Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

84 Pages«<7677787980>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1541 Posted : Saturday, March 27, 2021 6:02:27 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Bryan Adams - Ngựa chiến hoang dã

Gia Trình - RFI - 27/03/2021
Nổi tiếng với chất giọng khàn mạnh mẽ, Bryan Adams của bản ballad bất hủ Everything I do, I Do it for you giờ bước sang tuổi 62. Ông vừa là ca sỹ, nhạc sỹ sáng tác, thợ nhiếp ảnh, nhà hoạt động xã hội. Sức sáng tạo của nam ca sỹ người Canada vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt sau gần 40 năm đỉnh cao trong làng âm nhạc thế giới.

Sự nghiệp âm nhạc trải dài bốn thập niên

Năm 1991, bản hit trong bộ phim ăn khách Robin Hood, Everything I do đã đưa tên tuổi Bryan Adam nổi tiếng trên toàn cầu. Ca khúc trụ hạng nhất trong 16 và 18 tuần liên tiếp tại Anh và châu Âu và tiêu thụ đến hơn 15 triệu bản. Chính vì thành công quá lớn này, khán giả lầm tưởng Adams chỉ có duy nhất bản hit để đời trong sự nghiệp. Trên thực tế, vô số các bản hit của Adams được đón nhận từ sự nghiệp âm nhạc chớm nở từ giữa thập niên 1970 đến nay.

Năm 1983, album Cuts like a knife (Cắt như vết dao) chính thức đưa tên tuổi Bryan Adams chinh phục giới phê bình và khán giả. Album có hai đĩa đơn ăn khách lọt vào bảng xếp hạng Billboard top 10 và 15. Sau đó, một loạt các bản ballad mạnh mẽ ra đời, khẳng định tên tuổi của ngôi sao nhạc rock như Heaven, Summer of 69, Run to You, It’s only love (song ca với Tina Turner).

Hơn 30 năm sau, ngọn lửa âm nhạc của Adams vẫn tiếp tục bùng cháy trên sân khấu và trong phòng thu. Adams đã chia lửa sân khấu trong bản hit Summer of 69 với công chúa nhạc pop Taylor Swift trong tour lưu diễn Reputation tour năm 2018. Năm 2019, ông trình làng album Shine a Light (Toả sáng) cộng tác với ngôi sao trẻ Ed Sheeran và ngôi sao La-tinh Jennifer Lopez. Album này leo lên hạng 1 tại bảng xếp hạng Canada và hạng 2 tại Anh Quốc. Nguồn năng lượng sáng tác và biểu diễn của nam danh ca chưa có dấu hiệu suy xuyển kể cả khi ông đã kỷ niệm sinh nhật tuổi 60.

Chất giọng khàn ấn tượng

Điểm đặc biệt nhất của Bryan Adams chính là giọng khàn khoẻ khắn và nam tính. Khán giả dễ dàng nhận ra chất giọng của ông giữa vô vàn chất giọng nam khác. Nhờ sự giúp đỡ của nhà sản xuất kỳ cựu Wallace, nam ca sỹ đã luyện tập được chất giọng đặc trưng mang dấu ấn cá nhân. Hơn thế với giọng khàn, Adams được coi là một trong những rocker vĩ đại nhất mọi thời đại, đặc biệt khi trình diễn live.

Giọng Bryan Adams luôn được đem ra so sánh với các chất giọng khàn nổi tiếng như Richard Marx, Rod Stewart, Joe Cockers, Bruce Springsteen. Chuyên gia luyện giọng Matt Williams đã mô tả : “Nổi tiếng với chất giọng khàn sát thủ, Bryan Adams, người chuyên mặc áo thun, quần jeans, đã viết nên giai điệu không thể nào quên”. Có lẽ vì thế, khi bộ ba rocker Bryan Adams, Rod Stewart, Sting hợp tác trong bản ballad All for love (Tất cả vì tình yêu) trong bộ phim Three Musketeers (Ba chàng lính ngự lâm) tạo nên hiệu ứng đặc biệt. Từng đem ra so sánh với Rod Stewart, giọng khàn của Adams vẫn có bản sắc riêng, nhờ thế giữ thế “kiềng ba chân” trong bản hit thành công này.

Những mối quan hệ tình cảm

Những bản tình ca đẹp của Adams dường như phản ánh trung thực hàng loạt mối quan hệ tình cảm ngoài đời. Bryan Adams từng bị nghi ngờ có mối quan hệ với công nương Diana khi sáng tác hẳn một ca khúc tựa đề Diana như để tặng riêng bà. Cho dù bạn gái cũ xác nhận điều này, Bryan Adams chỉ khẳng định với báo giới đó là mối quan hệ bạn bè “rất thân thiết”. Hơn thế nữa, các bóng hồng gắn bó với Bryan Adams đều rất nổi tiếng. Hai người mẫu sáng giá thập niên 1990 là Elle MacPherson (người Úc) và Linda Evangelista (người Canada) đều xác nhận.

Ngoài ra, ông còn có mối quan hệ với người mẫu, diễn viên Đan Mạch, Cecilie Thomsen. Thomsen từng xuất hiện trong vai Bond girl, phim Tomorrow Never Dies (1997). Cô là người duy nhất trong số người tình của Bryan Adams xuất hiện trong video clip ca nhạc Have you ever really loved a woman? Ca khúc được chọn là nhạc bộ phim tình cảm lãnh mạn Don Juan DeMarco (1995) do nam tài tử Johnny Depp thể hiện. Một lần nữa, Adams bén duyên với màn bạc với tài năng viết nhạc phim cùng hai nhạc sỹ khác là Micheal Kamen và John Mutt Lange.

Hiện tại, Bryan Adams đang chung sống với trợ lý riêng Alicia Grimaldi kém ông 20 tuổi. Hai người gắn bó với nhau từ năm 2011 có chung hai con gái sinh năm 2011 và 2013.

Nghề sáng tác và biểu diễn lão luyện

Trong album gần nhất Shine A Light, Bryan Adams chứng tỏ tài năng sáng tác lão luyện và chắc tay. Việc hợp tác của Adams với các nghệ sỹ trẻ cũng khá trôi chảy và mang tính xây dựng. Ca khúc chủ đề album dành tặng cho cha mẹ Adams vì cha ông mất sớm. Dựa trên ý tưởng bài hát tặng cha, Bryan Adams chia sẻ ý tưởng với Ed Sheeran qua email. Họ cùng gặp gỡ tại Ailen trong tour lưu diễn, trao đổi ý tưởng. Adams viết phần điệp khúc và gửi lại để Ed Sheeran viết tiếp. Cả hai cùng hoàn thiện sau khi trao đổi với nhà sản xuất của Bryan Adams.

Còn chuyện hợp tác với Jennifer Lopez chỉ sau một cú điện thoại trao đổi với người quản lý J.Lo. Tương tự, sau khi song ca với Taylor Swift với Summer of 69, Adams cho rằng The Last Night On Earth sẽ là bản nhạc phù hợp để hợp tác với Swift. Bản nhạc Driving Under The Influence Of Love (Lái xe trước áp lực tình yêu) được Adams viết để tặng cho nam danh ca Joe Cocker trước khi Cocker qua đời.

So với việc hợp tác, Bryan Adams cũng rất sắc bén khi sáng tác một mình. Nhạc cảm tốt và tài năng thiên bẩm mới có thể xây dựng sự nghiệp bền vững đến thế. Kỷ lục sáng tác nhanh nhất của Adams là bản hit Everything I do khi ông chỉ mất 45 phút để hoàn thiện bản nhạc. Adams bày tỏ sự thích thú với việc viết nhạc phim. Ông nhấn mạnh vào việc chuyển những câu chuyện trên màn bạc thành giai điệu với nhiều cung bậc cảm xúc. Điều đó thực sự làm nghệ sỹ này hưng phấn và đam mê.

Trước khi nổi tiếng vào thập niên 1980, Adams từng viết nhạc cho nhiều nghệ sỹ tên tuổi như nhóm hardrock Kiss và nữ nghệ sỹ Bonnie Ratt. Nguồn năng lượng sáng tạo và biểu diễn của ông đã khiến ông bứt phá mạnh mẽ để khiêm nhiệm hai vai trò ca sỹ - nhạc sỹ sáng tác. Tuổi tác không giảm sút sự nhanh nhạy của Adams trong việc mở rộng mối quan hệ tốt, đặc biệt với nhà sản xuất Bob Rock. Rock từng là đạo diễn cho sự thành công của các nhóm rock tên tuổi Bon Jovi, Metallica và danh ca Michael Buble.

Ca khúc Don’t look back (Đừng ngoảnh lại) kể về một người đàn ông gặp khó khăn khi tìm kiếm kết cục hạnh phúc. Nhưng điều đó không mô tả sự nghiệp Bryan Adams, một ngựa chiến hoang dã không bao giờ chịu dừng cuộc chơi. Đó là một thái độ kiên trì và đam mê không bỏ cuộc của nghệ sỹ lớn : “Tôi không tin vào kết thúc, tôi muốn tiếp tục đi tiếp”.

(Theo Classic Pop, TheGuardian)


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1542 Posted : Sunday, March 28, 2021 9:05:17 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

(Reuters) – Barcelona hồi sinh với một đêm văn nghệ tập hợp khoảng 5.000 khán giả trong mùa dịch Covid-19. Tây Ban Nha vừa thử nghiệm mô hình tổ chức đêm nhạc hội quy tụ hàng ngàn người bất chấp virus corona. Đêm 27/03/2021 khoảng 5.000 khán giả đã thưởng thức buổi trình diễn của ban nhạc Love Of Lesbian. Không một ai đeo khẩu trang hay phải giữ khoảng cách an toàn y tế … Nhưng đây là một cuộc thử nghiệm. Để vào cửa, tất cả khán giả đều phải được chứng nhận là không bị nhiễm virus corona. Trong những ngày tới số này sẽ phải xét nghiệm trở lại một lần nữa. Nếu kết quả an toàn, thì đây sẽ là một hình thức mới để làm sống lại các hoạt động văn hóa ở Tây Ban Nha và có thể là được áp dụng tại nhiều nơi khác nữa ở châu Âu./RFI

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1543 Posted : Monday, March 29, 2021 8:10:49 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Chuyện chưa kể về ca khúc Pháp " Je Suis Malade"

Tuấn Thảo - RFI
Chỉ cần nghe những nốt nhạc dạo đầu trỗi lên từ phím đàn dương cầm, đa số người yêu nhạc Pháp đều nhận ra ngay tình khúc Je Suis Malade. Căn bệnh trầm kha được nhắc tới trong tựa đề bài hát là nỗi sầu tương tư. Thế nhưng mãi tới những năm sau này, hai tác giả người Pháp mới chịu vén màn bí mật, tiết lộ những câu chuyện chưa nói đằng sau một ca khúc để đời.

Được phát hành vào năm 1973, Je Suis Malade là ca khúc chủ đề của tập nhạc cùng tên do nam ca sĩ Serge Lama viết với tác giả Alice Dona. Đây là album thứ tư trong số 35 tập nhạc mà ông đã ghi âm trong đời, nhưng lại là album đầu tiên giúp cho Serge Lama chấp cánh vươn lên đỉnh cao thành công.

Chỉ riêng tại Pháp, album này trở thành đĩa kim cương, sau khi vượt qua ngưỡng một triệu bản. Bản nhạc Je Suis Malade ra đời nhờ vào sự hợp tác của hai tài năng : Alice Dona soạn toàn bộ giai điệu, Serge Lama đặt lời cho ca khúc với hai lần chỉnh sửa.

Bài hát được viết từ góc nhìn của một người đàn ông, tâm tư bị dày vò đến đỗi lười ăn biếng ngủ. Nỗi sầu tương tư của nhân vật trong bài hát làm cho ta nghĩ tới một mối tình đơn phương, với bao trộm nhớ thầm thương. Thế nhưng, câu chuyện thật đằng sau ca khúc này lại là một mối tình tay ba, với nhiều cảnh ngang trái xót xa.

Vào năm 1965, Serge Lama gặp tai nạn xe cộ trên đường lưu diễn miền nam nước Pháp. Ông may mắn thoát chết nhưng người vợ chưa cưới của ông thời bấy giờ (cô Liliane Benelli) cũng như người anh trai ruột của Enrico Macias lại không sống sót sau tai nạn. Serge Lama buộc phải ngưng biểu diễn, và phải trải qua 14 lần giải phẫu trong vòng hai năm.

Chính trong khoảng thời gian này, ông làm quen với Daisy Brun, nguyên là thư ký làm việc cho hãng đĩa Philips. Ngoài việc giúp đỡ ông về mặt nghề nghiệp, Daisy còn là một chỗ dựa về mặt tinh thần. Phải chăng vì biết ơn cô mà Serge Lama đã ngỏ lời cầu hôn Daisy vào tháng 12 năm 1968, ba năm sau ngày hai người quen nhau.

Theo lời kể gần đây của chính tác giả Alice Dona, sau khi cưới vợ Serge Lama tưởng chừng từ nay an bề gia thất, yên vui với cuộc sống vợ chồng, nào ngờ chỉ vài năm sau khi lập gia đình, nam ca sĩ Pháp lại gặp phải một cú sét ái tình, ông ngã lòng yêu tha thiết một người đàn bà khác (tên là Michèle). Một bên là ân nhân, cưu mang chăm sóc ông trong những lúc khó khăn hoạn nạn, còn một bên là tình nhân, với bao niềm đam mê cuồng nhiệt. Điều đó làm cho ông điêu đứng khổ sở, đứng ngồi không yên, do bị kẹt giữa hai mối tình.

Nhân một bữa ăn tối, tác giả Alice Dona mới được nghe Serge Lama kể lại đầu đuôi câu chuyện. Điều làm cho nam ca sĩ đau đớn nhất là ông buộc phải nói dối với một người mà suốt đời ông phải biết ơn. Xa hơn nữa, hai người đàn bà đều phải khổ vì ông, hoàn cảnh đó khiến cho ông buồn rầu đến sinh bệnh. Về tới nhà lúc trời gần sáng, tác giả Alice Dona không đi ngủ mà lại ngồi vào đàn piano. Bà soạn giai điệu cho bài hát Je Suis Malade chỉ trong vòng 10 phút.

Khói thuốc chẳng còn buông
Rượu sầu nào chưa uống
Đâu rồi những mơ mộng
Vùi chôn giấc ngủ buồn

Ta như trẻ mồ côi
Lạc lõng chốn bỏ rơi
Bên bến tàu ngóng đợi
Từ khi mẹ đã rời

Thân gầy guộc ốm đau
Tim lạnh buốt xanh xao
Vết thương không còn máu
Mà hồn vẫn đớn đau

Vách đá hay vách đời
Dính chặt vào tội lỗi
Cho cây quên nguồn cội
Cúi đầu chờ sám hối

Rượu nồng không còn say
Dù bao chén rót đầy
Hồn nhuốm bệnh hao gầy
Vô cảm từ trong đáy

Người đi giấu lời ca
Trầm kha chốn xóa nhòa
Nghe huyết mạch tan rã
Tuôn trào khỏi hồn ta

Thân hốc hác xanh xao
Tim nhuốm bệnh rỉ máu
Xung quanh bao lũy hào
Giam hồn trong đớn đau

(Bản phóng tác của Tuấn Thảo)


Tình khúc Je Suis Malade trở thành một trong những bản nhạc quen thuộc nhất của làng nhạc Pháp, ăn khách qua nhiều giọng ca hàng đầu trong đó đầu tiên hết có thần tượng Dalida, rồi sau đó mới tới phiên Serge Lama, gần đây hơn có phiên bản của nữ ca sĩ Lara Fabian, hay của Vincent Niclo hát trên sân khấu. Còn trong tiếng Việt, tác giả Lê Xuân Trường từng đặt thêm lời Việt cho bài này với tựa đề ‘‘Không Cần Nói’’ mà các bạn có thể nghe ở phần cuối chương trình qua giọng ca của Angela Trâm Anh.

Một chuỗi nốt nhạc trầm lắng trong khúc dạo đầu để nói lên những sự trăn trở thổn thức, những khoảng cách im lặng giữa từng đoạn để nói lên bao bồn chồn ray rức. Những khoảnh khắc thoáng nghe tưởng chừng dịu êm, ngờ đâu lại dự báo những giông bão sắp tới, ập vào tâm hồn, tàn phá cuộc đời từ lúc nào không hay. Giai điệu của tình khúc Je Suis Malade xen kẽ những đoạn vũ bão cao trào để nói lên cơn đau tình ái, u mê ngang trái, mang nhiều kịch tính và chất tự sự bi ai hợp với những giọng ca nhiều nội lực có làn hơi dài, đầy kinh nghiệm dày dặn từng trải …..

Serge Lama chia tay với người vợ đầu là Daisy Brun vào thời điểm sáng tác bản nhạc (vào năm 1972). Ông sau đó sống chung với bà Michèle nhưng hai người chỉ thành hôn vào năm 1991. Vợ thứ nhì của ông, bà Michèle Chauvier qua đời năm 2016 vào năm 71 tuổi do tai biến mạch máu não. Còn bà Daisy thì lại qua đời trước đó vào năm 2001 vì bệnh ung thư.

Nhìn lại, Je Suis Malade là cơn đau đoạn trường do chất chứa nhiều uẩn khúc nỗi niềm. Có lẽ mãi tới sau ngày qua đời của các nhân vật có liên quan tới bài hát thì câu chuyện đời tư mới được tiết lộ bởi những người trong cuộc, trong đó có Alice Dona. Lời giải thích của hai tác giả về bối cảnh sáng tác bài hát mở thêm một cách đọc hoàn toàn khác : trong tình yêu những người ‘‘hèn nhát’’ nhất thường lắm lời dối gian, yêu chi cho nhức nhối tâm can, đau chi cho đứt hết ruột gan …

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1544 Posted : Thursday, April 1, 2021 6:57:05 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

New York muốn mở lại Broadway vào mùa thu 2021

Tuấn Thảo - RFI - 01/04/2021
Sau các rạp chiếu phim tại Manhattan, các nhà hát cũng như sân khấu Broadway được phép hoạt động trở lại kể từ ngày 02/04/2021 với điều kiện tôn trọng quy định giãn cách xã hội và hạn chế ở mức 100 khán giả. Tuy mang tính tượng trưng, nhưng việc mở lại các nhà hát là bước đầu tiên giúp cho thành phố New York dần dần nối lại với các chương trình văn hóa vào tháng 09/2021.

Để có thể phục hồi toàn bộ các hoạt động văn hóa trong 6 tháng tới, New York muốn thông qua một loạt biện pháp, trong đó có quyển "sổ y tế" ghi rõ các lần chích ngừa hay là việc đăng ký tải mã xác thực "QR code" qua ứng dụng điện thoại di động. Mục đích là để báo động trong trường hợp có lây nhiễm trong khuôn khổ các buổi biểu diễn, đồng thời tạo ra một môi trường sinh hoạt an toàn trong thời Covid-19. Trong cuộc họp báo cuối tuần qua, thị trưởng New York Bill de Blasio đã cam kết bằng mọi cách mở lại vào mùa thu năm nay toàn bộ sân khấu Broadway cũng như tất cả các cơ sở văn hoá lớn trong đó có nhà hát Metropolitan Opera, vốn đã bị đóng cửa kể từ ngày 12/03/2020.

6 tháng để mở lại toàn bộ các sinh hoạt ?

Kể từ cuối tháng 03/2021, New York đã bắt đầu triển khai ứng dụng Excelsior, cho phép những người đã được tiêm chủng, đăng ký tham gia dễ dàng hơn vào các chương trình sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật. Cách xài ứng dụng Excelsior cũng tương tự như việc điền tất cả các thông tin cần thiết trên mạng, cho mỗi lần lấy thẻ lên máy bay (boarding pass). Người sử dụng có thể in trên giấy loại thẻ "kiểm chứng" này mỗi khi vào cửa, hoặc lưu lại màn hình của điện thoại di động để trình thẻ "thông hành" khi có yêu cầu.

Ứng dụng Excelsior được tải miễn phí dễ dàng, sẽ được thử nghiệm trực tiếp vào ngày mai 02/04/2021 tại nhà hát lớn Madison Square Garden, nơi tổ chức các cuộc tranh tài bóng rỗ cũng như các trận đấu khúc côn cầu trên băng (ice hockey). Những khán giả nào đã mua vé vào cửa xem thi đấu buộc phải khai báo cụ thể trên ứng dụng Excelsior hai đợt chích ngừa, liều vắc-xin thứ hai trên nguyên tắc cũng đã được tiêm ít nhất 14 ngày trước khi trận đấu diễn ra. Người chưa được chích ngừa, nếu muốn vào cửa, phải trình kết quả xét nghiệm chẩn đoán PCR, thực hiện trong thời hạn tối đa là 72 giờ trước đó.

