Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
gia dich  
#1 Posted : Sunday, October 19, 2003 4:00:00 PM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Computer dành cho học sinh phổ thông : Lợi và Hại
Đặng Minh An

Chúng ta đang chứng kiến trong những năm cuối của thế kỷ 20 này những tiến bộ vượt bậc của Khoa Học Kỹ Thuật mà Khoa Học Điện Toán là một trong những mũi xung kích. Cách đây 10 năm, computer vẫãn còn là một thuật ngữ rất xa lạ với quảng đại quần chúng. Ngày nay, kiến thức về computer đã trở nên rất phổ thông và computer đã được sử dụng rộng rãi trong hầu hết mọi lãnh vực của đời sống. Ứng dụng của computer trong nhiều lãnh vực thực sự đã mang lại những thành quả rất lớn lao. Tuy nhiên, theo John Ward và Pat Griffiths (1996), những thành quả này chỉ có được với bốn điều kiện. Trước hết, những người hoạch định việc ứng dụng computer phải hiểu rõ bản chất lãnh vực mình muốn ứng dụng, thế mạnh, thế yếu của cơ quan, công ty, hay tổ chức của mình. Họ phải nắm vững lãnh vực nào có thể computer hóa được, lãnh vực nào vẫn phải làm như bình thường. Thứ hai, họ phải có kiến thức tối thiểu về khả năng của computer. Điều gì computer thực sự làm được, điều gì thực ra chỉ là huyền thoại từ những quảng cáo của các công ty điện toán, từ những lời đồn đại vô căn cứ, hoặc từ sự thiếu hiểu biết. Thứ ba, cần phải có một kế hoạch chi tiết để đề phòng những hệ quả xấu. Cuối cùng, phải có sự theo dõi và điều chỉnh kịp thời những trường hợp ngoài dự liệu.

Việc dùng computer ở các trường phổ thông lại càng phải thận trọng hơn vì nó có tác động trực tiếp và sâu rộng đến mức độ lĩnh hội của học sinh, và sự phát triển hài hòa của các em ( Valdemar, 1995). Bộ giáo dục ở các tiểu bang đều có những ủy ban, hoặc những chuyên gia chuyên lo việc soạn thảo nội dung bộ môn computer và kế hoạch ứng dụng computer cho các bộ môn khác. Nhìn chung, việc đưa computer vào hệ thốâng giáo dục phổ thông ở Úc đang đi theo một chiều hướng rất thận trọng. Thế nhưng, trong phạm vi gia đình, do computer càng ngày càng rẻ, nhiều bậc cha mẹ gần như không cân nhắc lợi hại khi mua computer cho con em. Nhiều người do tin tưởng mù quáng rằng computer là một dụng cụ học tập vạn năng, hoặc do thấy người ta có, nhà mình cũng phải có, hoặc do sốt ruột sợ con mình không bằng con người ta nên cũng cố sắm cho được computer dù không có những hiểu biết tối thiểu về computer, và không có cả thời giờ để xem con mình sử dụng computer như thế nào. Valdemar đã thăm dò 1000 học sinh Ba Tây có computer ở nhà. Kết quả có đến 56% các em chỉ dùng computer để chơi game, 67% các em bỏ ra trên 2 giờ mỗi ngày để dùng computer vào những việc không liên quan gì đến chuyện học, 14% các em thức rất khuya không phải để học bài nhưng để tán dóc (chat) với các em khác trên Internet. Một chuyện đau lòng khác, năm 1995, sau khi một nhóm học sinh ở Singapore bị bắt quả tang truyền tay nhau những hình ảnh dâm ô lấy từ Internet trong sân trường, báo chí đã báo động, nhiều phụ huynh đã kiểm soát và bàng hoàng nhận ra con mình cũng đã sử dụng hầu hết thời gian rảnh rỗi để săn tìm trên Internet những hình ảnh đồi trụy. Trong những trường hợp như vậy rõ ràng là lợi bất cập hại. Ngược lại, cũng có những phụ huynh lo ngại những mặt tiêu cực của computer nên không dám mua cho con, dù biết con mình rất cần computer cho việc học. Thiết nghĩ đó cũng không phải là giải pháp hay. Nếu bạn sợ bị xe đụng đến mức không dám lái xe hơi, bạn có thể thấy rõ hơn ai hết những bất lợi đang chờ bạn.

Để làm sáng tỏ vấn đề và để có một cái nhìn đúng đắn, trong bài này chúng tôi xin tóm tắt với các bạn những ý kiến của những nhà tâm lý giáo dục qua các điểm chính sau đây:

Khả năng thực sự của computer trong giáo dục bậc phổ thông.

Những mặt tiêu cực trong việc sử dụng computer.

Một số thành kiến về computer cần phải làm sáng tỏ.

I. KHẢ NĂNG THỰC SỰ CỦA COMPUTER TRONG GIÁO DỤC BẬC PHỔ THÔNG.

Nhìn chung, computer có bốn ứng dụng chính trong chương trình giáo dục phổ thông. Ứng dụng thứ nhất, khởi xướng bởi Seymour Papert, là sử dụng lập trình điện toán (computer programming) để phát triển khả năng suy luận toán học của học sinh. Theo phương pháp Papert, học sinh dùng một ngôn ngữ lập trình (programming language) rất đơn sơ là LOGO với các lệnh đơn giản là tiến, lùi, quay trái, quay phải để chỉ đường cho một con logo di chuyển từ vị trí này đến vị trí khác. Phương pháp này giúp cho học sinh làm quen với việc hoạch định các bước cần thiết theo một trình tự hợp lý để giải quyết một vấn đề. Trình tự này thường được gọi là thuật giải (algorithm).

