo ngại của nhiều người. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, những nghiên cứu khoa học về vấn đề này vẫn còn hạn chế. Bạn đã bao giờ có biểu hiện đau đầu, sưng đỏ mặt, tim đập nhanh, tức ngực… sau khi ăn? Các triệu chứng có xu hướng xuất hiện sau khi bạn dùng thực phẩm đóng hộp hoặc chế biến sẵn? Đây có thể là dấu hiệu say bột ngọt, thường xảy ra ở những người bị dị ứng loại gia vị này. Vì nghiên cứu về các phản ứng say bột ngọt vẫn còn hạn chế nên không ít người cho rằng vấn đề này chỉ là tin đồn không đáng tin cậy. Vậy, dị ứng bột ngọt có thật hay không? Nếu có, bạn có thể điều trị như thế nào? Hãy cùng Hello Bacsi tìm hiểu qua bài viết sau nhé.

Say bột ngọt do dị ứng có thể là mối bận tâm của không ít người. Tuy vậy, nhiều năm qua, hầu như chưa có nghiên cứu nào chứng minh được mối liên hệ giữa loại gia vị này và các phản ứng dị ứng nghiêm trọng. Thêm vào đó, hiện nay, các chuyên gia chỉ có vài bằng chứng về tác hại của bột ngọt, bao gồm:

.Thay đổi hàm lượng serotonin, góp phần dẫn đến trầm cảm
.Gây ra triệu chứng ngứa da, đau đầu và nóng, rát ngực ở người mắc bệnh phát ban mạn tính
.Tổn thương thận khi tiêu thụ bột ngọt lâu dài
.Tác hại của bột ngọt có thể ảnh hưởng đến vật chất di truyền của tế bào sống và cả tế bào lympho, một loại bạch cầu.

Ngoài ra, triệu chứng say bột ngọt do dị ứng cũng có thể xuất hiện khi bạn tiêu thụ một lượng lớn loại gia vị này. Tuy nhiên, hầu hết nhà hàng cũng như nhà sản xuất thực phẩm dường như không bao giờ sử dụng bột ngọt đạt đến số lượng gây dị ứng. Mặc dù bột ngọt đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đánh giá là gia vị an toàn, nhưng đôi khi vẫn có ngoại lệ. Một nghiên cứu vào năm 2011 tại Trung tâm Thực hành, Nghiên cứu và Dinh dưỡng đã đưa ra giả thiết về mối liên hệ giữa bột ngọt và trẻ nhỏ bị viêm da. Tuy nhiên, giả thiết này cần tiến hành nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn trước khi có thể công bố rộng rãi.

Những dấu hiệu say bột ngọt có thể kể đến như sau:

.Đau đầu
.Nổi mề đay
.Sổ mũi hoặc nghẹt mũi
.Đau ngực nhẹ
.Đỏ mặt
.Cảm giác tê rát trong khoang miệng
.Sưng mặt
.Đổ nhiều mồ hôi
.Buồn nôn
.Rối loạn tiêu hóa
.Mệt mỏi

Một số triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể xuất hiện, bao gồm:

.Tức ngực
.Nhịp tim đập nhanh
.Khó thở
.Cổ họng sưng tấy

Nếu nghi ngờ bạn bị dị ứng loại gia vị này, có thể hỏi bác sĩ. Nhịp tim nhanh hoặc bất thường cùng với khó thở là các dấu hiệu điển hình có thể xác nhận dị ứng bột ngọt. Hầu hết các phản ứng dị ứng bột ngọt đều nhẹ và có thể tự khỏi mà không cần đến sự can thiệp y tế. Tuy nhiên, đối với những biểu hiện nghiêm trọng hơn, sẽ cần điều trị khẩn cấp bằng một mũi tiêm epinephrine (adrenaline). Thực tế, phương pháp điều trị tốt nhất là hạn chế tiêu thụ bột ngọt. Theo nhiều chuyên gia, bột ngọt tự nhiên có thể tồn tại trong hầu hết thực phẩm, đặc biệt là nhóm thực phẩm giàu protein như:

.Thịt đỏ hoặc gia cầm
.Thực phẩm liên quan đến sửa
.Cá
.Thực phẩm đóng hộp và chế biến sẵn
.Thịt khô
.Các chiết xuất từ thịt
.Nước dùng ninh từ gia cầm
.Protein thủy phân dùng làm chất kết dính, nhũ hóa hoặc tăng cường hương vị món ăn
.Maltodextrin, một loại phụ gia thực phẩm
.Tinh bột biến tính

Trong quá khứ, nhiều người cho rằng dị ứng bột ngọt chỉ xảy ra ở một phần nhỏ dân số thế giới. Ngày nay, nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng này có thể phát triển rộng hơn. Hãy cố gắng hạn chế những thực phẩm chứa hoạt chất này nếu bạn nghi ngờ bản thân bị dị ứng với bột ngọt. Bạn có thể chỉ cảm thấy hơi khó chịu nếu tiêu hóa những loại thực phẩm này. Tuy nhiên, trong một số trường hợp hiếm hoi, dấu hiệu nghiêm trọng có nguy cơ phát sinh.

Trước khi chấm dứt bài này cũng cần nói rỏ một điều mà những người cho rằng mình bị di ứng với bột ngọt cần biết: Nước mắm là món ăn thông dụng của người Việt, nước mắm được sản xuất từ cá. Người ta sản xuất nước mắm bằng cách sắp 1 lớp cá, 1 lớp muối và chờ vài tháng sẽ thu hoạch. Trong cá chứa rất nhiều protein tức là có chứa nhiều Amino Acid, khi phản ứng với muối sẽ cho nhiều loại L-Glutamate, trong đó có MonoSodium Glutamate.

Nếu như người nào ăn bột ngọt bị dị ứng thì ăn nước mắm cũng sẽ bị dị ứng, hãy kiểm tra khi ăn nước mắm, nhất là khi ăn nước mắm nhỉ, đăy là loại nước mắm cốt chảy ra đầu tiên, ăn rất hấp dẫn nhưng bảo đảm nó chứa rất nhiều bột ngọt do tác dung của muối với Acid Glutamic. Nhiều nước mắm đưa ra thị trường hiện nay thường quảng cáo là chứa nhiều chất ĐẠM, chất đạm là protein, như vậy nước mắm chứa nhiều chất đạm có khi lên đến 40%, đạm cao thì ngầm hiểu là nồng độ bột ngọt hay bột ngọt dưới dạng khác sẽ cao. Ăn nước mắm có độ đạm cao thì nếu có dị ứng với bột ngọt cũng sẽ tăng cao. Để tránh tốn tiền và có nước mắm hạng ưu là dùng mắm hạng thường, thêm bột ngọt theo tỉ lệ 1g/100ml nước mắm, nấu lửa nhẹ cho bột ngọt tan, để nguội sẽ nhận được nước mắm thượng hảo hạng, hổng tin thì làm thử ....

TÓM LẠI:

Dầu hào, nước tương, hồi xín, và nói chung những đồ tàu làm sẳn đều có bột ngọt, đã ăn mà không bị dị ứng thì tha hồ ăn bột ngọt nhưng nhớ không được lạm dụng vì sẽ tăng lượng muối Sodium trong máu rất nguy hiểm.

Mong rằng bài viết này giúp quí vị có một nhận thức về bột ngọt.

Tổng hợp bởi Lệnh Hồ Công Tử - Chimiste
Montreal, 19-03-2021

Edited by user Wednesday, March 31, 2021 12:07:01 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1772 Posted : Wednesday, March 31, 2021 12:12:44 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
Sử dụng bột ngọt thế nào hợp lý?


Ở nhiệt độ đun nấu thông thường, bột ngọt không biến thành chất có hại nên có thể dùng vào bất kỳ thời điểm nào khi nấu ăn, tùy món ăn và thói quen nêm nếm của từng người.

UserPostedImage

Bột ngọt, hay còn gọi là gia vị Umami, giúp góp phần mang lại vị ngon cho món ăn. Tuy nhiên, việc sử dụng gia vị này trong chế biến món ăn vẫn khiến nhiều người băn khoăn. Tiến sĩ, bác sĩ Lưu Thị Mỹ Thục, Trưởng khoa dinh dưỡng - Bệnh viện Nhi Trung ương chia sẻ về cách sử dụng loại gia vị này.

- Những thông tin cho rằng bột ngọt ảnh hưởng đến não và gây suy giảm trí nhớ, bác sĩ nhận xét thế nào?

- Cơ thể người có cơ chế tự nhiên nhằm điều hòa hàm lượng chất ở mức cân bằng, trong đó có glutamate - thành phần chính của bột ngọt.

Cơ chế đầu tiên nằm tại hệ tiêu hóa. Cụ thể, khi thức ăn chứa glutamate dù từ thực phẩm hay gia vị vào trong hệ tiêu hóa, tất cả glutamate này sẽ chuyển hóa thành năng lượng tại ruột để phục vụ cho các hoạt động của ruột. Việc ăn thực phẩm hay bột ngọt chứa glutamate sẽ không làm tăng hàm lượng chất này sẵn có trong máu. Cơ chế thứ hai nằm ở hàng rào máu - não. Hàng rào này được ví như cánh cổng vững chắc, ngăn sự di chuyển từ máu vào não của những chất không cần thiết cho hoạt động của não, trong đó có glutamate. Như vậy, bột ngọt ăn vào cơ thể qua các bữa ăn hàng ngày không làm tăng hàm lượng glutamate trong máu và não.

- Nhiều ý kiến cho rằng sử dụng bột ngọt thường xuyên gây triệu chứng mỏi gáy, mệt mỏi, nóng mặt, các triệu chứng giống dị ứng. Ý kiến của bác sĩ về vấn đề này?

- Hiện nay, Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (Codex) đã liệt kê các loại thực phẩm gây dị ứng như: ngũ cốc chứa gluten như lúa mì, trứng và các sản phẩm từ trứng, cá và các sản phẩm từ cá, các loại hạt đậu đỗ và sản phẩm của chúng, sữa và các sản phẩm từ sữa, sulphit... Tuy nhiên, Codex không xếp bột ngọt vào nhóm này. Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (JECFA) cũng kết luận không tìm thấy mối liên quan nào giữa bột ngọt và các triệu chứng như mỏi gáy, mệt mỏi, nóng mặt.

Như vậy, bột ngọt không phải nguyên nhân gây các triệu chứng nói trên. Có nhiều giả định cho rằng các triệu chứng này gây ra bởi một số nguyên nhân như: nguyên liệu, nguồn gốc và sự kết hợp nguyên liệu trong món ăn hay yếu tố vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Liều lượng sử dụng bột ngọt hàng ngày như thế nào là hợp lý?

- Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị dùng dưới 5g muối (gần một muỗng cà phê muối) một ngày. Cơ quan Quản lý Thực phẩm Anh khuyến nghị phụ nữ không ăn quá 50g và nam giới không ăn quá 70g đường đơn mỗi ngày.

Còn đối với bột ngọt, hiện nay không có quy định hay khuyến nghị về liều dùng hàng ngày. Cụ thể, Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (JECFA), Ủy ban khoa học về Thực phẩm của Cộng đồng chung Châu Âu (EC/SCF) xác nhận bột ngọt là gia vị an toàn với liều dùng hàng ngày "không xác định". Trong thông tư của Bộ Y tế, bột ngọt cũng được liệt vào danh mục các chất phụ gia thực phẩm được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm và không quy định liều dùng hàng ngày.

Liều dùng hàng ngày không xác định nghĩa là không có quy định mỗi người hàng ngày được dùng bao nhiêu gam bột ngọt. Có thể sử dụng bột ngọt với liều lượng khác nhau cho từng món ăn, tùy theo khẩu vị và sở thích.

- Vì sao nên nêm bột ngọt khi nấu ăn?

- Ăn thịt luộc, hải sản dù chưa cần chấm bạn có thấy ngọt, ngon không? Rõ ràng ta đều nhận thấy vị thịt luộc hay vị hải sản nướng, hấp đều ngọt. Lý do nằm ở chỗ các loại thực phẩm này chứa hàm lượng lớn glutamate - một loại axit amin phổ biến trong tự nhiên. Glutamate có đặc tính tự nhiên là mang lại vị ngọt, ngon cho món ăn. Thực phẩm hàng ngày hầu hết đều chứa glutamate.

100g thịt các loại chứa 10-20mg glutamate. Thân mềm 2 mảnh như sò điệp chứa đến 140mg glutamate mỗi 100g. Tương tự, rau củ quả cũng chứa nhiều glutamate: bắp cải chứa 50mg, cà chua chứa đến 250mg...

Năm 1908, Tiến sĩ Kikunae Ikeda, giáo sư người Nhật Bản, lần đầu khám phá ra glutamate là thành phần mang đến vị ngon cho nước dùng dashi của người Nhật, cũng như vị ngon của các thực phẩm như cà chua, măng tây, pho mát hay thịt. Ông đặt tên cho vị của glutamate là vị umami với hàm nghĩa vị ngon và phát minh ra bột ngọt với thành phần chính là glutamate.

Cùng năm, thương hiệu bột ngọt đầu tiên trên thế giới ra đời mang tên Aji-no-moto. Bột ngọt có thành phần glutamate, mang đến vị umami cho món ăn. Việc nêm bột ngọt vào món ăn thực chất là bổ sung thêm glutamate bên cạnh glutamate sẵn có từ thực phẩm.

- Nên nêm bột ngọt lúc nào khi nấu ăn?

- Các món ăn có nhiệt độ nấu khác nhau: món ninh luộc 100-130 độ C, món chiên rán dùng dầu ăn 175 -199 độ C, món nướng tối đa không vượt quá 250 độ C. Nhìn chung các món ăn đều có nhiệt độ chế biến thấp hơn hoặc bằng 250 độ C. Cao hơn khoảng này, thực phẩm như thịt, cá... có nguy cơ cháy. Thành phần thực phẩm biến đổi thành chất có hại cho sức khỏe.