Sau hơn một năm chìm trong bóng tối, sân khấu Broadway nói riêng cũng như các nhà hát nói chung bắt đầu nhìn thấy tia sáng cuối đường hầm, và hầu như mọi người trong giới chuyên ngành đều hy vọng sẽ thật sự thoát khỏi tình trạng hiểm nghèo vào mùa thu năm 2021. Tuy nhiên, thời hạn 6 tháng để mở lại toàn bộ các sinh hoạt vẫn được xem là kịch bản rất "lạc quan".

Theo bà Charlotte St. Martin, chủ tịch của tổ chức Broadway League (một liên minh gồm các nhà sản xuất và giới khai thác các nhà hát), quyết định mở lại các sân khấu từ ngày 02/04 chỉ mang tính tượng trưng. Nhiều ban quản lý sẽ vẫn phải đóng cửa nhà hát vì khi mở lại nhưng chỉ để tiếp đón 100 khán giả thì hẳn chắc sẽ bị thua lỗ chứ không thể nào mà thu lời.

Thử nghiệm ứng dụng mới tại Madison Square Garden

Tại "Madison Square Garden" hoặc là tại các nhà hát cỡ lớn khác như "The Armory" hay "The Shed", người ta dễ áp dụng hơn các quy định giãn cách xã hội. Trong khi đó tại Broadway, đa số các rạp hát đều có diện tích nhỏ gọn, chi phí sản xuất các vở kịch cũng tương đối cao cho nên về mặt kinh tế, các sân khấu Broadway bắt đầu có lời khi bán vé ở mức 75% số chỗ ngồi. Do vậy, giới chuyên ngành hy vọng biện pháp hạn chế 100 khán giản tối đa tại các nhà hát, sẽ sớm được dỡ bỏ. Điều đó tùy thuộc rất nhiều vào tiến độ của đợt chích ngừa, cũng như nỗ lực của chính quyền thành phố hạn chế đà lây lan của dịch Covid-19. New York bắt đầu nối lại với đời sống văn hóa. Nhưng có lẽ phải chờ tới khi toàn bộ sân khấu Broadway được mở lại, thì lúc đó mới hy vọng hoạt động "bình thường" trở lại ở mức 100%.

Trong vòng một năm liền, Broadway đã ngưng hẳn các hoạt động và có lẽ giới chuyên ngành phải chờ thêm 6 tháng nữa cho tới mùa thu năm nay. Nhiều dự án sân khấu đã bị hủy bỏ, trong đó có 5 vở nhạc kịch trên khoảng 30 phẩm chương trình biểu diễn dự trù ra mắt khán giả trong 6 tháng tới. Trong số các tác phẩm mới đáng chú ý có vở nhạc kịch "MJ Musical" khai thác các bài hát ăn khách nhất của ông hoàng nhạc pop Michael Jackson. Ngoài ra còn có vở nhạc kịch "Music Man" với thần tượng Hugh Jackman trong vai chính, cho dù không biết sau đợt dịch lần này, Hugh Jackman có thể trở lại sân khấu Broadway mà không bị qúa tải, do nhiều hợp đồng biểu diễn và dự án quay phim bị chồng chéo sau nhiều lần trì hoãn.

Khá nhiều diễn viên cũng như nhân viên kỹ thuật đã bỏ nghề luôn sau khi Broadway bị đóng cửa trong hơn một năm, trong số này có người đã đi học trở lại hay theo dõi các khoá đào tạo để đổi nghề, chuyển sang các lãnh vực khác như bán bảo hiểm hay địa ốc, mặc dù họ thừa hiểu rằng sân khấu vẫn là cái nghề thích hợp hơn với khả năng của mình, nhưng đằng sau vầng hào quang của Broadway luôn có nhiều rủi ro nghề nghiệp.

Broadway thu hút gần 15 triệu lượt khách mỗi năm

Theo tổ chức Broadway League, trước khi có dịch Covid-19, chương trình biểu diễn tại Broadway và tại các nhà hát khác trong thành phố đã thu hút 14,8 triệu lượt khán giả trong vòng một năm, trong đó có gần 20% là khách du lịch nước ngoài và 65% là khán giả Mỹ từ các tiểu bang khác đến New York chủ yếu là để xem nhạc kịch. Nguồn du khách trong nước cũng như ngoài nước cũng mang lại nhiều lợi nhuận cho các ngành phục vụ gồm tổng cộng 25.000 quán bar, khách sạn cũng như nhà hàng ở trong phạm vi Manhattan.

Trong bối cảnh đó, việc chính quyền thành phố New York thông báo mở lại một phần các nhà hát kể từ ngày 02/04 và từng bước tiến đến việc mở rộng các chương trình sinh hoạt có thể nói đã làm cho hơn 97.000 nhân viên làm việc trong ngành sân khấu ở New York cảm thấy ấm lòng. Riêng về nhà hát Metropolitan Opera, 10% các nhạc sĩ có tuổi thuộc dàn nhạc giao hưởng đã nghỉ việc luôn, 40% nhạc sĩ khác cũng đã dời sang các tiểu bang khác, tìm một công việc khác để kiếm sống, chứ không thể "chờ mãi" ngày mở lại chương trình biểu diễn.

Sân khấu Broadway và nhà hát Metropolitan Opera tuy nhắm vào hai đối tượng khán giả khác nhau nhưng trước sau gì cũng là biểu tượng của nhịp sống về đêm muôn ánh đèn màu tại trung tâm Manhattan. Chỉ khi nào cả hai cơ sở này được phép mở lại thì lúc đó New York mới thật sự tìm lại tiếng tăm lẫy lừng, ngôi vị đế vương của một "thành phố không bao giờ ngủ".


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1545 Posted : Friday, April 2, 2021 7:19:49 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


(RFI) - Covid-19: Liên hoan nhạc rock và truyện tranh của Pháp lại bị hủy. Ban tổ chức liên hoan Eurockéennes vinh danh dòng nhạc rock của châu Âu tại thành phố Belfort ngày 02/04/2021 thông báo chương trình dự trù mở ra từ 01 đến 04/07/2021 đã bị hủy vì các điều kiện y tế không cho phép. Ban tổ chức đành hẹn lại giới hâm mộ đến cuối tháng Giêng 2022. / RFI

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1546 Posted : Saturday, April 3, 2021 7:00:41 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Những nghệ sĩ với duy nhất một ca khúc để đời

Gia Trình - RFI - 03/04/2021
Lao động nghệ thuật không phải là chặng đường trải hoa hồng. Trong âm nhạc, có nghệ sỹ như nhóm The Beatles cuộc đời là hàng loạt bản hit được công chúng đón nhận. Ngược lại, có những nghệ sỹ cả sự nghiệp ngắn ngủi chỉ được ghi nhận một bản hit xuất sắc nhất.

4 Non Blondes - What’s Up

4 Non Blondes là ví dụ điển hình của ban nhạc chỉ có duy nhất bản hit để đời. Năm 1992, nhóm rock alternative nữ từ bang California trình làng album đầu tay Bigger, Better, Faster, More (Lớn hơn, tốt hơn, nhanh hơn và hơn thế). Đây vừa là album duy nhất và cuối cùng sự nghiệp của họ trước khi chia tay năm 1994.

Album này sản sinh ra một single (đĩa đơn) làm nên tiếng tăm lẫy lừng của nhóm. Ca khúc What’s up do chính nhóm sáng tác và thể leo tới thứ hạng 14 trong top 100 Billboard. Bài hát có điệp khúc rất ấn tượng “Yeah Yeah Yeah, What’s going on?” lặp lại với giọng nữ khoẻ khoắn, đầy tính hippi. Có vẻ như giai điệu bắt tai này như thỏi nam châm thu hút khán giả khắp châu Âu. Single bán rất chạy, trở thành đĩa hát vàng, đến giờ nhiều ca sỹ thể hiện lại như Pink.

Thật đáng tiếc, sau sự ra đi của ngôi sao Linda Perry - người hát chính và chơi guitar, nhóm tan rã vào năm 1994. Sự tồn tại của 4 Non Blondes kéo dài bốn năm từ 1989 đến 1993. Tuy nhiên với khán giả, họ vẫn toả sáng xuyên thời gian nhờ bản hit nội lực What’s up ám ảnh với giai điệu rock cháy bỏng.

Foreigner - I want to know what love is

Trái với 4 Non Blondes, nhóm hard rock Anh-Mỹ Foreigner có bề dày sáng tác và biểu diễn nhất định. Các thành viên bạn nhạc đều người Anh, ngoại trừ ca sỹ hát chính Lou Gramm người Mỹ. Họ cho ra đời 9 album phòng thu từ năm 1977 đến năm 2009 và gây tiếng vang lớn kể từ album đầu tay Foreigner (1977).

Tuy nhiên, phong độ đỉnh cao chỉ rơi vào thời điểm thập niên 1980 khi album Agent Provocateur ra mắt năm 1984. Ca khúc I want to know what love is (Tôi muốn biết tình yêu là gì) mới khiến họ được biết đến rộng rãi hai bên bờ Đại Tây Dương và trên toàn cầu. Bản ballad có đoạn mở đầu khá trầm, nhẹ nhàng và điệp khúc vút bay mạnh mẽ.

Điểm chung các ca khúc đỉnh cao 1 hit là giai điệu đẹp, không thể nhầm lẫn vào đâu được. Nó truyền tải bản sắc riêng của ban nhạc và sự thăng hoa cảm xúc. Về sau, diva Mariah Carey cũng cover lại ca khúc và truyền tải hết nội lực thể hiện vượt bản gốc. Nếu đối chiếu hai phiên bản cạnh nhau, khán giả mới thấy biên độ trầm bổng của bài hát khá phiêu linh, khiến cho Carey vất vả mới làm tròn được thử thách.

Trước đó, nhóm Foreigner cũng có một số single đạt thứ hạng cao trên bảng xếp hạng Billboard như Waiting for a girl like you (Đợi chờ một cô gái), Hot Blood hay Double Vision. Sức mạnh của bản ballad I want to know what love is làm lu mờ hết các bản hit cũ của họ. Sau album này, cùng với sự ra đi của ca sỹ Lou Gramm, Foreigner sa sút phong độ khiến các chất lượng các album sau đó xuống dốc không phanh. Một lần nữa, những bản hit đỉnh cao có giá trị tham chiếu và so sánh. Họ đã tiêu thụ đến 80 triệu đĩa hát, gần một nửa trong số đó tại thị trường Mỹ. Nhắc tới Foreigner, chắc chắn khán giả nhớ nhất ca khúc đinh của nhóm I want to know what love is.

Dan Hill - Sometimes when we touch

Nhắc tới Dan Hill, ít khán giá biết tới ca sỹ, khiêm nhạc sỹ sáng tác gốc Canada này. Nhưng nếu nhắc tới bản ballad Sometimes when we touch (Khi đôi ta gần nhau) thì chắc hẳn ai cũng đều ngạc nhiên, thích thú. Bài hát ra đời năm 1977, leo lên hạng 3 bảng xếp hạng Billboard. Giai điệu của bài hát mạnh mẽ, ca từ khắc họa sự chân thành, cảm xúc tràn ngập trong tình yêu. Bản ballad này từng được các danh ca như Rod Stewart hay Barry Manilow cover lại.

Hầu hết khán giả lầm tưởng bài hát mô tả sự thăng hoa tình yêu của một căp đôi mặn nồng. Tuy nhiên, trên thực tế, nam ca sỹ sinh năm 1954 này chia sẻ với báo giới đây là kỷ niệm chuyện tình buồn : “Cô ấy thích một người đàn ông khác, điều đó làm tim tôi tan vỡ. Do đó, tôi cần viết một ca khúc có thể chiến thắng trái tim cô ấy. Nó phải đam mê mãnh liệt đến mức cô ấy nghĩ rằng tôi là người đàn ông của cô”.

Bản ballad này vĩnh viễn thay đổi cuộc đời Dan Hil, biến ông trở thành một ngôi sao quốc tế. Cả thế giới chào đón tài năng của Dan Hill, ông trở thành nhạc sỹ sáng tác và nhà sản xuất cho nhiều ca sỹ khác. Năm 1996, Hill nhận được giải Grammy cho vai trò đồng sản xuất album Pop xuất sắc Falling into you của diva Canada, Celine Dion. Sau ca khúc này, Hill có một ca khúc gây được tiếng vang Can’t we try (Sao chúng ta không thử) nhưng nhạt nhòa trước bản hit giàu cảm xúc và tôn thờ tình yêu đã đi vào lòng người. Bản hit cuộc đời không phải là dấu chấm hết, mà nó mở ra chương mới với cuộc đời nghệ sỹ như Dan Hill.

You ask me if I love you ; And I choke on my reply ; I'd rather hurt you honestly ; Than mislead you with a lie ; And sometimes when we touch ; The honesty's too much ; And I have to close my eyes and hide ; I wanna hold you til I die ; Til we both break down and cry ; I wanna hold you till the fear in me subsides.

Em hỏi anh rằng anh có yêu em ; Anh nghẹn ngào trả lời ; Anh thà làm em tổn thương thành thực ; Hơn là lừa dối em ; Khi đôi ta gần nhau ; Sự thành thực quá lớn ; Anh chỉ muốn nhắm mắt và giấu đi điều đó ; Anh muốn ôm em tới khi qua đời ; Đến khi chúng ta cùng gục ngã và khóc lóc ; Anh muốn ôm em đến khi nỗi sợ trong anh lắng xuống.

The Verve - Bittersweet Symphony

So với các bản hit các nghệ sỹ khác, số phận bản hit Bittersweet Symphony của nhóm rock Anh Quốc, The Verve khá truân chuyên. The Verve thành lập từ năm 1990 bởi bốn thành viên chính. Ca sỹ hát chính Richard Ashcroft, guitar Nick McCabe, guitar bass Simon Jones và tay trống Peter Salisbury. Đến năm 1997, họ tạo được đột phá lớn với thành công thương mại của album Urban Hymn (Thánh ca đô thị). Đáng chú ý, ca khúc Bittersweet Symphony (Bản giao hưởng cay đắng) leo lên hạng 2 ở bảng xếp hạng âm nhạc Anh quốc.

Video clip cũng gây ấn tượng mạnh với hình ảnh Ashcroft đi bộ trên phố, không ngại va quệt tất cả người đi đường. Đây là bản hit xuất sắc chủ yếu ở phần nhạc nền rất đẹp, dựa trên bản phối khí The Last Time của The Andrew Oldham Orchestra.

Tuy nhiên, thành công của The Verve kéo theo trận chiến pháp lý với nhóm Rolling Stones kéo dài tới tận 22 năm mới chấm dứt. Lúc đầu, Rolling Stones đồng ý cấp phép cho The Verve sử dụng 1 đoạn 5 khuông nhạc với khoản ăn chia 50-50% thù lao xuất bản. Khi bản nhạc được đề cử giải Grammy thì tình huống xoay chuyển 180 độ. Người quản lý của Rolling Stones, Allen Klein đã đòi thù lao lên mức 100%. Sau đó, tên tuổi The Verve chìm xuống sau vụ kiện nhưng dư âm của Bittersweet Symphony vẫn vang vọng theo thời gian. Đó vẫn là bản hit số 1 và duy nhất của The Verve trong mắt người hâm mộ.

Ngoài bốn tác phẩm xuất sắc kể trên, còn rất nhiều ví dụ sinh động về các bản hit để đời như nhóm The Bangles với bản hit Eternal Flame, nhóm AHA với ca khúc vui nhộn Take On Me. Một giây phút huy hoàng có thể cứu vãn cả sự nghiệp nghệ thuật ngắn ngủi của các ban nhóm, nghệ sỹ. Vì họ đã bừng sáng và thăng hoa trong sự hoan hỉ của công chúng.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1547 Posted : Sunday, April 4, 2021 8:33:13 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : Thành công của mạng nghe nhạc trực tuyến Spotify

Tuấn Thảo - RFI - 30/03/2021
Xem phim trực tuyến có mạng Netflix, còn nghe nhạc trực tuyến có Spotify. Dịch Covid-19 đã khiến cho làng ca nhạc và điện ảnh "truyền thống" phải điêu đứng, trong khi các dịch vụ giải trí trên mạng lại bội thu. Đầu năm 2021, mạng Netflix của Mỹ đã vượt ngưỡng 200 triệu thành viên. Còn mạng Spotify của Thụy Điển gần như cán mốc 350 triệu người sử dụng, trong đó có 155 triệu thành viên đăng ký có trả phí.

Trong tháng 03/2021, Spotify đã thông báo triển khai mạng dịch vụ tại hơn 80 quốc gia khác, trong đó có Pakistan, Bangladesh và các nước châu Phi như Nigeria, Tanzania hay Mozambique... Như vậy, Spotify đã tăng gấp đôi số địa bàn hoạt động, cung cấp cả hai gói dịch vụ : loại cơ bản miễn phí, và dịch vụ premium cao cấp có tính phí.

Ngoài thư viện âm nhạc khổng lồ bao gồm cả triệu bài hát, Spotify còn cung cấp thêm nhiều podcast (tập tin âm thanh hay video để tải về nghe trên điện thoại hay trên máy tính). Người sử dụng tại các thị trường mới được quyền truy cập vào hầu như toàn bộ danh mục của Spotify, hiện có hơn hai triệu nội dung chương trình, kể cả âm nhạc, podcast và audiobook (sách nói).

Chiến lược phát triển các chương trình âm thanh

Được thành lập vào năm 2006, Spotify hiện đạt mức doanh thu 6,8 tỷ euro hàng năm và dịch Covid-19 đã giúp cho mạng này thu hút thêm thành viên, nhất là trong thời kỳ có các đợt phong tỏa. Với gần 350 triệu người có đăng ký tài khoản sử dụng, Spotify đương nhiên trở thành "hệ thống âm nhạc trực tuyến quan trọng nhất trên thế giới".

Ngoài việc phân phối âm nhạc, một trong những chiến lược của Spotify vẫn là việc phát triển các nội dung qua podcast. Danh mục Spotify hiện thời đã có khoảng 700.000 chương trình như vậy. Chương trình podcast đem lại nhiều lợi nhuận hơn, nhất là các sản phẩm làm "tại gia" do chính Spotify sản xuất, thường kèm theo bên trong các tin quảng cáo, dưới dạng âm thanh hay hình ảnh.

Bên cạnh đó, Spotify còn cho ra mắt thêm nhiều tựa sách nói (audiobook) mà mạng này nắm giữ độc quyền phân phối và phát hành của riêng mình trên nền tảng của mình. Trong thời gian đầu, Spotify cho ghi âm các audiobook dựa theo những tác phẩm hay tiểu thuyết kinh điển đã được đưa vào phạm vi công cộng, tức là không còn thuộc về quyền sở hữu của bất kỳ cá nhân nào.

Spotify mời các tên tuổi lớn của làng điện ảnh quốc tế ghi âm các tập "sách nói", chẳng hạn như ngôi sao màn bạc Hilary Swank hay là nam diễn viên Forest Whitaker. Tính tổng cộng đã có khoảng 10 quyển audiobook bằng tiếng Anh, được tung lên mạng vào cuối tháng 01/2021, trong đó có tác phẩm The Awakening của nhà văn Mỹ Kate Chopin, theo lối kể chuyện của Hilary Swank, quyển sách Cuộc đời của một kẻ nô lệ da đen, kể lại tiểu sử của Frederick Douglass sau đó trở thành một nhà hoạt động đấu tranh nhân quyền, với giọng đọc của Forest Whitaker. David Dobrik thử lửa với kiệt tác Frankenstein của nữ văn sĩ người Anh Mary Shelley, còn tiểu thuyết Persuasion của ngòi bút lẫy lừng Jane Austen được kể với giọng đọc của diễn viên Cynthia Erivo.

Thành công bước đầu nhờ đọc truyện Hary Potter

Các tác phẩm này đã được tuần báo The Hollywood Reporter phát hành trực tuyến, mỗi quyển được chia thành nhiều chương ngắn, ghi âm thành những tập podcast. Để làm tăng thêm giá trị của những tập sách nói này, Spotify đã thực hiện một loạt bài phỏng vấn, trong đó giáo sư văn học Glenda Carpio thuộc trường đại học Harvard, cho biết đôi dòng phân tích cô đọng, ngắn gọn về mỗi tác phẩm.

Có thể nói đây là lần đầu tiên Spotify tự sản xuất các audiobook, trước đây mạng này chỉ phân phối các sách nói đã có sẵn. Lần ra mắt này nằm trong dự án "thử nghiệm" mà tập đoàn Thụy Điển đang thực hiện, để phổ biến rộng rãi hơn nữa các nội dung âm thanh có giá trị với mục đích học tập chuyên sâu hay đơn thuần giải trí.

Bước đầu trong kế hoạch thử nghiệm đã diễn ra hồi mùa xuân năm 2020. Trong lúc các nước Âu Mỹ còn bị phong tỏa, mạng Spotify đã phát hành trực tuyến phiên bản âm thanh của Harry Potter và viên đá phù thủy, tập một của bộ truyện ăn khách cùng tên. Sách nói này gồm nhiều giọng đọc nổi tiếng, kể cả nam diễn viên Daniel Radcliffe, người đã từng vào vai cậu bé phù thủy đeo kính cận trên màn ảnh lớn.

