Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

4 Pages<1234>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Mắt Buồn  
#41 Posted : Tuesday, September 28, 2021 7:51:49 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Nguyễn Thị Hoàng Người Yêu Muôn Thủa


Thụy Khuê

April 14, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Nguyễn Thị Hoàng sinh ngày 11-12-1939, tại Huế. Bút hiệu khác Hoàng Đông Phương. Nguyên quán: thôn Quảng Điền, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Cha là Nguyễn Văn Hoằng, công chức cao cấp trong bộ giáo dục. Học trung học đệ nhất cấp ở trường Đồng Khánh, Huế. Năm 1957 gia đình chuyển vào Nha Trang, học trường trung học Võ Tánh.

Tại đây, xẩy ra mối tình với nhà văn, nhà giáo Cung Giũ Nguyên (1909-2008) người dạy thêm Nguyễn Thị Hoàng về Pháp văn tại nhà, gây xôn xao dư luận. Gia đình kiện ông Nguyên tội dụ dỗ gái vị thành niên. Trước toà, người thiếu nữ đứng ra nhận trách nhiệm: Không hề bị dụ dỗ, vị giáo sư được trắng án, nàng sinh con gái đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng, do bà Nguyên nuôi vì bà không có con.

Năm 1960, Nguyễn Thị Hoàng vào Sài Gòn học Đại Học Văn Khoa, rồi Luật, được ít lâu bỏ dở, làm thư ký riêng cho một tỷ phú. Năm 1961, bỏ việc, dạy Việt và Anh văn. 1962 lên Đà Lạt, dạy trường Trung Học Trần Hưng Đạo; tại đây xẩy ra mối tình giữa cô giáo đệ nhất cấp Nguyễn Thị Hoàng và Mai Tiến Thành, học sinh lớp 12, sanh con gái Mai Quỳnh Chi (mẹ của Thành nuôi). Mai Tiến Thành về sau viết cuốn Tiếng Nói Học Trò, do Thụy Vũ đề tựa và Kim Anh xuất bản; sáng tác tập thơ Bi Ca Và Nhục Cảm.

Năm 1963, Nguyễn Thị Hoàng trở về Sài Gòn. Vòng Tay Học Trò viết tại Sài Gòn trong vòng một tháng, ký bút hiệu Hoàng Đông Phương, gửi đăng trên Bách Khoa từ số 169 (15/1/1964) đến số 192 (1/5/1965). Tiếp đó, Nguyễn Thị Hoàng kết hôn với Nguyễn Phúc Bửu Sum, giáo sư triết, cả hai về sống ẩn dật ở miền Bình Định, Hoàng làm việc cho hãng nhuộm Sincovina ở thị xã An Nhơn.

Năm 1966, ký giả văn học Lê Phương Chi người giúp đỡ nhà xuất bản Kim Anh, tìm gặp tác giả để điều đình in tác phẩm Vòng tay học trò, sách đoạt thành công kỷ lục, tái bản 4 lần trong vài tháng. Nhưng Nguyễn Thị Hoàng cho biết: “Sóng gió nổi lên từ mọi phiá… Năm tờ báo, cùng nhất loạt lên tiếng phê phán, chỉ trích, tóm lại là chửi bới.” (Trả lời phỏng vấn của Mai Ninh).

Trừ Nhật Tiến trong bài Sinh hoạt tiểu thuyết một năm qua (Bách Khoa số 265-266, 15/1/1968), đã nhận định đúng giá trị của Vòng tay học trò và của những tác phẩm văn học phái nữ xuất hiện trong hai năm 1966-1967.

Tháng 11/1967, Nguyễn Thị Hoàng cùng chồng lập nhà xuất bản Hoàng Đông Phương, bà cho biết: “Từ năm 1966 đến 1969, mình viết liên tục theo những “đơn đặt hàng”. Trong thời gian này mình viết rất nhanh, có khi viết hai, ba truyện cùng một lúc… rồi thì lại buồn chán, mệt mỏi, kiệt sức và mất hoàn toàn tinh thần làm việc vì trong suốt những năm dài liên tục mình chỉ sống với bổn phận làm vợ, làm mẹ và gánh vác kinh tế gia đình. Cái nguồn sống riêng phải nín lại, bị khô héo đi. Sau một chuyến đi xa vào năm 1970 mình lấy lại được hứng khởi và phần không nhỏ cũng là vì năm đứa con, một đòi hỏi lớn về kinh tế gia đình nên phải tiếp tục viết… Do đó mà chưa có quyển nào coi như được viết từ tim óc của mình” (Trả lời phỏng vấn của Tố Tâm, Đất Mới, số 4, bộ 2, tháng 4/1990).

Về cách viết của bà, Hồ Trường An kể: “Dàn bài khi được coi như hoàn tất; tức thời chị Hoàng đảo ngọn bút, viết nhanh như gió táp mưa sa, không thèm đọc lại những gì mình đã viết; ngòi bút của chị như cuồng lưu, như ngựa phi đường xa, lướt phom phom, không có gì ngăn cản nổi. Vậy mà chị Nguyễn Thị Hoàng vẫn có thì giờ chăm sóc con cái, dọn dẹp nhà cửa; đảm đang việc bếp núc. Anh Bửu Sum hết vụ trốn lính, tới chuyện đào ngũ, rồi bị bắt, rồi lại đào ngũ, không làm ăn gì được” (Giai Thoại Hồng, trang 278).

Tóm lại, sau thời kỳ sống sung túc, đến giai đoạn khó khăn: Bà một mình gánh vác kinh tế gia đình, viết văn để kiếm tiền nuôi năm con đến kiệt sức. Chuyến đi xa năm 1970 mà bà nhắc đến trên đây có lẽ là chuyến sang Nhật. Xúc cảm trước bối cảnh huyền bí của cố đô Kyoto, bà đã viết tuyệt tác Tan theo sương mù (in trong tập Bóng lá hồn hoa).

Cũng trong thời gian này, bà tổ chức cho chồng trốn lính, sau đó, bị truy nã, gia đình lánh về Long Xuyên, ở một nơi hẻo lánh, lập Trại Đá Mềm… bà chỉ trở lại Sài Gòn khoảng 1975. Sau 1975 là thời gian dài im lặng. Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện lại với tác phẩm Nhật ký của im lặng do Đồng Nai in năm 1990.

Tác phẩm đã in: Đã in hơn 30 tác phẩm, còn khoảng 10 cuốn chưa xuất bản.

Truyện dài: Vòng tay học trò (Kim Anh, 1966), Tuổi Sài Gòn (Kim Anh, 1967), Ngày qua bóng tối (Văn, 1967), Vào nơi gió cát (Hoàng Đông Phương, 1967), Về trong sương mù (Thái Phương, 1968), Một ngày rồi thôi (Hoàng Đông Phương, 1969), Cho đến khi chiều xuống (Gió, 1969), Đất hứa (Hoàng Đông Phương, 1969), Tiếng chuông gọi người tình trở về (Sống Mới, 1969), Vực nước mắt (Gió, 1969), Vết sương trên ghế đá hồng (Hoàng Đông Phương, 1970), Tiếng hát lên trời (Xuân Hương, 1970), Trời xanh trên mái cao (Tân Văn, 1970), Bóng người thiên thu (Hoàng Đông Phương, 1971), Bóng tối cuối cùng (Giao Điểm, 1971), Tình yêu, địa ngục (Nguyễn Đình Vượng, 1971), Định mệnh còn gõ cửa (Đồng Nai, 1972), Bây giờ và mãi mãi (Đời Mới, 1973), Năm tháng đìu hiu (Đới Mới, 1973), Trời xanh không còn nữa (Đời Mới, 1973), Tuần trăng mật mầu xanh (Đồng Nai, 1973), Buồn như đời người (Đời Mới, 1974), Chút tình xin lãng quên (Trương Vĩnh Ký, 1974) Cuộc tình trong ngục thất (Nguyễn Đình Vượng, 1974), Nhật ký của im lặng (Đồng Nai, 1990)…

Truyện ngắn: Trên thiên đường ký ức (Hoàng Đông Phương, 1967), Mảnh trời cuối cùng (Hoàng Đông Phương, 1968), Cho những mùa xuân phai (Văn Uyển, 1968), Dưới vầng hoa trắng (Sống Mới, không đề rõ năm), Bóng lá hồn hoa (Văn, 1973)…

Thơ: Sầu riêng (1960), Kiếp đam mê (1961), Thi ca và nhục cảm (1967).

Thơ Nguyễn Thị Hoàng

Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện trước tiên như một nhà thơ. Khi còn ở Nha Trang, tháng 8/1959 bà đã gửi tới Bách Khoa một chùm 4 bài, tựa đề Bước thời gian, phỏng theo câu thơ của Gérard de Nerval: Semons de roses/Les pas du temps được Hoàng dịch sang tiếng Việt:

Hãy gieo cánh hồng
Trên bước thời gian.

Bách Khoa đăng ngay hai bài đầu: I- Nắng trưa (số 63, 15/8/1959) và II-Chiều (số 64, 1/9/1959), sau đó ngừng 8 tháng, với lời cáo lỗi “vì một lẽ riêng” nay mới cho đăng tiếp bài III- Chiêm bao (số 80, 1/5/60) và bài IV- Ánh sáng (số 81,15/5/60).

Trong bốn bài thơ này, bài số III và số IV giọng tâm sự về mối tình đầu:

Bẻ khóa đào nguyên lướt dặm trời.
Hồn xa dương thế một lần thôi
Mênh mông bốn phía trời mây nước
Chỉ một người yêu với một người.

(Chiêm bao)

và:

Lòng khép chặt nẻo u sầu tăm tối
Hồn tìm sang tinh tuý của tình yêu.

(Ánh sáng)

Phải chăng vì lẽ đó mà Bách Khoa ngại không đăng ngay, sợ làm phiền nhà văn Cung Giũ Nguyên, đang viết cho Bách Khoa lúc bấy giờ?

Tiếp đó, sang giai đoạn hai, thơ làm ở Sài Gòn, với bài Niềm đau chia phôi, sáng tác tại khu Bàn Cờ, chiều 6/6/60, đăng trên BK số 83 (15/6/60), đánh dấu sự chia tay với mối tình đầu:

“Đã ba mùa cách trở
Nửa năm rồi biệt ly
Áo màu không thắm nữa
Thủa tàn phai xuân thì…”

(Niềm đau chia phôi)

Rồi bẵng đi ba năm không đăng thơ, đến BK số 156 (1-7-63) có bài Nỗi niềm, chỉ bốn câu:

“Nỗi niềm bi thiết ai hay
Năm năm nước cũ sông này trôi xuôi
In lên sắc xám da trời
Nét buồn thiu nửa cuộc đời lang thang”

(Nỗi niềm)

Lời thơ lâm ly vọng về mối tình cũ. Nhưng đến ba bài Yêu, Nhớ, Nhịp buồn, làm mùa hè năm 1963 (BK số 161, 15/9/63), mối tình mới hiện ra đậm nét:

“Khi em về giữa vòng tay
Trong yêu dòng nước mắt này lại khô
Vết hôn ngày cũ chưa mờ
Phút giây đầm ấm bao giờ nữa em”

(Yêu)

“Không ai về thăm chiều nay
Cho tôi chết giữa vòng tay một người
Tiếng hôn khép kín môi cười
Gối chăn mùa lạnh rã rời thú xưa”

(Nhớ)

Và bài Nhịp buồn:

“Cúi đầu đếm bước bơ vơ
Hoàng hôn khép kín bao giờ đây em?
Nhìn lên thành phố không đèn.
Âm u còn lại màn đêm cuối cùng
Mắt sâu dòng lệ ngập ngừng
Mình xa nhau đã muôn trùng thời gian”.

(Nhịp buồn)

Tóm lại, thời gian (1959-63) thơ thể hiện tâm sự hai mối tình.

Tháng giêng 1964 là ngõ quặt lớn trong đời văn: Bách Khoa số 169 (15/1/64) đăng bài Giới hạn, thơ Nguyễn Thị Hoàng, đồng thời bắt đầu in truyện dài Vòng Tay Học Trò ký tên Hoàng Đông Phương. Giới hạn tỏ ý muốn dứt khoát với cuộc tình “học trò” và nói đến sáng tác như một phục sinh:

“Ngày mai tôi bỏ đi
Xa vòng đua thứ nhất
Cuộc đời không chấm dứt
Bằng một lần phân ly
Tôi bắt đầu vẽ lại
Những vòng cung ái tình
Thêm một lần tuổi dại
Chết theo hồn băng trinh”.

(Giới hạn)

Sau đó trên Bách Khoa thơ bớt dần, chỉ còn lại truyện dài Vòng Tay Học Trò.

Vòng tay học trò

Ở tuổi 24, Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện với một thi pháp độc đáo: Thi pháp của tình yêu và đam mê. Sau Nguyễn Tuân và Mai Thảo, đây là nhà văn thứ ba trong văn học Việt Nam có một thi pháp đặc biệt, thể hiện trong tác phẩm đầu tay Vòng tay học trò. Ở cuốn tiểu thuyết thứ ba Ngày qua bóng tối, thi pháp này được lồng trong nghệ thuật hiện thực huyền ảo (réalisme fantastique), tạo nên một thứ ám ảnh có hấp lực lạ lùng. Tóm lại, tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng có thể chia làm hai khuynh hướng: hiện thực hiện sinh (Vòng tay học trò, Vào nơi gió cát, Cuộc tình trong ngục thất…)và hiện thực huyền ảo (Mê lộ, Dấu chân bãi cát, Tan theo sương mù, Ngày qua bóng tối, Trời xanh trên mái cao…), nhưng phải nói ngay đó là khuynh hướng tự nhiên vì không có gì chứng minh Nguyễn Thị Hoàng, thời đó, đã tiếp xúc hay chịu ảnh hưởng trực tiếp của những dòng văn học này.

Với khả năng sáng tạo phi thường, Nguyễn Thị Hoàng có thể thay đổi đề tài, thay đổi văn phong, mỗi khi có một động lực dấy lên, như: tình yêu, tan vỡ, đợi chờ, nhớ nhung, khổ đau, hạnh phúc… tất cả đều có thể cung cấp cho bà chất liệu sáng tác, và khi đã đặt bút rồi, bà viết không ngừng, bà viết như gió táp mưa sa, như dòng cuồng lưu, nhưlời Hồ Trường An. Độc giả, hoặc không thích, bỏ qua ngay, hoặc nếu đã nhập vào, thì sẽ bị lôi cuốn bởi dòng cuồng lưu, không thể thoát ra được, bởi ma lực của cái đẹp trong mỗi câu văn, bởi sự đổi thay không ngừng cảnh quan, ý thức. Khó có thể hiểu tại sao một cấu trúc văn phong tư tưởng chặt chẽ như vậy lại có thể viết một lèo như mưa sa bão táp.

Tính chất thứ nhất trong tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng là hiện thực hiện sinh. Người ta thường chế giễu Nguyễn Thị Hoàng như một nhà nhà văn “theo đuôi hiện sinh” nhưng ít người hiểu hiện sinh là gì. Triết học hiện sinh trong nghĩa đơn thuần nhất, chính là triết học tìm hiểu con người, con người đang sống (hiện sinh). Tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng, vô tình hay hữu ý, luôn luôn chiếu ống kính về mình, khảo sát mình.

Vai chính trong truyện, thường là những người đàn bà trong các tình huống khác nhau, đối diện với người yêu, người chồng. Họ luôn luôn đi tìm mình, xem mình là ai, muốn gì, cái gì đã xẩy ra cho mình, tất cả những hành động, cảm giác, xúc động của “mình” đều được tác giả ghi lại để xác định bản chất “của mình” trong cuộc đời hiện hữu.

Trong Vòng tay học trò, tình yêu là đối tượng khảo sát, tình yêu được đưa lên “bàn mổ” hệt như trong Buồn Nôn Sartre đã “mổ moi” tất cả những hành động và ý tưởng của Roquentin. Một công việc như thế, thuật ngữ triết học gọi là dùng hiện tượng luận để phân tích. Nhưng ta không thể nói Nguyễn Thị Hoàng dùng hiện tượng luận, như thế sẽ không có tiểu thuyết mà chỉ có tiểu luận, và chỉ có thể nói tác giả đã coi tình yêu như một hiện tượng, bà đã chiếu nhiều ống kính vào khắp các ngõ ngách khác nhau của hiện tượng tình yêu để vẽ lại bằng một bút pháp đam mê, lôi cuốn, đầy nghệ thuật. Tình yêu là nội dung sáng tác và đam mê hướng dẫn ngòi bút. Tình yêu ở đây trở thành đối tượng nghệ thuật, giống như một bức tranh, một bài thơ, tức là tình yêu đã trở thành một vật thể. Vật thể tình yêu này được soi rọi trên mọi khía cạnh, mọi tình huống, được nhìn bằng trăm mặt khác nhau, và viết nên bằng một thứ bút pháp đam mê không ngừng nghỉ như một hơi thở bất tận.

Vì vậy, khi ta bước vào tác phẩm Vòng tay học trò, dù do bất cứ động lực nào: vì tò mò muốn đọc một truyện “xì-căng-đan” giữa cô giáo học trò, vì muốn biết sự “đồi trụy” của tác giả mà các ngòi bút luân lý lên án, hay vì muốn tìm kiếm những pha dâm ô như những kẻ không đọc tác phẩm này rêu rao.

Dù bằng lý do gì chăng nữa, thì qua những trang đầu, hoặc ta sẽ quẳng sách đi, vì thấy nó “chẳng có chuyện gì xẩy ra cả” hoặc ta bị lôi cuốn vào cái văn phong đam mê ấy, ta sẽ đọc tác phẩm như nghe một bản nhạc giao hưởng về tình yêu, thoát khỏi cõi trần nhơ nhớp: bởi tình yêu ở đây đã thăng hoa thành nghệ thuật. Trâm, người phụ nữ đã từng sống một thời dạ lạc, nhìn lại những tình nhân đã qua, thấy “bây giờ họ là những xác chết. Mỗi tình yêu là một bông hoa đã uá tàn. Mỗi ngày vui là một chiếc lá vàng rơi rụng”, nàng bỏ đi, định sẽ không bao giờ còn yêu được nữa: “nàng bỏ đi như một từ khước và như một lẩn trốn. Từ khước những thú vui buông thả đưa tới lỗi lầm cay đắng, đưa tới trống không dằng dặc tủi hờn, lẩn trốn những đòi hỏi xôn xao của chính mình, của một bản chất sôi nổi, thèm sống, thèm yêu đến tột cùng, đến vô bờ vô bến” (trang 9).

Từ bỏ Sài Gòn ồn ào ồ ạt, nàng tìm đến Đà Lạt như một nơi để “vùi chôn đời đời”. Nhưng đâu có dễ. Trốn đi đâu? Bởi Trâm không thể trốn được chính mình, nàng là “nòi tình”, nàng là hiện thân của tình yêu, làm sao bỏ “nó” được.

Khi “thằng nhóc” Minh đến, nó đã kéo nàng trở lại với bản lai chân diện mục của mình. Bản giao hưởng dẫn ta vào những trầm bổng của nhịp tình, lôi cuốn, hờn ghen, đớn đau, giận dỗi… Ở đây không hề có tội. Tội gì? Khi tất cả chỉ là sự tiếp nối không ngừng những ái ân thanh cao tế nhị nhất:

“Trâm lần tay xuống những cành củi thông. Tiếng sột soạt nhẹ nhàng của củi cọ trên sàn gỗ, bỗng Trâm cảm thấy tay mình vương vướng trên mớ củi khô. Những ngón tay cóng tê run rẩy, những dây thần kinh bé bỏng đầu ngón tay chuyền cảm giác đi khắp thân thể Trâm như những đoàn quân nồng nhiệt đi chiếm đóng một quê hương gần hàng phục, bị trị. Trong một mấp máy của thời gian, Trâm như trong chiêm bao mơ hồ thấy hơi ấm dịu dàng của bàn tay người con trai ấp ủ lấy bàn tay hấp hối của mình. Giọng Trâm rưng rưng vừa ăn năn vừa thú tội: -Em… Hai bàn tay bứt rứt buông nhau.” (trang 177).

Thi pháp tình yêu và đam mê đã dẫn ta tới nguồn cội của cảm giác: chỉ cần sự va chạm của mấy ngón tay đã đủ đánh thức tất cả hệ thống thần kinh, đã khơi dậy một trời đam mê, đã thoả mãn cả núi đồi nhục cảm. Giá trị tác phẩm nằm ở chỗ đó.

“Mỗi một hơi thở, một cựa mình… là một lời gọi kêu tội lỗi”, “Từng ngón tay Trâm đột nhiên run rẩy bám chặt vào chéo gối”, “Mùi thuốc thơm phảng phất. Hơi khói nồng nồng quen thuộc từ phiá Minh len lén bay qua phả lên mặt nàng như một gửi trao liều lĩnh“…

Không một chữ sàm, chữ sỡ, không dâm, không ô, trong toàn bộ tác phẩm.

Vòng tay học trò đã đào sâu tình yêu qua ngả nhận thức và cảm giác. Mỗi yếu tố nhỏ nhất đều có thể là động tác tình yêu: một hơi thở, một tiếng cựa mình, một làn khói… tất cả đều đã có chất yêu ở trong, nhà văn đã chắt nó ra, và như thế, tác giả đã tìm tới tất cả những nguồn cội dẫn đến nhục cảm có thể tưởng tượng được.

Vào nơi gió cát

Vào nơi gió cát không phải là tiểu thuyết mà là một lá thư hay một bài văn dài viết cho người chồng đang đi hành quân đâu đó; lấy câu thơ “Chàng từ đi vào nơi gió cát” trong Chinh phụ ngâm, làm đề. Bài văn kể lại chuyện từ lúc gặp nhau, lấy nhau, rồi nàng có thai đứa con đầu lòng và chàng xa vắng. Ở đây, sự nhớ nhớ thương vẫn là đối tượng khảo sát bằng hiện tượng luận.

Sự nhớ thương chăn gối điên cuồng của một người vợ, mới cưới, chồng bị gọi động viên, rồi ra trận, rồi liều lĩnh bỏ về thăm vợ, bị bắt, bị tù, được tha, lại phải trở ra trận… Nỗi nhớ thương đến cuồng dại điên rồ, sự lo lắng đến bệnh hoạn về cái chết có thể đến với chồng trong giây phút. Văn phong đam mê cực điểm đến độ mù quáng, mê sảng. Tính chất quá độ có thể làm giảm giá trị của tác phẩm, nhưng đây là bài văn duy nhất, đã thám hiểm đến tận đáy của cảm giác trong lòng những thiếu phụ có chồng ra trận, dường như chưa ai dám đi xa đến thế.

Cuộc tình trong ngục thất

Vào nơi gió cát bắt buộc phải dẫn đến Cuộc tình trong ngục thất, bởi người thiếu phụ không thể chịu được cảnh xa chồng, chuyện gì phải đến đã đến: họ tính chuyện đào ngũ. Người vợ, bụng chửa sáu tháng đứa con thứ ba, giúp chồng thực hành ý định. Tác phẩm được viết như một bi kịch kín (huis clos) xẩy ra trong vòng 24 tiếng đồng hồ, từ khi người vợ vác bụng chạy đến phi trường tỉnh lỵ sắp đóng cửa, nài nỉ mua cho bằng được 2 vé máy bay cho ngày hôm sau trở lại Sài Gòn; rồi nàng về nhà trọ đợi chồng tẩu thoát từ một đơn vị đang tác chiến.

Mọi động tác, mọi toan tính đều được chắt lọc, vắt cạn, tạo sức ép đến độ nghẹt thở, hệt như trong một truyện trinh thám. Nhưng đây không phải là trinh thám mà là văn chương. Tác giả đánh động mọi giác quan của ta bằng tình yêu, bằng nỗi chết, bằng sự sống còn: nếu muốn sống, muốn yêu, thì bắt buộc phải đào ngũ. Không có đường nào khác. Không có vấn đề đê hèn hay phản chiến, mà chỉ có một lựa chọn: sống hoặc chết và họ đã chọn đường sống.

Phần thứ nhì trong tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng là hiện thực huyền ảo.

Mê lộ

Truyện ngắn Mê lộ, đăng trên Bách Khoa số 246 (1/4/1967), viết về một vụ án mạng mà nạn nhân là một tiếng hát. Tiếng hát quyền rũ tất cả, tiếng hát đưa ta “trở về những thời gian hoang vu tiền sử xa lắc xa lơ, về những bến bờ sơ khai nguyên thuỷ của con người…Về quê hương. Về mất mát, về chiến tranh. Về tình yêu và những tháng ngày diễm mộng…”

Một tiếng hát “mê hồn” như thế, làm sao có thể giết được? Kẻ sát nhân bèn đi theo “nó”, rình mò “nó” như một thám tử cừ khôi và cuối cùng hắn đã hạ sát được “nó”, hắn cắm phập con dao vào tim “nó”, trong một lâu đài hoang phế, trên ngọn đồi âm u của núi rừng. Về lại Sài Gòn, hắn đang hả hê nghĩ đến chiến công oanh liệt của mình; bỗng, tiếng hát lại nổi lên, mê hoặc hơn bao giờ hết, lại réo rắt vọng vào tai hắn, thì ra hắn đã giết lầm: hắn lăn đùng ra.

Hắn là ai? Hắn chính là cái quê hương, nơi chôn rau cắt rốn của “nó”, hắn đã sản sinh ra “nó”, thế mà…

Mê Lộ là một trong những truyện ngắn rất hay và rất lạ của Nguyễn Thị Hoàng. Mê Lộ xác định tính cách fantastique, trong cõi viết Nguyễn Thị Hoàng, từ năm 1967, đưa bà lên địa vị một trong những nhà văn Việt Nam đầu tiên viết theo lối hiện thực huyền ảo (réalisme fantastique), mặc dù lúc ấy ở Việt Nam có lẽ chưa mấy ai biết hiện thực huyền ảo là gì.

Ngày qua bóng tối

Tiểu thuyết Ngày qua bóng tối, cảm hứng từ mối tình đầu ở Nha Trang, có cấu trúc khác hẳn Vòng tay học trò. Ở đây tác giả đã nhuần nhuyễn kỹ thuật huyền ảo với một nghệ thuật làm lạc hướng tài tình, khiến ta không thể nhận được, đâu là hư, đâu là thực, ai là ai, còn sống hay đã chết. Truyện mở vào không gian trinh thám với cái chết rùng rợn của một kẻ bị ám sát, chết ngồi trên mui xe lửa, máu rớt xuống vai áo những hành khách trong toa tầu…

Nhưng đó chỉ là đòn lừa, dẫn đến một “thực tại” khác hẳn: sự gặp gỡ bất ngờ trên tầu, của cô gái chưa mười tám và cặp vợ chồng đứng bóng, “ân nhân” của nàng.

Nhân dạng mối tình đầu hiện dần ra: người đàn ông đứng tuổi “như một khách lạ ở hành tinh xa vời nào xuống nhàn du trái đất” mà cô gái gọi là người lạ. Chính người lạ này sẽ đánh thức những tiềm năng ngủ sâu trong tâm hồn và thể xác của cô gái, toàn bộ tri thức, nhận thức, cảm quan, giác quan của nàng được dựng dậy, được khai thác…

Người lạ vừa là thày, vừa là đối tượng bí mật cần khám phá, một thứ thần tượng, từ khâm phục dẫn đến thần phục và tình yêu. Người con gái chưa hiểu được thứ cảm tình gì chi phối mình, kèm thêm thứ cảm tình lạ lẫm đối với người vợ bao dung của ông ta, luôn luôn che chở và săn sóc nàng như một người em gái yếu mềm, dễ vỡ. Tất cả những xao động và hành động xẩy ra giữa nàng và người lạ, và bà vợ dẫn đến những đổ vỡ, ăn năn, tuyệt vọng và nỗi chết. Tác phẩm vừa bí mật, vừa lôi cuốn như một truyện hoang đường, không lối thoát, nhưng nó xác nhận mối tình đầu mới là mối tình sâu xa nhất của tác giả, mối tình này vẫn sống trong nàng, mặc dù nó đã chết từ lâu.

Tan theo sương mù

Tan theo sương mù là một tuyệt tác trong những truyện ngắn của Nguyễn Thị Hoàng và của văn học Việt Nam, viết năm 1970 ở Osaka. Trong tác phẩm này, tất cả đều đạt đỉnh cao của tế nhị và hư ảo: Tình yêu được đặt trong một không gian mới lạ, diệu kỳ. Không hiểu tại sao chỉ một chuyến qua Kyoto, mà tác giả có thể nhập vào nhiều thứ đến thế: không khí mê hoặc của những gia trang huyền bí Nhật Bản, của vườn cảnh, của những bình phong, của những bông hoa lạ, của hương thơm, của ảo giác, của bức tranh bí mật dị kỳ và nhất là của tâm hồn Nhật Bản. Bút pháp trong Tan theo sương mù không thua bất bất cứ loại bút pháp nào trong tác phẩm của Kawabata. Tình yêu ở đây là sự sống chung giữa mộng và thực, giữa trần gian và âm cảnh của người đàn ông với người vợ đã chết, ẩn thêm bóng dáng người lạ của Ngày Qua Bóng Tối, nhưng Nhật Bản hơn, thanh khiết và cao đạo hơn.

Edited by user Tuesday, January 18, 2022 8:26:49 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#42 Posted : Thursday, September 30, 2021 2:28:39 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Ban Nhạc ShowGuns Và Người Nhạc Sĩ Đa Tài


Nguyễn Việt

September 29, 2021 | by Ban Tu Thư | 

Tôi biết nhạc sĩ Ngọc Chánh từ ngày anh còn làm ở phòng trà khiêu vũ trường Queen Bee trên lầu của thương xá Eden, lúc đó đang do nữ ca sĩ Khánh Ly khai thác. Bấy giờ Ngọc Chánh đang chơi piano và organ trong một ban nhạc chưa được đặt thành tên, và cũng chưa được nổi tiếng lắm trong các hoạt động âm nhạc ở miền Nam bấy giờ.

Nhưng rồi một ngày, khi Khánh Ly ra mở phòng trà riêng trên đường Tự Do (bây giờ là Đồng Khởi), ông Tuất chủ nhân phòng trá Queen Bee giao lại cho nữ ca sĩ Thanh Thúy quản lý. Từ đó một ban nhạc mới được thành hình, một ban nhạc mang âm thanh của loại súng liên thanh ra đời, tức ban nhạc Shotguns, do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm Chef d’orchest hợp cùng các nhạc sĩ Hoàng Liêm (guitar), Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano, organ), Lưu Bình (trống) và các ca sĩ chủ lực gồm Thanh Thúy, Elvis Phương, Pat Lâm và Ngọc Mỹ. Sau này có thêm các nhạc sĩ Cao Phi Long, Đan Thọ, Lê Văn Thiện, ca sĩ có thêm những Thanh Lan, Xuân Sơn, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín, cùng chen vai sát cánh bên nhau, hoạt động từ băng nhạc, ca vũ trường đến các show diễn tại các Club Mỹ, trên các sân khấu đại nhạc hội hay đài phát thanh, truyền hình.

MỘT NHẠC SĨ CÓ TÀI KINH DOANH

Thời gian còn cộng tác tại phòng trà Queen Bee, ban nhạc của nhạc sĩ Ngọc Chánh còn phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương và các Club Mỹ, với phong cách trình diễn loại nhạc kích động như ban nhạc của Khánh Băng – Phùng Trọng. Bởi ca sĩ chủ lực của ban Shotguns là Pat Lâm và Ngọc Mỹ, vào thời đó chưa ai hát nhạc ngoại quốc qua mặt được (năm 1971, khi Ngọc Mỹ đi Mỹ trình diễn và cô đã ở lại Mỹ hát cho một ban nhạc nổi tiếng từ đó).

Cuối những năm 1960, nhạc sĩ Ngọc Chánh sau khi thành hình ban nhạc Shotguns, anh đã cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero… Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diển ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt.

Sau khi chọn được hướng đi mới, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đứng ra thành lập cơ sở Nguồn Sống, chuyên sản xuất băng nhạc nhằm tạo đất sống mới cho các ca nhạc sĩ trong ban nhạc; đồng thời cùng nữ ca sĩ Thanh Thúy lập phòng trà khiêu vũ trường mang tên International Quốc Tế nằm ở mũi tàu Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực, Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), và mở cả kiosque mang tên Khai Sáng nằm dưới tầng trệt của phòng trà, làm nơi tổng phát hành băng nhạc do anh sản xuất.

Nói về sản xuất băng nhạc, nhớ lại lúc khởi đầu khai sinh ra nhãn hiệu băng Shotguns, mấy cuốn đầu tiên không nói là thất bại nhưng thật sự chưa gây được ấn tượng trên thị trường, mặc dù có những nhà văn tên tuổi như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, ký giả Quỳnh Như viết lời giới thiệu một cách rộng rãi ra công chúng. Chính nhạc sĩ Ngọc Chánh cũng biết là thất bại, không thành công, là vì có những bài hát nằm đan xen trong chủ đề, tuy hợp với giới thưởng thức này nhưng lại là “khắc tinh” với giới khác. Bởi người nghe nhạc đã phân từng loại ca sĩ lẫn từng loại nhạc phẩm.

Như tầng lớp SVHS thì thích những giọng ca của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Elvis Phương, Tuấn Ngọc… Đại đa số công chúng thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu… qua những nhạc phẩm mang tính văn hóa và nghệ thuật . Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang… thích hợp cho những nhạc phẩm thị hiếu, được soạn theo kiểu mà người đời thường gọi là “nhạc sến”, như các nhạc phẩm : Một trăm phần trăm, Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương v.v…

Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v… Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương… đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, một tờ nhật báo bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ.

Nói về kỹ thuật thu âm, thông thường với băng nhựa 8 ly thường được sử dụng từ cuối thập niên 1960, người làm băng nhạc cũng ghi âm trên master tape loại băng 8 ly với âm thanh stereo gồm 4 track. Còn Ngọc Chánh ghi âm bằng master tape 16 ly với âm thanh hifi 6 track, tức có 6 đường rảnh độc lập, mỗi rảnh ghi âm một thứ âm thanh riêng biệt, có thể mix chồng lên nhau. Từ master tape này khi chuyển sang ra băng 8 ly sẽ có chất lượng âm thanh hoàn hảo chuẩn xác hơn. Đồng thời trong cuốn “Băng Vàng Shotguns” về phần hòa âm các nhạc phẩm đều do nhạc sĩ Lê Văn Thiện biên soạn, mới lạ hơn những bản hòa âm mà các băng nhạc khác chỉ soạn theo kiểu “mì ăn liền”. Bởi khi mix, trong đó với âm thanh 4 chiều chuyển động (hifi), người ta có thể phân tích được các loại nhạc khí. Hợp cùng những giọng ca hàng đầu bấy giờ như Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Elvis Phương, Anh Khoa trình bày v.v…

Sau cuốn “Băng Vàng Shotguns” thành công và được thính giả ủng hộ liên tục những cuốn băng nhạc sau, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đưa ra nhãn băng thứ hai mang tên nữ ca sĩ “Thanh Thúy”, với thể nhạc khác với thể nhạc của băng Shotguns, cũng đạt kết quả mỹ mãn. Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng khác nhằm chiếm trọn thị trường băng nhạc lúc đó, vì làm kinh doanh băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn.

Cơ sở sản xuất Nguồn Sống của Ngọc Chánh mở thêm thể loại nhạc trẻ mang tên “Băng nhạc Trẻ”; chủ lực gồm ca sĩ Thanh Lan và ban nhạc Phượng Hoàng của Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang… và do Kỳ Phát thực hiện nhằm cạnh tranh với các nhãn hiệu băng do Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Jo Marcel thực hiện

Nhận thấy ba bước kinh doanh đầu tiên đều thành công, nhạc sĩ Ngọc Chánh mạnh dạn ra một nhãn hiệu băng trái với tay nghề, tức loại băng mang thể loại tân cổ giao duyên, cải lương và hồ quảng tên “Hồn Nước”.

Chủ lực gồm những nghệ sĩ sân khấu thành danh trên sân khấu cải lương và hồ quảng như Thanh Nga, Thành Được, Phượng Liên, Dũng Thanh Lâm, Thanh Kim Huệ, Thanh Điền, Tấn Tài, Bạch Lê, Thanh Bạch v.v… trong đó phần nhạc đệm tân nhạc vẫn là Shotguns, còn về cổ nhạc quy tụ nhạc sĩ Bảy Bá (tức soạn giả Viễn Châu) điều hành, có Văn Vĩ đàn guitar, Năm Cơ đàn kềm và cả ban nhạc hồ quảng của Đức Phú.

Không ngừng ở nhãn băng thứ tư, Ngọc Chánh tiếp tục ra mắt nhãn băng thứ năm mang tên “Chế Linh” dành cho người thích nghe “nhạc sến”…

Đó là về quá trình sản xuất kinh doanh băng nhạc. Vì thế ban nhạc Shotguns vào năm 1973 được đọc giả, khán thính giả ái mộ bình chọn là “Ban nhạc được ái mộ nhất” của Giải Kim Khánh Nghệ Thuật thường được tổ chức hàng năm.

Sau ngày 30/4/1975, nhạc sĩ Ngọc Chánh còn ở lại Sài Gòn, vài năm sau anh mới đi Mỹ bằng đường biển. Ở Mỹ, Ngọc Chánh đã gầy dựng lại ban nhạc và nhãn hiệu băng nhạc Shotguns, vì nó đã trở thành một thương hiệu đã được mọi người tin cậy từ những năm 1970. Đồng thời trên đất Mỹ, anh còn mở phòng trà Ritz để giới thiệu những tài năng mới và những thân hữu nghệ sĩ đang sinh sống tại hải ngoại.

Trước đây và bây giờ cũng vậy, nhạc sĩ Ngọc Chánh luôn sống nhã nhặn khiêm tốn, hòa đồng cùng mọi người, kể cả khi đã có địa vị tiếng tăm. Vì thế với Ngọc Chánh, hình ảnh của anh rất ít xuất hiện trước công chúng, tuy nhiên mọi người khi nghe nói đến tên Ngọc Chánh là biết anh là ông bầu của một ban nhạc và băng nhạc nổi tiếng, đồng thời là tác giả của nhiều ca khúc hợp soạn cùng nhạc sĩ Phạm Duy, những nhạc phẩm của anh ai cũng nhớ như Bao giờ biết tương tư, Tuổi biết buồn, Vết thù trên lưng ngựa hoang…

GIỚI THIỆU CA SĨ MÁT TAY

Tuy nhạc sĩ Ngọc Chánh không có “lò đào tạo ca sĩ” như các nhạc sĩ khác và cũng không tự nhận mình là thầy đào tạo của một ca sĩ nào, nhưng anh lại là người giới thiệu tài năng mới rất mát tay như những Elvis Phương, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín hay Xuân Sơn cô ca sĩ từng được mệnh danh ca sĩ “Trăng sáng vườn chè”; đi hát từ thời Khánh Ly đang còn khai thác phòng trà Queen Bee, ít người biết đến, sau về cộng tác với ban nhạc Shotguns cô đã trở nên nổi tiếng, hay một Hải Lý mới chớm nở chưa kịp kết nụ ra hoa, Ngọc Chánh đã không còn kịp đưa tên tuổi lên như những đàn anh đàn chị vì thời cuộc đổi thay.

