Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

6 Pages«<3456>
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#81 Posted : Sunday, July 4, 2021 2:55:24 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

UserPostedImage

HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#82 Posted : Tuesday, July 6, 2021 3:11:38 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Bé Ký và Hồ Thành Đức, mối tình hai người cầm cọ


May 26, 2021
Trần Yên Hòa

ANAHEIM, California (NV)
– Tất cả đề tài Bé Ký vẽ, đều gần gũi với quê hương Việt Nam. Từ cuộc gặp gỡ đầu tiên với Hồ Thành Đức, họ nên duyên vợ chồng.

UserPostedImage

Tranh của họa sĩ Bé Ký và Hồ Thành Đức. (Hình: Gia đình cung cấp)

Tại Sài Gòn, một buổi chiều năm 1965, họa sĩ Hồ Thành Đức mở cuộc triển lãm đầu tiên. Buổi chiều, bên ngoài phòng tranh, nắng bắt đầu dịu dần, phòng triển lãm vắng khách. Hồ Thành Đức lơ đãng đi dạo quanh phòng, thì cánh cửa chợt mở, một người con gái bước vào. Nàng ăn mặc rất giản dị, nếu không nói là quê mùa, tóc kẹp buông thả dài sau lưng. Nàng đến xem từng bức tranh treo trên tường.

Nên duyên

Mới nhìn người con gái, Đức thấy lạ, nhưng khi nàng dừng lại ngắm từng bức tranh, anh mới chợt nhớ ra, khuôn mặt nàng là một hình ảnh quen thuộc anh thường thấy trên các báo, kể cả những tờ báo ngoại quốc. Ô! Anh nhớ ra rồi. Đó là họa sĩ “đường phố” Bé Ký. Bé Ký đã nổi tiếng qua các bài giới thiệu qua nét vẽ đặt biệt của cô.

Đức khấp khởi vui trong lòng, nhưng anh cũng cố làm mặt tỉnh.

Đức đến gần cô gái, như người chủ phòng tranh đến giới thiệu tranh mình đến với khách thưởng ngoạn. Anh vừa định lên tiếng thì cô gái đã nói trước:

-Anh là họa sĩ Hồ Thành Đức? Phòng tranh có vẻ vắng quá há?

Đức nói như muốn thanh minh, về sự thành công của cuộc triển lãm này:

-Thưa cô! Không đâu cô, buổi sáng và trưa nay khách đến xem tranh rất đông. Tôi đã bán được một số tranh khá nhiều. Bây giờ là buổi chiều nên hơi vắng.

Anh cố làm ra vẻ bằng lòng với câu trả lời của mình. Nói xong anh nở một nụ cười thật tươi, nhưng cô gái vẫn im lặng không đáp lễ. Cái im lặng của cô gái ghi nhận một sự đứng đắn, nhưng không lạnh lùng. Cô nhìn quanh phòng tranh và tiếp tục chăm chú xem từng bức tranh.

UserPostedImage

Nữ họa sĩ Bé Ký bên tác phẩm. (Hình: Gia đình cung cấp)

Anh tỏ vẻ thân mật, muốn mời cô gái ký vào tập ghi chữ ký lưu niệm của khách, thì bỗng nhiên cô gái hỏi:

-Anh có biết tôi là ai không?

Dù biết đây là Bé Ký, nhưng Hồ Thành Đức vẫn cố giấu. Anh trả lời:

-Thưa cô! Thật lấy làm tiếc, xin lỗi cô là ai?

Cô gái sửa lại mái tóc, nhìn anh cười:

-Tôi là Bé Ký.

Đức xuýt xoa, nói như một sự xin lỗi vì sự không quen biết này:

-A, thế ra cô là Bé Ký, họa sĩ đường phố. Thế là chúng ta cùng một nghề, nghề cầm cọ.

Trả lời xong, Đức thấy lòng mình yên ả, nhẹ nhàng. Một tình cảm ùa vào tâm hồn anh, như một luồng gió mát len vào căn phòng trưng bày, chỉ có hai người.

Anh hỏi tiếp người con gái xưng mình là Bé Ký:

-Hôm nay cô không ra Catinat, Lê Lợi để vẽ tranh à?

Cô gái cười hiền hậu. Rồi cô nói như một tâm sự:

-Không anh ạ, mấy hôm nay tôi không ở Sài Gòn. Tôi ở Ban Mê Thuột mới về, về cốt để xem phòng tranh của anh đó.

Hồ Thành Đức reo vui trong bụng. Bé Ký đã là một họa sĩ nổi tiếng, có thể tên tuổi của nàng nổi trội hơn anh bây giờ. Dù anh đã học Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, rồi Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, nhưng đây là lần đầu tiên anh triển lãm, trong lúc đó, Bé Ký đã có cuộc triển lãm đầu tiên từ năm 1957 và sau đó đã có triển lãm nhiều lần nữa.

Từ cuộc gặp gỡ đầu tiên, như có một sợi dây vô hình, như là định mệnh, đã gắn kết tình yêu của hai người lại với nhau, dù trước đó, Đức đã có bạn gái, nhưng anh cũng cho qua, để đến với Bé Ký, như một tình yêu đầu đời, với sự trong sáng, giản dị, chân thành của Bé Ký. Sau khi tìm hiểu nhau, cả hai biết cùng đồng cảnh ngộ, đều là trẻ mồ côi.

Và lễ cưới diễn ra. Họ nhà trai không có ai, họ nhà gái cũng vậy. Khách mời toàn là bạn bè từ các bạn văn nghệ, các họa sĩ thân quen, đến các bạn là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, cùng đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng…

Đám cưới thế mà vui, rôm rả tiếng cười nói, của đám bạn trẻ. Và lời chúc tụng hai người hãy sống với nhau đến đầu bạc răng long.

Và đúng như vậy, từ 1965 đến nay 2021, đúng là 56 năm, một cuộc tình dài lâu, dù trải qua nhiều biến đổi của đất nước, có vượt biên, có tù tội… Nhưng cuối cùng gia đình Hồ Thành Đức-Bé Ký vẫn qua được bến bờ tự do, đã định cư tại Midway City, California, Hoa Kỳ, từ năm 1989 đến nay.

UserPostedImage

Họa sĩ Bé Ký (phải) và Hồ Thành Đức. (Hình: Gia đình cung cấp)

“Biết”

Tôi “biết” tên Bé Ký từ những ngày còn nhỏ, khi đọc trên tờ Thế Giới Tự Do ở thư viện quận lỵ nơi tôi ở. Tờ Thế Giới Tự Do in đẹp, giấy láng tốt. Tờ báo giới thiệu Bé Ký một cách trang trọng, dành hai, ba trang gì đó.

Với sự ăn mặc giản dị, Bé Ký đi trên đường phố Sài Gòn, vẽ tranh và bán cho khách qua đường. Tôi chỉ biết về Bé Ký như vậy, nhưng qua xem tranh của chị trên tờ Thế Giới Tự Do, tôi rất thích vì tất cả đề tài chị vẽ, đều gần gũi với quê hương Việt Nam, như “Mẹ và Con, “Chọi Gà,” “Mẹ Chải Tóc Cho Con,” “Giã Biệt,” “Che Dù,” “Đi Chợ Mua Bông Sen”…

Với Hồ Thành Đức thì tôi cũng chỉ nghe tên anh trong những bản tin hội họa trên các báo.

Ở Mỹ, khoảng những năm 2001, 2003, tôi phụ trách tờ Đặc San Quảng Nam Đà Nẵng, Hồ Thành Đức năm nào cũng sốt sắng đóng góp bài vở, anh không có cái kiêu hãnh của người đã nổi tiếng, là người họa sĩ đã thành danh.

Rồi những ngày sau, là ngồi cà phê. Cách đây khoảng hơn 15 năm, Hồ Thành Đức thường đến cà phê F. Anh đến một mình, đi xe buýt nhiều chặng để đến, khi về, có anh em nào rảnh, cùng đường, thì cho anh quá giang về. Còn không, anh đón xe buýt về.

Ngồi với Hồ Thành Đức, nghe anh nói chuyện, cũng là một niềm vui. Nói về anh, về Bé Ký, hay những quen biết thơ văn với các tác giả khác. Anh nói thao thao bất tuyệt, có những giai thoại rất hay về các tác giả khác, như về Bùi Giáng, về Nguyễn Đức Sơn. Anh mê thơ Bùi Giáng nên anh thuộc nhiều thơ Bùi Giáng. Hồ Thành Đức có một trí nhớ rất tốt là thuộc lòng nhiều thơ của các tác giả mà anh thích.

Sau đó, Hồ Thành Đức có thực hiện một tuyển tập tranh, lấy tên là “Ngựa Trắng Đi Khuya,” anh bỏ công hàng năm trời để “thực hiện cho bạn bè văn nghệ” tập này. Mỗi nhà thơ, nhạc sĩ, anh lấy một số đoạn thơ, hay một lời nhạc anh thích, rồi ghép với tranh của mình, để thành tuyển tập.

Sau khi thực hiện xong, anh muốn in tập này trong nước, nhưng qua “gọng kìm kiểm duyệt” trong nước, sách không được cho in. Sau đó anh chọn lọc lại, và in ở hải ngoại.

UserPostedImage

Một tác phẩm của họa sĩ Bé Ký. (Hình: Gia đình cung cấp)

Tôi được anh biếu một cuốn, trong sách được anh dành cho một trang, với bức họa của anh có tên là “Đá Đam Mê” với hai đoạn thơ trong bài thơ “Uyên Ương” của tôi:

“Em hương nhụy hồng hoa ta hãy hái
Chùm môi thơm từng cánh rã trên tay
Lòng hoang tưởng mùa thu em thức dậy
Bàn tay mềm cho tình ái mê say

Ta hát khúc uyên ương trên đồi cọ
Giữa mùa thu trùng điệp ánh sao rừng
Lòng đã mở tan hoang bài ca cũ
Khúc tình tang trùng khuất giữa mùa xuân”

Lần đầu tiên tôi đến nhà Hồ Thành Đức để mượn anh một số tranh nhân ngày họp mặt đoàn tụ của các cựu học sinh liên trường Quảng Nam Đà Nẵng sắp tổ chức, tôi mới diện kiến họa sĩ Bé Ký. Dáng chị nhỏ con, gương mặt hiền lành. Thấy tôi đến chị ra chào hỏi vui vẻ. Giọng nói Bé Ký toát ra vẻ chơn chất của người đàn bà thực thà. Chị nói chuyện khoảng 5 phút là chị trở vào phòng, để tôi nói chuyện với chồng. Anh Đức đã dẫn tôi đi xem phòng tranh của anh và Bé Ký. Căn phòng khách chứa đầy tranh.

Sau đó, tôi đến nhà thăm và xem tranh Hồ Thành Đức và Bé Ký nhiều lần. Mỗi lần đến chị Bé Ký đều ra tiếp, vẫn với nụ cười hồn hậu, với khuôn mặt hiền lành, chị cũng chỉ hỏi thăm vài ba câu rồi rút vào trong phòng. Hình ảnh Bé Ký tôi chỉ nhận được có thế.

Khoảng hai, ba năm gần đây, Hồ Thành Đức không đi uống cà phê nữa. Nghe nói vì tuổi già nên anh yếu sức, lại có bệnh Alzheimer nên không đón xe buýt được nữa. Về Bé Ký, nghe nói chị cũng yếu, và cũng bị Alzheimer.

Cho đến vào chiều Thứ Tư, 12 Tháng Năm, 2021 vừa qua, họa sĩ Bé Ký qua đời tại nhà, ở thành phố Midway City, hưởng thọ 83 tuổi.

Trong lời với phóng viên báo Người Việt, anh Hồ Thành Cung, con trai của anh chị, kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba.”

Chỉ từng đó chữ, mà cảm động biết bao nhiêu, khi Bé Ký ngủ và “đi” luôn, trong lúc còn nắm tay chồng.

Xúc động thay với tình yêu gắn bó của cặp vợ chồng cầm cọ này! [qd]

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#83 Posted : Thursday, July 8, 2021 1:31:59 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

UserPostedImage

Gặp Thầy Vĩnh Khôi, Tác Giả Bài Hát “Cơn Mê Chiều”


Tạ Quang Sơn

October 13, 2020 | by Ban Tu Thư | 0

Sài Gòn, tháng 9 năm 2020.

“… Đường nội thành hàng cây trơ trụi lá, đồi Ngự Bình thịt xương khô sườn đá, Kim Long ơi, bờ lau ngóng chuông chùa tắt rồi, một lần thôi nhưng còn mãi, và chiều nay không có em, thành phố chẳng lên đèn…”

Mới đó mà đã 45 năm. Ngày đó, có những lúc tưởng chừng như chiến sự đã ngưng nghỉ. Nhưng không, chiến tranh lại khốc liệt hơn, tràn cả về thành phố. Đau thương, chết chóc lan tràn. Thành phố ngột ngạt với những bản tin chiến sự hàng ngày. Đâu đâu cũng thấy những đôi mắt trõm sâu đầy âu lo, mệt mỏi. Trên làn sóng phát thanh Sài Gòn một bài hát lạ nói về chiến tranh qua tiếng hát Thái Thanh làm tôi giật mình.

Những câu hát và hình ảnh đau thương của chiến tranh được ghi lại một cách khác lạ với giai điệu ai oán, tủi hờn, nhưng lại rất nhân bản. Tiếng hát như xoáy sâu vào tim óc của người nghe và cứ theo mãi trong tôi. Sau này, nhiều lần quay lại Huế, buổi chiều đứng trên cầu Trường Tiền, nhớ tới câu hát “Hương Giang ơi thuyền neo bến không người qua đò, một lần thôi nhưng còn mãi” mà lòng cứ se thắt, thương cho xứ sở của tôi vô cùng.

Tôi đã có ý định đi tìm tác giả bài hát này, nhạc sĩ Nguyên Minh Khôi, từ trước 1975. Nhưng hầu như ít ai biết, bởi cái tên rất lạ trong làng âm nhạc miền Nam. Tình cờ, trong một cuộc cà phê, nghe có người nói đó là bản nhạc của thầy Vĩnh Khôi, dạy Triết và Anh Văn ở trường Hàm Nghi Huế. Tôi đi tìm. Nhưng nghe nói thầy đã chuyển vào ở Đà nẵng sau 75. Cách đây khoảng 10 năm, nhân có chuyến về Đà nẵng, tôi lại đi tìm thầy. Theo những thông tin có được, tôi tìm được đến căn nhà mà một người đã chỉ. Nhưng khi hỏi thăm về thầy thì chủ nhà nói thầy đã dọn vào Sài Gòn sinh sống.

Câu chuyện tưởng như dừng lại. Cho đến một ngày tôi nhận được lời mời của nhóm bạn tại Sài Gòn mời dự lễ kỷ niệm 65 năm thành lập trường Hàm Nghi Huế. Tôi hăm hở đến vì nghĩ rằng nếu thầy còn mạnh khỏe thì chắc sẽ tìm được thầy. Thật may mắn cho tôi, câu chuyện đã có hồi kết thật đẹp. Trên hàng ghế đầu, quí thầy cô giờ tóc đã bạc trắng phau, những bước đi giờ đã chậm chạp, nặng nhọc. Nhờ một người bạn chỉ giúp, tôi len lỏi lên hàng ghế đầu, ngồi thấp xuống và ngước lên chào thầy. Bàn tay tôi nồng ấm trong tay thầy. Tôi đã nói được câu nói mà tôi hằng ấp ủ: “Thầy ơi! em đã đi tìm thầy hơn 45 năm vì bài hát Cơn mê Chiều”.

Được gặp thầy quả là quá hạnh phúc, tôi đã thu âm hát này và xin được dâng tặng thầy Vĩnh Khôi cùng những người dân xứ Huế, bởi một lần thôi nhưng còn mãi.

Xin cảm ơn trung tâm FAN Studio đã giúp phần hòa âm và ghi âm cẩn thận.

Để thực hiện clip này, chúng tôi có sử dụng một số hình ảnh của các nhiếp ảnh gia chưa quen biết, xin được lượng thứ bởi chưa liên lạc xin phép.