Vào mùa hè năm 2020, tập đoàn này đã tuyển dụng một chuyên viên điều hành mảng sách nói, đây là dấu hiệu cho thấy tham vọng mới của Spotify trên thị trường audiobook, một lãnh vực mà hiện nay do hãng Audible, một chi nhánh của tập đoàn Amazon, thống trị. Ban đầu được biết đến là một mạng nghe nhạc trực tuyến, Spotify dần dần chuyển sang khai thác các chương trình âm thanh khác như podcasst và audiobook kể từ đầu năm 2019, vì đó là những ngành có tốc độ phát triển mạnh với tỷ lệ tăng trưởng gồm hai số hàng năm.

Tuy nhiên trong chiến lược phát triển nhanh chóng, tập đoàn Thụy Điển gần đây đã gặp phải một số trục trặc. Thật vậy, kể từ đầu tháng 03/2021, hàng ngàn bài hát K-pop không hiểu vì sao đã biến mất khỏi Spotify. Mạng này đang có tranh chấp với nhà phân phối Kakao M. có trụ sở tại Seoul, công ty này hiện nắm giữ quyền khai thác nhiều sản phẩm giải trí đến từ Hàn Quốc.

200 ca sĩ K-pop lại bị xóa tên trên Spotify

Trong bộ sưu tập của Kakao M., ngoài các siêu sao nhạc K-pop, còn có nhiều tên tuổi khác rất nổi tiếng trên xứ Hàn, cho dù tầm ảnh hưởng trên toàn cầu của họ chưa bằng các nhóm như BTS, SNSD, BiGBaNG, BlackPink, KaRa, Red Velvet, Shinwha... Hãng Kakao M. nắm giữ bản quyền của nhiều nghệ sĩ Hàn như Sistar, IU, Monsta X, Epik High. Thay vì nhanh chóng giải quyết bất đồng và như vậy tránh gây bất bình nơi các thành viên có trả phí đăng ký dịch vụ, hai công ty này lại đổ lỗi cho nhau, khi cho rằng chính phía bên kia đã gây bế tắc, do vậy thỏa thuận hợp tác giữa hai bên đã không được triển hạn.

Kết quả là khoảng 200 nghệ sĩ và ban nhạc K-pop đã bị xóa tên trên mạng Spotify, chỉ một tháng sau khi tập đoàn Thụy Điển triển khai dịch vụ của mình trên thị trường các nước Đông Á, trong đó có Hàn Quốc. Điều đó đã khiến cho nhiều cư dân mạng bất mãn, và nhiều fan hâm mộ K-Pop thông qua các mạng xã hội đã cho biết họ đóng luôn tài khoản Spotify (cho dù họ là thành viên trung thành kể từ 5 đến 10 năm qua). Các thành viên này chuyển qua đăng ký các mạng dịch vụ khác có sẵn nhiều ban nhạc pop Hàn Quốc như là Deezer của Pháp, Apple Music, Google Play Music cũng như YouTube Premium của Mỹ.

Trong năm qua, đã có khoảng 400 triệu người đăng ký dịch vụ các mạng xem phim cũng như nghe nhạc trực tuyến trên toàn thế giới. Riêng trong lãnh vực âm nhạc, số thành viên mới đã tăng vọt lên mức 32% chỉ trong 12 tháng. Spotify vẫn đứng hàng số 1 trên thế giới với 35% người đăng ký có trả phí, Apple Music về nhì với 19% thành viên có trả phí. Còn tại Pháp, Deezer vẫn dẫn đầu với 37,5% thị phần nhờ catalogue nhạc Pháp khổng lồ (Spotify hạng nhì 25,2% và Apple Music hạng ba 13,4%).

Trên một thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh quyết liệt, Spotify cũng như Netflix buộc phải giữ khoảng cách với các thương hiệu khác. Chiến lược của Spotify phát triển thêm chương trình âm thanh đã thành công trong bước đầu, nhưng đánh mất hợp đồng phân phối K-Pop lại là một vố đau. Mãi đến gần ba tuần sau, Spotify mới ký lại với Kakao M. một hợp đồng phân phối nhạc Hàn, nhưng hàng ngàn thành viên đã rời mạng này để chuyển sang các dịch vụ khác.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1548 Posted : Monday, April 5, 2021 5:47:09 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Tưởng niệm ca sĩ Patrick Juvet

Tuấn Thảo - 05/04/2021
Donna Summer, Bee Gees hay Village People từng là thần tượng quốc tế của dòng nhạc disco cực thịnh vào những năm 1970. Tại Pháp, nhiều nghệ sĩ nổi tiếng cũng đã theo phong trào này như Dalida, Sheila, Cerrone và nhất là Patick Juvet từng ngự trị thị trường trong gần một thập niên. Danh ca người Thụy Sĩ nay không còn nữa, ông đã mất trong tuần qua ở tuổi 70.

Theo nhà quản lý Yann Ydoux, hôm 01/04/2021, thi thể của Patick Juvet đã được phát hiện tại nhà riêng ở Barcelona. Nguyên nhân của cái chết vẫn chưa được xác định. Dù chủ yếu đi hát ở Pháp, nhưng danh ca gốc Thụy sĩ đã chọn định cư tại Tây Ban Nha trong vòng 20 năm qua. Nhiều nghệ sĩ từng quen biết hay làm việc chung với ông như Nicoletta, Sheila, Amanda Lear và nhất là nhạc sĩ Jean-Michel Jarre đều nhắc tới tài soạn giai điệu cũng như tánh tính đàng hoàng của Patrick Juvet đối với các bạn trong nghề.

Bỏ nghề người mẫu để chọn sân khấu

Sinh năm 1950 tại thành phố Montreux (Thụy Sĩ) trong một gia đình có ba người con, Patrick Juvet từ thời ấu thơ đã đam mê âm nhạc. Bố ông là chủ của một cửa hàng đại lý chuyên bán tivi và radio, cho nên ông thường hay mua cho các con các đĩa nhựa ăn khách thời bấy giờ. Năm lên 6 tuổi, Patrick được bố mẹ cho theo học đàn piano tại Nhạc viện thành phố Lausanne. Ở trong lớp, ông nổi tiếng là một học sinh chăm chỉ và thường hay đoạt giải nhất dương cầm nhân các cuộc thi cuối khóa.

Ban đầu, Patrick Juvet đeo đuổi ngành thời trang cho nên anh ghi tên vào học trường đào tạo Nghệ thuật trang trí, nhưng vào năm 18 tuổi nhờ vào khuôn mặt ăn ảnh, tướng mạo điển trai và mái tóc bồng bềnh, ông lại trở thành người mẫu sau khi ký hợp đồng với một công ty thời trang ở Düsseldorf. Sau hai năm làm việc, Patrick Juvet khám phá rằng nghề người mẫu không hợp với mình, cho nên ông mới rời nước Đức sang Pháp lập nghiệp. Bạn bè cũng khuyên ông nên thử vận một phen với nghề sáng tác, để không lãng phí 14 năm học đàn ở nhạc viện. Tại Paris, cô Florence Aboulker (mẹ của tác giả Fabrice Aboulker, người đã từng đồng sáng tác 5 album ăn khách đầu tiên của Marc Lavoine), với tư cách là tùy viên báo chí mới giới thiệu ông với nhà sản xuất người Pháp trứ danh nhất thời bấy giờ là ông Eddie Barclay.

Patrick Juvet khởi nghiệp ca hát vào năm 21 tuổi (1971), nhưng bắt đầu thành công nhờ sáng tác cho người khác. Bản nhạc "Le Lundi au Soleil" (Thứ Hai trong nắng) mà ông viết cho danh ca Claude François (1972) lại trở thành một trong 5 ca khúc yêu chuộng nhất của người Pháp với tiếng hát này. Đến khi ra mắt album đầu tay vào mùa hè năm 1972, Patrick Juvet nổi danh một cách nhanh chóng qua nhiều ca khúc ăn khách nhờ có giai điệu dễ nhớ và ca từ đơn giản trong sáng : La Musica (1972), Sonia (1973), C'est beau la vie (1974), Rappelle-toi minette (1974)...

Thế hệ hát nhạc do chính mình sáng tác

Cùng với nhiều nghệ sĩ cùng thời, trong đó có Alain Chamfort, Mort Shuman và nhất là Michel Delpech, Patrick Juvet thuộc vào hàng ca sĩ kiêm tác giả trình bày những ca khúc do chính mình sáng tác (hay là hợp tác trong khâu soạn nhạc). Thế hệ này thoát khỏi ảnh hưởng của phong trào nhạc trẻ những năm 1960 trong đó đa số các thần tượng nhạc trẻ (ngoại trừ hai trường hợp của Christophe và Françoise Hardy) chuyên hát lại các bản nhạc ăn khách của Anh, Mỹ phóng tác sang tiếng Pháp kể cả Sylvie Vartan, Sheila, Richard Anthony, Johnny Hallyday.

Ngoài là một ca sĩ có giọng kim, điểm mạnh của Patrick Juvet vẫn nằm trong cái tài soạn giai điệu dễ lọt tai nhưng ngược lại, ông lại yếu trong khâu đặt lời. Có lẽ cũng vì thế mà ông không được xếp ngang hàng với Véronique Sanson hay là Michel Berger. Còn Julien Clerc, nhờ khéo hợp tác với nhiều ngòi bút khác nhau mà thành công của nghệ sĩ này trải dài trên 50 năm sự nghiệp với tổng cộng gần 40 album, trong đó có 26 album phòng thu. Ngược lại, Patrick Juvet dù có ghi âm 12 album trong vòng 20 năm sự nghiệp (1971-1991) nhưng ông lại ít may mắn hơn, khi không tìm ra được cho riêng mình một ngòi bút khéo đặt ca từ, một tác giả có thể diễn đạt dùm mình tất cả những điều ông muốn gửi gấm.

Có thể nói sự nghiệp của Patrick Juvet được chia thành hai giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất là 4 năm đầu tiên, khi mới vào nghề ông chủ yếu ghi âm những tình khúc lãng mạn, đa phần nhắm vào đối tượng ở độ tuổi mới lớn, khi con tim vừa biết yêu. Giai đoạn thứ nhì là từ album thứ tư trở đi với tựa đề là "Chrysalide" dùng biểu tượng của con sâu hóa bướm để nói lên khát vọng thay đổi hình ảnh một cách sâu rộng. Tác giả trẻ tuổi đã giúp cho Patrick Juvet biến giấc mộng thành thực tế là Jean-Michel Jarre, người đã viết cho nam danh ca Christophe hai tình khúc tuyệt đẹp là "Les Mots Bleus" (Chữ xanh trong mắt) và "Paradis Perdus" (Thiên đường đã mất).

Cùng nhau cặp bài trùng này sẽ viết khoảng 20 ca khúc, nổi tiếng nhất vẫn là "Paris by Night, Magic, Les Bleus au Cœur, Faut pas rêver" ..... và nhất là "Où sont les Femmes". Nhờ phát hành ca khúc này vào năm 1977, Patrick Juvet trở thành một trong những ông hoàng của dòng nhạc disco, soán ngôi của Claude François với bài hát "Magnolias forever". Với nhiều ca khúc ăn khách sau đó như "I Love America" hay là "Lady Night", giọng ca Patrick Juvet không những thành công tại Pháp mà còn chinh phục luôn thị trường châu Âu cũng như Bắc Mỹ, thông qua các vũ trường, thịnh hành trong các hộp đêm.

Hồi ký "Những vết bầm tím trong tim"

Kể từ đầu những năm 1980 trở đi, dòng nhạc disco bắt đầu thoái trào. Các album của Patrick Juvet dù có chuyển hướng sáng tác sang pop rock đều gặp thất bại trong tiếng Anh (Sounds Like Rock'n Roll /1981) hay là trong tiếng Pháp (Rêves immoraux /1982). Patrick Juvet bắt đầu cuộc hành trình băng qua sa mạc trong vòng nhiều năm liền. Mãi tới năm 1991, thời điểm cho ra mắt album cuối cùng, Patrick Juvet hợp tác với nhiều nghệ sĩ và tác giả trong đó có Françoise Hardy, Marc Lavoine, Luc Plamondon.

Thế nhưng, một lần nữa, album "hồi sinh" này cũng gặp thất bại và không đem lại hơi thở mới cần thiết cho giai đoạn kế tiếp. Một cách tượng trưng, album cuối cùng này mang tựa đề "Solitudes" (Những nỗi cô đơn) nói lên ám ảnh dằn vặt trong tâm hồn người nghệ sĩ, đằng sau vầng hào quang danh vọng một khi ánh đèn sân khấu đã tắt. Từ thời điểm đó trở đi, ông ít còn xuất hiện trước công chúng ngoại trừ các show ca nhạc từ năm 2008 đến 2014 trong khuôn khổ chương trình "Vòng lưu diễn của các thần tượng" tập hợp trên cùng một sân khấu nhiều giọng ca ăn khách một thời.

Trong quyển hồi ký "Les Bleus au Coeur" do nhà xuất bản Flammarion phát hành vào năm 2005, Patrick Juvet từng kể lại những năm tháng huy hoàng nhất trong sự nghiệp cũng như giai đoạn cực kỳ đen tối trong cuộc đời, khi ông phải chống chọi lại sự tàn phá của rượu và ma túy. Dù vậy niềm đam mê viết nhạc vẫn là niềm an ủi trong lòng, nguồn động lực duy trì ngọn lửa hy vọng. Trong ngăn tủ, Patrick Juvet còn cất giữ hàng chục bài hát đủ để ghi âm ba album nhưng rốt cuộc không có hãng đĩa nào chịu phát hành. Trong mắt khán giả, giọng ca của ông đã hết thời, ngòi bút cạn mực không còn gì để nói. Vô tình hay cố ý, như Patrick Juvet đã từng viết trong nhạc phẩm "Les Bleus au Coeur", sự hiểu lầm vô hình tuy âm thầm lặng tiếng lại tạo ra muôn vết bầm tím trong tim.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1549 Posted : Wednesday, April 7, 2021 8:04:09 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Covid-19 : Các liên hoan rock Pháp đành bỏ cuộc một lần nữa

Tuấn Thảo - RFI - 07/04/2021
Trên lãnh vực văn hóa Pháp, mùa hè là mùa của các liên hoan âm nhạc và nghệ thuật sân khấu. Dịch Covid-19 đã khiến cho truyền thống này bị hủy bỏ một lần trong năm 2020. Do chính phủ Pháp lại ban hành (hôm 31/03) các biện pháp phong tỏa để khống chế làn sóng dịch thứ ba, hầu hết các ban tổ chức liên hoan lớn mùa hè 2021 đành phải bỏ cuộc lần thứ nhì.

Các quy định phòng chống dịch bệnh quá khắt khe, số lượng khán giả bị hạn chế tối đa, các buổi biểu diễn thử nghiệm lại bị chậm trễ, trong khi giới chuyên ngành hơn bao giờ hết muốn tìm cho ra một mô hình tổ chức sinh hoạt văn hóa "an toàn" trong thời Covid-19. Tất cả những yếu tố đó đã khiến cho các ban tổ chức lần lượt hủy bỏ sự kiện cho mùa hè năm nay. Chưa gì đã có khoảng trên dưới 10 liên hoan lớn (tính trung bình thu hút khoảng 100.000 khán giả) trong số này, phần lớn là các festival nhạc rock, đã tuyên bố dời lại cho tới mùa hè năm sau.

Các liên hoan nhạc rock Pháp bị "tắt tiếng"

Sau các chương trình quan trọng như Solidays, Garorock và nhất là liên hoan Hellfest dành cho thể loại metal rock (thu hút mỗi năm từ 180.000 đến 230.000 khán giả), nay đến phiên các liên hoan lớn khác tại nhiều tỉnh thành khác của Pháp cũng bị hủy bỏ thêm một lần, chẳng hạn như liên hoan "Main Square" (115.000 khán giả) tổ chức xung quanh quảng trường lớn thành phố Arras, liên hoan Rock Art (80.000 người tham gia) ở thành phố Saint-Brieuc (vùng Bretagne), liên hoan Lollapalooza Paris tại thủ đô Pháp, cũng như festival Beauregard gần thành phố Caen (115.000 khán giả) đều không diễn ra vào mùa hè năm 2021.

Hồi đầu năm, một vài dấu hiệu trong giới chuyên ngành dự báo tình hình có thể trở nên khả quan hơn nhân dịp hè về, hai liên hoan lớn nhất ở Pháp là liên hoan điện ảnh Cannes và liên hoan sân khấu kịch nghệ Avignon đều tuyên bố duy trì sự kiện. Ông Olivier Py, giám đốc điều hành Festival d'Avignon, chẳng những không chịu "đầu hàng" mà còn tuyên bố một kế hoạch đầy tham vọng qua việc dàn dựng một phiên bản "đặc biệt" xôm tụ hoành tráng từ ngày 05/07 cho đến 25/07/2021.

Phải chăng giám đốc liên hoan Avignon đã có thái độ quá lạc quan? Dù gì đi nữa, nhiều ban tổ chức đều mong đợi tình hình chung sẽ biến chuyển theo chiều hướng tốt hơn. Thế nhưng, gió chẳng những đã xoay chiều, mà còn trở nên dữ dội hơn trước. Các biện pháp phong tỏa được tăng cường trên toàn lãnh thổ Pháp cho tới đầu tháng 05/2021. Làn sóng "thứ ba" của dịch Covid-19 tựa như một trận cuồng phong làm tắt ngúm mọi tia lửa hy vọng.

Theo bà Malika Seguineau, đại diện cho liên đoàn Prodiss, bao gồm giới sản xuất, các nhà phân phối, các ban quản lý nhà hát và liên hoan, hiện tượng hủy bỏ các liên hoan mùa hè chỉ mới bắt đầu, danh sách sẽ càng dài thêm trong những ngày tháng tới. Kịch bản đáng buồn mùa hè năm nay đang lặp lại y hệt như năm trước. Phần lớn cũng vì vào lúc chiến dịch chích ngừa vẫn còn chậm, các quy định tổ chức liên hoan hè do chính phủ đặt ra vẫn còn thiếu thực tế.

72% khán giả không chịu ngồi xem nhạc rock

Các biện pháp như hạn chế số khán giả ở mức 5000 người tối đa, các quy định giãn cách xã hội buộc khán giả phải ngồi cách nhau gần hai thước thay vì đứng xem biểu diễn, chưa kể đến các lộ trình một chiều trong không gian cố định, tất cả những quy định ấy, theo hầu hết các ban tổ chức, đều không phù hợp với các liên hoan âm nhạc, nếu không muốn nói đi ngược lại với tinh thần "chung vui" hay tư tưởng tự do phóng khoáng của nhạc rock.

Hầu hết các liên hoan nhạc rock mùa hè đều bị hủy bỏ tại Pháp do các ban quản lý không có đủ các điều kiện để quy tụ chỉ trong vòng vài tháng nhiều nghệ sĩ kể cả Pháp và quốc tế tham gia chương trình biểu diễn. Liên hoan Main Square tại Arras chẳng hạn cho biết phải mất 6 tháng, đôi khi cả một năm trời để mời một ngôi sao như nam danh ca Sting đến tham gia vào đầu tháng 7 năm 2022, do các nghệ sĩ có uy tín và tên tuổi thường có lịch dày đặc và biểu diễn theo tour, đi một vòng các liên hoan, chứ ít khi nào đến dự một festival duy nhất.

Về phía liên hoan Art Rock ở thành phố Saint Brieuc (vùng Bretagne) ban tổ chức dự trù thay thế liên hoan mùa hè bằng một chương trình nhỏ hơn vào tháng 09/2021. Thế nhưng, việc hủy bỏ hai năm liền một sự kiện với hơn 80.000 người tham gia đã làm cho thành phố Saint Brieuc mất đến 6 triệu euro doanh thu, trong đó có khoảng 2 triệu tiền bán vé, phần lớn còn lại là lợi nhuận của ngành dịch vụ xung quanh sự kiện này.

Theo một cuộc thăm dò ý kiến tổ chức vào cuối tháng 03/2021 trong khuôn khổ liên hoan Eurockéennes (128.000 khán giả hàng năm) tại thành phố Belfort, 72% khán giả đã cho biết họ từ chối tham dự các buổi biểu diễn nhạc rock, nếu họ buộc phải ngồi xem với các quy định giãn cách xã hội. Điều đó khiến cho ban tổ chức lâm vào bế tắc và giám đốc điều hành Jean-Paul Roland cuối tuần qua đã thông báo hủy bỏ liên hoan mùa hè năm nay và hẹn gặp lại giới hâm mộ vào năm tới. Quyết định này có nguy cơ ảnh hưởng đến hai liên hoan lớn khác là Les Vieilles Charrues tại vùng Finistère (270.000 khán giả mỗi năm) và Francofolies tại thành phố La Rochelle (150.000 người tham gia) cho tới giờ này vẫn duy trì chương trình, cho dù ở một mức khiêm tốn hơn.