Nhưng có lẽ bất ngờ nhất khi nói Ngọc Chánh là người tìm thấy giọng ca của nữ ca sĩ Minh Hiếu đầu tiên. Anh từng lăng xê Minh Hiếu trước cả nhạc sĩ Đức Quỳnh. Theo nhạc sĩ Ngọc Chánh tâm sự :

– “Vào năm 1961 tôi đang phụ trách ban nhạc ở hồ tắm Cộng Hòa trên đường Lê Văn Duyệt (bây giờ tên đường Cách Mạng Tháng 8). Năm đó có một người con gái yêu thích ca nhạc. Cô ta từ Binh Long lên Saigon học hát và học may. Tôi có người bạn nhạc sĩ nhờ tôi hướng dẫn và giúp đở. Thật ra những ngày đầu gặp tôi, cô ta chỉ hát được hai bài là “Nổi Lòng” của Nguyễn văn Khánh và “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long (theo dạng bài hát tủ). Nhưng vì tôi là Chef d’orchestre nên đưa cô vào hát ở hồ tắm Cộng Hòa không có gì trở ngại. Cô ấy tên Minh Hiếu.

“Minh Hiếu là người rất có khiếu về ca nhạc, lại thêm đam mê nên chỉ sau 6 tháng đã nổi tiếng. Minh Hiếu bắt đầu hát cho phòng trà “Arc en Ciel” trong Chợ Lớn rồi phòng trà Đức Quỳnh bên rạp Việt Long xưa và Văn Cảnh. Còn được mời thâu dĩa hát cho những hãng dĩa 33 tour ở Sài Gòn thời bấy giờ v.v…”

Hay khi Ngọc Chánh nói đến hai ca sĩ Elvis Phương và Hương Lan thời mới vào nghề :

– “Bài hát đầu tiên của Elvis Phương hát là “Mộng Dưới Hoa”. Ngày đó Elvis Phương hát như người Mỹ hát tiếng Việt, vừa ngọng, vừa đớt thật là khó nghe, nhưng sau một thời gian anh em hướng dẫn, Elvis Phương bắt đầu hát hay dần, hay dần cho đến hôm nay nhiều ca sĩ trẻ trong nước lẫn hải Ngoại chưa ai có giọng ca tốt như Elvis Phương.

“Hoặc như Hương Lan là giọng ca hiếm có khi thâu bài nhạc Hoa lời Việt “Mùa Thu Lá Bay”, nếu cô ấy chịu đi theo con đường này chắc là từ đó đến giờ sẽ không có đối thủ cạnh tranh, nhưng sau tôi không còn thời gian hướng dẫn nữa…”

Phải chăng vì thế Hương Lan chỉ thuộc nữ ca sĩ trung trung đến bây giờ ?! vì từ xưa đến nay các ông bầu tổ chức ca nhạc thường không đưa tên tuổi Hương Lan thành “vơ-đét” của đêm diễn.

Nói về Xuân Sơn hay Nguyễn Chánh Tín cũng thuộc ca sĩ trong ban Shotguns. Cho thấy vào thời kỳ trước những năm 1965, đa số các nam nữ ca sĩ đều từ văn nghệ học đường, từ năng khiếu mà hình thành ra chất giọng riêng biệt. Tuy nhiên không có người hướng dẫn “lăng xê”, khi đi hát lại không chọn đúng nhạc phẩm sở trường, thích gì hát đó nên không thể tự tạo được ấn tượng cho giới thưởng thức.

Thí dụ như Xuân Sơn thích đi hát từ năm 12 tuổi, lớn lên lại trúng tuyển Giải Nhất cuộc thi Tuyển Lựa Ca Sĩ với ca khúc “Trở về Mái Nhà Xưa”. Sau đó Xuân Sơn được mời hát trong các chương trình tại Đài phát thanh, rồi phòng trà. Từng được nhạc sĩ Đỗ Lễ hướng dẫn về nhạc lý và xướng thanh, nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có một bài tủ “Trăng Sáng Vườn Chè” của Văn Phụng nên không thành danh. Sau này về hát với ban Shotguns qua những nhạc phẩm như Nắng Thủy Tinh, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng, Lệ Đá, Biển Nhớ, Lá Đổ Muôn Chiều, Tôi Ru Em Ngủ… nữ ca sĩ Xuân Sơn mới đạt đến sự ngưỡng mộ của khán thính giả.

HƯỚNG DẪN TIẾNG HÁT ELVIS PHƯƠNG

Elvis Phương năm tuổi 14 đang theo học tại trường Jean Jacques Rousseau (bây giờ tên trường Lê Quý Đôn). Rất thích ca sĩ Elvis Presley với thể nhạc Rock And Roll, khiến cho quên ăn, quên ngủ, và anh luôn muốn trở thành một Elvis Presley VN. Vì vậy với tên thật Phạm Ngọc Phương, anh đã kết hợp với tên mình cùng tên thần tượng để thành tên gọi Elvis Phương cho đến ngày nay.

Elvis Phương tuy không học nhạc nhưng do năng khiếu đã mau chóng lãnh hội được căn bản về nhạc lý qua bạn bè và qua băng dĩa nhạc. Trong những năm còn học ở J.J.Rousseau là thời gian thật tuyệt vời, anh cùng các bạn thành lập ban nhạc có tên The Rockin’ Stars, có tiếng trong giới trẻ yêu thích nhạc ngoại quốc. Đến năm 1964, ban The Rockin’ Stars tan đàn, và Elvis Phương liền được mời vào hát cùng ban nhạc Les Vampires để trình diễn tại các Club Mỹ. Sau đó gia nhập vào đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương.

Trong suốt thời gian phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương cùng với ban nhạc Shotguns, Elvis Phương đã gần như chuyển hướng với việc trình bày ca khúc, ít hát nhạc ngoại quốc mà chỉ hát nhạc Việt để đáp ứng yêu cầu của mọi người và cả trong các nhãn hiệu băng do Ngọc Chánh sản xuất.

Sau khi được các nhạc sĩ trong ban nhạc hướng dẫn cách phát âm cho đúng lời Việt, và tự tạo cho mình một sắc thái riêng biệt, từ đó anh đã tự tạo cho mình một kỹ thuật phát âm với những tiếng nấc, tiếng nghẹn đặc biệt, như nhạc phẩm “Lời cuối cho em” là bước đầu đưa tên tuổi Elvis Phương lên hàng danh ca. Sau đó Elvis Phương còn thành công qua những nhạc phẩm khác như Xé thư tình, Kỷ vật cho em, Áo anh sứt chỉ đường tà, Về đây nghe em, Những bước chân âm thầm, Vết thù trên lưng ngựa hoang v.v…. Đó là chưa kể những nhạc phẩm ngoại quốc lời Việt như Godfather, Aline, Main Dans La Main, Lady Belle, Love Story, vv…

Đến năm 1972, Elvis Phương trở nên nổi bật khi xuất hiện cùng ban nhạc Mây Trắng sau là ban Phượng Hoàng qua những nhạc phẩm của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, như Tôi muốn, Thương nhau ngày mưa, Lời người điên, Yêu người yêu đời, vv…

Năm 1973, Elvis Phương đoạt giải “Nam ca sĩ tân nhạc được mến chuộng nhất” của “Giải Kim Khánh Nghệ Thuật”.

TRẦN VĂN TRẠCH GIỚI THIỆU…

Còn ca sĩ Thái Châu vào năm 1966 mới 15 tuổi, đi theo gánh hát của mẹ tức nghệ sĩ Kim Nên, cùng thời với các nghệ sĩ như Kim Chưởng, Thanh Tao, Thúy Nga, Út Trà Ôn… ba anh còn là phó giám đốc của Cty cải lương Kim Chung; cho nên Thái Châu đã mang dòng máu nghệ sĩ từ trong gia đình, vì nhà có 4 anh em đều sống với ánh đèn sân khấu. Lúc đó ai cũng nghĩ Thái Châu sẽ là hậu duệ tiếp bước đường của cha mẹ.

Thế nhưng, tâm hồn cậu bé Trương Chiêu Thông (tên thật của Thái Châu) lại bị mê đắm bởi những ca khúc lãng mạn trữ tình trong tân nhạc hơn là hát sáu câu vọng cổ bên cổ nhạc.

Đến mùa hè năm 1966, khi đoàn hát của mẹ anh ra Vũng Tàu, anh ban ngày phụ giúp cha mẹ một vài công việc trong đoàn hát, còn đêm tìm đến quán cà phê nhạc nơi có nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa (thổi sáo) và Trần Xuân Ngã (violon) quản lý ở đây, để nghe các ca nghệ sĩ biểu diễn.

Ở quán này có giờ dành cho khán giả lên hát như phong trào Hát với nhau ngày nay. Thái Châu xin lên hát, đêm đó có cha mẹ anh đi xem và Thái Châu đã hát ca khúc “Lần đầu cũng như lần cuối” (sáng tác của Minh Kỳ). Không ngờ đêm đó hai nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa và Trần Xuân Ngã chính thức đề nghị anh tham gia biểu diễn tại quán có trả lương.

Năm 1969, Thái Châu vừa đi học vừa biểu diễn tại phòng trà Đệ nhất do Mai Lệ Huyền đang phụ trách. Một đêm tình cờ gặp quái kiệt Trần Văn Trạch đến nghe hát, nhà quái kiệt ngỏ ý giới thiệu Thái Châu gia nhập vào ban nhạc Shotguns của Ngọc Chánh. Chính Thái Châu tâm sự : “Tôi mừng còn hơn ai cho vàng vì ban nhạc này đang rất nổi tiếng, nhiều danh ca đã cộng tác và nhiều mầm non ca sĩ đã thành danh từ ban nhạc này”.

Về với ban Shotguns, được Ngọc Chánh giúp đỡ, động viên trong tình anh em, vì vậy Thái Châu đã tự tạo dấu ấn qua nhiều ca khúc dành riêng cho anh. Điển hình như các bài Tôi đưa em sang sông (Y Vũ), Tình như mây khói, Tình chết theo mùa đông (Lam Phương), Linh hồn tượng đá (Mai Bích Dung), Bài thánh ca buồn (Nguyễn Vũ)… và trở thành giọng hát chủ lực trong ban nhạc Shotguns từ đó.

NHỮNG NHẠC PHẨM NỔI TIẾNG CỦA NGỌC CHÁNH

BAO GIỜ BIẾT TƯƠNG TƯ

Ngày nào cho tôi biết,
Biết yêu em rồi tôi biết tương tư
Ngày nào biết mong chờ,
Biết rộn rã buồn vui đợi em dưới mưa…

Ôi biết đem tin này,
Vắng như lòng giấy, tình yêu lấp đầy
Rồi biết quên câu cười,
Biết cho đôi dòng lệ rơi.

Tình yêu đã trở lại,
Đôi mắt đêm ngày vơi hết đọa đầy
Tà áo em phơi bầy,
Ngón tay em dài, tiếng yêu không lời.

Ngày nào lòng tôi đã
Biết vui biết buồn, ôm mối tương tư
Ngày nào cánh Thiên Đường
Đã mở hé tình yêu là trái táo thơm Tôi ghé răng cắn vào
Miệng môi ngọt đắng, tình yêu cuối đường
Là trối trăn cuối cùng,
Giấc mơ não nùng vội tan.

VẾT THÙ TRÊN LƯNG NGỰA HOANG

(Viết cho phim cùng mang tên dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Thụy Long)

Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời
Đồng cỏ nào xanh ngát lưng trời
Ngựa phi như điên cuồng
Giữa cánh đồng dưới cơn giông
Vì trên lưng cong oằn
Những vết roi vẫn in hằn

Một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình
Thảm cỏ tình yêu dưới chân mình
Ân tình mở cửa ra với mình
Ngựa hoang bỗng thấy mơ
Để quên những vết thù

Ngựa hoang muốn về tắm sông nhẫn nhục
Giòng sông mơ màng mát trong thơm ngọt
Ngựa hoang quên thù oán căm
Từ nơi tối tăm về miền tươi sáng
Ngựa hoang về tới bến sông rồi
Cởi mở lòng ra với cõi đời
Nhưng đời ngựa hoang chết gục
Và trên lưng nó ôi
Còn nguyên những vết thù .
Mắt Buồn  
#43 Posted : Wednesday, October 6, 2021 8:44:10 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Rau sắng trong lẫn ngoài chùa Hương


Phanxipăng



Chùa Hương nằm ven bờ sông Đáy ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội,
là một "phiên bản" đầy ý nghĩa của chùa Hương trên núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

"Phiên bản" ấy hình thành từ thời Lê, dần trở nên lừng lẫy nhờ hội tụ rất nhiều yếu tố thuận lợi, trong đó có nghệ thuật ẩm thực.

Liên hệ với văn thơ và các thông tin khoa học cần thiết liên quan, bài này đề cập rau sắng

- một đặc sản "danh bất hư truyền" ở quần thể danh thắng chùa Hương tại Hà Nội.

Đồng thời, bài viết còn giới thiệu nơi có mật độ cây rau sắng nhiều nhất Việt Nam là Vườn quốc gia Xuân Sơn ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Mùa xuân Nhâm Tuất 1922, thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889 - 1939) không trẩy hội chùa Hương được, bèn bật mấy vần lục bát:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương,
Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa.
Mình đi, ta ở lại nhà,
Cái dưa thời khú, cái cà thời thâm.

Nhiều tài liệu lâu nay cho rằng Tản Đà liền đăng bài thơ nọ trên tờ An Nam tạp chí. Điều đó nhầm lẫn! Vì tạp chí kia mãi đến ngày 1-7-1926 mới ra số đầu tiên.

Giai thoại văn chương đậm tính tiếp thị

Thực tế, Tản Đà in bài thơ nọ trong tập 1 Truyện thế gian vào đầu năm sau, Quý Hợi 1923. Sách phát hành được thời gian ngắn thì tác giả nhận bưu kiện từ Phủ Lý, không đề tên người gửi, bên trong toàn rau sắng tươi mơn mởn cùng mảnh giấy:

Kính dâng rau sắng chùa Hương,
Đỡ ai tiền tốn, con đường đỡ xa.
Không đi thời gửi lại nhà,
Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.

Người viết ký: Đỗ Tang Nữ bái tặng. Nhận món quà, Tản Đà ngạc nhiên và cảm động gọi nhân vật kỳ bí và dễ thương ấy là "một người tình nhân không quen biết", đoạn nối vần:

Mấy nhời cảm tạ tri âm,
Đồng bang là nghĩa, đồng tâm là tình.
Đường xa, rau hãy còn xanh,
Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào.
Yêu nhau xa cách càng yêu,
Dẫu rằng suông nhạt mà nhiều chứa chan.
Nước non khuất nẻo ngư nhàn,
Tạ lòng xin mượn thế gian đưa tình.

Tản Đà công bố câu chuyện cùng đôi bài thơ vừa nêu trong tập 2 Truyện thế gian ấn hành tháng 11-1923. Đến năm 1932, chùm 3 bài thơ được Tản Đà in lại trong tập 3 Khối tình con.

Vậy Đỗ Tang Nữ - mang nghĩa cô gái họ Đỗ hái dâu - là ai? Là Đỗ Thị Khê, còn gọi Song Khê (1901 - 1993), em ruột của Đỗ Thị Đàm tức nữ sĩ Tương Phố (1900 - 1973). Thuở bấy giờ, Đỗ Tang Nữ làm y tá nơi nhà thương Phủ Lý thuộc tỉnh Hà Nam. Sự thật đã được khẳng định bởi Tương Phố qua tập Mưa gió sông Tương (NXB Bốn Phương, Sài Gòn, 1961; trang 111), bởi Nguyễn Khắc Xương - trưởng nam của Tản Đà - qua tập Ông thần ngông (NXB Văn Học, Hà Nội, 1990; trang 53-56).

Giai thoại văn chương độc đáo kia tích cực quảng cáo rộng-sâu-lâu-bền vô cùng hiệu quả cho một nguồn thực phẩm đặc sắc gắn bó với một danh lam Nam thiên đệ nhất động (chữ của chúa Trịnh Sâm viết năm Canh Dần 1770 lên vách đá chùa Trong).

Kỳ thực, không chỉ xã Hương Sơn ở huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội "độc chiếm" rau sắng, mà khá nhiều vùng núi đá vôi ở nước ta từ Bắc chí Nam có cao độ 100 ~ 200m trở lên so với mực nước biển cũng xanh tươi rau sắng, dẫu lắm nơi ít ỏi số lượng cá thể. Chẳng hạn Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Thái, Bắc Giang, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kontum, Gia Lai, Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, v.v. Và không chỉ ở Việt Nam, rau sắng còn được phân bố tự nhiên ở Lào, Campuchia, Thái Lan.

Bao điều đặc sắc

Vì sao rau mang tên sắng? Do gọn hoá cụm từ tắc sắng mà tiếng Mường quen dùng. Còn dân tộc Dao gọi lai cam, dân tộc Tày - Thái gọi pắc van. Những từ vừa dẫn đều mang nghĩa "rau ngọt". Bởi thế, người Kinh còn gọi rau ngót rừng.

Loài thực vật này được định danh khoa học là Melientha suavis Pierre thuộc họ Opiliaceae.

Với người Việt, tuyệt đại đa số loại rau đều thân thảo: rau muống, rau lang, rau má, rau sam, rau trai, rau ngót, rau dền, rau đắng, rau cần, rau đay, rau khúc, rau húng, rau răm, rau cải, rau cúc / tần ô, rau ngổ / ngò ôm, rau xà lách, rau càng cua, rau tía tô, rau kinh giới, rau diếp cá, v.v. Nếu có giai nhân nào lúng liếng thách cưới, đòi hỏi cây rau đủ sức làm đình, thì tôi vui vẻ đáp ứng nàng bằng thứ rau biệt lệ: rau sắng. Vậy là... song hỷ. Bởi cây rau sắng thân mộc, đường kính gốc có thể quá 30cm, độ cao có thể vượt 20m. Gỗ cây này vàng ngà, được dùng làm đũa cả, thước kẻ, khay, mâm, bàn, tủ; cây lâu năm thân to dài thì thoải mái dựng cột làm đình để mình lấy ta như ca dao mai mối.

Cây rau sắng rụng hết lá dịp cuối đông, đoạn đâm chồi nẩy lộc khi xuân đến. Hội chùa Hương trải dài từ mùng 6 tháng giêng đến hết tháng 3 âm lịch, ấy là mùa thu hoạch rau sắng bao gồm đọt, lá non, và rồng rồng tức cọng hoa lấm tấm trắng muốt rất thơm, thêm quả non nữa. Cây trên 3 tuổi mới được thu hoạch, và mỗi đợt cách nhau chừng 1 tháng. Muốn hái rau sắng, tất nhiên lâm dân phải leo trèo. Sang mùa hè, những cây sắng cái / sắng nếp trổ quả chín vàng thành chùm lúc lỉu thì tạm ngưng việc hái rau sắng.

Gồm 18 đền chùa nằm rải rác ở địa bàn xã Hương Sơn, quần thể di tích chùa Hương được chia thành 4 khu vực: Hương Thiên, Thanh Vân, Long Vân, Tuyết Sơn. Tại đây, lâu nay nổi lên những "đại gia" nhờ tập trung canh tác rau sắng. Như ông Trịnh Văn Tiết cùng vợ và 3 con chăm sóc 6.000 gốc sắng trồng nơi trang trại rộng 3ha nằm sâu trong cánh rừng ven khu di tích Phong Vân. Hoặc ông Trần Văn Đáng sở hữu 5.000 gốc sắng nơi thung Gạo, dưới chân chùa Hinh Bồng. Nhằm phát huy lợi ích kinh tế từ cây rau sắng, cuối năm 2001, UBND xã Hương Sơn đã trân trọng mời GS.TS. Vũ Tuyên Hoàng (1939 - 2008) giúp nghiên cứu ghép mô cây rau "siêu sạch" này. Hiện dự án phát triển cây rau sắng tại xã Hương Sơn đã triển khai trên vùng đất rộng 15ha, tạo công ăn việc làm ổn định cho 300 gia đình. Rau sắng loại 1 được đóng gói và bày bán trong một số siêu thị, mặc dù giá cao - mỗi kg những 300.000 đồng - nhưng cung vẫn chẳng kịp cầu.

Thức ăn thượng hảo hạng

Chất chứa hàm lượng protid và acid amin cao hơn hẳn nhiều loại rau khác, rau sắng đạt ngôi quán quân về ngọt ngào, ngon lành, thơm tho, bổ dưỡng. Sách Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược do Phạm Thiệp, Lê Văn Thuần, Bùi Xuân Chương hợp soạn (NXB Y Học, Hà Nội, 2000) cho hay: "Trong 100g rau sắng có khoảng 6,5 ~ 8,2g protit, 0,23g lysin, 0,19g methionin, 0,08g tryptophan, 0,25g phenylanalin, 0,45g treonin, 0,22g valin, 0,26g leucin và 0,23g isoleucin, 11,5mg vitamin C, 0,6mg caroten, v.v."

Nhờ thành phần dinh dưỡng tốt, rau sắng được dân gian ưu tiên bồi dưỡng cho trẻ em, sản phụ, người vừa ốm dậy.

UserPostedImage

Thời kỳ kinh tế khó khăn, bộ đội từng hái rau sắng, phơi khô, đợi nấu canh các thứ rau củ khác thì nêm nhúm rau sắng khô nhằm thay mì chính / vị tinh / bột ngọt. Bởi thế, rau sắng còn mang tên gọi vui: rau mì chính.

Rau sắng thường được chế biến món canh nóng sốt. Có thể nấu phối hợp với một trong các nguyên liệu: thịt lợn / heo, gà, tôm, cá rô, cá quả / tràu / lóc. Cũng có thể nấu canh suông, chỉ nêm tí muối, chừng đó thôi vẫn đủ giúp thực khách hân hoan cảm nhận vị ngọt bùi cùng mùi hương thoang thoảng quá đặc trưng của rau sắng. Những người rành rẽ lại bảo rằng để bát canh rau sắng đạt chất lượng như ý, chớ sử dụng nước máy và nước giếng khoan, mà nên múc nước sông, nước suối, tốt nhất là dùng nước mưa.

Trẩy hội chùa Hương dịp đầu xuân Nhâm Tuất 1982, lần đầu tiên tôi nếm bát canh rau sắng, bỗng Hà Nội dáng kiều thơm (thơ Quang Dũng) cùng đi chất vấn:

- Anh thấy thế nào nhỉ?

Tôi tán thưởng:

- Ngậm mà nghe.

Về sau, những lần ghé chơi bầu trời, cảnh bụt (chữ của Chu Mạnh Trinh chỉ Hương Sơn), tôi đều nhâm nhi đặc sản Hương Tích, luôn luôn nhớ rau sắng.

Rau sắng ngoài chùa Hương

UserPostedImage

Như đã nêu, khá nhiều vùng núi đá vôi ở nước ta từ Bắc chí Nam có cao độ 100 ~ 200m trở lên so với mực nước biển cũng xanh tươi rau sắng. PGS. TS. Đỗ Xuân Thảo - Phó Giám đốc Trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Sư phạm Hà Nội - cười:

- Rau sắng chùa Hương nổi tiếng gần xa nhờ tôn giáo và du lịch. Chứ rau sắng vùng núi rừng huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, quá xuất sắc bởi sau khi nấu thì mềm mà dòn, lại lưu vị ngọt nơi đầu lưỡi khá lâu.

Với kiểu địa hình núi đá vôi cuối dãy Hoàng Liên Sơn, có lợi thế về độ ẩm, độ cao và thổ nhưỡng, Vườn quốc gia Xuân Sơn ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, được xác định là nơi có mật độ cây rau sắng nhiều nhất nước ta. Năm 2004, Vườn thu hái được 700 quả sắng chín, gieo ươm nên 10.000 cây giống. Năm 2005, số lượng thu hái lẫn giao ươm tăng gấp 10 lần. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc / United Nations Development Programme (UNDP) đã tài trợ ngân khoản 2,4 tỉ đồng cho Vườn quốc gia Xuân Sơn trồng 50ha rau sắng. Từ đó, bằng cách tuyên truyền vận động và cung cấp giống cùng những kỹ thuật canh tác cần thiết, nhân dân - kể cả đồng bào Mường và Dao - liền biết lợi ích nên mỗi hộ nhận trồng rau sắng từ 0,5ha trở lên, nhờ thế Vườn phát triển diện tích trồng rau sắng lên gấp đôi, tức 100ha, vào năm 2010. Đồng thời, Vườn quốc gia Xuân Sơn còn chuyển giao công nghệ để tỉnh Lâm Đồng ươm trồng rau sắng thử nghiệm trên mặt bằng 1.000m2 thành công bước đầu rất đáng phấn khởi.

UserPostedImage

Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Sơn là kỹ sư Trần Đăng Lâu tiết lộ:

- Bí quyết siêu đẳng nhé: hứng nước nhỏ từ loạt thạch nhũ trong các hang động mà nấu canh rau sắng, đảm bảo tuyệt vời cực kỳ!

Nhà giáo Lại Thị Bích Tuyết - gốc gác Phú Thọ, lâu nay giảng dạy tại Vĩnh Long - vui vẻ góp chiêu:

- Hái quả sắng chín, tách vỏ, lấy hạt ninh với xương trong nước thạch nhũ, rồi nấu canh rau sắng, ấy dà, trên cả tuyệt vời!

Tôi thêm:

- Dùng rau sắng hấp cơm, hoặc chưng cách thuỷ, gắp chấm với tương Bần Yên Nhân (Hưng Yên) hoặc nước mắm Phú Quốc (Kiên Giang), chao ôi là đáo khẩu!

Theo tôi biết, đầu bếp khéo léo còn dùng rồng rồng kết hợp đọt sắng non to mập, xào với thịt bò đã ướp gừng và tỏi, rồi gia thêm hạt tiêu cùng quả ớt, tạo nên thức nhắm thơm-ngon-đẹp giúp dịp trẩy hội mừng xuân càng thêm hào hứng.

Đã đăng:

- Thế Giới Mới 874 (8-3-2010)
- Kiến Thức Ngày Nay 740 (1-3-2011

Mắt Buồn  
#44 Posted : Thursday, October 7, 2021 1:02:35 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Bùi Giáng, Đại Lão Cái Bang


UserPostedImage

Vương Trùng Dương

August 15, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

Lời Tác Giả: Bài viết Bùi Giáng, Ðại Lão Cái Bang cho Giai Phẩm Xuân Bính Tý (1996) của tuần báo Tình Thương của nhà văn Lâm Tường Dũ (hiền thê của anh, bà con với Bùi Giáng) gợi ý tôi viết bài nầy để có món quà kỷ niệm người anh vào tuổi thất thập. Nhờ tài liệu của anh Bùi Như Hải lưu trữ hỗ trợ cho bài viết.

Sau khi Bùi Giáng qua đời (tháng 10 năm 1998) có nhiều bài viết cũng tựa đề nầy vì hình ảnh và cuộc sống cá biệt của ông tựa như nhân vật trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung trong Võ Lâm Ngũ Bá đến Anh Hùng Xạ Điêu… Bang chủ Cái Bang đời thứ 18 xuất hiện trong chốn võ lâm. “Lão ăn mày” ăn mặc rách rưới, võ công thâm hậu, thích rượu, lúc say, lúc tỉnh, khi tĩnh lặng, khi ồn ào náo nhiệt giữa đám quần hùng. Con người như vậy nhưng hành hiệp đạo nghĩa, bệnh vực kẻ yếu, trừ ác gian tà.

Ở Sài Gòn, khi chính quyền ban hành “Sắc Luật 007” để kiểm soát báo chí, Hội Chủ Báo, Hội Ký Giả Việt Nam, Hội Ký Giả Nam Việt và Hội Ái Hữu Ký Giả xuống đường ngày 10/10/1974 “Ký Giả Đi Ăn Mày” tại Sài Gòn. Lợi dụng thời cơ, phần từ năm vùng, phản kháng, a dua bị gậy phản đối chính quyền. Từ đó, hình ảnh “cái bang” trở thành quen thuộc.

Nay, với tuyển tập về Quảng Nam, dù 25 năm trôi qua (1996-2021) nhưng với nhân vật Quảng Nam nổi tiếng trong nhiều lãnh vực thơ văn, dịch giả và triết học: Bùi Giáng. Con người bất hạnh trong cuộc sống nhưng sáng tác của ông là gia tài quý báu trong dòng sinh mệnh văn học của miền Nam Việt Nam
— VTrD

“Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Bên đời đi còn giữ mãi hay không
Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại
Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng”(Bùi Giáng)

Bước vào năm Bính Tý (1996), Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dãi nắng, bữa đói bữa no gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn còn sáng tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng. Ông ký nhiều bút hiệu, trong đó có: Trung Niên Thi Sĩ, Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bàng Giúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng (truyện dịch Khung Cửa Hẹp, Hoàng Tử Bé)…

Trong sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại từ trí tuệ đến con người, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Tình yêu (nếu có) dù dơn phương cũng là hiện tượng. Chữ nghĩa, tư tưởng Bùi Giáng có sẵn trong đầu, khi yêu cầu bài viết, lấy giấy viết ngay. Hiện tượng Bùi Giáng.

Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê bình văn học, triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca.

Ngược Dòng Thời Gian

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam. Thân phụ là ông Bùi Thuyên, thường gọi là Cửu Tý. Ông Cửu Tý thỉnh thoảng bị bệnh “điên” và khi “điên” thì làm bộ cưỡi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc thơ, làm câu đối thích chọc ghẹo cô gái cho vui. Ông Cửu Tý lấy người vợ kế Huỳnh Thị Kiền, sinh ra Bùi Giáng. Theo thứ tự trong gia đình, ông thứ sáu nên gọi là Sáu Giáng. Nhà thờ Tộc Bùi với gia phả ghi lại nơi đây và sau này có thêm ở Sài Gòn.

Năm 1933 bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu với thầy Cù Đình Quý. Năm 1936 học ở trường làng Bảo An với thầy Lê Trí Viễn. Tiếp tục theo học tiểu học ở Hội An, Quảng Nam rồi sau đó chuyển sang học trung học ở Thuận Hóa, Huế. Năm 1945 đậu bằng Thành Chung (Văn bằng này thời đó gọi là Cao Đẳng Tiểu Học, tiếng Pháp là Diplôme d’Etudes Primaire Superieur Franco-Indigènes, còn gọi là Brevet Primaires, người Việt thường gọi là bằng Thành Chung, bằng Diplôme).

Trong năm này, ông 19 tuổi, cưới vợ là bà Phạm Thị Ninh, gọi là Vãn Ninh, rất xinh, con ông bà Phán Trai ở Hội An.

Thời điểm nầy, tình hình biến động, ông đưa vợ về quê sinh sống, nhưng tai họa ập đến, vợ qua đời! Ông đau khổ, chán chường rời cố hương. Thiên tình sử của ông rất đặc biệt. Khi còn học ở trường Viên Minh, Hội An. Nữ sinh Phạm Thị Ninh, học sau ông một lớp, nổi tiếng xinh đẹp, quen biết nhau rồi cưới làm vợ tại Hội An. Năm 1945 gia đình bà Phạm Thị Ninh tản cư lên Trung Phước, ông đem vợ lên rồi mua một đàn dê để đi chăn. Ông nuôi dê để rong chơi và còn đặt tên cho mỗi con dê rất kỳ lạ.

Theo nhà thơ Tường Linh, học trò học tiếng Pháp của Bùi Giáng, vào một buổi sáng, trời mưa dầm dề, Bùi Giáng đang ở trên núi thì nghe tin vợ mình qua đời. Ông hốt hoảng chạy ra ngoài trời và vấp vào một gốc cây, ngã xuống bất tỉnh. Người vợ mà ông rất yêu thương, sau này ông thường gọi là “con mọi nhỏ”, bị bạo bệnh và mất vào năm 1952, lúc mới 26 tuổi. Ông thôi hẳn việc chăn dê, chia tay hẳn với cỏ hoa hồn du mục để xuôi về phố thị rộn ràng.

Năm 1950 ông đỗ Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie). Ông ra Liên Khu IV (Thanh Nghệ Bình Trị Thiên) theo học đại học nhưng khi nghe Viện Trưởng đại học đọc diễn văn, ông bỏ ý định theo học và theo đường núi Trường Sơn trở lại cố hương. Tháng 5 năm 1952, ông ra Huế thi lấy bằng tú tài tương đương cho hợp lệ.

Theo lời người bào đệ, cùng cha khác mẹ, ông Bùi Vịnh, trong ngày Hội Thi Văn & Tư Tưởng Bùi Giáng ngày 21 tháng 10 năm 1995 tại Majestic, Huntington Beach, California, Bùi Giáng “Có vợ vào lúc còn rất trẻ, sau năm 1945. Nhưng vì đi tản cư ở vào những nơi rừng thiêng nước độc, người vợ trẻ đã qua đời sau cơn bạo bệnh”. Ông chung tình chung nghĩa với “mộng ban đầu”, suốt nửa thế kỷ ôm vọng tưởng, điên loạn bởi “hồn nguyên tiêu” bao nhiêu hình ảnh mang dáng dấp của người tình muôn thuở vào cõi thiên thu, ngôn ngữ Bùi Giáng trở thành kỳ bí.

“Vào tháng Năm 1957, ông quyết định bỏ vùng Việt Minh trốn qua vùng Quốc Gia. Và tại Huế, ông thi lại bằng Tú Tài tương đương, rồi vào Sài Gòn, ghi danh vào đại học Văn Khoa. Cả lần này nữa, sau khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy, ông đã quyết định chấm dứt việc học ở trường của mình tại đây. Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác và đi dạy học ở các trường trung học tư thục…” (Bùi Vịnh).

Với dòng tộc Bùi lúc đó nổi danh với Bác Sĩ Bùi Kiến Tín, trưởng nam của ông Bùi Biên (ông Cửu Thứ) và bà Phan Thị Yến. BS Tín tham gia vào nội các của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm với chức vụ Bộ Trưởng Bộ Thông Tin (1954). Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thiết lập, ông không tham chính và phục vụ trong quân đội với cấp bậc Y sĩ Trung Tá, sau đó giữ chức Y sĩ Trưởng Phủ Tổng Thống và Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống (1960). Bùi Giáng đã tham gia trong thời kỳ Việt Minh nhưng có lẽ “cái bóng” của người anh bà con nên chính quyền không theo dõi ông nhưng ông nhờ vả gì vào “cái bóng” để lập thân.

Ông có năng khiếu về ngoại ngữ, tinh tường về Anh, Ðức, Pháp và Hán văn, không biết ông theo học tiếng Ðức và tiếng Anh lúc nào nhưng khi nghiên cứu triết học Ðức, thơ văn Anh Mỹ, ông dịch và viết rất tài tình. Ông có trí nhớ kỳ lạ và “trí quên” rất độc đáo. Quên của ông cũng là hiện tượng và có lúc không biết gì cả, cùng với cử chỉ, hành động kỳ quái, người điên thời đại.

GS Vũ Ký, thầy dạy của ông, trong bài “Nhớ Về Ba Người Em Lỗi Lạc” trong Giai phẩm Quảng Ðà 94 “Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi học ở Hội An, rồi lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương ở Trung Phước, miền rừng núi xứ Quảng. Theo nhiều người cho biết, Bùi Giáng nghêu ngao làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc tôi gặp lại ở Sài Gòn thì Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ỏ ngõ hẻm Trương Minh Giảng và Bùi Giáng cũng vừa mới in xong mấy cuốn sách giáo khoa”.

“Với Tất Cả Bùi Giáng” của Trần Phong Giao, Bùi Giáng “Lập gia đình năm 18 tuổi, nhưng không được hưởng hạnh phúc bao lâu vì chiến tranh và nạn lụt đã cướp mất vợ và hai đứa con thơ của ông”.

Ðó là mốc thời gian tuổi niên thiếu của ông được đề cập qua ba người có liên quan với ông nhưng đã khác nhau. Theo sự ghi lại của “người thầy cũ và cũng là người anh” thiếu chính xác thời điểm quan trọng trong giai đoạn trong 9 năm “kháng chiến” đã ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia “kháng chiến”, theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế, ông ngán ngẫm, gặp bất hạnh trong tình yêu, tâm hồn điên loạn…

Sau 3 năm “chia cắt” đất nước, phân ranh Quốc/Cộng, ông mới chọn lựa quyết định ranh giới giữa 2 miền. Bài thơ “Nỗi Lòng Tô Vũ” của ông đã ghi “Kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt”.
Không bao giờ muốn và để ai đề cập “tiểu sử”, theo ông “Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ, gay cấn”. Và hai câu thơ của ông: “Người điên mang một nỗi buồn. Chưa bao giờ biết cội nguồn từ đâu” để trả lời với tha nhân. Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu văn học cần phải tìm hiểu chính xác, nhìn lại Văn Học Việt Nam, ông là khuôn mặt đặc biệt trong văn giới. Từ tuổi thơ đến thời điểm “tam thập nhi lập” (1926-1956) trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, nỗi đau tột cùng trong tình yêu. Vì vậy, trước năm 1975, nhiều cây bút viết về tư tưởng, thơ văn Bùi Giáng nhưng không đề cập về “tiểu sử” nên có nhiều nghi vấn cùng với giai thoại quanh ông.

Tháng 5,1973, Mai Thảo và Nguyễn Xuân Hoàng của tờ Văn thực hiện “Số báo đặc biệt về thiên tài thi ca Bùi Giáng”, 10 câu hỏi của Nguyễn Xuân Hoàng về Bùi Giáng có tính cách khác lạ và cả hai cùng hỏi và nói “Chuyện rong chơi”. Nhận định thơ văn của ông với Thanh Tâm Tuyền, Nam Chữ, Trần Tuấn Kiệt, Tuệ Sĩ… Với ông, sáng tác chẳng có liên quan gì với tiểu sử, trong thơ đã chứa đựng đoạn đường trải qua.

Có nhiều tác phẩm đã đề cập đến ông, điển hình như Cao Thế Dung với Văn Học Hiện Ðại: Thi Ca & Thi Nhân; Năm Sắc Diện, Năm Ðịnh Mệnh của Du Tử Lê; Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ; Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại của Trần Tuấn Kiệt…

Sau tháng Tư năm 1975, cái bang Bùi Giáng với nhiều giai thoại và mỗi giai thoại nói lên cái điên, cái tỉnh trong cảnh khốn cùng của xã hội. Một Bùi Giáng quằn quại, một Bùi Giáng ngông nghênh, một Bùi Giáng vào tù ra khám… và một Bùi Giáng cuồng sĩ bất khuất.