Tạ Quang Sơn

(nguồn: T.Vấn & Bạn Hữu)

Mời nghe Cơn Mê Chiều, nhạc Nguyên Minh Khôi, tiếng hát Tạ Quang Sơn

https://www.bing.com/vid...1E494CEA&FORM=WRVORC

Cơn Mê Chiều

Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn
Đàn con nay lớn khôn mang gươm đao vào xóm làng
Chiều nay không có em, xác phơi trên mái lầu
Một mình nghe buốt đau, xuôi Nam Giao tìm bóng mình
Đường nội thành đền xưa ai tàn phá ?
Cầu Tràng Tiền bạc màu loang giòng máu
Hương Giang ơi thuyền neo bến không người qua đò
Một lần thôi nhưng còn mãi …
Và chiều nay không có em, đường phố cũ chân mềm

Tôi là người khai hoang đi nhặt xác mình, xác người
Cho ruộng đồng xanh màu, cho đám mới lên cao
Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên

Đường vào thành, hàng cây trơ trụi lá
Đồi Ngự Bình thịt xương khô sườn đá
Kim Long ơi, bờ lau ngóng, chuông chùa tắt rồi
Một lần thôi nhưng còn mãi
Và chiều nay không có em, đường phố chẳng lên đèn

Tôi là người trong đêm, mang ngọn đuốc về nội thành
Xin làm người soi đường đi xóa hết đau thương
Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên

Edited by user Thursday, July 8, 2021 1:34:16 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#84 Posted : Sunday, July 11, 2021 6:51:01 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

CHỐN CŨ HẸN HÒ

Về thăm chốn cũ hẹn hò
Hoang vu, lạnh lẽo, xác xơ cây cành
Còn đâu mùa lá ươm xanh
Còn đâu quán quít mộng lành lứa đôi.

Trở về đây, chỉ mình tôi
Quẩn quanh tìm lại một thời êm vui
Cánh chim bay lượn lưng trời
Hòa cùng tiếng gió cất lời ca vang.

Tay tiên thả nốt nhạc vàng
Làm sao quên được tiếng đàn vọng rung
Không gian lắng đọng, hòa cùng
Cảnh tiên dưới thế, rộn mừng bên nhau.

Bỗng đâu ngăn cách nhịp cầu
Bước chân phiêu bạt, phai câu ước thề
Cảnh xưa chờ đợi người về
Tình xưa đơn độc đau tê buốt lòng.

Một mình giữa chốn mênh mông
Nghe từng kỷ niệm vỡ tung mảnh đời.

HONG VU LAN NHI
7/10/2016
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#85 Posted : Saturday, July 17, 2021 9:24:00 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage


Mỗi Lần ...

Mỗi lần
dõi cánh chim bay
Dường như thấy được đọa đầy nổi trôi

Mỗi lần
nhìn ngắm bầu trời
Dường như vũ trụ đổi ngôi hoang tàn.

Mỗi lần
chia biệt, ly tan
Dường như dạ xót, hồn tàn trong nhau

Mỗi lần
lòng ngập biển sầu
Dường như xát muối hằn đau cuộc tình.

Mỗi lần
nhìn suối thác ghềnh
Dường như ta ước lênh đênh xa bờ

Mỗi lần
gặp gỡ trong mơ
Dường như buồn lúc người đưa ta về ...

HONG VU LAN NHI
6/4/2016
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#86 Posted : Tuesday, August 3, 2021 12:18:44 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage


TƯỞNG RẰNG ĐÃ QUÊN

Mười năm tưởng đã lãng quên
Mười năm tưởng hết ưu phiền, ngóng trông
Bây giờ là cuối mùa Đông
Gió lùa lạnh cóng buốt lòng quạnh hiu.

Quẩn quanh hết sáng lại chiều
Chỉ toàn trống vắng, cô liêu ngập tràn
Vẫn buồn khi đón Xuân sang
Vẫn buồn khi ngắm bóng hoàng hôn rơi.

Nhớ về dĩ vãng mù khơi
Mịt mờ một cánh chim trời khuất xa
Bốn mùa nắng rũ, mưa sa
Bốn mùa ta vẫn là ta, một mình.

Giờ đây tình lạc xa tình
Một mình cô quạnh, một mình lẻ đơn
Tháng năm vùi lấp mỏi mòn
Mười năm vò võ, vẫn trong nhớ buồn.

Cuối năm, càng thấm sầu hơn
Nhìn chân mây vắng, hoàng hôn nhạt dần
Cánh chim khuất nẻo non ngàn
Chỉ còn tiếng bước thời gian vọng về.

HONG VU LAN NHI
1/2/2018

Edited by user Tuesday, August 3, 2021 12:35:39 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#87 Posted : Tuesday, August 3, 2021 12:19:56 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

CÒN NHỚ KHÔNG ?

Hỏi người còn nhớ hay không
Xưa Trưng Vương với Gia Long chung trường
Bướm trắng tỏa khắp nẻo đường
Các chàng đứng đợi, lòng vương tơ tình.

Mắt huyền, hồng má môi xinh
Nụ cười e thẹn - nghe tim rộn ràng -
Gió vờn tà áo đoan trang
Những chùm Phượng đỏ tô đường phố xa.

Cũng cười nói, cũng ăn quà
Cũng làm dáng điệu, kiêu sa mắt nhìn
Con đường in bước chân chim
Nắng trưa soi bóng ôm hình dáng yêu.

Bây giờ đời đã ngả chiều
Chỉ còn trống vắng với nhiều nhớ thương
Ngồi ôn lại cuộc tình trường
Bao kỷ niệm cũ còn vương bóng hình.

Ôi sao nhớ quá, chuyện mình
Ngày xưa thân ái, đã chìm trong mơ.

HONG VU LAN NHI
1/10/2018

Edited by user Tuesday, August 3, 2021 12:54:19 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#88 Posted : Thursday, August 5, 2021 12:15:39 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Thi sĩ Cung Trầm Tưởng và những ‘chuyện tình Paris’ trong thơ ca


UserPostedImage

Đông Kha


Có lẽ là có rất nhiều người Việt yêu thơ ca ngày xưa đã hơn một lần mong mỏi được tận mắt nhìn thấy “Ga Lyon đèn vàng”, hay là được đắm mình trong một mùa thu Paris ở xa xôi, mơ ước được sánh đôi cùng tình nhân bước qua vườn Lục Xâm Bảo để nghe hương vị của ái ân tràn trề như trong âm nhạc của Phạm Duy, Phạm Trọng Cầu, và Ngô Thụy Miên.

Những người đi Tây học như nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Trọng, thi sĩ Nguyên Sa hay Cung Trầm Tưởng đã trở về và mang theo cả hồn phách của nước Pháp trữ tình lãng mạn qua thơ và nhạc từ thập niên 1950-1960, là những tác phẩm nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của giới thanh niên, trí thức Sài Gòn – những người vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa Pháp cho dù người Pháp đã rời khỏi Việt Nam từ 1954 sau hàng trăm năm hiện diện.

Một trong những tác phẩm đó là bài thơ Chưa Bao Giờ Buồn Thế của Cung Trầm Tưởng, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài Tiễn Em, rất nổi tiếng qua giọng hát Lệ Thanh, Sĩ Phú, Anh Ngọc… trước 1975 và Tuấn Ngọc sau năm 1975:

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.

Tiễn em về xứ Mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách

Tuyết rơi mỏng manh buồn
Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng.

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng
Từ cuối thập niên 1950, thi đàn Sài Gòn xuất hiện một gương mặt mới trở về từ nước Pháp, với bút hiệu thật ấn tượng: Cung Trầm Tưởng. Ông tên thật là Cung Thức Cần, sinh quán ở Hà Nội và vào đến Sài Gòn năm 1949, rồi sang Pháp học trường Võ Bị Không Quân từ năm 1952.

Tại đây, ông trải qua cuộc tình với một thiếu nữ Pháp, cho dù chỉ kéo dài được hơn 1 năm, nhưng những yêu thương quyến luyến đó đã trở thành cảm hứng cho nhà thơ sáng tác thành nhiều thi phẩm, 2 trong số đó được công chúng biết đến nhiều nhất khi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc: Tiễn Em và Mùa Thu Paris.

Hình ảnh Cung Trầm Tưởng khi đi học ở Paris, được “người em tóc vàng” chụp. Ảnh: Jimmy show

“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Thời đó tôi học ở trường Pháp cứ bị mang tiếng là Tây con, đã sẵn có ngôn ngữ Pháp và văn hóa Pháp thấm nhuần trong người thành ra sang bên đó mình không bị lạ lẫm. Tôi gặp một số mối tình dù rằng không vĩnh viễn nhưng nó là những kỷ niệm đầu đời của mình”.

Tám câu đầu tiên của bài hát Tiễn Em được nhạc sĩ Phạm Duy giữ nguyên câu chữ của bài thơ nguyên thủy, không sửa một chữ nào, mô tả cuộc chia ly giữa 2 người dị chủng: Một sinh viên ở miền viễn Đông và một cô gái tóc vàng bản xứ.

Họ tiễn nhau trên một sân ga nhỏ nằm trơ trọi giữa mùa đông nước Pháp lạnh lẽo, đó là “ga Lyon đèn vàng” giữa “tuyết rơi buồn mênh mang”. Ga Lyon này không phải là ở thành phố Lyon như nhiều người tưởng, mà có tên chính thức là Paris-Gare-de-Lyon, là một trong sáu ga xe lửa tuyến chính lớn ở Paris – thủ đô nước Pháp.

Ga Lyon đèn vàng Cầm tay em muốn khóc… Vì sao ánh đèn sân ga lại màu vàng? Điều này cũng được Cung Trầm Tưởng giải thích, đó là vào một buổi chiều mùa đông Paris lạnh giá, qua làn sương mù lạnh lẽo thì ánh đèn sân ga đã trở thành vàng vọt, gợi hình tượng lãng mạn nhưng cũng thật buồn, buồn như là tâm trạng của đôi tình nhân đang quyến luyến nhau không rời trước giờ phút phân ly.

Vì sao họ phải xa nhau, và “tiễn em về xứ mẹ” là xứ nào? Nhà thơ kể lại: “Mùa Ðông ở Paris thời hậu thế chiēn, không khí thường bị ô nhiễm; và phổi nàng không được mạnh, và nàng lại bị suyễn nữa, vì thế bác sĩ khuyên là trong ba tháng mùa Ðông, nàng nên đi về miền Địa Trung Hải để hưởng không khí trong sạch.

Ba tháng xa cách, thế nhưng thời đó tuổi trẻ lắm lúc đam mê và cũng hơi cường điệu, tôi có cảm tưởng xa nhau biền biệt, nên mới trải tâm sự thành bài thơ”. Nàng con gái tóc vàng rời Paris tròn 3 tháng để về Marseille, là thành phố miền Nam nhìn ra Địa Trung Hải có nắng ấm, có biển muối mặn, tốt hơn cho sức khỏe của nàng. 3 tháng được được nhà thơ làm tròn thành “100 ngày xa cách”.

Hỡi em người xóm học
Sương thấm hè phố đêm
Trên con đường anh đi
Lệ em buồn vương vấn.

Tuyết rơi phủ con tầu
Trong toa em lạnh đầy
Làm sao em không rét
Cho ấm mộng đêm nay?

“Xóm học” trong đoạn này được tác giả giải thích là khu đại học ở Paris. Họ yêu nhau khi tuổi còn rất trẻ mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng nói đó là thời bồng bột. Ông đã theo đuổi một cô gái tóc vàng, và nàng cũng nhiệt thành đáp lại tình cảm, họ thường hẹn nhau ở vườn Lục Xâm (Luxembourg) với công viên ghế đá mà nhà thơ đã nhắc tới trong bài Mùa Thu Paris:

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm

Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì…

Hai người cùng là sinh viên, cùng trọ học nơi mà ông gọi là “gác trọ”. Rồi một hôm nàng sang gõ cửa, được ông ghi lại bằng hình ảnh thật nhẹ nhàng: Sang anh, gót nhỏ thầm thì…, thể hiện sự bối rối, thẹn thùng của người thiếu nữ.

Những bài thơ Paris của Cung Trầm Tưởng được ông đem theo về Sài Gòn sau khi tốt ngiệp ở Pháp năm 1957, rồi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc năm từ năm 1959, ban đầu là Tiễn Em (bài thơ Chưa Bao Giờ Buồn Thế), sau đó là Mùa Thu Paris, Kiếp Sau, Bên Ni Bên Nớ, Chiều Đông… Tất cả đã trở thành bất tử trong hơn 60 năm qua.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#89 Posted : Friday, August 6, 2021 9:32:01 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

Tâm


Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.

Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người :

- Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
- Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
- Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù..
- Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
- Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá…

Cho nên, ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn :

- Đặt trên tay để giúp đỡ người khác.
- Đặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
- Đặt trên chân để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
- Đặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
- Đặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
- Đặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm.

Thân xác không tim thì thân xác chết.
Làm người không có tâm thì cuộc sống chỉ có hận thù và là mối nguy hiểm cho mọi người.

Suu tầm
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#90 Posted : Monday, August 9, 2021 2:54:13 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Tuyết


Ngự Thuyết

February 5, 2020 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Tuyết! Đấy là cái ám ảnh dai dẳng của tôi trong một thời gian rất dài. Nước tôi không có tuyết, và lẽ dĩ nhiên cũng không có nhiều món đặc trưng khác của Tây, của Tàu, của Châu Phi chẳng hạn, thế nhưng ước mơ của tôi được thấy tuyết tận mắt là tha thiết hơn cả. Nhớ thời còn học Trung Học, gặp đâu đó một câu thơ hay câu hát I’m dreaming of a White Christmas, cái ước mơ đó càng thêm ray rứt, như mơ về một chốn bồng lai tiên cảnh nào đó mà kiếp này mình không bao giờ đến được. Trong những giấc mơ đó, tôi thấy tuyết đẹp vô cùng dù tôi cũng biết có những cơn bão tuyết làm chết người.

Liệu có kiếp trước, kiếp sau, hay không? Nếu có, chắc là kiếp trước tôi sinh trưởng tại một vùng thuộc Bắc Cực hay Nam Cực, hay Ôn Đới, rồi lìa đời, và trước khi đầu thai làm người vùng Nhiệt Đới của kiếp này, tôi không bị ăn cháo lú. Cho nên nhớ tuyết không nguôi; nỗi nhớ nằm sâu trong vô thức, hay là, xin mượn tiếng Nhà Phật, nằm trong tàng thức. Thế thì nếu kiếp sau tôi là người của Phương Tây, của xứ lạnh, tôi sẽ mơ tưởng những gì? Phải chăng tiếng ve sôi động từng hồi và hoa phượng đỏ rực sân trường muà hè, tiếng ểnh ương ệnh oạng miên man rầu rầu trên những cánh đồng hoang lụt lội mùa đông, tơ trời bay vương vấn trên cao vào mùa thu của những ngày tựu trường sau ba tháng vui chơi, mưa phùn hạt nhỏ như sương mát rười rượi “cuốn theo chiều gió”những ngày sau Tết. Và gì nữa? Còn nhiều lắm, kể sao hết. Nhưng cũng phải kể thêm một nỗi nhớ khác nữa thôi, những rặng tre thân yêu, kiên trì, đu đưa kẽo kẹt quanh năm suốt tháng trong khắp các làng gần, làng xa.

Việt Nam ta từ xưa không có tuyết. Gần đây nghe nói, vì những biến đổi thời tiết, mùa đông tuyết rơi nhiều xuống vùng núi non miền Bắc, Hoàng Liên Sơn, Lào Cay, đặc biệt thị tại trấn Sa Pa. Người ta xôn xao, nao nức. Những người có phương tiện đua nhau đến đó thưởng thức tuyết.

Tuyết mới có tại nước ta, nhưng đã xuất hiện nhiều trong văn chương, phim ảnh.

Trong văn chương, phải kể đến văn chương cổ điển Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Tàu. Mà Tàu thì nhiều tuyết vào mùa lạnh. Chỉ nêu một bài thơ ngắn tả bốn cảnh đẹp của Đỗ Phủ, trong đó tuyết đã chiếm một câu:

Tuyệt Cú

Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền
Đỗ Phủ

Tản Đà dịch:

Câu Tứ Tuyệt


Hai cái oanh vàng ca liễu biếc
Một hàng cò trắng vút trời xanh
Nghìn năm tuyết núi song in sắc
Muôn dặm thuyền Ngô bến rập rình

Trong ba tác phẩm cổ điển dài hơi rất giá trị của ta đều có tuyết.

Đối với nhà vua khi còn say đắm nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc, tuyết là một nguồn trợ hứng:

Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt
Lúc cười sương cợt tuyết đền phong

Nhưng lúc cung nữ bị thất sủng, tuyết trở thành một nỗi thê lương ảo não của nàng:

Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu
Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông

Với Chinh Phụ Ngâm, trong nỗi nhớ và tưởng tượng của người chinh phụ về những gian khổ của chồng ngoài chiến địa, thì tuyết:

Sương như búa bổ mòn gốc liễu
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô

Và Truyện Kiều tất nhiên có tuyết. Tuyết là màu da trong ngọc trắng ngà của Thúy Vân:

Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

hoặc là một trong bốn vẻ đẹp cổ điển của thiên nhiên – tuyết, nguyệt, phong, hoa:

Đòi phen gió tựa hoa kề
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu

Thơ cổ Phương Đông đến với tuyết bằng những nét chấm phá, nhiều khi chỉ mang tính cách biểu tượng. Phương Tây, trái lại, tuyết được mô tả hiện thực, tỉ mỉ, chi tiết, và sống động, trong văn học cũng như trong điện ảnh. Chỉ xin nêu một ví dụ. Vào thập niên 1960, cuốn tiểu thuyết Doctor Zhivago của Boris Pasternak và cuốn phim cùng tên được phổ biến và gây xúc động lớn đối với người đọc truyện và khán giả xem phim ở Sài Gòn hồi đó.