Trong thời gian đầu thí nghiệm, phương pháp này tỏ ra khá thành công đến độ Papert tuyên bố rất lạc quan là phương pháp này có thể dạy cho học sinh từ lớp 4 trở đi. Sau một thời gian, các nhà giáo dục mau chóng nhận ra rằng sự lạc quan của Papert là ... quá trớn. Theo Valdemar, LOGO chỉ thích hợp với học sinh bậc trung học vì nó quá khó với học sinh các lớp nhỏ hơn. Tuy nhiên, khi đưa vào bậc trung học lại có nhiều vấn đề khác thuộc khía cạnh tâm lý được đặt ra. Thoạt đầu, học sinh tỏ ra thích thú vì LOGO có nhiều nét giống như game. Các thầy cô giáo có thể duy trì được sự thích thú của các em ở những chương trình đơn giản ban đầu. Chẳng bao lâu, đa số các em cảm thấy khó và chán vì chương trình LOGO rất đơn điệu. Với một thuật giải thành công, các em đưa được con logo tới nơi. Nếu không thành công thì con logo đâm vào vách tường hay đứng lại giữa đường. Tính đơn điệu này làm sự hào hứng ban đầu của các em tan biến rất mau. Nhiều em không cố gắng lập trình để đưa con logo tới nơi nữa mà lại thích làm cho nó đâm vào tường vì xem ra vui hơn. Các trường phổ thông, do đó, quay sang dùng những ngôn ngữ lập trình thực sự như Pascal, Basic..Những ngôn ngữ này khó hơn LOGO nhiều nên chỉ một số ít học sinh có năng khiếu theo học.

Trong trường hợp con bạn đang theo học các ngôn ngữ lập trình, computer ở nhà có thể giúp các cháu có thêm giờ thực hành. Tuy nhiên, bạn phải cảnh giác điều này: khi có sẵn computer ở nhà, các cháu thường có khuynh hướng lười suy nghĩ, lười chuẩn bị thuật giải, cứ ngồi lên máy viết bừa. Chương trình sai đâu thì sửa đó. Mục đích chính của việc học lập trình là giúp học sinh phát triển khả năng lập kế hoạch giải quyết vấn đề. Thành thửù, nếu cứ làm bừa, không có một kế hoạch gì cả, khả năng suy luận và hoạch định thuật giải của các cháu không phát triển được bao nhiêu. Do đó, nếu có kiến thức về lập trình, bạn cần giúp các cháu hoạch định chương trình trên giấy trước khi dùng máy. Nếu không, bạn cũng nên nhắc nhở để các cháu thấy được sự cần thiết phải chuẩn bị thuật giải trước khi đánh vào máy.

Ứng dụng thứ hai của computer là chương trình hóa các môn học. Bài học, bài thực hành và các câu hỏi ôn tập được viết thành các chương trình điện toán để học sinh tự học. CD tự học tiếng Việt của Dân Chúa Úc Châu là một thí dụ điển hình. Theo Bower (1995), 85% các nhu liệu điện toán dành cho giáo dục đang bán trên thị trường là thuộc dạng này.

Các chương trình điện toán này thường tận dụng các kỹ thuật hiện đại về âm thanh, mầu sắc, hình vẽ (graphics), hoạt họa (animation) .. nên rất thành công. Đối với học sinh tiểu học, các chương trình này đặc biệt dễ thu hút các em vì hầu hết chúng được biên soạn theo phương pháp học mà chơi, chơi mà học. Học sinh trung học cũng rất thích các chương trình loại này vì nó bớt trừu tượng và đỡ khô khan hơn những bài học ở trường. Về mặt sư phạm các chương trình này nếu được biên soạn công phu cũụng giúp cho việc truyền thụ kiến thức được chính xác, nhất là những chương trình học sinh ngữ, hay những đề tài đã được chuẩn hóa.

Tuy nhiên, các chương trình này cũng còn rất nhiều khuyết điểm. Thứ nhất, các chương trình này không đánh giá được trình độ học sinh cách toàn diện. Để đánh giá mức độ lĩnh hội của học sinh, phần lớn các chương trình dùng những câu hỏi trắc nghiệm. Học sinh đánh máy vào, hoặc nhấn vào các nút trên màn hình để trả lời. Chương trình không đánh giá được một bài luận văn, cũng không đọc được một bài toán chứng minh do học sinh làm. Thứ hai, các chương trình không chẩn đoán nổi tại sao các em mắc phải sai lầm để có những hướng dẫn thích hợp. Trả lời đúng thì máy hoan hô, trả lời sai thì máy bảo sai, cùng lắm cho một hướng dẫn rất chung chung. Thứ ba, học sinh cũng không thể nêu thắc mắc vì máy không thể làm những việc nó chưa được lập trình. Thứ tư, khi trả lời, học sinh bắt buộc phải theo những ước lệ của chương trình điện toán. Những ước lệ này được đặt ra bởi những người biên soạn chương trình và tuỳ thuộc nặng nề vào khả năng của lập trình viên nên đôi khi mâu thuẫn với những điều các em được học ở nhà trường. Thứ năm, chương trình học thay đổi theo thời gian, theo từng quốc gia, từng tiểu bang. Hai trường trong cùng một thành phố cũng có thể có chương trình học khác nhau. Do đó, kiến thức trình bày trong các chương trình này không có gì bảo đảm là nằm trong phạm vi chương trình học của các em.

Tuy còn nhiều khuyết điểm nhưng, công tâm mà nói, những chương trình này khá thành công và một số khuyết điểm hiện nay có thể khắc phục được theo đà tiến của kỹ thuật điện toán. Thành công của các chương trình này làm cho nhiều người, chẳng hạn như Skinner (1989), tin rằng có thể dùng máy thay cho thầy cô giáo. Thực tế và lý luận khẳng định rằng quan điểm đó là sai lầm. Dù có khắc phục được hết các khuyết điểm nêu trên, máy vẫn không thể nào thay cho thầy cô giáo được. Về phương diện luân lý, quan điểm của hệ thống giáo dục Công Giáo rất rõ ràng về vấn đề này. Chúng ta dạy người chứ không dạy kiến thức suông. Truyền thống giáo dục Việt Nam cũng khẳng định "văn dĩ tải đạo". Qua việc tiếp xúc với thầy cô giáo và bạn bè cùng lớp, học sinh hình thành và phát triển những tình cảm, những chuẩn mực đạo đức, và những quan hệ xã hội với người khác. Về phương diện sư phạm, máy rất cứng nhắc không thể thay đổi theo đối tượng và tình huống cụ thể. Khi dạy trẻ, với những học trò ngoan thầy cô nói theo cách này, với những em rắn mắt họ nói theo cách khác. Họ cũng nhìn phản ứng của trẻ mà thay đổi thái độ cho phù hợp, lúc ôn tồn, dịu dàng, lúc nghiêm khắc, lúc giảng giải chi tiết, lúc nhấn mạnh những điểm quan trọng, lúc chỉ lướt qua.