Liên hoan trên mạng giống như Anh ?

Theo bà Malika Seguineau, đại diện của liên đoàn Prodiss, vấn đề là nhiều liên hoan có nguy cơ biến mất do quỹ tài trợ khẩn cấp của chính phủ vẫn chưa đủ để bù đắp các thiệt hại kinh tế sau đợt hủy bỏ đầu tiên các liên hoan mùa hè năm trước. Trong số 30 triệu euro tiền tài trợ, khoảng hai phần ba (65%) được dành giúp đỡ khẩn cấp cho tất cả các thể loại âm nhạc (cổ điển, jazz, pop rock, điện tử ....), phần còn lại (32%) được dành cho nghệ thuật đường phố và sân khấu kịch nghệ. Nói như vậy có nghĩa là các liên hoan nhạc rock cho dù có thu hút hàng trăm ngàn người tham gia, vẫn không được hỗ trợ nhiều cho lắm, nhất là các mảng hoạt động sân khấu với nhiều nguồn vốn tư nhân.

Chưa kể đến việc tổ chức các buổi biểu diễn thử nghiệm liên tục bị chậm trễ, sau nhiều lần trì hoãn. Sau khi Barcelona đã thử nghiệm thành công với một buổi hòa nhạc quy tụ 5.000 người, phía chuyên ngành tại Pháp đã đệ trình lên chính phủ một mô hình biểu diễn tương tự dự trù tại Accor Arena (sân khấu Bercy cũ), nhưng theo tin giờ chót, biểu diễn thử nghiệm này sớm lắm sẽ diễn ra vào đầu tháng 05/2021, nhưng đã là quá trễ đối với các liên hoan mùa hè do các ban tổ chức cần thêm nhiều tháng để lên chương trình chu đáo.

Tình hình tại nhiều nước châu Âu khác có thể tươi sáng hơn, cho dù việc hội tụ một dàn sao về biểu diễn cùng một chỗ vẫn là một bài toán nhức đầu, theo các ban tổ chức. Tại Anh Quốc chẳng hạn, sau khi bị hủy bỏ, liên hoan Glastonbury đã được thay thế bởi một buổi biểu diễn khổng lồ phát trực tuyến vào ngày 22/05 của nhóm Coldplay với nhiều khách mời như Damon Albarn, Jorja Smith, Haim, Wolf Alice, Michael Kiwanuka ... Tuy dự trù kéo dài trong 5 tiếng đồng hồ, nhưng buổi trình diễn này hoàn toàn không có sự tham gia của công chúng. Các liên hoan nhạc rock vẫn có thể làm như vậy, nhưng chắc là năm nay, mùa hè tại Pháp sẽ vắng khách tham gia liên hoan, cũng như sẽ không có không khí tưng bừng sinh hoạt của những kỳ lễ hội diễn ra ở ngoài trời.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1550 Posted : Thursday, April 8, 2021 6:02:07 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Méditerranéennes : Những tâm hồn Địa Trung Hải

Méditerranéennes (tạm dịch là Những tâm hồn Địa Trung Hải) là tựa đề album gần đây của Julie Zenatti. Tập nhạc này đánh dấu 20 năm sự nghiệp của cô ca sĩ Pháp, thành danh vào năm 16 tuổi (năm 1997) nhờ vai diễn trong vở ca nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris (Notre Dame de Paris) của hai tác giả Richard Cocciante và Luc Plamondon.

Trong vòng 20 năm ca hát, Julie Zenatti đã cho ra mắt tổng cộng tám album, các tập nhạc trước đây là những dự án ghi âm solo, còn album được phát hành (cuối tháng Ba năm 2017) lại là một dự án ghi âm tập thể, quy tụ cùng lúc nhiều giọng ca, đến từ nhiều quốc gia, xuất thân các chân trời âm nhạc khác nhau. Tiếng Ý, tiếng Pháp, thổ ngữ đảo Corse, tiếng Tây Ban Nha, Do Thái, Ả Rập hay Hy Lạp, các ngôn ngữ thể hiện trên album đều nằm trong tầm ảnh hưởng của các nền văn hóa ven bờ Địa Trung Hải, có lẽ cũng vì thế mà tập nhạc này có nhan đề là Méditerranéennes.

Bản thân cô ca sĩ Julie Zenatti cũng có nhiều dòng máu. Gia đình cô người Ý gốc Do Thái và lập nghiệp tại vùng Kabylie. Theo bố mẹ cô, chữ Zenatti xuất phát từ xứ Zenètes và trở thành một cái tên gọi khá thông dụng ở Bắc Phi, cũng như tại vùng Sardaigne của Ý, hay trên đảo Corse của Pháp. Do vậy, đối với cô Julie Zenatti, chủ đề Địa Trung Hải là một cách để tìm lại những kỷ niệm gia đình nói riêng, để trở về cội nguồn gốc rễ nói chung. Về mặt địa lý, Địa Trung Hải không chỉ là cái nôi mà còn là nhịp cầu bắc nối giữa hai bờ văn hóa.

Để ghi âm tập nhạc Méditerranéennes, Julie Zenatti đã triệu mời khá nhiều nghệ sĩ mà như cô nói gốc gác của họ từ đời này sang đời nọ nhiều đến nỗi, không thể nào tóm tắt, ghi chép gọn gàng trên một tờ sơ yếu lý lịch. Trong số các giọng ca nữ, có Nawel Ben Kraiem, Sofia Essaïdi, Elisa Tovati. Ca khúc đầu tiên trích từ album này là nhạc phẩm Zina (nguyên tác của nhóm Babylone) do Julie Zenatti song ca với cô bạn đồng nghiệp Chimène Badi. Còn về phía các giọng ca nam, có các gương mặt trẻ như Claudio Capéo hay Slimane bên cạnh nam danh ca Enrico Macias.

Đây không phải là lần đầu tiên một dự án ghi âm tập thể hình thành theo đề xướng của một cá nhân. Cách đây hơn một năm, vào cuối năm 2015, nam ca sĩ Patrick Fiori đã triệu tập hơn 30 nghệ sĩ xung quanh dự án Corsica (Corsu Mezu Mezu). Các bản nhạc ở đây chủ yếu là dân ca đảo Corse, và được ghi âm dưới dạng song ca giữa một ca sĩ Pháp (Maurane, Bénabar, Michel Fugain, Francis Cabrel, Maxime Le Forestier, Grand Corps Malade, Patrick Bruel ……) và một ca sĩ xuất thân từ hòn đảo này.

Trong số các nghệ sĩ Corse có Antoine Ciosi, Francine Massiani, Jean Menconi và nhất là Petru Santu Guelfucci, do bản nhạc của anh là ca khúc mở đầu và được chọn làm chủ đề cho album … Cả hai dự án vừa kể đều có sự góp mặt của Enrico Macias, do nhạc phẩm Solenzara (tiếng Việt từng chuyển dịch thành Nắng Xuân) từng giúp cho Enrico Macias ăn khách vào những năm 1964-1965 chính là một ca khúc rất nổi tiếng của đảo Corse.

Còn tập nhạc Méditerranéennes cũng bao gồm khá nhiều bản chuyển ngữ phóng tác, một là đặt thêm lời Pháp (Julie Zénatti cộng tác với tác giả Cécile Gabrié) cho các bản nhạc tiếng nước ngoài, hai là đi theo hướng hoàn toàn ngược lại, viết thêm một số trích đoạn ngoại ngữ cho các bài hát rất nổi tiếng của Pháp.

Đó là trường hợp của bản nhạc Mon Amie La Rose (Kiếp hồng mong manh), nhạc và lời của tác giả Cécile Caulier, từng ăn khách qua giọng ca của thần tượng Françoise Hardy vào năm 1964. Mãi tới hơn ba thập niên sau, khi ca sĩ người Ai Cập Natcha Atlas ghi âm lại bài này với nhiều nhạc cụ truyền thống Ả rập, bài hát một lần nữa phá kỷ lục số bán và đoạt luôn giải Victoires de la Musique trong hạng mục (world music) âm nhạc thế giới.

Lần này, nam ca sĩ Slimane đã giữ nguyên các âm hưởng phương Đông nhưng kết hợp với một lối hoà âm phối khí tân kỳ, hiện đại hơn. Sau khi thành danh nhờ đoạt giải quán quân chương trình thi hát truyền hình The Voice phiên bản tiếng Pháp, Slimane là gương mặt xuất hiện nhiều nhất trong các dự án ghi âm tập thể, có thể giúp cho bài Mon Amie La Rose chinh phục thêm nhiều trái tim trong lớp fan trẻ tuổi.

Trên album Méditerranéennes, cho dù quốc tịch, màu da hay tuổi tác của các nghệ sĩ có khác nhau đi chăng nữa thì họ vẫn là những nhân vật, những tính cách trong cùng một câu chuyện kể, không gian bối cảnh (hai bờ nam bắc) hay là cột mốc thời gian (xưa cũng như nay) đều gắn liền với Địa Trung Hải. Điều đáng ghi nhận là các bản nhạc ở đây đều được ghi âm dưới dạng song ca và nhất là song ngữ, tạo ra sự tung hứng đối đáp giữa các giọng hát với nhau.

Những mẫu đối thoại ấy tựa như lời gọi mời, mong sao cho người nghe viết tiếp câu chuyện, tưởng tượng ra phần cuối của cuộc hành trình, những bài song ca ấy lại giống như những dấu gạch nối. Cho dù trên hộ chiếu có ghi quốc tịch gì đi chăng nữa, cho dù phải đi xa mà không biết có ngày trở lại thì những con người ấy vẫn luôn mang theo một tâm hồn Địa Trung Hải.

(Tuấn Thảo - RFI - 11/03/2017)

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1551 Posted : Sunday, April 11, 2021 6:26:42 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Eric Clapton - Năm khúc hát của cuộc đời bi kịch

Gia Trình - RFI - 10/04/2021
Eric Clapton luôn được biết đến như một nghệ sỹ guitar vĩ đại nhất mọi thời đại. Tuy nhiên, cuộc sống riêng tư của ông có khá nhiều bi kịch: không biết mặt cha, nghiện ma túy, yêu vợ bạn thân, con trai duy nhất qua đời. Thú vị hơn, sự nghiệp âm nhạc của Clapton có thể được tóm lược cô đọng qua năm khúc hát, kết dính được thế giới nội tâm trong chuỗi bi kịch.

Hát tặng cha - My father’s eyes (Đôi mắt của cha tôi)

Nghệ sỹ guitar đa tài sinh năm 1945 tại ngôi làng nhỏ Surrey, Anh Quốc. Một nghịch lý khá trớ trêu là Clapton lớn lên không biết người cha của mình là ai. Thực tế, cha ông, Edward Walter Fryer, người Canada, đi lính trước khi ông chào đời và không quay trở lại Anh. Chuyện Clapton mang họ mẹ có thể xuất phát từ việc mẹ ông, bà Patricia Molly Clapton mang thai ở tuổi 15. Bà sớm bỏ lại Clapton cho ông bà ngoại nuôi dưỡng, chuyển sang Đức sinh sống với chồng mới. Sự thiếu vắng tình cảm dường như là điều kiện thuận lợi Clapton làm quen với cây guitar năm 13 tuổi. Năm 20 tuổi, ông đã có bản hit đầu tay For Your Love với tư cách thành viên nhóm nhạc Yardbirds. Âm nhạc Clapton đậm chất blues, chịu ảnh hưởng của những cây đại thụ Freddie King, B.B.King.

Có nguồn tin nói rằng khi ông nổi tiếng và thành danh, cha ruột của ông đã liên lạc trở lại. Đó có thể là nguốn cảm hứng cho ca khúc đầy thiện cảm My father’s eyes (Đôi mắt của cha tôi). Ca từ bài hát ý nghĩa, truyền tải thông điệp nhân văn của ý thức hệ. Ông hoài niệm ra người cha mình khi nhận ra đôi mắt con trai mình giống hệt mình. Ca khúc này lọt vào Top 14 Billboard và đem lại cho ông giải Grammy trình diễn Pop xuất sắc nhất.

Then the light begins to shine ; And I hear those ancient lullabies ; And as I watch this seedling grow ; Feel my heart start to overflow ; Where do I find the words to say? ; How do I teach him? ; What do we play? ; Bit by bit, I've realized ; That's when I need them ; That's when I need my father's eyes.

Khi tia sáng bắt đầu tỏa nắng ; Và tôi nghe những lời hát ru xưa cũ ; Khi tôi ngắm những hạt mầm nảy nở ; Trái tim tôi bắt đầu tràn ngập ; Tôi có thể tìm ngôn từ ở đâu để nói ra? Làm sao tôi có thể dạy dỗ con trai tôi? Tôi nhận ra rằng Đó là khi tôi cần chúng, Đó là khi tôi cần ánh mắt của cha tôi.

Hát tặng người tình - Layla

Eric Clapton được ghi danh tới 3 lần vào Rock and Roll Hall of Fame dưới tư cách nghệ sỹ solo, thành viên nhóm nhạc Yardbirds và nhóm Cream. Tạp chí âm nhạc uy tín Rolling Stone bình chọn Clapton xếp thứ hai trong số 100 nghệ sỹ guitar vĩ đại nhất mọi thời đại.

Trong số các bản hit lừng lẫy, Layla là minh chứng rõ nét nhất cho tài năng chơi guitar của Clapton. Ca khúc ra đời năm 1970 vào thời điểm Eric Clapton tham gia nhóm Derek and the Dominos. Layla có một câu chuyện hậu trường thú vị. Clapton chơi thân với George Harrison, thành viên tứ quái The Beatles. Nhưng khá nực cười, tình bạn này lại nảy sinh chuyện tình đơn phương Clapton với Patty Boyd, vợ của Harrison.

Ca khúc Layla ra đời khắc họa sự say mê điên cuồng của Clapton với Boyd. Triết lý và ý nghĩa thâm thía của Layla xuất phát từ bài thơ của văn học Iran, Câu chuyện của Layla và Majnun. Tác phẩm lay động Clapton sâu sắc từ nguyên tác văn học tới cảm xúc thực tế. Ông quyết định viết một ca khúc về chuyện tình tuyệt vọng với người phụ nữ đẹp đã kết hôn, ông sẽ phát điên nếu không lấy được nàng.

Layla, you've got me on my knees ; Layla, I'm begging, darling please ; Layla, darling won't you ease my worried mind.

Layla, anh đang quỳ lạy dưới chân em ; Layla, anh cầu xin em hơi người tình ; Layla, em yêu em có thể xoà nhoà đầu óc phiền muộn của anh được không.

Về âm nhạc, Layla cũng có cấu trúc rất đặc biệt, gồm hai bản nhạc riêng rẽ được ghép nổi hoàn chính. Phần đầu chơi guitar được ghi âm trước, gây ấn tượng nhờ giai điệu mạnh mẽ, bùng nổ rock & blues. Phần tiếp theo được ghi âm sau vài tuần, tay trống Jim Gordon chơi piano tạo được giai điệu êm dịu mượt như nhung. Không nằm ngoài mong đợi, “chiếc cưa âm nhạc” Layla cũng giúp Clapton hạ gục trái tim người đẹp Patty Boyd.

Hát tặng vợ - Wonderful Tonight (Em tuyệt vời nhất đêm nay)

Sự nghiệp âm nhạc của Clapton thành công bao nhiêu thì bi kịch đời tư ông chất cao không kém. Khi rời bỏ nhóm nhạc Derek and the Dominos, Byrds, Cream ra chơi solo ở thập niên 1970, ông nghiện nặng heroin và rượu, đồng thời rút lui khỏi các cuộc biểu diễn. Tuy nhiên, những người bạn thân đã cố gắng giúp đỡ ông ra khỏi bóng đêm nghiện ngập.

Khi tình yêu với Patty Boyd đâm chồi nảy nở, Clapton từ bỏ được heroin. Hai người kết hôn năm 1979 sau 5 năm chung sống. Trong thời gian này, nghệ sỹ sáng tác ca khúc để đời cho người vợ ông cưa đổ bằng âm nhạc, Wonderful Tonight (Em tuyệt vời nhất đêm nay) trích trong album Slow hand (1977). Tờ Billboard nhận xét đây là bản ballad mềm mại và “đáng yêu” nhất của Clapton trong sự nghiêp đậm chất rock & blues. Bài hát mô tả tâm trạng chờ đợi người vợ trang điểm lên đồ đi dự tiệc tại gia của nghệ sỹ Paul McCartney.

Hát tặng con trai - Tears in heaven (Nước mắt trên thiên đàng)

Sau chuyện tình ồn ào với Patty Boyd, Clapton có mối quan hệ sâu sắc với người bạn gái Ý, Lory de Santo. Bé trai Conor ra đời là kết quả của mối tình này. Tuy nhiên, bi kịch khác ập đến, cướp đi tài sản quý giá nhất cuộc đời ông. Đứa con trai 4 tuổi qua đời khi rơi từ tầng 53 khu căn hộ tại New York, Mỹ. Khi nghe tin con trai qua đời, Clapton sững sờ, như “đóng băng” vì người bạn gái Santo thực sự hoảng loạn. Nhìn thấy xe cứu thương, và lao lên căn hộ nơi xảy ra biến cố, Clapton nói : “Tôi cảm giác như đang bước vào cuộc sống của ai đó.” Đám tang của Conor được tổ chức hai ngày trước sinh nhật thứ 46 của nghệ sỹ. Bi kịch thảm khốc này khiến ông lún sâu vào nghiện rượu để lấp đi khoảng trống tình cảm.

Cảm xúc mãnh liệt thôi thúc Clapton sáng tác bản nhạc Tears in Heaven (Nước mắt trên thiên đàng) như khắc họa sự đau đớn tột cùng khi mất đi con trai. Ca khúc đồng sáng tác với Will Jenning, được sử dụng nhạc phim Rush. Ca từ bài hát xúc động khi mô tả sợi dây tình cảm vô hình giữa Eric Clapton và con trai Conor.

Would you know my name, if I saw you in heaven? Would it be the same, if I saw you in heaven?

Liệu con còn nhớ tên cha khi cha thấy con trên thiên đường? Liệu mọi chuyện sẽ như cũ nếu cha thấy con trên thiên đường?

Một bản nhạc mô tả sự suy sụp tinh thần lại được khán giả toàn cầu đón nhận nồng nhiệt. Ca khúc được xuất bản trong album MTV Unplugged trình diễn live năm 1992. Album cùng tên lấy đi nước mắt của Ban giám khảo Grammy khi đoạt 3 giải thưởng quan trọng nhất: Ghi âm của năm, Ca khúc của năm, Album của năm. Ca khúc cùng tên leo hạng 2 Billboard và thành công trên toàn cầu đặc biệt tại Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Tên tuổi của Clapton bừng sáng trở lại sau một thời gian dài chìm trong sự cách ly xã hội và biến cố cá nhân. Thành công nghệ thuật của ông chịu ảnh hưởng sâu sắc trạng thái cảm xúc của người sáng tác.

Hát tặng cả thế giới - Change the world (Thay đổi thế giới)

Không chỉ chuyên sáng tác, sản xuất và biểu diễn là một thế mạnh không thể phủ nhận của Eric Clapton. Ca khúc Change the world đem lại cho Eric Clapton 3 giải Grammy năm 1996 trong đó có Ca khúc của năm và Ghi âm của năm. Bài hát sáng tác bởi Tommy Sims, Gordon Kennedy, Wayne Kirkpatrick được thu âm lần đầu bởi ca sỹ đồng quê Wyona Judd. Tuy nhiên, bản phối guitar acoustic của Eric Clapton với phần bè của Babyface đem luồng sinh khí mới cho tác phẩm.

Nhà thơ Bernie Taupin, người chuyên viết lời cho Elton John cho rằng đây là ví dụ điển hình bài hát thành công mà không cần ca từ đẹp. “Nó đòi hỏi việc sản xuất công phu và giai điệu bắt tai”. Tất nhiên, “bếp trưởng” Eric Clapton là người đủ kỹ năng và ngón nghề guitar để chế biến bài hát “hạng xoàng” thành món ăn hấp dẫn. Ai có thể nghi ngờ khi ông đã thay đổi cả thế giới bằng cảm xúc chân thật và những bi kịch đời tư?

(Theo Billboard, Rollingstone, Wikipedia)


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1552 Posted : Tuesday, April 13, 2021 11:15:46 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Louvre ra mắt 480.000 tác phẩm trên trang web mới

Tuấn Thảo - RFI - 13/04/2021
Giới yêu chuộng điện ảnh hẳn chắc vẫn còn nhớ trong phim "Lupin", tên trộm hào hoa Assane (Arsène) đã lên kế hoạch đánh cắp vòng xâu chuỗi của hoàng hậu Marie-Antoinette. Nếu như xâu chuỗi bằng đá qúy là một chi tiết hoàn toàn hư cấu, thì ngược lại Phòng triển lãm lớn (Grande Galerie) của Bảo tàng Louvre chẳng những có thật mà còn lộng lẫy hoành tráng hơn trước.