Những quay cuồng chóng mặt của một xã hội tao loạn đảo điên bị bứng lên tận gốc rễ bỗng dưng nổi bật lên bằng những hình ảnh tuyết mênh mông trắng xóa cả trời đất, trong đó bác sỹ Zhivago gặp gỡ rồi xa lìa “người tình thất lạc” Lara. Cuộc tình đau thương ấy trong bối cảnh cách mạng vô sản xẩy ra ở Liên Xô rồi lan qua Đông Âu, Tàu, Việt Nam, làm ta nhớ tới những chấn động tương tự khi đọc bài thơ nổi tiếng của Thanh Tâm Tuyền được viết ngay sau cuộc tàn sát đẫm máu của Hồng Quân Liên Xô trên đất nước Hung Gia Lợi, Hãy Cho Anh Khóc Bằng Mắt Em/Những Cuộc Tình Duyên Budapest. Xin chép lại bài thơ Encounter được dịch ra tiếng Anh phần cuối cuốn sách:

Encounter

The snow vill bury roads, Will cover the roofs deeply. If I step out to stretch my legsI will see you from the door.Alone, in a fall coat, No hat and no snow boots; You are trying to be calm, Nibbling your snow-wet lips.The distant trees and fences Recede into the murk. You stand at the cornerAlone in the midst of the falling snow.Water runs down your scarf, Inside your sleeves, your collar, And melted snow sparkles In dewdrops on your hair. And a flaxen strand of itLights up your face, your scarf,Your bravely erect figure, That wretched coat of yours. Snow melts upon your lashes. Sadness in your eyes.And all of you seems fashioned Out of a single piece.It is as if your imageWere being etched forever With burin and strong acidUpon my very heart. Nor can your submissive features Ever be burnished off.And so, what does it matterIf the world is stonehearted? And so, this night is doubling itselfWith all its murk and snowAnh I cannot draw a lineDividing you and me.For who are we, and where from,If after all these yearsGossip alone still lives onWhile we no longer lives?

Bài thơ trên nguyên tác tiếng Nga, được Bernard Guilbert Guerney dịch ra tiếng Anh, nay lại từ tiếng Anh dịch ra tiếng Việt. Nhưng như thi hào Mỹ Robert Frost đã nói rất chí lý, Poetry is what gets lost in translation (Thơ bị mất mát khi chuyển ngữ). Đành mạo muội dịch thoát nếu không muốn nói là làm một bài thơ khác phỏng theo bài thơ tiếng Anh. Chỉ mong gợi lên một ít giao cảm, một chút hình ảnh nào đó của tuyết:

Gặp Gỡ

Tuyết rơi đầy đường sá Tuyết phủ ngập mái nhà Anh bước ra khỏi cửa Là thấy em đằng xa Một mình áo quàng rủ Không nón không giày ấm Em đang cố nén lòng Răng cắn môi lạnh cóng Bờ dậu cùng hàng cây Nhạt nhòa trong tối lạnh Em vẫn đứng một mình Tuyết mênh mang cô quạnh Nước là dòng lệ chảy Ướt đẫm chiếc khăn choàng Tuyết giọt châu long lanh Rưng rưng trên mái tóc. Mớ tóc em vàng ánh Thắp sáng lên khuôn mặt Sáng cả dáng em đứng Trong áo quàng rách nát. Tuyết tan xuống hàng mi Buồn dâng lên đôi mắt Em có còn lại gì Ngoài nỗi sầu chất ngất.Hình bóng em thành tượng Ghi tạc vào buổi chiều Khắc sâu trong thời gian Trong tim anh đau buốt.Nét buồn em ủ rũ Không thể nào xóa nhoà. Nhưng có đáng gì đâu Khi lòng người hóa đá.Cho nên đêm hôm nay Sẽ kéo dài thêm mãi Trong tuyết giá âm uEm anh hoà lẫn nhauKhông gì chia cách nổi. Này em ta là ai Ta đã từ đâu tới Rồi qua bao năm tháng Ta sẽ đi về đâu Để lại trên thế gian Dăm ba lời đàm tiếu?

Tuyết quả đã tràn ngập suốt bài thơ, và đóng một vai trò chủ chốt bên cạnh nhân vật chính.

Như đã nêu trên, tuyết ám ảnh tôi. Nói đến tuyết, tôi chỉ nghĩ đến cái đẹp lạ lùng của nó. Tinh khiết, trong sáng, mông lung. Tuyết sạch giá trong. Cho nên gần 30 năm về trước khi vừa mới đến xứ Mỹ này, sống tại miền Nam Cali thuộc bán nhiệt đới, mùa Đông chỉ có thể thấy tuyết phủ lên vài ngọn núi ở tận cuối chân trời, chúng tôi, cả nhà, quyết định đi xa thăm tuyết ngay. Mua được một chiếc xe hơi cũ, vừa lấy xong bằng lái xe, tôi chở mọi người đi.

Lúc đó vào đầu mùa đông, tức là thời gian có nhiều tuyết tại công viên quốc gia Yosemite nổi tiếng. Nơi này cách xa chỗ chúng tôi ở khoảng trên 5 giờ lái xe.

Hồi đó chưa có máy định vị GPS, chúng tôi nghiên cứu bản đồ thật kỹ. Hành lý mang theo rất nghèo nàn, mấy cái áo len cũ và dày, quần jeans, những bao ni-lông để nếu cần thì bọc những đôi giày đang mang vì không kịp và cũng không có tiền mua giày đi tuyết, xôi đậu phụng, bánh mì chả, thịt, mấy lon bia, và nước uống. Đi hơn nửa đường mới sực nhớ phải có loại dây xích ràng vào bánh xe phòng khi tuyết xuống nhiều và chuyển thành băng giá trơn trượt. Nếu gặp bảng chỉ đường đòi hỏi bánh xe phải có xích (Snow tire chains), thìchúng tôi đành phải quay về. May thay, chúng tôi đi suôn sẻ, đến được Yosemite khoảng 5 giờ chiều.

Trời lạnh. Tìm thuê chòi ngủ qua đêm, mong ngày mai có tuyết rơi như dự báo thời tiết. Tôi biết tuyết đẹp nhất khi đang rơi.

Lạnh và đói. Lấy thức ăn, thức uống dọn lên trên cái bàn nhỏ dưới mái chòi chật ních. Những món ăn tầm thường bỗng ngon hẳn lên trong khung cảnh lạ lùng, trong mong đợi đêm mau qua. Nhìn lại đồng hồ, mới 9 giờ tối. Bên ngoài gió từng cơn, ánh đèn xa heo hút lọt qua khe cửa. Không biết làm gì, có lẽ phải đi ngủ sớm để ngày mai có sức đi ngắm tuyết, chúng tôi đồng ý như thế.

Bỗng tiếng reo nổi lên từ những chiếc lều lân cận, rồi vang to trong đêm. Chúng tôi ngạc nhiên mở cửa lều ra xem. Tuyết vừa rơi xuống mà chúng tôi không biết. Tất nhiên tuyết cũng rơi trên mái lều của chúng tôi, rơi rất nhẹ, không tiếng động. Chúng tôi không hẹn mà cùng nhau chạy nhào ra khỏi lều, may còn đang mặc áo quần ấm, nhưng quên mang theo mấy bao ni-lông. Tuyết tráng mỏng trên các lối đi tối tăm, rơi nhẹ lên tóc, lên mặt, lên mi mắt, lên tay. Bám lên áo quần dăm ba bông tuyết.

Tôi cố nghe tuyết rơi, không nghe thấy gì cả. Tôi cố nhìn tuyết. Tối quá không thấy tuyết gần, chỉ thấy xa xa. Trong ánh đèn đường, những bông tuyết bay phơi phới như những cánh bướm trắng tí hon đùa giỡn trong gió, hay như những cánh hoa trắng, hoa bạch mai, hoa bạch cúc nhỏ, buông lả tả xuống thành bức rèm bạch ngọc. Bước chân dẫm lên tuyết nghe sào sạo, rột roạt, êm êm, mát dịu. Cứ thế chúng tôi đi xa khỏi lều, quên cả dưới chân giày bắt đầu ướt mèm. Mặt thì đưa ra hứng tuyết, tay chìa ra đón tuyết. Cao hứng cho tuyết vào miệng nếm thử.

Tưởng là tuyết xuống nhiều là lạnh lắm, nhưng không, chỉ se se, rất dễ chịu. Đường đi ngập trắng, chúng tôi không biết đã lội tuyết trong bao lâu. Tuyết ngập lút cả giày, tan thành nước, thấm vào chân, dần dần lên gần đầu gối, và chắc chắn sẽ ngập cao hơn nữa. Chúng tôi đành trở lại lều lòng dặn lòng rằng ngày mai tha hồ thưởng thức tuyết trong ánh sáng của ban ngày.

Mệt quá, về tới lều chúng tôi lên giường ngủ. Tôi định ngủ một giấc ngắn lấy sức rồi trở dậy coi tuyết rơi. Nhưng ngủ một giấc say. Sáng hôm sau, vừa mới dậy, tôi mở cửa ra nhìn. Hết rồi! Tuyết thôi rơi trong đêm khuya vào lúc nào tôi không biết. Đành lội tuyết đi quanh quất chơi trên mấy lối đi gần lều, thấy tuyết đã phủ đầy mái lều, mái nhà. Cây cành trĩu nặng tuyết, dây điện được bọc trong lớp tuyết trắng. Bãi đậu xe cũng trắng xoá, tất cả xe đang đậu đều đội một lớp tuyết dày. Nghe nói có một chiếc xe đậu bên ngoài xa trên dốc nghiêng đã bị trượt xuống hố sâu.

Tôi đành lái xe quay trở về nhà sớm hơn dự định. Đường xa lộ thì đã được xe cào tuyết dọn sạch, nhưng hai bên đường cảnh vật khoác một chiếc áo hoàn toàn mới, chiếc áo trắng xóa tinh khiết một màu tuyết trải dài mút mắt. Núi rừng, cây cối, nhà cửa mênh mông, bát ngát trong tuyết trắng, một cảnh tượng thật lạ lùng mà tôi có cảm tưởng đã từng biết đến trong quá khứ. Vâng, tôi đã gặp tuyết nhiều lần trong phim ảnh. Tôi tự bảo rằng năm sau sẽ trở lại thăm tuyết, nhớ phải là khi tuyết đang rơi.

Nhiều năm đã qua, nhiều mùa Đông tôi đã đi thăm tuyết tại nhiều nơi khác nhau. Có khi chúng tôi tới, tuyết chưa kịp xuống. Có khi tuyết đã phong kín cảnh vật đâu vào đấy rồi, mặt đất thì trắng xoá, trời thì cao xanh lồng lộng, trong veo. Có nơi tuyết đã đông lại thành băng bên dưới khiến con đường trở nên lầy trơn. Nhìn tuyết còn đọng trên chạc ba, chạc bốn của cây, của cành, đậu lên trên những thành cửa sổ, phủ kín mái nhà, thì cũng cảm thấy được an ủi phần nào, nhưng lại càng mong thấy tuyết rơi, tuyết rơi. Hoặc có lúc đang chạy trên xa lộ vào muà lạnh bỗng tình cờ gặp, như tao ngộ chiến, cơn tuyết bay bay nhẹ và ngắn. Mong nó trở lại như mong người tình nhẹ dạ. Và lỗi tại tôi, không tính kỹ ngày giờ. Lắm lúc tính kỹ thì dự báo thời tiết lại không đúng. Một lần nhớ tuyết quá, mò lên vùng núi Mammoth, California vào mùa Đông. Chỉ để say sưa nhìn ngắm người ta trượt tuyết.
*
Đầu mùa Đông năm nay có tin miền Bắc và Đông Bắc Hoa Kỳ tuyết xuống nhiều. Những cơn bão tuyết tàn phá dữ dội. Cho nên khi quyết định đi thăm tuyết, chúng tôi sẽ đến những miền gần phía Đông Nam mà thôi, chẳng hạn sẽ đi qua thị trấn Prescott mà chúng tôi đã đến vào cuối mùa xuân năm nay. Rồi đi Grand Canyon, và ghé Flagstaff trên đường về.

Trở lại Prescott hôm đầu mùa đông, 22 tháng 12 cũng năm nay, tự nhiên thấy trong lòng vui hẳn lên như gặp lại người quen thân cũ nơi đất khách. Tôi tự hỏi tại sao tôi thích thành phố này đến thế. Có lẽ là vì người dân vùng này vui vẻ, nhã nhặn, sinh hoạt xúm xít tại một nơi thanh lịch, êm đềm, nhàn hạ. Cho nên chúng tôi nghỉ trưa nán lại tại đó khá lâu; đi nhiều vòng quanh công viên nằm trước Toà Án Yavapai County Courthouse; chụp nhiều hình tại ngã tư rộng lớn, dốc nghiêng nghiêng ngay giữa thị trấn; ghé vào một nhà hàng rất lịch sự, tiếp đãi niềm nỡ, có bánh pizza ngon và cà phê thơm phức. Rồi giã từ Prescott, giã từ hình chữ P rất to trên sườn núi gần thành phố, để kịp đến Grand Canyon khi mặt trời chưa tắt.

Tuy vậy, phải qua mấy ngọn đèo cao trên con đường nhiều xe, mãi đến 5 giờ chiều chúng tôi mới đến Grand Canyon, bờ Nam. Grand Canyon rực rỡ màu sắc dưới ánh mặt trời. Những màu sắc ấy đã thay nhau xuất hiện từ sáng đến chiều. May quá, còn chút nắng vàng óng ánh nạm lên trên những vách đá dữ dội, hùng vỹ, bao la. Đứng trước Grand Canyon, tôi có cảm tưởng như được hoá thân thành một cánh chim cô đơn bay lênh đênh, chấp chới, mơ màng, mờ ảo. Nhưng mùa này buổi chiều tối tới mau quá. Chúng tôi đến chưa được mười phút, mới gần 5 giờ 10, nắng đã phai nhanh rồi tắt. Ánh mặt trời xôn xao náo động mới đó đã đột ngột chuyển thành tiếng thì thầm, âm u của đêm đen. Chúng tôi tìm khách sạn, mong ngày mai trời tốt để trở lại Bờ Nam (South Rim).

Hôm sau, 23/12, trở trời. Gió lạnh và mây đục bàng bạc khắp nơi. Grand Canyon mang một sắc thái khác, trầm tư, lặng lẽ, xa vắng. Chúng không trở lại Bờ Nam nữa, mà đi vòng quanh để đến Bờ Bắc (North Rim) tìm tuyết. Nhưng đang bão tuyết, Bờ Bắc đóng cửa, cấm đi. Đành đi ven Bờ Đông. Tuyết cũ từ mấy tuần trước nằm rải rác từng vạt trắng cách xa nhau trên cỏ xanh hai bên đường. Tiện thể chúng tôi đi đến Horseshoe Bend và đập thủy điện trên sông Colorado cạnh hồ Powell thuộc vùng Page, Arizona, gần Utah. Đây là một cái đập lớn, cao gần bằng đập thủy điện Hoover nằm giữa hai tiểu bang Arizona và Nevada.

Sau một ngày lái xe nhiều và đi bộ lên dốc, xuống dốc mệt nhoài, chúng tôi đến Flagstaff, Arizonathì đã gần tối. Trọ qua đêm tại một khách sạn. Thế là năm nay vô duyên không gặp được tuyết, tôi thầm bảo. Hay là qua đầu năm 2020, mùa Đông còn dài lắm mà, ta lại tìm thăm tuyết ở một nơi nào khác chăng? Chúng tôi rút ngắn chuyến đi đã định là năm ngày, sáng ngày mai sẽ trả lại phòng khách sạn ở Flastaff. Và trên đường về sẽ ở lại Las Vegas một đêm xem thiên hạ đón mừng Lễ Chúa Giáng Sinh. Năm ngoái, cũng nhân đi tìm tuyết mà không gặp, chúng tôi ghé Las Vegas tham dự 2019 Countdown.