Theo Bower, các chương trình này chỉ thành công nếu như có sự tích cực tham gia của phụ huynh để có sự điều chỉnh kịp thời, đặc biệt với các chương trình dành cho học sinh tiểu học và học sinh ở những năm đầu trung học. Sự hướng dẫn của bạn góp phần hạn chế những khuyết điểm nêu ở trên. Cuối cùng, có một điểm quan trọng bạn cần lưu ý. Khi mua những nhu liệu điện toán loại này, bạn phải cân nhắc cho kỹ. Bạn có thể mua nhầm một chương trình không có liên quan gì hoặc liên quan rất ít đến chương trình con bạn đang học. Khả năng này là rất cao nếu bạn mua các chương trình từ các tiểu bang khác, hoặc từ các nước khác. Thông thường, bạn không thể đổi hay trả lại một chương trình điện toán. Do đó, nên hỏi kỹ trước khi mua.

Ứng dụng thứ ba của computer là mô phỏng hóa (simulation). Thay vì quan sát hay thực hiện những thí nghiệm thực sự trong phòng thí nghiệm hay tại hiện trường, computer có thể được dùng để thay thế các quan sát và thí nghiệm này. Computer cũng còn được dùng để mô phỏng những thí nghiệm mà thông thường không thể thực hiện trong phòng thí nghiệm do khống chế bởi thời gian và phương tiện. Sự tuần hoàn của máu trong cơ thể con người, sự di chuyển của các electron..là các thí dụ điển hình. Các kỹ thuật hiện đại như hình ảnh, âm thanh, hoạt họa nếu được tận dụng có thể làm cho những mô hình này trông rất giống thật.

Có rất nhiều nhà giáo dục, chẳng hạn như Spinner (1994), chỉ trích việc dùng computer thay cho các thí nghiệm thực sự. Họ cho rằng các môn học hiện nay đã quá trừu tượng và xa rời thực tế. Việc dùng computer thay cho các thí nghiệm càng làm tăng thêm phần trừu tượng và càng làm giáo dục xa rời thực tế. Họ lo ngại rồi đây họỉc sinh sẽ được làm quen với những hình bướm, hình hoa mimosa, hình chuồn chuồn, hình khỉ, hình sư tử hơn là bướm thật, mimosa thật, chuồn chuồn thật, khỉ thật và sư tử thật. Những lo ngại này là xác đáng và có căn cứ vì theo Spinner, các thầy cô luôn bị cám dỗ để dùng computer thay cho các thí nghiệm: không mất công chuẩn bị nhiều (chỉ cần bỏ dĩa vào máy, nhấn vài phím là xong), học sinh lại cảm thấy thích thú hơn với những mầu sắc rực rỡ, những âm thanh vui tai.... Việc sử dụng computer thay cho các thí nghiệm, do đó, cần phải làm với sự dè dặt. Trong phạm vi gia đình bạn nên chú ý cho các cháu đi dã ngoại, chẳng hạn đi thăm sở thú... Khi các cháu hỏi bạn về một điều gì, bạn nên chỉ cho các cháu thấy trên computer và cả trong thực tế nữa, nếu được. Điều đó là quan trọng vì trong nhiều trường hợp các mô hình trên computer, do trình độ hạn chế của lập trình viên, có thể không chính xác hoặc bị cắt xén cho thích hợp với khả năng trình bày của computer.

Cuối cùng computer còn được sử dụng qua các software thông dụng như các chương trình xử lý văn bản (word processing), các bảng tính điện tử (spreadsheet), các hệ thống quản trị dữ liệu (database) và các chương trình khác ít thông dụng hơn như âm nhạc, vẽ kỹ thuật, đồ họa (graphics)...Trong các chương trình nói trên các chương trình xử lý văn bản và các bảng tính điện tử đặc biệt đóng một vai trò quan trọng đối với học sinh các năm cuối bậc trung học. Các chương trình xử lý văn bản giúp học sinh trình bày bài làm trang trọng và rõ ràng. Theo Trevor Kerr (1993), học sinh, sinh viên làm bài (assignment, investigation, report, essay, research..) bằng computer luôn luôn có điểm trung bình cao hơn các học sinh, sinh viên viết tay. Bảng tính điện tử giúp học sinh tính toán nhanh. Nó làụ dụng cụ đắc lực để giải quyết các bài toán liên quan hàng loạt những con toán dài lê thê.

Có hai điểm bạn cần chú ý khi các em dùng các chương trình xử lý văn bản và các bảng tính điện tử. Thứ nhất, với các em đang học tiểu học. Không nên cho các em dùng các chương trình xử lý văn bản để kiểm tra lỗi chính tả và văn phạm. Các em phải biết tự tra từ điển và ghi nhớ. Dùng computer, các em sẽ lười ghi nhớ và mắc hoài lỗi chính tả (Spinner). Thứ hai, chương trình ở các trường phổ thông mang nặng tính lý thuyết (academic) vì các trường phổ thông không có chủ trương dạy nghề (vocation). Do đó, các thầy, cô giáo chỉ dạy lướt qua các software coi như để minh họa cho bộ môn computer hay bộ môn đánh máy (typing). Nói cách khác, nhà trường chỉ dạy các chức năng chính của các software. Do đó, có nhiều chức năng của các software các em không hề biết. Thành thử, các em không tận dụng được hết các khả năng của các software trừ phi có ai đó chỉ thêm cho các em. Càng biết nhiều chức năng, các em càng tiết kiệm được thời gian. Đó chính là lý do tại sao có mục Computer trên báo Dân Chúa Úc Châu. Bạn nên đọc và hướng dẫn các em đọc mục này.

II. NHỮNG MẶT TIÊU CỰC CỦA VIỆC SỬ DỤNG COMPUTER.

Việc dùng computer không chỉ mang lại những điều lợi. Nó cũng có thể mang lại những tai hại rất nghiêm trọng. Ba tác nhân chủ yếu gây ra những tai hại này là computer games, internet, và sự điều chỉnh các cài đặt về nhu liệu hay cương kiện (tuning up software-hardware settings).