Các nhà khoa học đã thực nghiệm nhiều nghiên cứu đánh giá về sự biến đổi của bột ngọt dưới tác động nhiệt độ. Kết quả cho thấy tại nhiệt độ đun nấu thông thường, bột ngọt không biến đổi thành chất không tốt cho sức khỏe. Do vậy, có thể nêm nếm bột ngọt vào bất kỳ thời điểm nào khi nấu ăn, tùy theo món ăn và thói quen nêm nếm.

Thành phần chính của bột ngọt là glutamate - một loại axit amin tồn tại phổ biến trong nhiều loại thực phẩm tự nhiên.

Thành phần chính của bột ngọt là glutamate - một loại axit amin tồn tại phổ biến trong nhiều loại thực phẩm tự nhiên.

- Trẻ em sử dụng bột ngọt thế nào là hợp lý?

- Như đã nói ở trên, hầu hết thực phẩm đều sẵn có glutamate. Dù là trẻ em hay người lớn đều hấp thu thành phần này thông qua các thực phẩm rồi. Trong sữa mẹ có hàm lượng glutamate dồi dào. Trong mỗi 100ml sữa mẹ chứa 2700mg. Trẻ đã hấp thụ glutamate tự nhiên thông qua sữa mẹ, qua đó thưởng thức vị umami ngay từ những năm tháng đầu đời. Glutamate không phải thành phần xa lạ với cơ thể trẻ em.

Về góc độ an toàn, bột ngọt đã được Ủy ban các Chuyên gia về Phụ gia Thực phẩm của Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (JECFA); Ủy ban khoa học về Thực phẩm của Cộng đồng chung châu Âu (EC/SCF); Cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa kỳ (US FDA); Bộ Y tế, Lao động và Phúc Lợi Nhật Bản và Bộ Y tế Việt Nam đánh giá là một phụ gia thực phẩm có tính an toàn.

Hơn nữa, theo JECFA, quá trình chuyển hóa bột ngọt trong cơ thể trẻ em và người lớn là như nhau, không có mối nguy nào đối với trẻ em khi sử dụng bột ngọt. Nhiều nghiên cứu khoa học hiện nay cho thấy bột ngọt không ảnh hưởng đến trẻ em ở tất cả các giai đoạn phát triển như giai đoạn bào thai, bú sữa mẹ. Nghĩa là người mẹ mang thai hoặc cho con bú sử dụng bột ngọt không ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, cũng như giai đoạn sau cai sữa và ăn thực phẩm. Có thể sử dụng bột ngọt trong chế biến món ăn cho trẻ em. Cũng nên lưu ý rằng bột ngọt chỉ là một loại gia vị, không có chức năng thay thế chất dinh dưỡng từ thực phẩm.

- Các nước phát triển trên thế giới sử dụng bột ngọt thế nào?

- Theo tôi biết, bột ngọt sử dụng khá rộng rãi, ngày nay đã có mặt tại hơn 100 quốc gia. Tuy nhiên, thói quen sử dụng bột ngọt cũng rất phong phú và đa dạng theo từng quốc gia. Các nước châu Á như Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, người tiêu dùng quen sử dụng bột ngọt trực tiếp trong quá trình nêm nếm món ăn để tạo ra vị ngon. Còn ở một số nước như Mỹ, Pháp, các nước châu Âu... và cả tại Nhật Bản, thời gian dành cho việc chế biến món ăn không nhiều nên thường sử dụng các gia vị tổng hợp như hạt nêm, nước xốt... để nêm nếm món ăn. Trong các gia vị tổng hợp này thường đã có sẵn bột ngọt. Như vậy, các quốc gia ở châu Âu như Pháp, Đức, và các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản... đều sử dụng bột ngọt tương tự các nước châu Á như Việt Nam, Thái Lan... Điều khác biệt nằm ở cách thức sử dụng mà thôi.

- Có ý kiến cho rằng người bị tăng huyết áp không nên dùng bột ngọt vì có chứa natri. Trong khi đó, gần đây lại có thông tin dùng bột ngọt có thể giúp giảm lượng muối ăn vào. Điều này nên hiểu như thế nào?

- Đúng là gần đây nhiều quốc gia đã áp dụng phương pháp giảm muối (natri) bằng cách sử dụng bột ngọt như Mỹ, Nhật, Malaysia... và thấy hiệu quả.

Trước tiên cần khẳng định muối và bột ngọt đều chứa natri. Tuy nhiên lượng natri trong bột ngọt thấp. Mấu chốt của việc giảm muối trong bữa ăn nằm ở chỗ làm thế nào giúp món ăn giảm muối vẫn giữ độ ngon miệng. Nếu giảm muối mà ăn không thấy ngon miệng thì hầu như mọi người không theo được.

Tại Nhật, các nhà khoa học cho thấy, nếu giảm 50% muối và kết hợp khoảng 38% bột ngọt thì tổng lượng natri cung cấp vào bữa ăn giảm đến 31,5%, quan trọng là độ ngon miệng vẫn giữ nguyên.

Tại Mỹ, kết quả nghiên cứu của Ủy ban nghiên cứu chiến lược giảm lượng muối tiêu thụ trong khẩu phần ăn thuộc Viện Y khoa - Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ cho thấy bột ngọt có thể giúp giữ độ ngon miệng với những món ăn giảm độ mặn khi dùng thay thế một phần muối đưa vào thực phẩm trong quá trình chế biến.

Như vậy, để áp dụng, trong quá trình chế biến có thể bớt đi một phần lượng gia vị mặn và thay thế bằng bột ngọt. Cách này sẽ hỗ trợ giúp chúng ta giảm lượng natri ăn vào mà vẫn thấy ngon miệng.

Bảo Trân

Edited by user Wednesday, March 31, 2021 12:16:12 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1773 Posted : Wednesday, May 12, 2021 4:32:00 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
UserPostedImage


Sự Trai Gái Tỏ Tình Trong Ca Dao


– Vô Biên

May 8, 2021 | by Ban Tu Thư |

Trong ca dao, tục ngữ, người dân ta rất tự-nhiên và cởi mở .Người ta không ngại nói lên những suy-nghĩ, những tâm trạng, những hoàn cảnh của mình . Và cố-nhiên người ta dám nói đến tình yêu .

Tình yêu có thể đến một cách bất ngờ :

Học trò trong Quảng ra thi,
Thấy cô gái Huế chân đi không đành .

Khi đã yêu thì chàng trai tìm dịp để tỏ tình với người con gái :

Trên trời có đám mây xanh,
Ơ, giữa mây trắng, chung quanh mây vàng .
Ước gì anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát-Tràng về xây .

Xây dọc rồi lại xây ngang ,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân .
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh .

Nhà anh có một cây chanh,
Nó chửa ra cành nó đã ra hoa .
Nhà anh có một mẹ già,
Thổi cơm chẳng chín, quét nhà chẳng nên .

Ăn cỗ thì đòi ngồi trên,
Mâm son, bát sứ đưa lên hầu bà .

Trong bài trên đây, khi đã tỏ tình rồi thì chàng trai nói đến chuyện mai sau . Chàng nói đến điều hay : “Xây hồ bán nguyệt…” mà cũng không dấu-diém điều khó khăn : có mẹ già đã lẫn-cẫn mà lại khó tính .

Khi tỏ tình thì chàng trai không bao giờ “vào đề” ngay, vì như thế là quá sỗ-sàng . Chàng nói loanh-quanh, “mây xanh”, “mây vàng” rồi mới vào đề mà tỏ tình .

Trong bài dưới đây, người con trai nói năng rất thanh-nhã và ý-tứ và chỉ vào đề một cách bất ngờ trong hai câu cuối cùng :

Hôm qua tát nước đầu đình,
Để quên cái áo trên cành hoa sen,
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà ?

Áo anh đứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu .
Áo anh đứt chỉ đã lâu,
Nay mượn cô ấy về khâu cho cùng .

Khâu rồi, anh sẽ trả công,
Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho .
Giúp em một thúng sôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm .

Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo .
Giúp em quan tám tiền treo,
Quan năm tiền cuới lại đèo buồng cau .

Người con trai không để quên cái áo ở đầu bờ, xó bụi mà lại để quên trên “cành hoa sen” .

Khi tỏ tình thì chàng nói năng những lời-lẽ thơ-mộng, nhưng khi nói đến những điều cần -thiết cho việc cưới xin thì chàng lại tỏ ra rất thiết-thực và rất chu-đáo .

Người con gái, khi mới lớn lên cũng dám nói lên lời tự hỏi ngày mai sẽ ra sao, có thể gặp được người vừa ý mình hay không ::

Thân em như tấm lụa đào,
Phất-phơ giữa chợ, biết vào tay ai ?

Nếu chẳng may, khi đã quá muộn mới gặp được chàng trai vừa ý mình thì hai người cũng dám than-thở :

(Người con trai) :

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm-xuân,
Nụ tầm-xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay !

(Người con gái) :

Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không,
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu,
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra ?

Tuy vậy, những người con gái cũng biết vui sống trong hiện tại và cũng dám đuà cợt với chàng trai đi ngang trên đường :

Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng chân đứng lại em than đôi lời .
Đi đâu vội thế anh ơi ?!
Việc quan đã có chị tôi ở nhà !

Nàng lại còn chêu-chọc các anh học trò :

Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm,
Ngày ngày cắp sách đi rong,
Tối về lại thắp đèn chong canh dài .

Tuy vậy, khi anh học trò đến từ-giã nàng để đi học xa thì nàng nói :

Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân,
Nay anh học gần, mai anh học xa,
Cơm áo thì của mẹ cha,
Cái nghiên, cái bút thực là cuả anh !

Nàng không nói thêm được nữa vì lời-lẽ đã nghẹn-ngào . Nghe nàng nói tỉ-tê như vậy, ta chẳng khỏi mong-muốn sau này, chàng trai sẽ « tên chiếm bảng vàng » và sẽ « vinh quy bái tổ », « võng anh đi trước, võng nàng theo sau » .

Khi, chẳng may lấy phải một người chồng « chẳng ra gì » thì người con gái dám than-thở với chị em :

Chồng em nó chẳng ra gì,
Tổ-tôm, sóc-điã nó thì chơi hoang .
Nói ra xấu thiếp, hổ chàng,
Nó giận nó phá tan hoang cửa nhà .

Em nói đây, có chị em nhà,
Còn dăm ba thúng gạo với một và cân bông .
Em bán đi để trả nợ cho chồng,
Còn ăn, hết nhịn cho thoả lòng chồng con .

Đắng cay ngậm quả bồ-hòn,
Cưả nhà, gia-thế, chồng con kém ngưòi .
Em nói ra sợ chị em cười,
Con nhà gia-thế lấy phải người đần ngu .

Rồng vàng tắm nước ao tù,
Người khôn ở với người ngu bực mình !

Trong ca-dao, người ta cũng dám nói tới những ái-ân nồng-nhiệt . Người con trai dám xin người con gái :

Vú em chum-chúm chũm cau,
Cho anh bóp cái, có đau, anh đền .

Khi trai gái đi lại mà được kết quả quá sớm thì người đời không chê trách người con trai, mà lại miả-mai người con gái :

Không chồng mà chửa mới ngoan,
Có chồng mà chửa, thế-gian sự thường !

(Ta có thể so-sánh hai câu đó với hai câu dưới đây của kẻ “chơi chữ” :

Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,
Phận liễu sao đà phẩy nét ngang ?! )

Khi bị thiên-hạ chê cười bảo rằng nàng là một kẻ “lẳng lơ” thì người con gái ngang-nhiên trả lời :

Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn,
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ .

Những lời chê bai của thiên-hạ thì trai gái cũng dám bỏ lơ đi vì họ biết rằng nên :

Chơi xuân kẻo nữa xuân đi,
Cái già sồng-sộc nó thì theo sau.

Hơn nữa, họ lại biết rằng :

Ở sao cho vừa lòng người ?
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê .

Cao chê “ngỏng”, thấp chê “lùn”,
Béo chê “béo trục, béo tròn”,
gầy chê “xương sống, xương sườn phơi ra” .

Những kẻ nào mà chê bai quá nặng lời thì những người con gái có thể “trả đuã” mà bảo rằng :

Lưỡi không xương, nhiều đường lắt-léo,
Mồm không cạp, mồm méo làm ba .

Đọc ca dao, tục ngữ, ta thấy rất gần gũi với những người dân ta ngày xưa, và ta không thể không tự hỏi : “Những người dân ta ngày nay thì ra sao ?” và “Ca dao, tục ngữ sau này thì sẽ thế nào ?”.

Edited by user Wednesday, May 12, 2021 4:32:51 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1774 Posted : Thursday, May 27, 2021 5:46:16 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)

Cá Bống Kho Tiêu


Sưu Tầm

May 15, 2021 | by Ban Tu Thư |

UserPostedImage

Sài Gòn với những cơn mưa rả rích làm người xa quê chạnh lòng nhớ món ngon mẹ nấu mỗi dịp cuối hạ đầu thu, trong đó không thể không kể đến cá bống kho tiêu đậm đà…Cứ vào cuối tháng bảy âm lịch, khi những đợt mưa cuối cùng trút xuống nhà nhà rầm rộ đua nhau ra sông cất chài, kéo lưới vớt cá. Mùa nước nổi, sông nổi bột phù sa đục ngầu, tôm cá từ nơi thượng nguồn theo con nước đổ về, cả làng nhờ đó mà có thêm miếng ăn. Lũ trẻ con chúng tôi cũng lăng xăng cầm rổ rá đi theo giúp cha một phần, phần nữa là để kiếm thêm “của ngon vật lạ” cho riêng mình.