Để chờ giấc ngủ, chúng tôi mở TV hết đài này đến đài khác, tìm mãi chưa thấy chương trình nào vừa ý. Mới 9 giờ 30 tối. Bỗng cô con gái reo lên, Tuyết. Tuyết. Tuyết rơi! Tuyết rơi! Mọi người đổ xô chạy tới bên cửa kính nhìn tuyết rơi ngoài kia. Tuyết rơi rất mỏng, không một tiếng vang. Cũng phải thôi, ta trong căn phòng kín bưng, tuyết ngoài trời thênh thang, làm sao ta thấy rõ, nghe rõ. Tuyết xuống nhiều dần, trắng dần những vòm cây xanh, trắng hết bãi đậu xe, và những lối đi, trắng luôn những nóc xe. Lấy máy hình ra chụp tuyết rơi qua cửa kính.

Xem chán, mọi người lên giường ngủ. Tôi mở rộng màn cửa sổ, nằm nghiêng ngắm tuyết ngoài kia. Những bông tuyết (snowflakes) to nhỏ khác nhau, không rơi nhanh, không rơi đều. Tuyết rơi khác mưa rơi. Bông nhỏ thường rơi nhanh hơn trong khi bông lớn rơi chậm rãi, đu đưa, nghiêng ngả, du dương. Gọi là bông vì khi nhìn gần, nhìn kỹ, mỗi bông tuyết trông như một tác phẩm mỹ thuật chạm trổ tinh vi, có nhiều cánh chĩa ra thành hình sao. Bông thường có sáu cánh hoặc hơn, bằng nhau, đều đặn; mỗi cánh hoa lại được tô điểm bằng những cánh nhỏ cân đối, uốn éo, tuyệt đẹp. Tuyết rơi rơi tạo thành những bức rèm lung linh, trắng, mỏng, êm ái. Trông như Êm đềm trướng rủ màn che. Khi có gió nhẹ, tôi đoán thế, rèm uốn mình; gió mạnh rèm bay giạt, bông tuyết múa may. Có lúc rối loạn. Càng lúc tuyết càng xuống nhiều.

Mọi người đã ngủ say. Không đừng được, tôi mặc thêm áo ấm, xuống lầu mở cửa hông đứng nhìn tuyết ngay trước mắt không qua lớp cửa kính. Nhờ có ánh đèn điện, thấy tuyết lặng lẽ rơi man mác trong đêm khuya. Tuyết đậu nhiều trên những cành cao, nặng trĩu dần, đổ xuống những cành thấp hơn, cứ thế đổ xuống những cành thấp hơn nữa, cho tới khi chạm mặt đất. Rất nhẹ nhàng đến nỗi dường như không phát ra một âm thanh nào cả.

Tôi mang dép bước ra ngoài hành lang vắng teo không một bóng người, ngắm tuyết rơi. Tuyết rơi đêm buồn buồn. Đã khuya quá, lạnh quá. Cuối cùng tôi cũng phải trở lại phòng, nằm nghiêng nhìn tuyết rơi ngoài kia và rơi trong này, trong giấc ngủ chập chờn của tôi. Tuyết xuống thưa dần, rồi hết hẳn. Để biết chắc, tôi nhổm dậy đến bên cửa kính nhìn quanh quẩn ra ngoài. Tuyết đã phủ kín trắng xóa mọi vật dưới trời đêm. Ánh đèn vàng hiu hắt. Nhìn đồng hồ, 3 giờ 30 sáng ngày 24/12. Tôi tính nhẩm, tuyết rơi đúng 6 tiếng. Thôi, thế là hết.

Sáng dậy sớm xuống phòng ăn. Gần xong bữa ăn sáng, sắp trả phòng chuẩn bị lên đường, thuận mắt nhìn mông ra ngoài. Thì, kìa, kìa, kìa, lưa thưa hoa tuyết bắt đầu múa may trong không gian phía trên những vòm cây trước sân tuyết đã phủ trắng. Chẳng lẽ tuyết đêm hôm qua còn sót lại đâu đấy nơi một góc trời nào đó, bây giờ quay lại đây rơi xuống đùa giỡn trong vài phút ngắn ngủi rồi thôi? Hay là tuyết mới, tôi đang mong? Như để trả lời, tuyết rơi xuống mỗi lúc một nhiều, tuôn tuôn, lấp lánh, tung tăng, ròng ròng. Một số khách đứng dậy rời bàn ăn đi ra ngoài sân. Chúng tôi cũng bước vội ra không kịp trở về phòng lấy nón, và thêm áo ấm. Tuyết đang rơi, trời không lạnh như đêm qua.

Trẻ con sung sướng reo hò, lội trong tuyết, té trong tuyết, vo tuyết thành từng nắm ném vào nhau. Có đứa thích thú quá nằm lăn trong tuyết há mồm cười, tuyết dính đầy mặt, mũi, miệng. Người lớn thì để cho tuyết rơi trên tóc, trên áo quần, nhớn nhác, hớn hở nhìn quanh, rồi lấy tay phủi nhẹ cho tuyết bay đi nơi khác trước khi áo quần bị tuyết tan thấm ướt. Tôi cũng ngửa mặt nhìn lên xem thử tuyết còn nhiều hay không. Tuyết bao la mù mịt, dày đặc. Tầm nhìn của tôi bị chận đứng ngay trước mắt.

Mấy bà mẹ có con thơ cũng quấn quýt bồng con ra ngài hiên cho chúng nó tiếp xúc với tuyết có lẽ là lần đầu tiên trong đời của chúng, trong khi những người cha hối hả chạy theo đưa điện thoại cầm tay bấm hình lia lịa.

Rời Flagstaff sáng 24/12, chạy trên xa lộ 40 West, và sẽ chuyển qua 93 North để hướng về đập Hoover, sau đó sẽ đến Las Vegas, dưới cả một trời tuyết đang rơi. Mặt đất nghiêng nghiêng, xe đổ xuống những con dốc thoai thoải dài thăm thẳm. Hai bên đường toàn là những gò đống hình thù kỳ lạ trắng xoá một màu, hay là những quãng trống mênh mông bát ngát, cũng một màu trắng xóa. Không còn biết đâu là nhà cửa, cây cối, đồi núi, hoặc đồng bằng xanh rì của những ngày tháng trước. Tuyết phủ hết mặt đất, tuyết choáng ngợp không gian. Không một cánh chim bay vút trên trời, không một đám bụi nổi lên từ dưới đất, không một âm thanh khuấy động. Tuyết rơi rơi liên miên, tuyết buông màn trong không gian thủy tinh, im lìm. Một cái gì thật tinh khiết, thật trong sạch, thật tĩnh lặng bao trùm lên vạn vật.

Lâu lắm mới có một cơn gió mạnh, thì tuyết trên không là ngàn vạn cánh hoa bay tưng bừng, rối rít. Gió nhẹ hơn cũng đánh bạt những hoa tuyết trắng phau về một hướng.

Tuyết xuống càng lúc càng nhiều. Cái gạt nước của kính chắn gió trước xe cơ hồ không đủ sức xua tuyết đi. Con đường được xe cào tuyết dọn sạch lúc ban sáng, bây giờ lại đầy tuyết. Chúng tôi chạy theo xe đằng trước, nó chạy rất chậm để lại hai vết bánh xe mờ mờ. Chúng tôi không thấy gì khác hơn là tuyết mù mịt, như khít cứng, ngoài ánh đèn đuôi chấp chới của chiếc xe đằng trước, và hai vết bánh xe đó để lại thành hai lằn đen mờ mờ. Chúng tôi buộc lòng phải lái xe chạy thật đúng lên trên hai vết bánh xe ấy, vì chạy lệch đi sẽ không biết chạy đi đâu. Và cũng phải chạy thật gần xe trước, nếu không, vết bánh xe sẽ bị tuyết phủ trắng ngay.

Tất nhiên chúng tôi không khỏi lo ngại rằng nếu chiếc xe đằng trước chạy lạc xuống ven đường, hoặc đâm vào gốc cây, hoặc nhào xuống ao, xuống hồ, hoặc ủi vào chiếc xe trước nó nữa, vân vân, thì chúng tôi cũng sẽ gặp tai nạn ngay. Nhưng biết làm sao, không còn cách gì khác. Không lẽ đạp thắng cho xe đứng ngay giữa đường để bị những xe nối đuôi húc vào? Muốn rẽ vào một lối đi nào cũng không được vì lý do giản dị là chúng tôi không thấy lối rẽ nào cả. Tuyết che lấp hết. Biển tuyết mênh mông không bờ bến đánh lạc mọi phương hướng. Tình trạng này kéo dài khá lâu, ít nhất là vài ba tiếng đồng hồ.

Trong vòng nửa tháng nay, các cơ quan truyền thông loan báo nhiều trận bão tuyết hoành hành tại miền Đông, và Đông Bắc nước Mỹ. Thiệt hại vật chất lên đến những con số khủng khiếp, kể cả sinh mạng con người. Thế nhưng không phải vì vậy mà tuyết bị lên án hay ruồng bỏ. Có lẽ người ta, trong đó có tôi, muốn phân biệt tuyết và bão tuyết.

Vâng, tuyết không có tội mà còn có công. Tuyết rơi xuống để làm sạch trần gian đầy bụi bặm, phủ lên mặt đất một lớp tuyết dày, trả lại cho Mẹ Thiên Nhiên và môi trường sống tất cả cái tinh khiết, trong sáng vốn đã có. Lại nghĩ đến bài thơ Gặp Gỡ bên trên cùng những liên tưởng khác. “Tuyết rời đầy đường sá” cũng có thể nhằm khuyên răn tuổi trẻ hãy chậm bước lại, tiết giảm nhịp độ căng thẳng của cuộc sống máy móc, bớt bon chen giành giật, chém giết. “Tuyết phủ ngập mái nhà” phải chăng nhắc nhở tuổi già đừng quên ngồi bên lò sưởi những ngày đông tháng giá tìm chút yên tĩnh cho tâm hồn.

Nhưng tuyết muốn yên, bão đâu để yên.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#91 Posted : Monday, August 9, 2021 9:07:19 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Nhạc sĩ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG


- bài NGUYỄN VIỆT


UserPostedImage

Nói đến nhạc sĩ Phạm Đình Chương là nói đến những dòng nhạc tình ca lãng mạn từ tiền chiến đến thời đại. Những nhạc phẩm do ông sáng tác hay phổ từ thơ. Là một tên tuổi lớn của nền tân nhạc Việt Nam . Nếu phải so sánh giữa Phạm Đình Chương với Phạm Duy, có lẽ hai người nhạc sĩ này “kẻ tám lạng người nửa cân”, chỉ có điều Phạm Đình Chương không sáng tác nhạc theo kiểu “tả pín lù” như Phạm Duy “sức mấy mà buồn”, “bỏ qua đi tám”, nhạc Việt hóa,nhạc tuyên truyền. Phạm Đình Chương ông chỉ có một con đường để đi, là chọn con đường vì văn học nghệ thuật.

Chúng ta thử điểm qua những sáng tác tiêu biểu của Phạm Đình Chương

Nhạc sáng tác :

- Hội trùng dương, Ly rượu mừng, Tiếng dân chài, Anh đi chiến dịch, Bên trời phiêu lãng, Đất lành, Đêm cuối cùng, Đến trường, Định mệnh buồn, Đón xuân, Ra đi khi trời vừa sáng (viết với Phạm Duy), Đợi chờ (viết với Nhật Bằng), Được mùa, Hò leo núi, Khi cuộc tình đã chết, Khúc giao duyên, Kiếp Cuội già, Lá thư mùa xuân, Lá thư người chiến sĩ, Mỗi độ xuân về, Mười thương, Nhớ bạn tri âm, Sáng rừng, Ta ở trời tây, Thằng Cuội, Thu ở ban đầu, Trăng mường Luông, Trăng rừng, Xóm đêm, Xuân tha hương…

Nhạc phổ thơ :

- Buồn đêm mưa (thơ Huy Cận), Cho một thành phố mất tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn), Nửa hồn thương đau, Bài ngợi ca tình yêu, Dạ tâm khúc , Đêm màu hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn, Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển, Quê hương là người đó (thơ Du Tử Lê), Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Hạt bụi nào bay qua (thơ Thái Tú Hạp), Heo may tình cũ (thơ Cao Tiêu), Mắt buồn (thơ Lưu Trọng Lư, tặng Lệ Thu ), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ).. Còn rất nhiều nhạc phẩm khác v.v…

Một chút tiểu sử :

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 và qua đời vào năm 1991. Khi soạn nhạc ông ký là Phạm đình Chương, còn đi hát, chỉ trong ban hợp ca Thăng Long, ông có tên gọi ca sĩ Hoài Bắc. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh ngày 14/11/1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là ông Phạm Đình Phụng..

Người vợ đầu của cha ông sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói.

Người vợ sau của cha ông tức mẹ ruột ông sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ của nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là ông tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh. Phạm Đình Chương được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn ông vẫn tự học là chính.

Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương tức Hoài Bắc cùng các anh chị em ruột hai dòng như Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, để từ đó mới thành tên ban hợp ca Thăng Long.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác âm nhạc vào năm 1947, khi mới 18 tuổi, nhưng phần nhiều nhạc phẩm của ông thường được xếp vào dòng tiền chiến bởi mang phong cách trữ tình lãng mạn. Các nhạc phẩm đầu tiên như Ra đi khi trời vừa sáng, Hò leo núi... có không khí hùng kháng, tươi trẻ.

Năm 1954 Phạm Đình Chương cùng gia đình chuyển vào miền Nam, rồi tái lập ban hợp ca Thăng Long để hoạt động. Thời kỳ này các sáng tác của ông thường mang âm hưởng miền Bắc như nói lên tâm trạng hoài hương của mình: Khúc giao duyên, Thằng Cuội, Được mùa, Tiếng dân chài...

UserPostedImage

Thời gian sau đó, ông viết nhiều bản nhạc nổi tiếng và vui tươi hơn : Xóm đêm, Đợi chờ, Ly rượu mừng, Đón xuân...

Sau khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá tâm can: Đêm cuối cùng, Thu ở ban đầu, Người đi qua đời tôi, Nửa hồn thương đau.

Có thể nói Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Nhiều bản nhạc phổ thơ của ông đã trở thành những bài hát bất hủ, có một sức sống riêng như Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội &thơ Hoàng Anh Tuấn), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)...

Phạm Đình Chương cũng đóng góp cho nền tân nhạc Việt Nam với một bản trường ca bất hủ Hội trùng dương viết về ba con sông Việt Nam : sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long. Sau 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại California , Hoa Kỳ. Ông mất 22/8/1991 tại California .

“Nửa hồn thương đau” còn là tâm sự riêng tư

Vào những năm 60, báo chí Sài Gòn hao tốn rất nhiều giấy mực vì phải đăng nhiều kì vụ li dị giữa ca sĩ Khánh Ngọc với nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Tòa án xét xử nhiều lần chưa xong, vì thế vụ việc càng làm họ trở nên nổi tiếng hơn. Lúc đó, ban hợp ca Thăng Long đang nổi đình đám nhất trong sinh hoạt ca vũ nhạc kịch thời bấy giờ, bởi lúc ấy nhóm Thăng Long gồm nhiều ngôi sao đương thời như Hoài Trung, vợ chồng ca sĩ Thái Hằng - Phạm Duy, ca sĩ Thái Thanh, vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương (Hoài Bắc) – Khánh Ngọc. Nếu không kể đến người chị dâu Kiều Hạnh là một nữ kịch sĩ đang được ái mộ trên các sân khấu thoại kịch.

UserPostedImage

Phải nói trong thời gian sau 1954, các ca kịch sĩ miền Bắc xuất hiện rất đông đảo trên sân khấu lẫn đài phát thanh như Vũ Huân, Vũ Huyến, Duy Trác, Anh Ngọc, Kim Tước, Châu Hà, Hà Thanh v.v… Một phần, do ca sĩ trong Nam lúc đó chưa xuất hiện nhiều tên tuổi lớn, chỉ có một số ca sĩ đầy triển vọng từ phòng trà Tú Quỳnh giới thiệu như Bạch Yến, Cao Thái, sau có Minh Hiếu, Thanh Thúy, Túy Phượng, Phương Dung… nhỏ hơn thì có Quốc Thắng, Kim Chi trong ban nhi đồng của nhạc sĩ Nguyễn Đức, và quái kiệt Trần Văn Trạch vừa hát và hài.

UserPostedImage

Khánh Ngọc vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một ca sĩ được nhiều người biết đến với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả nam say đắm mỗi khi cô lên hát. Đồng thời Khánh Ngọc còn đóng mấy phim với nam tài tử Lê Quỳnh như Ánh sáng miền Nam, Chúng tôi muốn sống, Đất lành loạt phim nói về những ngày di cư từ Bắc vào Nam do Mỹ thực hiện. Trước khi đưa đơn ra tòa, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh Khánh Ngọc ngoại tình. Nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những tin “lá cải” ấy.