Vào lúc mà tất cả các cơ sở văn hóa Pháp vẫn còn bị đóng cửa, Viện bảo tàng Louvre đã tận dụng thời gian này để bố trí lại nhiều tác phẩm được trưng bày (điều này càng được thấy rõ tại các phòng triển lãm hội họa) nhưng xa hơn nữa, ban điều hành Louvre đã cập nhật lại toàn bộ kho dữ liệu của mình để giới thiệu trên "trang nhà" chính thức. Nhìn chung, có tới hai trang web đã được cho ra mắt trong tuần qua. Trang đầu tiên dành cho tất cả những tác phẩm đang được trưng bày trong Bảo tàng Louvre, phiên bản trực tuyến mới này với cách trình bày tinh tế bắt mắt, dễ theo dõi hơn và đi kèm với nhiều âm thanh và hình ảnh minh họa.

Gần nửa triệu tác phẩm trên 2 trang web mới

Trang web thứ nhì là một cơ sở dữ liệu, nơi mà khách tham quan có thể truy cập và tham khảo hơn 480.000 tác phẩm nghệ thuật thông qua các bộ ảnh chụp và tập hồ sơ. Con số này tương đương với ba phần tư bộ sưu tập lưu trữ của bảo tàng Louvre. Cũng cần biết rằng viện bảo tàng Pháp thuộc vào hàng lớn nhất thế giới, hiện đang nắm giữ gần 640.000 tác phẩm đủ loại và chỉ có chưa tới 10% bộ sưu tập này mới được đem ra trưng bày nhân các cuộc triển lãm. Nói như vậy có nghĩa là Viện bảo tàng Louvre thông qua trang web của mình lần đầu tiên cho công chúng vào xem 75% các tác phẩm nghệ thuật đang được cất giữ.

Tính tổng cộng, ban điều hành Viện bảo tàng Louvre đã mất hai năm làm việc để hoàn tất hai trang web này. Dĩ nhiên là dịch Covid-19 là một thảm họa đối với ngành văn hóa, cũng như các bảo tàng khác buộc phải ngưng hoạt động, Louvre đã mất hơn 70% nguồn thu nhập liên quan tới việc tiếp đón du khách nước ngoài, nhưng theo lời giám đốc bảo tàng Louvre Jean-Luc Martinez, trong cái rủi lại có cái may, cuộc khủng hoảng y tế đã đẩy nhanh kế hoạch "tân trang" mạng chính thức của Louvre, nhưng thay vì cập nhật đơn thuần, trang web đã được "thiết kế" lại từ đầu với nhiều nội dung phổ thông hay theo chuyên đề, thú vị hấp dẫn hơn nữa.

Dịch Covid-19 cũng đã thay đổi khá sâu rộng cung cách tiêu dùng hay giải trí. Nhờ tổ chức liên tục các cuộc triển lãm trực tuyến, trang web của Bảo tàng Louvre đã thu âm 21 triệu lượt truy cập trong năm 2020, trong khi trên các mạng xã hội, Louvre đã tăng gần gấp đôi số người theo dõi, vượt qua ngưỡng 10 triệu thành viên đăng ký. Điều đó giải thích vì sao ban điều hành Louvre đã buộc phải nhanh chóng thích nghi. Hình thức của cả hai trang web mới đều nhắm vào việc lôi cuốn và "cầm chân" đối tượng khách tham quan trẻ tuổi với khá nhiều video dễ nhớ, các bài liên quan dễ đọc và tất cả các nội dung trên mạng trình bày trong 4 ngôn ngữ : tiếng Anh, Tây Ban Nha, tiếng Hoa và tiếng Pháp đều có thể được tham khảo qua điện thoại di động.

Khánh thành kho lưu trữ mới các tác phẩm của Louvre

Cách đây một năm rưỡi, vào mùa thu năm 2019, Trung tâm bảo tồn các tác phẩm của Louvre đã được khai trương tại thành phố Liévin, phía bắc nước Pháp cách thủ đô Paris khoảng 200 cây số. Đó chính là dịp để cập nhật lại tất cả các dữ liệu (thư mục, hình ảnh, phác thảo, số liệu thống kê, bảng hướng dẫn...) liên quan đến toàn bộ sưu tập nghệ thuật của Louvre. Viện bảo tàng Pháp trước đây có kho dữ liệu Atlas, nhưng chủ yếu liên quan đến bộ sưu tập thường trực và được cập nhật định kỳ theo các cuộc triển lãm chuyên đề. Giờ đây, sau khi hoàn tất việc kiệt kê toàn bộ các dữ liệu của Trung tâm Liévin, ban điều hành Louvre mới triển khai các trang web mới với hơn 680.000 bức ảnh chụp từ gần nửa triệu (482.500) tác phẩm sẵn có trong kho lưu trữ. Nhờ vào bộ sưu tập phong phú và quý hiếm ấy, Louvre thường được xếp vào hàng đầu các viện bảo tàng lớn trên thế giới.

Theo bà Anne-Myrtille Renoux, trưởng ban điều hành mạng chính thức của Louvre, cả hai trang web đều phục vụ cho cả hai đối tượng khách tham quan cũng như các nhà nghiên cứu. Giới giáo viên và sinh viên có thể dùng với mục đích giảng dạy và học tập vì cơ sở dữ liệu này ngoài việc giới thiệu tác phẩm còn kèm theo nhiều chi tiết lịch sử, bối cảnh sáng tác, các liên kết trong thư mục. Còn khách tham quan khi bấm vào tác phẩm sẽ thấy hiện lên ngay nội dung tóm tắt, các giai thoại ly kỳ liên quan tới tác phẩm và nhất là vị trí sắp đặt của tác phẩm trong bảo tàng.

Để tiện bề theo dõi hơn nữa, trang web của Louvre đã xếp tác phẩm theo hạng mục hay chuyên đề. Khách tham quan có thể xem theo thể loại hội họa, điêu khắc, trang trí, dệt may .... của từng trường phái hay thời đại, nhưng quan trọng không kém là các album theo chuyên đề "Kiệt tác của Louvre", "Nghệ thuật Chân dung" qua nhiều thế kỷ và nhất là các "Tác phẩm mới mua" trong bộ sưu tập, mỗi album gồm khoảng 10 tác phẩm chủ đạo, liên kết với nhiều tác phẩm khác cho những ai muốn đi xa hơn.

Kiệt tác "Lễ đăng quang Hoàng đế Napoléon"

Theo bà Dominique de Font-Réaulx, trưởng ban điều hành chương trình sinh hoạt của Viện bảo tàng Louvre, các đợt phong tỏa vừa qua đã cho thấy khách truy cập thích chọn xem những cuộc triển lãm có hình thức không quá khô khan, nhờ vậy mà nội dung dễ tiếp thu hơn. Vì thế cho nên, ban điều hành Louvre đã tập trung khai thác cách dẫn dắt câu chuyện, dàn dựng nội dung sao cho hấp dẫn hơn nữa, khơi gợi được ngay tính tò mò của đa số khách truy cập. Trang web của Louvre từ đó mà trở nên thông thoáng dễ đọc, được minh họa với nhiều video, hình ảnh cũng như âm thanh.

Ngoài việc giới thiệu quần thể bảo tàng với những cảnh quay bên ngoài từ trên cao cũng như các khung hình cận cảnh quay ở bên trong, Louvre đã tận dụng công nghệ hình ảnh hiện đại nhất để đề cao các tác phẩm hàng đầu của mình trong đó có bức chân dung La Joconde (Mona Lisa), Tượng thần Vệ nữ Milo, Thần chiến thắng Samothrace hay bức tranh Tự do dẫn đường của Delacroix. Bên cạnh đó, một trong những điểm mới của trang web chính thức là những "lộ trình tham quan" dành cho những người không có nhiều thời gian hay là các fan đăng ảnh trên mạng Instagram. Giới ghiền đọc tiểu thuyết và xem phim "Da Vinci Code" không thể nào bỏ qua "La Joconde" cũng như nhiều các tác phẩm quen thuộc với nhà nghiên cứu Robert Langdon, nhân vật chính bộ truyện của Dan Brown.

Còn giới hâm mộ các thần tượng ca nhạc hẳn chắc sẽ muốn xem bức kiệt tác của David (vẽ vào năm 1807) mô tả "Lễ đăng quang của Hoàng đế Napoléon", vốn là một trong những tác phẩm yêu chuộng nhất của cặp vợ chồng nghệ sĩ tỷ phú Beyoncé và Jay-Z trong đoạn video âm nhạc "Apelshit". Tác phẩm này cũng được nhắc đến rất nhiều trong năm 2021, nhân dịp nước Pháp tổ chức lễ kỷ niệm 200 năm ngày giỗ của Napoléon Đệ Nhất (1769-1821).


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1553 Posted : Wednesday, April 14, 2021 6:14:49 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

« Chúa tể những chiếc nhẫn » và phiên bản phim Xô Viết

Minh Anh - RFI - 13/04/2021
Liên Xô từng dàn dựng bộ phim « Chúa tể những chiếc nhẫn » từ năm 1991. Ba mươi năm sau lần phát sóng duy nhất, năm Liên Xô sụp đổ, bộ phim này, với phối cảnh và những hiệu ứng kỹ xảo bằng bìa cứng, tưởng chừng đã biến mất, nay lại xuất hiện trên Youtube, làm nức lòng người hâm mộ J.R.Tolkien ở Nga.

Theo báo Pháp Le Monde, phóng tác từ « Hiệp hội nhẫn thần - Fellowship of the Ring », phần đầu tiên của bộ truyện nổi tiếng, bộ phim « Khraniteli – Những người canh gác », đã được Liên Xô dàn dựng và cho phát sóng lần đầu vào ngày 13-14/04/1991, trên đài truyền hình Leningrad, nay là Saint-Petersbourg.

Ra mắt công chúng Nga 10 năm trước bộ ba nổi tiếng của đạo diễn Peter Jackson, phim do Liên Xô sản xuất với một ngân sách cực kỳ thấp, vừa « phi lý và quái dị nhưng cũng vừa thần thánh và hoành tráng », báo Anh The Guardian thốt lên như vậy.

« Khraniteli – Những người canh gác » của nữ đạo diễn Natalia Serebryakova là một phiên bản thô sơ và đôi khi khó hiểu về một thế giới « Trung Địa » (Middle-Earth) hư cấu. « Nhiều cảnh quay giống như là một vở kịch hơn là phim truyện », theo như đánh giá của nhiều nhà báo Anh. Nhạc phim, do nhà soạn nhạc Andrei Romanov sáng tác – đồng sáng lập nhóm nhạc rock Aquarium và cũng giữ vai người kể - chẳng ăn nhập với cốt truyện còn làm cho cảm giác vô vị càng thêm thú vị.

Nghệ sĩ Nga, Irina Nazarova, khi trả lời đài BBC nhận định rằng « Khraniteli », chính là hình ảnh của một nước Liên Xô bị tan rã năm 1991. « Trang phục kỳ dị, hóa trang tệ hại, không đạo diễn, không dàn dựng… tất cả những điều đó gợi nhớ lại một đất nước đang bị sụp đổ ».

Cũng theo nữ nghệ sĩ Nga, chính điều kiện để thực hiện bộ phim đã thu hút sự chú ý của cô. « Bộ phim được thực hiện mà không có sự trợ giúp của bất kỳ ai. Thời đó, người ta có thể đợi tiền lương trong vòng 6 tháng và chẳng biết làm thế nào để nuôi con. »

Valery Dyachenko, người thủ vai Frodon, trên kênh truyền hình Nga 360° hồi tưởng : « Lúc ấy chỉ có 4 con ngựa để cắm trại người Nazguls, để tạo cảm giác là có đến 8 con, người ta phải chúng đi qua trước ống kính lần thứ hai. »

Kiểm duyệt

Trong vòng 30 năm qua, những người Nga hâm mộ Tolkien lùng sục « Khraniteli » trong đống tư liệu nhưng không tài nào tìm ra. The Guardian nhắc lại rằng ngay từ năm 1954, ít lâu sau khi bộ ba tập truyện « Chúa tể những chiếc nhẫn » được phát hành, mối quan tâm đối với nhà văn Anh đã trỗi dậy ở Nga.

Câu chuyện kể về một liên minh người, thần tiên và người lùn chiến đấu chống lại một thế lực phương đông chuyên chế được cảm nhận như là một câu chuyện ngụ ngôn cuộc xung đột giữa chủ nghĩa cá nhân phương Tây và chủ nghĩa cộng sản toàn trị, dẫn đến việc bộ truyện đã bị chính quyền Xô Viết cấm đoán.

Trong những năm 1960, một phiên bản rút gọn, đặt tên là « Câu chuyện của chiếc nhẫn », bí mật lưu hành tại Liên Xô. Tiếp theo đó là các bản dịch được được phân phối dưới dạng sao chép thủ công, những tác phẩm này được phát tán trái phép dưới dạng in sao lại hay in ronéo.

Phải đợi đến năm 1982, một ấn bản biên soạn lại của « Hiệp hội nhẫn thần » mới chính thức xuất hiện, do Vladimir Muravyov và Andrey Kistyakovsky biên dịch. Sau khi Liên Xô sụp đổ, nhiều bản dịch về bộ ba truyện này đã được phát hành.

Theo trang mạng World of Fantasy, đây không phải là tác phẩm chuyển thể đầu tiên của Tolkien trên truyền hình Liên Xô. Năm 1985, kênh truyền hình Leeningrad từng phát sóng « Cuộc phiêu lưu kỳ thú của Bilbo Baggins, Anh chàng Hobbit » (The Fabulous Journey of Mr. Bilbo Baggins, The Hobbit), một bộ phim chuyển thể kinh phí thấp với sự tham gia của các vũ công ba lê của nhà hát vũ kịch Mariinsky ngày nay và một người kể chuyện có râu ria mép đóng vai Tolkien.

Trang mạng này cũng cho biết thêm là năm 1991, một dự án phim hoạt hình được đặt tên là « Kho báu dưới núi », cũng lấy cảm hứng từ tác phẩm của Tolkien đã được khởi động và sau đó bị bỏ dở. Dự án này, giờ chỉ còn lại 6 phút, có sẵn trên mạng.

Riêng với « Khraniteli », tưởng chừng đã biến mất, ngày 27 và 28/03/2021, kênh truyền hình Petersbourg TV-5 đã cho đăng lại trên Youtube. Hai tập phim này đã thu hút gần 850 ngàn lượt người xem trong ngày thứ Ba 06/04.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1554 Posted : Thursday, April 15, 2021 6:45:00 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

(AFP) - Liên hoan phim Venise dành giải thưởng Sư Tử Vàng vinh danh toàn bộ sự nghiệp của đạo diễn Ý Roberto Benigni. Ngày 15/04/2021, ban tổ chức thông báo đây là giải thưởng đặc biệt cho một nhà làm phim đã liên tục cống hiến những tác phẩm ý nhị và khôi hài nhất từ năm 1975 tới nay. Ông được cả thế giới biết đến qua tác phẩm La Vie est belle - La vita è bella (1997), nói về thảm cảnh của người Do Thái dưới Đức Quốc Xã. Trong bộ phim này, Benigni dành cho mình vai một người cha Do Thái cứu đứa con khỏi thế giới đen tối của những trại tập trung. Bộ phim này đoạt Giải Thưởng của Ban Giám Khảo liên hoan Cannes, và thu về ba giải Oscar, trong đó có giải thưởng dành cho nam diễn viên xuất sắc nhất.
RFI - 15/04/2021



Covid-19 : Chuỗi rạp phim Mỹ Pacific Theatres đóng cửa luôn

Tuấn Thảo - RFI - 15/04/2021
Do dòng họ Forman thành lập kể từ năm 1946, chuỗi rạp hát Pacific Theatres cũng như ArcLight Cinemas đều khá nổi tiếng ở bang California, Hoa Kỳ. Cả hai chi nhánh này đều do công ty gia đình Decurion Corporation khai thác. Theo thông báo chính thức của Decurion hồi đầu tuần, cả hai chuỗi rạp chiếu phim này sẽ vĩnh viễn ngưng hoạt động.

Tại Mỹ, ngành văn hóa đang có dấu hiệu phục hồi, tuy còn chậm nhưng vẫn đang từng bước nối lại với các hoạt động chuyên ngành. Cũng như New York, thành phố Los Angeles đã cho phép mở lại các phòng chiếu phim kể từ ngày 15/03/2021. Tuy vẫn còn buộc phải hạn chế số người xem cho tới giữa tháng 06/2021 ở mức tối đa là 25%, (tức chỉ bằng một phần tư so với mức khán giả bình thường vào năm 2019) nhưng đã có khá nhiều rạp chiếu phim ở Mỹ, bắt đầu hoạt động trở lại sau hơn một năm đóng cửa, chủ yếu là để khai thác một số phim blockbuster được cho ra mắt nhân dịp này.

Rạp phim chỉ bán 25% vé cho khán giả

Sự thành công của bộ phim "Godzilla đại chiến Kong" do đạo diễn Adam Wingard thực hiện cho hãng phim Warner Bros, với hơn 70 triệu đô la chỉ riêng trên thị trường Mỹ sau 2 tuần trình chiếu, đồng thời bộ phim này cũng đã lập kỷ lục 360 triệu đô la doanh thu toàn cầu thời Covid, đủ cho thấy là giới khán giả ghiền xinê vẫn rủ nhau đi xem phim ở rạp, mỗi lần họ có cơ hội và cho dù điều đó buộc người xem phải tuân thủ khá nhiều điều kiện ràng buộc, chủ yếu là ngồi cách xa nhau, đeo khẩu trang trong suốt buổi chiếu phim và thậm chí không được quyền ăn uống.

Trái với các công ty khác, hai chuỗi rạp hát "Arclight Cinemas" và "Pacific Theatres" thuộc công ty Decurion đã quyết định không mở cửa trở lại vào ngày 15/03 dù sau hơn một năm dịch Covid-19 đã làm tê liệt ngành phân phối cũng như sản xuất phim. Theo dự kiến ban đầu, Decurion chỉ mở lại các phòng chiếu phim kể từ ngày 15/06 trở đi, với hy vọng là không còn hạn chế về số lượng khán giả, cũng như các quy định ràng buộc sẽ được dỡ bỏ, có như vậy các rạp chiếu phim mới hy vọng bội thu, kiếm thêm được lời sau các chi phí hoạt động.

Thế nhưng, rốt cuộc công ty Decurion đành phải thông báo đóng cửa luôn hai chuỗi rạp phim Arclight và Pacific. Tính tổng cộng, có khoảng 300 phòng chiếu phim chia đều trên 20 cơ sở khác nhau trên toàn bang California, tại nhiều thành phố ven biển phía tây Hoa Kỳ. Sau đợt sa thải đầu tiên, lần này tất cả các nhân viên còn lại của "Arclight Cinemas" cũng như "Pacific Theatres" đều có nguy cơ bị mất việc luôn.

Các chủ rạp chiếu phim lâm vào thế kẹt

Trong vòng hơn một năm, gần một nửa các rạp chiếu phim trên toàn nước Mỹ vẫn phải tiếp tục đóng cửa. Tùy theo quy định của từng bang, một số rạp xinê khi quyết định mở cửa trở lại, vẫn bị vắng khách do còn thiếu quá nhiều phim thương mại, không đủ sức lôi cuốn khán giả vào rạp. Các chủ rạp chiếu phim lâm vào thế "tiến thoái lưỡng nan" : mở hay đóng đều bị thất thu. Còn giới phân phối nằm trên đe dưới búa do chịu áp lực cùng lúc từ nhiều phía.

Hãng phim Paramount không ngừng dời lại ngày ra mắt các bộ phim nặng ký như tập nhì của "Top Gun, Maverick", hay các phần kế tiếp của "Mission Impossible". Disney cũng dời lại lần thứ năm bộ phim mang thương hiệu Marvel "Black Widow". Về phần mình Warner Bros gây tranh cãi khi trình làng trên mạng thay vì ra mắt khán giả ở rạp phiên bản mới của "Liên minh Công lý" (Zack Snyder), tập nhì "Wonder Woman 1984", khiến cho các chủ rạp phim mất cơ hội kinh doanh khai thác. Duy chỉ có "Godzilla đại chiến Kong" và sắp tới đây nữa là phiên bản điện ảnh 2021 của trò chơi video "Mortal Kombat" (Trận đấu sinh tử) được chiếu cùng lúc ở rạp và trên mạng phim trực tuyến. Ngoại trừ hai trường hợp ngoại lệ này, có thể nói số phim bom tấn có khả năng lôi kéo khán giả vào rạp được đếm trên đầu ngón tay.