Chỉ độ vài tiếng sau khi rảo thuyền đặt lưới, cha đã câu về đủ các loại cá: từ cá mại, cá ngạnh, cá diếc,… và có cả những con cá bống tươi roi rói. Loại cá bống cát ở quê tôi thon nhỏ, chỉ bằng chừng ngón tay trỏ nhưng nổi tiếng là ngọt thịt, cộng thêm thời điểm này vốn là mùa sinh sản của cá bống. Biết chị em chúng tôi mê ăn cơm trắng với cá bống kho, cha lẳng lặng lựa những con cá tròn mẩy, bụng căng trứng và đặt vào một rổ riêng. Số còn lại, cha nhờ chị hàng cá nhà bên ra chợ bán giúp, kiếm thêm ít đồng ra đồng vào.

Cá bống đem về, thoạt tiên sẽ được mẹ cho vào rổ, lấy một ít lá sả, kèm thêm một ít muối sống xoa nhẹ cho cá sạch vảy, hết nhớt. Mẹ bảo phải làm vừa đều tay vừa nhẹ nhàng, để bụng cá đầy trứng không bị vỡ. Sau đó, cho cá vào nồi đất, rưới nước mắm xăm xắp, ướp đường, một ít nước màu và vài củ hành xắt nhuyễn. Cá thường được ướp từ một đến một tiếng rưỡi đồng hồ, gia vị thấm đều, săn cứng, thịt dai dẻo hơn.

Kho cá bống nghe thì đơn giản, nhưng đảo cá, thêm bớt lửa thế nào đều phụ thuộc vào tay nghề. Mẹ thường nhóm củi cho vừa lửa khi bắt đầu kho; lúc nồi cá sôi lên thì để lửa liu riu cho nước kho đặc lại. Ít khi nêm tiêu ngay từ đầu, mà chờ đến khi nước kho gần cạn hết mới rắc đều tiêu khắp nồi. Sau đó, rưới thêm vài muỗng mỡ nhỏ rồi bắc ra khỏi bếp. Lúc này nồi cá dậy mùi thơm, những con cá bống được kho cong, hòa với lớp nước kho màu vàng cánh gián, nhìn rất ngon mắt!

Giữa mùa lũ, có một nồi cá bống kho tiêu, với đám rau sống, vài nhúm xoài xanh, dưa leo, cùng nồi cơm trắng thì thật không gì sánh bằng. Trẻ con chúng tôi chỉ chực lúc mẹ bày cơm ra là sà vào ăn, vị cá bống mặn mòi, thơm béo quyện với vị tiêu cay.

Món cá bống kho tiêu đưa cơm rất nhiều, thường phải đến hai, ba chén. Ăn hết cá, lại cho cơm trắng vào nồi, trộn, vừa ăn vừa hít hà vì thèm và… cay.Quê tôi còn có thêm một đặc sản: bánh tráng nướng cuộn cá bống kho tiêu. Cũng chế biến như thế, nhưng mẹ thường lựa những con cá bống nhỏ chừng ngón tay út, ướp nước mắm ít hơn, thêm tiêu (nhưng không quá nhiều để nồi cá khỏi đắng), bắc lên bếp củi, để lửa nhỏ chừng hai, ba tiếng, cho đến khi lớp nước kho cạn hết, những con cá bống khô cong, cứng lại, hơi cháy xém.

Bánh tráng nướng nhúng ướt, cuốn với rau sống và cá bống kho, nhai cả thịt lẫn xương cũng là một món ăn khoái khẩu với chúng tôi, nhất vào những năm nước lũ lên sớm, vụ mùa không gặt kịp, đâm ra thiếu gạo, thiếu khoai…

Dạo nọ, tôi bước vào một nhà hàng lớn giữa Sài Gòn, giật mình khi cầm thực đơn và thấy cái tên cá bống kho tiêu nằm ngay trang đầu. Chợt mừng món ăn của quê nhà nay được nâng niu ở nơi đất khách, và bồi hồi như vừa gặp lại một người bạn thuở thơ ấu đã lâu ngày xa nhau…
Tá giả: Xuân Nhật

4 món Đăc Biệt ở Cà Mau

Cà Mau là tỉnh cực nam, là vùng đất mới khẩn hoang của người Việt. Vùng đất góp nên nhiều món ăn ngon cho nền ẩm thực Việt Nam.Trong số các món ngon của đất Cà Mau, cháo trăn sông Trẹm, cá lóc nước trui, ba khía Rạch Gốc, lẩu mắm U Minh đã được xếp vào danh sách những món đặc sản Việt Nam.

1.Cháo trăn sông Trẹm

Nhiều người về Miệt Thứ mà chưa ăn cháo trăn thì chưa thấy hết cái đã, cái hương vị thời khẩn hoang của vùng Cà Mau.

Thịt trăn vàng lựng, chặt miếng vuông xen lẫn mấy thớt mỡ trăn bóng ngần mới trông đã phát thèm. Chỉ cắn một cái đã nghe sừn sựt rồi vị béo, ngọt, là lạ đến tê đầu lưỡi. Phần bao bên ngoài miếng thịt giòn giòn, ngon nhất mà hình như không phải da. Phần làm cho nồi cháo thơm nhất có lẽ là mỡ trăn, thấy vậy mà không béo.Cháo trăn sông Trẹm thường ăn kèm với rau rừng đặc biệt là loại dây leo đọt trại và nước mắm biển Kiên Giang thì tuyệt. Có thể nấu kèm đậu xanh với cháo trăn ăn có tác dụng giải nhiệt và tẩm bổ.

2.Cá lóc nướng trui

Là món ăn dân dã, dễ làm và đặc trưng cho miền đồng Nam Việt nhưng cá lóc nướng trui lại có một hương vị vô cùng độc đáo.

Cá khi vừa bắt dưới sông lên, rửa sạch, dùng tre xuyên từ đầu đến đuôi rồi vùi cá vào đống rơm khô, châm lửa đốt hoặc cắm que xuống đất lấy rơm phủ lên và đốt lửa cho đến khi tro tàn. Khi cá chín, cạo bỏ lớp vẩy đã cháy xém để lộ ra thịt cá trắng và thơm.Cá nướng xong chỉ cần gỡ thịt chấm muối ớt, mà phải là loại muối hột mới cảm nhận được hết vị thơm ngon vùa cay vừa mặn vừa ngọt của món cá lóc nướng đặc sản của dân Nam. Ở đồng bằng sông Cửu Long, cá lóc nướng trui thường ăn với nước mắm me, cuốn với bánh tráng, rau thơm ăn thì tuyệt.

3.Ba khía Rạch Gốc

Ba khía Rạch Gốc có nhiều nhất là vào khoảng tháng 7, tháng 8 âm lịch hàng năm. Loại ba khía này ăn trái mắm đen rụng xuống nên có gạch son, thịt thơm và chắc hơn giống ba khía ở các nơi khác. Ba khía sau khi bắt, rửa sạch và muối ngay tại chỗ. Cho muối thấm khoảng 5 đến 7 ngày đêm là có thể ăn được. Muối ba khía không nên mặn quá, cũng không lạt quá. Vì nếu mặn thì thịt sẽ xẵng lại, còn nếu lạt quá thì thịt mau bủng, ăn mất ngon.

Ba khía muối cho vừa ăn, bẻ ngoe, càng ra rồi trộn chung với tỏi, ớt băm nhỏ. Sau đó, nặn thêm chanh vào tạo vị chua cho bùi rồi thưởng thức. Còn cái mai của ba khía thì bỏ cơm nóng vào, trộn đều với gạch son, ăn rất đặc biệt. Vị mặn, ngọn, chua, cay hòa với mùi thơm của tỏi và thịt của ba khía chắc chắn sẽ làm hài lòng.Ngoài ra, ba khía còn được chế biến bằng cách luộc sả ăn cùng với nước chấm. Nước chấm rất đơn giản nhưng không kém phần đặc biệt; gồm sả băm nhuyễn, trộn chung với cơm mẻ, cho chút ớt vào tạo vị cay rồi bỏ thêm gia vị cho vừa ăn. Với cách này, thịt của ba khía rất ngọt, thơm hòa với hơi cay của ớt, sả và chút chua, nồng của cơm mẻ; Ba khía luộc ăn cùng với nước chấm sẽ là một món ăn không thể quên.

4.Lẩu mắm U Minh

Lẩu mắm (mắm kho cho vào lẩu) là một trong những món ăn không thể thiếu của người Nam nói chung và U Minh nói riêng.

Để có lẩu mắm ngon, thơm phải lựa từng con cá sặc bướm. Sau đó làm sạch vảy, ruột, rửa sạch, đem phơi cho cá ráo mặt, rắc muối giã nhỏ, cho vào một cái khạp, bên trên dùng mo cau và sống dừa cài chặt để giữ cho con nắm không nổi lên bề mặt.Lẩu mắm phải ăn kèm với rất nhiều rau, như bông súng, đọt nhãn lồng, ngò gai, ngò om, cải xanh, rau muống, rau ngổ, đậu rồng, kèo nèo, rau đắng, càng cua, bông so đũa, cà phổi, bắp chuối, ớt hiểm, tỏi… Ngoài ra còn có đọt choại, loại rau rừng chỉ có ở rừng tràm U Minh. Rồi đậu bắp, nấm rơm bỏ vào khi lẩu vừa sôi, với các loài cá đồng tươi vừa chín như lươn, cá rô, các sặc rằn, cá dầy, cá lóc… cùng “lên lửa” với nước cốt mắm sặc thơm lừng. Cũng không thể thiếu bát ốc lác sôi sùng sục dưới đáy nồi lẩu.

Ăn cá linh, nhớ mùa nước nổi

Cả miền Nam vào mùa nước nổi, chợ lớn, chợ nhỏ xứ nào cũng bán đầy cá linh.Mỗi lần nhắc đến loài cá này là từ các chợ cho đến từng bữa ăn, mọi người miền Nam lại lóng lánh ánh bạc như thể loài cá này được tạo ra từ ánh sáng đồng bằng, được sinh dưỡng từ những tinh thể nước quí giá của vùng đầu nguồn sông Cửu Long.

Cá linh bán ở chợ.

Giữa người già và người trẻ có một điểm khác nhau mỗi khi nhớ về cá linh, người già thì hướng về thời điểm nước đổ, nước lụt rồi lo cho người, cho lúa trước rồi mới nghĩ đến cá linh, còn người trẻ hễ vào độ Tháng Bảy, Tháng Tám âm lịch là hỏi thăm chừng có cá linh chưa và nghĩ đến các món ngon được nấu từ cá linh.

Nước lũ về thì lụt lội, mất mát nhưng lũ sông Cửu Long không về thì nhớ mong. Sau mười năm trông ngóng dòng nước lũ thân quen lại đổ về vùng đầu nguồn sông Cửu Long. Mấy ngày nay, trong những câu chuyện trên trời dưới đất ở các quán cà phê Sài Gòn bỗng có người lại nhắc về cá linh. Cái loài cá nhỏ chỉ bằng ngón tay này giờ đây lại gắn liền với những chuyện đại sự về hiểm họa các đập thủy điện ở Trung Quốc, ở Lào… và lại nóng hơn nữa với chuyện dự đoán mực nước biển dâng nhận chìm một số vùng đất miền Nam.Chỉ với khoảng mười năm nước lũ không về mà thời thế đã đổi thay kinh khủng, chẳng những các loài cá nước ngọt đang trên đường tuyệt chủng mà cả dòng nước lũ mang phù sa phì nhiêu bao đời bồi đắp nuôi dưỡng miền Nam cũng sẽ lụi tàn vì nguy cơ nước biển xâm thực. Nhiều người ở Sài Gòn muốn rủ nhau đi đón nước lũ về để ngắm cá linh nhảy xoi xói trong dòng nước đục lềnh phù sa.

Nhưng cũng rất nhiều người nhất là những người trẻ tuổi không hề biết con cá linh ra sao. Một cô nhà báo trẻ gốc miền Bắc mới vào nói: “Em chưa được ăn cá linh bao giờ. Thế quán nào ở Sài Gòn bán món cá linh chỉ giúp em với?” Vậy đó, ai bi quan cũng có thể dự đoán rằng cá linh rồi đây cũng tuyệt chủng trên khẩu vị người Sài Gòn mới.Tuổi thơ của hầu hết người miền Nam, vào tháng mưa dầm hầu như ngày nào bữa ăn gia đình cũng có món cá linh. Ký ức rõ nhất về cá linh là mỗi lần ăn đều được phép gắp nguyên con và cứ vậy ăn nguyên con không sợ xương cá. Cái cảm giác bỏ nguyên một con cá với lớp vảy nhỏ óng ánh bạc vào gọn trong miệng là một cảm giác ngon khó tả. Rồi khi cả xương, cả thịt cá hòa lẫn với gia vị mềm ngọt trong miệng người ta mới ví von rằng cá linh là quà tặng của dòng sông thiêng. Nhưng đâu phải tự nhiên mà loài cá này mềm ngọt hết biết vậy. Bao đời sống với mùa lũ đồng bằng là bao đời những người đàn bà miền Nam tinh lọc cách chế biến và truyền lại những món cá linh ngon hết biết.

Về các món cá linh. Ở miệt sông Hậu thì người ta có món cá linh kho tiêu, cá linh um cuốn bánh tráng, cá linh nấu canh bông điên điển, cá linh chiên xù… Dân ở cuối sông Tiền biết đến món cá linh là do vào mùa cá linh rộ, ghe thuyền miệt Tân Châu-Hồng Ngự… đưa cá về bán nườm nượp.Món cá linh chúng tôi thường ăn nhất là món cá kho. Cá linh kho xả bào thì dân dã bình dị, cá linh kho mía thì vị ngọt có tiệc tùng, duy chỉ hai món cá linh mà chúng tôi xếp vào hàng bậc nhất là món cá linh kho với cái dừa cứng cạy (loại cái dừa làm mứt dừa) và món canh chua cá linh nấu lá me.

Cá linh kho.