Computer games:

Theo Daniel Chandler (1994), computer games chiếm hơn 85% các nhu liệu điện toán. Có thể chia các computer games thành 5 loại chính: arcade games, gồm những trò chơi đòi hỏi người dùng phản ứng thật nhanh; mô hình (simulation), đòi hỏi người chơi phải có kế hoạch phân công, điều hành hoạt động của những thành phần trong mô hình, chẳng hạn, một thành phố với xe cộ tấp nập; chiến lược (strategy), đòi hỏi người chơi phải tính toán đi bước nào trước, bước nào sau; thám hiểm (adventure), đòi hỏi người chơi phải mưu trí và phản ứng nhanh để có thể sống sót hầu có thể thám hiểm càng sâu càng tốt; và cuối cùng là các trò chơi mang tính giáo dục (vô cùng hiếm hoi).

Nhiều phụ huynh cho rằng computer games là vô thưởng vô phạt, chẳng qua chỉ là trò giải trí sau những giây phút mệt nhọc. Điều này không đúng vì:

Các loại games thuộc loại arcade và thám hiểm chiếm một tỉ lệ rất lớn (90-95%, Thomas Malone (1992)). Trong các loại games này người chơi phải bắn giết hàng loạt. Bắn giết vô tội vạ. Bắn giết càng nhanh càng tốt. Điều này trực tiếp cổ võ những tư tưởng bạo lực nghịch lại nghiêm trọng với giáo lý Công Giáo (điều răn thứ năm: chớ giết người). Trong nhiều trò chơi sử dụng kỹ thuật đồ họa, có nhiều cảnh máu chảy đầu rơi trông rất thật và rất kinh hoàng. Khi con trẻ quen dần với những cảnh này, sử dụng bạo lực để giải quyết các khó khăn với thầy cô giáo, và các trẻ em khác sẽ là ý tưởng đến với chúng sớm nhất (Valdemar).

Computer games thường trình bày những điều không thật. Trong các trò chơi, người dùng không bị chi phối bởi các định luật vật lý. Thời gian có thể quay ngược lại, chết mạng này còn mạng khác. Người lớn có thể phân biệt đâu là thật, đâu là giả. Trẻ con chưa phát triển được khả năng đó. Thành thử, chúng có thể gặp những nguy hiểm do những hiểu lầm gây ra bởi các trò chơi điện tử.

Tò mò là đặc tính cố hữu của trẻ con. Do đó, khi đã chơi thi phải chơi cho đến giai đoạn cuối cùng (cũng như người lớn coi phim tập của Hong Kong vậy). Với những games lớn gồm nhiều giai đoạn, có khi phải chơi hàng tháng mới xong. Việc học, do đó, đâm ra bê trễ.

Khi chơi computer games, có một số những luật lệ khá rõ ràng. Ngược lại, trong đời thường, tuy chúng ta cũng có những luật lệ nhưng cũng có sự uyển chuyển. Những trẻ chơi computer games thường xuyên, do đó, thường không thích ứng được với sự phức tạp trong các mối quan hệ xã hội.

Về mặt y học, ngồi hàng giờ trước máy với những mầu sắc rực rỡ có hại cho mắt các em. Nhịp tim đập nhanh hơn bình thường -khi chơi các trò chơi Arcade hay thám hiểm- có thể gây ra những xáo trộn về tim và hệ thần kinh.

Nhiều người cho rằng computer games cũng giúp phát triển một số năng khiếu. Nhiều nhà tâm lý giáo dục, chẳng hạn, Daniel Chandler thừa nhận computer games có giúp phát triển một số năng khiếu như phản ứng, quan sát nhanh. Tuy nhiên, những "năng khíu" này là năng khiếu bậc thấp và không đáng bỏ thời giờ ra để rèn luyện.

Nói tóm lại, việc chơi computer games, do đó, phải được đặt dưới sự kiểm soát gắt gao của bạn.

2. Internet:

Internet là một nguồn tài nguyên vô tận. Tuy nhiên, rất ít nhà giáo dục khuyến khích việc dùng Internet cho học sinh phổ thông trong phạm vi gia đình vì:

Kiến thức phổ thông mang tính kinh điển, nghĩa là, thường không cần phải cập nhật hóa từng ngày, từng tháng, từng năm. Những kiến thức ấy học sinh có thể tra cứu bằng các phương tiện rẻ hơn nhiều. Chẳng hạn, bạn có thể mua một CD bách khoa từ điển (encyclopedia) với giá vài chục bạc. Nối vô mạng Internet, bạn có thể phải trả vài trăm đô la mỗi năm chưa kể tiền điện thoại cho mỗi lần gọi. Cho nên, trừ phi bạn đã nối sẵn vào Internet vì những mục đích khác, không nên bỏ tiền nối vào Internet chỉ để cho con bạn học.



Lang thang trên Internet -từ chuyên môn gọi là surf- con bạn có thể nhìn thấy những hình ảnh xấu, những tuyên truyền bạo lực, thù hận chủng tộc, sự cổ võ cho những lối sống, những tư tưởng chống lại giáo lý Công Giáo.

Rất nhiều học sinh thức thâu đêm không phải để học bài nhưng để tán dóc (chat) với những em khác trên thế giới.

Về phương diện giáo dục, bạn nên biết qua những thông tin sau đây về Internet.

Không ai làm chủ Internet cả. Các mạng thông tin (network) trên thế giới tự nối với nhau hình thành Internet.

Khi bạn nối vào Internet, các hình ảnh dâm ô, các tài liệu xấu không tự nhiên xuất hiện trên màn hình. Tuy nhiên, muốn đọc, hay nhìn những tài liệu, hình ảnh này thì hoàn toàn không khó và không gặp bất cứ một cản trở nào. Các em thậm chí không cần mách bảo lẫn nhau vẫn có thể biết làm sao vào những chỗ này.