Tác Phẩm

Gần hai thập niên ở Sài Gòn, tác phẩm của ông với số lượng đáng kể:
◾Sách Giáo Khoa, Luận Đề: ◾Bà Huyện Thanh Quan, 1956
◾Lục Vân Tiên, 1956
◾Chinh Phụ Ngâm & Quan Âm Thị Kính, 1956
◾Truyện Kiều & Truyện Phan Trần, 1957
◾Cung Oán Ngâm khúc, 1957
◾Nguyễn Công Trứ, 1957
◾Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, 1958
◾Phan Bội Châu, 1958
◾Chu Mạnh Trinh, 1958
◾Tôn Thọ Tường & Phan Văn Trị, 1958…

◾Sách Dịch:◾Cõi Người Ta của Saint-Exupéry, 1966
◾ Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, 1966
◾Khung Cửa Hẹp của A. Gide, 1966
◾Hoa Ngõ Hạnh của Shakespeare, 1966
◾Bạo Chúa Caligula của Albert Camus, 1967 – 1974
◾Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh, 1967
◾Ngộ Nhận của A. Camus,1967
◾Con Người Phản Kháng của A. Camus, 1968
◾Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968
◾Kẻ Vô Luân của A. Gide, 1968
◾Orphélia Hamlet của Shakespeare, 1969
◾Hòa Âm Ðiền Dã của A. Gide, 1969
◾Sương Bình Nguyên của các tác giả Âu Mỹ, 1969
◾Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery, 1973
◾Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval, 1974…

Ông dịch rất thoáng, có khi không theo nguyên tác mà theo ý văn để diễn đạt. Còn sáng tác thơ tặng tác giả. Ông dịch Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh để học thêm chữ Hán. Tác phẩm Nhà Sư Vương Lụy của nhà văn Trung Hoa, nhà sư tên là Tô Mạn Thù (Su Manshu), Bùi Giáng dịch từ nguyên tác, Quế Sơn xuất bản năm 1969. (Có bản dịch sang tiếng Anh The Lone Swan của Geoege Kin Leung
◾Sáng Tác:◾Thơ: Mưa Nguồn, 1962
◾Ngàn Thu Rớt Hột, 1962
◾Bài Ca Quần Ðảo, 1962
◾Lá Hoa Cồn, 1963 – Màu Hoa Trên Ngàn, 1963
◾Sa Mạc Trường Ca, 1969
◾Rong Rêu, 1970
◾Ðêm Ngóng Trăng, 1972…

◾Biên Khảo, Tạp Văn, Tùy Bút:◾Tư Tưởng Hiện Ðại, 3 quyển, 1960 & 1962
◾Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại, 2 quyển, 1963
◾Sao Là Không Có Triết Học Heidegger, 1969
◾Ði Vào Cõi Thơ, 1969
◾Thi Ca Tư Tưởng, 1969
◾Sa Mạc Phát Tiết, 1969
◾Sương Bình Nguyên, 1969
◾Trăng Châu Thổ, 1969
◾Mùa Xuân Trong Thi Ca, 1969
◾Thúy Vân, Tam Hợp Ðạo Cô, 1969
◾Mùa Thu trong Thi Ca, 1970
◾Biển Ðông Xe Cát, 1970
◾Ngày Tháng Ngao Du, 1971
◾Ðường Ði Trong Rừng, 1972
◾Lời Cố Quận, 1972
◾Lễ Hội Tháng Ba, 1972
◾Con Ðường Ngã Ba, 1973…

Năm 1965 nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông. Năm 1969 ông “bắt đầu điên rực rỡ” nhưng được các nhà xuất bản in nhiều tác phẩm nhất. Sau đó, ông “lang thang du hành Lục Tỉnh”, trong đó có Long Xuyên, Châu Đốc… cho thỏa ý nguyện. Thầy Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, rất thân với Bùi Giáng và lo ấn hành tác phẩm. Nói đến Bùi Giáng, con người nhập tâm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Có lần ông dạy Việt Văn, khi đề cập đến Thúy Kiều bán mình chuộc cha, ông khóc nức nở. Ngay trong tác phẩm viết về triết học, ông cũng dẫn chứng tư tưởng đó có trong thơ Kiều. Và, trong các tác phẩm Âu Châu qua bản dịch của ông cũng thấp thoáng “hồn Nguyễn Du”. Với những tác phẩm được ấn hành, tuy có nhiều tiền tác quyền nhưng ông “thú vui kẻ sĩ” không lưu giữ, “nướng” cho thú vui trong lối sống giang hồ bạt mạng trên đường phố…

Năm 1970, Bùi Giáng phải đưa vào chữa trị ở nhà thương điên Biên Hòa. Khi vào bệnh viện ông đối đáp với bác sĩ nên không biết đâu là “trí óc rối loạn”. Và trong năm đó, ông đã cho in Biển Đông Xe Cát và Mùa Thu Trong Thi Ca. Kế tiếp với những tác phẩm cho đến năm 1973… (Theo người bạn thâm niên Bùi Như Hải thì dòng họ anh có vài người bị bất thường “điên” nhưng chỉ khoảng thời gian nào đó thôi, và thường tái phát vào mùa hè, trời nóng bức).

Sau biến cố tang thương năm 1975, Bùi Giáng điên nặng. Cái điên vì thời cuộc của ông “hành khất Cái Bang” được ghi lại với nhiều giai thoại. Vừa điên vừa khôn trong “bức tranh vân cẩu” vừa thương ông vừa nể phục. Từ đó, Bùi Giáng sống lang thang bên lề xã hội!.

Người điên Bùi Giáng cũng bị nhốt 3 tháng ở trại giam Gia Ðịnh. Ông bất chấp tất cả. Ông gọi mày tao khi bị hỏi cung, thản nhiên với thức ăn “cặn bả” của con người mà không bị nhiễm trùng. Thế rồi, tháng ngày sau đó, theo Phạm Xuân Ðài “Cuộc sống của anh tại Sài Gòn hiện nay là của một cuồng sĩ, khi thì thu mình trong túp lều của anh tạ một khu vườn bên Gia Ðịnh, khi thì lang thang vô định trong cơn điên… Ði lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đã làm được”. Thế nhưng “Bùi Giáng như một ngọn lửa cháy liên tục mấy mươi năm nay trong thế giới thơ ca – của anh và của chúng ta. Ngọn lửa có khi thu lại thành một đám nhỏ, có khi bùng lên dữ dội, có khi bị gió bão lắt lay, nhưng vẫn là nguyên một ngọn lửa ấy từ đầu cho đến bây giờ”.

Hình ảnh ông già tuy mới năm mươi lúc đó, mặc quái dị, đủ màu sắc, đeo đủ thứ, tóc tai dài phủ ót, rối bù, mang kính cận thị nặng, cầm một cái gậy múa may quay cuồng trên đường…

Nơi nào ông xuất hiện, đám đông vây quanh, nhất là trẻ con bu quanh “diễn viên Cái Bang” náo nhiệt. Ông xuất thần với những câu thơ, được truyền tụng lại, thật hư không biết nhưng cái điên của ông mới bạo gan chửi chế độ như vậy. Từ đó “Cái Bang 9 túi” lang bạt suốt hai thập niên. Bất kể mưa nắng, màn trời chiếu đất, thân xác gầy còm… thế mà sống thọ qua tuổi thất thập.

“Có hôm gặp ông ngoài đường. Ông mặc quân phục chế độ cũ, lon lá huy chương đầy mình. Mọi người sợ hết hồn, vì thời gian ấy các sĩ quan chế độ cũ phải lên đường đi học tập cải tạo kẻ nào trốn cũng khó thoát khỏi lưới tình báo nhân dân” (Nguyễn Thụy Long – Giữa Đêm Trường).

Ông cũng tự giải thích:

|“Tôi điên là bởi tôi điên
Cầm tay cô hỏi cho phiền lòng nhau
Tôi điên từ trước đến sau…”(Bùi Giáng, “Thơ Bùi Giáng, hải ngoại 1990”)

Sống chết với ông như lời tự nguyện:

“Hãy mang tôi tới giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một chiều khe nương”(Sa Mạc Trường Ca, 1969)

Tại hải ngoại, có 3 tuyển tập về thơ Bùi Giáng sáng tác vào sau năm 1975:
◾ Thơ Bùi Giáng, năm 1990, nhóm Việt Thường ở Canada thực hiện, gần 200 bài thơ.
◾ Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ 1994, Phạm Xuân Ðài thực hiện, gồm 106 bài thơ.
◾ Thơ Bùi Giáng, California 1995, Bùi Vịnh & thân hữu thực hiện, gồm 81 bài thơ, tranh bìa “Thiếu Nữ” do Bùi Giáng vẽ.

Suốt 4 thập niên, Bùi Giáng đã cống hiến cho đời, cho nền Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam thật nhiều tác phẩm gồm đủ mọi thể loại. Một con người không có nơi nương tựa ổn định, thể chất gầy gò, bệnh tật, tâm tính lúc bình thường khi điên loạn mà tạo dựng “kho tàng quý báu” cho Văn học Việt Nam, điều rất lạ, không thể hiểu được.

Ngôn Ngữ & Cuộc Sống

Gần gũi, tiếp xúc với Bùi Giáng, mỗi lần, có thể nói giai thoại về ông, thương mến, cảm quý con người tài hoa nhưng sống đầy khổ hạnh.

Viết về Bùi Giáng, với Mai Thảo: “Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương… Sự hình thành một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn còn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đã là của nó… Bùi Giáng đã đem lại cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận”.

Thế mà, chân dung, đời sống của nhà thơ “Mái tóc ông đổi màu. Mấy chiếc răng cửa bị gãy, nụ cười vừa trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hoắm xa khuất dần với mọi hình hài thực tế… Ông ấy chỉ còn da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy… Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuỗi toàn giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một vòng gai quái dị, đám con nít reo hò chỉ chỏ người điên, người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại ô thành phố, ăn chay niệm Phật cả ngày không nói”. Bùi Giáng cũng tạo được một cái lạ mà theo tôi là một cái ngang…

“Trần gian lắm kẻ không cơm áo Mà con thờ thẩn cứ nhìn trăng.”Bùi Giáng có cái giọng bạt đó và cái giọng bạt đã ảnh hưởng vào âm vận của thơ Giáng” (Uyên Thao – Thơ Việt Hiện Ðại).

Nhà giáo Vũ Ký, vị thầy của bộ ba Bùi Giáng, Tạ Ký, Nguyễn Thùy từ lúc ở cố hương đến khi cùng làm thấy giáo tại Sài Gòn, viết nhiều giai thoại về Bùi Giáng, một Bùi Giáng thông minh, tài hoa, điên khùng, lang bạt… một Bùi Giáng với tình yêu ảo tưởng trong thơ văn và một Bùi Giáng lãng mạn với bóng hồng ở tuổi 60. Không hiểu vì cơn gió nào, bỗng nhiên có hai cô, một cô là ÐNLH (giáo viên trung học, người Huế) và một cô là HHTV, cháu của nhà văn Cung Giũ Nguyên xách đồ đạc đến nhà Thùy ở luôn 2 tháng. Thùy là bạn học, đồng hương với Bùi Giáng, thường gặp gỡ nhau. (Bùi Giáng, Tạ Ký và Nguyễn Thùy gặp nhau thì “Quảng Nam hay cãi” tuy bất đồng nhưng không bất hòa, rất chân tình, quý mên nhau). Thế rồi cô LH “Lại rất mến trọng Giáng, thường la cà với Giáng tại nhiều quán cà phê, nhiều lúc tình tứ khiến mọi khách trong quán rất ngạc nhiên”. Ðó cũng là một hiện tượng, thử tưởng tượng hình ảnh Ðại Lão Cái Bang ăn mặc rách rưới kỳ dị lại song bước cùng bóng hồng tuổi còn đôi mươi, tâm tình với nhau.

Bùi Giáng sống trong cảnh khốn cùng của tuổi già mà ông tự chọn vì không muốn liên lụy với người thân muốn lo cho ông. Khi tuổi già sức yếu ông đành tá túc tại nhà người anh em chú bác (Bùi Võ) tại Bình Thạnh, người thân lo chu đáo cho ông nhưng không thích bị gò bó trong nhà trước khi qua đời sau khi bị đột quỵ (stroke), sau những năm tháng sống “điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng). Thế nhưng, hơn hai thập niên ở trong nước đã có vài bài viết về ông với hình ảnh con người điên loạn, con người phản kháng sống bên lề cuộc đời! Những tác phẩm của ông bị chôn vùi theo thời gian trong cuộc sống tuổi già nhưng thơ văn của ông với người Việt hải ngoại vẫn giữ thế đứng trong nền Văn Học của đất nước. Văn Chương, Nghệ Thuật của ông như một cõi trời bao la, khác xa với tư tưởng của người cầm bút theo giáo điều chủ trương “hiện thực xã hội”!

Dẫn chứng vài cây bút tượng trưng viết về ông ở trên cho thấy con người của ông bất thường, đời sống của ông bất định, nay đây mai đó, ngôn ngữ của ông có lúc thật huyễn hoặc, kỳ bí, lúc thật bình dị, nhẹ nhàng, lúc thanh lúc tục. Quan niệm sáng tác của ông “chơi mà thôi”, chẳng có gì bận tâm, chẳng có gì để bàn. Cuộc đời của ông ở giữa trần thế chỉ là Ngày Tháng Ngao Du, rong chơi, ung dung tự tại.

Trước kia, Thượng Tọa Thích Minh Châu dành cho ông căn phòng ở đại học Vạn Hạnh, ông chỉ để sách vở rồi rong chơi đầu đường xó chợ, gặp đâu ngủ đó bất kể nắng mưa, đêm ngày. Sau này, thân nhân lo cho ông túp lều trong vườn ở Gia Ðịnh, căn phòng nhỏ trên lầu ở đường Trần Quang Diệu Sài Gòn, ông để đó, rong chơi dưới gầm cầu Công lý, vỉa hè.

Với ông, tư tưởng triết học của M. Heidegger, Nietzsche, thi ca của Holderlin, Walt Whitman, Emily Dickinson… Văn chương Pháp của A. Gide, St Exupery, A. Camus, văn chương Anh của Shakespeare… Ông chọn lựa và chuyển ngữ rất linh động, tài tình. Cuộc đời của ông điên, tỉnh, ông đã đề cập trong tác phẩm, tình yêu huyễn hoặc thấy bàng bạc trong thơ văn. Tư tưởng triết học, tư tưởng cao siêu của con người, theo ông, đều có đề cập trong Kiều của Nguyễn Du. Với Bùi Giáng, Truyện Kiều là một thứ “mê hồn trận thị phi”. Bùi Giáng tôn thờ Nguyễn Du và M. Heidegger như “thánh nhân tư tưởng”. Tác phẩm Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại dày hơn một nghìn trang là một công trình biên khảo triết học từ năm 1963, còn xa lạ với bộ môn nầy ở miền Nam VN. Đôi lần tôi hỏi anh Trần Văn Nam, sau khi tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Triết Học Tây Phương, vừa đi dạy, tiếp tục với luận án cao học về Hiện Tượng Luận từ quan niệm của Husserl được thay đổi bởi M. Heidegger, anh nói bộ môn nầy rất nhức đầu nhưng cũng từ tác phẩm của Bùi Giáng nên anh chọn đề tài cho luận án.
Sức sáng tạo của ông rất kỳ diệu. Như một tay võ công tuyệt luân khi xuất chiêu liên tục bất tận. Trong một đêm, ông viết cả trăm trang cho một tác phẩm. Gặp ông, hỏi thơ để đăng, ông sáng tác ngay tại chỗ, viết như đã nhập tâm từ trước.

Với năng khiếu về ngoại ngữ và cách học của ông, chọn tác phẩm để học, đọc, tra cứu. Biết hết chữ nghĩa của tác phẩm là biết được ngôn ngữ nước đó. Vì vậy, khi tìm hiểu M. Heidegger, ông học tiếng Ðức mới hiểu được tư tưởng. Văn chương Pháp, Anh, ông chuyển dịch từ nguyên tác. Chuyển ngữ lại từ tác phẩm được chuyển ngữ (không nguyên bản) thì không còn thoát được cái ý của nó. Chẳng hạn thi phẩm Ngàn Thu Rớt Hột của ông nghe rất văn chương bóng bẩy, đó là “hình ảnh cứt dê” bao năm ông gần gũi với nó trên núi rừng. Làm sao chuyển ngữ thoát được cái âm điệu, hình ảnh bóng bẩy đó được, hay thi phẩm “Lá Hoa Cồn”, ẩn ngữ bí hiểm.

“Bây giờ đành chịu chia xa
Em vào hang núi tôi ra hố ngàn
Gửi linh hồn lại nhân gian
Ôi người Hải Ngoại ôi nàng Phương Tây”.(Bây Giờ Còn Lại – Lá Hoa Cồn, 1963)

Có lần Huy Tưởng, nhà thơ Tam Kỳ, Quảng Nam, gặp và hỏi chơi với ông chuyện chăn dê có thi phẩm “rớt hột”, nghe nói ông có chăn bò ở quê đúng không? – Đúng! Đúng? đúng với cái đầu của họ. Rồi cười thoải mái, xem như hỏi chơi, nghĩ chơi, đáp chơi rồi thôi.

Nguồn thơ của ông dạt dào, bất tận, ông viết nhiều về hình ảnh ở quê hương, ở núi rừng Trung Việt. Ðiều bắt gặp trong thơ của ông với chữ Kim ở đầu. “Người tình trong thơ” Kim Novak, Kim Cương. Ngài ra với vài hình bóng các cô Kim… thấp thoáng:

“Ôi phương cảo! Ôi Kim Liên
Cảo thơm Kim Thúy diện tiền Kim Hoa!
Ôi Kim Ngọc! Ôi Kim Nga
Chắc gì mai hậu mà ra phụ lòng”.(Ra Hoa)

“Tuy nhiên hồn mộng chan hòa
Ðầu tiên Kim Thúy, Kim Hoa thập thành
Cuối cùng thừa thượng Kim Thanh
Ði về vô tận tập thành Kim Liên
Kim Nga, Kim Ngọc diện tiền
Ðầu sương cuối tuyết thần tiên bấy chầy”.(Cuối Ngày Em Ði)

Ông lang thang với thời gian quá dài cho một đời người, xem cuộc sống nhẹ như tơ hồng, xem cuộc đời ảo thật, thật hư, thế gian đảo điên nhưng đôi lúc tìm trong thơ ông mới cảm nhận được nỗi thống khổ thiết tha cho mối tình đầu đời đã hoài công tìm lại:

“Chắp tay tôi lạy ông trờiTìm người yêu giúp giùm tôi một lần”(Tìm Em)
Khi làm kẻ chăn dê và hình ảnh nơi cố hương được mô tả qua dòng thơ rất tuyệt:

“Ðồi tăm tắp chạy về ôm chân núi.San sát đồi phủ phục quấn núi xanh.Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối.Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanhThôi từ nay tha hồ em mặc sứcNhảy múa tung sườn núi vút giòng kheThôi từ nay tha hồ em mặc sứcVang vang lên đồi núi giọng be be”.(Nỗi Lòng Tô Vũ)

Và, trong khung cảnh đó, ông bày tỏ nỗi niềm cùng hình ảnh người yêu:
“Em nhớ hay không hồn hòa dại cỏNhững ngậm ngùi đầu núi canh khuyaVàng cao gót nai đầu truông hãi sợGió cây rung trút lá mộng tan lìa”(Nỗi Lòng Tô Vũ)

Ông lấy hình ảnh Tô Vũ đời Hán Vũ Ðế, đi sứ sang Hung Nô bị giữ lại và đày đi chăn dê gần hai thập niên. Vì vậy, nỗi lòng Tô Vũ là nỗi lòng của kẻ lưu đày giữa chốn trần gian.

Hình ảnh người vợ, người tình ban đầu, yêu thương say đắm, đã vĩnh viễn ra đi để lại cho ông nỗi thống khổ với tình, với thủy chung hình bóng cũ:

“Em chết bên bờ lúa Ðể lại trên đường mòn…… Ðêm cuồng mưa khóc điên Trăng cuồng khuya trốn gió…… Anh đi về đô hội Ngó phố thị mơ màng Anh vùi thân trong tội lỗi Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang”(Bờ Lúa – Mưa Nguồn, 1962)“Miền cát lạnh chân lạc đà bé bỏng Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm”.(Người Xưa – Mưa Nguồn)

Chỉ có Bùi Giáng và duy nhất chỉ có ông mới gọi những “bóng hồng” bằng mẹ. Hiện hữu hay ở phương trời xa xôi. Ông ngông đến thế, bỡn cột hay lòng thành kính, huyễn hoặc với ngôn ngữ thi ca, cũng là hiện tượng.
Phùng Khánh và Phùng Thăng là hai dịch giả nổi tiếng qua vài tác phẩm văn học, Phùng Khánh là ni sư giữa thập niên 60. Ông ngưỡng vọng hai dịch giả này:

“Mẹ còn nhớ nữa con chăng Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên… Phùng Thăng mẹ chớ xui nên Từng cơn điên dại khôn đền cho con”… “Con thương Phùng Khánh vô ngần Phùng Thăng thân mẫu cũng gần như nhiên”…
Có lúc Bùi Giáng gọi là mẫu thân Phùng Khánh, có lúc gọi là Trí Hải ni cô. Cùng lúc với Marilyn Monroe, Kim Novak, Kim Cương nương tử… nên ông yêu điên cuồng, nguyện làm đệ tử của thần ái tình.

Nhưng có khi ông coi mình như vị vua với người tình:

“Trẫm ghé thăm em một bận này
Mai sau Trẫm sẽ nhớ hôm nay
Một lần Trẫm ghé thăm em thế
Suốt một bình sinh Trẫm nhớ hoài”…

(Trẫm Ghé Thăm – Lá Hoa Cồn)
“Trẫm nhớ em như Nhớ một người Rất gần mà cũng Rất xa xôi”…
(Trẫm Nhớ Em – Lá Hoa Cồn)

Bất hạnh trong tình trường, ông rong ruổi trong nỗi bất hạnh đó qua ngôn ngữ bằng thơ, văn, bằng trái tim rướm máu, bằng tài hoa lỗi lạc của Bùi Giáng và có lẽ duy nhất với cái tên Bùi Giáng.

“Văn thơ cùng tư tưởng của Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước, đánh dấu một giai thoại về Bùi Giáng sống cùng những cái ‘điên loạn, ngông khùng’ của Bùi Giáng, cũng sẽ được nhắc nhở hoài trong văn chương, văn học” (GS Vũ Ký). Phải hiểu con người Bùi Giáng mới cảm nhận được ý thơ, văn và tư tưởng của ông, ông sáng tạo lúc tỉnh, ngao du lúc động để mãi mãi đi tìm hình ảnh xa thẳm, mịt mù! Hồn thơ luôn luôn chất chứa trong Bùi Giáng, bất luận ngày đêm, gặp đối tượng khơi động, dòng thơ tuôn trào. Tâm hồn Bùi Giáng chu du, mộng mị khắp bốn phương trời để “thơ và giai nhân” kết tinh thành “thiên cổ lụy” ngất ngây, nồng nàn, say đắm hòa cùng điên dại trong ngôn ngữ thi ca. Viết về bản thân, ông phơi bày cái tốt, cái xấu, khi tỉnh, khi điên… nhưng mọi người vẫn quý mến, thán phục tài năng của ông.

Với thi ca, nó nhập vào trái tim, tâm hồn, định mệnh ông khi điên, lúc tỉnh, khi hoan lạc, lúc khổ đau… Ý thơ, hồn thơ, chất thơ… của Bùi Giáng nếu đề cập không đơn giản qua bài viết, cũng vài trăm trang sách.
Một hình bóng, suốt cả cuộc đời trôi nổi với hệ lụy khổ đau, một nhân tài không bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh thoát, ông không quan tâm mọi người nhìn ông với đầu tóc bù xù, áo quần tả tơi, kỳ quái trên đường phố… mà tự bản thân ông cho mình rong chơi trong cõi ta bà mộng mị với “Ngày Tháng Ngao Du”…

Khi còn sống ở giai đoạn cuối đời, Bùi Giáng bị bỏ quên từ con người đến tác phẩm ở trong nước. Khi ông qua đời, nhiều người “làm văn tế ruồi” như Kim Cương với “nước mắt cá sấu” được báo chí tung hê. Tình đời là vậy! Bùi Giáng bỏ lại bao mối tình đơn phương cô độc để trở về với người vợ năm xưa nơi cố hương, vĩnh viễn bên nhau nơi cõi thiên thu.

Edited by user Thursday, October 7, 2021 1:09:25 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#45 Posted : Monday, October 25, 2021 1:37:57 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Nét Thiền Thi Trong Thái Tú Hạp


" Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương"
"To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving”
Kahlil Gibran

Ngày còn trẻ chúng ta thường có khuynh hướng thưởng thức thơ và sáng tác thơ theo sự rung động nơi con tim đầy nhiệt huyết, yêu đời, của lần đầu biết thế nào là vẻ đẹp của thiên nhiên, cái gì là mộng mơ ao ước và tại sao lại gọi là lãng mạn say mê? Nhưng khi chúng ta bắt đầu bước vào độ tuổi "Thất thập cổ lai hy" thì ta lại tìm về một thế giới thanh tịnh hơn để ngao du và thưởng ngoạn trong vườn thơ với những áng thơ nhẹ nhàng, thanh thoát và tĩnh lặng. Ấy chính là "Thiền thi".

Vậy Thiền thi tịnh tâm là gì?

Thiền thi là thể loại thi ca với nét thư thái tĩnh lặng, nhẹ nhàng của nét thanh tao tâm linh. Thiền (zh. chán 禪, ja. zen) là Thiền-na (zh. chánna 禪那, sa. dhyāna, pi. jhāna, ja. zenna, en. meditation), là thuật ngữ Hán-Việt được phiên âm từ dhyāna trong tiếng Phạn. Dhyāna là danh từ phái sinh từ gốc động từ √dhyā (hoặc √dhyai). Bộ Sanskrit-English Dictionary của Monier-Williams ghi lại như sau: To think of, imagine, contemplate, meditate on, call to mind, recollect.

Thiền trong triết học Ấn Độ dưới gốc tư duy, tập trung lắng đọng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là Tĩnh lự (zh. 靜慮). Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Đà-diễn-na (zh. 馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Thiền là sự kết hợp giữa thân thể và ý niệm trong thời gian-không gian hiện tại để nhận biết sự vật, hiện tượng và ý niệm.

Thiền thi Nhật ban đầu cũng chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa, nhưng đến thế kỷ thứ 17 thì thể thơ Haiku ra đời và phát triển mạnh vào thế kỷ thứ 19. Người sáng lập loại thơ này là Thiền sư Matsuo Basho. Năm 1680, Matsuo Basho viết bài thơ “Con ếch” theo lối Haiku, một thể thơ mới mở đường cho thể thơ Haiku. Các bài Haikai của Basho ngắn, gọn, súc tích từ chữ đến ý, nghiêm trang, chín chắn hơn để dần trở thành thể Haiku, nói lên cái quan niệm và ghi lại sự rung động của nhà thơ.

Fu ru i ke ya (Trong ao xưa)
Ka e ru to bi ko mu (Con ếch nhảy vào)
Mi zu no o to (Tiếng nước khua)

Haiku âm theo lối chữ Kanji (gốc chữ Nho) là bài cú. Chữ "hai" nghĩa là "bài", trong tiếng Hán Việt có nghĩa "phường tuồng". Chữ "ku" là "cú" hay "câu". Haiku là loại thơ độc đáo, rất thịnh hành của Nhật Bản và là loại thơ ngắn nhất trên thế giới. Một bài thơ theo thể thơ Haiku có ba dòng theo dạng 5-7-5, tổng cộng 17 âm. Tiếng Nhật Bản đa âm, nên mỗi dòng có thể có một, hai, ba chữ hay nhiều hơn. Haiku có biến thể là 5-7-6 hay 5-8-5, lên 18 âm trọn bài. Tiếng Việt đơn âm, nên mỗi chữ là một âm. Không cần vần điệu nhưng thơ Haiku là sự kết hợp giữa màu sắc, âm thanh, tượng hình có chọn lọc. Dù chỉ là một bài thơ ngắn gọn nhưng nhà thơ đã dẫn dắt chúng ta bước vào một cõi tư duy vô cùng bát ngát, một chân trời sáng tạo rộng mở mà người đọc cần có một sự tưởng tượng dồi dào phong phú. Ngày nay thơ Haiku không gò bó số chữ trong mỗi, không nhất thiết phải chấm, phết hoặc chấm phết tuỳ tiện, không cần đặt tựa, không bắt buộc phải có từ của mùa. Chỉ giữ lại hình thức 3 câu, và được đưa vào những từ ngữ chải chuốt, những ẩn dụ của cái hữu hạn và vô hạn...

Trong bài viết của giáo sư Michiko Yoshida nhận định về loại thơ thiền Haiku như sau: Ðó là nhìn sự vật đơn giản, thuần khiết, một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động, một tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người. Thi nhân ghi lại những bức xúc của mình đối với sự biến chuyển trong khoảnh khắc của thiên nhiên đang xảy ra. Haiku là một nghệ thuật tổng hợp tinh tế tuyệt vời giữa Phật giáo và Lão Giáo trong thế giới Thiền thi, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa ẩn dụ và phân tích, giữa thiên nhiên vũ trụ và nội tâm con người. Vạn vật và vũ trụ đều có nguồn gốc từ Đạo, theo sự sinh hóa vô thường và kiếp người cũng chỉ là phù sinh hư ảo. Điều nói ra được thì hữu hạn, mà ý lại vô hạn. Trong thơ Haiku có sự dung hợp giữa Thiền và Thơ, vì thơ biểu lộ tình cảm và thơ có thể tải đạo. Thơ Haiku đi từ một sự vật cụ thể thật nhỏ nhoi tầm thường, dẫn dắt người đọc đi vào cõi mênh mông bát ngát không hình tượng như một thiền sư đã nói, "Gom góp tất cả lời nói để hoàn thành một câu, vò cả đại thiên thế giới thành một hạt bụi". Nhà thơ William Blake cũng có nói : “Cả vũ trụ trong một hạt cát.” (a world in a grain of sand).

"Từ trong hạt bụi ngu ngơ ấy
Mưa nắng vô thường sây sát nhau."
Ðể người thơ đốn ngộ được:
"Từ trong hạt cát hằng sa đó
Vũ trụ Chân Như sáng nhiệm mầu ."

Sau đây là 3 bài đơn cử tiêu biểu cho thơ Haiku của người Nhật, tôi xin dùng ý thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan theo thể Haiku dạng 5-7-5 như sau:

Đèo Ngang bóng xế tà
Chân núi lác đác có mấy nhà
Nhớ nước kìa chim cuốc.

Bài thơ Haiku thứ hai mượn ý bài thơ “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư, dạng 5-3-5:

Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng
Đạp trên lá vàng khô.

Bài thơ thứ ba nguyên tác Pháp ngữ La dernière feuille của thi sĩ Théophile Gautier, được chuyển thể sang thơ Haiku dạng 4-2-4:

Khu rừng trơ trụi
Lá thu
Chiếc lá cuối cùng.

Đấy là 3 bài thơ Việt và Pháp nổi tiếng khi ta chuyển thể sang Haiku dạng thức Việt ngữ. Ý thơ haiku thiền tĩnh về thiên nhiên.
Vậy chúng ta có thể định nghĩa "Thiền thi" như sau: Thiền là sự bất động của "sáu căn" không phóng dật, không lôi kéo dính mắc bởi sáu pháp trần gian bên ngoài thân ngũ uẩn, gây nên sự ham muốn thích thú đam mê. Thiền (tĩnh lặng) là phép tĩnh tâm giúp loại trừ phiền não và khai mở tâm trí con người, gạt bỏ mọi tạp niệm để nhận thức bản ngã và thế giới xung quanh. Thiền thi không hẳn là chỉ nhắc vài từ ngữ nhà Phật là đủ mà nó còn phải chất chứa, ẩn dụ trong tư duy sâu thẳm, lối đi về thiên cổ vượt tới bến bờ Bát Nhã Chân Như.

Thi sĩ Thái Tú Hạp trong bài viết về “TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG THI CA VIỆT NAM” tháng Tám năm 2010, thi sĩ cho rằng tư tưởng Phật Giáo đã thấm nhuần trong tâm hồn Dân Tộc Việt, Đạo Phật đã gắn liền với giòng Văn Học và cùng với sinh mệnh thăng trầm của Dân Tộc đã gần hai mươi thế kỷ. Tư tưởng Phật Giáo đã hiện hữu trong mạch sống dân tộc ngay từ những khởi nguyên Trung Tâm Phật Giáo Luy Lâu do Ngài Mâu Tử đến từ Ấn Độ khởi dựng, phát huy song song với hai trung tâm Phật Giáo của Trung Hoa là Lạc Dương và Bành Thành, khoảng đầu kỷ nguyên Tây Lịch. Qua nhiều thế kỷ, Phật Giáo càng ngày càng phát huy rộng lớn, ngày nay, với thể tính triết học, khoa học, tâm lý nhân sinh. Tư tưởng Phật Giáo đã thấm thấu vào tâm hồn, hiện hữu trong đời sống của dân Việt, từ những câu kinh tiếng kệ, hồi chuông ngân, tiếng trống Bát Nhã, trầm hương nghi ngút trong tĩnh mịch trầm lắng.

Theo Nguyễn Vy Khanh, Thiền thi khởi đầu từ những bài thi phú của các Thiền Sư đời nhà Trần thuộc Trúc Lâm Yên Tử và được lưu truyền cho đến cuối thế kỷ thứ 19 và 20, văn học sử Việt Nam tiếp thu những giòng văn học của thế giới và ý thức mới về văn học nghệ thuật dân tộc. Nhưng các nhà văn, nhà thơ Việt Nam đã ảnh hưởng sâu đậm những chất liệu tinh hoa của Phật Giáo và được ghi nhận trong những tác phẩm của các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Võ Phiến, Mai Thảo, Du Tử Lê, Minh Đức Hoài Trinh, Duy Lam, Nguyên Sa, Nghiêu Minh, Nguyễn Mạnh Trinh, Luân Hoán, Vi Khuê…Văn học miền Nam thời 1954-1975 đã có những bài thơ Thiền của Quách Tấn, Hoài Khanh, Trụ Vũ, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Nhất Hạnh, Phổ Đức, v.v...Sau này, chúng ta thấy thơ Thiền xuất hiện mọi nơi, khi vui, lúc buồn, khi đau khổ và ngay cả nơi chốn lao tù như trong thơ của Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Xuân Thiệp, Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê, Thái Tú Hạp v.v...Vậy thì, có phải người ta sáng tác thơ thiền vì đó là một lối thoát giúp vượt qua sự khổ đau, để tồn tại hay để lưu giữ một hạnh phúc còn xót lại trong cuộc sống? Thơ Thái Tú Hạp bao gồm nhiều lãnh vực nhưng trong bài biên khảo này, Khánh Lan chỉ xin bàn về:

Thiền Tính Trong Thơ Thái Tú Hạp:

Thơ Thái Tú Hạp thuộc truyền thống mỹ học Thiền, một tổng hợp giữa thơ và thiền, của nhân tâm, của cõi Chân Như. Nét thiền tính trong thơ của Thái Tú Hạp qua những thi tập như Chim Quyên Lạc Đàn (1982), Miền Yêu Dấu Phương Đông (1987) và Hạt Bụi Nào Bay Qua (1995) cho thấy rõ nét uyên ảo, tôn kính, ông đã chọn ngôn ngữ cửa Phật và chốn tu hành để diễn tả ngôn ngữ nghệ thuật trong Thiền thi của ông. Điều này đã thể hiện rõ ràng qua những lời thơ sau:

“... chân tâm mãi hướng về.
Tiếng chuông còn vọng lạc
Bên vực đời u mê..."

Hay:

“…Nhất quán rồi- mộng mai sau,
Tâm vô lượng mở - có nhau luân hồi…”

Thế giới thiền thi của Thái Tú Hạp chất chứa đầy tính thiền qua những chữ Luân Hồi, Bồ Tát, Tiếng chuông, phù vân, vô ngã, cõi tạm, hư ảo, vô thường, v.v…Với ông, sự sống, hơi thở, tâm hồn hầu như được thoát ra khỏi mọi ràng buộc trong một tinh thần phá tâm vọng ngã bởi cuộc sống rất ngắn ngủi, cái chết chẳng đợi ai, nên hãy an trú trong hiện tại. Có lẽ với ông, trạng thái Niết Bàn là hạnh phúc tìm thấy, tìm về cõi “Nguyên xuân” của kiếp người, quay về với tự thân của cuộc sống đời thường, thích ứng với giáo lý của nhà Phật: “Tâm viên, ý mã”. Chắc hẳn Thái Tú Hạp đã nhận chân ra được chỉ có hạnh phúc thật sự là ở trong tâm nên ông đã sống một cuộc đời không bon chen, không danh lợi, ông tìm vui trong những gì đơn sơ giản dị, một cõi thơ lắng dịu, một chút tư duy.

“..Gió cát ngàn dặm xa, ta làm thân mục tử
Ngủ say trên đồi hoa, bỏ quên đời hư ảo...”

Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Thi sĩ Thái Tú Hạp đã rất khéo léo vận dụng ngôn ngữ của Phật giáo vào trong thơ của ông, trở lại quê nhà ở đây không khác là trở lại với chân tâm, chính nơi đây mới là hạnh phúc và giá trị của hạnh phúc. Theo quan niệm của đạo Phật, cuộc sống của một kiếp người là đau khổ, với sinh lão bệnh tử ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc…Thế gian là cõi tạm, cuộc sống là vô thường, biến hoại, không hằng hữu, chỉ có “Chân tâm”, chỉ có quê nhà mới thật sự là nơi êm ấm, là chốn bình yên, là hạnh phúc ở mãi trong tâm.

"... Em hỏi ta căn nhà vĩnh cửu?
Ta soi tâm thấu triệt vô thường…"

Hoặc:

“…Vô tâm nhờ tinh thần vô ngã và nhờ vậy ngộ bất chợt, không chờ, không tính toán… "

Thiền thi của Thái Tú Hạp ảnh hưởng bởi triết lý Phật giáo và Lão giáo, những từ ngữ trong thơ của ông đượm tinh thần Phật giáo như ông nhận ra được cuộc sống này là “hư vô”, là không thật, là hữu hạn, là biến đổi. Phần lớn từ ngữ hoặc tư tưởng trong thơ của thi sĩ Thái Tú Hạp phảng phất những thuật ngữ Phật giáo như: Bồ tát, hoa-nghiêm, thiền, vô thường, hóa thân, trầm luân, hằng sa, trang kinh, đại hồng chung, sắc-không, chân không, nghiệp, vọng niệm, sát na... Có lẽ Thái Tú Hạp cảm nhận điều này nên ông đã làm một kẻ lữ hành không vướng víu “Tham sân si”. Phải chăng đối với ông “Đời chỉ là cõi tạm”, chỉ là “Quán trọ trần gian”, chỉ là “Chỗ nghỉ chân” vì cuộc đời thay đổi không lường trước được, nó đi theo vòng xoáy của tạo hóa và định mệnh đưa ta đến những mảnh đời éo le, tang thương, nghiệt ngã.

“…Đời không biết ta đến, chẳng biết ta đi.
Một thế giới vô ngã, là cõi tạm, nên quên mình...”

Hay:

"... Trăm năm chừng ghé lại, cõi tạm đầy thương đau
Căn nhà xưa quạnh quẽ, trong mắt sầu thiên thu..."