Tất nhiên tôi đâu có quên món mắm cá linh ăn sống với cơm nguội và mắm kho bằng mắm cá linh, nhưng qua “thế giới” mắm của người miền Nam thì lại là một đề tài khác.Có người nói với chúng tôi rằng, vào mùa cá linh rộ giá cá rẻ rề, mắc gì mà kho với dừa cứng cạy chi vậy. Nói như vậy là không hiểu ý của người quê tôi. Khi xắt những miếng dừa cứng cạy bằng ngón tay út, kho chung với cá linh non đầu mùa cũng cỡ ngón tay út. Màu trắng đục của dừa, màu trắng tinh của cá khi sôi trong màu vàng sậm của nước mắm sẽ tạo ra hương vị béo thơm của cá của dừa và vị đắng nhẫn nhẫn của ruột cá, phải kho cá linh kiểu đó mới thành khẩu vị quê tôi.

Sau này lúc sống ở Sài Gòn tôi được biết thêm người đô thị này thích kho cá linh với nước dừa tươi. Cái cách kho này của người Sài Gòn thật là tinh tế quá. Vị ngọt của một loài cá nước ngọt chỉ có duy nhất ở sông Cửu Long kho với vị ngọt của nước dừa, hai vị ngọt của hai thứ số một của đồng bằng miền Nam một khi hợp thành thì món cá linh đúng là căn cội tinh tế của khẩu vị người miền Nam.

Edited by user Thursday, May 27, 2021 5:50:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1775 Posted : Thursday, May 27, 2021 5:53:09 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
Công thức cá bống kho tiêu ngon thơm


Cá bống kho tiêu là món ăn dân dã quen thuộc của người Việt Nam và được nhiều người yêu thích bởi hương vị thơm ngon, đậm đà. Công thức cá bống kho tiêu ngon thơm dưới đây sẽ là bí quyết cho bạn trổ tài nấu nướng và mang đến cho bữa cơm cả nhà món cá kho tuyệt ngon.

UserPostedImage

Cá bống kho tiêu thơm ngon

Nguyên liệu bạn cần chuẩn bị:

◾Cá bống: 300g
◾Thịt ba chỉ: 100g
◾Riềng: 1 nhánh nhỏ
◾Ớt: 5 quả
◾Hành lá
◾Tiêu sọ, nguyên hạt
◾Dừa xiêm
◾Gia vị: dầu ăn, đường, nước mắm, hạt nêm, tiêu, tỏi, hành khô.

Cách làm cá bống kho tiêu:

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

– Tỏi, hành khô làm sạch rồi băm nhuyễn.

– Cá bống làm sạch, đánh vảy và rửa qua nước muối. Sau đó để ráo rồi ướp với tỏi băm, hạt nêm, nước mắm, bột ngọt, hạt tiêu, dầu ăn, đường trong khoảng 30 phút cho cá ngấm gia vị.

– Thịt ba chỉ làm sạch rồi thái lát mỏng.

– Riềng làm sạch, thái chỉ. Dừa bổ lấy nước. Hành lá nhặt sạch rồi đem thái nhỏ.

Bước 2:

– Cho nước, đường vào nồi rồi cho lên bếp đun lửa nhỏ cho đến khi đường tan chảy và chuyển sang màu vàng cánh gián thì tắt bế.

– Cho dầu ăn vào nồi rồi cho thịt ba chỉ, riềng, cá lên trên thêm chút nước mắm, bột ngọt, hạt nêm, ớt, tiêu sọ vào rồi rưới ít dầu ăn lên trên.

Bước 3:

– Bắc nồi lên bếp đun lửa to và cho nước dừa vào sau đó đun sôi thì hạ nhỏ lửa đun đến khi cá chín mềm, nước cạn sánh thì tắt bếp. Rắc hành lá, hạt tiêu lên trên.

Chúc bạn và gia đình ngon miệng với món cá kho thơm ngon này nhé! Bạn có thể tham khảo món cá kho cổ truyền làng Vũ Đại, món cá kho nổi tiếng bao đời nay tại tỉnh Hà Nam.

Edited by user Thursday, May 27, 2021 5:55:08 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1776 Posted : Thursday, June 3, 2021 8:34:34 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)

Những Nụ Hôn Trong Ca Dao Miền Nam


Sưu Tầm

January 8, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Tôi yêu đất nước tôi, quê hương tôi, tôi yêu sông xanh, núi biếc, yêu gió, yêu trăng, chim muông, hoa lá, tôi yêu cả người nước tôi, hiền hòa dể mến, tôi nhớ lắm vì người nước tôi đã rất khéo léo. Tuy trọng đạo nghĩa Thánh Hiền, cũng như phong tục tập quán, văn chương nghệ thuật… nhưng với những câu hóm hỉnh, mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh “hò, vè, hát ru” … đã làm thành tục ngữ, những bất ngờ thú vị trong ca dao tình yêu Nam bộ, nó trữ tình không thể tả nổi. Cái tình tứ, lãng mạn, ôm gọn dân tộc trong lòng, muôn đời nghìn kiếp không sao quên được những câu ca lời hát của tổ tiên.

Tôi ghi lại “Những Nụ Hôn Trong Ca Dao Miền Nam” trong ý thức trân trọng, đánh dấu những ấn tượng hiện ra trong trí về nụ hôn trong ca dao miền Nam. Tính cách của người Nam bộ thể hiện qua ca dao rất phong phú, đa dạng của từng vùng, miền, khác nhau. Dù Nam hay Bắc, đều có những đặc tính chung nhất định của người Việt Nam. Vì vậy bài viết này chỉ xin nêu một số tính cách của con người Nam bộ. Sưu tầm được trong khi lạc bước…

Hầu hết mọi người từng ít nhất một lần hôn nhau để thực hiện tình cảm và cử chỉ thương yêu, hiện nay đặc biệt phổ biến. Một điều chắc chắn nụ hôn đồng hành cùng nhân loại từ lâu lắm.

Ở một phạm vi nào đó người ta vẫn cho rằng, nụ hôn đem lại niềm thích thú, do hai môi chạm nhau, sẽ tạo ra một dòng điện.

Nụ hôn, gần như món ăn không thể thiếu của những đôi uyên ương. Nhưng hôn như thế nào thì không phải ai cũng biết. Để biểu lộ tình yêu và khơi dậy cảm xúc nơi ngươì mình yêu và sẽ đặt đôi môi mềm mại của mình vào đâu? Đó là những vùng da nhạy cảm, mềm mại…

Phụ nữ thường thích được tặng quà quý nhất là những nụ hôn ngọt ngào…

Nụ hôn trong ca dao Miền Nam cũng không kém phần nóng bỏng và rất ư là mùi mẫn, gợi tình. Người miền Nam thường dùng chữ Hun thay vì nói Hôn. Sau đây là những kiểu hun trong ca dao miền Nam:

Khi chưa yêu, các chàng trai làng mới liếc nhìn ai thấp thoáng qua rặng trâm bầu tà áo bà ba phất phới, chàng đứng trên cầu Ô Rô mà lòng đã thấy sục sôi, bừng bừng lửa yêu rồi, nên chàng bạo dạn có những lời tỏ tình khá táo bạo sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

Bớ cô má lúm đồng tiền
Cho hun một chút đỡ ghiền khi xa

Chẳng lẽ các cô gái nghe vậy đưa má cho “cha căng chú kiết” nào hun sao? Nhưng anh ta không sờn lòng nản chí mà nhỏ nhẹ kỳ kèo, lời nói nghe khó tin. Nhưng hề gì, cốt cho nàng thấu hiểu lòng một anh chàng si tình nên “liều mạng”:

Đôi mình mới gặp ngày nay
Cho hun một chút, em Hai đừng phiền.

Hay không bằng hên, bằng lì, ở đời có may có rủi, ăn nhau ở nước bền, chàng nghĩ, sông có khúc, người có lúc, chàng cứ nài nỉ riết, cứ kỳ kèo riết cũng có ngày nàng xiêu lòng, bật cười nàng đáp:

Muốn hun thì hun cho liền
Đừng làm thổ lộ xóm giềng cười em.

Được nước chàng tiến tới liền không do dự, miễn sao nàng hiểu chàng phải ngọa ngôn để được nàng ưng thuận:

Tui hun mình dẫu có la làng
Thì tui ra xóm hai đàng chịu phạt chung
Tui hun mình dẫu có làm hung
Nhơn cùng tất biến, tui chun xuống sàn.

Anh chàng này lợi dụng hun bạo quá. Nhưng nhờ cái tài lẻo mép, nên các nàng chỉ nhắm mắt thưởng thức mà đâu nỡ la. Cho nên có cô nàng cũng xoa dịu, xuống nước nhỏ, vì chưng trong lòng cũng toại ý, thấy thích thích:

Phải chi em được ở chung
Thì đâu đến nỗi anh hun gối mòn.

Nghe nàng nói vậy anh chàng quá xúc động:

Thấy em gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hun.

Bỗng trong lòng chàng nghe rạo rực, trong tâm trạng rất vui, tràn đầy niềm tin nên sấn tới:

Trứng vịt đổ lộn trứng gà
Thấy em nhỏ thó anh đà muốn hun.

Anh thương nàng nhỏ thó, anh không ưng trứng vịt bự, mà ưng nhỏ nhỏ như trứng gà. Nghe anh nói vậy nàng hình như cảm thông, mặc dầu không thốt ra lời nhưng cũng thấy trong tim cảm giác rung động, chẳng những không mắc cỡ mà còn thách;

Hun trước một miếng mà chơi
Mâm trầu hủ rượu kết đôi vợ chồng.

Trong thời gian đợi chờ thì chàng lại thấy trong lòng ngan ngát một sự say sưa thèm muốn khác hẳn nên chàng phải tranh thủ hun một miếng:

Hun em anh hít lấy hơi
Lỡ khi phòng vắng còn mùi của em.

Khi chưa thành vợ thành chồng thì thèm hun cho đỡ ghiền, còn muốn để dành hơi…Đến khi cá đã cắn câu… trong lúc đang làm lễ vu qui, và đứng trước bàn thờ, hai người đang quì lại song thân, tạ ơn công sinh thành. Anh cảm động, khều nàng thỏ thẻ:

Trâm vàng giắt chặt tua rung
Em ơi day mặt lại anh hun cho đỡ lòng.

Còn không bao lâu nữa đã đến chốn phòng loan, động phòng hoa chúc, hơn nữa đang lúc làm lễ từ đường, làm gì mà gấp vậy, nàng nhỏ nhẹ khất nợ:

Xung quanh cô bác giáp vòng
Anh muốn hun về chốn loan phòng sẽ hun.
Lời khất của nàng làm chàng hết chịu nỗi:
Dao vàng tra cán gỗ mun
Thương em bất tử muốn hun bây giờ!

Quay sang nàng bất kể bà con cô bác hai họ… chàng hun lia lịa. Cho thấy rằng người xưa cũng yêu nhau tình tứ và lãng mạn lắm…

Một nụ hôn như hàng nghìn đời nay đã có, quen thuộc và cũ rích. Nhưng điều đó không có nghĩa là bạn đang hưởng một nụ hôn nhàm chán. Đôi khi cổ điển nhưng rất lãng mạn.

Một chàng trai có nụ hôn môi nồng nàn, quyến rũ dễ khiến cô gái say mê.

Bao đời nay, những người yêu nhau vẫn hôn môi, khác biệt là ở chỗ bạn có biết “thưởng thức” đôi môi bạn tình hay không? Nụ hôn nhẹ nhàng hôn phớt lên má, hay nụ hôn dữ dội “kiểu Pháp” đều đem lại những đam mê bất tận.

Có người cho rằng nước Nga là nơi đầu tiên đưa nụ hôn vào nghi thức đám cưới, như một cách cam kết lời hứa bên nhau trọn đời.

Người La Mã hôn thay lời chào. Hoàng đế La Mã cho phép người dân tỏ lòng sùng kính bằng cách hôn lên người của ông từ chân tới má.

Thế kỷ 16 ở nước Anh, nụ hôn bắt nguồn từ trái táo. Một trái táo được bổ ra thành nhiều miếng nhỏ và thiếu nữ sẽ đem những miếng táo đó ra hội chợ đi lòng vòng đến khi phát hiện ra một chàng trai đáng được cô hôn. Cô gái sẽ mời chàng trái táo, mỗi lần chàng ăn hết một miếng táo là họ trao nhau một nụ hôn, khi ăn hết cả quả táo, chàng trai lại chờ đợi một thiếu nữ khác đến để tiếp tục trò chơi.

Nụ hôn xóa nhòa tội lỗi và tha thứ mọi lỗi lầm, cũng như bản chất của nụ hôn là một thủ thuật đáng yêu, để chấm dứt cuộc nói chuyện khi từ ngữ trở nên thừa thài.

Những người bạn, dành cho nhau nụ hôn trên má. Những người yêu nhau dành cho nhau nụ hôn trên môi. Những nụ hôn cho đi là cả những cảm xúc theo đó đến người nhận…

Cuối cùng dù bạn hôn và được hôn ở đâu thì chân thành và nồng nàn vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Chính tình yêu của bạn sẽ giúp cho nụ hôn của bạn trở nên tuyệt vời hơn bao giờ hết.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1777 Posted : Sunday, June 6, 2021 2:46:43 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)

Văn Chương Tỏ Tình Của Người Dân Quê Miền Nam


Đoàn Thị Thu Vân

June 5, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Rỗi rảnh, cùng nhau đọc những câu tỏ tình mộc mạc của dân quê miền Nam, vui vui, nhẹ nhàng mà ngọt ngào.

Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành ‘liều mạng’ :

Dao phay kề cổ,
Máu đổ không màng
Chết thì chịu chết
Buông nàng anh không buông

Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình ‘hú vía’ vì kịp thời nhận ra ‘chân tướng’ đối tượng :

May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu

Lang que 2Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình :

Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền

Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc. Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’.

Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên

Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:

Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi !

Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước :

Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều

Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin ! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng ‘xạo’ cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng Lang que 4mình.

Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:

Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen ‘mình dễ thương’ mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên – trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời – tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ – rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính – ‘mình’.

Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết ‘chuyện gì đây’, cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh! Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái ‘quệt’, biểu ưng cho rồi

Những người nghe câu ‘xúi bẩy’ này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.

Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi ‘rầu thúi ruột’ mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

Lang que 3

Thác ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em

Quả là ‘khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan’, nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!

Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng :

Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se

Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy mãnh liệt. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn !

Chẳng thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi

Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai ?
Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:
Lang que 5Nếu mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu

Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận :

Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa

Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng – ‘Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường’ – đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu – ‘Mà có chắc là tu được không đấy ?’. Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.

Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột trao anh mang về

Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại ‘nhát gan’ đến bật cười :

Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ – Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người:

Ra đi gặp vịt cũng lùa;
Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu…
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1778 Posted : Tuesday, June 8, 2021 4:15:00 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)

Nói Lái Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Việt Nam


Nguyễn Văn Hiệp

April 22, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Theo định nghĩa chung chung của một số nhà Ngôn ngữ học thì Nói lái là nói bằng cách giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của hai âm tiết để tạo thành nghĩa khác hẳn và cho rằng đây là một trong những đặc trưng của tiếng Việt, nhằm mục đích đố chữ, bông đùa, chơi chữ hay châm biếm. Thí dụ như “lộng kiếng” nói lái thành “liệng cống” hay “đầu tiên” thành “tiền đâu”, “đơn giản” thành “đang giỡn”…

Có người còn cho rằng Nói lái là một đặc điểm độc đáo của tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác không có, khi nói lái người ta phải chọn một nhóm hai hoặc ba tiếng rồi hoán vị các phụ âm hoặc các thanh của những tiếng đó cho nhau. Chẳng hạn như “Vũ như Cẩn” thành “vẫn như cũ” hay “Nguyễn y Vân” thành “vẫn y nguyên” hoặc “bảng đỏ sao vàng” thành “bỏ Đảng sang giàu”…

Lại có người giải thích : Nói lái là cách đánh tráo vần, thanh điệu… giữa hai hoặc ba tiếng với nhau, nó không rườm rà không phức tạp mà rất đơn giản dễ vận dụng để tạo thêm nghĩa mới phù hợp với mục đích giao tiếp và cho rằng nếu không có những cách nói lái này, quá trình giao tiếp sẽ kém sinh động hơn, đơn điệu hơn nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói; mà người nghe vì không tinh ý, nhất thời không nhận ra nên xảy ra nhiều giai thoại vô cùng lý thú.

UserPostedImage

Như chúng ta đã biết, một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm. Chẳng hạn như chữ thung gồm phụ âm th và âm ung. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: thung (thung dung), thúng (cái thúng), thùng (cái thùng), thụng (áo thụng), thủng (lỗ thủng) và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt, nên người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát vậy. Thêm vào đó, tiếng Việt vốn đơn âm nên có thể Nói lái dễ dàng mà vẫn có nghiã : Cái biệt thự nầy bự thiệt ! Bí mật coi chừng bị bật mí hoặc kháng chiến lâu ngày sẽ khiến chán hay muốn đầu tư nhưng không biết từ đâu, và đã tháo giầy nhưng chưa thấy giàu ! Theo con Hương vì thương con heo cô ấy…

Đặc biệt, đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy theo gốc gác hoặc sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nam mà cách nói lái có khác nhau đôi chút.

UserPostedImage

◾Nói Lái theo cách ngoài Bắc : người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc).

Thí dụ như chữ tượng lo nói lái thành lọ tương (lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ, tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương).

Chữ đấu tranh nói lái lại là tránh đâu (tranh đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh vì không dấu nên thành đâu).

◾Nói lái theo kiểu trong Nam : theo cách nói lái trong Nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí.

Thí dụ như chữ cá đối nói lái thành cối đá (phụ âm ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á của cá thành đá). Và cứ như vậy mà cờ Tây thành Cầy tơ, Thầy tu thành thù Tây, hiện đại thành hại điện, Thứ Lễ thành Thế Lữ, trò chơi thành trời cho…

Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, thì chỉ hoán đổi hai chữ đầu và cuối nhưng giữ nguyên chữ giữa. Chẳng hạn như : “Trần bá Cương” thành “Trương bá Cần”, “Chín bến đò” thành “chó bến Đình”, “Âu cái Đằng” thành “ăn cái đầu”, “Hương bên đèo” thành “Heo bên đường”…

Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn. Thí dụ chữ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành chính biên. Do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng: tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.

Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đật…không nói lái được.

Tuy nhiên, Nói lái là lối nói mà chỉ cảm nhận được chớ không công thức hóa được. Nếu nói lái mà đơn giản như đang giỡn (có thêm chữ g và dấu hỏi thành dấu ngã) thì không thể áp dụng công thức nào vào đây cả.

Đặc biệt là người miền Nam thường phát âm phụ âm cuối không chính xác như c # t, n # ng, y # i, dấu hỏi đọc như dấu ngã. Chẳng hạn như chữ Cắt và Cắc, Đan và Đang, Thai và Thay, suy nghĩ và nghỉ ngợi… họ đều phát âm giống nhau, khó mà phân biệt. Vì vậy khi người miền Nam nói lái thì rất dễ dàng, nhanh chóng do biến đổi bằng nhiều cách khác nhau nhưng khi viết ra thành chữ thì nhiều khi không đúng vào đâu cả (tức là sai Chánh tả). Thí dụ như sao vàng nói lái thành sang giàu nhưng viết đúng theo âm luật là sang vào thì không phải là ý của người muốn nói; bởi vậy, người ta nói nói lái chớ không ai nói viết lái. Tuy nhiên, có nhiều câu thơ, bài thơ không những nói lái mà còn viết lái rất tài tình, chúng tôi sẽ giới thiệu phần sau.

Sau đây, chúng tôi xin mời quý vị bước vào thế giới của ngôn ngữ Nói Lái qua các câu đố, câu hò, câu đối, giai thoại trong dân gian và cả những bài thơ mang tính cách Văn học Nghệ thuật hoặc đã có từ lâu trong nền Văn học Việt Nam. Dĩ nhiên, theo như ý kiến của Hoàng Lão Tà trong bài “Ăn tục nói phét” thì “môn nói lái rất thần sầu quỷ khiếp đa dạng, đa năng mà ngay trong thi ca kim cổ đều sử dụng. Lúc nào nói lái được là chớp ngay cơ hội. Và nói lái phải tục mới vui, mới cười được, chứ nói lái thông thường thì chả có gì hấp dẫn”.

1/- Nói Lái trong Câu đố :

UserPostedImage

Cũng như ca dao, tục ngữ, thành ngữ… Câu đố cũng là một hình thái của Văn học dân gian Việt Nam. Người ta sử dụng Câu đố trong các buổi họp mặt vui chơi hoặc trong lúc lao động chân tay để quên đi mệt nhọc hay thử tài trí giữa hai bên nam nữ. Những câu đố Nói lái thường rất dễ đáp nhưng vì bất ngờ hay bị tròng tréo chữ nghiã mà đôi khi không đáp được.

◾Lăng quằng lịt quịt … lăng quằng trứng, là cái gì? (Đáp là cái Lưng quần trắng)
◾Lăng quằng lịt quịt … lăng quằng rừng, là cái gì? ( là cái Lưng quần rằn)
◾Trong nhà chạy ra hỏi cái gì bán, là cái gì ? ( là cái giàn bí)
◾Vừa đi vừa lủi, vừa mổ, là cái gì ? ( là cái lỗ mũi)
◾Mẹ thương con, con gầy, là cái gì ? ( là cây gòn)
◾Trên trời rơi xuống cái mau co, là cái gì ? ( là cái mo cau)
◾Cầm đục cất đục là cái gì ? (là Cục đất)
◾Ghe chài chìm giữa biển đông,

Ván phên trôi hết cái cong nó còn’’ là cái gì ? (là con còng)

◾Khoan mũi, khoan lái, khoan lai,
Bò la, bò liệt đố ai biết gì? ( là củ khoai lang).
◾Hít vào, hít ra, hít một là cái gì ? (là hột mít)
◾Cà vô, cà ra, cà nhột, là cái gì ? (là cột nhà)
◾Cúng trên núi, cúng mê, cúng mải là cái gì ? (là cái mủng)
◾Cú trong nhà cú ra, cú hãi là cái gì ? (là cái hũ)
◾May không chút nữa thì lầm,
Cau dày không bẻ bẻ nhầm cau ranh, là cái gì ? (là canh rau)…
◾“Sáng nay đi hỏi chị Năm,

Có đi ra chợ chuộc dùm đôi bông” là cái gì ? ( là trái chùm ruột)

◾Cái gì ở cạnh bờ sông,
Cái mui thì nát cái cong thì còn ? ( là con còng )
◾Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng, là gì ? ( là ngón chưn cái)
◾Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn, là gì ? ( là con ngựa)
◾Miệng bà Ký lớn, bà Ký banh

Tay ông Cai dài, ông Cai khoanh. Là cái gì ? ( là canh bí và canh khoai)

Ngoài ra, còn có câu đố về các con vật, câu đố đặt ra là từ hai con vật nầy khi Nói lái sẽ thành hai con vật khác, đã được giải đáp như sau :

◾Con Cua con Rồng lái là Con Công con Rùa
Con Cáo con Sóc lái là con Cóc con Sáo.
Con Trai con Rắn lái là con Trăn con Rái.(cá)
Con Cò con Báo lái là con Cáo con Bò
Con Sáo con Bò lái là con Sò con Báo
Con Sếu con Ngao lái là con Sáo con Nghêu …

◾con Sâu con Dế –> con dê con sấu
con Ngao con Sán –> con ngan con sáo
con Ong con Kiến –> con yến con công
con Ốc con Kiến –> con yến con cóc
con Trai con Rắn –> con trăn con rái
con Ốc con Nhện –> con ếch con nhộng

◾Con SÁO nói với con BÒ,
Có con SÒ BÁO: bên kia Hội chùa.
Con CÔNG nghe rũ con RÙA,
Con CUA thấy vậy, mới khua con RỒNG.
Cả bọn kết lại thật đông,
Con CÒ, con SÓC cũng mong theo cùng.
CÓC, SÒ xúm lại đi chung…

◾Cô Công nói với Cậu Rùa,
Rồng ở dưới đất, còn Cua trên trời.
Ốc gào Nhện hỡi, nhện ơi:
Ếch bơi phố núi, Nhộng chơi ao làng.
Gió chiều nhẹ thổi mênh mang,
Tao nhân mặc khách lang thang bên đường…

2/- Nói Lái trong Câu Hò đối đáp:

UserPostedImage

Hò đối đáp vốn là một loại hình thức dân ca phổ biến khắp ba miền đất nước. Nó thường xảy ra trên cánh đồng hay dòng sông, nam và nữ thường hò đối đáp với nhau để xua đi nỗi mệt nhọc trong công việc. Điều đáng ngạc nhiên là họ có thể dễ dàng sáng tạo và hò đối đáp ngay tại chỗ. Những người này rất nhanh nhẹn và thông minh đến mức ngay cả những người có học đôi khi cũng phải khâm phục họ và đôi khi phải bỏ cuộc. Có nhiều cặp trai gái trở thành chồng vợ sau những cuộc hò nầy.

Những câu hò đối đáp thông thường thì rất nhiều nhưng dùng cách nói lái để hò đối đáp thì rất hiếm quý.

Thông thường thì bên con gái cất cao câu hò đối trước :

“Hò hơ… Con cá đối nằm trên cối đá,
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Anh mà đối đặng… ơ.. ờ
Hò hơ…Anh mà đối đặng, dẫu nghèo em cũng ưng”.

Sau khi phân tách và tìm câu trả lời, bên con trai hò đáp :

“Hò hơ… Chim mỏ kiến(g) đậu trên miếng cỏ,

Chim vàng lông đáp dựa vồng lang.

Anh đà đối đặng ơ… ờ
Hò hơ…Anh đà đối đặng, hỏi nàng có ưng chưa?”

Và như thế, bên nầy đối, bên kia đáp cứ kéo dài không dứt cuộc tranh tài đầy lý thú của hai bên nam nữ để lại dân gian những câu hò Nói lái độc đáo đầy sáng tạo:

◾Con sáo sậu chê cô xấu xạo,
Con chó què chân bị cái quần che.
◾Con bé mập ú nhờ bà mụ ấp,
Thằng bé ốm tong vác cái ống tôm.
◾Chiều chiều cụ Mão lên rừng cạo mũ,
Sáng sớm bà Hạc đi bán bạc hà.
◾Cô nàng dâu Hứa đi mua dưa hấu,
Thằng rể bảnh trai ngồi cạnh bãi tranh.
◾Người mặc áo xanh chính là anh xáo, (anh Sáu)
Miếng thịt băm nát trong bụng bác Năm.
◾Chàng trai sứt môi ngồi ăn xôi mứt,
Cô gái mồm to lặn lội mò tôm.
◾Con cóc cái ngồi trên cái cốc,
Con cầy tơ đứng dưới cờ Tây.

Bên cạnh đó còn có những câu Nói lái mà đôi trai gái khéo léo gởi gắm tình cảm cho nhau mà người ngoài vì vô tình không hiểu được. Trước hết, người con gái thố lộ :

◾“Cam sành nhỏ lá thanh ương,
Ngọt mật thanh đường nhắm lớ, bớ anh !”

Cảm thương vì “thương anh” mà “nhớ lắm” của nàng nên chàng hứa hẹn :

◾“Thanh ương là tuổi mong chờ
Một mai nhái lặn chà quơ, quơ chà”.

(Có nghiã: Qua muốn “nhắn lại” với bậu là nếu “thương anh” mà bậu “chờ qua” thì “qua chờ” bậu).

3/- Nói Lái trong câu đối :

UserPostedImage

Câu đối là cách chơi chữ và là một trong những thú tiêu khiển của người xưa. Người ta thường viết câu đối trong dịp Tết hay trong các lễ mừng thượng thọ, thăng quan tiến chức, đỗ đạt hay tân hôn, sinh nhật…. Người viết câu đối phải là người văn hay, chữ tốt và nhất là ý nghiã của câu đối phải phù hợp với trọng tâm của buỗi lễ. Cho nên, viết câu đối rất khó mà nói lái trong câu đố thì lại càng khó hơn nữa. Vậy mà trong dân gian Việt Nam vẫn có nhiều câu đối nói lái.