Ở các nước Âu Mỹ, tất cả các cố gắng để hạn chế những hình ảnh dâm ô đến nay đều thất bại dưới áp lực của bọn xấu. Gần đây nhất là thất bại của quốc hội và tổng thống Mỹ. Năm 1994, thượng nghị sĩ Mỹ James Exon của bang Nebraska dựa vào tài liệu của Marty Rimm, đăng tải trên báo Time để hô hào một dự luật kiểm soát tất cả các thông tin phát và nhận trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Dự luật này thất bại vì trong tài liệu của Marty Rimm có nhiều chi tiết không đúng sự thật. Tuy nhiên, một phần trong những cố gắng của James Exon, dự luật về sự đứng đắn trong truyền thông (Communication Decency Act), gọi tắt là CDA, để chống những hình ảnh dâm ô trên Internet, được lưỡng viện quốc hội và tổng thống ủng hộ. Ngày 14 tháng 6 năm 1995, thượng viện Mỹ thông qua CDA với 84 phiếu thuận trên 16 phiếu chống. Ngày 4 tháng 8 năm 1995 hạ viện Mỹ thông qua CDA với đa số áp đảo 420 phiếu thuận và 4 phiếu chống. Ngày 8 tháng 2 năm 1996, tổng thống Mỹ ký CDA theo đó những tổ chức hay cá nhân nào trên lãnh thổ Hoa Kỳ đưa những hình ảnh dâm ô lên Internet sẽ bị phạt 250,000 đô la và có thể bị tù đến 5 năm. Các tổ chức chống CDA kiện lên tối cao pháp viện. Ngày 26 tháng 6 năm 1997, tối cao pháp viện tuyên bố CDA là vi hiến với tu chính án thứ nhất về quyền tự do phát biểu. Tuyên bố của tối cao pháp viện Mỹ đã dọn đường cho các Web sites dâm ô được dịp trăm hoa đua nở trên Internet. CDA coi như hoàn toàn thất bại. Ở Úc, có những nghị sĩ và dân biểu có những phát biểu đòi hạn chế những hình ảnh dâm ô trên Internet, nhưng tới nay chưa có một cố gắng chính thức nào về việc này.

Ở Singapore, sau khi một nhóm học sinh ở Singapore bị bắt quả tang mang những hình ảnh dâm ô tới trường, báo chí Singapore đã làm rùm beng. Sự căm phẫn của dân chúng lên đến mức chính quyền phải ra một đạo luật kiểm duyệt Internet gắt gao nhất trên thế giới. Đầu năm 1996, có người đã bị phạt 44,000 đô la Singapore về tội coi và lấy từ Internet xuống những hình ảnh dâm ô.

Các nước như Trung cộng, Việt Nam lợi dụng chiêu bài chống các hình ảnh dâm ô để cấm luôn các thông tin không có lợi cho chế độ.

HIệân nay, đã có những nhu liệu điện toán nhằm cản trở trẻ em xâm nhập vào những chỗ không hay này. Những nhu liệu này thường được biết đến với tên chung là Internet filter. Có nhiều nhu liệu được cho không. Bạn có thể lấy xuống và cài vào máy. Những nhu liệu này ghi nhớ địa chỉ của những Web sites dâm ô và những từ ngữ liên quan đến sex. Khi người dùng muốn vào những địa chỉ này hay đánh những chữ chính (keyword) liên quan tới sex để tìm những địa chỉ, computer sẽ từ chối. Tuy nhiên, bạn phải thường xuyên lấy xuống hoặc mua những chương trình mới vì các Web sites dâm ô đang mọc lên như nấm.

3. Điều chỉnh các cài đặt.

Trong một cuộc thăm dò mới đây của BYTE magazine, người ta nhận thấy rằng có đến hơn 30% người dùng bỏ ra rất nhiều giờ để làm các công việc như cài đặt nhu liệu (install), gỡ bỏ nhu liệu ra khỏi máy (uninstall), và chỉnh những cài đặt về nhu liệu hay cương kiện (software/hardware settings). Nhiều người mất rất nhiều thời gian để cài đặt các nhu liệu mà họ không bao giờ dùng tới để rồi sau đó lại mất thời giờ để gỡ ra. Hơn 20% những người được phỏng vấn thừa nhận rằng, thời gian họ thực sự dùng máy vào những việc có ích lợi nhỏ hơn rất nhiều lần thời gian để chỉnh computer cho vừa với ý muốn. Hơn thế nữa, ý muốn của họ lại thay đổi thường xuyên nên cuối cùng họ đi vào vòng lẩn quẩn của những cài đặt, gỡ bỏ, chỉnh đi, chỉnh lại. Theo Valdamar, có đến 75% học sinh có máy ở nhà rơi vào vòng lẩn quẩn này vì:

Trẻ con thường tò mò và có khuynh hướng mạnh mẽ muốn chế ngự tất cả những gì trong tay chúng. Bạn đưa cho trẻ con một con búp bê, chúng bứt đầu, bứt tay con búp bê. Bạn đưa cho chúng một chiếc xe, chúng cố tháo ra xem coi ở trong có gì. Bạn đưa cho chúng một computer, chúng sẽ cố chỉnh tất cả những gì chúng có thể chỉnh được: sceen-saver, wall-paper, sound...Chúng sẵn sàng ngồi hàng giờ để chỉnh những thứ vô bổ đó.

Người lớn theo thời gian đã hình thành những chuẩn định. Trẻ con thường không có một chuẩn mực cố định. Do đó, trẻ con rất mau thay đổi ý kiến. Sau khi chỉnh được như ý muốn rồi, chúng lại đổi ý và tiếp tục chỉnh nữa, và chỉnh nữa.

Các nhu liệu mới thường đòi hỏi cương kiện phù hợp để có thể chạy với tốc độ không quá chậm. Không sẵn tiền mua hoặc cha mẹ không đồng ý, chúng cố xoay sở chỉnh tới, chỉnh lui các cài đặt để hy vọng là máy chạy nhanh hơn.

Nhiều người lớn cũng rơi vào vòng lẩn quẩn của những cài đặt, gỡ bỏ, chỉnh đi, chỉnh lại này nhưng họ mất ít thời gian hơn. Thứ nhất, họ không có nhiều thời gian rảnh rỗi như trẻ con. Thứ hai, trẻ con thường có khuynh hướng mầy mò (trial and error) hơn là đọc các tài liệu hướng dẫn. Chúng thường mất nhiều thời gian hơn người lớn để thực hiện cùng một công việc.

Do thiếu kiến thức chuyên môn mà lại không chịu đọc các tài liệu hướng dẫn, trong nhiều trường hợp những điều chỉnh của các em khiến cho computer ngưng hoạt động hoặc đưa ra hàng loạt những thông báo lỗi. Khi đó, các em có thể sợ bị la rầy đến mất ăn mất ngủ cho đến khi computer hoạt động lại bình thường.