Chỉ đến khi một số người bạn hẹn ông đi bắt ghen tại Nhà Bè thì sự việc mới đổ bể. Lúc đó báo chí Sài Gòn biết rất nhanh, và vụ “ăn chè Nhà Bè” được tờ nhật báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà khai thác mạnh hơn các báo khác, mọi người mới biết kẻ trong cuộc gây ra chuyện này không ai xa lạ, chính là người anh rể của ông : nhạc sĩ Phạm Duy nổi tiếng thuở ấy.

Người đau lòng nhất chính là Phạm Đình Chương chồng Khánh Ngọc, vì ông rất yêu vợ, nhưng bấy giờ cả dư luận xã hội đều rõ tường tận nên đành phải gửi đơn xin li dị (dù lúc đó Phạm Duy đã từng cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng loạt bài điều tra phóng sự này).

Đây là quãng thời gian đau khổ, Phạm Đình Chương không còn tâm trí biểu diễn cùng các anh chị trong ban hợp ca Thăng Long nữa mà lui về trong bóng tối, viết những tình ca buồn như để tâm sự với chính mình. Một loạt bài hát mang tâm trạng như thế ra đời: “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”, “Khi cuộc tình đã chết”, “ Thu ở ban đầu”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”…

Sau khi li dị, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được quyền nuôi con, khi ấy mới khoảng 4 – 5 tuổi, ông bắt đầu đi hát trở lại. Một lần tình cờ ông gặp Khánh Ngọc trên một sân khấu đại nhạc hội, có ý muốn đưa cô vợ đã li dị về nhà vì trời đang mưa, nhưng ông bị từ chối. Bởi vậy khi lặng lẽ trở về căn nhà kỷ niệm một thời sống cùng Khánh Ngọc, nhìn qua màn mưa nhớ về những ngày hạnh phúc giờ trôi theo dòng nước.… có người nói Phạm Đình Chương định tự tử lúc bấy giờ, nhưng nghe tiếng khóc đứa con trai của hai người, ông mới từ bỏ ý định này !?

Hình ảnh của đêm khốn cùng ấy đã đi vào từng lời của bài hát “ Nửa hồn thương đau” được ông viết trong đêm rã rời đó. Nếu ai đã nghe một lần bài hát này và cũng đồng cảm với cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương sẽ hiểu được tâm hồn con người chỉ có thể chịu đựng một giới hạn nhất định.

Dẫu là một bản tình ca, nhưng khi nhắc tới nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người ta lại nghĩ ngay đến “Nửa hồn thương đau” bởi sự bất hủ của bản tuyệt tình ca này và sự chung thủy trong tình yêu của một người đàn ông.

Người phổ thơ ra nhạc mang tính thiên tài

Nên nói về nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” do Phạm Đình Chương phổ từ thơ Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ “Lệ đá xanh”, nhưng ông đã đổi tựa và thêm ý cho phù hợp với tâm trạng của ông lúc bấy giờ.

Có người nhận xét, lối phổ thơ thành nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương mang đặc tính thiên tài, từ những vần thơ của các thi sĩ trở thành những nhạc phẩm luôn lưu lại nhiều kỷ niệm sâu đậm trong lòng giới ái mộ như các bài Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Nửa hồn thương đau, Đêm màu hồng, Dạ tâm khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê) v.v… cho nên nếu so sánh cung cách phổ thơ của Phạm Duy, có thể nói Phạm Đình Chương ngang bằng hoặc xuất sắc hơn, do ông lấy văn học đưa vào nhạc, còn Phạm Duy đưa thơ vào nhạc mang tính thị hiếu nhiều hơn.

Một nhà báo đã viết khi nhận xét nhạc phẩm “Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội” do Phạm Đình Chương phổ thơ Hoàng Anh Tuấn :

“Có thể nói ca khúc “Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội” phổ thơ Hoàng Anh Tuấn là một trong những nhạc phẩm thể hiện tài năng phối âm hoàn chỉnh sắc sảo, đặc biệt là những câu nhạc chuyển động ở cuối phiên khúc đưa người nghe đi vào điệp khúc bằng từng nốt nhạc được dựng nền trên từng hợp âm khi tiến khi thoái rất linh động, nhịp nhàng chẳng khác nào một tiểu khúc giao hưởng đầy âm vang của những hạt mưa gợi nhớ đất Hà thành một thời đã cùng giai nhân “chung nón dìu bước thơm phố phường”.

Có người nói sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Đình Chương còn trải rộng tỏa khắp trên bình diện của thể nhạc trữ tình lãng mạn, với những sáng tác phong phú đủ chủ đề nói về tuổi trẻ, tình yêu, hiện thực, hoặc chia sẻ nhịp rung cảm hân hoan cùng mọi người như các tác phẩm : Bài ca tuổi trẻ, Thu ở ban đầu, Mười thương, Mộng dưới hoa, Bài ca ngợi tình yêu, Đêm cuối cùng, Heo may tình cũ, Xóm đêm v.v…

Xuyên qua các nhạc phẩm trên, người ta lại càng nhận thức đầy đủ hơn nơi ý nhạc lời ca của Phạm Đinh Chương có một tâm hồn tươi trẻ, nồng nhiệt và cũng không kém phần thương đau, xót xa trong tan vỡ của yêu đương luyến nhớ, cũng như trong cuộc đời của người nghệ sĩ luôn để lại những khối chân tình qua từng bước chân phiêu bạt mà ông đã đi qua.

“Có lẽ sự rung động dễ thương của những con tim khi chớm nở loài hoa tình yêu mới là cảm xúc tuyệt diệu nhất được Phạm Đình Chương diễn tả bằng chính nội tâm hiện thực của ông qua ca khúc
“Mộng dưới hoa” phổ thơ Đinh Hùng :

Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh là bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn anh không nói năng ….

“Cuối cùng không thể nào không đề cập đến “Trường khúc Tam Giang” với những nỗi niềm diễn tả tâm tư mang lời tự thuật thật sống động, đặc sắc của 3 con sông lớn đại biểu cho mạch sống của ba Miền và được xem như là một đại tác phẩm trường tấu để đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương có tên là “Hội Trùng Dương”, với 3 tiểu khúc gồm Tiếng Sông Hồng, Tiếng Sông Hương và Tiếng Sông Cửu Long, được liên kết thật chặt chẽ bằng những tiết tấu phối hợp sự biến âm đặc biệt biểu hiện tình cảm khi nhẹ nhàng, lúc khoan thai, khi hùng tráng, lúc trầm lắng, khi ngọt ngào, lúc thiết tha, quyện lẫn trong các câu hò mang sắc thái âm điệu thổ ngữ Bắc, Trung, Nam rất duyên dáng chân thành và trong sáng tình yêu quê hương vốn được hun đúc từ ngàn đời, tựa như 3 dòng sông tuôn chảy miệt mài ra biển Đông, khi lững lờ lúc cuồn cuộn trôi mãi theo chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Sau đây là những nhạc phẩm do nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ từ thơ, mà trang “Văn nghệ người Sài Gòn” đã nói đến :

Nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau”
thơ Thanh Tâm Tuyền


Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa
Cho tôi về đường cũ nên thơ
Cho tôi gặp người xưa ước mơ
Hay chỉ là giấc mơ thôi
Nghe tình đang chết trong tôi
Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời
Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau
Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau
Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào
Em ở đâu? Anh ở đâu?
Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu
Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất
Và tiếng hát và nước mắt Đôi khi anh muốn tin
Đôi khi anh muốn tin
Ôi những người ôi những người
Khóc lẻ loi một mình…

Nhạc phẩm ”Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội”
thơ Hoàng Anh Tuấn


Mưa hoàng hôn
Trên thành phố buồn gió heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà
Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hoà
Thương màu áo ngà
Thương mắt kiêu sa
Hiền ngoan thiết tha
Thơ ngây đôi má nhung hường
Hà thành trước kia thường thường
Về cùng lối đường
Khi mưa buốt, lạnh mình ướt
Chung nón dìu bước
Thơm phố phường Mưa ngày nay
Như lệ khóc phần đất quê hương tù đày
Em ngoài ấy còn nhớ hẹn xưa miệt mài
Giăng mắc heo may
Sầu rơi ướt vai
Hồn quê tê tái
Mưa mùa Thu
Năm cửa ô sầu hắt hiu trong ngục tù
Tủi thân nhớ bao ngày qua
Mưa ngùi thương nhòa trên giòng sông Hồng hà
Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hòa
Đau lòng Tháp Rùa
Thê Húc bơ vơ
Thành đô xác xơ
Cô liêu trong nỗi u hoài
Lòng người sống lạc loài
Thê lương mềm vai gầy
Bao oan trái
Dâng tê tái
Cho kiếp người héo mòn tháng ngày
Mưa còn rơi,
Ta còn ước rồi nắng yêu thương về đời
Vang trời tiếng cười
ấm niềm tin hồn người
Mây trắng vui tươi
Tình quê ngút khơi
Tự do phơi phới.

Nhạc phẩm “Mộng dưới hoa”
thơ Đinh Hùng


Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng
Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ
Mây ngàn gió núi đọng trên mi
Áo bay mở khép niềm tâm sự
Hò hẹn lâu rồi - em nói đi
Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối
Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu
Đêm nào nghe bước mộng trôi mau
Gió ơi, gửi gió lời tâm niệm
Và nguyện muôn chiều ta có nhau

Lời 2:

Tôi cùng em mơ những chốn nào
Ước nguyền chung giấc mộng trăng sao
Sánh vai một mái lầu phong nguyệt
Hoa bướm vì em nâng cánh trao
Hy vọng thơm như má chớm đào
Anh chờ em tới hẹn chiêm bao
Dưới hoa tưởng thấy ngàn sao rụng
Hòa lệ ân tình nuôi khát khao
Bước khẽ cho lòng nói nhỏ
Bao nhiêu mộng ước phù du
Ta xây thành mộng nhìn thu
Núi biếc, sông dài ghi nhớ
Ôi, chưa gặp nhau như đã ước thề
Mây hồng giăng tám ngả sơn khê
Bóng hoa ngã xuống bàn tay mộng
Và mộng em cười như giấc mê

Nhạc phẩm “Đôi mắt người Sơn Tây”
thơ Quang Dũng


Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt em ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh
Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai.

Đôi mắt Người Sơn Tây
U uẩn chiều luân lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây,
Buồn viễn xứ khôn khuây
Em hãy cùng ta mơ
Mơ một ngày đất mẹ
Ngày bóng dáng quê hương
Đường hoa khô ráo lệ
Tôi từ chinh chiến đã ra đi
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Sông Đáy chạm nguồn quanh phủ Quốc
Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay.

Em vì chinh chiến thiếu quê hương
Sài Sơn, Bương Cấn mãi u buồn
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ, Em có bao giờ, Em thương nhớ thương.

NGUYỄN VIỆT

Edited by user Monday, August 9, 2021 11:40:30 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#92 Posted : Friday, August 13, 2021 2:40:45 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage


Dậm Trường Xa

Tiếng sóng sầu vỗ triền miên, vô tận
Cánh chim bay, bay mãi dậm trường xa
Về đâu nhỉ, giải mây chiều u ẩn
Chẳng bến bờ, trùng khơi quá bao la.

Cuối chân trời, thăm thẳm nối đường mây
Tô đậm nhớ, nghe lòng xao xác gọi
Người vạn dậm, xa xôi nào có thấy
Buồn nơi đây, quay quắt lịm, nghẹn lời.

Biết có đấy, và rồi không có đấy
Cõi vô thường, còn ai đợi ai mong
Đôi vai nặng gánh thế trần dâu bể
Về bên kia có nhẹ kiếp má hồng.

Đêm lạc lõng trong vũng sầu tăm tối
Thao thức chờ tiếng bước giữa trời khuya
Thời gian nhé, đừng qua mau, chớ vội
Để hẹn hò ôm viễn mộng tình xa.

HONG VU LAN NHI
2/3/2020

Edited by user Friday, August 13, 2021 2:47:31 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#93 Posted : Friday, August 13, 2021 1:08:14 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

KHÔNG CÓ ANH

Không có anh
ai đưa em dạo phố,
ai nhắc hoài
này kính, này cell phone.

Không có anh
ai an ủi lúc buồn
ai mỗi tối
gọi tỉ tê tâm sự.

Không có anh
ai vỗ về ru ngủ
nhong nhẽo dỗi hờn
ai năn nỉ, ỉ ôi ...

Không có anh, ai gọi Dấu yêu ơi
rồi ai hát nhạc tình buồn muôn thuở
rồi ai kể chuyện loài hoa tim vỡ
giọng ấm trầm, thấm tận đáy tim em.

Không có anh, ai gọi phone mỗi đêm
nhắc kỷ niệm những ngày xưa thân ái
(khi ánh chiều buông, pha màu hoang dại
là lúc tương tư chìm vào nhớ vô bờ).

Không có anh, trái tim như ngừng thở
cạn hết rồi bao sầu nhớ quắt quay
cạn hết rồi bao đằm thắm mê say
cạn hết cả những ngất ngây, nồng cháy.

Không có anh đời buồn như thế đấy
không bao giờ để lạc mất anh đâu
hứa từ nay cho đến tận cùng sau
mình mãi mãi có nhau, yêu dấu nhé.

HONG VU LAN NHI
01/25/2010

Edited by user Friday, August 13, 2021 1:14:03 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#94 Posted : Friday, August 20, 2021 2:27:23 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

LỜI GIÓ NHẮN

Chùm nắng vàng, vàng lên từng nỗi nhớ
Nỗi nhớ dài hơn cả hẹn trăm năm
Và đâu đây vang vọng tiếng chuông ngân
Hồn chìm đắm dĩ vãng mờ xa lấp.

Những nhớ quên, những thương hờn, còn mất
Ý miên man xoáy quyện trái tim sầu
Và cuộc đời, sao lắm nỗi thương đau
Cứ đuổi bắt khác gì hình với bóng …

Lời gió nhắn từ chuông chiều xa vọng
Những khổ đau rồi cũng sẽ nguôi quên
Cõi trần này, có gì đâu vững bền
Mà khắc khoải, mà ôm sầu nhân thế.

Lời hẹn thiên thu, cũng sẽ thành dâu bể
Mắt hồ đời, thấm đẫm giọt lệ rơi
Khoảng cách không gian là mộ lấp bia đời
Hồn sương gió mãi trải dài nhung nhớ.

Rồi tình nhạt, vương vương cung đàn lỡ
Trái tim sầu, cũng héo úa chờ mong
Tìm nắng hồng hong sưởi tấm tình đơn
Hồn viễn xứ, lệ lưu vong … hoài vọng.

HONG VU LAN NHI
5/20/2017

Edited by user Friday, August 20, 2021 2:40:39 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#95 Posted : Sunday, August 22, 2021 9:50:27 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Mối Tình Già


UserPostedImage

Cứ chiều ngày chủ nhật nào cũng vậy, khi mặt trời ngả về phương Tây, người ta thấy một ông già mái tóc bạc phơ phủ dài dưới gáy và chòm râu trắng như cước chẩy xuống tận ngực. Ông chậm rãi cất bước trên con đường đất nhỏ quanh khuôn viên ngôi chùa, hai bên lề có những khóm hoa đủ mầu sắc. Ông lơ đãng đưa mắt hết nhìn xung quanh, nhìn gần nhìn xa, rồi lại ngước mặt nhìn nền trời cao với những tảng mây trắng hơi ửng vàng bàng bạc xây thành chất lũy, từng khối, từng khối đầy đủ hình thù cảnh vật núi non, người, vật đủ loại, chập chùng mờ ảo quái dị như một thế giới nào đó khác với thế giới hiện tại. Ông lẩm bẩm:

- "Có thật có một thế giới nào khác ngoài thế giới này không bà nhỉ? Chẳng lẽ chết là hết? Cả ngàn năm nay người ta đã nói nhiều về cõi niết bàn, về chốn thiên đường. Bây giờ bà đang ở đâu, niết bàn, thiên đường hay chỉ là cõi hư vô? Rõ ràng mới đấy mà đã trở thành không rồi!".

Thoạt đầu người ta tưởng ông già nói chuyện với một người nào đó. Thực ra ông nói một mình hay chính xác hơn, ông nói chuyện với một cái bóng vô hình.

Ngôi chùa nhỏ lại tọa lạc tại một vùng ngoài xa thành phố nên rất êm ả yên vắng, vì khách thập phương ít lui tới.