Thảm thương cho cuộc sống thiếu thốn, đói nghèo của nghề giáo dưới chế độ Xã hội Chủ nghiã, người ta than thở qua bài “Buồn đời giáo-chức”:

Thảm kịch của thầy giáo, phải tháo giầy,

Tháo luôn cả ủng, thủng luôn cả áo.
Làm giáo chức, nên phải giứt cháo,
Thảo chương rồi, để được thưởng chao,
Lấy giáo án đem dán áo.

Cùng với một câu đối bất hủ như sau :

◾Chiều ba mươi, thầy giáo tháo giày ra chợ bán
Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.

Tuy vậy, vẫn còn một câu đối khác nghe chỉnh hơn :

◾Thầy giáo…tháo giầy, tháo cả ủng, thủng cả áo, đem giáo án ra… dán áo.

Mèo con….còn meo, còn léo nhéo, kéo lòn nhòn, ngậm xương cá về..ca xướng.

Còn đây là câu đối Tết dành tặng cho những tên keo kiệt, coi trọng đồng tiền hơn bất cứ mọi thứ trên đời (xin nói lái từng cặp chữ thì sẽ thấy):

◾Thiên tường, tác biệt,
Hiền tạ, thu sương.

Ngoài ra, còn có những câu đối không dùng trong mục đích nào cả mà chỉ để thỏa mãn tánh trào phúng và tài Nói lái của mình :

◾Kia mấy cây mía trên xe chú,
Có vài cái vò dưới nhà cô.
◾Thầy giáo tháo giầy, vấy đất vất đấỵ
Thầy tu thù Tây, cầu đạo cạo đầu.
◾Trai Thủ Đức năm canh thức đủ,
Gái Đồng Tranh sáu khắc đành trông.
◾“Trai Thủ Đức năm canh thức đủ,
Gái Gò Công sáu khắc gồng co”.
◾Gái Hóc Môn vừa hôn vừa móc,
Trai Gò Công vừa gồng vừa co.
◾Thầy giáo Bản Giốc, vừa bốc vừa giảng,
Tử tù Cổng Trời, bị cởi bị trồng.
◾Con trai Bắc Ninh, vừa binh vừa nắc,
Con gái Hà Đông, hồng diện đa dâm.
◾Đại học Suối Máu, sáu tháng muối cơm,
Giáo khu Thừa Thiên, cửa thiền thưa thớt.
◾Dân nhậu Chu Lai, uống chai uống lu,
Người dân Đập Đá, bị đá bị đập.
◾Rượu thuốc Bạch Hổ, uống bổ như hạch,
Con gái Đà Nẵng, tứ đẳng nõn nà.
◾Nhà văn Nhật Tiến bảo học tiếng Nhật là tiện nhất.

Luật sư Ðức Tiến không biết tiếng Ðức nên tức điếng.

◾Con cá rô cố ra khỏi rá cô !
Chú chó mực chực mó vào chõ mứt.

-“Vợ nuôi chó, chồng chén cầy; tứ đốm tam khoanh, cây còn hóa ra là nhà Tuất.

“Ngưòi bảo heo, kẻ kêu lợn; ba bầy bảy mối, lớn lại thành đích thị họ Trư.”

Còn về câu đối “Gái Củ Chi, chỉ cu, hỏi củ chi?” thì có các câu :

◾Trai Giồng dứa, trồng dừa giống, trên giồng dứa.
◾Trai Láng Hạ, lạ háng người Láng Hạ.
◾Trai Thành Đông, đồng thanh hét thành đồng.

Sau hết, có một người thích nói lái, tức cảnh sinh tình đưa ra câu đối sau đây, xin mời chư quý vị tìm cho câu đáp :

◾“Xuân Cali lạnh lẽo, nghe gọi heo, gọi lợn, gọi chó, gọi cờ tây, chạnh thèm bát giả cầy…”

4/- Nói lái trong các giai thoại :

UserPostedImage

Giai thoại được hiểu là câu chuyện thú vị làm cho người nghe phải hào hứng, vui thích. Từ xưa, có rất nhiều giai thoại, đặc biệt là giai thoại trong văn chương thì không những được người đời truyền tụng qua những cuộc trao đổi trong giới Văn gia, trí thức mà còn được ghi vào sách vở. Tuy nhiên, có những giai thoại Nói lái thì ít người quan tâm, thỉnh thoảng họ cũng có nghe qua nhưng rồi bỏ, xem đó như là những câu chuyện dân gian. Vì vậy, những giai thoại nầy trở thành loại văn chương truyền khẩu, mặc ai muốn kể sao thì kể, muốn thêm thắt thế nào cũng được miễn đáp ứng được sự cảm nhận của người nghe là được.

A)- Chuyện Đại phong :

Chuyện thế này: hai anh hề trên sân khấu tuồng ngoài Bắc, trong lúc diễu giúp vui, anh A đố anh B: Đại phong là gì?

◾“Thì đại là lớn, còn phong là gió, đại phong là gió lớn”, anh B giải thích.

Anh A bảo :“ Đại phong có nghiã là lọ tương đấy. Nầy nhé, Đại phong là gió lớn, mà gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thi tượng (Phật) lo, tượng lo là lọ tương.

UserPostedImage

Có người còn cho rằng chuyện Đại phong xuất xứ từ Trạng Quỳnh. Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh, sinh quán Nghệ An dưới thời Lê Trung Hưng (1530-1540), là người hay chữ, thông minh xuất chúng, với bản tính nói ngông hay châm chọc vua chúa quan quyền thời bấy giờ. Một hôm Quỳnh dâng lên chúa Trịnh một lọ thức ăn khoác lác là một món ăn tuyệt hảo, ngoài có đề hai chữ Đại Phong. Sau khi ăn thử, chúa Trịnh vì bị Trạng lừa bỏ đói, ăn rất ngon miệng nên cật vấn về món ăn lạ, thì Trạng giải thích rằng Đại Phong là gió to, gió to thì tượng lo, tượng lo nói lái là lọ tương.

Ngoài ra, Trạng Quỳnh còn có một câu nói lái khác mà người ta cho rằng để chọc bà Đoàn thị Điểm (?)
◾Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,
Nỡ lòng nào chị chẳng cho.

B)- Chuyện Trạng Quỳnh – “đá bèo” và “ngọa sơn” :

Một bà Chúa có nhan sắc mà tính kiêu ngạo, đi ra chơi phố phường thấy ai trái ý là sai lính bắt đánh liền. Quỳnh lững thững đi chơi, gặp kiệu Chúa, thấy gần đấy có cái ao bèo, vội vàng chạy xuống cầu ao nhằm đám bèo mà đá tứ tung. Chúa biết Quỳnh, thấy chơi lẩn thẩn như thế mới hỏi:
◾Ông làm gì đó?

Quỳnh ngẩng lên thưa:
◾Tôi ở nhà buồn quá, ra ao đá bèo chơi ạ !

Chúa đỏ mặt tía tai, đánh kiệu bỏ đi.

Một buổi trưa nọ, Quỳnh định vào nội phủ thăm Chúa nhưng biết là Chúa đang ngon giấc ở dinh bà Chính cung, Quỳnh cụt hứng lui gót. Trên đường về, Quỳnh đề lên vách phủ hai chữ “Ngọa Sơn”. Khi Chúa gọi vào hỏi, Quỳnh trả lời :
◾Khải Chúa, “Ngọa Sơn” nghĩa là nằm ở trên núi, có thế thôi ạ! Tiện tay, thần viết chơi, chẳng có gì để Chúa bận tâm cả.

Sau đó, Chúa thấy hai chữ “Ngọa Sơn” xuất hiện la liệt trên các vách tường, cửa nhà ngoài phố…Chúa truyền gọi một người đến hỏi duyên cớ. Người kia run lẩy bẩy, thưa:

Chúng con là kẻ hèn mọn dốt nát, đâu dám sính chữ. Việc này chẳng qua chỉ tại Trạng Quỳnh đấy ạ ! Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ, về mách với chúng con là Chúa đang bận “Ngọa Sơn”, rồi giải thích rằng: Ngọa là nằm, nằm lâu thì phải ngủ, ngủ thì phải ngáy. Sơn là núi, mà núi thì phải có đèo. “Ngáy Đèo” nói lái lại là… , con không dám nói ra đâu. Không ngờ bọn trẻ con nghe lỏm được lời Trạng, buồn tay viết bậy bạ lung tung. Xin Chúa tha cho con!

Hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện này là do Quỳnh, có làm lớn chuyện ra chỉ tổ thêm xấu hổ nên bỏ qua.

C)- Chuyện Đại Điểm Quần Thần:

Một giai thoại về Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm được lưu truyền ở miền Nam như sau : Hồi Thủ Tướng Tâm còn là Quận Trưởng Cai Lậy (có biệt danh là Hùm Xám Cai Lậy) lúc ăn mừng tân gia, có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại Điểm Quần Thần rất đẹp và giải thích Quần thần là người bề tôi, Đại điểm là điểm lớn, ý nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn trong quan trường. Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong phòng khách. Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi xin quan lớn dẹp đi. Quan ngạc nhiên hỏi, người ấy giải thích: người viết liễn đã cố ý châm biếm quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: Đại điểm là chấm to; Quần thần là bầy tôi. Đại Điểm Quần Thần là Chấm To Bầy Tôi nói lái lại là Chó Tâm Bồi Tây. Chẳng biết quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay chăng, nhưng có lẽ vì không muốn làm lớn chuyện mà thêm xấu hổ, nên ỉm luôn.

D)- Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói lái :

UserPostedImage

Trước khi chết, Trạng Trình (1491-1585, thời Lê Mạc) có làm một tấm bia căn dặn con cháu khi nào chết nên đem tấm bia nầy chôn trước mộ, tấm bia được khắc chữ bên trong nhưng sơn bít bên ngoài. Sau đó chừng 100 năm, cha con ông Khả đem bò tới đó cho ăn mà lại cột nhằm mộ bia của Trạng. Hôm đó nhằm lúc trưa nắng, vì quá khát nước nên bầy bò đụng với nhau, chạy tán loạn làm gẫy tấm bia, sập xuống. Làng xã hay tin biết cha con ông Khả làm hư mồ mả của Trạng nên bắt về trị tội. Cha con ông Khả năn nỉ quá, xin cho đi vay bạc hỏi tiền làm lại tấm bia khác thường cho Trạng. Làng xã thấy tội nghiệp nên ưng thuận. Sau khi vay mượn và bán hết đồ đạc trong nhà thì chỉ được có một quan tám, nhưng được bao nhiêu cũng phải tiến hành sửa chữa. Đến chừng đập bia ra vừa tróc lớp ô dước bên ngoài thì thấy có hàng chữ như thế nầy:”Cha con thằng Khả làm ngã bia ta, Làng xã bắt đền tam quán”. Thì ra tam quán nói lái thành quan tám, đúng như lời tiên tri của ông Trạng.

Đ)- Chuyện về ông Thủ Thiệm :(theo “Thủ Thiệm Đất Quảng” của Hoàng Quốc)

Thủ Thiệm người xứ Bình Định, xã An Hoà thuộc phủ Hà Đông sau đổi thành Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam. Ông sinh năm 1854 mất vào năm1920 tại quê nhà. Lúc nhỏ, Thủ Thiệm có tên là Nhơn, khi lớn lên đi học và đi thi, ông lấy tên chính thức là Thiệm. Theo phong tục xưa, Thủ sắc là người giữ các sắc phong của Vua ban cho làng, chức này thường được Hội đồng kỳ mục tín nhiệm giao cho các nhà Nho, hoặc ít ra cũng là người có chữ nghĩa thánh hiền ở trong làng đảm nhận. Có lẽ nhờ thông Hán học mà Thiệm được giao làm Thủ sắc của làng. Từ đó, người làng gọi ông là Thủ Thiệm, tức đem ghép chức Thủ sắc vào tên ông. Ông là người hoạt bát, nhanh nhẹn, thông minh, ứng đối tài tình nên có nhiều giai thoại để đời :
◾Một đám cưới nọ tổ chức rất linh đình, hơn nữa số lễ vật của khách đến chúc mừng cũng để bù đắp vào các khoản chi phí, đó là chưa nói đến trường hợp gia chủ được lãi, nếu có chủ tâm tính toán trước. Thủ Thiệm ghét cay ghét đắng cái thói này. Tương truyền có một chuyện như vầy:

Khi đi dự đám cưới, Thủ Thiệm mua một tấm lụa, viết lên đó ba chữ Hán thật to:”Miêu Bất Tọa” làm quà tặng đám cưới. Trong tiệc rượu, nhiều người nhờ Thủ Thiệm giải thích mấy chữ đó. Thủ Thiệm chép miệng: – Chà có rứa mà mấy ông cũng hỏi! “Miêu” là mèo, “Bất” là không, “Tọa” là ngồi. “Miêu Bất Tọa” là mèo không ngồi, mà mèo không ngồi tức là mèo đứng. Các ông các bà mừng “Bách niên giai lão”, “Bách niên hạnh phúc”, còn tui thì “Mèo Đứng” cũng vậy mà thôi chứ có khác gì đâu. Nhìn thấy tấm lụa có chữ “Miêu Bất Tọa” treo trang trọng giữa phòng chính, ai cũng bấm bụng cười thầm.

◾Có cậu con trai học dốt, thi trượt nhưng người cha đã bỏ tiền mua chức cửu phẩm văn giai, mở tiệc đãi cả làng mừng con trai đỗ đạt. Mừng cháu có thành tích, Thủ Thiệm cho câu đối Nôm:

“Cha ở nhà đại du
Con đi thi đậu tru”

Câu đối Nôm dán trên cột nhà khiến chủ nhà bật ra tiếng chửi đổng, còn khách khứa tủm tỉm cười thầm.