Hoặc:

…“Nghìn năm sau sa mạc chiều
Tiếng chim quốc gọi quạnh hiu Ta Bà…”

Những dòng thơ của Thái Tú Hạp đã thấm nhuần, thẩm thấu tư tưởng Phật Giáo từ khi ông còn là một thanh niên, sống gần ngôi Chùa cổ Hội An. Cái không khí tĩnh mịch, yên lặng, trong những đêm trăng sáng, tiếng chuông vang trong chiều, hương ngọc lan thoang thoảng ngoài sân chùa, mùi trầm hương từ chánh điện khiến tâm hồn ông cảm thấy an bình, thanh thản. Chính nơi chốn thanh tịnh đó đã cho Thái Tú Hạp yêu những áng thơ của các thiền sư Khuông Việt, Vạn Hạnh, Mãn Giác, Ngộ Ấn, Hương Hải, Không Lộ, v.v...Và nghiên cứu thể loại thơ Đường Thi qua những thi hào lỗi lạc như Lý Bạch, Thôi Hiệu, Vương Duy, Lý Thương An, Đỗ Phủ, v.v...cũng như am hiểu triết lý của André Gide, Hemingway, Kafka, Jean Paul Sartre, Nietzsche, Heidegger, Vallée Poussin, đã diễn tả rằng: “Trong Phật Giáo, cũng giống như trong tất cả thế giới, từ sát na được hiểu như là một khoảng thời gian rất ngắn, nếu chúng ta so sánh với thời gian của ngày, đêm, hoặc giờ. Chỉ có sát na hiện tại là có thực, cho nên chúng ta không nên lo lắng về quá khứ hay tương lai, hãy sống trọn vẹn với giây phút hiện tại với tâm chánh niệm”.

Theo Trần Ngọc Chất, hầu hết các bài thơ của Thái Tú Hạp phảng phất những nỗi buồn, cõi thơ của ông lấy giáo lý đạo Phật làm nền tảng, trong đó ẩn hiện cái lý Vô Thường, Vô Ngã và Chân Không. Vạn vật có sinh tất có diệt, có hình tướng ắt có hủy hoại, biến đổi liên tục qua bốn thời kỳ, Phật học gọi là Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Bốn thời kỳ này qua mau gọi là Niệm niệm vô thường hay Sát na vô thường. Tất cả những cảnh vật và hiện tượng đều giả, chỉ có một cảnh tượng thật, đúng, vĩnh viễn, đó là Chân Không. Nó hoàn toàn khác biệt với ý niệm về hư vô trong triết học thái tây. Chân Không là thật không, là cái gì tuyệt đối, duy nhất, tưởng không mà thật vẫn có, bản thể của mọi sinh vật trong đó có con người. Bản thể ấy bất sanh, bất diệt, bất biến, trọn vẹn viên mãn. Đó là Chân Như, Thật Như, Như Lai, Bản Lai Diện Mục.

“Ta sẽ bỏ đi xa
Sống cuộc đời thiền giả
Núi rừng cùng trăng sao
Ngoài dặm ngàn tịch lặng
...sao ta giữ hoài vọng ngã
nghìn năm liễu ngộ Chân Như?
(Dặm Ngàn Tịch Lặng)

Nhà văn Vương Trùng Dương khi bàn về thơ Thái Tú Hạp đã mượn lời trong kinh Bát Nhã là vô niệm vô tâm, là “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” có nghĩa là sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, nói lên lẽ vô thường, vạn vật cứ thế biến đổi tuần hoàn trong vòng sinh tử luân hồi. Nói về sát na, ý niệm trong Phật Giáo là một đơn vị đo thời gian. Vallée Poussin, khi nghiên cứu và đã diễn tả rằng: “Trong Phật Giáo, cũng giống như trong tất cả thế giới, từ sát na được hiểu như là một khoảng thời gian rất ngắn, nếu chúng ta so sánh với thời gian của ngày, đêm, hoặc giờ. Chỉ có sát na hiện tại là có thực, cho nên chúng ta không nên lo lắng về quá khứ hay tương lai, hãy sống trọn vẹn với giây phút hiện tại với tâm chánh niệm”.

…“Trong sát na hạnh ngộ
Niết bàn cõi tánh không
…Trong từng sát na tâm
Buồn vui không nói hết
Thôi cũng đành vô ngôn”.
(Sát Na Hạnh Ngộ)

Hay:

“Trong mỗi sát na
Hiện thực trong đời sống
An bình quán tưởng
Tĩnh tâm nguyện cầu”
(Chuyển Hóa Tâm Từ Ái)

“Còn gì trong sát na
Đời buồn mai thức dậy”
(Say Chút Rượu Trầm Luân)

Sát na là khoảng thời gian rất ngắn nhưng cũng có thể dài vô tận qua “Hạnh Phúc Đời Ban Cho”.

“Trăm mùa xuân hốt hoảng
Sát na tưởng chừng dài hơn thế kỷ lo âu…
…Cuộc đời tàn theo ta
Sát na rồi vỡ nát…”

Thơ của Thái Tú Hạp là thơ tình được thăng hoa bởi cái nhìn rất trong sáng, bình yên, trọn vẹn, tràn đầy, hiền lành, có nhuốm chút Thiền bởi cái trăn trở với khổ đau của cuộc sống phù sinh, của tìm kiếm con đường giải thoát, vì khi đọc thơ của ông cho ta thấy phảng phất những từ ngữ & tư tưởng Phật giáo, tràn ngập những thuật ngữ Phật giáo bộc phát một cách tự nhiên, không gượng ép và rất sinh động: Bồ-tát, hoa nghiêm, thiền, vô thường, hóa thân, trầm luân, hằng sa, trang kinh, đại hồng chung, sắc-không, chân không, nghiệp, vọng niệm, sát na v.v....

“Em cười như nụ hoa
Trong mai tâm Bồ-tát
Tiếng chuông đời thoảng qua
Phù vân chim hót lá…

… Sớm mai nào chợt ngộ
Tâm ta tưởng là hoa
Trong sắc màu giả tưởng
Có không nào trong ta.”
(Chợt ngộ)

Theo tác giả Trần C. Trí, Thái Tú Hạp làm thơ tình có vẻ sâu thẳm trong "thiền" hoặc ngược lại, thơ "thiền" nhưng lại diễn tả rất là tình. Những thơ “Tình-thiền” của Thái Tú Hạp thể hiện rõ ràng qua những vần thơ sau đây trong bài “Vô thường yêu em”.

“Mắt xưa trăng đẫm non ngàn
Lời xanh biếc ngọc vô thường yêu em
Lá theo tiếp lục đường chim
Hồn mai phục giữa hoa-nghiêm lặng tờ.”
Hạt Bụi Nào Bay Qua

Thái Tú Hạp tâm sự với bạn bè rằng: “Khi ông càng trải qua những biển dâu tang điền, tuổi càng ngất ngưỡng ở cửa tri thiên mệnh, ông càng chiêm nghiệm lẽ vô thường, mọi hiện hữu đều sinh diệt như những ảo ảnh không thật, như huyễn hóa, như bọt sóng, như sương trên cành. Và chỉ có con đường trở vào cõi tâm mới là nơi chốn an bình. Đích thực là thế giới thanh tịnh của Chân Như…” Đời phải chăng là tạm bợ, là vô thường, là hư ảo như giấc mơ rồi tắt lịm hay giấc thiên thu đời tĩnh lặng, thời gian biền biệt vết chân xa mà thi sĩ Thái Tú Hạp đã đề cập trong lời thơ của ông.

“Mây huyễn hoặc cõi phương đông
Hạt kinh khuya rớt xuống dòng tịch liên”
(Màu Hoa Tự Tại)

Hay:

“Nhất quán rồi – mộng mai sau
Tâm vô lượng mở - có nhau luân hồi”
(Luân Hồi Có Nhau)

Hoặc:

“Ta về cổ tự nghe kinh
Suối mây chim hót trên cành tĩnh tâm
… Bụi nào xóa sắc sắc không
Nghe chuông đại nguyện hóa thân chim trời”
(Thắm Tờ Kim Cang)

CÕI “VÔ THƯỜNG” TRONG THƠ THÁI TÚ HẠP

Phật tính vốn dĩ đã có trong tâm hồn, nên cho dù ở cõi thơ nào, những nhà thơ Việt Nam đều chuyên chở những ý niệm Phật giáo, lấy tình thương xóa bỏ hận thù. Trong kinh Pháp Cú đã dạy: “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịnh tạo nghiệp kéo đến như bóng theo hình”. Thái Tú Hạp đã hấp thụ sâu đậm giáo lý đạo Phật, nhưng trong cuộc sống, ông như còn lẩn quẩn hay đã nghiêng ngã ở giữa cõi “Sắc-sắc Không-không”, như đắm chìn vào cõi vô thường đầy khổ lụy. Ông tỏ ra am hiểu cái vòng vo lẩn quẩn của cõi “vô thường yêu dấu” và chấp nhận hội nhập vào cõi vô thường để chuyên chở tình dấu yêu mà chúng ta thấy trong bài thơ “Nghĩ Ngợi Trước Hoa”:

“…Xin mắt em là hoa
Trong vô thường yêu dấu…
…như giọt buồn trên hoa…”

Hay:

“…Hạnh phúc nào chẳng xót xa
Tự do nào không khơi máu thắm…”
(Hạt Bụi Nào Bay Qua)

Lưu vong ở hải ngoại, Thái Tú Hạp sau những gian truân, khổ ải, mất mát trong đoạn đời tù đày, vượt biên, v.v...Thơ của ông trở nên thâm trầm, u uẩn, đã thiền hóa tâm thức của ông trở về với cõi Niết Bàn. Phong cách thi ca Thiền vị, Thái Tú Hạp diễn tả tâm thức của mình qua hình thức ngôn ngữ hiền hòa, nội dung trong sáng và đem đến cho tác phẩm có chiều hướng thi vị Thiền thơ một cách nghệ thuật. Thơ của Thái Tú Hạp đầy ắp chuyện nhân sinh, tầm đạo, giác ngộ và an nhiên tự tại, đạt đến chân lý bản thể huyền diệu của đạo. Cõi thơ Thái Tú Hạp là tâm thức của lớp người lưu đày sau chiến tranh, một cuộc chiến khốc liệt, huynh đệ tương tàn, gia cang ly tán. Gia đình vẫn là nền tảng cần phải bảo vệ, là ý hướng ấp ủ trong cuộc sống. Chỉ có Tình Yêu đích thực và sự thủy chung mới giúp lướt qua các nghịch cảnh, hận thù và cám dỗ. Nhưng chiến tranh, ở khía cạnh nào trong thơ Thái Tú Hạp, cũng vẫn là những bày tỏ nhẹ nhàng, ngay cả khi ông có đề cập tới súng đạn, hận thù, chết chóc, chia lìa…Tiếng thơ Thái Tú Hạp Khoan hòa mà thiết tha, trầm lặng nhưng da diết, mộng mơ nhưng tha thiết, đơn sơ nhưng hàm xúc.

Chẳng những chúng ta thấy tư tưởng Phật giáo trong thơ tình, quê hương, thơ tù mà chúng ta còn thấy ngay trong những bài thơ viết cho Me, Thái Tú Hạp luôn hướng về quê nhà nơi có mẹ già chờ mong tin con. Điều này cho ta thấy thơ Thái Tú Hạp luôn vang vọng lời êm ái, lòng dấu yêu tình mẫu tử trong bài “Nhớ Mẹ” sau đây:

“Mười năm rời xa Mẹ
Lòng con đầy tiếng Kinh...
Êm hoài mơ thấy mẹ
thắp nến soi hồn đau
Đời con chiều quạnh quẽ
Đất lạ hắt hiu sầu.”

Quê Hương mà Thái Tú Hạp luôn hoài vọng trong tác phẩm “Bầy Hạc Rong Chơi” và “Tôi Sẽ Về Thăm Quảng Nam” của ông là quê hương Hội An cổ kính“Mái ngói âm dương hò hẹn”, đầy ắp kỷ niệm “Cất dấu trong hồn những kỷ niệm ấu thơ”, ấp ủ “Trái tim thời mộng mị”và “Thủa tình yêu mới chớm”

“…Núi Non Nước, động Huyền không khói quyện
Miền quê hương có Ngũ Phụng Tề Phi…”

Hay:

“…Trong thế gian này nỗi sầu nào đau đớn nhất
Cũng không bằng sầu mất quê hương…”

Cõi thơ ở Thái Tú Hạp đã cuốn hút theo những biến chuyển đau thương dồn dập, cảm thấy bùi ngùi, cảm thấy chua xót cho những đổi thay nơi mình. Thái Tú Hạp đã cảm nhận một cách sâu sắc những vết quất của thời đại, những bi thảm của một cuộc chiến khốc liệt và những băn khoăn khắc khoải của kiếp sống tha hương. Cõi thơ Thái Tú Hạp phản ảnh nỗi đau thương và niềm ưu tư. Lời thơ trầm buồn thống thiết, mối hận vong quốc canh cánh bên lòng. Thái Tú Hạp kìm hãm, nén chặt cảm xúc, kín đáo trau chuốt và cô đọng lời thơ một cách nhẹ nhàng mà tha thiết được ông viết theo thể thơ ngũ ngôn, giúp ông gói ghém ý, tình ý một cách tinh tế khiến người đọc ngậm ngùi xót xa. Bao năm chinh chiến đã có lần đưa ông về gần kề cái chết, những chiến bại và bất khuất trong chốn lao tù cùng các chiến hữu, đồng đội đã in sâu trong tâm khảm ông qua bài thơ “Người Tù Binh Dũng Liệt:

“…Trái tim vẫn nguyên trinh
Giữa gông cùm đốn nhục
Hòn ngọc vẫn tinh anh
Giữa đọa đày địa ngục…”

Trong những năm tháng lưu lạc ở quê người, mấy ai chẳng bùi ngùi, chua xót nhìn lại những bi thảm của một cuộc chiến khốc liệt đã qua và những băn khoăn khắc khoải của kiếp sống tha hương. Tâm thức của Thái Tú Hạp vốn mang nặng bản chất đôn hậu, nhân ái và tinh thần “hoài cổ” nên dù những cảnh tù đày, những ngày khắc khoải, tủi nhục, bi thương, đói lạnh, cô đơn trong trại tù cải tạo. Phải những ngày mất cả nhân bản con người của một người lính thua cuộc nhưng thơ của Thái Tú Hạp vẫn mang nhiều tính thiền của một người thấu lẽ vô thường của kiếp người và vạn vật. Cõi thơ Thái Tú Hạp phản ánh nỗi đau thương và niềm ưu tư qua cảnh tù đày, những nghịch cảnh, oái oăm, dị thường, phi lý mà con người không có sự lựa chọn “Trên ngàn dặm lưu đày nghiệt ngã” nhưng trong tâm thức người tù binh Thái Tú Hạp cũng đón nhận những giây phút hạnh phúc khi nghe tiếng chim hót trong ghềnh núi lúc đang đốn cây trong rừng, chạnh lòng nhớ đến người yêu dấu.

"Người xa vẫn chưa về
Trùng dương mờ mịt khói
Chắc không còn ai nghe
Tiếng chim trong ghềnh núi!”

Hay:

"Từ đó ta có em trong tận cùng đất khổ
Nhất nguyên này đẹp vô lượng tình yêu
Em thắm xinh như nụ hoa vàng
Như tiếng chim hót trong rừng cây..."
(Tiếng Chim Trong Ghềnh Núi)

Ảnh hưởng bởi triết lý của Lão giáo, khung cảnh thiên nhiên, không gian bao la, mênh mông, thanh tịnh luôn có mặt trong cõi thơ Thái Tú Hạp đã giúp ông tìm được tâm thức Chân Như, Tâm hư vô. Mặc dù không gian thiên nhiên lưu đày đó luôn có sự hiện hữu của vô ngã, vô thường, Thái Tú Hạp đã dứt bỏ thù hận, không câu chấp, không vướng mắc quá khứ, ông buông mình, sống nương theo biến dịch, thanh thản và tìm đến Thiền. Thái Tú Hạp đưa Thiền của triết lý Phật giáo và Lão giáo vào cuộc sống mới của mình: Tu dưỡng nhân cách, an nhiên tự tại, sống vui, tự tin vào bản thân, vô cầu vô ngại:

"Gió cát ngàn dặm xa
Ta làm thân mục tử
Ngủ say trên đồi hoa
Bỏ quên đời hư ảo."
(Cỏ Thi).

Thái Tú Hạp cảm nhận được rằng trần thế chỉ là nơi tạm bợ và vô thường (無常; sa. anitya; pi. anicca), là "không chắc chắn", là "thay đổi", là "không trường tồn”. Giáo lý vô thường trong Phật giáo mang đến một sự xác nhận như một sự phát hiện chân chính, đó là tất cả những hiện tượng, dù thuộc tâm lý hay thuộc ngoại cảnh tự nhiên, không có ngoại hạng, đều là vô thường. Phải chăng Thái Tú Hạp nhận ra sự chuyển tiếp từ trạng thái không hiểu biết đến trạng thái ý thức và tính chất vô thường của vạn vật, cùng với sự thừa nhận tính chất lập nên con đường tu học, con đường được Phật vạch ra trong giáo lý của mình.

"Ta cạn chén càn khôn
Giữa khuya đời tịch mịch
Mộng cũng tàn hư không
Trang kinh nhòa thiên cổ
Sương tóc bạc rừng phong
Chung trà nhớ viễn khách…”
(Một Thoáng Phù Vân).

Qua thời gian nghệ thuật, thơ của Thái Tú Hạp, bình đạm, trầm lắng, trừu tượng, thi hóa, linh hóa và thiền hóa, ngôn ngữ thiền thi trong thơ của ông không dài dòng, lời hữu hạn, vô cùng, ví như cõi thật của Bát Nhã. Lời thơ thường ẩn dụ, Ngôn ngữ thơ Thái Tú Hạp sử dụng ngôn từ Thiền như: Ngộ, liễu, giác, tâm, hữu vô, không, sắc không, tính, duyên, vọng thực, vọng tưởng, vọng niệm, chân huyễn, nghiệp, bồ đề, tịnh khúc, cổ phong, vô lượng, vô thường, vô tự, u cư, đại hồng chung, trầm luân, hằng sa, đồi Hoa Nghiêm, hạt bụi...“hạt bụi nào bay qua”, “hạt bụi trần ai khổ lụy”, “sá chi đời hạt bụi”, “cát bụi nào vong thân”,v.v…Ngoài ra trong thơ của Thái Tú Hạp cũng nhắc đến loài vật như chim hạc, con dế: “Bầy hạc rong chơi phù ảo ngàn xa”, “Con dế sầu lưu lạc”, “Loài dế đã bỏ quên, lời ca buồn tháng chạp”,” Đêm còn lại tiếng dế mèn”, v.v…Đó chính là nhạc tính trong thơ Thiền Thái Tú Hạp ý niệm thời gian là vĩnh cửu của cái Tâm nhắm đạo, của cái vô tượng, vô ngôn:

" Đời thắp lại những mầm xanh bát nhã
Tình thương nối nhịp lời kinh…"
(Trở Lại Suối Nguồn)
"Tâm có động mười phương thao thức
Cõi bình minh rạng rỡ hồn phương đông…"
(Mưa Trong Vùng Trí Tưởng).

"Cổng chùa khuya chưa khép, bầy sao rủ nhau về
Thiền sinh quanh quẩn nghĩ, giọt nến nhòe chữ tâm
Ba sao và nguyệt hạ, sắc không chỉ một lần ...”

Trong thi ca, những nhà thơ Việt Nam như, Nguyễn Nhược Pháp, Tự Đức, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Tế Hanh, Thanh Tịnh, Lưu Trọng Lư, v.v… cũng không nhiều thì ít chiu ảnh hưởng bởi nét tinh hoa của Phật Giáo, rõ nhất trong thi phẩm Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp :

“… Thuyền đi, bến Đục qua
Mỗi lúc gặp người ra
Thẹn thùng em không nói :
“Nam mô A Di Đà”.

Mẹ bảo “Đường còn lâu
Cứ vừa đi vừa cầu
Quan Thế Âm Bồ Tát
Là tha hồ đi mau!”

Những ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng Phật Giáo trong thi ca chúng ta còn tìm thấy trong những tác phẩm của Quách Tấn, Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Tuệ Mai, Bùi Giáng, Nhất Hạnh, Cao Hạnh Nhân, Nhã Ca… Trong mỗi Sát na của đời sống con người cuốn hút vào cơn lốc đảo điên của vọng tưởng, vào sự ích kỷ đầy trầm thống khổ đau, của u minh mê muội, đã phá bản chất từ thiện uyên nguyên.

“…Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức Phật từ bi miệng mỉm cười

Tôi nhớ làm sao những buổi chiều
Lời kinh giải thoát vọng cao siêu
Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu nguyện dân làng sống mến yêu.”
(Huyền Không)

Đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng nói về chữ “Tâm” khi khẳng định về thân phận của kiếp người qua hình ảnh của nàng Kiều trong tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh, mở đầu bằng bốn câu thơ.

“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…”

Đại thi hào Nguyễn Du đã viện dẫn lý nghiệp báo luân hồi của Phật Giáo Sư Tam Hợp:

“… Sư rằng: Phục họa đạo trời
Cội nguồn cũng bởi lòng người mà ra
Có trời mà cũng tại ta
Tu là cõi phúc, tình là dây oan…”

“… Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn vốn tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài…”

Thơ văn Nguyễn Công Trứ chịu ảnh hưởng khá sâu đậm Phật Giáo:

“… Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe
Trần có vui sao chẳng cười khì ?
Khi hỉ lạc, khi ái ố, lúc sầu bi
Chứa chi lắm một bầu nhân dục…”

Ngày nay đã có nhiều nhà thơ bước vào ngưỡng cửa Thiền thi với những áng thơ chất chứa âm điệu thiền tâm tỉnh giấc ngộ đời để nhìn về một cõi trầm luân như trong "Lãng bước vào Thiền" của nhà thơ Nguyễn Hải Bình.

"Đặt chân trước ngưỡng cửa Thiền
Thân tâm vọng động bên thềm vô minh
Nguyện đường đón nhận Thiền sinh
Quy y Phật pháp dọn mình chân tâm
Một đời như thoáng phù vân
Lời răn ngũ giới bao lần đã quên..."
(Cửa Thiền)
"Từng bước chân đi, nẻo vào tịnh độ
Nhịp hành Thiền tâm niệm tiếng Nam Mô
Dời nẻo đường trần tìm cõi hư vô...
...Dìu tâm thức quên đi vòng hệ lụy
...Nợ tăng bồng tất cả một phù du..."
(Một cõi đi về)

Thiền thi qua những thi phẩm sáng tác bởi các thi sĩ trong Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật (NVNT) như NV & NT Khánh Lan qua bài thơ:

Tình duyên ta lại chốn này,
Bèo mây tương ngộ đan tay vào đời.
Bướm hoa lượn gió thảnh thơi
Duyền thề bến đợi trao lời chân tâm.
(Duyên cũ nơi xưa)

“Trăng đêm suy tư” với NV & NT Thụy Lan

Đêm nay trăng rằm treo đầu ngõ
Lặng soi âm thầm bước em về.
Chông chênh cảnh đời này tạm bợ
Sầu dâng hồn mãi thấm buồn tênh.

Và NV & TS Việt Hải qua hai bài thơ sau đây:

Cuộc đời sắc sắc không không
Nợ duyên duyên nợ nỗi lòng phân vân
Nợ duyên có số có phần
Sắc không không sắc bâng khâng ý trời?
(Sắc không không sắc)

Niềm riêng có những niềm riêng
Cỏ cây tỉnh giấc cõi thiền thinh không.
Mây trời trôi nổi ruổi rong
Vô thường bất định bềnh bồng phù vân.
(Cõi thiền thinh không)

Tóm lại, “Thiền thi” của thi sĩ Thái Tú Hạp phảng phất chất thiền một cách nhẹ nhàng, không gượng ép, không theo phong trào hay hình thức mà nói lên tâm tình chân thật của thi sĩ. Thế giới trong thơ của Thái Tú Hạp ví như giòng suối mát rửa sạch bụi trần gian, như bóng mát để ta dừng chân tạm nghỉ của một hành trình đi tìm chốn an lành vĩnh cửu, cõi vĩnh hằng trong Thiền và trên cõi thâm sâu trong của Phật đài. Thế giới “Thiền thi” trong Thái Tú Hạp là thời gian luân hồi theo vòng xoáy của thịnh suy bĩ thái. Trái ngược với thế giới của đại văn hào Marcel Proust trong tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” (À la recherche du temps perdu), đó là thời gian không bao giờ trở lại. "Thật không may, thật không may, dễ mất người yêu hơn là hoàn thành Tìm kiếm thời gian đã mất." (It is, unfortunately, easier to lose a lover than complete In Search of Lost Time).

Nếu nói về Thiền, chúng ta không thể không nói đến 3 ý tưởng cao đẹp về Thiền tịnh, những ý tưởng này sẽ làm sáng tỏ phần kết luận của tôi về nét Thiền trong thi ca, vì khi ta Thiền là ta trở về với thiên nhiên, Thiền sẽ đem đến cho ta hạnh phúc trong cuộc sống. Điều này được minh chứng qua câu châm ngôn của Lão Tử sau đây:

“Khi ta ngộ ra rằng mình không thiếu thứ gì thì cả thế giới này đã thuộc về mình rồi.”
(When you realize there is nothing lacking, the whole world belongs to you.)

Cũng trong tư tưởng ấy, nhà văn người Anh, James Allen cho rằng:

“Sự tĩnh lặng của tâm trí là một trong những viên ngọc quý của trí tuệ.”
(Calmness of mind is one of the beautiful jewels of wisdom.)

Và sau cùng là theo cảm tưởng của vận động viên môn côn cầu Canada, Maxime Lagacé:

“Cách thiền tốt nhất là không cần nhiều nỗ lực.
Mà thiền tốt nhất là một nhận thức thật thư thái..”

(The best meditation is effortless. The best meditation is a gentle awareness.)
Để kết thúc bài biên khảo và nhận định của tôi về “Nét Thiền Thi Trong Thái Tú Hạp”, tôi xin gửi đến qúy độc giả bài thiền thi “Mông lung” do Khánh Lan sáng tác:

Bước qua bao cảnh chuỗi đời
Như hoa nhuỵ nở rạng cười tinh khôi.
Cuộc đời tôi vẫn là tôi
Như mây phiêu lãng ngàn trôi miệt mài.

California, December 2020

Tài liệu tham khảo:

1. Tuyển tập Hạt Bụi Nào Bay.
2. Tuyển tập thơ Suối Nguồn Tâm Thức.
3. Tài liệu sử dụng nguồn từ Wikipedia.
4. TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG THI CA VIỆT NAM.
Mắt Buồn  
#46 Posted : Thursday, October 28, 2021 6:03:45 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Ý Nghĩa Bài Chiều Mưa Biên Giới


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là một trường hợp đặc biệt trong dòng nhạc vàng miền Nam trước 75, khi ông vừa là một nhạc sĩ sáng tác chuyên nghiệp, vừa trực tiếp ᴄhᎥếп đấu như một người lính thực thụ. Ông cũng là nhạc sĩ có chức vụ cao nhất trong quân đội khi mang cấp bậc đại tá lục quân từ năm 1972.

Tuy là một quan chức cao cấp như vậy, nhưng số phận những bài nhạc vàng ông sáng tác trong những năm đầu của miền Nam lại long đong vì bị chính quyền cấm phổ biến. Trong đó có bài hát bất hủ Chiều Mưa Biên Giới.

Chiều Mưa Biên Giới

Nguyễn Văn Đông
Hà Thanh

https://www.youtube.com/watch?v=5CDf3Exx_tA

Sẽ có nhiều người cho rằng chính quyền miền Nam trước 75 là một chế độ dân chủ và không có việc cấm đoán nhạc hoặc kiểm duyệt bài hát khắc khe. Tuy nhiên ít người biết trong những năm đầu của nền đệ nhất cộng hòa, thường xảy ra việc Bộ Thông Tin cấm hoặc hạn chế các bài nhạc bị xem là “giảm nhuệ khí ᴄhᎥếп đấu” của binh sĩ.

Nguyễn Văn Đông viết trong hồi ký như sau:

Khi ấy, tôi mới 24 tuổi, là trung úy trưởng phòng hành quân của ᴄhᎥếп khu Đồng Tháp Mười là người có trách nhiệm đề ra những phương án tác ᴄhᎥếп.

“Lần đó tôi dẫn đầu một nhóm biệt kích bí mật đi điều nghiên (điều tra – nghiên cứu), ngữ vựng VC, ᴄhiến trường dọc theo biên giới Miên – Việt và Đồng Tháp Mười. Trên đường về, anh em chúng tôi lâm vào cảnh trời chiều gió lộng, mưa gào như vuốt mặt. Giữa cánh đồng hoang vắng tiêu sơ, lối vào tiền đồn thì xa xôi, thoáng ẩn hiện những nóc tháp canh mờ nhạt ở cuối chân trời.
Và từng chập gió buốt kéo về như muới sát vào thịt da. Từ trong cảnh ấy, tận đáy lòng mình đã nghe nẩy lên những cung bậc rung cảm, những trường canh đầu tiên buồn bã cho bài Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu…”

Nguyễn Văn Đông soạn hai tác phẩm “Chiều Mưa Biên Giới” và “Phiên Gác Đêm Xuân” trong cùng năm 1956, phản ánh đời sống của lính thời điểm đó. Sinh thời Nguyễn Văn Đông nói rằng ông muốn viết thực tế về lính, khi chính mắt ông nhìn thấy sự bi tráng ở vùng địa đầu hỏa tuyến. Khi mới cho phổ biến hai bài này, ông đề tên bút danh là Vì Dân như muốn giấu tên mình. Hai ca khúc đều có lời giới thiệu: “Kính tặng các Chιếnsĩ một nắng hai sương lao mình nơi tiền tuyến, dâng mình cho đất nước và các Bạn thanh-niên sắp khoác ᴄhiến y”

Bài Chiều Mưa Biên Giới được phát hành lần đầu năm 1959. Năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã được đài Europe No. 1 và đài Truyền hình Pháp thu âm, rồi thu hình ca khúc “Chiều mưa biên giới” của Nguyễn Văn Đông, gây tiếng vang lớn ở Âu châu. Việc này đã tạo làn sóng ngược về Việt Nam, khiến chỉ trong vòng 3 tháng, nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo đã bán hết 60,000 bản nhạc lẻ, phá kỷ lục số ấn bản lớn nhất ở thời điểm đó. Âm vang của ca khúc “Chiều mưa biên giới” lại được khuếch tán thêm nữa, khi cũng trong năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch lần đầu tiên trình bày ca khúc đó tại “Đại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam” với dàn nhạc của Đài Truyền Hình Pháp.

Bài Chiều Mưa Biên Giới đã trở thành một sự kiện âm nhạc thuở đó. Nhưng đáng buồn là không lâu sau, chính quyền Ngô Đình Diệm cấm 4 bài nhạc lính của Nguyễn Văn Đông là Chiều Mưa Biên Giới, Phiên Gác Đêm Xuân, Mấy Dặm Sơn Khê và Nhớ Một Chiều Xuân.

Chính nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng đã đề cập tới việc này trên bìa một ca khúc được phát hành năm 1963, cụ thể như sau:

“Một số nhạc phẩm sau đây của Nhạc-sĩ NGUYỄN VĂN ĐÔNG bị cấm. Xin quí bạn yêu nhạc đừng gởi thơ về xin chữ ký trên các nhạc phẩm này nữa. Chúng tôi không thể làm vừa lòng quí bạn vì phạm phép và làm mất tiền tem của quí bạn”.

Bị cấm.

Chiều Mưa Biên Giới
Phiên Gác Đêm Xuân
Mấy Dặm Sơn Khê
Nhớ Một Chiều Xuân

Vì vụ bài Chiều Mưa Biên Giới này mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông – người đang ở trong biên chế quân đội – đã bị quân đội phạt. Nhắc đến sự việc này, nhà thơ Du Tử Lê viết như sau:

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị 15 ngày trọng cấm, lệnh phạt theo quân kỷ, ban hành bởi Bộ Quốc Phòng. Lý do:

“Đương sự đã không tuân hành huấn lệnh quy định rằng, bất cứ một quân nhân nào, khi sáng tác thơ, văn, âm nhạc… trước khi phổ biến cho công chúng, phải được nhân viên hữu trách của Bộ Quốc Phòng duyệt trước và, cấp giấy cho phép!…”

Lệnh phạt ấy còn kèm theo một điều khoản trói ta

St

Edited by user Thursday, October 28, 2021 6:09:55 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#47 Posted : Saturday, October 30, 2021 11:50:06 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Đynh Trầm Ca với cây đàn thương nhớ


September 1, 2021
Trần Yên Hòa

ANAHEIM, California (NV)
– Trước năm 1975, tôi đọc thơ Đynh Trầm Ca đăng trên nhiều báo văn nghệ ở Sài Gòn, nên tôi chỉ biết Đynh Trầm Ca trong vai một người làm thơ. Đến khi nghe bản nhạc “Ru Con Tình Cũ” của anh, được phổ biến rộng rãi khắp trên các đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội… tôi mới biết anh có thêm “tài năng” về sáng tác nhạc, tức là một nhạc sĩ.

UserPostedImage

Nhà thơ, nhạc sĩ Đynh Trầm Ca. (Minh họa: Kim Duẩn/Tiền Phong)

Đynh Trầm Ca sinh năm 1943 tại Điện Bàn, Quảng Nam. Mẹ anh thuộc dòng dõi họ Đinh. Anh dùng họ mẹ làm chữ đầu trong bút hiệu, sau khi đổi chữ “i” thành chữ “y.”

Đynh Trầm Ca thuộc dòng họ khá hiếm. Anh mang họ Mạc. Tên thật của anh là Phụ. Gọi cả họ lẫn tên, gọn nhẹ hai âm Mạc Phụ.

Thị trấn Vĩnh Điện, phía Nam thành phố Đà Nẵng, đi dọc con đường 100, từ Đại Lộc xuống Hội An, Vĩnh Điện là điểm dừng chân giữa đường, đó là một thị trấn hiền hòa, tĩnh lặng như phần nhiều các thị trấn ở miền trung. Đynh Trầm Ca sinh ra ở đây.

Trong hai lãnh vực thơ và sáng tác nhạc, Đynh Trầm Ca đều xuất sắc cả, nhưng có lẽ, trước tiên, Đynh Trầm Ca xuất thân là một người làm thơ, nên tôi sẽ nói về một Đynh Trầm Ca, nhà thơ.

Năm 1969, Đynh Trầm Ca từng cho phát hành tập thơ “Mắt Đêm” dưới hình thức in ronéo. Tập “Mắt Đêm” của Đynh Trầm Ca từng được một nhà nghiên cứu giới thiệu là “một trong năm tập thơ tiêu biểu của năm (1969).”

***

Tôi gặp Đynh Trầm Ca trong một đêm, ở quán bún bò của Phan Nhự Thức (chủ trương tạp chí Trước Mặt tại Quảng Ngãi) trên đường Phạm Văn Hai, Tân Bình, Sài Gòn. Phan Như Thức lúc đi tù về mở quán bún bò ở đây, và rủ anh em văn nghệ tới ăn ủng hộ. Chúng tôi gặp nhau thường xuyên mỗi tối Thứ Năm hằng tuần, để sinh hoạt văn nghệ bỏ túi.

Bạn bè thân hữu với Phan Nhự Thức có Hà Nguyên Thạch, Phan Lạc Giang Đông, Phổ Đức, Trần Thế Phong, Huy Tưởng… Một hôm, nghe tin từ Phan Nhự Thức nói rằng, đêm nay sẽ có Hoàng Lộc từ Quảng Nam vào Sài Gòn để chuẩn bị đi Mỹ, lại có thêm Đynh Trầm Ca từ Long Xuyên về tham dự (lúc này Đynh Trầm Ca trôi dạt theo quê vợ về Long Xuyên) nên tôi rất vui, rất háo hức mong đợi gặp được hai người thi sĩ mà tôi rất yêu mến.

Đêm đó, khi Đynh Trầm Ca đến quán, anh như mang tất cả gió, cát, và nét phiêu lãng của anh, đến với bạn bè. Áo quần bạc màu, tóc tai dài thậm thượt. Nét phong sương chứa đựng trên toàn thân thể anh. Đêm đó, anh đọc thơ và hát. Giọng hát anh thật hay, thật đam mê. Anh hát những bản nhạc phổ từ thơ Hoàng Lộc, như bài “Tới Ngày Em Quên,” “Bay Đi Những Cơn Mưa Phùn”…

Tôi “kết” Đynh Trầm Ca từ đêm hôm đó, nên sau này, sau nhiều lần cà phê với nhau, tôi và anh trở nên thân tình.

***

Một thời gian sau khi tôi đi Mỹ, khoảng hai, ba, hay bốn năm gì đó, tôi nghe bạn bè nói lại, cuối cùng, Đynh Trầm Ca không trụ nổi tại Sài Gòn nữa, lại thêm mẹ anh bị bệnh nặng ở Vĩnh Điện, cần có anh bên cạnh, nên Đynh Trầm Ca đành quy cố hương.

Anh dắt díu gia đình về lại Vĩnh Điện, sống trong căn nhà cũ cùng người mẹ già và bệnh hoạn cho đến khi bà mất. Sau ngày mẹ mất, Đynh Trầm Ca không thể bỏ nơi này mà đi, nên đành trụ lại luôn ở đây.

UserPostedImage

Nhạc phẩm “Ru Con Tình Cũ” xuất bản năm 1972 của nhạc sĩ Đynh Trầm Ca. (Hình: Tài liệu)

Việc từ Cần Thơ về lại Quảng Nam của Đynh Trầm Ca đã khiến cho nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy thương cảm và xúc động. Nguyễn Hữu Thụy đã viết tặng anh bài thơ “Như Một Nỗi Buồn” có những đoạn sau:

“Buộc phải lên tàu – hề! qui cố hương
Riêng ta biết ước mơ Người vẫn chảy
Có những điều mắt thường không dễ thấy
Cảm thông nhau như một nỗi buồn

Xa chạy cao bay tìm nẻo sinh tồn
Vẫn không thoát khỏi vòng trần nghiệt ngã
Và lòng Mẹ ơn sâu biển cả
Hằng đợi con về dỗ giấc ru xưa

Sải cánh tay đàn phổ khúc gió mưa
Hát giữa cơn đau xé tình ly biệt
Bỏ xứ mà đi tưởng đành đoạn tuyệt
Hoa tím lục bình sông nước tự thân

Ba mươi năm đổi đời di dân
Nơi nào đến cũng đường cùng đất dữ
Nay về lại quê xưa chốn cũ
Bạc áo giang hồ – xếp mộng văn chương

Câu thơ tiễn Người xuống ngựa buông cương
Kết thúc giữa ngày sinh ly tử biệt
Nói sao hết những điều không cần thiết
Nhớ đến nhau thầm lặng một nỗi buồn.”