Chùa có một sư bà tuổi đời trên dưới 80. Bà thứ hai vào khoảng 70 tuổi nhưng chỉ là tín nữ, vì bà chưa xuống tóc, đến chùa ở mới mấy năm nay. Cả hai đều mình hạc xương mai. Sư bà ít khi ra khỏi chùa, bà trụ tại đây đã trên 30 năm, suốt ngày đêm chỉ ngồi gõ mõ tụng kinh niệm Phật, khi rỗi rãi thì đọc sách hoặc ra sau vườn trồng hoa, trồng rau với bà tín nữ.

Ngoài hai người trên, chùa còn một sư cô tuổi 17, 18. Bà tín nữ tuy khoác trên người bộ đồ mầu xám nhạt nhưng trông dáng điệu vẫn còn vẻ sang cả. Bà để mớ tóc bạc trắng quấn tròn lại phía sau đầu và trùm tấm khăn mầu xám nhạt nên trông chẳng khác gì một sư nữ. Bà chỉ mới quy y chứ chưa xuống tóc, vì lòng bà (theo lời bà sám hối với sư bà trụ trì) còn vướng chút bụi trần.

Từ ngày chồng mất, mãn tang, giã từ con cháu bà lên chùa này nương tựa cửa Phật cho tới nay cũng đã mấy năm. Sau những giờ tụng niệm đọc kinh, mỗi buổi chiều bà thường thiền hành quanh khuôn viên chùa dăm chục phút. Cả ba người tuy sống trong cùng ngôi chùa nhưng ít khi họ chuyện trò tâm sự, nhất là chuyện riêng tư quá khứ.

Sư cô người trắng trẻo hồng hào, phải nói là khá xinh đẹp, đang sắp thi vào đại học, theo cha mẹ lên chùa ngày Phật đản, không hiểu sao cô bất thần xin phép cha mẹ, xin phép sư bà ở lại tu luôn, mặc cho sự ngăn cản của cha mẹ.

Còn sư bà và bà tín nữ là cả một sự bí ẩn. Không ai biết gốc tích dĩ vãng của họ. Hơn nữa, từ khi di tản sang đây, người ta mải lo làm giầu nhiều hơn là quan tâm tới những chuyện khác, nhất là chuyện tu hành của mấy người đàn bà không tên tuổi, ít được người đời biết tới.

Ngoài ra, vì ngôi chùa này nhỏ lại tọa lạc nơi vắng vẻ chốn rừng sâu nên các Phật tử ít lai vãng chiêm bái. Thời buổi này, nhất là sống ở xứ sở có nhiều cơ hội làm giầu, người ta tới lễ Phật thì ít mà muốn khoe của, khoe sự giầu sang phú quý thì nhiều nên những ngày lễ Phật, những ngôi chùa lớn danh tiếng, Phật tử đến đông như hội chợ...

Người con trai sau khi ngừng xe lại trước con đường nhỏ dẫn vào chùa, bước ra khỏi xe, mở cửa xe cho ông già bước ra, lễ phép nói:

- "Thưa ba, chiều nay con vẫn tới đón như giờ giấc mọi lần?".

Ông già cười nhẹ, đáp:

- "Vẫn vậy thôi".

Ông già nhìn theo anh con trai phóng xe đi khuất mới thong thả cất bước về phía chùa. Cũng một buổi chiều như chiều nay nhưng cách đây đã bốn năm, ông được người bạn rủ tới chùa này ngoạn cảnh. Theo sự mô tả của ông bạn, cảnh giới ngôi chùa chẳng khác gì cảnh giới những ngôi chùa trong nước của những nhà tu hành chân chính thủa xa xưa trong rừng thẳm núi cao. Chùa u nhã tĩnh mịch, tuy nhỏ nhưng nằm trên khu đất khá rộng, vây quanh là những hàng cây cổ thụ cành lá xum xuê có từ trăm năm, tạo cho người ta cảm giác khác hẳn với thế giới bên ngoài, tâm thần lâng lâng như lạc vào nơi miền cực lạc cõi trần gian. Con người như bay bổng lên tầng cao tinh khiết siêu thoát, không vướng chút bụi đời.

Nghe bùi tai hấp dẫn, thế là hai ông bạn già - năm đó cũng đều trên dưới bẩy chục tuổi nhưng còn tương đối khỏe mạnh - cùng nhau lái xe tới vãn cảnh chùa.

Quả đúng như lời ông bạn nói - ông Thụy - tên ông già, cảnh vật cũng như đa số những ngôi chùa khác nhưng vô cùng u nhã thanh tịnh. Không gian thoang thoảng hương thiền. Ông Thụy thấy tâm hồn mình nhẹ lâng lâng sau những ngày tháng ưu tư buồn phiền mệt mỏi sống nơi đất nước người. Ông thực tâm chẳng muốn rời xa quê hương đất nước chút nào nhưng thời thế bắt buộc, nhất là các con ông, sau những năm tù đầy về, bọn nó nhất định rời bỏ quê hương sang đây sống một cuộc đời mới.

Ông Thụy già rồi chẳng còn tham vọng gì nên lúc nào cũng có cảm tưởng mình sống thừa với những ngày tháng vô vị. Con cháu ông, chúng có đời sống của chúng. Và chúng còn mải mê học hành, mải mê theo đuổi công danh sự nghiệp hoặc mải mê vui chơi. Ông chỉ còn nguồn yêu thương an ủi duy nhất là bà vợ. Nhưng ít lâu nay bà bỗng thay tính đổi nết, trở nên con người khác. Từ lúc trở thành vợ ông, bà đã phong thanh biết chuyện ông có một mối tình đầu sâu đậm khó quên, dù năm tháng trôi qua. Bà biết ông không yêu bà. Ông lấy bà vì bổn phận - cũng như bà - vì gia đình ép buộc, nên khi về già tình vợ chồng cũng trở nên nhạt nhẽo. Tuy nhiên lúc nào bà cũng vẫn đóng trọn vẹn vai trò làm vợ, làm mẹ và làm bà. Và đối xử với ông vẫn nói năng nhẹ nhàng, lễ độ trong khuôn phép con nhà gia giáo.

Nhưng lẽ sống của bà bây giờ chính là nhà thờ. Sáng đi lễ. Chiều đi lễ. Buổi tối ngồi trong phòng tụng kinh trước ảnh Chúa. Vì vậy ông càng thấy mình bơ vơ lạc lõng và rất cô đơn trong cái tuổi già nơi xứ người nên ông luôn nghĩ tới người yêu thuở đầu đời, không biết giờ này trôi dạt nơi đâu, có còn trên cõi thế? Tuy hơn nửa thế kỷ trôi qua ông vẫn không thể nào quên "nàng" được. Ông tìm đến bạn bè kiếm nguồn an ủi nhưng họ cũng có cuộc sống riêng tư của họ. Chỉ khi nào rảnh rỗi như hôm nay họ mới lái xe cho ông "đi chơi xa".

Trong khi ông bạn đang chiêm ngưỡng pho tượng Phật bà Quan Âm trước sân chùa, ông Thụy thơ thẩn dạo bước trên con đường đất nhỏ giữa những khóm hoa nhỏ thì thấy một người nhẹ nhàng đi tới. Ông đứng nép vào bên đường nhường bước. Đó là một sư bà. Bỗng ông giật thót mình, lấy tay chùi kính mắt một lần rồi lần nữa, vì mắt ông bỗng hoa lên, mờ đi. Chẳng lẽ thị giác về già đánh lừa ông. Dù mấy chục năm trôi qua không gặp lại, ông vẫn quên làm sao được khuôn mặt, dáng dấp "người ấy", cho dù thời gian đã làm thay đổi nhiều. Nhưng trực giác của ông…Không kìm lòng được nữa, ông thảng thốt kêu lên:

- "Ô, Liên!".

Bà nghe tiếng kêu cũng giật thót mình ngừng bước, mở lớn đôi mắt nhìn. Từ lâu lắm rồi, nhất là ở nơi chùa chiền hoang vắng này có ai biết tên bà và gọi đúng tên bà thời con gái? Nhưng chỉ mấy phút sau, khi nhận ra tiếng nói (đã ngấm sâu trong tiềm thức bà) và khuôn mặt con người vừa thốt tiếng kêu, bà cũng thảng thốt không kém, với giọng xúc động, hơi run run, tay trái đặt lên ngực:

- "Mô Phật! Thì ra là... ông!"

Dứt lời bà quay mặt sang phía khác, có lẽ để tránh cái nhìn của ông. Ông Thụy nói nhanh như sợ người đối diện bỏ đi:

- "Vâng, tôi đây, Thụy đây. Anh đây. Em, em... bà..."
- "Mô Phật, xin ông đừng gọi tôi tiếng em nữa".
- "Vâng vâng, bà, bà...".

Ông Thụy ấp úng nghẹn lời không nói thêm được. Ông muốn ôm chầm lấy bà siết chặt trong vòng tay. Mấy chục năm trời nay, ai ngờ Chúa Phật run rủi, ông gặp lại bà mà lại gặp trong cảnh ngộ éo le như thế này. Mắt ông như mờ đi và hình như ông thấy bà cũng cố che dấu hai giọt nước mắt sắp lăn xuống má. Ông biết mấy chục năm qua ông chưa quên được bà và bà cũng vậy. Nhưng sao giờ này sống trên đất Mỹ bà lại đổi đời đi tu. Ông thắc mắc. Nhất định phải có nguyên do. Hai người cứ lúng túng và đứng trơ ra. May có người đi tới. Đó là ông bạn đồng hành lái xe. Ông Thụy vội nói, nhỏ nhưng cũng đủ để bà nghe kịp:

- "Tuần tới tôi sẽ lên".

Ông Thụy không thấy bà gật hay lắc đầu. Ngồi trên xe và xe phóng đi lâu rồi, mặt ông Thụy vẫn thừ ra đờ đẫn buồn hiu.

- "Ông tương tư sư bà đấy à?".

Ông bạn lái xe nói đùa. Ông Thụy lắc đầu:

- "Không phải tương tư mà là gặp lại người xưa và dĩ vãng đang bừng sống lại trong tôi. Tôi bị "sốc", "sốc" nặng! "

- Thế đúng là Lan và Điệp thời nay rồi. Liệu sư bà có cắt đứt giây chuông?".

Ông Thụy nói như than:

- "Chưa biết được ông ơi, nhưng nhất định đêm nay tôi mất ngủ".
- "Coi chừng cơn tam bành của Hoạn thư ở nhà đấy, ông bạn già!".
- "Bà ấy già rồi còn ghen tuông gì nữa, hơn nữa lại là chuyện ngày xưa".

Người bạn lái xe cười cười nói:

"Ông lầm rồi. Mấy mụ ấy chỉ khi nào hết thở thì may ra mới hết máu ghen".

Dứt lời ông đưa tay nhấn nút CD. Một bài hát vang lên. Éo le làm sao trong bài hát lại có câu, cô ca sĩ hát như rên rỉ: "tình ngỡ đã quên đi... nhưng tình bỗng lại về...".

Chiều chủ nhật tuần sau, ông Thụy bắt người con trai lớn lái xe đưa lên chủa. Trong lúc đi đường ông kể hết chuyện tình của mình với bà sư thuở thiếu thời. Người con trai đã ngoài 50 tuổi, có học, trước là sĩ quan cấp tá và là người hiểu biết việc đời và rất cảm thông trường hợp của ông bố.

Khi xe ngừng ở lối vào chùa, ông Thụy thoáng nhìn thấy bà đứng bên vệ đường sau hàng cây nhìn về phía ông như có ý trông chờ. Ông quay lại dặn con giờ giấc tới đón. Khi quay lại không thấy bóng bà đâu nữa. Ông bước vào chùa. Sư bà trụ trì trên điện Phật bước ra niềm nở chào đón khách. Ông Thụy còn lòng dạ nào chuyện trò xã giao. Ông đi thẳng ngay vào "vấn đề":

- "Thưa, xin lỗi sư bà, tôi muốn gặp bà Liên".

Vì ông không biết pháp danh của bà nên cứ gọi theo tên ngoài đời. Sư bà không hề hỏi lý do, gọi ngay sư cô đi tìm "bà Liên". Ông Thụy được dẫn vào phòng khách gặp bà. Bà cúi đầu không nhìn ông khi ông bước vào. Hai người ngập ngừng đến mấy phút, ông Thụy mới lên tiếng:

- "Bà vẫn khỏe? Tôi thật không hiểu...".

Câu nói ngừng lại ở đây. Bà nói, dọng nhẹ nhàng:

- "Tôi ở chùa này đã bốn năm rồi nhưng chỉ mới quy y chứ chưa xuống tóc".
- "À ra vậy! Thế có nghĩa là… bà vẫn chưa muốn dứt nợ trần?".

Ông Thụy hấp tấp hỏi. Bà thở dài:

- "Cũng vì chút lòng trần chưa dứt nên chưa thể xuống tóc".
- "Có phải tại...".

Ông Thụy muốn nói có phải tại chồng con. Nhưng ông kịp thời ngưng. Bà nói liền một hơi, dọng nghe có vẻ trách móc:

- "Tại ông... ông hiểu không? Tôi chưa xuống tóc là muốn gặp lại ông một lần chót trong đời. Mấy chục năm rồi tin ông biền biệt. Nhưng tôi vẫn tin là sẽ có ngày gặp lại ông trước khi về cõi khác. Tôi đã nguyện trước đức Phật, nếu trong 5 năm không gặp lại ông tôi sẽ xuống tóc. Xuống tóc đúng vào cái ngày ông… hôn tôi lần đầu. Hơn 4 năm đã trôi qua nhưng linh tính báo cho biết tôi sẽ gặp lại ông. Tạ ơn đức Phật từ bi run rủi, hôm nay...".

Ông Thụy muốn chồm lên ôm bà vào lòng nói lời an ủi cũng như âu yếm. Nhưng nhìn nét mặt bà với chiếc khăn mầu xám nhạt chùm trên đầu, ông bỗng khựng lại. Có một cái gì vô hình đã ngăn cản ý định của ông. Ông thở dài đăm đăm nhìn hai bàn tay mình xoa xoa trên mặt bàn gỗ mầu nâu đen. Bà biết ý định của ông nhưng vờ như không biết. Bà nói, dọng vẫn nhỏ nhẹ trong trẻo ngọt ngào ấm áp - khi xưa ông mê mẩn vì dọng nói này:

- "Ông nên nhớ đây là chốn thiền môn và tôi là con cái của Phật. Ông là người ngoài đạo nên tôi tin đức Phật tha thứ cho ông".

Có tiếng gõ nhẹ vào cửa phòng. Người con trai ông Thụy bước vào cúi đàu chào bà rồi nói với bố:

- "Thưa ba, trời sắp tối và sương mù đang buông xuống".

Ông Thụy đứng lên định cầm tay bà nhưng lại ngưng. Sau một tiếng thở dài, ông nói khẽ:

- "Thôi tôi về Liên nhé, hẹn gặp".

Bà không nói gì lặng lẽ tiễn ông ra ngoài đường, chỗ xe hơi đậu. Thế là từ đó chiều chủ nhật nào ông Thụy cũng bắt người con trai trưởng đưa ông lên chùa. Ông không muốn nhờ người khác vì e ngại chuyện lộ ra ngoài. Ông nói với bà vợ là tới nhà người bạn xoa mà chược. Bà yên tâm vì có người con trai lớn đi kèm.

Chiều chủ nhật nào cũng vậy, cứ tới khoảng 4, 5 giờ chiều là bà lắng tai nghe ngóng tiếng động cơ xe hơi vọng tới. Rồi hai ông bà già sóng bước bên nhau đi trên con đuờng đất nhỏ quanh khuôn viên chùa. Họ chuyện trò. Họ tâm sự chuyện ngày xưa và chuyện ngày nay. Ông kể cho bà nghe gia cảnh của mình. Bà cũng vậy. Họ mải mê nói quên cả thời gian trôi và đã cuốc bộ biết bao cây số không thấy mệt mỏi, nhất là với đôi chân già yếu. Ông cho biết sau khi lập gia đình có bốn người con: hai trai hai gái. Hai trai sống với vợ con trên đất Mỹ. Còn hai gái sống tại Saigon. Ông có đến 7, 8 đứa cháu nội ngoại. Vợ chồng ông hiện sống trong nhà người con trai lớn.

Còn bà thì kể sau hơn hai mươi năm lập gia đình chỉ có hai người con: một trai một gái đều sống trên đất Mỹ với bầy con. Chồng bà mất trước năm 1975 trong trận đánh Hạ Lào. Sang Mỹ sống vài năm, bà quyết định đi tu, mặc cho con cái ngăn cản. Bà chưa chịu "xuống tóc" ngay vì còn "một chút vướng víu". Chút "vướng víu" đó là ông. Ông nghe bà nói thế, nhìn quanh thấy vắng bóng người, ông cầm tay bà siết chặt đến nỗi bà phải kêu lên. Câu chuyện riêng tư của đôi bạn già không thoát khỏi cặp mắt của sư bà. Mỗi lần sư bà thấy hai người đi bên nhau mải mê chuyện trò lại lẩm bẩm: "Thiện tai! Thiện tai!".