III. NHỮNG THÀNH KIẾN SAI LẦM.

Với đà phổ quát hóa, những thành kiến, ngộ nhận kiểu như computer có thể giúp gỡ rối tơ lòng, có thể giúp tiên đoán tương lai hậu vận ... dần dần biến mất khỏi mặt báo, khỏi những câu chuyện lúc trà dư tửu hậu. Tuy nhiên, trong lãnh vực giáo dục gia đình, vẫn tồn tại nặng nề một số những thành kiến, ngộ nhận sai lầm. Tiêu biểu là những thành kiến, ngộ nhận sau:

1) Mọi thứ đã có sẵn khi mua computer:

Nhiều bậc phụ huynh không phân biệt được phần cương kiện (hardware) và những nhu liệu (software) của computer. Khi bạn mua một computer, tức là bạn mua phần cương kiện của máy. Chuyện này giống hệt như việc bạn mua một máy cassette vậy. Nghĩa là, chỉ có cái cassette không thì bạn không thể nghe được thánh ca, tân nhạc, cải lương. Muốn nghe bài "Đêm thánh vô cùng", bạn phải mua cái băng cassette nhạc giáng sinh có bài đó, bỏ vào máy thì mới nghe được. Tương tự như vậy, muốn con bạn có thể đánh một bài luận văn vào máy, bạn phải mua những nhu liệu xử lý văn bản như Microsoft Word, Word Perfect chẳng hạn. Thông thường, khi mua máy, người ta thường cài sẵn cho bạn Windows 95 và cho bạn thêm một số nhu liệu trên đĩa CD như Microsoft Works, một số games.... Bạn phải chú ý mua thêm vì nếu không, việc dùng computer của con bạn chỉ hạn chế trong số những nhu liệu này, và do đó, chẳng có lợi bao nhiêu. Chúng sẽ quay ra dùng computer để chơi games do bạn mua cho chúng hay do chúng sao chép từ bạn bè.

Tiền chi phí cho nhu liệu điện toán có thể còn cao hơn nhiều so với số tiền mua phần cương kiện. Do đó, nhiều người dùng computer không mua nhu liệu mà sao chép lậu các nhu liệu điện toán (từ chuyên môn gọi là pirate software). Hiện tượng này rất phổ biến. Một nghiên cứu gần đây cho thấy 99% những nhu liệu đang sử dụng ở Việt Nam là sao chép lậu. Ở Úc, tỷ lệ này là 35%. Về phương diện pháp luật, bạn có thể bị truy tố về chuyện đó. Về phương diện luân lý, bạn không giữ đức công bằng. Bạn phạm tội lấy của người ta mà không được phép. Nếu có ai cho bạn một chương trình điện toán, bạn cần hỏi xem nếu họ có licence cho phép cài chương trình đó trên máy của bạn không. Nếu có thì bạn hãy dùng. Tuy nhiên, vì các chương trình điện toán khó có thể hoàn thiện ngay một lúc nên các nhu liệu điện toán thường có nhiều versions. Version sau sửa những chỗ sai của version trước hay bổ sung thêm những chức năng khác. Những versions cũ người ta không khai thác nữa, bán không ai mua nữa thì bạn có thể dùng, nếu như bạn muốn tiết kiệm. Cũng có những nhu liệu không mất tiền (freeware), bạn có thể dùng thoải mái. Bạn cho người khác nữa cũng được. Một dạng nhu liệu khác là shareware. Bạn có thể dùng không trả tiền nhưng bạn phải tuân thủ những điều kiện do họ đưa ra. Chẳng hạn, bạn không dùng cho các mục đích thương mại, không được tự tiện cho người khác ...

2)Học sinh phổ thông không làm quen với máy sẽ có bất lợi khi lên đại học hoặc khi đi làm.

Lo lắng này càng ngày càng trở nên không có căn cứ. Trước hết, các nhu liệu điện toán ngày càng trở nên dễ dùng hơn. Người dùng không mất nhiều thời gian lắm để học cách sử dụng một nhu liệu điện toán. Người chưa biết theo kịp người đã biết rất nhanh. Thứ hai, những nhu liệu điện toán hầu hết đều phải theo những tiêu chuẩn nhất định. Chẳng hạn, khi nhấn phím F1 sẽ hiện ra những trợ giúp. Do đó, khi biết dùng một nhu liệu, học sinh có thể học những nhu liệu khác rất nhanh. Bạn không nên để thành kiến này đè nặng lên bạn một áp lực phải mua computer cho con bằng bất cứ giá nào. Bạn chỉ mua khi thấy rằng bạn có thể hướng dẫn con bạn sử dụng chúng có ích lợi.

3) Những học sinh đã có tiếp xúc với computer trước khi lên đại học hay đi làm chắc chắn có lợi thế hơn các học sinh khác.

Điều này không hoàn toàn đúng vì nó tùy thuộc vào việc học sinh thu lượm được gì trong quá trình tiếp xúc với computer. Tiếp xúc với computer chỉ thực sự mang lại lợi ích khi học sinh thu lượm được những kiến thức chính xác và có hệ thống. Bạn nên biết điều này, những học sinh đã có tiếp xúc với computer trước khi lên đại học có thể có những bất lợi lớn về mặt tâm lý. Những học sinh này thường tỏ ra không đủ kiên nhẫn để lắng nghe những bài học cơ bản về computer. Nhiều học sinh có cảm giác họ biết rành về computer, nhưng thực ra những kiến thức đó chỉ là chắp và và đầy dẫy những sai lầm. Học sinh rất ít chịu đọc những sách hướng dẫn và trợ giúp trực tiếp khi đang dùng các nhu liệu (online help). Chủ yếu chúng nghe theo lời bạn hoặc tự mầy mò. Tự mầy mò làm được thì cũng đáng khen. Tuy nhiên, theo Valdamar, những kiến thức học sinh tự thu lượm được qua việc dùng computer cách mầy mò thường trái ngược với khoa học điện toán, không có hệ thống, hoặc ở vào mức độ rất thấp. Do đó, nếu không có sự hướng dẫn chu đáo, học sinh có computer ở nhà không có lợi thế gì hơn những học sinh khác khi vào đại học hoặc khi ra đi làm.