***

Bài thơ “Phương Nam Khúc Ca Trôi Giạt Của Khóm Lục Bình” của Đynh Trầm Ca đã gói được một góc hồn của anh, khi anh đang “trôi” qua Cần Thơ, Long Xuyên vào Tháng Hai, 1989:

“Đi
như là trôi
ta lần về phương nam
phía bầy én giang hồ gọi xuân về rối rít
phía những dòng sông đỏ phù sa chảy xiết
ta gặp thêm những cụm lục bình
trôi

Trôi
trôi
và trôi…
ta dần xa bến cũ
mấy mươi năm gió nhớ thổi mù trời
vẫn muốn chở về sông mẹ những nguồn vui
dù ta chỉ nở được
hoa tím nhạt
Đi
như là trôi…
Phương nam phương nam.”

***

Theo Đynh Trầm Ca tâm sự, lúc anh chỉ là một cậu học trò chân đất, ở thị trấn Vĩnh Điện, Quảng Nam, trong tuổi mới lớn tràn đầy yêu thương, anh yêu thương một cô nữ sinh ở trường trung học Tiểu La, Hà Lam, Thăng Bình, Quảng Nam.

Cô gái đó là cô học trò tên Hồ Thị Thu, nữ sinh của trường này. Nhưng đây chỉ là mối tình thời học trò của anh, chỉ là mối tình đơn phương. Sau đó anh bỏ quê, bỏ trường mà đi mang theo nỗi thương nhớ đến người con gái tên Thu kia… Nên Đynh Trầm Ca có bài thơ

“Cây Đàn Thương Nhớ:”

“buổi ta vác cây đàn ngang trường cũ
ai như em đứng ngó cuối hành lang
ai như ta ngồi mơ sau cửa lớp
có lẽ nào mình còn đó sao, Thu?

buổi ta vác cây đàn xa trường cũ
em vẫn còn chạy nhảy dưới hàng xoan
nên ta đi mà hồn thì quay lại
níu vai cầu hát gửi khúc chia tan

buổi ta vác cây đàn vào gió cát
hồn không theo nên thân xác liêu xiêu
ném nốt nhạc lên chín tầng mây dạt
nghe quê người mưa rớt hột cô liêu

ta gục xuống những đường gai đá nhọn
máu từ tim ứa nở cánh phượng đầu
ta muốn hái tặng em ngày tháng cũ
chợt ngậm ngùi: ngày vui đã qua mau!

ngày vui đã phai trên màu tóc cỏ
cỏ còn xanh – đời xanh chẳng quay về
chỉ câu hát giữ em hoài bé nhỏ
nên ta thề: xin làm một kiếp ve!

để hát mãi về em thời đi học
cho trăm năm em vẫn nữ sinh hoài
(nhỡ có tiếc cũng xin em đừng khóc
đời không vui cho ta nhận riêng ai)

buổi ta vác cây đàn về quê cũ
qua dốc cầu gặp hồn nhỏ chơ vơ
hồn đứng với ba mươi năm hoài niệm
bên trường xưa (em có gặp bao giờ?)

ta lại vác cây đàn đi tứ chiếng
hồn theo ta qua những chốn mịt mùng
mây viễn phố bao chiều thay áo nõn
ta nâng đàn thương nhớ phả lên cung.”

UserPostedImage

Nhạc sĩ Đynh Trầm Ca. (Hình: Trương Điện Thắng/Quảng Nam)

Thời gian trôi qua, cô gái anh yêu đi lấy chồng. Ngày anh trở về thăm quê và gặp lại nàng thì nàng đã có con, chồng là sĩ quan quân đội VNCH, nên đi hành quân xa. Nhìn nàng ngồi ru con, Đynh Trầm Ca chạnh lòng, anh liền sáng tác bản nhạc “Ru Con Tình Cũ:”

“Ba năm qua em trở thành thiếu phụ
Ngồi ru con như câu tình buồn
Xin một đời hối tiếc thương nhau
Xin một đời ngủ yên dĩ vãng

Ba năm qua em trở thành thiếu phụ
Ngồi ru con như ru tình sầu
Kỷ niệm nào ghi dấu trên tay
Cho lòng này dài những cơn đau

Ôi ba năm qua rồi
Đời chưa nguôi gió bão
Người xa xôi phương nào
Người oán trách gì không

Thôi anh ơi anh đừng hờn trách nữa
Đời em như rong rêu tội tình
Xin gục đầu ghi dấu ăn năn
Thôi đừng buồn em nữa nghe anh…”

Đó là lời một thiếu phụ ngồi ru con mà thương nhớ đến người tình cũ, và thấy ăn năn ân hận là đã rời xa người yêu.

Bản nhạc này đã được phát sóng nhiều lần qua các đài phát thanh Quân Đội, Sài Gòn trước năm 1975.

Sau này Đynh Trầm Ca còn có nhạc phẩm “Sông Quê” cũng được các ca sĩ trong nước và hải ngoại trình diễn, khá thành công.

***

Sau thời gian Đynh Trầm Ca trở về chốn cũ, thị trấn Vĩnh Điện, anh mở quán cà phê lấy tên là Thạch Trúc Viên để có phương tiện làm ăn, sinh sống. Ở đây, anh em văn nghệ Quảng Nam từ xa về thăm Đà Nẵng, Hội An, cũng thường tụ tập đến quán này, để đọc thơ, giới thiệu sách, và nghe Đynh Trầm Ca ôm đàn hát.

Nay thì Đynh Trầm Ca đã vào lại sinh sống ở Sài Gòn, vì các con đã lớn, cần môi trường học hành, sinh hoạt…

(Trần Yên Hòa) [qd]

Mắt Buồn  
#48 Posted : Thursday, November 4, 2021 8:36:09 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Nguyễn Đình Toàn, Tài Hoa Từ Giọng Nói


Đặng Phú Phong

October 29, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Nguyễn Đình Toàn là một cái tên rất quen thuộc với giới văn nghệ sĩ, độc giả và thính giả yêu nhạc suốt khoảng thời gian 20 năm từ 1954 đến 1975 của người miền Nam Việt Nam. Ông là một người đa tài, làm thơ, viết văn, soạn nhạc và viết cả kịch nữa, điểm đặc biệt nhất của ông là cái chất giọng ấm, ngọt ngào và quyến rũ vang lên mỗi tối thứ năm hàng tuần trên Đài Phát Thanh Sài Gòn trong chương trình “Nhạc Chủ Đề.” Bài viết và giọng đọc truyền cảm của ông đã làm say mê biết bao thính giả, dĩ nhiên cũng làm cho bao nhiêu trái tim thiếu nữ thổn thức, ông là “một người đào hoa nhưng rất chung thủy với vợ” (theo lời người con gái).

Những bài nhạc ông chọn để phát thanh đều nằm theo chủ đề của chương trình mà ông dẫn dắt người nghe đi vào những khám phá qua văn chương thi vị, qua đời sống tác giả và từng giai điệu của bài hát. Câu giới thiệu về những bản tình ca của Trịnh Công Sơn là “những bản tình ca không có hạnh phúc” như một dấu ấn của nhạc sĩ này, đã làm biết bao thính giả thật thú vị và ghi nhớ mãi. Ông giới thiệu những nhạc sĩ tài danh từ thời âm nhạc Việt Nam mới phôi thai đến các tác giả đương thời với những tác phẩm điển hình của họ. Những nhận xét tinh tế, sửa những chữ trong bài hát đã bị phổ biến sai giúp thính giả của ông, ngoài phần thưởng thức văn nghệ còn được tăng phêm phần kiến thức về âm nhạc. Những giọng ca thường được ông ưu ái nhất để đưa các bài nhạc hay đi vào lòng thính giả như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Sĩ Phú, Duy Trác. Trong một lần trò chuyện với tôi, Nguyễn Đình Toàn nói về các giọng ca nữ hàng đầu của Việt Nam thời VNCH như sau:

“Giọng ca của Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Tuyền… hiếm nhưng không quý, duy chỉ có giọng ca của Thái Thanh mới có đủ 2 chất quý và hiếm.”

Riêng với Khánh Ly, ông từng dạy hát và nhạc lý cho cô nên rất thân và hiểu về giọng hát này.

Nguyễn Đình Toàn không học nhạc ở trường lớp nào, chỉ ra công nghiên cứu các sách nhạc của Pháp (Việt Nam thời bấy giờ rất ít sách nhạc). Ông sáng tác khoảng 200 bài và phổ biến mới chừng một nửa qua 4 tập nhạc như: Hiên Cúc Vàng, Mưa Trên Cây Hoàng Lan… đa phần được in ở hải ngoại. Đượ.c hỏi nhận xét về nhạc của 2 nhạc sĩ vang dội trong làng âm nhạc Việt Nam là Phạm Duy và Văn Cao, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn nói rất tóm tắc “Nếu dùng hai từ cao và rộng để bàn thì nhạc Phạm Duy rộng hơn, nhạc Văn Cao thì cao hơn.”

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn sinh năm 1936 tại Hà Nội, di cư vào nam 1954, định cư tại Hoa kỳ năm 1999, Nguyễn Đình Toàn là bút danh chính thức còn một bút danh khác là Tô Hà Vân và Hồng Ngọc khi viết nhạc. Về văn nghiệp Nguyễn Đình Toàn đã xuất bản được 17 tác phẩm về truyện dài, tập truyện, bút ký, thơ và truyện kịch. Truyện dài đầu tay mang tên Chị Em Hải, xuất bản năm 1962; đến năm 1970 in truyện dài Áo Mơ Phai và ông đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc nhờ tác phẩm này. Rất nhiều nhà văn thơ tên tuổi viết về ông, gần như tất cả đều khen tặng, xưng tụng ông hết mình. Như Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Huỳnh Phan Anh… Du Tử Lê trong một bài viết đã gọi ông là “Người tình không chân dung của khán giả Việt Nam.” Quả là Du Tử Lê đã trao cho Nguyễn Đình Toàn ngôi vị của một Hoàng tử trong ước mơ của muôn nàng thiếu nữ. Gần đây nhà văn trẻ tên Lưu Na viết một cuốn sách dày gần 200 trang để nói về ông, với tựa đề là “Nguyễn Đình Toàn, Chữ & Người.” Cuốn sách là những nhận định về Nguyễn Đình Toàn rất thú vị, sắc bén và mới lạ, khác với các bậc đi trước: “Người cùng thời của ông viết ra những suy tư và tâm tình mang dấu ấn của thờ họ sống, những vấn đề lớn lao nhưng của cả một thế hệ. Còn cái ông viết là cái của muôn thuở: tình yêu và sự sống, được viết bằng cái cách của người 300 năm trước nói chuyện 400 năm sau.”

Hay:

“Võ Phiến quan sát mọi sự quanh mình, còn Nguyễn Đình Toàn thì thật ra chỉ ngó một thứ, tỉ mỉ một điều: lòng của ông… Đọc Võ Phiến thì mình theo người viết ngó ra chung quanh và đọc Nguyễn Đình Toàn thì mình ngó vào lòng người viết” (sách đã dẫn, Lưu Na).

Sắp đến ông sẽ cho ra mắt một tập thơ mang tên Thơ và Ca Từ, gồm 104 bài thơ trong đó có một số được làm ca từ của những bài hát của ông, nói một cách khác là những bài thơ của ông do chính ông phổ nhạc. Trong số này có 3 bài nhạc ông viết cho 3 loài chim mà ông đặc biệt yêu mến: Họa Mi, Hoàng Oanh và Đắng Đót.

Họa Mi là loại chim có giọng hót trong trẻo và hay nhất trong các loại chim rừng. Một người quen với người viết, rất sành điệu trong việc nuôi chim nói rằng, Họa Mi có đặc tính càng bay cao thì càng hót hay. Ông ta nhốt chim Họa Mi trong một lồng tre cao đến 2m, ở giữa là một cây trụ cao chừng 2/3 lồng, đầu trụ gắn một ổ Pi thật nhạy, hàn với một vòng tròn sắt nhỏ. Khi con chim đáp lên cái vòng, cái vòng sẽ chạy quanh, chim mất thăng bằng thì phải đập cánh, càng đập cánh nhanh thì ổ Pi có gắn vòng sắt tròn ấy càng xoay nhanh hơn; con chim Họa Mi sẽ tưởng mình đang bay cao, đem hết khả năng của mình mà hót lên những âm thanh bay bổng nhất, tuyệt diệu nhất. Nguyễn Đình Toàn yêu tiếng hót của Họa Mi và rất thích đường viền tuyệt đẹp chung quanh mắt của nó. Cứ như do một bàn tay khéo léo vẽ lên rất đều rất sắc bén và mềm mại. Nghe chim Họa Mi hót giọng ngọt ngào , trong veo như giọt sương trên cành, lòng người cảm thấy an yên hạnh phúc hơn là khổ đau, buồn bã.

“Này hỡi họa mi trên cành liễu xanhDạy cho ta biết cách yêu không buồnYêu nhau nhưng không đau lòngNhư suốt đời chim cắp cánh chung” (Họa Mi. Thơ và Ca Từ)

Riêng về con chim có tên thật lạ là Đắng Đót, Nguyễn Đình Toàn kể rằng, khoảng cuối thập niên 50 ông có dịp đến tỉnh Phú Yên, được dân địa phương vùng núi ở đây giới thiệu loài chim lạ tên Đắng Đót. Cứ hằng tối chúng đi vòng theo núi một con kêu “Đắng” một con kêu “ Đót”. Cứ thế, chúng nghe tiếng kêu nhau, tìm nhau cho đến sáng hôm sau chúng mới gặp nhau và cùng dẫn nhau đi mất. Dân gian kể Đắng, Đót là 2 anh em, sinh thời rất tương yêu quấn quít nhau nhưng vì do hiểu lầm đã giết nhau, nên khi chết hóa thân làm chim Đắng Đót luôn miệng kêu đắng đót mà tìm nhau nối lại tình anh em.

Chuyện dân gian là thế, cách của chúng tìm nhau trong suốt đêm trường đã làm cho chúng ta không khỏi bâng khuâng, cảm kích về tình người keo sơn gắn bó. Bài thơ có những câu thật xót lòng:

“Nước mắt tôi khóc chàngKhông dập tắt được lửa tình trong tôiÔi có ai kiaĐêm nao nức nghe đêmMới biết đêm sâuMới biết tim taLà bể đau khi yêu” ( Đắng Đót. Thơ và Ca Từ)

Thơ Nguyễn Đình Toàn thơ đã có sẵn nhạc tính riêng nên chỉ cần nghe lại lời thơ của mình là ông có thể ghi thành một bản nhạc với những âm giai mượt mà, bay lượn. Năm 1962 có một hiện tượng nổi bật về bộ môn thơ; đó là sự trình diễn của nghệ sĩ Nguyên Thanh, một nghệ sĩ ngâm thơ rất nổi tiếng, diễn ngâm bài Khúc Ca Phạm Thái của Nguyễn Đình Toàn. Nghệ sĩ Nguyên Thanh tập dượt bài thơ trong 6 tháng và trình diễn tại rạp Nguyễn Văn Hảo trên đại lộ Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, dưới sự dàn dựng của nhạc sĩ tên tuổi Đỗ Đức Thu cùng phần nhạc đệm của 3 nhạc sĩ tài danh bấy giờ là Nghiêm Phú Phi với Piano, Dương Thiệu Tước đàn Tranh và tiếng sáo của Nguyễn Đình Nghĩa. Bài thơ và phần diễn ngâm của Nguyên Khanh gây được tiếng vang lớn, sau đó được đưa đi theo đoàn văn nghệ trung ương diễn ở các nước Đông Nam Á. Bài thơ này sau đó cũng được Nghệ sĩ Hà Linh Bảo diễn ngâm các nơi được nhiều khán thính giả hâm mộ. Thế mới biết thời đó người Việt Nam rất yêu thích thơ văn, điều mà bây giờ đã không còn bóng.

Bài thơ Khúc Ca Phạm Thái gồm 73 câu, mỗi câu 9 chữ, thảng hoặc 7, 8 chữ, có khi nhiều hơn 10 chữ, Nguyễn Đình Toàn dùng nhiều từ ngữ xưa như: hề, chừ, ta, nàng… nên không khí của bài thơ rất cổ phù hợp câu chuyện ông kể. Ông thi hóa Phạm Thái, một tráng sĩ văn hay võ giỏi, sống thời Nguyễn Gia Long, hừng hực lòng yêu nước, nhưng chí không thành đành lánh đến cửa thiền. Duyên trần chưa dứt, Phạm Thái gặp, và yêu say đắm Trương Quỳnh Như. Cánh chim không thể dừng, chàng phải ra đi để làm nghĩa vụ, 10 năm trở lại với lời hẹn xưa. Nhưng, Quỳnh Như đã trở thành thiên cổ. Phạm Thái còn chỉ biết ôm mộ nàng mà khóc.

“Ta tráng sĩ hề lòng không mềm bằng kiếm
Ta anh hùng hề sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như…
Chợt năm canh gà chừ tóc hồ điểm bạc
Thù nhà chưa trả chừ nợ nước vai mang
Thẹn mặt làm ngơ chừ tủi thân hồ hải
Gục đầu lên gươm chừ máu đổ chứa chan…
Mộ nàng bao cỏ úa lòng ta bấy xót xa
Rưng rưng chén nhỏ trào tâm sự
Ta thương nàng hay ta thương ta”

Bài thơ bi thương nhưng lại tràn đầy hào khí và ca tụng một tình yêu đẹp, bị dang dở nên tạo ra sức hút với dân chúng, xứng đáng nằm trong danh sách những bài thơ hay của Việt Nam.

Edited by user Thursday, November 4, 2021 8:47:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#49 Posted : Thursday, November 4, 2021 11:18:44 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
“Khúc Thụy Du” – Không ai ngờ bản nhạc tình bất hủ được phổ nhạc
trên lời của bài thơ bi thương.


by Mẫn Nhi 11/08/2020 in Cảm xúc âm nhạc, Bàn tròn âm nhạc, Chân dung của tiếng hát, Tiểu sử bài hát 0

“Khúc Thụy Du“ do nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ thơ Du Tử Lê, ít ai ngờ bản nhạc tình bất hủ này lại được lấy lời từ một bài thơ tình bi thương Khúc Thụy Du.

Nhà thơ Du Tử Lê qua đời ngày 7/10 tại Mỹ. Sinh thời, ông có hơn 300 tác phẩm thơ được phổ nhạc. Trong số đó, Khúc Thụy Du là bài иổi tiếng nhất. Bài thơ ra đời năm 1968, khi ông 26 tuổi, sống ở TP HCM. Bản gốc Khúc Thụy Du dài hơn 100 câu, khi in trên tạp chí bị cắт hai phần ba, tác giả sau này cũng không còn nhớ được bài thơ gốc nên sử dụng văи bản đã lược đi để in sách.

Khi còn sống, nhà thơ chia sẻ bài thơ là kỷ niệm tình yêu giữa ông và một sinh viên ngành dược. Ông đã lấy tên đệm của cô gái – Thụy, cộng với chữ đầu trong bút danh của mình – Du – làm nhan đề. Cảm hứng buồn thương là sợi dây xuyên suốt tác phẩm: “Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai họa, một tuyệt lộ”, Du Tử Lê từng nói.

UserPostedImage

Nhà thơ Du Tử Lê. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

“Tuổi đời còn trẻ nhưng khi chứng kiến đất nước trong thời cнιếɴ тʀᴀɴн, loạn lạc, nhà thơ bật ra những suy tư nặng trĩu về cuộc đời. Câu chữ trong thơ ông chứa đựng nhiều khắc khoải, lột tả tâm trạng mòn mỏi của thi sĩ. Đoạn một của bài thơ vì thế có nhiều hình ảnh u ám, gợi liên tưởng đến cái cнếт thông qua hình ảnh chim bói cá”, nhà phê bình văи học Phạm Xuân Nguyên nói.

như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời

như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăи nào ngon hơn
làm sao tôi nói được

Trên nền bối cảnh u ám, đoạn hai tác phẩm nói về tình yêu của những người trẻ với những khát khao cháy bỏng giữa dòng đời nhiều bất an, xáo trộn. Ông liên tiếp đặt ra những câu hỏi không lời đáp, thể hiện khát khao gắn kết trong tình yêu.

vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em…

Thụy ơi và Thụy ơi
không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể
– Trích lời bài thơ Khúc Thụy Du

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhận xét: “Tác phẩm thể hiện phong cách ngôn ngữ đặc trưng của Du Tử Lê, nhiều day dứt, tuyệt vọng. Ngoài gửi gắm mong ước cuộc tình kéo dài mãi mãi kể cả khi cнếт đi, bài thơ là tiếng cảm thán về số phận hữu hạn, mong manh của mỗi người. Khi được thổi нồn bằng ngôn ngữ âm nhạc, tác phẩm có chiều sâu, dễ đi vào lòng người hơn”.

Nhạc sĩ Anh Bằng lấy nhiều câu trong đoạn hai, đồng thời sáng tạo thêm một số ý để phổ nhạc. Ông lược bỏ những ý thơ tang tóc, giữ lại những hình ảnh đẹp, lãng mạn. Ca khúc của Anh Bằng vẫn vương vất những nỗi ám ảnh của Du Tử Lê nhưng nhẹ nhàng hơn, tựa như một giấc mộng nửa hư nửa thực. Khung cảnh cнιếɴ тʀᴀɴн, cнếт chóc trong bài thơ lùi xa, chỉ còn lại bức тʀᴀɴн tình yêu đôi lứa.

https://thoixua.vn/cam-x...a-bai-tho-bi-thuong.html

Anh là chim bói cá
Em là bóng trăиg ngà
Chỉ cách một mặt нồ
Mà muôn trùng chia xa

Hình ảnh ánh trăиg, mặt нồ gợi sự vỡ vụn, chia ly. Một làn sóng động cũng khiến ánh trăиg tan vỡ. Ám ảnh về sự mong manh trong tình yêu còn được thể hiện qua cảm xúc mê đắm của nhân vật trữ tình. Dù trải qua nhiều đαυ khổ, tác giả vẫn cảm nhận tình yêu “êm ái và ngọt ngào”.

Hãy nói về cuộc đời
Tình yêu như lưỡi dao
Tình yêu như mũi nhọn
Êm ái và ngọt ngào

ca khúc "Khúc Thụy Du".

UserPostedImage

Tình yêu trong Khúc Thụy Du của Anh Bằng mãnh liệt, đắm say. Nhân vật trữ tình sẵn sàng vượt qua định mệnh ngang trái để tận hiến. Bài hát được sáng tạo thêm câu hỏi tu từ: “Cắt đứt cuộc tình đầu. Thuỵ bây giờ về đâu”, khắc họa rõ thêm sự day dứt dành cho nửa kia trong tình yêu.

Ca khúc được viết theo nhịp 3/4, chậm rãi và sâu lắng với nhiều đoạn luyến ʟáy tình tứ. Giọng hát giàu chất tự sự của Tuấn Ngọc giúp ca khúc dễ đi sâu vào lòng người. Khi thưởng thức Khúc Thụy Du, người nghe chìm đắm trong nhiều câu hỏi về thân phận con người, những điều đã đánh mất trong cuộc sống, sự mong manh, hữu hạn của tình yêu…

Một số khán giả từng nhận xét ca khúc không truyền tải hết nội ᴅung trong bài thơ của Du Tử Lê. Tuy nhiên, nhà phê bình văи học Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Nhạc sĩ cũng là một độc giả. Khi đọc bài thơ, họ phổ nhạc theo cảm nhận của riêng mình. Trong trường hợp này, Anh Bằng không làm mất đi tinh thần của văи bản gốc. Ngược lại, ca khúc đã mang tác phẩm đến gần hơn với độc giả, đồng thời khiến họ cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của áng thơ Du Tử Lê. Đó là sự tương hỗ giữa thơ và nhạc”.

Nguồn Hà Thu – Vnexpress

Edited by user Thursday, November 4, 2021 11:19:27 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#50 Posted : Friday, November 5, 2021 12:49:48 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Thâm Tâm, người thơ yểu mệnh


November 2, 2016

UserPostedImage

Chân dung Thâm Tâm (1917-1950). (Hình: Viên Linh cung cấp)

Viên Linh

Vợ con thí tất cho thiên hạ
Yêu rất ban ngày, ghét rất đêm
(Thâm Tâm, Can Trường Hành, 1944)

Thâm Tâm là một trong tam anh thời Tiền Chiến, bên cạnh Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Họ là ba người bạn thân nhau nhất. Trong ba người này một người có thể chính là 😭.KH, đó là phỏng đoán của dư luận thời tiền chiến, còn tự nhận thì không ai tin dẫu có một người đã tự nhận. (Nếu có những bạn đọc trẻ không rõ bốn chữ viết tắt trên là gì, thì một cách vắn tắt, đó là bút hiệu phụ nữ viết tắt của một người làm ra 3 bài thơ não nùng đã làm rơi lệ và tuôn mực xuống cả ngàn trang giấy về một mối tình tan vỡ não nề, gói ghém trong vần điệu những bài “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn,” “Bài Thơ Thứ Nhất,” “Bài Thơ Đan Áo,” và “Bài Thơ Cuối Cùng.”)

Ba mươi ba tuổi, vào một ngày cuối năm âm lịch, xem ra là năm Canh Dần (dương lịch 1950), Thâm Tâm từ trần sau một cơn sốt nóng râm ran trong khi tham dự chiến dịch Thu Đông.

Ba mươi ba tuổi, với một ít truyện dài đăng báo, một vài vở kịch chưa diễn, một tập thơ chưa hề được xuất bản dù vậy khuôn mặt văn chương của Thâm Tâm đã là một khuôn mặt hiển lộ. Rải rác. Cái ông còn để lại đây đó trên một số báo chí xuất bản hồi ông mới ngoài hai mươi tuổi. Rải rác, những câu thơ; những bài hành. Ông chết, tác phẩm còn tản mạn nơi những trang giấy rời những người bạn thiết. Đó là một điển hình ở tiền chiến, mà vài chục năm sau cái chết của ông, văn thơ Việt Nam còn tiếp tục đánh mất những trường hợp như thế. Chắc chắn đó không phải là những trường hợp hiếm hoi. Một bàn tay đếm không đủ những người văn nghệ Việt Nam đã vĩnh viễn ra đi trong khói lửa, và tệ hơn, trong đói nghèo bệnh tật). Hàn Mặc Tử (1912-1940). Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938). Bích Khê (1916-1946). Ở miền Nam trước 75 có Quách Thoại 27 tuổi, Chế Vũ, xấp xỉ 30 tuổi.

Cách đây ít lâu, sau khi về thăm nhà ở Sài Gòn, một chị bạn khi trở lại quận Cam có mang cho tôi cuốn “Thâm Tâm và 😭.KH” của Hoài Việt. Hoài Việt là một tác giả trẻ, phóng viên tờ Vệ Quốc Quân. Lúc ấy Thâm Tâm là Thư Ký Tòa Soạn, ngồi nhà cắt đặt công việc cho các biên tập viên, trình bày tờ báo, lại vẽ cả tranh cho tờ báo. Đó là giai đoạn kháng chiến, người đi kháng chiến coi cuộc kháng chiến là việc cứu nước đuổi thực dân xâm lược Pháp. Đó là thời rực rỡ cua những thơ văn thắm thiết tình yêu nước, của lòng trai thế hệ, thời của những đoàn quân khổng mọc tóc, những đồi tím hoa sim, những bên kia sông đuống, những nhà tôi, những tha la xóm đạo, những bài hành phương Nam… Thay vì ngồi tòa soạn, lần này Thâm Tâm lại đi. Đó là chuyến đi cuối cùng của tác giả Tống Biệt Hành. Hoài Việt kể: “Và chúng tôi đi. Tới Cao Bằng, bỗng một hôm anh kêu mệt. Anh sốt, nằm ở một căn nhà sàn, gần biên giới…Tôi cũng tưởng anh chỉ sốt bình thường một hai ngày rồi qua khỏi. Đến một buổi chiều, tôi được cử xuống đơn vị. Trước khi đi, tôi vào ngồi với anh một lát. Tôi nắm tay anh, thấy rất nóng. Mắt anh vàng hơn ngày thường. Anh bảo tôi đưa anh sang một chỗ nằm khác cho thoáng hơn. Tôi ôm lấy lưng anh, dắt đi. Anh vừa run lẩy bẩy vừa khẽ bảo:

-Mình thấy trong người thế nào ấy. Cậu đi khỏe nhé.
Tôi không thể ngờ đó là câu cuối cùng của anh nói với tôi. Ở đơn vị được một tuần, một hôm bỗng Thôi Hữu gặp tôi, báo tin là Thâm Tâm đã mất.” (tr.19). Trong tập Văn Học I, nhà xuất bản Tác Phẩm Mới in tại Hà Nội vào năm 1985, Từ Bích Hoàng viết: “…dọc đường đi lên biên giới (thu 1950), khi tới Quảng Uyên thì Thâm Tâm bị sốt cao, anh em trong đoàn phải gửi anh lại… Anh được đưa vào ở một nhà sàn tại Nà Pò và được một chú liên lạc viên đêm ngày chăm sóc chu đáo. Tuy ốm nặng nhưng anh không kêu than và cũng không dối dăng lại gì khi mất. Anh được chôn cất luôn tại bản Nà Pò. Chú liên lạc, sau khi anh mất, đã xỉn được bà con dân bản một mảnh vải trắng làm khăn tang và chỉ duy nhất đó là người để tang cho Thâm Tâm (trang 140).

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
(Thâm Tâm, Tống Biệt Hành, 1940)

Theo nhiều tài liệu, Thâm Tâm tự học và ngoài những học hành giáo khoa, ông còn học người xưa bằng những bộ sách lúc nào cũng kè kè bên mình, ở thành phố hay trong kháng chiến: những bộ Tam Quốc Chí, Thủy Hử… Cũng như phần đông thanh niên Việt Nam khác, Thâm Tâm dở dang chuyện học và lỡ làng kiếp sống. Đó cũng lại là một mặt tác hại của chiến tranh. Chưa hai mươi tuổi đã phải mưu sinh, cắm cúi trên những lòng sách và vừa hai mươi tuổi đã già dặn, cái già có thể hình dung thấy trên tuổi trẻ Việt Nam, và chỉ là Tuổi Trẻ Việt Nam. Cái già hai mươi tuổi va chạm ngoài đời, cái già với thê nhi quá sớm, cái già với hối hả hay chán chường.

Sinh ta, cha ném bút rồi
Rừng Nho tàn rụng cho đời sang xuân.
Nuôi ta, mẹ héo từng năm,
Vắt bầu sữa cạn tê chân máu gầy.

Dạy ta, ba bẩy ông thầy
Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi
Nhà ta cầm đợ tay người,
Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?
(Thâm Tâm, Trảng Ca)

Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917, tại Hải Dương, Bắc phần. Năm 18 tuổi ông bước vào làng văn với công việc trình bày bìa sách bìa báo cho nhà xuất bản Mai Lĩnh, Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Trước đó, và có thể ngay lúc đó, gia đình sống bằng nghề đóng sách. Có lúc vẽ tranh đem bán bên hồ Hoàn Kiếm. Những năm Nhật vào giải giới Pháp, ông đi Sơn Tây học nghề làm đồ gốm, và vẽ đồ gốm.

Bài thơ đầu tiên của ông in trên tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Ngoài thơ, Thâm Tâm còn viết kịch và truyện dài. Ông đã có 6 truyện dài in ra, là Tiếng Hát Mùa Xuẩn, Gánh Hát Sử Nam, Người Giữ Ngựa, Thuồng Luồng Ở Nước, Bọn Trẻ Tàn Tật và Thuốc Mê. Từng viết trên các báo Bắc Hà (do ông và Trân Huyền Trân tự xuất bản, chỉ được vài số) – Tiểu Thuyết Thứ Năm – Truyền Bá.

Thâm Tâm ốm yếu, bé nhỏ, bệnh tật nhiều, viết không đủ sống mà lại có một gánh nặng gia đình. Ông không hút thuốc, không trà đình tử quán tuy đôi khi uống rượu trong anh em. Thâm Tâm, người thanh niên có đủ ý thức, người cầm bút có đủ thứ bệnh, lúc tuổi vừa qua hai mươi. Và cũng chính trong thời gian đó, ông ôm ấp một trưởng thành khác trong tuổi già của thanh niên, một sinh lực khác cho một đời sống khác sau này, là đời sống của Thơ Thâm Tâm.

Tuổi ấy ông còn thao thức vì một tiếng gọi xa xôi vọng về. Và “ngày mai tôi phải đi, mai này tôi phải đi,” đó là những lời ông đã nhắc đi nhắc lại trong một số bài thơ. Năm 1945 ông đã đi, góp cái thân thể nhỏ nhoi, thêm cánh tay gầy guộc cho kháng chiến. Nhưng ý thức hệ kháng chiến không để lại gì trong thơ Thâm Tâm. Những gì ông để lại là những gì đã viết trên Tieu Thuyết Thứ Bảy, giai đoạn từ 1937 tới khoảng 1944. Hào khí trong thơ Thâm Tâm có trước giai đoạn kháng chiến. Cái sức lực suy nhược ấy không cất nổi gánh nặng ở đời, nhưng biến thành Thơ, thành Hành, trở thành hào khí của những bài thơ, bài hành nổi tiếng nhất trong những bài thơ bài hành Việt Nam, về tâm huyết trai trẻ của một nước đang sống trong thời bị trị, mặc dù xung quanh tràn ngập những sáng tác lãng mạn, không khí lãng mạn, của một nền thi ca lãng mạn và tượng trưng.

Vọng Nhân Hành

Thăng Long đất lớn chí tung hoành
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh
Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Hội nhau vầy một tiệc quần anh.

Mày gươm nét mác chữ nhân già
Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa
Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt
Chưa ngất men trời hả rượu cha.

Rau đất cá sông gào chẳng đủ
Nổ bùng giữa tiệc trận phong ba
Rằng: “Đương gió bụi thì tơi tả
Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!”

Thơ ngâm giỏ giọng, thời chưa thuận
Tan tiệc quần anh, người nuốt giận
Chim nhạn, chìm hồng rét mướt bay
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận.

Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thơ trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ, chửa một về!

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề.”
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê

-Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.

(Tiểu Thuyết Thứ Bảy, 1944)

Edited by user Friday, November 5, 2021 12:51:13 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#51 Posted : Tuesday, November 9, 2021 1:14:19 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Nhạc sĩ Tuấn Khanh


UserPostedImage

By Tre Online -

November 8, 2016

“Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”. Hình ảnh chiếc lá vàng cuối rời cành, cuốn vào gió, theo chân người tình trong một chiều ly biệt, là một hình ảnh lãng mạn nhưng xót xa. Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác giả của ca khúc “Chiếc lá cuối cùng” đã chấm hết ca khúc của ông bằng câu hát này. Ông cũng là tác giả của nhiều tình khúc buồn da diết và day dứt khác như “Nhạt nhoà”, “Nỗi Niềm”, “Dưới giàn hoa cũ” hay “Hoa Soan bên thềm cũ”, “Quán nửa khuya” v.v…

Thanh Thư

Thanh Thư (TT): T được biết chú học vĩ cầm từ nhỏ và được giải nhất của đài phát thanh Hà Nội năm 1953 về giọng hát. Chú có thể kể kỷ niệm đáng nhớ ngày chú đoạt giải nhất không?

Tuấn Khanh (TK): Ngày ấy cuộc thi có 120 người phải qua 3 vòng thi: Sơ kết (chọn ra 25 thí sinh), bán kết (chọn ra 😎, chung kết (chọn hạng 1,2,3) và giai đoạn cuối biểu diễn. Qua hai vòng đầu tôi đoạt giải nhất và cô Thanh Hằng đoạt giải nhì. Khi đến vòng chung kết và biểu diễn chỉ còn 8 người thì tôi gặp chuyện rắc rối, xui xẻo. Nguyên nhân, sau này do ông Thẩm Oánh kể lại tôi mới biết. Số là tác giả bài hát “Tan Tác” lúc ấy là Tu Mi vì muốn đền ơn, trả nghĩa cho cô Thanh Hằng đã giới thiệu cô bạn gái cho ông, nên ông nhúng tay vào phá bĩnh trong phần biểu diễn của tôi. Ông Tu Mi có quen một chuyên viên âm thanh lo phần kỹ thuật cho đài phát thanh Hà Nội. Ông ta bảo với người ấy rằng cứ đi đi để ông ấy trông nom hộ. Khi dự thi tôi mang số báo danh là 1, cô Thanh Hằng là 2. Người mang số 8 thi đầu, người kế tiếp mang số 7, và cứ thế tiếp tục. Mọi chuyện đều xảy ra tốt đẹp tuy nhiên đến lúc tôi cầm micro hát chót thì có chuyện. Tôi hát bài “Cánh chim giang hồ” của Ngọc Bích. Khi tôi mới cất lời “Lờ lững cánh chim giang hồ bay”, thì micro tắc tị. Ngày ấy hệ thống âm thanh có những chiếc bóng đèn nhỏ thay vì các hàng nút. Chỉ cần xoay lỏng 1 trong những chiếc bóng đèn đó, thì âm thanh đã khác, hoặc tắt hẳn. Ông Tu Mi vặn cái bóng đèn lỏng ra, dòng điện lỏng bị ngắt nên micro không ra tiếng nữa. Tôi bị khớp và mất tinh thần. Ban kỹ thuật ra công sửa, xong tôi phải hát lại. Nhạc vừa dạo, tôi hát “Lờ lững cánh chim giang hồ bay, về phía chân trời xa tắp mây…”. Micro lại hỏng tiếp. Hồn vía tôi tiếp tục lên mây. Cứ thế , tất cả là 3 lần. Kết quả vòng biểu diễn tôi bị xếp hạng nhì. Một thời gian sau, ông kỹ thuật viên tiết lộ bí mật với ông Thẩm Oánh là phó giám đốc đài phát thanh kiêm chánh chủ khảo cuộc thi, việc ông Tu Mi đã cố tình nhúng tay vào. Khi di cư vào Nam, ông Thẩm Oánh gặp tôi có đến bắt tay xin lỗi, kể lại và cải chính lẽ ra tôi được hạng nhất mà vì lý do kỹ thuật đáng tiếc như vậy xảy ra.

Tuấn Khanh, tên thật Trần Ngọc Trọng, sinh năm 1933 Ngoài viết nhạc, ông còn là một ca sĩ với nghệ danh Trần Ngọc. Năm 1953, ông giành giải nhất của đài phát thanh Hà Nội về giọng hát. Nhạc phẩm đầu tiên của ông là “Đò ngang” (viết cùng Y Vân). Ông định cư tại California, Hoa Kỳ. Tại đây, ông mở một tiệm phở mang tên “Hoa soan bên thềm cũ”. Ông còn có các bút danh khác nhau như, Thương Hoài Thương, Trần Kim Phú, Hoàng Mộng Ngân.v.v…

TT: Trong cuộc thi có Anh Ngọc và Hoàng Giác tham gia không chú?