Bây giờ đúng là họ quên tuổi già để sống lại tuổi đôi mươi. Bao nhiêu kỷ niệm xưa cũ thời trai trẻ lãng mạn, họ nói ra cho nhau nghe hết. Dù là những kỷ niệm nhỏ nhặt trong đời sống học trò.

Vào khoảng năm 1919, 1920 của thế kỷ trước, hai gia đình ở cùng một khu phố giữa thủ đô Hà nội. Nhà ông đầu phố, nhà bà cuối phố. Phố Hà Nội thường nhỏ, ngắn. Lúc ấy họ chẳng thèm để ý gì đến nhau vì họ còn quá nhỏ. Nhà bà theo đạo Phật, làm nghề buôn bán, nổi tiếng giầu có. Nhà ông, theo đạo Công giáo, bố ông làm công chức cao cấp, gia đình có một đời sống khá giả. Khi ông lên trung học mới để ý tới "con bé cuối phố" xinh đẹp ngoan ngoãn. Họ yêu nhau tha thiết lúc nào không biết. Khi ông lấy xong bằng Thành Chung, bà mẹ ông ngỏ ý muốn ông lấy vợ "để sớm có cháu nội nối dõi tông đường". Thế là ông đưa "thỉnh nguyện" ngay, đó là cô gái cuối phố. Ông không ngờ gặp phản ứng liền của cả cha lẫn mẹ. Họ bác bỏ một cách thẳng thừng và hơi tàn nhẫn:

- "Ồ, không được. Gia đình nó ngoại đạo!".

Nhất định là không được, mặc cho ông hết lời năn nỉ và ca ngợi những đức tính quý báu của cô nàng. Bà mẹ ông có vẻ thông cảm với cậu con trai nên ra điều kiện:

- "Nếu nó chịu rửa tội theo đạo thì mẹ bằng lòng".

Đêm đó ông chưa bao giờ tỏ ra bất lực, chán đời, chán cả sự học hành và đau khổ tận cùng. Còn về phía bà. Khi hay tin con gái có "bạn trai" là ông, bà mẹ gọi cô con gái vào phòng riêng và nghiêm mặt nói: "Từ nay tôi cấm cô không được giao thiệp thân mật với "thằng ấy". Bà cãi:

- "Anh ấy đàng hoàng đứng đắn, con nhà tử tế".

Bà mẹ dằn dọng:

- "Tôi đã bảo cấm là cấm, cô hiểu chưa? Bố cô mà biết chuyện này cứ gọi là cô nhừ đòn".

Bà vẫn không chịu thua:

- "Nhưng anh ấy có làm gì nên tội đâu mà bố mẹ ghét thế?".

Bà mẹ nói như rít:

- "Tội gì à? Nhà nó theo đạo Công giáo, còn nhà mình theo đạo Phật. Nếu nó bằng lòng bỏ đạo nó theo đạo mình thì tôi cho cô cậu lấy nhau".

Bà cũng thức trắng đêm đó như ông và khóc hết nước mắt. Bà đau khổ đến muốn tự tử.

Hai, ba năm sau bà lấy chồng, ông lấy vợ theo sự lựa chọn, quyết định của cha mẹ. Họ xa nhau từ đấy mặc dù trong lòng tình yêu, nhất là tình yêu thuở ban đầu vẫn nở rộ, vẫn tha thiết. Một khi tình yêu càng bị ngăn cản, càng bị cấm triệt thì càng âm ỉ phát triển mạnh. Nhưng vào thời đó, vì lễ giáo, vì gia phong, vì giòng họ, vì xã hội, vì dư luận đôi bạn trẻ đành bất lực, chấp nhận hy sinh chia tay bởi sự kỳ thị vô lý!

Mỗi lần ông đi thăm bà về, bà đều gói một bọc lớn đủ thứ trái cây để ông đem về cho "chị nhà" và các cháu. Bà bảo: "Đây là lộc Phật". Ông đem về nhà nói dối vợ là vợ bạn cho "cây nhà lá vườn". Nhưng sau đó bà vợ cũng biết và ra lệnh cấm con cháu không được ăn.

Ông không biết giải quyết sao đành nhờ người con trai "cố vấn". Và cả hai đồng ý đem những trái cây này đến cho đám con của người con trai thứ hai "hưởng lộc" dùm. Còn ông, mỗi lần lên thăm bà, ông bắt con trai lái xe tới tiệm bán hoa mua tặng bà một chậu lan. Từ trẻ bà vốn thích loại hoa trưởng giả quý phái này. Thời gian cứ lặng lẽ trôi, hết mùa đông lại tới mùa xuân, không chủ nhật nào ông không đi thăm bà và hai người tiếp tục sóng đôi cất bước chuyện trò tâm sự tới khi măt trời khuất sau rặng núi.

Bà vợ ông, sau những tháng ngày ngấm ngầm chịu đựng hết nổi, bà làm dữ. Bà cấm người con trưởng chở ông già đi thăm "con mụ dở hơi".

Thế là ông phải nhờ cậy vào người con trai thứ nhưng là "đánh du kích", chứ không đều đặn đúng hạn kỳ như trước nữa. Có khi cả tháng ông mới đi thăm bà được một lần. Ông không nói nhưng bà hiểu. Bà thông cảm hoàn cảnh ông. Nhưng bà cũng không muốn "cắt đứt giây chuông".

Thế rồi ông bị đưa vào bệnh viện ghép động mạch vành tim bị tắc nghẽn, vì tuổi già sức yếu nên mất cả mấy tháng trời mới lại sức. Khỏe một chút, ông kiếm cách đi thăm bà ngay.

Nhưng lần này... Người đón ông không phải là bà mà là sư cô. Sư cô nét mặt hơi buồn báo ông biết: bà nhập bệnh viện cả tháng rồi vì chứng sưng màng não và phổi có nước. Ông nghe choáng váng sây sẩm mặt mày muốn ngã qụy. Còn sư cô quầy quả bước vào trong Chùa và miệng luôn lẩm bẩm: "Thiện tai! Thiện tai!"

Khi ông tới bệnh viện thì bà đã trong tình trạng hôn mê. Cạnh bà có vợ chồng người con trai của bà. Hình như trong khi nằm bệnh, lúc tỉnh táo, bà đã nói cho con bà biết chuyện của hai người và bà ước muốn được nhìn thấy ông trong giây phút chót, vì vậy khi thấy ông đến, họ nhìn ông với cái nhìn trìu mến đầy thông cảm. Có một lúc bà tỉnh lại mở mắt nhìn. Thấy ông mắt bà như sáng hẳn lên. Ông đua tay tìm tay bà. Bà đưa tay tìm tay ông và nắm chặt bàn tay ông như không muốn rời. Rồi miệng bà mấp máy. Ông ghé sát tai nghe. Bà chỉ thều thào được tiếng "anh" rồi bàn tay bà từ từ buông bàn tay ông ra. Bà đã nhẹ nhàng về bên kia thế giới, mà ông nghĩ có lẽ là cõi niết bàn.

Sau khi bà mất, ông vẫn tiếp tục lên chủa. Mỗi lần lên ông mang theo một chậu lan nhỏ. Lâu dần nhiều hoa quá, sư bà bảo sư cô làm một dàn gỗ để treo những chậu lan trước phòng của bà tín nữ Diệu Liên (pháp danh của bà). Ông cứ việc móc chậu lan lên dàn, có đến mấy chục chậu. Khi lên tới chùa, việc trước tiên ông làm là đến trước cửa phòng (cũ) của bà lầm bầm như nói điều gì với bà, xong, ông mới làm công việc tưới những chậu lan. Rồi sau đó, ông (rủ bà) đi dạo con đường đất quanh khuôn viên chùa và chuyện trò với nhau y như khi bà còn sống. Duy có điều bây giờ chỉ có mình ông nói. Cũng từ ngày bà mất, ông không cạo râu cắt tóc nữa, lâu ngày tóc phủ xuống cả cổ và râu dài tới ngực. Tất cả đều bạc phơ.

"Ồ, tôi nghĩ bà cũng như tôi thôi, làm sao quên cái ngày ấy được. Lúc tôi đón bà ở cổng trường ấy mà, đưa bà về gần tới nhà, tôi đã thu hết can đảm cầm lấy bàn tay phải bà.Tôi còn nhớ rõ là bàn tay phải bà, đúng không? Mất bao ngày đêm đắn đo suy nghĩ mãi tôi mới dám liều đấy. Tôi nhớ ngón tay trỏ của bà còn dính chút mực tím. Tôi thấy bàn tay bà run rẩy rút vội ra và nhìn trước sau sợ có người trông thấy. Rồi bà bước mau như muốn chạy trốn. Tôi cứ đứng ngây người nhìn theo bà và sợ bà giận. Đêm đó tôi thao thức mãi, vừa lo âu vừa sung sướng. Bàn tay bà mềm mại thơm tho quá. Hôm sau tôi đến cổng trường bà sớm hơn mọi ngày và hồi hộp chờ đợi. Sao mà lúc đó thời giờ trôi chậm thế. Khi bà cắp cặp đi ra. Nhìn thấy tôi bà làm bộ như không thấy. Tôi tưởng bà giận thật, lẽo đẽo theo sau năn nỉ và cả xin lỗi nữa. Bà nói khẽ, mắt vẫn nhìn thẳng: "Cấm không được làm như hôm qua nữa đấy! Coi chừng bọn bạn. Hình như chúng nó đã sinh nghi, theo dõi". Thì ra bà không giận tôi, vì tôi ngu đần nên tưởng thế. Sau này bà mới thổ lộ là cũng rất hồi hộp xúc động khi bàn tay tôi nắm bàn tay bà. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời cầm tay người con gái, tâm hồn tôi bay bổng trên trời xanh, cảm tưởng mình là kẻ sung sướng nhất trần gian. Chắc bà khi đó cũng có cùng ý nghĩ như tôi, có phải vậy không? Tôi đoán đúng mà. Hà hà… À, mà sau đó, hình như đến mấy tháng thì phải, không chịu nổi nữa tôi đánh bài liều. Đi đến nơi góc phố, nhìn quanh không thấy bóng người, tôi ôm vội lấy bà và hôn nhẹ lên má bà một cái. Trời ơi, thiên đường niết bàn là đây chứ còn phải tìm ở đâu nữa! Tôi không hiểu sao lúc đó bà lại đứng im cho tôi làm cái việc đó. Kìa, bà nói đi. Cái má bà trắng hồng và… thơm thơm quá chừng! Sao, khi đó bà ngượng cứng người à?". Ông Thụy nói một hồi dài có vẻ mệt và mắt vẫn nhìn sang bên, hệt như ngày bà còn sống đang cất bước bên ông. Rồi ông ngồi bệt xuống bên vệ đường và... thở. Lát sau, chừng như đỡ mệt ông đứng lên nói: "Ta đi tiếp chứ, bà. Mặt trời còn cao mà!". Và ông lại tiếp tục nói tới những kỷ niệm xa xưa. Thỉnh thoảng ông quay sang trái hay sang phải, có khi ngừng bước như chờ bà, hỏi: "Có phải thế không bà? Bây giờ tôi vẫn nhớ như in, như mới xẩy ra ngày hôm qua...". Ngưng chút ông nói tiếp: "Thế rồi bà biết không? Hôm người ta tới nhà bà rước dâu ấy mà, tôi đứng mãi tận đằng xa nhìn. Bà mặc cái áo gấm dài mầu đỏ, khăn đỏ đội trên đầu… Tim tôi muốn vỡ ra từng mảnh. Sau này nghe người ta kể lại khi bước lên xe hoa bà đã khóc. Tôi không hiểu ý nghĩa những giọt nước mắt này, vì các cụ ta thường nói "khốc như thiếu nữ vu quy". Vậy đó là những giọt nước mắt sung sướng hay đau khổ?".

Ông lại ngừng nói và vô tình ngước nhìn lên bầu trời mùa đông về chiều và như trực nhớ ra không có bà ở bên liền kêu lên thảng thốt:

- "Ô, bây giờ bà đang ở đâu? Có phải bà đang ngự trên chín tầng thức mây thăm thẳm kia và ngó xuống nhìn tôi tủm tỉm cười? Bà dứt hết nợ trần thật rồi sao? Bà để lại tôi một mình cất bước trên con đường này sao? Bà Liên! Bà Liên!".

Ông nói to như hét. Con trai ông hoảng hốt chạy tới dìu ông ra xe.

Thanh Thương Hoàng
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#96 Posted : Wednesday, August 25, 2021 3:26:51 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

* Vần thơ x/h nguyên vận của Trầm Vân và HONG VU LAN NHI

Dường Như

Dường như
trong mái tóc bay
Có mùi hương nhớ rót đầy chiều trôi
Dường như
trong nắng ngút trời
Có lời ly biệt khô môi chiều tàn

Dường như
con sóng ly tan
Vỗ về một thưở nồng nàn bên nhau
Dường như
con gió ngút sầu
Thổi về những mảnh trăng khâu mối tình

Dường như
cuối nẻo thác ghềnh
Có dòng suối mát chảy lênh láng bờ
Dường như
trong giấc người mơ
Có ngan ngát nhớ tiếng thơ tôi về

Trầm Vân


Mỗi Lần ...

Mỗi lần
dõi cánh chim bay
Dường như thấy được đọa đầy nổi trôi
Mỗi lần
nhìn ngắm bầu trời
Dường như vũ trụ đổi ngôi hoang tàn.

Mỗi lần
chia biệt, ly tan
Dường như dạ xót, hồn tàn trong nhau
Mỗi lần
lòng ngập biển sầu
Dường như xát muối hằn đau cuộc tình.

Mỗi lần
nhìn suối thác ghềnh
Dường như ta ước lênh đênh xa bờ
Mỗi lần
gặp gỡ trong mơ
Dường như buồn lúc người đưa ta về ...

HONG VU LAN NHI
6/4/2016

Edited by user Wednesday, August 25, 2021 3:32:07 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#97 Posted : Wednesday, August 25, 2021 3:42:40 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage


* Vần thơ x/h nguyên vận của KHIEU NHU LONG và HONG VU LAN NHI


ĐỜI VẪN LÃNG DU......

(Như một lời cám ơn cô chủ quán )

Đời lãng du ta lại ra đi
Nhìn em không biết nói năng gì
Bên sông dòng nưóc nhiều lưu luyến
Quán hẹn hương tình như ưót mi

Quán bên sông giờ đã vào thu
Bâng khuâng trời chớm lạnh sương mù
Gió đâu hiu hắt sao buồn quá
Giọng hát ai buồn như tiếng ru

Ta sẽ về trên một dòng sông
Nhìn em trong xác pháo tưoi hồng
Dù tim ta vỡ từng muôn mảnh
Nhưng vẫn yêu ngưòi em biết không

Ta sẽ đi phưong ấy thật xa
Đời ta lữ khách kiếp xa nhà
Hành trang là những sầu rơi rụng
Em có bao giờ nhớ đến ta

KHIEU NHU LONG


THUYỀN VẪN TRÔI XUÔI

Mây xám giăng trời tiễn người đi
Nhìn nhau lặng lẽ, thiết tha gì?
Bên bờ sông vắng, thuyền xa bến
Buồn ai rớt lại đọng trên mi.

Sương xuống, lạnh về, đã chớm Thu
Trời vương vương nắng lấp sa mù
Cánh chim bay khuất trời cao rộng
Mơ hồ theo gió tiếng ngân ru.

Bềnh bồng thuyền lướt nhẹ trên sông
Lửa bếp nhà ai đốm ánh hồng
Làn khói vương buồn bay hờ hững
Chuông chùa lan tỏa cõi hư không.

Tiếng chèo khua nước, mãi dần xa
Thấp thoáng hàng cau, ẩn mái nhà
Trong đêm nghe tiếng tầu cau rụng
Ngỡ tiếng lòng ai vọng đến ta.

HONG VU LAN NHI
1/23/2008

Edited by user Wednesday, August 25, 2021 3:53:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#98 Posted : Tuesday, August 31, 2021 10:05:17 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

Câu chuyện "Túi gạo của Mẹ"


Cái nghèo cái đói thường trực trong ngôi nhà nhỏ này, nhưng dường như, nỗi cơ cực bần hàn ấy không buông tha họ. Cậu con trai bắt đầu cắp sách đến trường cũng là lúc nỗi mất mát lớn bỗng nhiên đổ ập xuống đầu họ. Cha qua đời vì cơn bạo bệnh. Hai mẹ con tự tay mình mai táng cho người chồng, người cha vắn số.