KẾT LUẬN

Đối với học sinh phổ thông, việc dùng computer ở nhà chỉ thực sự có lợi nếu như phụ huynh có những kiến thức tối thiểu về computer và biết cách hướng dẫn con em dùng nó theo chiều hướng có lợi. Các nhà giáo dục đưa ra đề nghị gồm 8 điểm rất cụ thể như sau:

Phụ huynh phải có những hiểu biết tối thiểu về computer. Những hiểu biết này bao gồm khả năng thực sự của computer, những hậu quả tiêu cực có thể có, đại cương về các nhu liệu điện toán đang có bán trên thị trường, và các thao tác cơ bản như tắt mở máy, tìm hồ sơ, xem hồ sơ và xoá bỏ các hồ sơ trên điã cứng (harddisk).

Phụ huynh phải hiểu rõ nhu cầu của con cái trong việc học, cháu giỏi hay yếu mặt nào, để tìm mua những nhu liệu điện toán thích hợp có thể giúp cháu học tốt hơn.

Trước khi mua computer phải đề ra những quy định cho việc dùng computer như: giờ giấc sử dụng máy, việc cài đặt các nhu liệu, thay đổi các cài đặt về nhu liệu và cương kiện, computer games có được phép hay không ... Quy định càng chi tiết bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Bạn có thể xin một bản nội quy về sử dụng computer ở trường học để tham khảo. Bạn cũng nên tham khảo ý kiến của những phụ huynh khác. Những điều quy định này có thể được sửa đổi cho phù hợp với tình hình cụ thể. Tuy nhiên, thái độ kiên quyết trong việc thực hiện chúng là cần thiết và không bao giờ thay đổi. Đừng quá lo con bạn sẽ nghĩ là bạn quá độc tài. Các em đã quen với những nội quy nghiêm khắc hơn ở trường học. Ngay cả ở bậc đại học, dùng máy của nhà trường để chơi computer games, sinh viên có thể bị đuổi khỏi trường.

Ngay từ đầu bạn phải tỏ rõ thái độ kiên quyết đối với computer games. Điều này giúp bạn tránh được các xung đột với con cái trong tương lai.

Khi mua computer, bạn nên khẳng định rõ ràng là mua cho cả gia đình dùng và khẳng định quyền có thể xóa đi bất cứ những hồ sơ nào không thích hợp với những quy định đã đưa ra.

Nên để computer ở chỗ thuận tiện cho nhiều người trong gia đình có thể sử dụng. Tránh đến mức tối đa việc mang computer vào phòng riêng của con bạn. Nếu computer đã được nối vào Internet, bạn tuyệt đối không mang vào phòng riêng của con bạn. Chúng có thể không cưỡng lại nổi những cám dỗ tinh vi của thế giới sa ngã này. Bạn có thể vô tình mang dịp tội đến cho con bạn.

Bạn có thể hướng dẫn con bạn dùng computer mà không cần nhiều kiến thức. Chẳng hạn, bạn hãy hỏi xem chúng làm sao làm cho chữ này to hơn, chữ kia bé lại ..Những câu hỏi này thách thức chúng. Chúng sẽ cố tìm ra câu trả lời. Khi chúng tìm được câu trả lời, một lời khen của bạn sẽ là niềm khích lệ lớn lao với chúng. Bằng những cách đơn giản như vậy, bạn có thể hướng dẫn chúng sử dụng computer theo chiều hướng có lợi.

Bạn nên đọc báo và tham khảo ý kiến của các bậc phụ huynh khác về computer. Computer đang trên đà tiến rất nhanh. Kiến thức về computer của bạn nếu không được bổ sung sẽ mau chóng bị lạc hậu.

Tài liệu tham khảo:

Bower, H. (1995) C.A. The Cultural Dimensions of Educational Computing - Understanding the Non-neutrality of Technology. Teachers College Press, New York.

Daniel, C. (1994). Video and computer games for young players. University of Western Australia. WA

John, W. & Pat, G. (1996) Strategic planning. Sams Publishing. Indiana

Skinner, J. (1989) The Computer Day: a compact introduction to computers and computing Teachers College Press, New York.

Spinner,G. (1994), Computers for HighSchools, Teachers College Press, New York.

Thomas, M. (1992). Say No to computer games. Teachers College Press, New York.

Trevor, K. (1993) Advantages for reports prepared by Computer. Edith Cowan, WA
Valdemar, W. (1995) Computers in Education: Why, When, How. University of Sao Paulo, Brazil





Hoan  
#2 Posted : Tuesday, October 21, 2003 1:54:33 AM(UTC)
Hoan

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 889

quote:
Tránh đến mức tối đa việc mang computer vào phòng riêng của con bạn. Nếu computer đã được nối vào Internet, bạn tuyệt đối không mang vào phòng riêng của con bạn. Chúng có thể không cưỡng lại nổi những cám dỗ tinh vi của thế giới sa ngã này. Bạn có thể vô tình mang dịp tội đến cho con bạn.


Cám ơn bác Gia Dich đã post một bài vừa hay, vừa hữu ích. Tui thích nhất cái đọan quote trên vì tui đã chứng kiến nhiều chuyện đau lòng xảy ra do việc bố mẹ để computer trong phòng riêng của con rồi không kiểm soát được.
gia dich  
#3 Posted : Tuesday, October 21, 2003 3:56:38 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Theo thiển ý của Tui . Bậc Phụ Huynh lúc nào cũng phải đóng vai trò một nguời Cảnh Sát một cách tích cực , mới mong cho con mình không bị nhiểm những cái không hay . Với Tui ,Tui lúc nào cũng thẳng thắng nhìn nhận Con -Cháu mình cái nào hay thì nhận hay , cái nào dở thì nhận dở - Tui nhìn chung đa số cứ cho rằng Con Cháu mình hay cả , thậm chí khoe những cái , lẽ ra nguời biết , nguời ta đào sâu và chôn thật chặt , lổi ở chổ là Cha Mẹ , không biết cho rằng đó là điều hay
Thí Dụ : Tui phone hoài cho Anh không đuợc - Nguời ta trã lời Con Tui đang ( Chat ) Thật là điều đáng thuơng hại - Khi Post bài này Tui đã hỏi rất nhiều nguời Tụi nó học gì trên đó , không một ai trã lời đuợc - Thêm một điều chua chát nửa - Nguời ta nghĩ rằng Con mình , lại không hơn thằng Cha Già Dịch này sao ?
Hoan  
#4 Posted : Wednesday, October 22, 2003 3:02:33 AM(UTC)
Hoan

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 889

Bác Gia Dich,

Tui nhận thấy là thời gian sau này (tức là không phải cái thời tui còn mặc quần thủng đít), con nit được "tôn trọng" hơn thời trước rất nhiều. Có lẽ bở "các cô" "các cậu" đều là quí tử hay con cầu tự hết, chứ không phải là của trời cho hàng đống như thời ông bà ta ngày xưa.