◾Trong ngày đám tang vợ, Ông đề trên lá phướn vợ chữ khuynh địa có nghĩa là méo đất, và khóc vợ, rồi kể lể thờ dài: “Lúc thiếu “cái nớ” thì làm răng mà các dì giúp tui được, phải không các dì?” khiến bà con chòm xóm “lỡ khóc, lỡ cười” với ông chủ nhà trong lúc tang ma bối rối.

E)- “Méo trời và Méo đất”:

Có một ông thợ hớt tóc góa vợ nên đã quan hệ “già nhân nghĩa, non vợ chồng” với một bà góa chồng. Có hai câu thơ ông tự “vịnh” về mối quan hệ của chính mình thực đáng ghi nhớ :

Yêu em từ độ méo trời,
Khi nào méo đất mới rời em ra (!)

Yêu từ thuở “méo trời” đã hay, nhưng công khai thừa nhận sẽ hết yêu khi “méo đất” dẫu có hơi ác nhưng cách dùng từ thì quả thực tinh quái và thông minh hết chỗ chê.

G)- Bài thơ Tác hợp : (theo “Quảng Nam Nói Lái” của Huỳnh ngọc Chiến)

Ở xứ Quảng Nam có ông Dương Quốc Thạnh, biệt hiệu Sơn Hồ, chuyên làm thơ nói lái theo thể Đường luật, đối nhau chan chát trong từng câu từng chữ. Có một cậu công nhân gốc Hội An làm việc ở Phú Ninh quan hệ với một cô thợ may ở địa phương mang bầu. Cậu về thú thực với gia đình và xin cưới gấp nhưng ba mẹ không chịu. Ông lại là người quen biết cả hai bên nên nhà gái nhờ ông thuyết phục bên nhà trai. Cuối cùng đám cưới vẫn được diễn ra với cô dâu mang bụng bầu 6 tháng (!). Không khí nặng nề giữa hai họ được giải tỏa hoàn toàn khi ông, với tư cách chủ hôn, đọc bài thơ này và nhà trai thực sự vui vẻ khi tuyên bố nhận con dâu.

UserPostedImage

Ai bàn chi chuyện đã an bài,
Trai khiển đồng tình gái triển khai.
Cứ sợ cho nên thành cớ sự,
Mai than mốt thở lỡ mang thai.
Tính từ ngày tháng vương tình tứ,
Khai ổ bây giờ báo khổ ai.
Cưỡng chúng ông bà nghe cũng chướng,
Thôi đành để chúng được thành đôi !

Bài thơ quả thật vô cùng sâu sắc và lý thú. Chuyện đã rồi thì thôi đừng bàn ra tán vô làm chi. Do chàng trai điều khiển nên cô gái mới phải chìu theo nhưng lỗi là do cô đồng tình nên cũng không thể trách ai. Vì quan hệ lén lút nên mới xảy ra “cớ sự”. Bây giờ đã sắp đến ngày sinh nở rồi, sắp đến lúc “khai ổ” rồi mà đám cưới không thành thì sẽ làm khổ cho cả hai bên nhà trai nhà gái lẫn hai người trong cuộc.

Thêm một chuyện khác là ở Quận Đại Lộc cũng thuộc Quảng Nam có anh Trần Hàn xấu trai, mặt thì rỗ, lại thêm chột hết một mắt, nhưng anh ta hát hay nổi tiếng. Nhưng “Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị”, vì khi anh xuống làng La Qua, quận Điện Bàn, gặp một cô gái hát chỉ hai câu mà không tài nào đối được, đành bỏ nghề hát, tuyệt tích giang hồ. Câu hát rằng:

Trần ai gặp lúc cơ hàn
Rổ đan mặt mốt, xuống ngàn đổi khoai.

Cái chữ khó của câu hát là chữ “Rổ” đan mặt mốt, nghĩa trắng là nghèo quá phải đan rổ tre long mốt để đựng khoai, nghĩa đen lại là mặt rỗ hoa mè lại đui một mắt (mặt mốt nói lái là một mắt).

H)- Tranh đấu bị trâu đánh :

Ở một cơ quan nọ (dĩ nhiên là cơ quan của Việt cộng) có hội nghị họp chống tham nhũng cửa quyền. Gần kết thúc cuộc họp có một chị công nhân cũ của nhà máy đòi đứng lên phát biểu. Chị vừa nói vừa khóc: “Chúng tôi cũng muốn đấu tranh đòi quyền lợi lắm, nhưng như tôi đây, đấu tranh thì không biết tránh đâu, chưa kịp tránh đâu thì đã bị trâu đánh. Vì vậy bây giờ tôi đang thất nghiệp !

I)- Một mẩu đối thoại :

A: Bên đó thế nào ?
B: Ồ, có đại phong.
A: Làm gì thì làm, nhớ thủ tục đầu tiên đấy nhé !
B: Vâng, biết rồi, khổ lắm nói mãi. À, anh thấy cô ấy thế nào ?
A: Người đẹp có đôi chân thảo bình nên hình chụp tôi lộng kiếng rồi !
B: Anh thì lúc nào cũng tếu, cũng vũ như cẩn vậy.
A: Thôi chào, chúc anh mạnh sự lòi.!!!

(Chú thích : – Thảo bình, theo nghiã Hán Việt, thảo là cỏ, bình là bằng. Thảo bình là cỏ bằng. Cỏ bằng nói lái là cẳng bò. – Mạnh sự lòi nói lái là Mọi sự lành).

K)- Bài thơ chú Phỉnh :

Tạp chí Xưa Nay số 298 (12/2007), nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của Quách Tấn (một nhà thơ sở trường Thơ Đường luật có tên trong “Thi nhân Việt Nam”) có bài viết về tác giả bài thơ nói lái Chú Phỉnh nổi tiếng. Bài thơ nói lái như thế này:

Chú phỉnh tôi rồi Chính phủ ơi,
Chú khiêng đi mất chiến khu rồi !
Thi đua sao cứ thua đi mãi,
Kháng chiến như vầy khiến chán thôi !.

Theo ô.Quách Tạo, tác giả bài thơ nói lái này là Hồ Đệ, người đã gây dựng vào năm 1954 ở Quảng Nam tổ chức Hậu Quốc Dân Đảng phối hợp với nhóm các chức sắc Cao Đài do Cao Hữu Chí đứng đầu để chống Việt Minh và đã bị tòa án Liên Khu V xử.

Không hiểu sao về sau người ta lại cứ nghĩ tác giả bài thơ nói lái này là nhà thơ Quách Tấn, có thể vì theo lý luận của hỏi-cung-viên Cao Kế: “Bài thơ Đường này anh không làm thì ai vô đây mà làm?”.

Về chuyện này, năm 1991, Quách Tấn, khi đó đã mù, nói với Quách Tạo: “Việc đời cũng lạ. Văn của mình thì họ chê nhưng lại đem chép hàng vài chục trang sách của mình rồi ký tên, xuất bản làm tác giả. Còn văn bá láp và phản động thì họ lại quả quyết đó là của mình để tìm cách buộc tội”.

Cùng với tư tưởng “phản động” nầy, trong bài “Nói lái” của Đỗ Thông Minh cũng có ghi bài thơ “chú Phỉnh” tuy có khác đi đôi chút :

Kháng chiến thôi rồi khiến chán ôi,
Chiến khu để lúa chú khiên rồi !
Thi đua chi nữa thua đi quách,
Anh hùng ? Chỉ tổ ung hành thôi !

Rõ ràng, chính vì bài thơ được phổ biến bằng cách truyền miệng nên tình trạng “tam sao thất bổn” là không thể tránh, mặc dù nội dung không thay đổi nhiều lắm.

L)- Câu ró và Câu rạo :

Có anh chàng nọ trước kia để râu trông rất đẹp nhưng sau đó không biết lý do gì, cạo đi hàm râu của mình làm cho cô bạn gái nhận không ra. Chàng bèn làm thơ nói lái như vầy để than thở :

Xưa kia câu ró ngó xinh,
Bây giờ câu rạo vô tình ngó lơ!

M)- Nói lái để hẹn hò :

Trai gái miền Trung hẹn hò gặp gỡ nhau, sợ có người nghe nên tìm cách nói lái vẩn vơ về ruộng đồng, rơm rạ để hiểu ngầm với nhau.
Chàng nói bâng quơ: “bị môn, bị khoai, bị nưa”. Nàng chưa có cơ hội nên khất: “cau khô, trầu héo, tái môi.” hay “nón cụ, quai thao, tốt mối, xấu cuồng” hoặc “bưởi đỏ, cam sành, tốt múi”..

Người qua đường không thể hiểu rằng bị nưa là bựa ni (tức là bữa nay), tái môi là tối mai, tốt mối xấu cuồng là tối mốt xuống cầu, tối múi là túi mốt (tức là tối mốt).

N)- Đặt tên con :

Biết Tú Đạp là dân học thức nên có người quen nhờ đặt tên cho đứa con trai vừa mới sinh. Sau mấy ngày suy nghĩ, anh đề nghị người quen nên đặt tên con là Gia Bảo vì cái tên này nói lên rằng cả gia đình rất quí cậu bé.

Sau khi làm giấy khai sinh cho cậu bé được mấy ngày, ông bố đến gặp Tú Đạp giận dữ hỏi:

◾Tại sao anh biết là hồi đó chúng tôi mua phải loại bao giả, hả? Bao nội địa thì có khi bị rách, chớ làm gì có bao giả !!! (Gia Bảo nói lái là Bao giả !)

O)- Thuyền ta lái gió :

Biết nói lái, biết trò chơi chữ để thưởng thức cái của trời cho mà còn để tránh… làm phiền người nghe vì lời thật mất lòng. Nhưng cũng có trường hơp ngược lại, người nói vô tình nói lái làm khổ cả người nói lẫn người nghe.

Số là, có một ông thầy giáo khi đọc đề thi về bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, thay vì đọc câu “Thuyền ta lái gió với buồm trăng” đã vô tư đọc thành “Thuyền ta ló giái với buồm trăng”, khiến cả lớp cười rần lên làm ông thầy sượng chết người. Ôi, tiếng Việt đáng yêu mà cũng đáng sợ quá!

P)- Đít mấy lỗ :

Việt Nam thời chưa mở cửa, người dân sử dụng xe gắn máy phải mua xăng ở những cây xăng chui vì không có tiêu chuẩn để mua ở cửa hàng quốc doanh. Dấu hiệu của cây xăng chui là một cái chai đặt trên cục gạch nằm bên lề đường. Người khách dừng xe lại gần nơi đó sẽ có người đến chào hàng :

◾Chành ao ! Đít mấy lỗ ?

Nếu là khách quen, sẽ trả lời đúng điệu :

◾Chèm ao ! Đít hai lỗ.

Vậy là việc mua bán diễn ra một cách êm xuôi bằng những câu nói lái chuyên nghiệp. (Đó là: Chào anh, đổ mấy lít ? Chào em, đổ hai lít !)

Edited by user Tuesday, June 8, 2021 9:07:47 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1779 Posted : Tuesday, June 8, 2021 8:50:54 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,329

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
NÓI LÁI MÀ CHƠI


GS Huy Phương


Nói lái là một lối nói ghép chữ, đem phụ âm tiếng trước ghép với cả âm tiếng sau hoặc ngược lại mà ta thường gặp, thường dùng trong ngôn ngữ Việt Nam, ví dụ như cá đối # cối đá ( giữ nguyên các dấu) hoặc thay đổi dấu như mèo cụt # mút kèo. Ngôn ngữ Việt Nam vốn đơn âm, nên những tiếng nói lái tương đối dễ cấu tạo và dễ có nghĩa .Tiếng nói lái trở lại chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành một nghĩa khác, nếu nó vô nghĩa ( như con gà # cà gon ) thì không thể gọi là nói lái được. Đây là một đặc điểm của ngôn ngữ Việt nam mà từ khi có tiếng Việt chúng ta đã có nhiều giai thoại, nhiều tác phẩm văn chương đã đi vào văn học sử, không những ta thấy nhiều kiểu nói lái trong văn chương bình dân ( tục ngữ, ca dao) mà còn cả trong văn chương uyên bác ( thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Khoa Vi ). Không phải như lối nói lái (speak pig latin) hay nói lịu ( spoonerism) trong Anh Ngữ (*), lối nói lái trong ngôn ngữ Việt Nam đa dạng, dễ dùng , dễ phổ biến và có nhiều ý nghĩa thâm trầm, ý nhị .

Tuy nhiên đặc điểm nói lái trong ngôn ngữ Việt Nam phần lớn thường có khuynh hướng thiên về dung tục, ghi chép ở trong sách vở hay phát biểu giữa nơi công cộng thường không được tao nhã cho lắm . Nhiều người đã lợi dụng lối nói lái thô tục trên sân khấu, trong các buổi trình diễn để chọc cười khán giả, khiến cho nhiều bậc thức giả phải khó chịu nhăn mặt. Có lẽ vì vậy mà sự phát triển của cách nói lái qua thời gian đã có nhiều đóng góp cho ngôn ngữ nhưng vẫn chưa được sắp xếp xem như một phần của ngôn ngữ và văn học Việt Nam, dù là chỉ một phần nhỏ.

Nói về ý nghĩa, trong các giai thoại văn chương Việt nam, người ta thường dùng lối nói lái như một vũ khí để phê bình, đả kích và phần lớn lại có tác dụng mạnh mẽ, dễ gây nhiều ấn tượng hơn là lối nói thông thường. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ muốn sưu tập một vài tài liệu về nói lái trong văn chương và thời sự Việt Nam với tính cách một bài phiếm luận hơn là đi sâu vào công trình của một bài khảo cứu về ngôn ngữ của một nhà ngôn ngữ học. Mặt khác, trong bài này nhiều tiếng nói lái phổ thông ai cũng hiểu, chúng tôi tránh không ghi rõ các tiếng nói lái thô tục để tránh làm phiền độc giả.