Điều đó càng gây thêm áp lực lên các nhà phân phối phim. Hệ thống các rạp hát Regal và AMC Theatres tuy đã gặp nhiều khó khăn trong năm qua, nhưng đã mở lại các hoạt động kinh doanh, chủ yếu cũng vì họ tìm được nguồn vốn đầu tư hỗ trợ. Trong khi đó, so với hai tập đoàn giải trí khổng lồ này, "Arclight Cinemas" cũng như "Pacific Theatres" chỉ thuộc vào hàng công ty cỡ trung bình hoạt động một cách độc lập, sức chịu đựng của công ty mẹ Decurion cũng phần nào có giới hạn trước cú sốc kinh tế quá mạnh của dịch Covid-19.

Đối với giới yêu chuộng điện ảnh, chuỗi rạp chiếu phim "Arclight Cinemas" và "Pacific Theatres" đều khá quen thuộc, quan trọng nhất vẫn là nhà hát vòm cầu "Cinerama Dome" nằm trên Đại lộ Hoàng hôn Sunset Boulevard, còn rạp chiếu phim "Grove" nằm tại West Hollywood. Pacific Theatres có 6 cơ sở ở phía nam California, còn Arclight Cinemas cũng có thêm chi nhánh tại Boston, Chicago, San Diego và Bethesda ở bang Maryland. Riêng nhà hát vòm cầu "Cinerama Dome" từng là nơi mà các đoàn phim chọn để ra mắt công chúng nhiều tác phẩm nổi tiếng.

Rạp phim xưa : Di sản văn hóa của Los Angeles

Được xây dựng từ năm 1963, "Cinerama Dome" nhanh chóng trở thành một rạp hát thời thượng, một địa điểm quen thuộc trong mắt giới du khách nước ngoài, cho nên vào cuối năm 1998, nhà hát này đã trở thành di sản văn hóa của Los Angeles, theo quyết định của hội đồng thành phố. Vào năm 2019, hình ảnh của "Cinerama Dome" trên Đại lộ Hoàng hôn đã đi vào lòng người mến mộ, sau khi đạo diễn Quentin Tarantino thu hình cho bộ phim "Once Upon a Time in... Hollywood".

Trên các mạng xã hội, xuất hiện hàng loạt tin nhắn sau khi Arclight Cinemas buộc phải đóng cửa "Cinerama Dome". Rất nhiều tên tuổi nổi tiếng tại Hollywood, trong đó có các đạo diễn cũng như diễn viên Barry Jenkins, James Gunn, Rian Johnson, Lulu Wang, Edgar Wright, Joseph Gordon đều bày tỏ nỗi xúc động và thất vọng khi hay tin một rạp chiếu phim lâu đời như "Cinerama Dome" bị phá sản. Về phần mình nhà văn Matt Oswalt đã ngỏ lời kêu gọi giới văn nghệ sĩ huy động quyên góp ủng hộ. Ông hy vọng rằng "Cinerama Dome" sẽ nhận được sự giúp đỡ như trường hợp của nhà hát New Beverly (một trong những rạp hát xưa nhất của Los Angeles) đã từng được đạo diễn Tarantino bỏ tiền ra mua lại vào năm 2007. Còn nhà hát Ai Cập Grauman's Egyptian xây từ năm 1922 tại Hollywood, đã được tập đoàn Netflix mua lại vào năm 2020.

Do được xem là một "di sản văn hóa" của Los Angeles, cho nên có nhiều khả năng nhà hát "Cinerama Dome" sẽ tìm được nguồn tài trợ. Riêng các cơ sở khác của "Arclight Cinemas" và "Pacific Theatres" nếu không được sáp nhập vào các công ty phân phối điện ảnh khác, có nguy cơ đóng cửa luôn và biến đổi thành cửa hàng, văn phòng hay trung tâm thương mại. Giới chuyên ngành đã từng cảnh báo rằng các rạp chiếu phim độc lập khác với các rạp phim multiplex hiện đại, có nhiều nguy cơ bị đóng cửa vĩnh viễn. Trong trường hợp của "Arclight Cinemas" và "Pacific Theatres", kịch bản tồi tệ nhất cuối cùng cũng đã diễn ra.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1555 Posted : Saturday, April 17, 2021 7:44:39 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Bartók Béla, người khổng lồ của âm nhạc thế giới

Hoàng Nguyễn - RFI - 17/04/2021
Trong những ngày dịch bệnh hoành hành trên đất nước Hungary, mà vị thủ tướng nước này phải thốt lên than thở “chúng ta đang ở những thời khắc đen tối nhất trước bình minh”, ít ỏi du khách đặt chân tới thủ đô Budapest có thể thấy trên đường phố những áp-phích khổ lớn với dòng chữ “Mùa xuân Bartók” (Bartók tavasz).

Đây là sự quảng bá cho “Các tuần lễ Nghệ thuật Quốc tế” diễn ra từ mùng 2/4 tới 18/4/2021, điểm sáng văn hóa đáng kể duy nhất sau hơn 1 năm mà nước này phải bế quan tỏa cảng và đóng cửa với các biện pháp ngặt nghèo phòng chống đại dịch Covid-19. Đồng thời, nó nhắc nhớ tới một tên tuổi âm nhạc lớn của Hungary: Bartók Béla.

Đại nhạc sư này được giới am tường đánh giá là đã để lại dấu ấn và ảnh hưởng rất lớn đến nền âm nhạc Hungary, châu Âu và thế giới thế kỷ 20, một trong những danh nhân tầm quốc tế của nước Hung. Ngày 25/3, nước Hung kỷ niệm 140 năm ngày sinh của Bartók Béla, người mà ngay ở Paris cũng có tượng đài và công viên mang tên ông.

Sự nghiệp âm nhạc của Bartók Béla rất đa dạng: không chỉ là một nghệ sĩ dương cầm lớn, một trong những nhà soạn nhạc quan trọng nhất của thế kỷ trước, mà ông còn là nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Đông Âu, người sáng lập ngành Dân tộc nhạc học với các công trình “chuẩn hóa” dân ca và do đó, gìn giữ được hồn cốt các dân tộc.

Khởi nguồn nghệ thuật

Bartók Béla chào đời năm 1881 tại một vùng đất đặc biệt nằm ở phía nam của Vương quốc Hungary, mà sau này Hiệp định hòa bình Trianon chấm dứt Đệ nhất Thế chiến đã chia cắt cho Serbia và Rumani. Đây là nơi luôn có sự chung sống của nhiều dân tộc như Serbia, Rumani, Đức, Bulgari và Hungary, nét đa văn hóa đó đã có ảnh hưởng không nhỏ tới tính cách và sự nghiệp của Bartók về sau này.

Được thừa hưởng nền tảng của cha mẹ là các trí thức am hiểu âm nhạc - cha ông chơi thạo nhiều nhạc cụ, sáng tác một số vở nhạc vũ và từng tổ chức một hiệp hội âm nhạc cùng rất nhiều buổi hòa nhạc tại địa phương, còn mẹ ông, một phụ nữ gốc Đức, là một nhạc công xuất sắc - nên Bartók cho rằng ông có được thiên hướng và tài năng trong âm nhạc là nhờ họ và bầu không khí tinh thần như vậy.

Được mẹ chăm lo, chiều chuộng nên thuở nhỏ, cậu bé Bartók tỏ ra rụt rè, ít tiếp xúc, và do bị nhiễm trùng khi chủng đậu mùa nên cho đến năm lên 5 tuổi, cậu luôn phải tới bác sĩ điều trị. Chậm biết đi, hơn 2 tuổi mới bắt đầu biết nói, nhưng từ năm 1 tuổi cậu đã rất để tâm tới nhạc và ra hiệu là thích loại nhạc nào. Một tuổi rưỡi, cậu nhận biết được giai điệu và khi lên bốn, đã chơi được một tay trên dương cầm.

Theo hồi ức của người nhạc sĩ lớn sau này, lúc đó, cậu bé 4 tuổi đã thuộc được chừng 40 bản dân ca, và nếu ai nói từ đầu của bài là Bartók lập tức nhớ ngay được giai điệu. Nhạc dân tộc đã đi vào tâm thức của Bartók như thế, và đặt nền móng cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên cứu và hệ thống hóa “dân nhạc” - cũng như việc đưa nhạc dân tộc vào những sáng tác để đời của ông trong những năm tháng sau.

Bartók Béla được cha dạy bài nhạc dương cầm đầu tiên vào sinh nhật 5 tuổi, và một tháng sau, cậu đã khiến cha ngạc nhiên với khả năng “chơi bốn tay” cùng cha. Năm lên 6, cậu có được ấn tượng lớn khi lần đầu nghe giao hưởng: theo lời kể của bà mẹ, “các vị khách vẫn tiếp tục ăn uống, nhưng cậu lập tức đặt thìa dĩa xuống bàn và chỉ tập trung nghe nhạc, và bất bình vì sao nhạc hay thế mà thiên hạ cứ ăn”.

Đó là một buổi hòa nhạc do hiệp hội âm nhạc mà cha cậu đứng đầu tổ chức, và chắc chắn là có vai trò ngoạn mục trong sự hình thành thẩm mỹ của Bartók. Lên 7 tuổi, cậu đã có “khiếu thẩm âm tuyệt vời”, vẫn theo lời người mẹ, và sau đó cậu đã bắt đầu sáng tác tặng mẹ. “Như dòng chảy của sông Danube vậy”, cậu nói, nhưng rồi không ngờ cuộc sống êm đềm ấy mau chóng kết thúc với sự ra đi của người cha.

Bậc thầy trong nghiên cứu nhạc học

Đang rất tiến bộ trong quá trình học hỏi, nhưng Bartók và cả gia đình đã gặp phải thay đổi lớn lao khi cha ông qua đời khi còn rất trẻ, năm 32 tuổi. Khi đó, Bartók mới lên 8, và mẹ ông phải bỏ dạy trong trường để nuôi dạy và rèn nhạc cho con. Cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn: cuối năm đó, họ phải trả lại căn hộ công vụ của gia đình. Bắt đầu một thời kỳ mà họ phải sống tằn tiện, và cứ hàng năm lại đổi chỗ ở.

Bước ngoặt đến với chàng trai Bartók khi ông chuyển lên Bratislava, được coi là thành phố lớn so với các vùng quê mà ông từng sống, và khi đó là đô thị quan trọng của Vương quốc Hungary. Được thụ giáo một bậc thầy có tiếng, ông trở thành nghệ sĩ dương cầm triển vọng và trình diễn tốt các bản nhạc của Chopin, Liszt... Khi đó, ông quyết định không qua Vienna, mà lên Budapest theo người thầy của mình.

Năm 18 tuổi, Bartók thi đậu vào Nhạc viện Pest, “thánh địa” của âm nhạc cổ điển Hungary do “ông hoàng của nhạc lãng mạn” Liszt Ferenc sáng lập, và chỉ trong 2 năm, ông tốt nghiệp khoa Trình diễn và Sáng tác. Nhanh chóng, Bartók trở thành một danh cầm lưu diễn ở nhiều nơi, từ Budapest qua Vienna, nhưng sự nghiệp sáng tác của ông vẫn dậm chân ở mức mày mò, cho tới khi ông gặp dòng nhạc thôn quê.

Đó là năm 1904, khi Bartók bắt đầu những chuyến “điền dã” về các miền quê, và dần dần phát hiện ra nét đẹp và sự khác biệt giữa 2 thể loại “dân nhạc” và “nhạc thôn quê”. Một năm sau, ông khởi đầu thu thập và nghiên cứu một cách khoa học nền nhạc dân tộc. Năm 1906, ông được thụ giáo, học hỏi và hỗ trợ từ Kodály Zoltán, một “người khổng lồ” khác của nền nhạc Hungary, được xem như nhà bác học về nhạc học.

Bartók đã bỏ ra hơn 10 năm để đi về các vùng quê của Đế chế Áo - Hung, sau đó, ông còn sang Thổ và Bắc Phi để tìm hiểu những nét đặc sắc trong nhạc dân tộc của các xứ sở này. Nhờ đó, về sau này, người nhạc sĩ đã có nguồn cảm hứng mới từ những âm hưởng dân gian phong phú, tạo nên một trường phái mang tên ông, với dáng dấp mới mẻ, hiện đại, khai phóng và tiên phong trong nền nhạc cổ điển Hung.

Trên cương vị nghiên cứu nhạc học, Bartók đã có một tác phẩm lớn, để đời mang tên “Nhạc dân tộc Hungary” (năm 1924), trong đó ông thu thập, phân tích và tái biên soạn các bản nhạc dân tộc Hung cho đời sau. Một công trình nghiên cứu lớn khác của ông, in năm 1934, với tựa đề “Dân nhạc Hungary và nhạc dân tộc các nước lân cận”, hay được nhắc tới và được coi là nghiên cứu cơ bản của môn Âm nhạc So sánh.

“Trường phái Bartók”

Năm 26 tuổi, Bartók được giữ cương vị giáo sư dương cầm tại Nhạc viện Hoàng gia Quốc gia Budapest, và thực sự khởi đầu sự nghiệp sáng tác. Tuy nhiên, các tác phẩm của ông vì tính mới lạ và khó cảm thụ, thoạt đầu không chiếm được cảm tình của giới phê bình và công chúng. Những sáng tác chịu ảnh hưởng “nhạc thôn quê” của ông ngày càng “lạ”, đặc trưng và cấp tiến, và tiến gần tới chủ nghĩa biểu hiện.

Không nản chí, Bartók vẫn theo đi con đường riêng, để dần dần định hình và tạo dựng “Trường phái Bartók Béla” trong thời gian giữa 2 cuộc Thế chiến, kết hợp và đồng hóa ảnh hưởng của các trường phái cổ điển, lãng mạn và biểu tượng với những tinh túy của nhạc dân tộc châu Âu, và cả những nét nhạc châu Phi và Ả Rập. Phong cách ấy của nhạc Bartók đã có tầm ảnh hưởng khá lớn đến nhạc đương đại thế giới.

Những tác phẩm của ông, dù là sáng tác cho sân khấu opera, nhạc balet, tứ tấu đàn dây, độc tấu dương cầm, concerto cho đàn violin hoặc cho dàn nhạc đều không dễ cảm nhận, dường như chỉ dành cho giới “sành nhạc”. Dầu vậy, “Lâu đài yêu râu xanh”, “Hoàng tử gỗ”, “Mandarin tuyệt vời”, “Cantata Profana” hay “Mikrokozmosz”... về sau này đều được giới phê bình đánh giá là những kiệt tác trong thể loại của chúng.

Là thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Hungary, Bartók được coi là người đã đưa văn hóa âm nhạc Hung lên tầm thế giới và ở nửa đầu thế kỷ 20, trong số các nhà soạn nhạc lớn thì ông đã tìm được giải pháp hoàn thiện nhất, đầy đủ nhất và thuyết phục nhất trên phương diện ý tưởng và nghệ thuật, giữa những mâu thuẫn, mê lộ và cách trở của thời đại ông sống. Như một danh cầm, ông cũng có dịp lưu diễn ở 22 nước.

Trong những chuyến đi ấy, Paris đương nhiên là một chặng không thể thiếu với Bartók: năm 1905, ông tham dự Cuộc thi Dương cầm Rubinstein nhưng không đoạt giải. Tuy nhiên, nhạc của ông đã được giới nghệ sĩ trẻ Pháp để tâm và yêu thích: năm 1922, Bartók đã có dịp giới thiệu bản sonat thứ nhất dành cho vĩ cầm với sự hiện diện của các tên tuổi Ravel và Stravinsky. Năm 1931, ông được nhận huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp.

Với thời gian, Bartók trở thành một trong những tên tuổi đại diện của nền văn hóa Hung tại Pháp, và thuộc hàng những nhà soạn nhạc ngoại quốc được trình diễn nhiều nhất tại các khán phòng Pháp. “Allegro Barbaro”, tác phẩm lớn sáng tác năm 1911 dành cho đàn dương cầm của Bartók, được coi là một tác phẩm điển hình cho chủ nghĩa hiện đại Hungary trong 1 triển lãm lớn kéo dài gần 3 tháng ở Paris.

Nổi trôi theo dòng lịch sử

Bartók Béla là một “công dân thế giới” theo đúng nghĩa của từ này: học nhạc tại Hung, Tiệp, biểu diễn tại Đức, Áo, Anh, Pháp, Hà Lan, Liên Xô, Thổ Nhĩ Kỳ... và định cư ở Mỹ. Dầu vậy, trong những năm tháng “nhiễu nhương” của thời cuộc, không phải lúc nào Bartók Béla cũng được nhìn nhận đúng tầm vóc của ông: ngay ở quê hương, cũng có những tháng năm dài tên tuổi Bartók bị vùi dập và tưởng như đi vào quên lãng.

Chẳng những là một nhạc sĩ lớn, Bartók Béla còn là một nhà ái quốc với câu nói nổi tiếng : “Tôi chỉ có một mục đích: phục vụ dân tộc và tổ quốc Hung”. Khi chủ nghĩa phát-xít bắt đầu lan rộng ở châu Âu, ông đã cấm các kênh phát thanh Đức và Ý chơi nhạc của ông và dần dần, đoạn tuyệt các mối quan hệ âm nhạc liên quan đến Đức. Năm 1940, Bartók cùng vợ phải sang Mỹ lánh nạn Thế chiến - mà theo ông nghĩ chỉ là “tạm thời”.

Tuy nhiên, vì bệnh tình máu trắng quá nặng, Bartók từ trần tại Mỹ năm 1945, ngay sau khi nước Hung thoát khỏi ách phát-xít. Những năm đầu của chế độ cộng sản ở Hung, sự nghiệp âm nhạc của Bartók đã bị trù dập, việc Mỹ và các nước Phương Tây tôn trọng và đánh giá cao nhạc và những công trình nghiên cứu nhạc học của ông, đã khiến chính quyền Hung cho rằng ông “phục vụ chủ nghĩa đế quốc”.

Cùng những tài danh khác của nền âm nhạc Hungary như Kodály Zoltán, Seress Rezső (tác giả “Chủ nhật buồn”, được coi là bản nhạc tình buồn nhất thế kỷ 20), nhiều tác phẩm của Bartók đã bị cấm ở Hung trong một thời gian. Nhạc của ông còn bị coi là “khó hiểu”, “theo chủ nghĩa hình thức”, xa lạ với quần chúng và người yêu nhạc thời ấy. Tuy nhiên, lịch sử vốn công bằng và hậu thế đã trả lại vị thế xứng đáng cho Bartók Béla.

Cuộc Cách mạng mùa thu năm 1956 và ba thập niên của “nền độc tài mềm dẻo” của tổng bí thư Kádár János sau đó đã từng bước đem các tác phẩm của Bartók trở lại với công chúng. Tên ông được đặt cho đường phố ở Budapest, tượng ông được dựng tại London, Paris và Bruxelles: tại Bỉ, đây là pho tượng duy nhất của một danh nhân Hung! Một thời, hình Bartók được đưa lên đồng tiền mệnh giá 1.000 Forint của Hung.

Và sau 43 năm, vào mùa hạ 1988, tro cốt Bartók Béla đã được trở về với cố quốc, khi đó đang đứng trước ngưỡng cửa tự do, và ông được vinh danh như nhà soạn nhạc xuất chúng của Hung thế kỷ 20. Tại Paris, tượng của Bartók nằm ở một công viên nhỏ rợp bóng cây mang tên ông tại quận 15, gần tháp Eiffel, là nơi là giới yêu văn nghệ và Hung kiều thường lai vãng để tưởng nhớ người nghệ sĩ đi ra thế giới từ Đông Âu!



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1556 Posted : Monday, April 19, 2021 7:32:56 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Tưởng niệm nhà nhiếp ảnh thời trang Alice Springs

Tuấn Thảo - RFI - 19/04/2021
Trong làng nghệ thuật quốc tế, Alice Springs nổi tiếng là người bạn đồng hành của "huyền thoại nhiếp ảnh" Helmut Newton. Cặp vợ chồng nghệ sĩ Úc-Đức này đã định cư tại Monte Carlo từ năm 1981. Sau khi ông Helmut từ trần, bà chủ yếu quản lý Quỹ lưu trữ Newton tại Berlin. Hôm 09/04/2021 vừa qua, bà Alice Springs đã vĩnh biệt cõi đời, hưởng thọ 97 tuổi.

Tên thật là June Browne-Newton (1923-2021), bà sinh trưởng ở thành phố Melbourne trong một gia đình có năng khiếu nghệ thuật. Từ thời còn trẻ, bà đã chọn đeo đuổi sự nghiệp sân khấu, do vậy bà đã lấy nhiều nghệ danh trước khi thành hôn vào năm 25 tuổi (1948) với nhiếp ảnh gia người Đức Helmut Newton. Riêng cái tên "Alice Springs" đủ cho thấy gia đình của bà xuất thân từ nước Úc. Khi chọn một nghệ danh để hoạt động trong nghề nhiếp ảnh, bà đã lấy Alice Springs, tên của một thành phố ở Lãnh thổ Bắc Úc (Northen Territory) còn được dân bản xứ gọi là "Mparntwe".