Ngòai ra, tại xứ Mỹ này, nhiều gia đình gặp hoàn cảnh bố mẹ không rành tiếng Anh, phải dựa vào con trong việc tiếp xúc với xã hội bên ngoài nên "con nít" bèn làm lừng. Lại nữa, nếu trừng phạt con nít bằng roi vọt lại có cơ ti tù.

Làm bố mẹ thời nay thiệt là khổ vậy.
rf  
#5 Posted : Wednesday, October 22, 2003 8:53:50 AM(UTC)
rf

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 81

Bác GD, bác Hoan nói đúng đó . Cũng vì ba cái thứ chat chiet mà bà chị ruột từ tui, 2 chị em gian nhau vì con cháu gái teen ỡ dơ (teenager). Ngày nào đi học dzề, nó đều chạy vào phòng đóng cữa lại, kêu ra ăn cơm wuài cũng không ra, nói mắt bận research internet cho ba`i học ỡ trường, mẹ nói đễ cho nó hợc quan trọng hơn ặn . Sư bố, tôi cũng học High School, University o Meo~ ra, thư viện là nơi học sinh cần nhất đễ làm bài research. Internet helps alot nhUng đâu có được addicted như dzây.

Tui là cậu, trông coi nó từ ngày mới sanh, làm Police các cháu khi rãnh rỗi, thấy bực minh` nen mới gài Spywảe đễ coi nó làm cái gì .
Tui collect all the emails, chat cũa nó rồi hõi nó, nó nói "câu không biet gì cã, bài vỡ assignment cũa trường nhiều lắm, phãi làm mỗi tối vì less traffic. Tui gọi cha mẹ nó ra show the evidence: email với bạn trai, email đòi tự tữ vì boring . . . trước mặt ong anh rễ, tui wuánh con cháu 1 bạt tai liền vì nói dối, bắt nó phãi tự tữ truớc mặt tui coi thữ , xong rồi tui phang 2 ỗng bã là đồ cha mẹ stupid chìu con cái tập hư cho cọn . Lúc cần răn đe thì đem tui ra hù con, lúc chìu chuộng con thì nói đó là chuyện gia đìng, cậu không có quyèn can thiệp That 's bull **** . con` nữa ,tui còn đập bễ cái PC luôn ....
rồi "ân đoạn nghĩa tuyệt" dzới bà chị ruột


Đó là cha me, cậu ruột biết English rồi đó, huóng chi lơ mơ ỡ mỹ này
Đó, cái tai hại như dzzậy đó, làm tui phãi lang thang đi kiếm chỗ ỡ muốn chết ........
gia dich  
#6 Posted : Wednesday, October 22, 2003 9:17:02 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Thật cái sự thể là như vậy - Lẽ ra nếu thật sự học , không cần phải cần và có Internet tại nhà để mà học - Thư Viện đúng là nơi chốn để học hỏi - Đã có biết bao Con Cháu chúng ta là nạn nhân của sự đau khổ và chua chát đó - Tui cũng ngạc nhiên không ít , cho mãi đến nay những giới có thể dùng tiếng nói của mình , mà bản thân đã đuợc đại đa số biết đến như một guơng sáng cho lớp con cháu có thể noi theo , tiếc thay chẳng ai lên tiếng - Ý kiến chung của Bà Con thật vô cùng hữu ích
gia dich  
#7 Posted : Sunday, November 2, 2003 9:32:22 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Trẻ em - thế hệ dùng Internet nhiều nhất hiện nay Nếu bạn truy cập vào một trang web và gặp khó khăn nào đó, chuyên gia tư vấn tốt nhất có lẽ là lũ trẻ ở nhà. Hai thống kê gần đây của Ủy ban giáo dục Mỹ đã cho thấy, có khoảng 90% trẻ từ 5 đến 17 tuổi dùng máy tính, 60% trong số đó biết tới Internet.

Cả hai con số này đều cao hơn hẳn tỷ lệ tương tự của người lớn. Thậm chí lứa tuổi mẫu giáo cũng bắt đầu làm quen với công nghệ thông tin: Trung bình cứ bốn trẻ 5 tuổi thì có một bé biết dùng Internet. Các con số tương ứng là 60% cho độ tuổi lên 10 và 80% ở tuổi 16.
"Trẻ em là thế hệ tiếp thu công nghệ thông tin dễ dàng nhất. Chúng lớn lên cùng với sự phát triển của công nghệ chứ không phải học lại từ đầu như người lớn chúng ta", ông John Bailey, người đứng đầu bộ phận công nghệ giáo dục của Ủy ban, giải thích về điều này.
Cũng giống như người lớn, trẻ em vào mạng vì vô vàn lý do. 3/4 trong số chúng sử dụng Internet để làm bài tập. Trong khi đó, hơn một nửa tận dụng những tính năng như gửi e-mail, tán gẫu hay chơi game. Rất nhiều em hiện đã hoặc muốn có một website riêng. Bé trai truy cập Internet nhiều hơn bé gái. Tuy nhiên, sự chênh lệch này đang có xu hướng giảm dần.

Sự khác biệt về màu da cũng thể hiện trong các con số thống kê. Trong khi khoảng 2/3 số trẻ em da trắng thường xuyên truy cập Internet thì chưa đầy một nửa số trẻ em da màu có thói quen này. Lý do là bởi các gia đình người da màu thường chưa có máy tính và con cái họ chỉ có thể dùng mạng ở trường.
Ở Mỹ, có tới 99% trường công kết nối Internet, nghĩa là tăng 35% so với 8 năm trước đây. Internet được sử dụng để theo dõi kết quả học tập và cung cấp tài liệu tham khảo cho học sinh. Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đối với chúng, hầu hết các trường đều có những biện pháp kiểm soát truy cập các trang Web không phù hợp


Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.