TK: Cả hai đều không tham dự. Thời điểm đó người ta gọi ca sĩ nổi tiếng là tài tử hay danh ca. Ca sĩ Anh Ngọc lúc ấy đã nổi tiếng trong Nam được gọi là tài tử Anh Ngọc, trong khi ngoài Bắc có tài tử Ngọc Bảo. Cũng như trong Nam có danh ca Minh Trang (mẹ của ca sĩ Quỳnh Giao, vợ nhạc sĩ Dương Thiệu Tước), ngoài Bắc có danh ca Minh Ðỗ (dì của Kim Tước). Hoàng Giác cũng đã nổi tiếng rồi. Khi ấy ông vừa sáng tác bài “Quê Hương”.

TT: Sau khi đoạt giải và trở thành một ca sĩ nổi tiếng, chú có tiếp tục sự nghiệp ca hát của mình không và hát ở đâu? Bài nào chú hay hát thời đó? Giữa ca sĩ và nhạc sĩ, nếu phải chọn một chú nghiêng về phía nào hơn?

TK: Vào trong Nam tôi hát ở các ban nhạc như Bảo Chính Ðoàn của Hoàng Trọng, Vũ Văn Tuynh, Vũ Nhân, Hoàng Hưng… Tôi bắt đầu sáng tác nhưng chỉ ngầm thôi. Người khai tâm âm nhạc cho tôi là bác sĩ Tuấn, anh tôi. Ngay từ lúc 10 tuổi tôi có thể cầm một bản nhạc mà xướng thanh ngay. Những bài tôi hát thuở đó thường là: “Mơ hoa” của Hoàng Giác, “Một chiều thu” của Nhật Bằng, “Nỗi lòng” của Nguyễn Văn Khánh, “Người về” của Phạm Duy… Tôi hay hát chung với Anh Ngọc, Ngọc Long, Duy Trác, Mộc Lan, Tâm Vấn… Khi ấy Tâm Vấn chưa phải danh ca. Bà có lối hát riêng nhún nhảy rất lẳng lơ, gợi cảm mà giới trẻ rất thích, nên các thanh niên chết mê mệt.

Từ năm 1955 đến năm 1970 tôi vừa làm ca sĩ và nhạc sĩ. Ðến năm 1970, tôi quyết định giải nghệ không hát nữa, để chuyên tâm sáng tác. Ngoài ra, tôi chơi violon cho các nơi để sống. Tôi kéo violon và làm cho đài phát thanh Sài Gòn được 10 năm. Mỗi hợp đồng họ trả 200 đồng, sau lên 250 đồng. Ngày được 2 hợp đồng, có 500 rồi, mà ngày nào cũng có việc làm. Ðộc thân, thuê gác 500, cơm tháng 5000 một tháng, vừa đủ sống. Tôi cùng làm với nhạc trưởng Võ Ðức Tuyết, nhạc sĩ Nguyễn Quí Lãm, Ðặng văn Hiền đánh violon, thổi sáo.

TT: Trước năm 75, chú là một nhạc sĩ chuyên nghiệp hay tài tử ? Chú có đi quân dịch không?

TK: Tôi là một nhạc sĩ chuyên nghiệp cho các đài phát thanh và đánh nhạc trong các ban nhạc quân đội hay tâm lý chiến. Khi họ gọi nhập ngũ tới lứa tuổi 20 thì tôi 21 tuổi, họ gọi 22, thì tôi 23, đều quá tuổi nhập ngũ. Cho đến khi Tổng Ðộng Viên Tết Mậu Thân, các công chức làm trong đài phát thanh phải đi học quân sự năm tuần. Tôi bị gọi tham gia binh đoàn trừ bị để đến khi nếu có biến, cộng sản tiến chiếm đài phát thanh thì mình cũng biết bắn súng để giữ đài.

TT: Chú có từng chạy theo khuynh hướng thời thượng hay ý thích của số đông đại chúng khi sáng tác không? Cảm nghĩ của chú khi đi ra khỏi đường lối sáng tác thông thường.

TK: Khi tôi viết loại nhạc đại chúng thì loại nhạc này bán rất chạy. Nó không những lợi về phần tài chánh mà còn lợi phần tiếng tăm nổi hẳn lên. Bởi lẽ giới bình dân đông trăm người, chỉ có một trí thức. Trong khi những tác giả có bằng âm nhạc đeo đầy ngực mà chẳng khi nào quần chúng biết tên. Sáng tác nhạc, không phải là học nhạc xong là có thể viết nhạc hay nổi tiếng mà nó đòi hỏi năng khiếu trời cho nữa. Bằng sáng tác của người dân cấp cho mới là cái bằng quan trọng nhất. Thời đó những bài loại này tôi vừa viết ra, quần chúng mua ào ào. Nhà in phát hành 5000 bản, chỉ 1, 2 ngày là bán hết. Cứ 7 đồng một bản. Tôi là một trong vài ba tay tự in nhạc lấy không qua nhà xuất bản nào hết. Nhạc sĩ Lam Phương là người có nhạc bán chạy cũng tự in lấy. Nếu qua nhà xuất bản họ mua bản quyền 1 năm, trả mình 1500 đồng. Họ in bao nhiêu bản để bán mình không biết. Giả dụ họ nói in 2 ngàn bản nhưng thực ra in 10 ngàn bản rồi bán, mình cũng chẳng biết. Tuy nhiên in lấy phải có tiếng và có khách mới được, ngược lại chỉ lỗ tiền in. Một bản nhạc như “Quán nửa khuya” in đợt đầu và tái bản đã được 5 ngàn bản, sau lên 10 ngàn và đem được về 200 ngàn đồng. Nhà xuất bản Tinh Hoa điều đình mua lại bản quyền với giá 200 ngàn đồng. Lúc đó, bài hát đã bán chậm rồi nên tôi mừng lắm. Còn những bản nhạc ký tên Tuấn Khanh, nhà xuất bản mua một năm trả 1500 đồng đã mừng rồi, nếu họ mua 3 năm, 4500 thì mừng lắm. Khi đó một tô phở giá 3 đồng.

Tôi có làm hai loại nhạc khác nhau. Loại nhạc có người nghe chọn lọc thường được gọi là “nhạc sang”, tôi đề tên là Tuấn Khanh. Còn loại nhạc dành cho đại chúng, tôi lấy nhiều tên khác nhau như Thương Hoài Thương (Lệ Tình, Tuy Anh Không Nói), Trần Kim Phú (Vì Lỡ Thương Nhau, Tỉnh Giấc), Hoàng Mộng Ngân (Tình Buồn Em Gái)….

TT: Quan niệm sống của chú với âm nhạc thế nào?Trong gia đình chú có ai học nhạc không? Chú có cho phép hay khuyến khích con cháu mình học và hành nghề ca nhạc sĩ không?

TK: Tôi sống và làm việc trong ngành này lâu nên tôi hiểu, phải có năng khiếu mới làm nhạc hay sáng tác hay. Con cái tôi thì có năng khiếu nhưng tùy thuộc vào độ nhiều hay ít. Tuy nhiên theo tôi phải thật nhiều mới nổi trội. Ngoài ra còn phải thật thích và có đam mê theo đuổi nữa, nên các con cháu tôi không ai đi ngành này cả.

TT: Trong một bài hồi ký của ca sĩ Quỳnh Giao, bà có nhắc đến giai đoạn “Chu Mạnh Trinh”, tức thời gian anh sáng tác nhiều ca khúc rất hay khi anh cư ngụ tại ngõ hẻm Chu Mạnh Trinh như: “Chiếc Lá Cuối Cùng”, “Một Chiều Ðông”, “Mộng Ðêm Xuân”, “Ðồi Sim”, “Dưới Giàn Hoa Cũ”, và bài “Ngày Nào Con Trở Về”. Có phải đó là thời sáng tác hưng thịnh nhất của chú không? Chú có thể cho biết lý do tại sao? Ðiều gì đã thúc đẩy? và hình bóng người thiếu nữ dịu dàng, e thẹn, chờ đợi người con trai trở về có phải thật hay chỉ là hư cấu?

TK: Giai đoạn ấy à? Ðiều gì thúc đẩy? Thực ra khi tôi sáng tác toàn là có tâm sự mới sáng tác. Dĩ nhiên là quen người này, người kia rồi nảy sinh tình yêu, cảm xúc thật, mới viết được. Hình bóng các thiếu nữ phảng phất đâu đó đều là người thật, việc thật, không có hư cấu. Có lần cô Nguyễn Cao Kỳ Duyên trên Paris By Night hỏi “Thế, tức 10 bài hát là 10 cô, 20 bài , 20 cô?”. Thật ra với 1 cô, tôi có thể viết mấy bài rồi. Tôi để ý, hễ bài nào tôi viết cho người khác hay lấy tâm sự của người khác mà viết, gọi nôm na là “thương vay, khóc mướn” thì những bài ấy chẳng có bài nào để đời cả. Hoặc có thể nói là “có lửa mới có khói”.

TT: Chú có thể kể lại một vài kỷ niệm vui buồn về đời sống quây quần chung quanh các bạn bè văn nghệ ở ngõ hẻm Chu Mạnh Trinh ngày ấy như Phạm Duy, Anh Ngọc, Vũ Thành, Dương Thiệu Tước, Hoàng Anh Tuấn v.v…

TK: Ngày còn ở ngõ hẻm Chu Mạnh Trinh, tôi thân nhất là gia đình Phạm Duy. Phạm Duy hay đi lưu diễn nên hay nhờ tôi trông nom dùm ban Hoa Xuân. Tôi còn soạn bài thâu thanh hay gọi ca sĩ hoặc giúp đỡ nhiều thứ cho Vũ Thành, Võ Ðức Thu (ở gần đấy) v.v… khi họ cần đến. Chuyện vui thì ngày ấy các con Phạm Duy nghịch phá nhất xóm. Ngày Tết cúng Giao Thừa mà để ngoài sân cúng, đóng cửa đi vào, đợi hết nhang ra thì con gà, trái dưa hấu, biến mất. Mùng hai Tết qua mừng tuổi Phạm Duy, tôi bảo “Năm nay xui quá anh ơi, giỗ Giao Thừa, tụi con nít vào bê mất con gà, quả dưa hấu”. Ông bảo: “Em ơi, em đừng có chửi, có khi thủ phạm là con anh”. Tôi cũng buồn cười quá, chắc ông cũng biết rõ con ông nghịch phá như thế nào.

TT: Chú biết nấu phở khi nào?

TK: Năm 1983, tôi vượt biên qua đến Hoa Kỳ thì trắng tay. Tôi liền ngẫm nghĩ cách mưu sinh giúp gia đình. Tôi bắt đầu nghiên cứu cách nấu phở bằng cách cố nhớ lại ngày còn bé được ăn phở thế nào, rồi bắt đầu thực tập. Một hôm tôi mời Duy Quang và bạn bè tới ăn phở tôi nấu. Ai cũng nức nở khen ngon. Trong đám bạn có một bà chủ tiệm phở ở Bolsa đến ăn phở và hỏi tôi có muốn đến giúp tiệm phở của bà không, bà trả 2500 đô một tháng. Số tiền này ngày đó lớn lắm, tôi mừng quá, tính chuẩn bị đi làm cho bà ấy. Tuy nhiên ông mục sư của Hội Thánh Tin Lành tôi quen khuyên, không nên làm vì nếu làm cho họ sau khi họ học hết nghề, sau 1 tháng họ sẽ cho nghỉ việc. Thế là tôi không đi làm cho bà nữa. Tôi lại nghiên cứu thêm một thời gian dài, nhưng chưa mở tiệm được vì chưa đủ tiền mà các con còn nhỏ. Tôi tiếp tục mở tiệm tại gia và mời bạn bè đến ăn. Phải kéo dài tới 14 năm mới ra mở được khi con cái đủ lớn và chúng có thể đảm đương việc mở tiệm.

TT: Cảm ơn chú và chúc chú an bình cùng những sáng tác ngày càng sung mãn hơn.

Thanh Thư
Mắt Buồn  
#52 Posted : Saturday, November 27, 2021 12:42:27 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Anh Còn Nợ Em –
Duyên thơ nhạc giữa Anh Bẳng và Phạm Thành Tài


UserPostedImage

UserPostedImage

Khi nhạc sĩ Anh Bằng giã từ nhân thế, báo chí ghi sự nghiệp ca nhạc có nhắc đến bản Anh Còn Nợ Em như là một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của ông.

Có lẽ đây là ca khúc phổ thơ thành công và sau cùng nhất so với những ca khúc khác và được nhiều ca sĩ trình bày trên sân khấu hiện thời cũng như bao nhiêu người yêu nhạc hát khắp nơi.

Thi sĩ Phạm Thành Tài

Bài ca chỉ có mấy câu thơ lập đi lập lại rất khéo, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ hát, để phổ biến rộng rãi. Giai điệu ngọt ngào và đặc biệt bốn chữ “Anh Còn Nợ Em” thật tình tứ, quyến luyến.

Hai kẻ yêu nhau, chia tay, rồi có khi nào nhớ tới nhau, viết thư, nhắn tin, hay tái ngộ tình cờ chỉ cần một câu hát “ Anh Còn Nợ Em” là đủ. Để chứng tỏ anh vẫn còn yêu em và như một lời xin lỗi khéo léo.

Nói theo dân gian, hai tiếng “ duyên nợ ” chỉ tình yêu đôi lứa và trở thành vợ chồng. Nếu gặp nhau mà xa nhau thì “có duyên mà không có nợ ”. Và nếu mà nói “Anh còn nợ em” thì đâu đó, hình như vẫn còn yêu em.

Chợt nhớ câu văn nổi tiếng “ Love means never having to say you’re sorry ( Yêu có nghĩa là không bao giờ nói xin lỗi rất tiếc )” trong cuốn truyện Love Story của Erich Segal dựng thành phim được bao người thưởng thức.

Nhạc sĩ Anh Bằng kể rằng đọc tập thơ nhỏ của Phạm Thành Tài, có mấy bài thơ ngắn, rồi thích thú phổ thành bản Anh Còn Nợ Em. Lời ca như sau :

“Anh còn nợ em, công viên ghế đá, công viên ghế đá, lá đổ chiều êm. Anh còn nợ em, giòng xưa bến cũ, giòng xưa bến cũ, con sông êm đềm. Anh còn nợ em, chim về núi nhạn, trời mờ mưa đêm, trời mờ mưa đêm. Anh còn nợ em, nụ hôn vội vàng, nụ hôn vội vàng, nắng chiếu qua rèm. Anh còn nợ em, con tim bối rối, con tim bối rối, anh còn nợ em. Và còn nợ em, cuộc tình đã lỡ, cuộc tình đã lỡ, anh còn nợ em.”

Trong mỗi đoạn nhạc, có 4 câu thơ mà có câu lập lại hai lần, toàn bài câu “anh còn nợ em” lập lại 8 lần; đó là nét riêng của ca khúc và lập lại mà nghe không chán.

Khi bài hát phổ biến, nhạc sĩ Anh Bằng nhờ người tìm tác giả bài thơ và khi tìm được thì thi sĩ Phạm Thành Tài đã qua đời hơn mười năm. Ông chép tay bài nhạc Anh Còn Nợ Em và tặng cho người vợ của thi sĩ làm kỷ niệm.

Thi sĩ Phạm Thành Tài sinh năm 1932 và mất năm 1997. Quê quán ở quận Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa. Ông từng bị tù Cộng Sản sau năm 1975, đi qua Mỹ qua diện HO và học lấy bằng Đông Y Bác Sĩ ( OMD- Oriental Medical Doctor ).

Ông đã viết văn làm thơ từ năm 1955. Những tác phẩm đã xuất bản gồm Tình Em Còn Đó (Thơ), Hương Gây Mùi Nhớ (Thơ), Hoa Đào Năm Ngoái (Tập Truyện ).

Xin ghi ra mấy dòng thơ của Phạm Thành Tài để hiểu thêm :

“Anh là Tháp, anh nhìn em ngủ. Em là sông em nằm gối chân anh. Gió Tháp sông trôi đôi bờ thủ thỉ. Em là sông Cái anh Tháp Chàm.

Cầu Bóng đón em, cánh tay em đó. Sóng eo thon vòng nối đôi bờ. Kìa nụ hôn anh hay mặt trời chói đỏ. Nụ hôn thật dài trên dòng chảy như mơ.”( Phát Cảnh- Tình Em Còn Đó )

“Ngang vườn chợt vắng áo em phơi. Nhớ xao xác lá ngóng mây trời. Mong như dây thép trơ ngoài nắng. Chim sẻ giăng chờ chẳng muốn bay.” ( Áo Trắng- Tình Em Còn Đó )

“Mai bỏ anh về. Sao. /Hoa thôi nở. Và áo nữa./ Thôi bay. Nắng thôi đỏ. Lửa/ Tàn thôi cháy bước xôn xao”. ( Em Bỏ Anh- Tình Em Còn Đó )

“Hai đứa bên nhau trong rừng vắng. Gió lá rì rào vây quanh. Anh nhặt dùm em bên suối vắng. Những sợi thông vàng vương tóc xanh. Em ơi cho dẫu tình cách mặt. Chớ có trông hình để bóng xa. Giữa thư yêu anh tặng em kỷ vật. Một sợi thông vàng vương tóc xanh.” ( Kỷ Vật- Tình Em Còn Đó )

Phạm Thành Tài có viết một Hồi Ký, xin trích một đoạn :

“Hồi còn ở quê nhà, sau tám năm “cải tạo học tập” về, tôi có mở một phòng mạch chữa bệnh cho bà con để kiếm sống qua ngày. Chữa bệnh bằng Tây Y kiếm cơm hơi khó vì thuốc hiếm, mắc quá, bệnh nhân mua không nổi nên tôi chuyển sang chữa bằng Đông Tây Y kết hợp. Nhờ trời cũng đắp đổi bữa có bữa không. Nhưng tôi quyết không bỏ nghề, không chỉ vì sợ mất cần câu cơm, mà còn vì tôi không thể bỏ ngang thân chủ mình. Bà con lành được bệnh tôi cũng có niềm an ủi, hơn nữa cái thế giới quen biết của mình ngày càng rộng khắp với bao nhiêu tâm sự vui buồn trong thời ly loạn nhân tâm.

Trong số đó có một người con gái tên Thư. Cô gái này hình như là sinh viên cũ của Sàigòn không được vô Đại Học Nhà Nước, rất thích đọc sách. Lạ một điều là cô ta chỉ thích loại tiểu thuyết lịch sử. Cô kể cho tôi nghe gần như thuộc lòng nào là “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng, nào là “Chiến Tranh và Hoà Bình”, nào là “Ana Karenina” của Tolstoi. Cuốn này cô kể thật hấp dẫn, đây là cuốn có tình tiết rất tinh tế, rất khó kể sao cho hấp dẫn, thế mà tôi nghe phải mê luôn các nhân vật trong ấy. Có một lần nghe cô kể, không hiểu sao tôi buột miệng hỏi:

– À mà lâu nay cứ nghe chuyện ngoại quốc. Còn truyện trong nước Thư có đọc nhiều không ?
– Chuyện nào em cũng đọc. Hễ thấy là em mua ngay. Hết tiền vì đọc, má em la hoài… Em đọc cả sách “chui” nữa.
– Cả sách “chui” nữa, sách “chui” thì Thu thích cuốn nào?
– “Một Ngày của Ivan” và “Quần Đảo Ngục Tù” của Solzenitsyne, nhất là cuốn “Tầng Đầu Địa Ngục” cũng của Solzenitsyne.

Tôi lấy làm ngạc nhiên, nhưng ra mặt tỉnh bơ.

– Còn sách chui trong nước ?
– “Đường Đi Không Đến” của Xuân Vũ !
(Trích trong Hồi Ký Phạm Thành Tài )

Đó là những nét thơ văn của thi sĩ Phạm Thành Tài, tác giả mấy câu thơ được nhạc sĩ Anh Bằng đưa vào ca khúc nổi tiếng Anh Còn Nợ Em.

Người ta vẫn thường nói nhạc chắp cánh cho thơ. Những câu thơ đưa vào bài hát được ca sĩ, được quần chúng hát khắp nơi. Bốn chữ Anh Còn Nợ Em, nói ra thì nghe rất bình thường ; nhưng hát thì trở nên tình tứ chứa chan bao ý nghĩa.

Thi sĩ Phạm Thành Tài ra đi năm 1997, nhạc sĩ Anh Bằng vừa giã từ giới yêu nhạc ngày 12 tháng 11 năm 2015. Mối duyên thơ nhạc giữa hai người tạo nên ca khúc nổi tiếng Anh Còn Nợ Em.

Trần Chí Phúc/ SBTN

Edited by user Saturday, November 27, 2021 12:43:12 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#53 Posted : Sunday, December 12, 2021 7:49:22 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Quyền Lực Của Nhan Sắc


Cung Trầm Tưởng

December 29, 2019 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Bài phát biểu của Cung Trầm Tưởng ngày ra mắt tập thơ “Một Hành Trình Thơ 1948-2018”

Trước khi nhập đề, tôi xin kể cho quý vị nghe một mẩu chuyện mà bản thân cảm thấy vui vui và khá thấm thía.

Ấy là, sau buổi chia tay cách đây đã trên nửa thế kỷ, tôi và anh bạn đồng môn thân thiết năm xưa Gilbert gặp lại nhau ở Paris. Anh có nhã ý mời tôi về ở nhà anh trong suốt thời gian hai tuần viếng thăm thủ đô ánh sáng để “thưởng thức tài nấu nướng không chê vào đâu được của bà vợ Francoise của tao”, anh nói với tôi như vậy.

Trong không biết bao cuộc bù khú và cụng với nhau những ly sâm-banh, vang đỏ, vang hồng tuyệt diệu của Pháp, có một lần tôi chuyển sang hỏi Gilbert về tình hình mối quan hệ nam nữ ở nước mày như thế nào, còn như ở bên Mỹ chúng tao, nó không được êm thắm cho lắm, đôi khi bùng nổ thành một cuộc chiến giới tính ác liệt, với một số không ít những tai to mặt lớn gồm cả hàng giáo phẩm phải khăn gói vào ngồi tù mọt gông.

Gilbert tỏ vẻ thích thú với những câu hỏi của tôi và hào hứng trả lời đại loại như sau: Người nước ngoài hay hiểu lầm nghĩa đích thực của cái họ gọi là galanterie gauloise – tôi, Cung Trầm Tưởng dịch thoát thành nghệ thuật nịnh đầm kiểu “con gà cồ gô-loa.”

Thật ra, mục tiêu tối hậu của việc bọn đàn ông Pháp chúng tao tán tỉnh phụ nữ không nhằm chiếm hữu trái tim họ, mà là nhằm chuyển vai trò chúng tao từ vị thế một đấng mày râu hiển hách của cái chúng mình tự hào gọi là phái mạnh sang làm một tên đầy tớ hân hoan vì được lọt vào mắt xanh và cung cúc phục vụ hết mình các bà các cô đáng yêu ấy.

Theo tao, Gilbert nói tiếp với một giọng nửa bỡn cợt nửa nghiêm trang, đó mới là định nghĩa xác thực nhất của cái người Mỹ chúng mày gọi là macho, tức một thứ phô phang biểu bì cường điệu, lố bịch, hợm hĩnh, dởm đời, nguỵ nam tính.

Nói cho chính danh, tức phản ánh đúng chân tính của sự việc, các bà các cô mới thực sự là phái mạnh mà không phải đi chuyển hệ, chuyển giới gì hết. Bởi vì với nữ tính mềm mại, duyên dáng, dịu dàng, ngọt lịm của mình, các bà các cô trong thực tế đã khuất phục được bọn đàn ông chúng mình tuy to xác nhưng lại rất ư là nhẹ dạ cả tin.

Rồi Gilbert kết thúc bằng viện dẫn lịch sử: Đã có hơn một triều đại bị tiêu vong, hay một ngai vua đã bị lật đổ chỉ vì sức mạnh mềm của các nàng quốc sắc khuynh thành (Hết trích).

Phần mào đầu này chấm dứt với một điều có tính riêng tư kẻ này muốn tiết lộ cùng quý bạn. Đó là, cuối đời tính sổ hắn mới hay suốt đời chẳng làm nên tích sự gì ngoài làm thơ. Kết quả suốt đời túi rỗng, và sự nhẹ bỗng kim tiền này khiến hắn bước đi nhẹ hều như một tiên ông đi trên mây.

Quý bạn ạ, tôi bắt đầu đi trên mây đây.

Nhan đề bài phát biểu tôi sắp trình bày với quý vị là “Quyền Lực của Nhan Sắc”.

1. NGƯỜI NỮ BAUDELAIRIEN

Nhà thơ Charles Baudelaire là tác giả của câu thơ sau được các nhà phê bình văn học đánh giá là bất hủ:

Je suis belle, ô mortels! comme un rêve de pierre
Hỡi con người hữu hạn, ta đẹp như một giấc mơ của đá.

Tôi xin diễn nghĩa câu thơ súc tích và trừu tượng này như sau:
Đá trong thơ của Baudelaire là thứ đá gì? Đó là một thứ đá siêu phàm, thứ đá có hồn, thứ đá thiêng, thứ đá biểu tượng của giấc mơ muôn đời của con người: giấc mơ bất tử.
Đá có một liên hệ gắn bó với sự chết của con người, nó chính là những phiến cẩm thạch nguy nga và trầm mặc của lăng tẩm một kiều nương có một vẻ đẹp kiêu sa, diễm lệ như của các thần nữ huyền sử Hi-La.

Qua sự hoá đá sau cái chết thể lý của mình, nàng kiều nương ở lại với đời với tư cách là sự hiển thị của lý tưởng trường tồn, một lý tưởng toàn bích như vẻ đẹp của thơ. Tôi nghĩ, qua câu thơ bất hủ của mình, Baudelaire muốn ám chỉ một chân lý siêu nhiên theo đó vẻ đẹp của thơ là một phép hoá giải nhiệm mầu cái mâu thuẫn cơ bản giữa thực tế hữu hạn của con người và giấc mơ bất tử của nó.

Chân lý siêu nhiên trên chứng tỏ con người với giấc mơ trường tồn của nó không là một đam mê vô ích như Jean Paul Sartre, người khởi sáng chủ nghĩa hiện sinh vô thần, đã nghĩ. Bởi vì ở nơi con người có sự cộng sinh của hai hữu thể tinh thần và vật chất. Với tư cách là hữu thể tinh thần, nó có một khả năng siêu việt, tức một khả năng tồn tại liên tục bên ngoài thực tế hữu hạn của nó.

Nói rõ hơn, giấc mơ muôn đời của con người là được tồn tại trong cõi vĩnh hằng với tư cách là sự thăng hoa của con người thế tục nó đã từng là lên thành một hữu thể tuyệt hảo tràn đầy hạnh phúc. Giấc mơ tuyệt đối này không là một hư cấu viển vông mà là một bộ phận cấu thành của bản chất con người. Thiếu nó, con người mất khả năng tồn tại với tính cách là một giá trị nhân bản hoàn bị.

Sự hao hụt bản thể trên, tức sự hao hụt nhân tính, là một khuyết tật những người duy vật cực đoan và những người thực tiễn quá khích thường mắc phải. Tối đa, nó có thể hoá con người từ là một động vật muốn làm một thần linh rớt xuống thành một con quỷ. Và, thực tiễn lịch sử chỉ cho thấy quỷ chính là tác nhân của tội ác tầy trời, như tội ác chống loài người, tội ác diệt chủng, tội ác thanh trừng giai cấp, những tội ác kỳ thị tôn giáo và tội ác chiến tranh chẳng hạn.

Về quyền lực siêu phàm của người nữ Baudelairien, tôi có cảm tác mấy vần tụng ca sau:

Em ướp trầm hương ngan ngát thánh
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên
Em gần gũi cũng thiêng khôn kể
Dạy dỗ thi ca ý niệm đền

Bát quái thu trong lồng ngực nõn
Ngũ hành tụ lại bàn tay thon
Rốn em trái đất bày phương trận
Vũ trụ trồng ươm mô thức tròn

Là khởi sự cùng là kết thúc,
Đầu nguồn mạch nước, cuối dòng sông,
Em sinh sôi những áng cầu vồng
Trước Sách Ước đến sau cùng Lịch Sử.

2. NGƯỜI NỮ HẰNG CỬU

Nhà thơ Gerald De Nerval có đề ra khái niệm một mẫu nữ lý tưởng ông gọi là người nữ hằng cửu – éternel féminin.
Tôi xin triển khai khái niệm trên với một số đóng góp khiêm tốn của mình.

Như tính danh của nàng chỉ cho thấy, người nữ hằng cửu là một hữu thể siêu phàm thủ đắc một sức mạnh mềm vô hiệu hoá được sự huỷ diệt lạnh lùng của thời gian để ở lại thế gian với tính cách một trường tồn bền vững với nguyên vẹn những tố chất làm nên tính nữ và nhan sắc bất hủ của mình. Ở lại với tư cách là một cội nguồn phong nhiêu của sự tồn sinh và phồn sinh loài người và là một cần thiết cho sự đồng điệu âm dương, hạnh phúc đôi lứa, ấm cúng gia đình và hoà khí nhân gian. Ở lại với danh nghĩa một người tình lý tưởng, giấc mơ muôn đời và là nguồn hứng bất tận của các thi nhân trữ tình mọi nơi và mọi thuở. Ở lại với tư thế hiện thân của một vẻ đẹp nghệ thuật tuyệt đẳng: vẻ đẹp của thơ. Với vẻ đẹp này, nàng mang lại cho các tâm hồn điệu nghệ một niềm vui muôn năm.

Riêng bản thân tôi đã hình dung ra nhan sắc người nữ hằng cửu của Nerval qua sự hồi tưởng lại nhan sắc của các nàng kiều nữ Việt Nam năm xưa đi trẩy hội hoa Tết trên những đại lộ phồn hoa của thủ đô Sài Gòn.

Sáu mươi năm đã qua đi kể từ ngày đó, nhưng hồn tôi vẫn còn tương tư và bị lôi cuốn bởi nhan sắc rực rỡ, phong cách thanh tân và dáng điệu mềm mại của các kiều nữ đó trong chiếc áo dài tha thướt – một kỳ công của nghệ thuật tạo mốt – bó sát lấy tấm thân thon thả của các nàng và làm hằn lên những đường cong kỷ hà học tuyệt mỹ. Tất cả quyện đan vào nhau thành một giao hưởng đường nét đẹp như thơ, khiến tôi có cảm giác các nàng chính là những hậu thân chính thống của người nữ hằng cửu.

Tôi có cảm tác những vần phồn thực ca sau nhuốm đầy sắc hương nơi quê hương các nàng sinh trưởng để tôn vinh nhan sắc nồng nàn rực rỡ của họ:

Nhiệt đới đầu thai em tố nữ
Mít kề vú sữa, mãng cầu gai;
Quít căng đẫy nắng, cam dung dị;
Chất ngất sầu riêng, sực nức xoài.

Rồi rì rào mận, du dương nhãn;
Gió múc trăng lên tưới hải đường.
Em rạng rỡ xuân vàng trái tắc,
Em đầy đặn lúa chín nàng hương.

Em cầm mưa xối xuống cằn khô,
Nắng lúc đang mưa vỡ bất ngờ.
Em ở trong cùng ngoài giới hạn,
Nứt mầm kiều mạch, bật tần ô.

Lửa vần nuôi giấu dưới rêu nhung,
Suối ấm ngầm hâm đất lạnh lùng,
Vân của đá, vòng năm của mộc,
Em thâm sâu, tốt đẹp vô cùng.

Rúc tiếng còi sương đêm khuya rách
Một hồn con gái rớm tình yêu
Gối chăn nồng bén hương thân thể
Biển dưới Trường Sơn khóc mỹ miều

Anh hứng trân cam đời mến tặng
Sim mua rừng tắm suối đầu nguồn
Em là tuyệt ý dòng nguyên thuỷ
Thắp ánh sao lồng lửa lệ tuôn

Rồi nới nguôi ngơi, buông thư thái
Nhân đôi ân ái tới siêu hình
Sau cơn lốc lắng dâng hoan hỉ
Trong vắt, xanh ngần nhạc thánh kinh.

3. NGƯỜI ĐÀN BÀ CƠ BẢN

Ngoài người nữ hằng cửu, các thi nhân còn đề ra khái niệm một mẫu nữ khác mà họ gọi là người đàn bà cơ bản.

Tôi xin triển khai khái niệm trên với một số suy diễn chủ quan của mình.

Theo tôi, người đàn bà cơ bản là hiện thân của một sự nảy nở đầy đặn, rực lửa đam mê của nhan sắc và ngọt lịm như một trái mọng chín muồi. Đồng thời nàng cũng là một hữu thể hai tính: tính thần thoại của người nữ hằng cửu và tính thế tục của con người bị vướng mắc trong mạng lưới của một thực tế vô thường. Vì vậy, đời nàng trắc trở hơn, phận nàng éo le hơn so với người nữ hằng cửu.

Nhưng ở nàng xảy ra một phép lạ hoá nỗi khổ đau trần tục nàng phải kinh qua thành một thứ nước quán tẩy khiến cho hồn nàng tinh khiết ra và nhan sắc nàng mang một sắc màu thánh thiện như vẻ đẹp biện chứng của một bông sen trắng thơm ngát nở lên từ một vũng nước bùn tanh nhơ.

Do mang hai tính thăng hoa và ẩn dụ của vẻ đẹp một bông sen, nhan sắc của nàng là một phiên bản của vẻ đẹp của thơ. Do đó tôi nghĩ, nàng có thể là hậu thân của thần nữ thi ca trữ tình Erato của thần thoại Hy Lạp.

Trước khi chấm dứt bài phát biểu của mình, tôi xin đọc tặng quý bà quý cô có mặt ở đây những vần thơ tôi làm để tôn vinh quyền lực siêu phàm của nhan sắc người đàn bà cơ bản và người nữ hằng cửu:

Bút pháp anh tôn em quốc sắc,
Tóc lồng huyền tích hồng nhung đen
Em fatale sóng tình trong mắt,
Đổ những ngai vua, đắm chiến thuyền

Anh chiếu em lên lộng lẫy bóng
Ngôi sao kiệt xuất cuốn phim màu
Em là dòng Grace, nòi Bao Tự,
Khiến kẻ chai lòng cũng ước ao.

Anh dựng lầu son, đan lá thuý;
Thiết tha chăm bón đẹp khu vườn,
Em vào diễm lệ bằng bươm bướm,
Triển lãm cho đời ý nhị hơn.

Cho gió vay hương, hoa mượn sắc;
Sắc hương nhuẫn nhuyễn nét tương đồng,
Em thành tình lữ đi muôn thuở,
Dát ánh trăng vàng cát Biển Đông.

Gieo dấu hài xanh lên Đất Hứa,
Hoá thành cổ thụ toả tàn che,
Thiên thu bóng cúi nghe tình tự
Những trái tim son đến hẹn thề.

Đến nắm tay nhau truyền ấm áp,
Tôi làm chiếc ghế lót trăng đêm,
Mời cô ngồi xuống nồng hơi lụa,
Để đá như da cũng biết mềm.

Đá vấn vương hơi, gìn kỷ niệm;
Cưu mang tâm sự đến nương nhờ.
Tôi nhào luyện chữ như cao thạch,
Đắp bức tượng tình, tạc tứ thơ.

Tượng đứng phơi vân, bày cốt cách;
Buông lan nhân ái đến môi trường.
Thiên nga chuồi nhẹ cơn mơ trắng
Trên nước hồ thầm gợn ánh dương.

Tất cả không gian thành ấn tượng
Bức tranh hoà thắm sắc cho đời.
Người xem cũng muốn nao nao với,
Lửa sắp nguội tàn cũng dấy khơi.

Tay muốn tìm tay, lời muốn ứng.
Cho người hào hiệp đến quên thân.
Tình yêu đôi cánh nâng nhân phẩm,
Bến ấm hồn vào thả neo tâm.

Bởi những người yêu hằng muốn thế,
Họ cần tiếng hát như bàn tay
Xoa bôi hung dữ trên nhân diện,
u yếm nhìn nhau dịu nét mày.

Yêu có trong yêu dường phép lạ,
Sắt đanh đến mấy cũng buông mềm.
Qua môi tìm đến môi vinh hiển
Tiếng hát thiên thần hiển hiện lên.

CUNG TRẦM TƯỞNG – 11/17/2019

Edited by user Sunday, December 12, 2021 7:50:27 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#54 Posted : Sunday, December 12, 2021 7:55:41 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Thơ BÙI GIÁNG – Từ Phá Thể Sang Hội Nhập –


Lưu Nguyễn Đạt

August 24, 2019 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Trong thơ Bùi Giáng [1] luôn luôn có một trạng thái mâu thuẫn tự tại, từ bản thể, nhân sinh quan, tới ngôn ngữ sáng tạo. Những khía cạnh trái nghịch nhau về tư tưởng và hình thức được lồng ghép lại, vừa để phủ nhận, và cũng để thừa nhận lẫn nhau trong một thế biện chứng bất giải. Tình trạng nghịch lý đó được Jacques Derrida[2] quy định trong một từ ngữ mới — “différance” — do ông sáng chế bằng cách ghép nghĩa của hai từ ngữ “différence” (khác biệt/phân biệt) và “différance” (différer/trì hoãn) thành một.

Theo Derrida, ngôn ngữ và từ ngữ luôn luôn mang trạng thái ngộ nhận và ngờ vực, vì ngôn ngữ và từ ngữ chỉ là những thể cách biểu hiệu giai đoạn của sự khác biệt và bất toàn, tách mảnh, trong tư tưởng về bản thể, nhân sinh quan và vũ trụ quan. Cách phân tích này đặt trên căn bản xét lại một tác phẩm được hình thành qua kết cấu hủy tạo hay phá thể (Déconstruction[3]/ Défigurations du langage[4]).

Đọc thơ Bùi Giáng khó có thể thấu hiểu ngay chân ý, hoặc nguyên ý của tác giả, mà chỉ có thể nhận định sự tách mảnh ngôn ngữ và tư tưởng qua những dấu hiệu bất toàn đang chuyển dần từ nỗ lực phá thể sang sinh lực sáng tạo. Người đọc thơ Bùi Giáng cần hội nhập toàn diện trào lực đó.

Thơ Bùi Giáng, trước hết, là một cuộc đàm thoại miệt mài, với những câu hỏi liên tục và những câu trả lời không rõ rệt, vì mong lung và phổ quát, như trong bài “Tặng Mã Giám Sinh” (BG.193):

“Hỏi tên rằng biển xanh dâu
“Hỏi quê ? Rằng mộng ban đầu đã xa
“Gọi tên ? Rằng một hai ba
“đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm

Cuộc vấn hỏi này, dù xuất xứ từ ai, cũng chỉ mang lại một hồi âm mơ hồ và bất tận, liên can tới một hiện tượng biến đổi liên tục. Dù vĩ đại và trường kỳ đến mấy, sự biến đổi đó chỉ hiện hữu trong ý thức và tâm thức của thi nhân về một nhân sinh quan và vũ trụ quan luôn luôn khác biệt và khiếm khuyết. Trước hết, sự biến cách hay “sái diện” (BG.5) của cái “ta” nơi Bùi Giáng theo diễn tiến một sự kết cấu qua thể hủy tạo hay phá thể (déconstruction-défiguration) đa diện và đa trạng. Đó là một trào lực có khuynh hướng vừa ly tâm, vừa hướng tâm, nhằm phá vượt hai chiều những biên giới bản thể, để chủ thể trở thành khách thể, cái “ta” trở thành “không-ta”, thành “mình”, thành “em”, hoặc ngược lại, trong một thế tách-nối vô định và bao quát liên hệ tới nhân thể, như trong câu:

Nhìn em như thể nhìn người …
Nhìn người như thể nhìn ta
Tự mình nâng cốc rót ra rót vào (BG.195);

hoặc:

Nhớ quên người nhớ quên người
Tầm sương sái diện ai người ai ta (BG.155).