Từ bỏ sàn diễn để theo chồng lập nghiệp

Lần đầu tiên xuất hiện trên sàn diễn vào đầu những năm 1940, June Browne có nghệ danh là June Brunell. Trong phim tài liệu "Helmut by June", bà cho biết đã gặp ông qua lời giới thiệu của bạn bè, lúc ấy bà cần một bộ ảnh chân dung cho sự nghiệp sân khấu của mình. Thời bấy giờ, ông Helmut còn mang tên Neustädter, kiếm sống nhờ nghề chụp hình đám cưới chứ chưa phải là "huyền thoại" Helmut Newton về sau này. Là người gốc Do thái, ông đã rời nước Đức năm 1938, từ trước khi xẩy ra Đệ nhị Thế chiến.

Đến lập nghiệp tại Melbourne, ông tạm thời biến căn hộ nhỏ xíu của mình thành một studio nhiếp ảnh ở trung tâm thành phố. Quen nhau từ cái thuở hàn vi, ông Helmut nghèo đến nổi không đủ tiền trả một cuốc xe taxi khi đi chơi với cô bạn gái. Bất chấp sự phản đối của gia đình, bà June Browne quyết định lấy ông Helmut Neustädter, vì tin chắc rằng sớm muộn gì ông cũng sẽ trở thành một tên tuổi lớn.

Vài năm sau khi thành hôn, bà June Browne đoạt giải thưởng sân khấu kịch nghệ "Erik Kuttner" dành cho nữ diễn viên xuất sắc nhất năm 1956. Dù sự nghiệp diễn xuất của bà đang trên đà thành công, nhưng bà vẫn gác công việc của mình qua một bên và khăn gói theo chồng sang châu Âu lập nghiệp vào đầu những năm 1960. Do ông Helmut Newton chuyên về nhiếp ảnh thời trang, cho nên Luân Đôn cũng như Paris là hai thủ đô "lý tưởng" để ông rèn luyện tay nghề. Trong vòng 10 năm liền, ông hợp tác với nhiều tuần báo phụ nữ hay tạp chí chuyên ngành thời trang, quan trọng nhất vẫn là Elle và Vogue Magazine rất thịnh hành thời bấy giờ. Tại Paris, bà June Browne lại không có "đất dụng võ", một mặt do rào cản ngôn ngữ, mặt khác bà không quen biết nhiều giới sân khấu điện ảnh Pháp.

Khi nhiếp ảnh gia vào nghề bất đắc dĩ

Khi cuộc sống tại Paris được ổn định, bà từ bỏ sự nghiệp diễn viên và chủ yếu giúp ông Helmut một tay, bằng cách chuẩn bị các thiết bị chụp hình trong studio, cũng như chuẩn bị phòng rửa ảnh, rồi sắp xếp lưu trữ các thước phim nhựa, các tài liệu ghi chép, các bộ ảnh chụp. Bà June Browne-Newton chuyển sang ngành nhiếp ảnh một cách ngẫu nhiên khi phải thay thế vào giờ chót ông Helmut Newton (phải đột xuất nhập viện) và thực hiện đợt chụp ảnh quảng cáo cho hiệu thuốc lá Gitanes năm 1970. Sau thành công bước đầu này, bà lấy tên thành phố Úc Alice Springs làm nghệ danh.

Vào nghề bất đắc dĩ ở tuổi 47, Alice Springs ban đầu chụp ảnh cho các thương hiệu thời trang, mỹ phẩm nhưng lúc nào cũng tạo dựng hình ảnh của phụ nữ đẹp không phải nhờ có những đường cong lý tưởng mà đẹp ở lối sống, ở phong cách đầy cá tính. Nhờ vào tài năng của chính mình mà tên tuổi của Alice Springs thoát khỏi cái bóng quá lớn của chồng là Helmut Newton. Các tạp chí thời trang từ Elle, Vogue đến Vanity Fair đều đặt hàng với nhà nhiếp ảnh người Úc. Trong vòng 40 năm sau đó kể từ năm 1974 trở đi, Alice Springs bên cạnh ảnh chụp thời trang, sẽ chuyên về ảnh chân dung. Bà thu vào ống kính những tên tuổi nghệ sĩ lẫy lừng nhất trong lãnh vực của họ : bà chụp chân dung của các bạn "đồng nghiệp" như nhiếp ảnh gia Richard Avedon, Brassaï hay là Ralph Gibson, các ngôi sao màn bạc như Nicole Kidman, Audrey Hepburn, Catherine Deneuve, Isabelle Adjani hay Charlotte Rampling, các nhà thiết kế trứ danh Yves Saint Laurent, Karl Lagerfeld hay Christian Lacroix, giới nghệ sĩ như Sting, Robert Mapplethorpe, Dennis Hopper, hay Gerard Richter cũng đều nhờ đến tài nghệ chụp ảnh của bà.

Ngay từ khi mới bắt đầu chụp ảnh, Alice Springs đã đem lại một góc nhìn khác với người bạn đời. Ông Helmut Newton càng công phu cầu kỳ bao nhiêu trong cách sắp đặt bố cục, dàn dựng bối cảnh thì bà Alice Springs lại có một lối tiếp cận cởi mở, tự nhiên. Có thể nói là nhãn quan về hình tượng "phụ nữ" của hai nhà nhiếp ảnh này bổ sung cho nhau. Helmut Newton thể hiện người đàn bà qua góc nhìn của phái nam với dục vọng tiềm tàng, trong khi Alice Springs chú trọng đến hình ảnh của phụ nữ tự do, phóng khoáng.

Cùng ra mắt tác phẩm sau 40 năm chung sống

Từ năm 1976 trở đi, ông Helmut Newton giao cho vợ quyền quản lý tất cả những dự án xuất bản sách và thư mục triển lãm của ông. Mãi đến năm 1998, tức sau 40 năm làm đám cưới và sống chung với nhau, cặp vợ chồng nghệ sĩ này mới hợp tác để hoàn thành một phẩm "Us and Them", xen kẽ chân dung của những người bình thường với khuôn mặt của những ngôi sao cực kỳ nổi tiếng. Theo nhà phê bình José Alvarez, hai nghệ sĩ này tuy khác nhau nhưng lại tìm ra được một sân chơi chung, hai vợ chồng vẫn giữ được một nếp sống đơn giản bình dị cho dù họ luôn tiếp xúc trong công việc một thế giới lộng lẫy ngời sáng, muôn ánh hào quang.

Quyển hồi ký của Alice Springs mang tựa đề "Mrs Newton" được xuất bản sau khi ông Helmut Newton qua đời vào năm 2004. Một cách hóm hỉnh, bà nhường lại vị trí quan trọng nhất cho chồng mình, nhưng hẳn chắc là đằng sau sự thành công của ông Helmut, thường có bóng hình của "Bà Newton". Alice Springs tiếp tục bảo tồn di sản của chồng, bà hợp tác với hội đồng thành phố Berlin, nguyên quán của ông Helmut để thành lập Viện bảo tàng nhiếp ảnh kiêm Qũy lưu trữ Newton.

Khi vĩnh viễn ra đi, Alice Springs để lại nhiều dự án quan trọng, kể cả một cuộc triển lãm lớn nhân 100 năm ngày sinh của Helmut Newton trong năm 2020 nhưng bị dời lại do dịch Covid-19. Đối với một nghệ sĩ mang tên Alice Springs, tháng 04/2021 lại là mùa xuân cuối cùng. Qua hình tượng "Helmut by June" (Helmut theo lời kể của June), bà bỗng nhớ lại cái thuở tình yêu ban đầu, khi đôi bạn tưởng chừng ngồi chung chuyến taxi chưa tới một giờ, nào ngờ lại đồng hành với nhau suốt cả một đời.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1557 Posted : Wednesday, April 21, 2021 9:00:55 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : 500 bộ phim chờ được chiếu ở rạp tại Pháp

Tuấn Thảo - RFI - 21/04/2021
Cho dù ngày mở lại các phòng chiếu phim tại Pháp vẫn chưa được thông báo, nhưng các nhà sản xuất cũng như giới phân phối đã phải lên kế hoạch ngay từ bây giờ, để tránh gây xáo trộn cho lịch phát hành các bộ phim mới. Chưa bao giờ số lượng tác phẩm điện ảnh dự trù ra mắt khán giả ở rạp lại nhiều đến như vậy. Tính tổng cộng, có khoảng 500 phim đang chờ được phát hành tại Pháp.

Theo kế hoạch giải tỏa từng phần của chính phủ Pháp, các quán cà phê vỉa hè cũng như một số địa điểm văn hóa sẽ được mở lại vào giữa tháng 05/2021. Cho dù chính phủ vẫn chưa xác định rõ ràng các rạp chiếu phim có nằm trong danh sách các tụ điểm văn hóa được ưu tiên hoạt động trở lại, nhưng theo lời ông Marc-Olivier Sebbag, chủ tịch Liên đoàn các rạp chiếu phim Pháp (FNCF), toàn bộ giới chuyên ngành đều hy vọng là các rạp hát sẽ nằm ở hạng đầu danh sách. Quan trọng hơn nữa, theo ông Sebbag, các chủ rạp phim hay các ban quản lý đều phải chuẩn bị xong việc tiếp đón khán giả đúng theo các quy định hiện thời, cho dù ngày mở lại các rạp xinê có thể là 15/05 hoặc 30/05.

Đối với nhiều chủ rạp phim, tâm trạng chung hiện giờ vẫn là nỗi bồn chồn lo lắng, do tình hình chung vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp khó lường. Đa số các rạp chiếu phim đã phải đóng cửa trong gần 6 tháng (171 ngày), nhiều nhà phân phối đã nhiều lần "mừng hụt" cho nên chừng nào chưa có thông báo chính thức, họ vẫn chưa dám vội tin vào việc mở lại các rạp chiếu phim. Theo họ, ngày mở lại sớm lắm là vào tháng 06/2021.

Liệu các kênh phân phối có nguy cơ bị tắc nghẽn

Trong số những người "bi quan" nhất, có bà Christine Beauchemin-Flot, chủ rạp chiếu phim "Sélect" ở vùng ngoại ô phía nam Paris. Thái độ của bà hoàn toàn có lý do. Cũng như nhiều nhà phân phối khác, bà đang lo lắng trước việc chiến dịch tiêm chủng vac-xin tại Pháp không được tiến hành nhanh như mong đợi. Tại Anh quốc, gần một nửa dân số đã được chích ngừa trong khi tỷ lệ này chỉ mới ở mức 15% ở Pháp, các rạp chiếu phim tại Anh được phép mở cửa trở lại vào ngày 17/05, trong khi tại Pháp chưa có gì là chắc chắn do các sinh hoạt văn hóa dành cho công chúng phụ thuộc ít nhiều vào chiến dịch tiêm chủng.

Một mối quan tâm khác đối với các nhà phân phối là số lượng phim mới chờ được phát hành rất nhiều, điều đó buộc các chủ rạp phim phải có "chiến lược" phát hành. Trong số các tác phẩm của Pháp, có phim tiểu sử về Gustave, người đã khai sinh ra Tháp "Eiffel" với Romain Duris trong vai chính. "OSS 117 : Báo động đỏ ở châu Phi" của Nicolas Bedos và "Huyền thoại Kaamelott" của Alexandre Astier là hai bộ phim hài nặng kí có khả năng thu hút đông đảo khán giả Pháp vào rạp.

Trong thể loại phim tình cảm xã hội có tác phẩm "Le Sens de la famille" của đạo diễn Jean-Patrick Benes với cặp diễn viên chính là Alexandra Lamy và Franck Dubosc, bộ phim "Un tour chez ma fille" của Éric Lavaine với hai nữ diễn viên nổi tiếng là Mathilde Seigner và Josiane Balasko, hay là tác phẩm "Opération Portugal" của Franck Cimière trong đợt ra mắt đầu tiên, trong khi đó các tác phẩm từng đoạt giải César vừa qua như trường hợp của "Adieu les cons" của Albert Dupontel, sẽ được công chiếu một lần nữa, do quá trình khai thác phim đã đột ngột bị gián đoạn bởi dịch Covid-19. Nhưng theo ông Laurent Coët, chủ rạp phim "Regency" ở vùng phía bắc nước Pháp, dù lịch phát hành có được chuẩn bị kỹ lưỡng cách mấy, hẳn chắc có một số phim vẫn bị thiệt thòi, nhất là thời hạn khai thác phim bị rút ngắn, trong khi số phim lại quá nhiều so với mức bình thường. Nói cách khác kênh phân phối có nguy cơ bị tắc nghẽn, khi chỉ còn có 6 tháng để khai thác 500 bộ phim.

Mỹ mở lại nguồn cung cấp phim vào mùa hè 2021

Theo lời ông Stéphane Huard, giám đốc chi nhánh Pháp của tập đoàn Sony Pictures Entertainment, so với hai đợt phong tỏa trước, việc nước Pháp chuẩn bị nối lại với các sinh hoạt văn hóa còn có một yếu tố khác biệt rất quan trọng : một mặt số lượng phim Pháp cần được phát hành khá cao, mặt khác đợt giải tỏa thứ ba cũng đánh dấu ngày xuất hiện trở lại của các bộ phim thương mại kiểu blockbuster của Mỹ. Vào mùa hè năm 2020, sau đợt phong tỏa đầu tiên, các rạp chiếu phim Pháp chủ yếu khai thác phim Pháp cũng như các bộ phim thương mại lúc bấy giờ của Mỹ, nhưng Hollywood đã nhanh chóng "tắt vòi", ngưng hẳn nguồn cung cấp phim và chờ đến một thời điểm khai thác thuận lợi hơn.

Hãng phim Sony Pictures đã dự trù ra mắt khán giả một loạt phim thương mại trong đó có "Venom" tập nhì, phần kế tiếp của các bộ phim "Peter Rabbit", "Ghostbusters" hay là "Hotel Transylvania" .... Trong mùa hè năm 2020, các rạp chiếu phim châu Á và châu Âu đã được phép hoạt động, nhưng dịch Covid-19 đã bùng phát dữ dội tại Hoa Kỳ. Trong bối cảnh đó, các hãng phim Mỹ đều gác lại các dự án khai thác phim toàn cầu, chừng nào có điều kiện thuận lợi hơn. Sự thành công của chiến dịch tiêm chủng "đại trà" ở Mỹ đã tạo ra một luồng gió hy vọng, các hãng phim Hollywood đều lên tinh thần và nghĩ rằng đã đến lúc khai thác các bộ phim thương mại tại các rạp multiplex.

Do sự cạnh tranh quyết liệt giữa các hãng phim lớn, nhiều công ty dời lại hay thay đổi ngày ra mắt phim để tránh "đụng hàng". Thời điểm 15/06 được giới chuyên ngành phân phối ở Mỹ chọn làm cột mốc, hy vọng rằng vào lúc ấy, các biện pháp hạn chế sẽ được dỡ bỏ và các rạp chiếu phim sẽ tiếp đón từ 75% khán giả trở lên. Chiến lược này vì thế cũng đẩy lùi việc ra mắt phim Mỹ tại châu Âu, đặc biệt là tại Anh và tại Pháp, vốn là hai thị trường xuất khẩu quan trọng cho nền điện ảnh Mỹ.

Phim Pháp trước sự cạnh tranh của Hollywood

Bộ phim "Top Gun Maverick" với Tom Cruise đã được lùi lại vào mùa đông năm 2021. Để tránh cho hai bộ phim có cùng một ngôi sao màn bạc trong vai chính, Mission Impossible tập 7 (dù đã quay xong) cũng bị lùi lại cho tới năm sau. Về phía Disney, tập đoàn này đã cho ra mắt trực tuyến các bộ phim "Hoa Mộc Lan" Mulan, phim hoạt hình "Soul" cũng như "Raya và rồng thần cuối cùng", nhưng Disney vẫn giữ lá chủ bài "Nomadland" dự trù chỉ ra mắt ở rạp, do tác phẩm của nữ đạo diễn Chloé Zhao (Triệu Đình), rất có nhiều triển vọng đoạt giải Oscar, sau khi thành công rực rỡ tại giải BAFTA cũng như Golden Globe.

Trong các chi nhánh khác của tập đoàn, Disney cũng hy vọng khai thác mọi tiềm năng của bộ phim "Cruella" và nhất là của "Black Widow" được xem như là chương đầu tiên khai màn giai đoạn thứ tư của dòng phim siêu anh hùng Marvel. Về phần mình, Warner Bros đã khá thành công khi khai thác cùng lúc trên mạng cũng như ra mắt ở rạp, sau khi "Godzilla đại chiến Kong" và Đấu trường sinh tử "Mortal Kombat" lập kỷ lục doanh thu với hơn 380 triệu đô la toàn cầu, Warner đã lấy quyết định tung ra trên mạng cho các thị trường khác trong đó có Pháp, do nạn sao chép phim đang lan tràn trên mạng internet.

Sự kiện Hollywood mở lại nguồn cung cấp phim thương mại đều có lợi và hại. Theo giới chuyên ngành, các bộ phim blockbuster sẽ là một động cơ thu hút khá nhiều người Pháp trở lại các rạp chiếu phim, nhất là đối tượng khán giả đi xem xinê vài lần trong năm (khác với những người có thẻ đăng ký xem phim hàng tháng như UGC, Gaumont, MK2). Vấn đề là nền điện ảnh Pháp khá dồi dào về mặt sản xuất, với khoảng 300 phim được cho ra lò hàng năm, vì thế người Pháp luôn có nhiều lựa chọn giữa "phim nội" và "phim ngoại". Dòng phim thương mại của Pháp không sợ sự cạnh tranh từ các blockbuster của Hollywood, nhưng ngược lại, dòng phim nghệ thuật chuyên dành cho các liên hoan cũng như dòng phim "ở giữa" hai xu hướng này, tuy có chi phí sản xuất thuộc vào cỡ trung bình nhưng thường là những tác phẩm dễ ăn khách. Thể loại này dễ bị thiệt thòi nhất, do lệ thuộc nhiều vào việc khai thác ở rạp phim để chinh phục cảm tình của khán giả lẫn giới phê bình.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1558 Posted : Friday, April 23, 2021 12:29:33 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Khi các lâu đài Pháp trở thành sàn diễn thời trang

Tuấn Thảo - RFI - 23/04/2021
Vào lúc các hoạt động của làng thời trang quốc tế vẫn còn bị hạn chế tối đa do dịch Covid-19, các tập đoàn thời trang Pháp đã tranh thủ thời cơ để giới thiệu các dự án sáng tạo gần đây hầu quảng bá thương hiệu. Do các di sản kiến trúc đều đang bị đóng cửa, cho nên các thương hiệu lớn như Chanel, Dior hay là Celine đều chọn các đền đài dinh thự nổi tiếng nhất nước Pháp để tổ chức các cuộc biểu diễn thời trang.

Trong tuần vừa qua, nhà thiết kế Hedi Slimane, giám đốc nghệ thuật của hiệu Celine đã tung lên mạng chính thức cũng như trên các mạng xã hội một đoạn phim video dài khoảng 12 phút để giới thiệu bộ sưu tập mới của mình về thời trang phái nữ Thu-Đông. Toàn bộ cuộn phim video đã được quay tại lâu đài Vaux le Vicomte, tọa lạc ở vùng ngoại ô phía nam, cách thủ đô Paris khoảng 40 cây số.

Ngành thời trang hỗ trợ các di sản kiến trúc Pháp

Được khởi công xây cất vào năm 1656, lâu đài Vaux le Vicomte ban đầu là dinh thự của nhà quý tộc Nicolas Fouquet. Còn khu vườn lộng lẫy do kiến trúc sư André Le Nôtre vẽ sơ đồ vào giữa thế kỷ XVII, nay lại trở thành sàn biểu diễn thời trang của các người mẫu chân dài. Trong phần giới thiệu đợt "fashion show", nhà thiết kế Hedi Slimane cho biết đã chọn Vaux le Vicomte, vì lâu đài nguy nga tráng lệ này là "chiếc nôi" của phong cách Pháp, nhất là vào thời của Vua Mặt trời, dưới ảnh hưởng của triều đại vua Louis XIV : ẩm thực, trang phục, nước hoa cũng như các bộ môn kịch nghệ hay múa ballet đều được nâng lên hàng nghệ thuật...

Đây không phải là lần đầu tiên hiệu thời trang Celine chọn một khung cảnh hoành tráng để đề cao tính sáng tạo của mình, nhưng so với những lần trước, người mẫu thường biểu diễn thời trang ở bên trong hay trên sân rộng có mái che, khu vườn Vaux le Vicomte lại là một sân khấu lộ thiên, không gian rộng mở thông thoáng.

Vài tuần lễ trước đó, hiệu thời trang Celine cũng đã từng giới thiệu bộ sưu tập thời trang Thu-Đông của phái nam nhưng lần đó là tại lâu đài Chambord, mà vào năm 2019 từng tổ chức lễ kỷ niệm 500 năm ngày được xây dựng. Cuộc biểu diễn thời trang nam cũng được giới thiệu qua video và lần này trong cách dàn dựng đã dùng nhiều chi tiết thiết kế thời trang để gợi lại thời kỳ Phục Hưng tại Pháp, thông qua các bức họa chân dung của các nhà quý tộc trưng bày trong đại sảnh.