Người mẹ góa bụa ở vậy, chị quyết không đi bước nữa. Chị biết, bây giờ chị là chỗ dựa duy nhất cho con trai mình. Chị cặm cụi, chăm chỉ gieo trồng trên thửa ruộng chật hẹp, tài sản quý giá nhất của hai mẹ con chị. Ngày qua ngày, năm nối năm, những tấm giấy khen của cậu con trai hiếu học dán kín cả bức tường vôi nham nhở. Nhìn con trai ngày một lớn lên, ngoan ngoãn, học hành giỏi giang, nước mắt bỗng lăn trên gò má chị.

Học hết cấp hai, cậu thi đậu vào trường cấp ba trọng điểm của thành phố. Gánh nặng lại oằn lên vai người mẹ. Thế nhưng không may thay, khi giấy báo trúng tuyển về đến tay cậu cũng là lúc mẹ cậu ngã bệnh. Căn bệnh quái ác làm chị liệt nửa chi dưới. Vốn là lao động chính của gia đình, giờ chị chẳng thể đi lại bình thường như xưa nữa, nói chi đến chuyện làm nông. Cậu bé vốn hiểu chuyện, thương mẹ vất vả, cậu xin nghỉ học:

- Mẹ này, con nghỉ học thôi, ở nhà làm ruộng thay mẹ. Đi học, tiền đâu mà đóng học phí, tiền sinh hoạt phí, lại còn một tháng nộp 15 cân gạo nữa, nhà mình biết lấy đâu ra.

- Có thế nào con cũng không được bỏ học. Con là niềm tự hào của mẹ. Chỉ cần con chăm chỉ học hành, còn những việc khác, con không phải bận tâm.

Hai mẹ con tranh luận rất lâu, cậu kiên quyết không đi học nữa vì không muốn mẹ mình khổ. Cậu trở nên ngang bướng và lì lợm. Phải đến khi nóng nảy quá không kiềm chế được, mẹ cậu giơ tay tát cậu một cái vào má, cậu mới sững người lại. Đây là cái tát đầu tiên trong đời cậu con trai mười sáu tuổi. Mẹ cậu ngồi thụp xuống đất và khóc nức nở…

Nghe mẹ, cậu khăn gói vào trường nhập học. Lòng cậu nặng trĩu. Người mẹ đứng lặng hồi lâu, nhìn bóng con trai khuất dần…

Ít lâu sau, có một người mẹ lặc lè vác bao tải dứa, chân thấp chân cao đến phòng giáo vụ. Chị nộp gạo cho con trai. Chị là người đến muộn nhất. Đặt bao gạo xuống đất, chị đứng thở hổn hển một hồi lâu rồi nem nép đi vào.

Thầy Hùng phòng giáo vụ nhìn chị, nói:

- Chị đặt lên cân đi. Mở túi gạo ra cho tôi kiểm tra.

Chị cẩn thận tháo túi.

Liếc qua túi gạo, hàng lông mày của thầy khẽ cau lại, giọng lạnh băng:

- Thật chẳng biết nên nói thế nào. Tôi không hiểu sao các vị phụ huynh cứ thích mua thứ gạo rẻ tiền đến thế cho con mình ăn. Đấy, chị xem. Gạo của chị lẫn lộn đủ thứ, vừa có gạo trắng vừa có gạo lức lẫn gạo mốc xanh đỏ, cả cám gạo nữa, đây còn có cả ngô nữa… Thử hỏi, gạo thế này, chúng tôi làm sao mà nấu cho các em ăn được. Thầy vừa nói vừa lắc đầu.

- Nhận vào.

Thầy nói, không ngẩng đầu lên, đánh dấu vào bảng tên của học sinh.

Mặt người mẹ đỏ ửng lên. Chị khẽ khàng đến bên thầy nói:

- Tôi có 5 đồng, thầy có thể bổ sung vào thêm cho cháu để phụ tiền sinh hoạt phí được không thưa thầy?

- Thôi, chị cầm lấy để đi đường uống nước.

Thầy nói và vẫn không ngẩng đầu lên nhìn người phụ nữ tội nghiệp đang loay hoay, khổ sở, mặt đỏ ửng lên, chân tay thừa thải vì chẳng biết làm thế nào.

Chị chào thầy rồi lại bước thấp bước cao ra về.

~*~

Đầu tháng sau, chị lại đến nộp gạo cho con trai. Thầy lại mở túi gạo ra kiểm tra rồi lại cau mày, lắc đầu. Thầy có vẻ lạnh lùng, ác cảm:

- Chị lại nộp loại gạo như thế này sao? Tôi đã nói phụ huynh nộp gạo gì, chúng tôi cũng nhận, nhưng làm ơn phân loại ra, đừng trộn chung như thế này. Chúng tôi làm sao mà nấu cơm cho ngon để các em ăn được? Chị nghĩ thử xem, với loại gạo hổ lốn thế này, liệu chúng tôi có thể nấu cơm chín được không? Phụ huynh như các chị không thấy thương con mình sao?

- Thầy thông cảm. Thầy nhận cho, ruộng nhà tôi trồng được chỉ có thế! Người phụ nữ bối rối.

- Thật buồn cười cái nhà chị này! Một mảnh ruộng nhà chị có thể trồng đến hàng trăm thứ lúa thế sao?

- Nhận vào!

Giọng thầy gằn từng tiếng và vẫn không ngẩng đầu lên nhìn chị.

Người mẹ im bặt, mặt chị trở nên trắng bệch, nhợt nhạt. Chị lí nhí cảm ơn thầy rồi lại lặng lẽ bước thấp, bước cao ra về. Dáng chị liêu xiêu, đổ vẹo trong cái nắng trưa hầm hập như đổ lửa.

~*~

Lại sang đầu tháng thứ ba của kỳ nộp gạo. Chị lại đến. Vẫn dáng đi xiêu vẹo, mồ hôi mướt mải trên trán, ướt đẫm lưng áo của người mẹ trẻ. Bao gạo nặng dường như quá sức với chị.

Thầy lại đích thân mở túi gạo ra kiểm tra. Lần này, nét giận dữ in hằn trên mặt thầy. Thầy rành rọt từng tiếng một như nhắc để người phụ nữ ấy nhớ:

- Tôi đã nói với chị thế nào. Lần này tôi quyết không nhân nhượng chị nữa. Chị làm mẹ mà sao ngoan cố không thay đổi thế này. Chị mang về đi. Tôi không nhận!

Người mẹ thả phịch bao gạo xuống đất. Dường như bao nỗi ấm ức, đau khổ và bất lực bị dồn nén bao ngày đột nhiên bừng phát. Chị khóc. Hai hàng nước mắt nóng hổi, chan chứa trên gương mặt sớm hằn lên nét cam chịu và cùng quẫn. Có lẽ, chị khóc vì tủi thân và xấu hổ. Khóc vì lực bất tòng tâm.

Thầy Hùng kinh ngạc, không hiểu đã nói gì quá lời khiến cho người phụ nữ trẻ khóc tấm tức đến thế.

Chị kéo ống quần lên để lộ ra đôi chân dị dạng. Một bên chân quắt queo lại.

- Thưa với thầy, gạo này là do tôi... tôi đi ăn xin, gom góp lại bao ngày mới có được. Chẳng giấu gì thầy, chân cẳng tôi thế này, tôi làm ruộng thế nào được nữa. Cháu nó sớm hiểu chuyện, đòi bỏ học ở nhà giúp mẹ làm ruộng. Thế nhưng tôi kiên quyết không cho, kiên quyết không để con tôi thất học. Có học mới mong thoát khỏi cảnh cơ cực này. Nhà chỉ có hai mẹ con, cha cháu mất sớm... Thầy thương tình, thầy nhận giúp cho. Không nộp gạo, con tôi thất học mất!

Người mẹ trẻ này đều đặn ngày nào cũng thế. Trời còn tờ mờ, khi xóm làng còn chưa thức giấc, chị lặng lẽ chống gậy, lê mình rời khỏi thôn. Chị đi khắp hang cùng, ngõ hẻm xóm khác xin gạo. Đi mãi đến tối mịt mới âm thầm trở về. Chị không muốn cho mọi người trong thôn biết.

Lần này người bị xúc động mạnh lại là thầy Hùng. Thầy đứng lặng hồi lâu rôi nhẹ nhàng đỡ chị đứng lên. Giọng thầy nhỏ nhẹ:

- Chị đứng lên đi, người mẹ trẻ! chị làm tôi thực sự bất ngờ. Tôi đã có lời không phải với chị. Thôi thế này, tôi nhận. Tôi sẽ thông báo với trường về hoàn cảnh của em học sinh này, để trường có chế độ học bổng hỗ trợ cho học sinh vượt khó.

Người mẹ trẻ đột nhiên trở nên cuống quýt và hoảng hốt. Chị gần như chắp tay vái lạy thầy. Giọng chị van lơn:

- Xin thầy. Tôi có thể lo cho cháu, dù không đủ đầy như các bạn nhưng tôi lo được. Khổ mấy, vất vả mấy tôi cũng chịu được. Chỉ xin thầy đừng cho cháu hay chuyện này. Đây là bí mật của tôi, mong thầy giữ kín giùm cho.

Chị kính cẩn cúi đầu chào thầy, người mà chị mang một hàm ơn lớn, đưa tay quệt mắt rồi lại nặng nhọc, liêu xiêu bước thấp, bước cao ra về.

Lòng thầy xót xa.

Thầy Hùng đem câu chuyện cảm động này báo với hiệu trưởng. Ban giám hiệu trường giữ bí mật này tuyệt đối. Nhà trường miễn phí toàn bộ học phí và sinh hoạt phí cho cậu học sinh có hoàn cảnh đặc biệt này. Ngoài ra, học lực của cậu rất khá, đủ tiêu chuẩn nhận được học bổng của trường.

Cuối cấp, cậu dẫn đầu trong danh sách những học sinh xuất sắc của trường. Cậu thi đậu vào trường đại học danh tiếng nhất của thành phố.

Trong buổi lễ vinh danh những học sinh ưu tú, khi tên cậu được xướng lên đầu tiên, mẹ cậu lặng lẽ đứng ở một góc khuất, mỉm cười sung sướng.

Có một điều rất lạ rằng trên sân khấu hôm ấy, có ba bao tải dứa sù sì được đặt trang trọng ở một góc phía ngoài cùng, nơi mọi người có thể dể dàng nhìn thấy nhất. Ai cũng thắc mắc, không hiểu bên trong ấy chứa thứ gì.

Trong buổi lễ trang nghiêm ấy, thầy hiệu trưởng rất xúc động và kể lại câu chuyện người mẹ trẻ đi ăn xin nuôi con học thành tài.

Cả trường lặng đi vì xúc động. Thầy hiệu trưởng ra dấu cho thầy Hùng phòng giáo vụ đến mở ba bao tải ấy ra. Đó là ba bao gạo mà người mẹ với đôi chân tật nguyền lặn lội khắp nơi xin về.

Thầy nói:

- Đây là những hạt gạo mang nặng mồ hôi và nặng tình của người mẹ yêu con hết mực. Những hạt gạo đáng quý này, tiền, vàng cũng không thể mua nổi. Và sau đây, chúng tôi kính mời người mẹ vĩ đại ấy lên sân khấu.

Cả trường lại một lần nữa lặng người đi vì kinh ngạc. Cả trường dồn mắt về phía người phụ nữ chân chất, quê mùa đang được thầy Hùng dìu từng bước khó nhọc bước lên sân khấu.

Cậu con trai cũng quay đầu nhìn lại. Cậu há hốc miệng kinh ngạc. Cậu không thể ngờ rằng người mẹ vĩ đại ấy không ai khác chính là người mẹ thân yêu của cậu.

- Chúng tôi biết, kể ra câu chuyện này sẽ khiến cậu học sinh ưu tú nhất trường bị chấn động rất mạnh về tâm lý. Thế nhưng, chúng tôi cũng mạn phép được nói ra vì đó là tấm gương sáng, tấm lòng yêu thương con vô bờ bến của người mẹ. Điều đó hết sức đáng quý và đáng được trân trọng vô cùng. Chúng tôi muốn thông qua câu chuyện cảm động này, giáo dục các em học sinh thân yêu của chúng ta về đạo đức và lối sống, về tình người và những nghĩa cử cao đẹp. Hôm nay, một lần nữa chúng ta vinh danh những người cha, người mẹ đã cống hiến, hy sinh cả đời mình vì tương lai con em…

Giọng thầy hiệu trưởng đều đều, ấm áp và hết sức xúc động. Tai cậu ù đi, cậu chẳng nghe thấy gì nữa cả, mắt cậu nhòe nước. Mẹ cậu đứng đó, gầy gò, khắc khổ, mái tóc đã sớm điểm bạc, mắt bà cũng chan chứa niềm hạnh phúc và ánh mắt ấm áp, yêu thương ấy đang hướng về phía cậu với cái nhìn trìu mến.

Người phụ nữ ấy run run vì chưa bao giờ đứng trước đám đông. Run run vì những lời tốt đẹp mà thầy hiệu trưởng đã dành cho mình. Với chị, đơn giản, tất cả chỉ xuất phát từ tình yêu bao la mà chị giành cho con trai. Chị không nghĩ được thế nào là sự hy sinh hay đạo lý lớn lao ấy.

Cậu con trai cao lớn đứng vụt dậy, chạy lên ôm chầm lấy mẹ mà mếu máo khóc thành tiếng:

- Mẹ ơi! Mẹ của con…

Linh Đan (dịch từ truyện ngắn khuyết danh của Trung Quốc)

Edited by user Tuesday, August 31, 2021 11:15:26 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#99 Posted : Thursday, September 2, 2021 11:21:34 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
UserPostedImage

MỘT NGÀY THÁNG CHÍN

Sáng tháng Chín, nắng hanh vàng hiu hắt
Một mình ngồi nhìn giọt cà phê rơi
Ly thủy tinh, trắng tinh tuyền, trong vắt
Tôi soi tôi, nhìn thấu suốt cuộc đời.

Trưa tháng Chín, khoảnh vườn im bóng lá
Ngát hương thơm từ cây Bưởi cây Cam
Màu đỏ Lựu, màu Quất vàng, quyến rũ
Gió đâu rồi, mà quên cả về thăm.

Chiều tháng Chín, không gian buồn lặng lẽ
Nắng nhạt nhòa lan tỏa cuối chân mây
Nỗi nhớ nào gieo sầu vương, quạnh quẽ
Lòng hiu hiu nhìn bóng tối phủ đầy.

Tối tháng Chín, ngọn đèn mờ soi lối
Hắt lên tường, một bóng dáng cô đơn
Bóng ủ rũ, bóng thẫn thờ, mòn mỏi
Bóng vì ai mà quay quắt, tủi hờn.

Khuya tháng Chín, ánh trăng huyền hoặc quá
Gợi bao nhiêu kỷ niệm đã qua rồi
Đôi mắt đó, bây giờ thành xa lạ
Giọng ấm trầm, giờ cũng đã xa xôi.

HONG VU LAN NHI
9/23/2011

Edited by user Thursday, September 2, 2021 11:30:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#100 Posted : Saturday, September 4, 2021 12:18:41 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,655

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Chim Sáo Ngày Xưa

Nhớ em ngày ấy thẹn thùng
Tóc trăng đêm gội môi hồng sớm trưa
Đôi tà áo lượn nắng mưa
Nghiêng hàng cây đón gió lùa tóc lơi

Bên này e ấp nụ cười
Phía kia nghiêng nửa bờ môi dịu dàng
Nước trôi mấp mé thiên đàng
Mơ tôi chung chuyến đò ngang bên người

Mối tình câm lặng lẽ trôi
Pháo hồng một buổi đầy trời bão giông
Ai xui chim sáo sang sông
Để cho chim sáo xổ lồng bay đi

Gió nghiêng qua tuổi xuân thì
Mang theo đêm trắng một vì sao rơi
Mang theo cay đắng tình tôi
Bơ vơ lạc giữa bến đời hoang vu

Tay chèo thương nhớ qua mơ
Lạnh đưa con sóng tới bờ không tên...
Tình yêu một dải lụa mềm
Bao năm thắt nhớ gặp em không ngờ

Em cười lúng liếng môi thơ
Hỏi tôi thưở đó có mờ mịt quên ?
Em ơi tình trốn lại tìm
Giá như ngày ấy nói lên tiếng lòng

Trầm Vân

Edited by user Saturday, September 4, 2021 12:19:28 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest
6 Pages«<3456>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.