Đặc biệt là hiện tương người “láng giềng”: đó là vị thế của một thứ tha nhân, vừa xa lạ, vừa gần gũi, ở bên kia hàng rào, nhưng lại bên cạnh vách tường, từng sống giáp ranh như những mảnh “ta” chia cách, nhưng vẫn còn luyến tiếc tâm giao:

Láng giềng tâm sự là ta với mình (BG.174)

Trong quan niện tách-nối này, thi nhân có lúc cảm thấy bớt lẻ loi, đỡ cô đơn, vì có khả năng “khuếch xung” (BG.22) thành những thân phận khác. Nhờ đó, thi nhân thẩm thấu được những cảnh huống đa thể, đôi khi như mâu thuẫn với chính mình: sống hộ người khác; sống qua người khác; hoặc sống-bên-cạnh và lạc lõng ngay chính bản thân mình. Cũng như sống và không sống, đôi khi chi là một cảm giác, một quan niệm hai bề. Đó là viễn tượng “trùng khơi” (BG.54) qua những bản thể và trạng huống tư duy khác nhau thành những trào lực dây chuyền tiếp nối.

Ngay với tại bản thể, sự “sái diện” của cái “ta” cũng là một hiện tượng “điệp trùng” (BG.29) nhân cách, được thể hiện qua tâm thức và ấn tượng đa diện từ chính bản thân mình. Cái “ta” đó luôn luôn là môi trường xung đột hoặc gặp gỡ của những tâm trạng tỉnh và say, điên cuồng và sáng suốt, vui và buồn, lẫn lộn. Đôi khi tình, tỉnh và điên cũng có thể tiếp ứng nhau một cách kỳ diệu để trở thành thứ “tình điên…chơi vơi” so với “tình không điên” (BG.62) cũng đầy hỗn mang — tĩnh và loạn cùng một nơi, và có thể cùng một lúc. Đảo điên đôi khi lại tách biến thành “cuồng mộng” (BG.69, 92, ), thành “niềm vui vô hạn” và “niềm đau vô lượng” (BG.95), trong một thể luân phiên hư hư thực thực: “Vui quá giả bộ buồn” (BG.119). Sự sái diện của cái ta đảo điên đôi khi còn đi song song với hiện tượng “khuếch xung” và phản “khuếch xung”, qua những giai đoạn so sánh hay ám chỉ dí dỏm như sau:

Điên cuồng mà tưởng nên thơ
Cuồng điên mà tưởng làm thơ như thần

Phải chăng đây là những lời tự mỉa mai (phản khuếch xung), hay tự tâng bốc (khuếch xung), nói thế nào cùng đúng, và cũng có thể sai, vì làm sao biết được thi nhân điên hay không điên, thơ hay thẩn, thần hay ngợm ?
Sự “sái diện”, “điệp trùng” và “khuếch xung” của cái “ta” trong thơ Bùi Giáng, không những chỉ có tính cách thuần nhân, liên hệ tới ta và không-ta, mà còn thẩm thấu xuyên qua các giới sinh vật, qua thiên nhiên, trong một vòng “trùng sinh thái thậm” (BG.19). Có lúc thi nhân muốn truy dụng cái phong độ của “tuổi cọp” mình để đủ bản lãnh “giữ mộng đười ươi” (BG.56); hoặc theo “ngựa về núi đá đầu thai” (BG.19). Cũng có lúc thi nhân như có thể thu kết được cả vũ trụ, thấy “mưa gió trong thân” (BG.73), hoặc nghe “mùa đông dậy chậm mau trong mình” (BG.132).
Sự “sái diện”, “điệp trùng” và “khuếch xung” từ nhân sinh quan tới vũ trụ quan luôn luôn ám ảnh Bùi Giáng đến nỗi thi nhân đã phải thốt lên:

Từ đó về sau Trẫm đau đớn thiết tha
Và không còn biết mình là cái gì nữa cả (BG.11)

Nhưng sự tách-biến hoặc phá thể siêu (xiêu) hình này không hoàn toàn đưa đến sự khước từ nhân cách hoặc tự hủy trong tư tưởng, mà lại có ích dụng hoặc chức năng làm rẫy và mở đường phóng toả, nhằm truy dụng những “ngõ ban sơ” (BG.122), như thể tìm kiếm “dấu” (BG.168) tích của một nguồn gốc xa xưa; như để tìm lại huyền sử trong “trang phai cỏ” (BG.54). Nguồn gốc của bản thể trong ta và ngoài ta được Bùi Giáng gọi chung là quê quán của “mộng ban đầu đã xa” (BG.193), là “cố quận” (BG.17, 20, 32, 85, 96…) vừa thực thể dưới hình thức tương tự của “phố cũ” (BG.85), hoặc “viễn phố” (BG.5), vừa trừu tượng như quan niệm “nguyên thủy (BG.20) của không gian và thời gian vô tận, của những “nghìn xa vắng ” (BG.35) còn phảng phất mơ hồ trong tiềm thức nhân loại.

Nỗ lực phá thể đã cùng lúc chuyển sang sinh lực hội nhập, vừa hướng tâm, vừa hướng nguồn. Tác động biểu lộ trào lực này được diễn tả qua cụm động từ “đi về” (BG.6, 68, 70, 73, 90, 110, 137, 158…), một hình ảnh động mà Bùi Giáng đã dùng đi dùng lại như một ám ảnh, hay một đam mê: ở đầu nhiều bài thơ, ở giữa, ở cuối, ở bất cứ đâu, thành những lời rủ rê, ve vãn; những mời mọc thiết tha; những thôi thúc nhiệt tình:

Đi về giũ áo cà sa
Trút tờ phong nhã từ ta tặng người (BG.6)
hoặc:
Đi về tinh thế đa mang
……….
Quy hồi cố quận lênh đênh (BG.68)
như:
Đi về giữ lá đầu cây (BG.70)
hoặc:
Đi về với gió phù du (BG.90)

Sau những giai đoạn phá diện như “đi qua dâu biển rối bời” (BG.158), thi nhân đã nhập cuộc trở về “nguyên thủy” (BG.20), về nguồn gốc chung của sinh loại và vạn vật, về một điạ danh huyền ẩn, nơi mà Bùi Giáng gọi là “cố quận tập trung” (BG.20). Đó là lộ trình trở về nguồn, về cội, về trái tim vũ trụ, mà cũng là trái “tim thơ rướm máu” (BG.46, 91, 206), nơi thi nhân đã “đi về đi ở dấn thân” (BG.158) suốt cuộc đời mình.

Bùi Giáng cũng đặt lại vấn đề ngôn ngữ một cách miệt mài, qua nhiều giai đoạn hủy tạo tiếp nối. Bùi Giáng nhắc tới ngôn ngữ rất nhiều lần trong tập thơ, không hẳn để liệt kê những dụng cụ, những phương tiện diễn tả, mà hầu như để kết nghĩa với chúng, như đem trình làng những cộng tác viên mật thiết, song song và tương xứng với tư tưởng của thi nhân. Ngôn ngữ và “thy ngữ” dưới tay Bùi Giáng đã trở thành những thành viên, những chủ thể có đặc tính riêng biệt và “chức năng” rõ rệt trong sinh hoạt sáng tạo toàn bộ.

Trước hết, ngôn ngữ từ Bùi Giáng không thuần nhất và cố định, vì chúng có khả năng tách biến hoặc “phân ly” (BG.200) từ hình dung tới nội dung để trở thành “sái diện” (BG.73). Sự tách biến và sái diện của ngôn ngữ được hình thành qua những giai đoạn “trùng vây…trùng khơi” (BG.39); hoặc theo ngư điệu “điệp trùng” (BG.73 & 117) hoặc “tam trùng tứ điệp” (BG.24). Riêng để chỉ định hình dung và sắc thái của thơ, ngôn ngữ Bùi Giáng đã phải tự tách biến qua dấu hiệu “cảo thơm” (BG.26); “phương cảo” (BG.27), phù du như “trang phai cỏ” (BG.54), bay bổng như “lá rừng kết tập hàng hàng so le” (BG.74). Thơ Bùi Giáng lại mang những dấu tích tâm linh, khi tự mở thành những “trang mơ ” (BG.190), hoặc những “trang lịch sử” (BG.141) có thể làm ấm lòng người, dù đó chỉ là những “tờ mộng rách” (BG.206).

Ngôn ngữ được thi nhân phân loại theo tâm hướng: “ngữ ngôn cuồng dại” (BG.9); “ngôn ngữ hồ đồ” (BG.28,138); “ngôn ngữ xuề xòa” (BG.30); “ngữ ngôn bừng dậy” (BG.45). Hoặc theo chức năng kết tạo: “Ngữ ngôn thi điệu thêu thùa” (BG.59); “ngữ ngôn thích ứng (BG.31); “Ngữ ngôn thích dụng như hà” (BG.78); “Ngữ ngôn viễn lữ kim tuyền” (BG.178); “ngôn ngữ tuyệt trù” (BG.38,87); “ngôn ngữ nguy nga” (BG.114). Hoặc thành nhịp độ trào lực: “ngôn ngữ trùng vây…trùng khơi” (BG.39); “Ngôn ngữ điệp trùng” (BG.73,117); “Ngôn ngữ cuối cùng” (BG.126); “Ngôn ngữ phân ly” (BG.200).

Từ thi nhân chơi chữ phát hiệu ra một thứ ngôn ngữ “chịu chơi” (BG.184), duyên dáng lạ lùng: “Thân láng giềng” đảo ngữ thành “Giếng làng mọc cỏ thuyền quyên” (BG.202); từ cuộc “Chiêm bao đứt ruột” ngôn ngữ đã đảo thành “bao chiêm”, rồi để đảo ngược thành “biêm chao”, và cuối cùng láy thành “biên chép” (BG.203), trong một vòng liên âm, liên tưởng độc đáo.

Chơi chữ là đấu trí và cũng là cách trả đòn, trả đũa, sửa lưng thâm độc:

Que diêm que lửa que lời
Cõi trăm năm cũng một đời ba que
Ba que bốn quít hội hè
Tầm sưu nhậu nhẹt đề huề bủa giăng (BG.37)

Thoạt đầu thi nhân có vẻ nhắc tới sứ mạng của mình một cách khá tinh vi, như muốn mượn lời thi sĩ lãng mạn trong văn chương Pháp tự ví mình như “kẻ lấy trộm lửa thần”, khi dùng ba chữ “diêm”, “lửa” và “lời”. Nhưng khi chơi luôn ba lần chữ “que”, rồi đột nhiên ghép thành “ba que”, thì chữ chơi không những nghịch ngợm, mà còn thêm vẻ đanh đá: xỏ lá ắt phải chơi với “ba que” mới đủ cái nghĩa đểu cáng của nó ! Nếu tiếp tục trò chơi chữ này bằng cách nhái giọng hoặc nói lóng, thì từ “bủa giăng” không biết còn văng ra chữ gì nữa ?

Chơi chữ hoặc chữ chơi có lúc cũng sâu sắc, xót xa như trong câu:

Lòng mơ hủ tiếu miệng lồ gồ dâng (BG.32)

Nếu đem dòng thơ này ra phân tích, thì thấy phảng phất một vị thơ “Bài Cú” (Haiku) của thi ca Nhật, vì ý và âm độ ngôn ngữ hài hoà đã đạt được tính chất siêu việt ngay trong cái gì tầm thường nhất: nhờ ở chữ “mơ” mà miếng ăn nhẹ hẳn đi, đỡ phần trần tục. Sự thèm thuồng trở nên trừu tượng, như tiếng gọi của đam mê. Riêng cụm từ “lồ gồ dâng” lại biểu hình một cách rất hóm hỉnh về tác động lên xuống, lồi lõm như miệng đang nhai. Đồng thời cũng phảng phất âm thanh một “logo”- lời biểu hiệu, hoặc nhai nhái như một “slogan” – cái khẩu hiệu thôi thúc, mời mọc: bên cạnh một món ăn vật chất có sự hiện diện điển hình và cần thiết của món ăn tinh thần; hoặc, ngược lại, tất cả cuộc sống, ăn uống, dù ở cái thế tận cùng, tầm thường nhất, cũng chỉ là giấc “mơ”, là lời nói suông, tuyên truyền vu vơ, vừa để ngụy biện, vừa để tự dối lòng. May là mơ và mộng của Bùi Giáng lại đa diện về mặt ngôn ngữ, nên có lối thoát cho thi nhân trong nỗi thèm thuồng bất toại. Vậy nếu còn có “Lòng mơ hủ tiếu miệng lồ gồ dâng ” thì chưa đến nỗi tuyệt vọng.

Đôi khi chơi chữ lại tế nhị, ân cần như trong câu:

Từ thơ phố thị tới nàng nàng nương (BG.64)

“Nàng” và “nương” tuy cùng nghĩa, nhưng vì được láy đi láy lại tới hai ba lần với nhịp độ điệp trùng trầm âm, nên đượm thêm vẻ nũng nịu, trìu mến.

Chơi chữ còn ấm ớ và khêu gợi như trong bài thơ “Em đi” (BG.44):

Em đi áo mỏng quần dày
Áo dày quần mỏng máu đầy hở hang …
Hoa đời động đậy từ hang khe rừng

Không những đồng âm, “hở hang” và “hang khe rừng” còn a tòng và đồng lõa tham dự vào cuộc chơi tẩn mẩn, dùng cặp mắt nhìn trộm (voyeurisme) “hoa đời” và trái cấm. Nhờ người nhìn trộm là thi nhân, nên đối tượng của cái nhìn đó được thi vị hoá, phơn phớt đượm vẻ khêu gợi, thứ khiêu dâm nhẹ nhàng, úp úp mở mở trong mộng tưởng và trong ngôn ngữ:

Ngữ ngôn bừng dậy đầu hang khê đầu (BG.45).

Ta hãy đọc thêm câu sau:

Cái quần cái áo là bao
giá bao nhiêu mộng mỵ nào là mơ (BG.48)

Bên cạnh “cái quần cái áo”, vốn là những tấm vải che thân, ngôn từ “là bao” được dùng để đặt một câu hỏi về số lượng, hay chỉ để ám chỉ vật thể “bao” bọc bên ngoài. Câu này cũng cho ta nghi rằng, ngôn ngữ qua tay Bùi Giáng chỉ là cái “quần”, chiếc “áo” bọc ngoài tư tưởng và ý thơ. Phía trong thân thể của thơ, của “thy ngữ” là “mộng mỵ”, là mơ, là hẹn hò chờ đợi. Làm thơ và đọc thơ là làm tình với ngôn ngữ. Và thơ Bùi Giáng là tiếng gọi tình miệt mài trong đam mê:

Hỏi rồi hỏi nữa, hỏi hoài
Hỏi liên miên gọi tình hoài mê man (BG.49)

Cách độ dùng ngôn ngữ trong thi ca Bùi Giáng láy đi láy lại như nhịp độ một câu thần chú (incantation) hoặc theo nhịp tụng “mantra”:

Nền thi nhạc nếp hây hây…
Nền vô vi vút vi vèo (BG.32)

Ngôn ngữ đã sống hộ cho thi nhân, theo cung vần xoay bậc tái sinh, như bài thơ sống lại một lần nữa. Đó là trường hợp của “Bài thơ số dzách” (BG.79) mà toàn thể đã tái sinh trong bài “Từng cơn” (BG.119). Thi nhân chỉ việc “chép” lại và thêm dòng tái bút: (Vui quá giả bộ buồn), rồi đổi tên thành bài mới. Như vậy, Bùi Giáng đã sống chọn vẹn quan niệm thơ là thái độ với thơ. Mỗi khi chép lại, đọc lại một bài thơ là đã sống lại bài thơ đó một lần nữa, một cách khác. Người đọc hoặc ngâm thơ cũng có thể coi là đồng-thi-nhân, được tái nhiệm để tiếp tục công việc còn dang dở của người viết đầu tay chưa diễn tả hết lời, chưa sống hết độ thơ.

Nếu Bùi Giáng chỉ là người “chép tờ cuồng loạn ….chép câu gây cấn” (BG.135,192); “chép tờ mê hoặc thơ ngây” (BG.182); cũng như “chép tờ thạch lưu (BG.191), thì bài thơ đó cũng đã trở thành “bài thơ vô lượng” (BG.117) đang kết chùm thiên nhạc với giấc mơ, và có khả năng

đổi thay tình mộng vô cùng
đổi vô biên với điệp trùng đối nhau (BG.29).

Ngay trong “tim thơ rướm máu” và trần tục, Bùi Giáng đã vượt qua phân cách và đối nghịch để về lại chốn vô biên — nơi vô lượng và vô thường nhập thành một.

Lưu Nguyễn Đạt, PhD, MA, LLB/JD, LLMMichigan State University
Cập nhật April 20, 2019

GHI CHÚ

[1] Mọi trích dẫn về thơ Bùi Giáng sẽ viết tắt BG. và mang số trang liên hệ, căn cứ vào tập thơ “chui”, do nhà xuất bản Việt Thường đăng tại Canada, năm 1990.

[2] Xem Jacques Derrida, Of Grammatology, Baltimore, Johns Hopkins University Press, 1976; “La Mythologie blanche”, Marges de la philosophie, Paris, Minuit, 1972; Positions, Paris, Minuit, 1972; và “Economimesis”, Mimesis des articulations, ed. Sylviane Agacinski et al., Paris, Aubier-Flammarion, 1975.

[3] Xem Jacques Derrida, Of Grammatology, Baltimore, Johns Hopkins University Press, 1970. Xem thêm Jonathan Culler, On Deconstruction: Theory and Criticism after Structuralism, Ithaca, Cornell University Press/London, Routledge & Kegan Paul, 1982.

[4] Barbara Johnson, Défigurations du langage poétique, Paris, Flammarion, 1979.

Mắt Buồn  
#55 Posted : Thursday, December 30, 2021 12:03:06 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
* Cám ơn anh Vũ Đức Nghiêm đã gửi cho LN bài thơ tính viết từ trong tù. LN mời các bạn đọc thơ tình của người nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm . - hvln
---------

UserPostedImage

Trời Hương Phấn Cũ

Khi giông tố loạn cuồng thung lũng nhỏ,
Giữa đêm sâu.bừng nở đoá hoa thần.
Ta bàng hoàng rung động cả châu thân/
Như cánh bướm phân vân muà hợp tấu.

Từng đêm vắng, ta gọi người yêu dấu
Lời dịu êm như gió nhẹ thì thầm,
Cả ngàn lần, ta gọi khẽ, bâng khuâng
Nghe dĩ vãng lâng lâng niềm thương nhớ:

Ơi Ly Cơ! ơi Tình Yêu Lầm Lỡ!
Đêm mê cuồng bỡ ngỡ gọi tên em
Mây bay cao, ngờ xiêm áo vương thềm,
Nhìn sao nhớ mắt em ngời lóng lánh.

ƠI Ly Cơ! ơi Thiên Thần Gẫy Cánh!
Khát vọng ngàn xưa sống dậy chập chờn
Sâu vô cùng trong tiềm thức cô đơn.
Son phấn cũ ngát thơm hương ngự uyển.

Thưở em về, cả núi đồi rung chuyển
Sao trời đêm ngời sáng ngọc lưu ly
Dạ lai hương ngào ngạt lối ta đi
Dìu em bước dưới khung trời sương khói

Vào Mê Cung .. ..Nhạc tiêu thiều nhẹ trổi,
Đêm huyền hồ ảo giác lạnh xương da.
Đón em. về, sông nước gợn âm ba,
Ôi giây phút trao nhau tình bỡ ngỡ,

Dung quang em, sao cực kỳ rang rỡ,
Ta nghiêng mình cúi xuống nụ hôn thơm
Ngan ngát hương lan, rời rụng linh hồn
Trôi lãng đãng ngàn trùng khơi viễn xứ.

Ta đưa em vào thiên thu tình sử,
Rồi nghẹn ngào thương nhớ bóng giai nhân.
Hờn chia phôi chất ngất đến lạc thần,
Đau choáng váng đáy mộ phần tâm thức

Hương phấn cũ khơi sâu niềm ray rứt,
Ta gục đầu lệ ướt đẫm xiêm y.
Ảnh hình xưa đài các đến kiêu kỳ
Chợt thoáng hiện rỡ ràng trong tiếc nuối:

Khoé hạnh đong đưa, mây trời chết đuối,
(Mây soi mình trong dòng suối long lanh).
Ngón tay thon mềm, tháp bút mong manh,
Từng mơn trớn dỗ dành ta hờn giận.

Tóc buông lơi, cho liễu dài ngơ ngẩn
Gót chân son tha thướt gấm hài thêu
Trong Mê Cung bừng rực dáng tiên kiều
Làm lịm tắt cả nắng chiều chang chói.

Ta si dại ngước nhìn em, bối rối,
Tự đáy hồn buốt nhói dậy chiêm bao.
Linh hồn ta vụt chắp cánh bay cao
Bay lên cõi trăng sao, miền quên lãng..

Nhớ thương rồi, ta mơ về dĩ vãng:
Lối cỏ mòn vương ánh nắng hoàng hôn,
Vườn đào nghiêng nghiêng lũng thấp cô thôn
Nghe ríu rít tiếng chim non rộn rã.

TrờI vần vũ, tình gọi tình vật vã,
Ta bàng hoàng từ giã mộng Liêu Trai
Mà khôn nguôi thương nhớ gái Dao đài.
Rèm chao động, mái hiên ngoài thoáng hiện.

Thắp nén hương lòng rưng rưng ước nguyện
Đợi em về, xao xuyến gót kiêu sa.
Phấn trầm vương lưu luyến bước ngọc ngà.
Toàn thân ta vỡ oà như tê dại.

Thoảng trong gió, mùi hoắc hương thần thoại,
Gió lay màn, mê mải ngắm dung nhan.
Phải em từ Quần Ngọc xuống trần gian?
Rồi vào hư vô, biến tan bằn bặt?

Như dòng thác bạc thủy ngân trong vắt
Đổ xuống tràn vào Vô Thức lãng quên.
Ta say sưa, ôm ghì chặt Ưu Phiền,
Ròi kiêu hãnh phá lên cười ngạo nghễ.

Ném cả bình sinh vào lòng Hưng Phế,
Ngẩng mặt nhìn đời, thách đố Thương Đau .
Xa em rồi, tình ta biết về đâu?
Thương em nghẹn lời,nước mắt chìm sâu!

Vũ Đức Nghiêm Trại Tù Long Giao, Tháng 11-75

Edited by user Thursday, December 30, 2021 12:03:47 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#56 Posted : Saturday, January 15, 2022 10:11:55 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Nhà Thơ Xuân Ly Băng Cuộc Đời Và Tác Phẩm


La Thụy

Tập sách Nhà Thơ Xuân Ly Băng Cuộc Đời Và Tác Phẩm do L.M. Nguyễn Thiên Cung và nhà thơ Trần Vạn Giã sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn (Phương Đông xuất bản - 2011), có đăng một bài của La Thụy viết từ năm 1999 dưới tên Ngô Minh (trang 201 - trang 207). Được tặng sách nhân ngày ra mắt (ngày 13/02/2012, tại khuôn viên nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế - 37 Kỳ Đồng - Quận 3 - TP Saigon), La Thụy đăng tải lại bài viết này, có bổ sung thêm gần như toàn văn bài thơ Tha La Xóm Đạo của nhà thơ Vũ Anh Khanh, đồng thời chỉnh lại tên tác giả là La Thụy để khỏi bị nhầm lẫn với nhà văn Ngô Minh trong Hội Nhà Văn Việt Nam.

Đến Với Bài Thơ Hay “La Vang Đất Mẹ” Của Nhà Thơ Xuân Ly Băng

Từ thời còn là học sinh, tôi đã rất đỗi mê say khi đọc bài thơ Tha La Xóm Đạo của nhà thơ Vũ Anh Khanh - Bài thơ viết về một xóm đạo thanh bình, êm ả đẹp như mơ bị giặc Pháp tàn phá gây tang tóc - Trước cảnh quốc phá gia vong, từng người dân Tha La đã bỏ lại tất cả ra đi, cầm vũ khí chống giặc thù cho quê hương trở lại hồi sinh. Thật hạnh phúc cho tôi, khi tìm lại được cảm giác ngất ngây, mê say ấy khi đọc bài thơ La Vang Đất Mẹ của nhà thơ Xuân Ly Băng (in trong tập “Kinh Sầu Trên Quê Hương”).

Cũng bằng một thể thơ trường thiên phá thể, cùng bằng một chất giọng tự sự, cùng bằng những nhịp điệu bi tráng khi khoan khi nhặt, La Vang Đất Mẹ cùng Tha La Xóm Đạo của hai nhà thơ Xuân Ly Băng và Vũ Anh Khanh đã làm cho cảm xúc, tâm tình của người đọc như tan hòa, đồng nhất cùng giọng thơ kể đượm tình: khi bâng khuâng man mác, khi ứa lệ thương đau hoặc khi rộn rã hoan ca theo từng diễn biến sự kiện. Có lẽ do sống cùng thời với nhau nên chắc hai nhà thơ đã có sự đồng cảm và giao thoa trong nghệ thuật thi ca với nhau.

Tuy nhiên, do không gian và thời gian cảm tác khác nhau, do bối cảnh lịch sử của hai câu chuyện khác nhau, nhất là do cảm quan và góc nhìn hai tác giả của hai bài thơ nói trên khác nhau, nên nội dung và kết cấu của hai nhà thơ thật khác biệt nhau.

Là người khách qua đường, Vũ Anh Khanh đã ngây ngất trước vẻ đẹp thuần khiết, an bình của xóm đạo Tha La nên đã để cảm xúc trào tuôn:

Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo….
Giữa mùa nắng vàng hanh

Vì thế tác giả đã thực sự uất nghẹn, khi lần trở lại Tha La, nhìn thấy xóm đạo tang tóc điêu linh trong khói lửa chiến tranh do giặc Pháp gây nên. Xóm đạo Tha La lúc này hiện lên thật bi thương qua những vần thơ gợi cảm xúc mạnh:

Ngậm ngùi, Tha La bảo
- Đây rừng xanh, rừng xanh,
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
Viễn khách ơi! Hãy dừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng.
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây! Khách hỡi! Có ai chờ?
Ai đưa đón?
Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ.
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng
Tha La hỏi: - Khách buồn nơi đây vắng?
- Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn.
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít,
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!

Nhưng là lương dân ngoại đạo, là chiến sĩ Vệ quốc nên Vũ Anh Khanh thật dễ dàng khi viết:

Lạy Đức Thánh Cha
Lạy Đức Thánh Mẹ
Lạy Đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân
Rồi... cởi áo tu
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Thênh thang nhẹ bước về trần

Chắc gì người dân xóm đạo Tha La thanh thản “nhẹ bước về trần”? Không! Để làm tròn trách nhiệm con dân thời chiến, họ ắt hẳn quặn lòng đớn đau khi từ giã mọi điều yêu thương: gia đình, cây đa, bến nước, xóm làng quê hương… và chắc chắn họ càng “nặng trĩu” cõi lòng hơn khi phải tạm gác công việc thiêng liêng sớm tối: “tiếng kinh cầu vang vọng” và “ơn tu nguyện hằng ngày”. Đúng, “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, không thể mặc cho giặc thù giày xéo quê hương, người dân Tha La cương quyết dứt áo ra đi “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Nhưng họ chỉ “từ giã” chứ không có “từ bỏ” vì “ra đi” chính là khởi điểm cho “quay về”. Vâng, họ mơ ngày về trên quê hương sạch bóng quân thù; xóm làng lại yên ả thanh bình trong trái ngọt cây lành, trong tiếng kinh cầu an lạc như thưở nào. Xa hơn nữa họ mơ ngày về miền Đất Hứa, chốn Vĩnh Hằng thân yêu cho Đời Sau mà tổ tiên loài người - ông Adam và bà Eva đã gạt nước mắt “ra đi” trước đây.


Nhà thơ Xuân Ly Băng và các thi hữu thị xã La Gi (Bình Thuận)

Cho nên dù không còn mặc áo tu, không cầu kinh thường xuyên, chắc hẳn người dân Tha La vẫn mãi ấp ủ trong tim từng câu kinh nguyện thầm lặng. Có lẽ khi dùng cụm chữ “nhẹ bước về trần” nhà thơ Vũ Anh Khanh chỉ “cách điệu hóa” sự quyết tâm của người dân Tha La khi họ sẵn sàng lên đường đền nợ nước. “Tha La xóm đạo” được bắt đầu bằng hình ảnh mơ mộng của xóm Đạo thời bình và kết thúc bằng hình ảnh tang thương của xóm Đạo trong lửa loạn chiến tranh và những vần thơ hào khí ngút trời được bốc lên từ tận đáy tâm khảm của tác giả Vũ Anh Khanh:

Đây mênh mông xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng
Đang đón mây xa - Bỗng khách ngại ngần
- Kính thưa cụ vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rinh râu trắng
Nhẹ bảo chàng: “Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù
Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết
Thương giống nòi đất nước lầm than"
Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh: Hờ… ơ…ơ tiếng hát
Tiếng hát rằng: Tha La giận mùa thu
Tha La hận quốc thù
Tha La hờn quốc biến
Tha La hờn tiếng kiếm
Não nùng chưa: Tha La nguyện hy sinh
Ờ... Ơ... hơ... Có một đám Chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh chúa, đám Chiên lành run rẩy:
- Lạy đức Thánh Cha!
Lạy đức Thánh Mẹ!
Lạy đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...
Rồi... cởi trả áo tu,
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Rồi... nhẹ bước trở về trần...
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân,
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tang,
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi cho bẽ bàng!
Ờ... Ơ... Hơ...ờ... ơ hơ... Tiếng hát:
Rung lành lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc,
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách quá đi thôi!
***
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ.
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
- Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dâng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám Chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh...
(Vũ Anh Khanh)

Ngược lại, La Vang Đất Mẹ, ngoài phần tả cảnh nên thơ ở phần dẫn nhập thì diễn biến câu chuyện khởi đầu là sự ly tán tha hương, là sự lưu vong tủi nhục của những người dân Chúa và kết thúc bằng những hình ảnh diễm ảo siêu huyền của một Thánh địa vang danh. Là thi sĩ công giáo nên Xuân Ly Băng đã viết về La Vang - nơi Đức Mẹ hiển linh cách đây hơn 200 năm - với tấc lòng bái vọng thành kính, nên La Vang Đất Mẹ có chất liệu thơ nghiêm cẩn, hoành tráng và mang tính sử thi hơn. Bài viết này chỉ xin nêu lên vài cảm nhận về bài thơ hay La Vang Đất Mẹ ít được phổ biến của nhà thơ Xuân Ly Băng.

Vâng, xin hãy dọn mình để cùng thi sĩ Xuân Ly Băng thả hồn vào khung cảnh thơ mộng của miền Đất Thánh thiêng liêng trong nhạc điệu trầm bổng du dương và lời kể chuyện của cây lá xạc xào:

Đây, La Vang, Thánh địa
Dừng bước lại khách ơi
Khách có nghe tiếng gió rít ở chân đồi!
Lời kể lể rừng hoa sim lá rụng
Khách có nghe nhạc thùy dương lồng lộng!
Suối tre vàng theo gió chảy chiều mơ
Khách có nghe sớm chiều chuông ca hát!
Rất ngọt ngào ru tình mẹ, khách ơi!

Nào ai biết rằng có được miền đất lành chim đậu hôm nay, những người dân Chúa đã phải trải qua bao gian truân khổ ải trong máu và nước mắt của một thời “sát tả” thương đau trên khúc ruột miền Trung đất Việt ai oán nỗi niềm, họ đã phải dắt dìu nhau lưu vong trên con đường vô định mông lung.

Có một thời
(Chuyện gần hai thế kỷ)
Khách ơi!
Dừng chân tôi kể một lời khách nghe
Truyền rằng: thuở ấy Sơn Khê
Tương tàn cốt nhục tư bề gươm đao!
Trách ai đồn chuyện tầm phào
Buồn người nông nổi gây bao thương tình
Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình…
Lệnh truyền sát tả, não tình dân con
Xương trắng bãi, máu loang cồn,
Xóm làng tan nát, Thánh đường tiêu ma!
Đau lòng trẻ, khổ thân già
Eo óc tiếng gà dắt díu nhau đi!
Con đường vô định biết chi,
Cây đa bến cộ biết khi nào về?
Nắng mưa sương gió dãi dề
Ôm cây Thánh Giá lòng tê tái lòng!

Ôi! Biết bao nước mắt và máu đã tuôn đổ trên con đường lưu vong mờ mịt ấy, nhưng đoàn dân Chúa vẫn kiên trì nhẫn nại nhận lấy thử thách cam go, một lòng kiên trinh hướng về Thiên Chúa ngôi cao, họ đồng tâm thành khẩn dâng lên lời kinh nguyện trong suối lệ chan hòa tại La Vang - nơi tạm trú chân của bầy chiên phiêu bạt:

Bỗng một hôm chiều rừng
Âm u đàn gió lá
Có đoàn người là lạ
Thiểu não kéo về đây
Trên trời có đám mây bay
Đồi hoa sim tím hương bay ít nhiều
Rồi từ đó chiều chiều
Rồi từ đó đêm đêm…
Rừng vang lên lời kinh nguyện
Nhạc lên rung khí quyển
Suối lệ chảy chan hòa
Náo động cả gần xa
La vang cùng sông núi!

Lòng thành của đoàn dân Chúa làm cảm động đến trời cao, sự mầu nhiệm đã phát sinh: Đức Mẹ anh linh hiển thánh, ơn trọng thiêng liêng được ban phát, vỗ về:

Một đêm kia, khách hỡi
Có bà áo trắng hiển linh
Huy hoàng bên một cỗ đình cành đa
Tay tiên ẵm Chúa nõn nà
Hào quang thiên sứ giãi ra một vùng …
Miệng Bà ngọt ánh trăng trong
“Các con ơi cứ vững lòng cậy trông
Truân chuyên nhận lấy vui lòng
Lời kinh Mẹ dạy đã ghi tấc vàng
Ơn trời Mẹ sẽ trao ban
Cho ai biết đến kêu van nơi này
Các con bẻ lá vườn cây
Đem về gia dụng thấy ngày diệu linh
Dứt lời Bà mới biến hình
Bâng khuâng gió tiễn hương trinh về trời

La Vang, từ đây không còn là nơi hoang dại âm u đầy lam sơn chướng khí mà trở nên vùng đất thánh thiêng liêng phong cảnh hữu tình, được giáo hội tôn xưng là Vương cung Thánh đường cho toàn thể dân Chúa trên thế giới đến chiêm bái, ngưỡng vọng. Hằng năm, giáo lương trong cả nước (nhiều khi cả khách quốc tế nữa) tấp nập tìm về hành hương, miền Đất Thánh lại rộn rã hân hoan trong cuộc rước kiệu “Đức Mẹ La Vang” để mọi người cùng hợp lòng xưng tụng thánh danh Đức Mẹ sáng cả trên trời và dưới thế.

Rồi từ đó, khách ơi!
Đoàn di cư tị nạn!
Lập nương rừng , đốn cây làm gỗ lán
Xây dựng lại cuộc đời
Ơn thiêng liêng đã lãnh bởi trời,
Nguồn sinh lực hào hùng khôn xiết kể
Non nước này là của riêng Đức Mẹ
Danh tiếng đồn khắp núi sông gần xa
Lộc trời xuống tựa sương sa
Giáo lương tấp nập bao la hội về
Rừng già chứng chuyện năm tê
Đêm đêm trút lá nằm nghe ơn lành
Đồi hoa sim tím trở mình
Chiều mơ lại thấy hiển linh năm nào?
Khách nhìn lòng thấy nao nao
Dừng chân Thánh địa bước vào cửa thiêng
Mênh mông nắng đẹp siêu huyền

(Xuân Ly Băng)

Bài thơ La Vang Đất Mẹ như là viên ngọc lấp lánh nhưng được cất kỹ, không được phổ biến nên ít ai biết để cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp quyến rũ của chất ngọc quý un đúc từ lòng sùng tín mộ đạo của Xuân Ly Băng - một thi sĩ công giáo tài hoa - thì thật là đáng tiếc.

La Thụy
Mắt Buồn  
#57 Posted : Tuesday, January 18, 2022 8:10:30 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
‘Nửa Đêm Biên Giới,’ nhạc tình mùa chinh chiến của Anh Bằng


January 8, 2022
Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV)
– “Nửa Đêm Biên Giới” là một bản tình ca thời chiến tranh chống Cộng Sản tại miền Nam Việt Nam cách nay hơn nửa thế kỷ của tác giả Anh Bằng, một trong những nhạc sĩ gạo cội của dòng nhạc tình mùa chinh chiến thời bấy giờ.

UserPostedImage

Nhạc phẩm “Nửa Đêm Biên Giới” của Anh Bằng. (Hình tài liệu)

Đây là là tâm tình của một anh chiến sĩ Cộng Hòa từ chốn biên thùy nơi anh đang “ôm súng canh rừng sâu” trong những đêm chờ giặc mà chạnh lòng nhớ thương người mẹ già nơi quê nhà xa xôi ấy.

“Mẹ ơi biên cương giờ đây/ Trời không mưa nhưng nhiều mây/ Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang/ Nghe gió rung cây đổ lá vàng/ Sương xuống mênh mang.” Trong bóng đêm âm u mây mờ, sương phủ, con nghe rõ cả tiếng chim kêu cùng tiếng hú của thú rừng giữa tiếng gió rít qua ngàn cây, kẽ lá, làm rơi rụng bao chiếc lá vàng cuối Thu.

Rồi vọng từ chốn xa, xa xăm là những tiếng khèn, tiếng cồn của các bản Thượng, khi nhặt, khi khoan như đếm nhịp cầm canh đến buồn não nuột. Bất giác, con chạnh lòng nhớ đến mẹ hiền bên mái tranh xưa, ngày nào con còn cất tiếng hát nghêu ngao để tạo niềm vui cho thôn nghèo mùa ly loạn, và đó chính là những kỷ niệm vừa buồn vừa đẹp biết bao: “Khèn trong buôn xa cồn vang/ Nhịp chiêng tiêu sơ nhặt khoan/ Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu/ Con hát ca vui lều tranh nghèo/ Ôi đẹp làm sao!”