1. NÓI LÁI TRONG VĂN CHƯƠNG BÌNH DÂN.

Trong nhân gian, khi xử dụng ngôn ngữ trong khi giao tiếp hàng ngày, người ta thường tránh những tiếng có thể gây ngộ nhận, vì khi những tiếng nói ấy được phát ra, người ta nghĩ ngay đến tiếng nói lái kèm theo thô tục và suồng sã. Nhiều người trẻ tuổi vì không hiểu cách nói lái đã bị hiểu lầm khi vô tình xử dụng các tiếng nghe rất thông thường nhưng rất tục khi được nói lái lại như : nắng cực, đồn lầm, công ngủ., trái gì ? trái giứng... có rất nhiều trong ngôn ngữ Việt Nam.

Trái lại trong ca dao, câu thơ ví von sau đây, nói lái, đối đáp rất có ý nghĩa và thanh nhã:

- Con cá đối nằm trên cối đá
Mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo
Anh mà đối được, dẫu nghèo cũng ưng.

- Con mỏ kiến đậu trong miếng cỏ
Chim vàng lông đáp dựa vồng lang
Anh đà đối đặng, e nàng vong ngôn.

Trai gái miền trung hẹn hò gặp gỡ nhau, sợ có người nghe thì tìm cách nói lái vẩn vơ về ruộng đồng, rơm rạ để hiểu ngầm với nhau. Chàng nói bâng quơ : “bị môn, bị khoai, bị nưa”, nàng khất:” cau khô, trầu héo, tái môi.”hay “nón cụ, quai thao, tốt mối.” Hoặc “ bưởi đỏ, cam sành, tốt múi”..Người qua đường không thể hiểu rằng bị nưa là bựa ni (bữa nay), tái môi là tối mai, tốt mối là tối mốt, tối múi là túi mốt..

Chàng trai xưa kia có râu, cạo râu xong, cô gái nhận không ra. Chàng bèn làm thơ… nói lái như vầy :

Xưa tê câu ró ngó xinh
Bây giờ câu rạo vô tình ngó lơ.

Thì ra câu ró, câu rạo không dính líu xa gần với chuyện đi câu cả.

* Trong văn chương bình dân có lối hò tục nói lái như đoạn hò sau đây:

Anh đi về cẳng thấp cẳng cao,
Em cũng mời anh vô hút thuốc ăn trầu,
Kẻo thế gian lắm lời, nói ở “dồn lâu” mói về.

Đáp:- Anh cũng muốn vô nhà, ghé hút thuốc ăn trầu,
Nhưng sợ mai tê quan biết được, nói “dặt cầu” em leo.

2. GIAI THOẠI VỀ TRẠNG QUỲNH NÓI LÁI.

Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh, sinh dưới thời Lê Trung Hưng( 1530-1540), quán Nghệ An là người hay chữ, thông minh xuất chúng, với bản tính nói ngông hay châm chọc vua chúa quan quyền thời bấy giờ đã để lại nhiều giai thoại trong lịch sử. Trạng Quỳnh một lần đã dâng lên chúa Trịnh một lọ thức ăn mà Quỳnh đã khoác lác là một món ăn tuyệt hảo, ngoài có đề hai chữ Đại Phong. Sau khi ăn thử, chúa Trịnh cật vấn trạng về món ăn lạ, thì Trạng giải thích rằng Đại Phong là gió to, gió to thì tượng lo, tượng lo nói lái là Lọ Tương. Một lần khác đểâ dằn mặt một công chúa thời bấy giờ có tính khinh người và kiêu căng, trên đường công chúa sắp đi qua, Trạng Quỳnh xắn quần xuống chiếc ao vệ đường liên tục lấy chân đá vào những cánh bèo trên mặt ao. Thấy lạ, quan quân dừng lại để công chúa hỏi chuyện, thì Trạng nói Trạng đang đá bèo,chúng ta phải hiểu trạng Quỳnh đang chơi xỏ công chúa.

Nhân gian cũng truyền tụng Trạng Quỳnh là tác giả câu nói lái con gầy- cây gòn , sương làm sáo- làm sao sướng và may ngón tóc- móc ngón tay...

3. NÓI LÁI TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG.

Hồ Xuân Hương với những bài thơ tả vật, tả cảnh đã dùng những hình tượng , chữ nghĩa rất táo bạo khiến cho người ta thường nghĩ ngay đến các sinh thực khí hay những quan hệ giữa nam nữõ, như một ám ảnh tâm lý, nếu nói theo các nhà phân tâm học.( Vịnh Cái Quạt, Đánh Cờ Người, Quả Mít, Đèo Ba Dọi…) lẽ cố nhiên nhà thơ họ Hồ cũng không quên dùng nhiều chữ theo lối nói lái một cách táo bạo trong thơ bà, mà người đọc ai cũng hiểu:

… Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo. (Kiếp Tu Hành)

… Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm Sư cụ đáo nơi neo.
Chày kình, tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vải lần đếm lại đeo. (Chùa Quán Sứ)

…Đang cơn nắng cực chửa mưa hè,
Rủ chị em ra tát nước khe. (Tát Nước)

…Thú vui quên cả niềm lo cũ
Kìa cái diều ai nó lộn lèo.( Quán Khách)

Nhân nói chuyện lái trong thơ Hồ Xuân Hương, chúng tôi xin trích dẫn một bài thơ nói lái của một tác giả vô danh nhan đề là Trông Trời (xin đọc theo kiểu bắc là Chông Chời):

Cô kia sao cứ trông trời
Để tôi xin nguyện làm trời cô trông
Trông trời sướng lắm phải không
Trời mà trông lại còn mong nỗi gì !

BÀI THƠ NÓI LÁI THỜI KHÁNG CHIẾN.

Trong thời kháng chiến chống Pháp, khoảng những năm 1951- 52, sau Đại hội Đảng Lao Động ,chính phủ CS bắt đầu tinh giảm biên chế và loại các thành phần tiểu tư sản ra khỏi bộ máy công quyền, một bài thơ nói lái do một nhân vật vô danh bất mãn bỏ kháng chiến về thành tung ra rất được phổ biến. Chính vì những tiếng nói lái đặc biệt ( tiếng Hán Việt lái thành tiếng nôm ) mà bài thơ được người ta nhớ lâu và truyền tụng :

Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi
Chiến khu thu cất chú khiêng rồi
Thi đua thắng lợi thua đi mãi
Kháng chiến lâu ngày khiến chán thôi.

GIAI THOẠI NÓI LÁI THỜI PHÁP THUỘC.

Một giai thoại thời thủ tướng Nguyễn Văn Tâm được lưu truyền ở miền nam như sau: hồi Thủ Tướng Tâm còn là Quận Trưởng Cai Lậy ( có biệt danh là Hùm Xám Cai Lậy ) lúc ăn mừng tân gia, có người đem tặng một bức hoành có khắc bốn chữ nho : “ Đại Điểm Quần Thần” tạm dịch nghĩ a là “bề tôi chức vụ lớn”. Nguyễn Văn Tâm lấy làm hãnh diện đắc ý, nhưng sau đó có người phát giác ra là ông Tâm bị chưởi xéo, vì bốn chữ Đại Điểm Quần Thần, dịch nôm sát nghĩa là Chấm To Bầy Tôi.. nói lái ra thành Chó Tâm Bồi Tây.

Lối nói này cũng phổ biến như người ta nói tới một người đàn bà “bách diệp”, nghĩa nôm là “trăm lá”, nói lái là “tra lắm” (già lắm).

NÓI LÁI SAU THÁNG 5-1975.

Sau tháng 4 năm 1975, khi CS cưỡng chiếm miền Nam, dân tình cực khổ ta thán, do đó trong nhân gian có những câu nói lái rất phổ thông:

Quy mã là… Qua Mỹ , hay :

Kỷ sư đôi lúc làm cư sĩ
Thầy giáo lắm phen cũng tháo dày.
Giáo chức giờ đây đành dứt cháo
Khoái ăn sang nên... sáng ăn khoai.

Nói về tệ nạn cửa quyền tham nhũng của chế độ và các tệ nạn thì nhân gian có các câu nói lái :

Thủ tục đầu tiên là... tiền đâu ?
Vũ Như Cẩn là Vẫn như cũ.
Nguyễn Y Vân là Vẫn Y Nguyên
Bùi Lan là Bàn Lui
Hộ khẩu là… Hậu khổ.

Đả kích chế độ thì thiên hạ có câu:

Con đường Bác đi, đường bi đát
Chán bảng đỏ, nhiều anh bỏ đảng.

Chỉ riêng ngành giáo dục không thôi đã có nguyên một bài nói lái tự thán như sau :

Thầy giáo tháo giày đi dép
Nhà trường nhường trà uống nước trong
Tháng đầy thầy đáng dăm lon gạo
Lương thầy tiền lính tính liền xong


Thầy giáo tháo ủng tháo giày
Tháo ủng thủng áo tháo giày nóng chân
Giáo án dành lại khi cần
Thay vải dán áo việc làm tốt thôi.

THƠ NÓI LÁI… KHÔNG TỤC.

Cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi là một nhà thơ Đất Thần Kinh, ở Vỹ Dạ đã làm một bài thơ nói lái rất công phu và có ý nghĩa như sau:

Cầu đạo nên chi phải cạo đầu
Dầu lai dưa muối cũng dài lâu
Na bường bát tới nương bà vải (**)
Dầu sãi không tu cũng giải sầu.

Ông Tôn Thất Đàm ở Úc đã có một bài nói lái nhan đề “Má Con” như sau:

Má đưa con đi trong mưa đá
Má đặt con lên mặt đá bằng
Má đi vào xem mi đá bóng
Má đang mang đá tới lót nền
Má lột một lá dính vào phên
Má lấy bên hè đi mấy lá
Má lòn mòn lá cửa ngoài hiên
Má cần mần cá để kho liền
Má cắt con mắt cá đầu tiên
Má cũng mua đầy hai mủng cá
Má can con ăn mang cá kình.

Trong nhân gian, người ta rất thích thú được nói lái và nghe nói lái, có khi bất chợt tình cờ vô ý mà tiếng nói ra thành một tiếng nói lái, có khi người ta tìm cách đẽo gọt, tìm tòi để kiếm ra những từ nói lái có ý nghĩa. Tác giả có thể là một mà cũng có thể là nhiều người, dần dà ngôn ngữ nói lái thành ra tài sản chung, đóng góp vào trong kho tàng văn chương bình dân của ngôn ngữ Việt Nam. Chúng tôi xin trích dẫn một số tiếng nói lái thông thường mà chúng ta hay bắt gặp trong cuộc sống hằng ngày :

trễ giờ thì trở (về) dề, - ôm nhiều thành yếu và yêu nhiều thành ốm, - đơn giản như đang giỡn,- chà đồ nhôm là chôm đồ nhà, -cây còn ( mộc tồn ) là con cầy

và nói lái tiếng tây : très chaud ( nóng quá ) thành trop cher ( đắt quá ).

Như chúng tôi đã nói ở đầu, trong bài nói lái này chúng tôi không có tham vọng làm công việc nghiên cứu mà chỉ thâu lượm một ít tư liệu rất hạn chế về nói lái để mua vui cho quí vị độc giả. Trong giới bình dân có rất nhiều câu nói hoặc chuyện nói lái rất thô tục, rất dễ nói lái với những tiếng có vần ”ôn” như môn, tôn... chủ yếu nhắm vào các bộ phận sinh dục và chuyện quan hệ giữa nam nữ ... mà trong thơ Hồ Xuân Hưong chúng ta cũng đã thấy ít nhiều, như ta thường nghe trong dân gian như “đạo dụ!”, “điện lu”, “cụ Đệ”, “mụ Đắc”... Chúng tôi hy vọng bạn đọc sẽ có nhiều tài liệu đóng góp cho chương nói lái trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam, vì quả thật đây là một chương rất đặc biệt không ai có và không giống ai.

Huy Phương

(*)1. Speak Pig Latin là đem âm này sang ghép với phụ âm của chữ kia và ngược lại ( giống như trong tiếng Việt tháo giày # thày giáo ) nhưng hoàn toàn chữ nói lái lại không có nghĩa. Ví dụ speak # eak/spay hay stupid # upi/stay.Người ta dùng những chữ này để làm nhẹ nghĩa câu nói, thay vì nói he's stupid thì mình chỉ nói he's upis/stay.

Nói lịu (spoonerism) là cách nói đem phụ âm này qua ghép với âm của chữ sau, như blushing crow ( con quạ đỏ mặt ) thành crushing blow( cú đấm bể mặt). Giáo sư William Archibald Spooner ( 1844-1930 ) tại Đại Học Oxford, lúc về già, trong lúc giảng dạy sinh viên ông thường nói lịu. Thay vì nói You have missed my history lecture (anh vắng một bài thuyết trình về lịch sử của tôi) thì ông nói You hissed my mystery lecture, (anh �xì� một bài thuyết trình bí mật của tôi), hay show you to a seat ( chỉ cho anh một chỗ ngồi ) thì ông nói sew you to a sheet (may anh vào một tờ giấy), thay vì wasted the whole term ( phí nguyên một học kỳ ) thì nói tasted the whole worm (nếm nguyên một con trùn ). Lối nói này trong Anh Ngữ trở thành lối nói spoonerism, là lối nói của giáo sư Spooner, như kiểu nói lịu trong tiếng Việt của chúng ta.

(**) Na bường bát tới : nói giọng Huế là đem bình bát tới.

(***) Sách tham khảo :

1. Trạng Quỳnh- Hoàng Trúc Ly ( không đề nhà xuất bản)
Kho tàng ca dao ( Nhiều tác giả) -Nhà Xb Văn Hóa Việt Nam)
Longman Dictionnary of Language& Culture 1992.
Đặc San Thương Về Xứ Huế ( QHĐK Nam Cali 1999)
Tập San 48-55 Khải Định 1999.

Edited by user Tuesday, June 8, 2021 8:53:18 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (2)
89 Pages«<878889
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.