Nhưng trong đêm thanh, cảnh vắng nơi quê nhà hiu quạnh, lòng mẹ hiền lại dạt dào niềm thương yêu đứa con trai đã lên đường tòng quân, ra đi xa mái tranh thân yêu, xa bến xưa cô liêu với hình bóng quê nghèo. Và giờ này, nơi rừng sâu núi thẳm, có lẽ đứa con yêu của mẹ đang ngồi ôm súng canh giặc thù ở đầu non, cuối ghềnh mà không một tiếng than van, vì hiểu rằng đất nước còn thì xóm làng còn, đất nước mất thì xóm làng cũng mất theo luôn: “Đêm nay quê nhà/ Mẹ hiền còn thương đứa con đi chốn xa mờ/ Không than không sầu/ Đầu non cuối ghềnh/ Ôm cây súng canh rừng sâu”…

Mẹ còn nhớ không, con vui bước lên đường, không than, không sầu cũng chỉ vì nước non mình vẫn đợi chờ những người trai hùng giữa lúc muôn quân đang reo lửa khói tung ngập màu cờ. Tuy thế, trước cảnh núi đồi âm u, suối rừng vi vu với khói lam u huyền lững lờ buồn trên thôn vắng, làm sao con khỏi chạnh lòng nhớ thương mẹ già nơi quê nhà xa xôi đang vò võ đợi chờ ngày đứa con thân yêu quay gót trở về làng xưa, nhất là trong những đêm thâu có tiếng dế mèn nỉ non, ray rứt đến não nuột: “Con vui sông hồ/ Vì yêu giống nòi mà dặn lòng đi tranh đấu/ Thương ai dãi dầu/ Nắng sớm mưa chiều/ Có con dế mèn nỉ non ru canh thâu.”

Và mẹ ơi! Lúc quê hương mình đang lầm than vì giặc thù xâm lấn thì thân trai ra đi nợ nước đôi vai gánh nặng âu cũng là lẽ thường. Và giờ đây, khi ngồi bên vọng gác dưới sương khuya rơi trắng cả núi rừng, con vẫn biết nơi quê nhà mẹ già đang chờ tin con qua những chiến công mà con có được trên đường diệt giặc thù, để rồi chợt nghe tim ấm giữa xa xôi: “Mẹ ơi quê hương lầm than/ Làm trai hai vai nợ mang/ Ngồi đây trong sương khuya trắng trên đầu non/ Con biết quê xa mẹ mong chờ/ Tin chiến công con.”

UserPostedImage

Nhạc sĩ Anh Bằng. (Hình: Tài liệu)

Và cho dù thời gian chờ đợi ngày về đoàn viên với gia đình khi nước non đã sạch bóng quân xâm lược vẫn còn dài, và cho dù dãy Trường Sơn có cách trở đôi đường nhưng con vẫn không hề nản chí, sờn lòng, bởi vì bên tai con và cả trong tâm khảm con lúc nào cũng vang vọng tiếng mẹ hiền khuyên con hãy yêu nước như yêu mẹ mình đó vậy, cho dù con có phải băng suối, qua rừng chập chùng bên những đêm dài lạnh lùng đi nữa: “Thời gian không phai lòng son/ Trường Sơn không ngăn tình con/ Ngày nao con ra đi nhớ câu mẹ khuyên/ Yêu nước như yêu mẹ hãy còn/ Giữ trong linh hồn!”

***

Miền Nam Việt Nam và chính thể Cộng Hòa Việt Nam tuy chỉ tồn tại vỏn vẹn có 21 năm trong dòng lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc nhưng hàng triệu con dân miền Nam đã phải đổ biết bao nhiêu xương máu để giữ cho quê mẹ được tồn tại cho đến khi đắm chìm dưới làn sóng Đỏ.

Họ là những chàng trai thế hệ đã lên đường giúp núi sông, hàng hàng lớp lớp chưa về. Họ là những người anh của đàn em nhỏ và những người con của mẹ giữ quê hương, với niềm hy vọng rằng quê nghèo mai sẽ tươi mầm sống. Tiêu biểu cho lớp trai hùng đó chính là người con trai của mẹ trong nhạc phẩm “Nửa Đêm Biên Giới” của Anh Bằng.

Nhạc sĩ Anh Bằng, tên thật là Trần An Bường, quê ở Thanh Hóa nhưng ra Hà Nội học hành trước khi cùng gia đình di cư vào Nam sau Hiệp Định Geneva năm 1954.

Năm 1957, chàng trai này nhập ngũ và phục vụ trong Liên Đoàn Công Binh Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ tài viết kịch và trình diễn kịch, Anh Bằng cùng các chiến hữu Công Binh được cử đi trình diễn văn nghệ tại nhiều đơn vị quân đội từ Quảng Trị cho tới Bình Định, để rồi sau đó được thuyên chuyển về phục vụ trong ngành Chiến Tranh Tâm Lý thời Đệ Nhất Cộng Hòa cho đến khi giải ngũ vào năm 1962.

Từ năm 1969 trở đi, Anh Bằng cùng hai nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ lập nên nhóm Lê Minh Bằng để vừa sáng tác nhạc vừa dạy nhạc, và nhóm này đã đào tạo được những ca sĩ nổi tiếng như Trang Mỹ Dung, Kim Loan, Trúc Mai, Giáng Thu… Nhóm này cũng thành lập ban nhạc Sóng Mới chuyên trình diễn trên đài Phát Thanh Sài Gòn.

Năm 1975, sau ngày Miền Nam Tự Do mất vào tay Cộng Sản, nhạc sĩ Anh Bằng sang định cư tại Hoa Kỳ, nơi ông thành lập một trung tâm băng nhạc lấy tên là Lê Minh Bằng, sau đổi thành Trung Tâm Dạ Lan. Rồi đến năm 1988, nhạc sĩ Anh Bằng thành lập Trung Tâm Asia, do ái nữ Thy Vân của ông làm quản lý cùng với sự cộng tác về kỹ thuật của nhạc sĩ Trúc Hồ.

UserPostedImage

Đêm nhạc tưởng niệm cố nhạc sĩ Anh Bằng tại Little Saigon hôm 15 Tháng Mười Một, 2019, nhân ngày giỗ thứ tư của ông. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Các sáng tác của Anh Bằng rất đa dạng, đặc biệt là những ca khúc phổ thơ và những nhạc phẩm ngoại quốc được ông chuyển sang lời Việt: “Căn Nhà Ngoại Ô,” “Nó,” “Nỗi Lòng Người Đi,” “Nửa Đêm Biên Giới,” “Sầu Lẻ Bóng,” “Giấc Ngủ Cô Đơn” (với Lê Dinh), “Lẻ Bóng” (với Lê Dinh), “Vọng Gác Lưng Đồi” (với Minh Kỳ), “Anh Biết Em Đi Chẳng Trở Về” (thơ Thái Can), “Anh Còn Nợ Em” (thơ Phạm Thành Tài), “Chuyện Giàn Thiên Lý” (thơ Yên Thao), “Khúc Thụy Du” (thơ Du Tử Lê), “Nếu Vắng Anh” (thơ Nguyên Sa), “Trúc Đào” (thơ Nguyễn Tất Nhiên)…

Nhạc sĩ Anh Bằng qua đời ngày 12 Tháng Mười Một, 2015, tại Orange County, miền Nam California, thọ 89 tuổi.

(Vann Phan) [qd]

Nhạc phẩm “Nửa Đêm Biên Giới” của Anh Bằng

Mẹ ơi biên cương giờ đây
Trời không mưa nhưng nhiều mây
Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
Nghe gió rung cây đổ lá vàng
Sương xuống mênh mang

Khèn trong buôn xa cồn vang
Nhịp chiêng tiêu sơ nhặt khoan
Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu
Con hát ca vui lều tranh nghèo
Ôi đẹp làm sao!

Đ.K.:

Đêm nay quê nhà
Mẹ hiền còn thương đứa con đi chốn xa mờ
Không than không sầu
Đầu non cuối ghềnh
Ôm cây súng canh rừng sâu

Con vui sông hồ
Vì yêu giống nòi mà dặn lòng đi tranh đấu
Thương ai dãi dầu
Nắng sớm mưa chiều
Có con dế mèn nỉ non ru canh thâu

Mẹ ơi quê hương lầm than
Làm trai hai vai nợ mang
Ngồi đây trong sương khuya trắng trên đầu non
Con biết quê xa mẹ mong chờ
Tin chiến công con

Thời gian không phai lòng son
Trường Sơn không ngăn tình con
Ngày nao con ra đi nhớ câu mẹ khuyên
Yêu nước như yêu mẹ hãy còn
Giữ trong linh hồn!
Mắt Buồn  
#58 Posted : Tuesday, January 18, 2022 8:17:50 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
‘Lá Thư Trần Thế,’ nhạc tình mùa chinh chiến của Hoài Linh


December 25, 2021
Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV)
– “Lá Thư Trần Thế,” một sáng tác của Hòa Linh trong dòng nhạc tình mùa chinh chiến tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, là lời nguyện cầu tha thiết dâng lên Thiên Chúa của một người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa cùng gia đình cầu cho đất nước hết cảnh khói lửa chiến tranh và thanh bình sớm trở về trên quê hương, để cho người lính chiến được quay về với gia đình, tìm vui bên lửa ấm.

UserPostedImage

Tờ nhạc “Lá Thư Trần Thế” tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. (Hình: Tài liệu)

Một mùa Noel nữa lại về trong khói lửa chiến chinh trên đất Mẹ Việt Nam mến yêu. Tại các tiền đồn heo hút xa xăm trên toàn thể lãnh thổ miền Nam Việt Nam, các anh chiến sĩ Cộng Hòa vẫn luôn giữ vững tay súng để ngăn chặn mọi âm mưu của kẻ địch quyết phá hoại nếp sống an lành của người dân miền Nam hiền hòa.

Quanh năm, suốt tháng, vì mãi lo chu toàn nhiệm vụ của người lính trận ngoài biên ải nên anh lính chiến bỗng quên bẵng đi rằng Giáng Sinh đã lại về trên đồi cây, ngọn cỏ giữa chốn núi rừng, đánh dấu đêm Chúa Hài Đồng xuống thế để chuộc tội cho loài người.

Phải chăng vầng sáng muôn màu kia chính là ánh hào quang rạng chiếu trong đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, thay cho những đóm mắt hỏa châu thường bừng lên trong màn tối mà người lính chiến vẫn nhìn thấy đêm đêm từ dưới chiến hào: “Lạy Chúa con là lính trận ngoài biên/ Vì xa thành phố xa quá nên quên/ Đêm nay Ngôi Hai Trời xuống/ Ánh sao lung linh muôn màu/ Con tưởng hỏa châu soi tuyến đầu”…

Trong những giờ khắc thuộc về tâm linh này của một năm, người thân trong các gia đình có những người lính xa nhà không thể nào không nghĩ đến người chồng, người cha của họ đang ở đâu đó chốn góc núi ven rừng, chân mây đầu gió, hay nơi đầu non, cuối ghềnh ôm cây súng canh rừng sâu. Người vợ lính từ nơi quê nhà xa xôi ấy làm sao khỏi chạnh lòng nghĩ đến người chồng đang biền biệt sơn khê.

Đã hai, ba mùa Giáng Sinh qua rồi mà gia đình chúng con vẫn xa cách phương trời, hết Xuân, sang Hè, qua Thu và nay Đông đã sắp tàn, xin Chúa hãy cho con biết được tin lành, rằng người con yêu vẫn bình an nơi chiến địa: “Lạy Chúa con là thiếu phụ miền quê/ Chồng con vì nước nên đã ra đi/ Hai ba năm chưa thỏa chí/ Hết Thu qua Xuân sang Hè/ Con đợi tàn Đông mới tin về.”

Ôi! Lạy Chúa tôi: “Đạn xé không trung đêm từng đêm vẫn nghe/ Từng lớp trai đi cho ngày mai vẫn đi/ Đêm nay Người xuống đời/ Xin đem nguồn vui tới/ Những đôi môi cằn cỗi lâu không cười.”

Quê hương Việt Nam còn vang ầm tiếng súng đêm đêm vọng về khi quân xâm lược vẫn chưa từ bỏ mộng thôn tính miền đất phương Nam hiền hòa, khiến cho bao chàng trai thế hệ, trong đó có người chồng yêu thương của con, đã phải rời xa mái ấm gia đình mà lên đường tòng chinh, hàng hàng lớp lớp chưa về, người người nối tiếp câu thề giành lấy quê hương.

Đêm nay, nhân Thiên Chúa Ngôi Hai giáng sinh xuống trần, xin người hãy xót thương dân tộc Việt Nam đang bị đọa đày trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn mà mang lại nụ cười trên môi cho những kiếp đời còn chia ly, ngăn cách khi nước non khói lửa anh còn ước hẹn đời trai, ra đi là để tìm ngày hạnh phúc tương lai…

Nhưng không phải chỉ có người chồng và người vợ trong cuộc chiến mới khẩn thiết dâng lời nguyện cầu nửa đêm lên Thiên Chúa.

Lạy Chúa! Chúng con đang còn là những đứa trẻ học sinh nơi quê nhà mà người cha thì đang làm thân lính chiến miền xa. Chúng con cầu xin Chúa nhân từ hãy luôn quan phòng để cho cha yêu quý của chúng con được bình an, vô sự nơi chiến tuyến mịt mờ mưa bay.

UserPostedImage

Nhạc sĩ Hoài Linh. (Hình: Tài liệu)

Được thế, chúng con mới có thể yên tâm học hành, để hy vọng mai sau tiếp tục giúp nước, giúp đời, và cũng để cho mẹ hiền yêu dấu của chúng con khỏi trải qua những đêm lo lắng, ưu phiền, làm xao xuyến thôn nghèo dưới làn khói lam chiều buồn vương theo gió:

“Lạy Chúa con còn lứa tuổi học sinh/ Vì cha là lính con thiết tha xin/ An vui cho người đầu tuyến/ Trẻ thơ yên tâm sách đèn/ Để mẹ hiền con hết ưu phiền.”

***

Hoài Linh, tức Lê Văn Linh, sinh tại Hải Phòng, là một trong các nhạc sĩ nổi tiếng tại miền Nam Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa.

Trước năm 1975, nhạc sĩ Hoài Linh hoạt động trong Đoàn Văn Nghệ Vì Dân với cấp bậc trung úy dưới quyền của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.

Hoài Linh bắt đầu sáng tác từ năm 1955, với các bản nhạc tình mang lãng mạn nhưng chưa vương khói lửa chiến chinh, trong đó có bản “Em Ơi! Nếu Đừng Dang Dở” từng được nữ danh ca Lệ Thu trình bày qua làn sóng điện của các đài phát thanh tại miền Nam Việt Nam.

Kể từ đầu thập niên 1960, Hoài Linh bắt đầu nổi tiếng nhờ nhạc phẩm “Sầu Tím Thiệp Hồng” (cùng với Minh Kỳ). Ca khúc này đã trở thành bài hát lý tưởng dành cho các cặp song ca như Chế Linh-Thanh Tuyền và sau này là Tuấn Vũ-Giao Linh. Từ đó cho đến năm 1975, nhạc sĩ Hoài Linh liên tục cho ra đời những tác phẩm được khán, thính giả khắp nơi yêu thích.

Những sáng tác của nhạc sĩ Hoài Linh không chỉ hấp dẫn nhờ giai điệu tình tứ mà lời ca cũng đầy ý nghĩa và sâu sắc. Lời nhạc của Hoài Linh được đánh giá là bay bướm, văn hoa và có vần, có điệu. Vì vậy, ông nổi tiếng là người nhạc sĩ có tài đặt tựa bài hát và viết lời cho các ca khúc, kể cả những sáng tác chỉ có phần nhạc của các nhạc sĩ khác.

Nhạc sĩ Hoài Linh qua đời đúng vào ngày 30 Tháng Tư, 1995, tại Sài Gòn, thọ 75 tuổi.

Hoài Linh sáng tác rất mạnh, với hàng trăm ca khúc giá trị, vừa nhạc tình vừa “nhạc lính,” được phổ biến từ hậu phương ra tới tiền tuyến, từ các nhà hàng sang trọng nơi đô thành cho tới những xóm nghèo vùng ngoại ô, và luôn cả các tiền đồn heo hút trên bốn vùng chiến thuật tại Miền Nam Việt Nam.

UserPostedImage

Chúng con cầu xin Chúa nhân từ hãy luôn quan phòng để cho cha yêu quý của chúng con được bình an, vô sự nơi chiến tuyến mịt mờ. Trong hình, người lính Việt Nam Cộng Hòa vào Tháng Hai, 1968. (Hình minh họa: Bob Wildau/AFP via Getty Images)

Các sáng tác được nhiều người mến mộ của Hoài Linh, ngoài “Lá Thư Trần Thế” (từng được các ca sĩ Giang Tử, Ngọc Minh và Đan Nguyên trình bày trong đĩa nhạc Asia 66), còn gồm “Căn Nhà Màu Tím,” “Dù Hoa Lạc Lối,” “Hai Đứa Giận Nhau,” “Lính Nghĩ Gì?,” “Nhịp Cầu Tri Âm,” “Về Đâu Mái Tóc Người Thương”…

Vì chuyên viết lời cho những ca khúc của các nhạc sĩ nổi tiếng đương thời, Hoài Linh còn là đồng tác giả của các nhạc phẩm được phổ biến rộng rãi tại miền Nam Việt Nam trước và ngay cả sau năm 1975. Chung với Minh Kỳ: “Chuyến Tàu Hoàng Hôn,” “Mấy Độ Thu Về”… Chung với Song Ngọc: “Chiều Thương Đô Thị,” “Một Chuyến Bay Đêm”… Chung với Mạnh Phát: “Bóng Thu Xưa,” “Nỗi Buồn Gác Trọ”… Chung với Tuấn Khanh: “Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi,” “Quán Nửa Khuya”… Chung với Tấn An: “Bài Ca Của Nàng,” “Đầu Xuân Lính Chúc”… Chung với Văn Phụng: “Bóng Người Đi,” “Tiếng Hát Đường Xa”…

(Vann Phan) [qd]

Nhạc phẩm “Lá Thư Trần Thế” của Hoài Linh

Lạy Chúa con là lính trận ngoài biên
Vì xa thành phố xa quá nên quên
Đêm nay Ngôi Hai Trời xuống
Ánh sao lung linh muôn màu
Con tưởng hỏa châu soi tuyến đầu

Lạy Chúa con là thiếu phụ miền quê
Chồng con vì nước nên đã ra đi
Hai ba năm chưa thỏa chí
Hết Thu qua Xuân sang Hè
Con đợi tàn Đông mới tin về

Đ.K.:

Đạn xé không trung đêm từng đêm vẫn nghe
Từng lớp trai đi cho ngày mai vẫn đi
Đêm nay Người xuống đời
Xin đem nguồn vui tới
Những đôi môi cằn cỗi lâu không cười

Lạy Chúa con còn lứa tuổi học sinh
Vì cha là lính con thiết tha xin
An vui cho người đầu tuyến
Trẻ thơ yên tâm sách đèn
Để mẹ hiền con hết ưu phiền.

Mắt Buồn  
#59 Posted : Tuesday, January 18, 2022 8:22:37 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
‘Đôi Ngả Đôi Ta,’ nhạc tình mùa chinh chiến của Trần Thiện Thanh


November 27, 2021
Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV)
– “Đôi Ngả Đôi Ta” là một trong những ca khúc nhẹ nhàng và tình tứ nhất trong số hàng chục bài “nhạc lính” có giá trị nghệ thuật rất cao và nổi tiếng khắp nơi của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.

UserPostedImage

Nhạc phẩm “Đôi Ngả Đôi Ta” của Trần Thiện Thanh. (Hình: Tài liệu)

Ngoài bài này, phải kể đến những nhạc phẩm bất hủ như “Người Ở Lại Charlie,” “Anh Không Chết Đâu Anh,” “Mười Sáu Trăng Tròn,” “Rừng Lá Thấp,” “Tâm Sự Người Lính Trẻ” (dưới bút danh Anh Chương), “Người Yêu Của Lính,” “Anh Về Với Em,” “Đồn Vắng Chiều Xuân,” “Không Bao Giờ Ngăn Cách,” “Tuyết Trắng,” “Hoa Biển”…

Nhạc tình “Đôi Ngả Đôi Ta” là tâm sự của anh lính từ dạo giã từ thôn cũ để lên đường làm nhiệm vụ người trai thời ly loạn đến nay, đôi lứa không gặp mặt nhau cũng đã mấy mùa trăng rồi.

Nhưng không hiểu sao giữa mùa trăng này, một mình trong đêm trăng hôm nay, anh bỗng da diết nhớ em, nhớ ôi là nhớ đến bất tận! Rồi niềm thương, nỗi nhớ về em cứ mãi dâng trào như những con sóng đại dương, đại dương mông mênh trong lòng anh vậy đó: “Một đêm trăng sáng, thương về ngập lòng đại dương mang sóng/ Mình anh riêng bóng, xa xôi mịt mùng, bồi hồi nhớ mong.”

Lạ thật, năm xưa, khi mình xa nhau, anh vẫn tự nhủ lòng hãy cố quên đi niềm nhớ thương em, và cũng đừng để lòng vương vấn hoài với mối tình chưa trọn vẹn mà hãy dành hết tinh thần và nghị lực vào nhiệm vụ bảo vệ quê hương của người chiến sĩ miền xa.

Thế nhưng, đêm nay trăng sáng quá em ơi, khi tình cờ băng ngang qua lều vải nơi đóng quân trên đường đi tập kích, anh đã để cho lòng nhung nhớ về người em yêu chiếm ngự tâm hồn lúc nào không hay: “Dẫu cho người ra đi năm xưa đã dặn lòng/ Quên đi niềm nhớ thương, quên đi lòng vấn vương/ Nhưng đêm trăng vàng, tình cờ xuôi ngang lều vải, xin nhớ thương vài giây…”

Bất giác, tâm hồn anh lại quay về với cái quá khứ mộng mơ năm xưa khi chúng mình cùng đắm chìm trong mối tình thơ mộng, yêu thương nhau thật nhiều, nhiều như biển cát mông mênh vậy đó, và còn nhiều hơn những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má em lúc em hờn dỗi, giận anh khi anh chưa kịp tới, hoặc chỉ vì anh lơ đãng không nghe em kể một chuyện tình đẹp nhất trên trần đời: “Ngày xa xưa ấy, thương thì thật nhiều, nhiều hơn biển cát/ Nhiều hơn nước mắt những đêm hẹn hò, giận hờn dưới trăng.”

Em có biết không, lòng anh vẫn nuối tiếc hoài chuyện năm xưa khi anh, vì quá háo hức ra đi theo tiếng gọi lên đường giúp núi sông, đã không dành được thì giờ gặp em để nói lời từ giã. Xin em yêu hãy hiểu cho lòng anh lúc đó, vừa bị lôi cuốn do tính phiêu lưu, mạo hiểm của tuổi trẻ, vừa bị thúc giục do lòng nôn nóng lên đường bảo vệ quê hương đang nghiêng ngả vì quân xâm lược. Thế rồi, anh đã hối hả thu xếp hành trang, rời xóm làng mà lên đường đi làm nhiệm vụ người trai vào đêm trăng năm đó: “Dẫu cho tình đôi ta bao la như chiều vàng/ Tim sông hồ trót mang, quê hương tình vẫn hơn/ Nên đêm trăng vàng đẹp hành trang xuôi vạn lý, quên nói câu tạ từ…”

Rồi mộng đẹp lại về cùng anh trong đêm lắng mơ, giữa lúc bên em ánh trăng xưa đang nhạt nhòa nơi thềm vắng, với biết bao kỷ niệm xa xưa nhắc gợi những lần đôi ta hò hẹn nhau: “Ngày đó, đôi ta thường hẹn hò/ Mà nay, trăng bâng khuâng thềm vắng.” Nhưng em ơi, anh vẫn muốn rằng, dù có nhớ thương nhau bao nhiêu đi nữa, và dù đêm đêm ta vẫn mơ đến nhau trong nỗi niềm cô đơn, quạnh quẽ, em vẫn phải vui lên và chớ để cho nỗi buồn ngăn cách làm cho nét tươi hồng trên đôi má em phôi pha đi, em nhé: “Em ơi, anh muốn rằng dù thương thương, nhớ nhớ/ Bàng hoàng nghìn đêm mơ, chợt biết lòng bơ vơ/ Đừng buồn, đừng buồn cho đôi má xinh phai hồng”…

Ôi! Những đêm trăng sao mà huyền diệu thế! Dường như ánh trăng về là để biến những mối tình đang cách trở thành những cơn mộng tuyệt vời, để thu ngắn những cách xa và làm diệu vợi thêm những nỗi niềm mong nhớ: “Một lần xa cách, duyên tình thành mộng vào đêm trăng sáng/ Gần nhau thu ngắn, cho ân tình dài, dài thêm nhớ mong.”

Thôi thì, chúng ta hãy để cho khoảng thời gian xa cách nhau đó tô bồi thêm những niềm thương, nỗi nhớ lên tình mình, như lúc trăng vơi để rồi lại đầy. Rồi, một ngày gần đây, khi anh quay về bến ấy ngày xưa lúc người đi vấn vương biệt ly, anh sẽ âu yếm nắm lấy bàn tay em.

Và dưới vần trăng vằng vặc giữa trời, anh và em cùng đinh ninh hai miệng một lời song song: “Hãy cho thời gian gom yêu thương lên thật đầy/ Hôm nao mình nắm tay, khi anh lại chốn đây/ Đêm khuya trăng vàng lặng lờ trôi như thầm nói ‘ta với ta thành đôi.’”

***

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh quê ở Phan Thiết và là một trong số các nhạc sĩ miền Nam Việt Nam nổi tiếng nhất vào hai thập niên 1960 và 1970. Thỉnh thoảng, ông cũng viết nhạc dưới các bút danh khác, là Anh Chương, Trần Thiện Thanh Toàn và Thanh Trân Trần Thị.

Trần Thiện Thanh còn là một ca sĩ chuyên nghiệp với nghệ danh Nhật Trường, và được coi là một trong bốn nam ca sĩ tài danh nhất, tức “tứ trụ nhạc vàng,” trong nền tân nhạc Việt Nam Cộng Hòa.

UserPostedImage

Ca sĩ Mỹ Lan trong một đêm nhạc tưởng nhớ cố ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh. (Hình: Mỹ Lan cung cấp)

Hai chủ đề chính trong các sáng tác của Trần Thiện Thanh là “nhạc tình” và “nhạc lính.” Về nhạc tình, Trần Thiện Thanh là tác giả của những ca khúc rất được khán, thính giả và cả các nam, nữ ca sĩ ưa chuộng, trong đó phải kể đến các nhạc phẩm “Lâu Đài Tình Ái,” “Bảy Ngày Đợi Mong,” “Từ Đó Em Buồn,” “Biển Mặn,” “Hoa Trinh Nữ,” “Chuyện Một Người Đi,” “Chiều Trên Phá Tam Giang” (phổ thơ Tô Thùy Yên), “Chuyện Hẹn Hò” (dưới bút danh Thanh Trân Trần Thị)…

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, trước sau, có tới ba đời vợ, đó là Trần Thị Liên, ca sĩ Kim Dung (ở trong nước) và ca sĩ Mỹ Lan (ở hải ngoại). Người ca-nhạc sĩ tài hoa của miền Nam Việt Nam mất ngày 13 Tháng Năm, 2005, tại Westminster, miền Nam California, Hoa Kỳ.

(Vann Phan) [qd]

Nhạc phẩm “Đôi Ngả Đôi Ta” của Trần Thiện Thanh

Một đêm trăng sáng, thương về ngập lòng đại dương mang sóng
Mình anh riêng bóng, xa xôi mịt mùng, bồi hồi nhớ mong
Dẫu cho người ra đi năm xưa đã dặn lòng
Quên đi niềm nhớ thương, quên đi lòng vấn vương
Nhưng đêm trăng vàng, tình cờ xuôi ngang lều vải, xin nhớ thương vài giây…

Ngày xa xưa ấy, thương thì thật nhiều, nhiều hơn biển cát
Nhiều hơn nước mắt những đêm hẹn hò, giận hờn dưới trăng
Dẫu cho tình đôi ta bao la như chiều vàng
Tim sông hồ trót mang, quê hương tình vẫn hơn
Nên đêm trăng vàng đẹp hành trang xuôi vạn lý, quên nói câu tạ từ

Đ.K.:

Ngày đó, đôi ta thường hẹn hò
Mà nay, trăng bâng khuâng thềm vắng
Em ơi, anh muốn rằng dù thương thương, nhớ nhớ
Bàng hoàng nghìn đêm mơ, chợt biết lòng bơ vơ
Đừng buồn, đừng buồn cho đôi má xinh phai hồng

Một lần xa cách, duyên tình thành mộng vào đêm trăng sáng
Gần nhau thu ngắn, cho ân tình dài, dài thêm nhớ mong
Hãy cho thời gian gom yêu thương lên thật đầy
Hôm nao mình nắm tay, khi anh lại chốn đây
Đêm khuya trăng vàng lặng lờ trôi như thầm nói “ta với ta thành đôi.”
Mắt Buồn  
#60 Posted : Tuesday, January 18, 2022 8:25:51 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,765

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
‘Mưa Đêm Ngoại Ô,’ nhạc tình mùa chinh chiến của Đỗ Kim Bảng


December 11, 2021
Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV)
– “Mưa Đêm Ngoại Ô,” nhạc tình mùa chinh chiến của Đỗ Kim Bảng, là tình khúc trong đó người dân Miền Nam Tự Do trao gởi những tâm tình mến yêu đến các anh chiến sĩ Cộng Hòa, dù họ không nhất thiết phải là “người yêu của lính,” tức là các đối tượng thường được đề cập tới trong hầu hết các bản “nhạc lính” thời Việt Nam Cộng Hòa.

UserPostedImage

Nhạc phẩm “Mưa Đêm Ngoại Ô” của Đỗ Kim Bảng. (Hình: Tài liệu)

“Trời đã khuya rồi đấy trăng chênh chếch xuyên ánh qua mành/ Trời đã khuya rồi đấy mưa trên xóm xa ánh đô thành/ Đường ngoài kia không xôn xao không đẹp vì đèn màu/ Ôi! Đường dài hun hút với đêm thâu/ Bước chân ai qua mau dưới mưa nghe nao nao lồng tiếng còi tàu thét lâu.”

Ôi! Những đêm trời mưa tí tách nơi vùng ngoại ô các thành phố tại miền Nam Việt Nam thời chiến tranh mới buồn làm sao, em có nhớ Thu nào đó không em? Dưới ánh trăng chênh chếch xuyên qua bức mành tre mong manh, thấy chập chờn qua ánh đèn vàng hiu hắt bóng dáng người hối hả bước đi dưới mưa trên dặm dài tưởng chừng như hun hút canh thâu. Giữa lúc đó, vọng từ chốn xa xa xăm có tiếng tàu đêm năm cũ từng hồi rúc lên như thúc giục những kẻ xa nhà mau chân về quây quần bên người thân trong bữa cơm gia đình.
“Nằm giữa đêm ngoại ô nghe mưa rớt trên khóm tre già/ Thầm nhớ ai ngoài xa, đang tranh đấu cho nước non nhà.”

Thế rồi, bên lũy tre làng, có kẻ đang nằm giữa đêm mưa ngoại ô mà chạnh lòng nhớ tới bao chàng trai thế hệ đang dầm mưa, dãi nắng, xả thân bảo vệ quê hương, đất nước đang bị ngoại xâm giày xéo từ ngày nào súng biên cương rền nổ khắp đồng xanh, những mong gặp lại những mùa trăng thanh bình về trên đường xưa lối cũ.

Cảm thương cho những người anh lính chiến mà chúng em chưa hề có dịp làm quen, với tấm chinh y sũng nước vì dầm mưa, dãi gió nơi rừng sâu, núi thẳm qua mấy độ sương khói biên thùy. Nhưng thôi, chỉ xin các anh đừng bao giờ từ bỏ niềm hy vọng rằng, một ngày gần đây, những đêm dài vô tận hôm nay sẽ thay bằng những tháng ngày gió lặng, mưa ngừng. Khi tan giặc và lúc các anh về, chúng em thân ái mời các anh ghé qua làng để chúng em có dịp bày tỏ lòng biết ơn các anh đã sống trọn kiếp trai hùng để giữ yên quê nhà, mong rằng các anh không chê làng chúng em bé nhỏ, nhà lá đơn sơ, nhưng đó chính là nơi lúc nào cũng có những tấm lòng rộng mở: “Người anh tôi không quen ơi!/ Mưa rừng về ngập trời mưa làm chi cho ướt áo anh tôi/ Đến mai khi nơi nơi gió yên mưa thôi rơi mời anh qua làng tôi…”

“Đây ngoại ô nhạt ánh đèn khuya/ Đèn vàng hiu hắt soi con đường mờ mờ bóng mưa/ Nhưng tin yêu thắm lòng ta”… Làng chúng em tuy ở vùng ngoại ô mờ nhạt ánh đèn khuya và hiu hắt soi mấy con đường vào nhưng người làng vẫn đặt hết tin yêu vào chính nghĩa quốc gia cũng như vào bàn tay che chở của những người trai lính chiến như các anh. Chúng em xin thương tặng các anh, những ngưởi trai đang tham gia Chiến Dịch Vì Dân, những câu hát ca ngợi tình quân dân tha thiết cùng với nụ cười hồn nhiên của những người em gái thơ ngây, trong sáng như ánh Xuân hồng. Hy vọng rằng, sau lần gặp gỡ này, trên bước đường hành quân, các anh sẽ luôn mang theo hình ảnh tươi đẹp của những đêm trao kỷ niệm trong gói hành trang giã từ: “Xin tặng anh người trai vì dân/ Nụ cười em gái yêu với tình thương như ánh Xuân/ Mang theo anh nhé lúc hành quân.”

Để rồi, vào những đêm trời khuya, lặng nhìn những giọt buồn không tên từ những cơn mưa rã rích canh thâu giữa chốn núi rừng, hỡi những người anh mà chúng em mới quen hoặc chưa quen, chớ có ngạc nhiên gì khi chợt thấy lòng mình bỗng dưng ấm lại khi đọc những lá thư gởi về anh mà chúng em đã viết bên đèn khuya, từ bàn tay tiên nắn nót từng nét gởi cho anh…

Vâng, đó chính là những lá thư gởi ra tiền tuyến của người em gái nơi vùng ngoại ô năm nào. Và cũng chính vào thời khắc đó, văng vẳng bên tai các anh sẽ nghe dặt dìu những tiếng hát hậu phương trao gởi về anh người trai biên giới, kể lể nỗi niềm thương mến các anh chiến sĩ miền xa vào một đêm mưa ngoại ô: “Để những đêm trời khuya, mưa tí tách như đếm canh dài/ Ở chốn xa ngoài kia nơi biên giới sương khuất cây đồi/ Người anh tôi không quen ơi/ Trên đường diệt giặc thù nếu chợt nghe tim ấm giữa xa xôi/ Gió mang ra biên khu mến trao anh câu ca một đêm mưa ngoại ô…”

***

Nhạc phẩm “Mưa Đêm Ngoại Ô” được nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng sáng tác năm 1961 trong những đêm đầy cảm hứng khi ông nghe tiếng mưa rơi ngoài song cửa, nói lên tình cảm chân thành của người dân miền Nam hiền hòa đối với các anh chiến sĩ đang cầm súng bảo vệ quê hương khỏi tay giặc thù xâm lược. Rõ ràng, đây không phải là tâm tình riêng tư của một anh lính chiến và một người em gái hậu phương đã quen biết nhau từ lâu hay đã cùng nhau trao lời nguyện ước ba sinh trước lúc người trai lên đường phục vụ tổ quốc, mà đây chính là một biểu thị mạnh mẽ của tình quân dân thắm thiết thời chiến tranh tại miền Nam Việt Nam trong suốt hai thập niên 1960 và 1970.

Trước năm 1975, nhạc phẩm “Mưa Đêm Ngoại Ô” được biết tới nhiều nhất qua tiếng hát của nữ danh ca Hương Lan. Tại hải ngoại, “Mưa Đêm Ngoại Ô,” một lần nữa, lại được thăng hoa qua hai giọng ca thuộc hai thế hệ ca sĩ nối tiếp nhau, đó là Hoàng Oanh và Như Quỳnh.
Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng sinh ra tại Huế và học đàn, học sáng tác nhạc ngay từ lúc còn trẻ. Năm 1953, ông ra Hà Nội học Cao Đẳng Sư Phạm, nhưng năm sau đó thì di cư vào Nam để tiếp tục việc học. Ông tốt nghiệp sư phạm vào năm 1955 rồi đi dạy học.

Năm 1960, Đỗ Kim Bảng nhập ngũ Khóa 21 Trường Bộ Binh Thủ Đức và về phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Quân Lực VNCH, từ 1965 đến 1969, trước khi được biệt phái trở về Bộ Giáo Dục.

UserPostedImage

Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng (phải) và danh ca Hoàng Oanh. Hình chụp ngày 28 Tháng Giêng, 2017. (Hình: nguoinoitieng.vn)

Sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975, nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng bị Cộng Sản đưa đi học tập “cải tạo” bốn năm. Ông cùng gia đình vượt biển thành công sang Hoa Kỳ và định cư tại Boston, Massachusetts. Từ năm 2000 đến nay, ông sống tại miền Nam California.

Trong số các sáng tác nổi tiếng và rất được ưa chuộng của nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng có các nhạc phẩm “Bước Chân Chiều Chủ Nhật,” “Chủ Nhật Buồn,” “Mưa Đêm Ngoại Ô,” “Mùa Thương Tay Đợi Mắt Chờ” (chung với Y Vân), “Vòng Tay Giữ Trọn Ân Tình” (chung với Y Vân), “Trắng Đêm Kỷ Niệm,” “Xin Dìu Nhau Đến Tình Yêu”…

(Vann Phan) [qd]

Nhạc phẩm “Mưa Đêm Ngoại Ô” của Đỗ Kim Bảng

Trời đã khuya rồi đấy trăng chênh chếch xuyên ánh qua mành
Trời đã khuya rồi đấy mưa trên xóm xa ánh đô thành
Đường ngoài kia không xôn xao không đẹp vì đèn màu
Ôi! Đường dài hun hút với đêm thâu

Bước chân ai qua mau dưới mưa nghe nao nao lồng tiếng còi tàu thét lâu
Nằm giữa đêm ngoại ô nghe mưa rớt trên khóm tre già
Thầm nhớ ai ngoài xa đang tranh đấu cho nước non nhà
Người anh tôi không quen ơi!
Mưa rừng về ngập trời mưa làm chi cho ướt áo anh tôi
Đến mai khi nơi nơi gió yên mưa thôi rơi mời anh qua làng tôi

Đ.K.:

Đây ngoại ô nhạt ánh đèn khuya
Đèn vàng hiu hắt soi con đường mờ mờ bóng mưa
Nhưng tin yêu thắm lòng ta
Xin tặng anh người trai vì dân
Nụ cười em gái yêu với tình thương như ánh Xuân
Mang theo anh nhé lúc hành quân
Để những đêm trời khuya mưa tí tách như đếm canh dài

Ở chốn xa ngoài kia nơi biên giới sương khuất cây đồi
Người anh tôi không quen ơi!
Trên đường diệt giặc thù nếu chợt nghe tim ấm giữa xa xôi
Gió mang ra biên khu mến trao anh câu ca một đêm mưa ngoại ô.
Users browsing this topic
Guest
4 Pages<1234>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.