Nếu như dịch Covid-19 là một cú sốc rất mạnh đối với tất cả các cơ sở văn hóa, thì các nhà tạo mốt đã muốn tìm cái may trong cái rủi, biến tai họa vắng khách thành một cơ hiếm thấy. Chẳng hạn như khuôn viên Vaux le Vicomte hay mặt tiền của lâu đài Chambord, chưa bao giờ lại được quay đẹp và gần đến như vậy. do các cuộc biểu diễn thời trang đều không có sự tham gia của công chúng, các nhà nhiếp ảnh và đoàn quay phim video đã tận dụng cơ hội này để thu vào ống kính nhưng góc quay khác thường với ánh sáng kỳ lạ, điều khó thể làm được khi có sự hiện diện của khách tham quan trong bố cục của khung hình.

Lâu đài Chambord và Chenonceau được đề cao

Theo lời ông Jean d’Haussonville, giám đốc điều hành lâu đài Chambord, thay vì chọn các di sản kiến trúc làm hoạt cảnh hay phông nền đơn thuần, các nhà thiết kế đã biến các lâu đài thành một điểm nhấn hẳn hoi, có đủ tầm quan trọng cho nên không thể thiếu trong lối dẫn dắt câu chuyện. Lối dàn dựng như thể dùng thủ pháp nhân cách hóa, dùng công nghệ quay phim bằng drone để quay cận cảnh, người xem có cảm tưởng vuốt ve các ngọn tháp nhọn hoắc bằng đá, sờ vào các góc chạm trổ vuông vức sần sùi, linh cảm các mái ngói già cỗi rêu phong, những pho tượng sống động cổ kính mà đôi khi dòng thời gian đã mài mòn nhẵn nhụi.

Về phần mình, hiệu thời trang Chanel hồi đầu năm đã chọn lâu đài trên nước Chenonceau để trình bày bộ sưu tập thời trang của mình hầu quảng bá các ngành nghề thủ công, rất cần thiết do bổ sung khâu sáng tạo y phục. Bà Virginie Viard, giám đốc nghệ thuật của Chanel cũng đã tổ chức biểu diễn thời trang, thu hình qua video chứ không hề có khán giả, chủ yếu là để giới thiệu đội ngũ thợ có tay nghề cao. Nhà nhiếp ảnh trứ danh Juergen Teller đã thu vào ống kính quang cảnh lâu đài Chenonceau (một trong những kỳ quan kiến trúc của lịch sử Pháp xây vào năm 1513) dưới mọi góc độ. Lúc sinh tiền, bà Gabrielle Chanel rất mê lâu đài Chenonceau và huyền thoại của nhà Médicis, đủ để sưu tầm các tài liệu văn bản hay tác phẩm nghệ thuật có liên quan tới dòng họ này.

Đối với hiệu thời trang, lâu đài Chenonceau là nơi lý tưởng để tôn vinh các ngành nghề có từ các đời vua chúa thời trước, kể cả nghệ nhuộm lông thú gắn mũ, dệt thêu chỉ bạc, khảm vàng hay gắn đá qúy lên các bộ y phục hay phụ kiện thời trang. Theo lời cô Caroline Darrasse, giám đốc truyền thông của lâu đài Chenonceau, ngành thời trang cao cấp và các di sản kiến trúc có một điểm chung : cả hai ngành này đều cần có đội ngũ chuyên viên lành nghề và các thợ thủ công đều đòi hỏi thời gian và kinh nghiệm đào tạo.

Thời trang Dior tại Phòng Gương điện Versailles

Tất cả các ngành này đều phản ánh ít nhiều hình ảnh nghệ thuật lâu đời của nước Pháp. Điều đó giải thích vì sao hiệu thời trang Dior đã dàn dựng bộ phim video hồi tháng 03/2021 cho cuộc biểu diễn thời trang tại Phòng Gương, không gian nổi tiếng nhất tại cung điện Versailles. Trước đó, Dior đã từng quay nhiều clip video với thần tượng nhạc pop Rihanna cho đợt quảng cáo "Secret Garden" (Góc vườn thầm kín) cho dòng sản phẩm thời trang này. Nhưng lần này, Dior đã tổ chức toàn bộ show biểu diễn tại "Galeries des Glaces" cực kỳ lộng lẫy, điều mà có lẽ khó thể xẩy ra khi phải xếp các hàng ghế ngồi cho thượng khách. Một lần nữa, sự vắng mặt của công chúng đã tạo cơ hội cho Dior, có những cảnh quay tuyệt đẹp.

Theo lời nhà sử học Audrey Millet, tác giả của quyển sách về Thời trang Pháp do nhà xuất bản Les Pérégrines phát hành, không phải ngẫu nhiên mà các công ty thời trang Pháp như Chanel, Dior hay là Celine đã chọn các lâu đài này để giới thiệu các sáng tạo của họ. Các đền đài dinh thự như Versailles, Chambord, Chenonceau hay Vaux le Vicomte tượng trưng cho thời Phục Hưng của vua François Đệ Nhất, thời phát triển nghệ thuật của vua Louis XIV hay là nhà qúy tộc Colbert, những người đầu tiên có đủ tầm nhìn xa để nâng hàng hóa "Made in France" lên hàng quốc sách, nhờ vậy mà biến thành phố Tours thành một trung tâm kinh tế phồn thịnh ngay từ thế kỷ XV và thành phố Lyon là một trục giao thương quan trọng nhất từ thế kỷ XVII.

Dù muốn hay không, các công ty thời trang cao cấp của Pháp thừa hưởng uy tín có từ những thời này, "gu ăn mặc" cũng như nếp sống của Pháp đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới nhiều vương triều tại châu Âu. Đối với các dinh thự đền đài, hợp tác với các công ty thời trang đem lại cho một nguồn thu nhập đáng kể, luồng dưỡng khí cần thiết trong thời Covid-19. Còn đối với các hiệu như Chanel, Dior hay Celine, sự hợp tác đem lại thêm cho các thương hiệu này bề dày văn hóa, chiều sâu lịch sử.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1559 Posted : Saturday, April 24, 2021 10:32:37 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Điện ảnh: Lễ trao giải Oscar 2021 có gì mới ?

Thanh Hà - RFI - 24/04/2021
Đêm Chủ Nhật 25/04/2021 sẽ diễn ra lễ trao giải Oscar lần thứ 93. Đây là lần thứ nhì mùa Oscar mở ra trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hoành hành, kèm theo đó là một số những thay đổi trong cách tổ chức.

Khác với thông lệ, lễ trao giải Oscar mùa Covid-19 không diễn ra trong một nhà hát, mà lại được tổ chức tại một sân ga. Nhà ga Union Station tại trung tâm Los Angeles đủ rộng để bảo đảm khoảng cách an toàn cho mỗi vi khách mời. Cũng vì virus corona mà các đoàn làm phim của châu Âu không sang được Mỹ, cho nên ban tổ chức dự trù hai địa điểm tại Luân Đôn và Paris dành riêng cho các ngôi sao điện ảnh và đoàn phim của châu Âu tham gia đêm Oscar 2021.

Nomadland, ngôi sao đang lên

Về những bộ phim được xướng tên trên bảng vàng, giới trong ngành dự báo Nomadland của nữ đạo diễn gốc Trung Quốc Chloe Zhao (Triệu Đình) có nhiều triển vọng ra về với nhiều pho tượng vàng hơn cả. Marc Malkin của báo Variety thận trọng cho rằng « 2021 là một năm khác thường » biết đâu đây là cơ hội cho một bộ phim « khác người ».

Nomadland là một tác phẩm không hẳn thuộc thể loại road movie, cũng chẳng hoàn toàn thuộc dòng phim tình cảm xã hội hay cao bồi viễn Tây nước Mỹ, mà cũng không hội tụ đủ tiêu chuẩn của một bộ phim tài liệu. Nhưng cũng có thể nói Nomadland tiêu biểu cho tất cả những dòng điện ảnh đó. Chính vì thế mà nhiều người đang đánh cược vào bộ phim này của đạo diễn Triệu Đình. Năm nay chưa đầy 40 tuổi, sinh ra tại Trung Quốc, Chloe Zhao đang làm mưa làm gió trên thị trường điện ảnh quốc tế, như ghi nhận của Peter Hammond, trên trang mạng chuyên về điện ảnh Deadline.

Đối thủ nặng ký nhất của Nomadland là phim The Trial of the Chicago 7: Câu chuyện diễn ra nhân đại hội của đảng Dân Chủ năm 1968 tại Chicago. Đảng này chuẩn bị chỉ định ứng cử viên tổng thống. Đó là thời điểm diễn ra nhiều cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, phản đối chính sách của tổng thống Johnson … Giới phê bình đồng loạt cho rằng với một đề tài mang tính thời sự về tình hình chính trị Mỹ, đạo diễn Aaron Sorkin gần như là người duy nhất có thể đe dọa pho tượng vàng của Chloe Zhao.

Pháp không hẳn vắng mặt trong đêm trao giải Oscar lần này: The Father của đạo diễn Florian Zeller được đề cử tranh sáu giải thưởng. Trong đó có giải dành cho nam diễn viên xuất sắc nhất do Anthony Hopkins nhập vai người cha bị mất trí nhớ. Zeller, 41, tuổi đã chinh phục Hollywood. Là một tác giả đã thành danh trên sân khấu với nhiều vở kịch, nay ông phiêu lưu vào thế giới điện ảnh và đã nhận được nhiều lời khen. The Father từng là một vở kịch trước khi được tác giả dựng thành phim.

Trước khi đến với nghệ thuật sân khấu và các trường quay, Florian Zeller từng là sinh viên rồi giáo sư trường Khoa Học Chính Trị Paris.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1560 Posted : Sunday, April 25, 2021 6:03:51 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,484

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Nhạc JAZZ và những tâm hồn HÁT

Lệ Thu - RFI - 25/04/2021
Câu nói mà khán giả ghi nhớ hơn cả trong phim “LaLaLand” của đạo diễn Damien Chazelle - điện ảnh Hollywood - có lẽ là lời thoại của nhân vật chính Sebastian : “Người ta nói nhạc jazz đã chết yểu”. Phải thế không, khi mà bộ phim đã trở thành một quả bom bùng nổ ở tất cả các giải thưởng Điện Ảnh danh giá nhất trên thế giới, bao gồm 6 giải Oscar, 7 giải Quả cầu vàng và 6 giải Bafta trong năm 2017.

Và gần đây nhất, hẳn cũng không ai ngạc nhiên khi bộ phim hoạt hình “Soul” của Peter Docter, một bộ phim về nghệ sĩ nhạc Jazz của Hollywood, cũng đã giành giải Quả cầu vàng lần thứ 78 cho danh hiệu Phim hoạt hình hay nhất và Nhạc phim hay nhất. Jazz có vẻ là dòng nhạc đầy sức sống mạnh mẽ mà ở đó, không chỉ là những âm hưởng của âm nhạc, đó còn là cái tinh thần Jazzy không bao giờ mất đi.

Thế giới cần những kẻ điên

Câu thoại của Sebastian được nói ra chỉ là cái cớ cho những nhà làm phim phản biện nó. Và họ đã làm được.

Đó là một Sebastian sống chết với Jazz. Anh bỏ qua rất nhiều sự lựa chọn với các ban nhạc khác nhau chỉ vì không chấp nhận sự lai tạp trong nhạc Jazz. Anh có một cuộc sống khó khăn nhưng lại chung sống với nó như một điều đương nhiên. Sebastian được thuê chơi piano trong một nhà hàng sang trọng, khi được yêu cầu chơi vài bản nhạc Giáng sinh đơn giản thì anh lại ngẫu hứng nổi lên những khúc nhạc jazz dù biết kết quả sẽ chẳng tốt đẹp gì.

Đó là một Mia đam mê nghiệp diễn và viết kịch. Những thất bại với vở kịch đầu tiên ở Hollywood đã khiến cô có phần ngã lòng nhưng chính sau đó, Sebastian đã khích lệ cô trở lại L.A, thành phố của những vì sao lấp lánh, của những người biết nuôi dưỡng và cố gắng vươn tới giấc mơ. Mia đã kể về người cô của mình trong một buổi thử vai. Một người phụ nữ kiên quyết nhảy xuống dòng sông Seine lúc trời băng giá và thề rằng bà sẽ làm lại điều đó dù phải nằm nhà đến hai tháng vì bị cảm. Tại sao? Tại vì muốn đạt được ước mơ, bạn phải Điên một chút, phải theo đuổi nó bằng những cảm xúc không thể diễn tả, bằng cả niềm vui, nỗi buồn, sự thất vọng hay bao dung và yêu thương. Thế giới cần những kẻ Điên để tạo màu sắc cho cuộc sống này. Sẽ không bao giờ chỉ là Đen và Trắng, sẽ có vô vàn những sắc màu khác giống như những nghệ sĩ nhạc Jazz với mỗi phần solo của mình khi họ tạo nên màu sắc riêng cho một bản nhạc theo cách không giống ai.

Sự hoàn hảo không trọn vẹn

Cái năng lượng tích cực hừng hực lửa đam mê và tình yêu của cả Sebastian và Mia xuyên suốt “Lalaland” khiến cái kết của phim dường như làm cho người xem bị sốc và gãy cảm xúc khi cuối cùng hai người họ đã không đến với nhau. Không có một Happy ending đúng nghĩa như mọi bộ phim “cổ tích” khác, nhưng rồi người ta hiểu ra rằng đây chính là điều khác biệt tạo nên “Lalaland”.

Vẫn là một Happy Ending hoàn hảo với một nghệ sĩ nhạc jazz khi Sebastian cuối cùng đã có một quán bar riêng, được chơi thể loại nhạc mà anh đam mê.

Vẫn là một Happy Ending hoàn hảo với Mia, một nữ diễn viên tham vọng, khi cô đã trở thành diễn viên điện ảnh nổi tiếng và có người chồng yêu thương biết chia sẻ với mình.

Vẫn là một Happy Ending hoàn hảo cho đôi bạn tri kỉ khi cuối phim, Sebastian ngồi bên cây piano còn Mia tay trong tay với chồng nhưng họ vẫn dành cho nhau một nụ cười thật nhẹ nhàng.

Có những ý kiến cho rằng, phải chăng, các tác giả bộ phim đang muốn nói đến một sự thật khá phũ phàng, rằng đam mê mới là thứ theo ta tới tận cùng, còn tình yêu chỉ có thể đến một chặng đường nào đó mà thôi.

Sebastian và Mia đã có thể có một cái kết khác, trong tâm tưởng, bằng sự tưởng tượng của cả hai, là họ sẽ ở bên nhau, cùng nhau phát triển nghề nghiệp và có những đứa con xinh đẹp. Nhưng cuộc đời có thể hoàn hảo một cách không trọn vẹn. Quan trọng nhất là ta đã sống một phần đời không có gì phải ân hận, đã sống với đam mê, đã đạt được nó. Và vào một thời điểm nào đó trong đời, nhìn lại, ta vẫn có thể mỉm cười hài lòng vì đã cùng trải qua điều đó với nhau.

Bài học về cuộc sống

Ước mơ dường như được tiếp nối từ “Lalaland” tới “Soul”, từ đôi trai tài gái sắc cho tới một nghệ sỹ nhạc Jazz có vẻ thật bình thường với một linh hồn trên cõi của các linh hồn, Joe Gardner và linh hồn số 22. Ta nuôi dưỡng ước mơ không chỉ có nghĩa là đeo đuổi thực hiện nó bằng mọi giá mà còn là tình yêu với cuộc sống hiện tại. Biết trân quý những gì bạn đang có bao nhiêu, đối xử tốt với cuộc sống của bạn bao nhiêu thì bạn càng nhanh chóng chạm tới ước mơ bấy nhiêu, giống như Sebastian và Mia cùng năng lượng tích cực của mình. Ngày cũng có ngày nắng ngày mưa, đời cũng có lúc vui lúc buồn nhưng những cái Vui và Buồn ấy chính là cái làm nên màu sắc của bạn, làm nên “chất Jazzy” trong bạn.

Ở “Soul”, ta thấy hai nhân vật hoàn toàn trái ngược nhau. Một thầy giáo dạy nhạc kiêm nghệ sỹ piano Jazz, Joe, luôn thấy ngán ngẩm với cuộc sống nhàm chán của mình và luôn mong muốn thay đổi hiện tại. Một linh hồn mang số 22 luôn cảm thấy an toàn ở cõi của các linh hồn và không hề muốn đầu thai xuống trái đất. Hai kẻ như Âm và Dương, một muốn thay đổi, một không, gặp nhau như là định mệnh, để rồi, họ trở thành những bài học cho nhau.

Joe chính là bài học cho số 22 hiểu thêm về trái đất, nơi mà linh hồn này cho rằng vô cùng đơn điệu nhàm chán. Hàng trăm năm qua, số 22 được gặp và được học từ rất nhiều con người vĩ đại của Trái đất. Nhưng những gì Linh hồn này cảm nhận chỉ là một mớ lí luận, nghiên cứu khô khan cứng nhắc. Rồi số 22 gặp Joe, vô tình rớt xuống thế giới loài người, để rồi từ đây, 22 lại trở thành bài học cho Joe. Hóa ra, cuộc sống mới thú vị làm sao. Thú vị từ miếng bánh pizza cắn dở, từ những điệu nhảy lệch nhịp, từ cái chạm tay ở hàng rào ga tàu điện ngầm, từ những cái lá bay ngang trong không trung, hay đơn giản chỉ là từ những điệu solo đầy ngẫu hứng của cô bé học trò thổi trombone. Và cảm hứng đẹp đẽ cũng có thể đến từ bất kì đâu nếu bạn có một Tâm hồn để cảm nhận nó.

Hiện tại là một món quà

Điều sáng tạo đáng kể của “Soul” là cõi Linh hồn trong phim không chỉ là cõi của những người đã chết. Ở đó còn có vùng đất của những linh hồn lạc lối. Rõ ràng, con người đó vẫn đang sống nhưng bị ám ảnh bởi một công việc giống nhau nên cuối cùng, họ bị chìm vào trong đó, bị mất cảm giác. Họ như những cái máy, không còn thời gian để cảm nhận, sống ở một nơi nhưng linh hồn lại lạc lối đâu đó thật xa xăm, không khác nào đã chết. Cảm giác ấy rõ ràng chính là cảm giác của phần lớn con người hiện đại chúng ta hiện nay. Mỗi sáng thức dậy, liệu có bao giờ bạn tự hỏi ngày hôm nay sẽ ra sao? Hay là chúng ta sẽ như một cái máy, luôn lặp lại một ngày bằng sự vô cảm vì tất cả Ngày của chúng ta đều trôi qua giống nhau? Bạn có thể thay đổi, có thể không, nhưng hãy mang cảm xúc vào trong cuộc sống của mình, hãy thổi Hồn vào trong đó vì bạn là người có một Tâm Hồn. Ngày hôm nay có thể giống ngày mai, có thể đã giống ngày hôm qua, nhưng nếu bạn yêu nó, nó sẽ mang đến cho bạn những ý nghĩa khác nhau.

Nhiều người đã nhận định, cảm giác của nhân vật Joe Gardner được xây dựng rất gần với cảm giác của nhiều nghệ sĩ nhạc Jazz thật sự. Đêm đầu tiên, sau khi Joe được biểu diễn với một nghệ sĩ Saxophone nổi tiếng trong thành phố, anh đã vô cùng hưng phấn và sung sướng. Anh bước ra khỏi quán bar, trong lòng hứng khởi rộn rã và hỏi bà “Ngày mai chúng ta sẽ làm gì tiếp theo?”. Bà đã trả lời anh “Chúng ta quay lại đây và diễn thôi”. Joe rõ ràng đã cảm thấy vô cùng hụt hẫng. Anh đã tưởng anh sẽ được làm điều gì lớn lao hơn nữa… nhưng anh không hiểu điều lớn lao nhiều khi lại bắt đầu từ những thứ vô cùng nhỏ bé, đó là Yêu từng giây phút anh đang có, yêu từng nốt nhạc anh thăng hoa và yêu từng niềm vui mà anh mang lại cho mọi người. Đó là một con cá yêu dòng nước mà nó đang sống, là Hiện tại, và hiện tại là một món quà.

Nếu Jazz là một dòng nhạc tuyệt vời mà với nó, các nghệ sĩ biểu diễn được thoải mái ngẫu hứng thì “Jazzy hóa cuộc sống của bạn” có nghĩa là hãy biết yêu những gì bạn đang có, hãy theo đuổi đam mê một cách hạnh phúc và dù cuối cùng con đường có đưa bạn tới đâu đi nữa thì bạn cũng sẽ là một người hạnh phúc. Hãy để tâm hồn bạn Hát lên, hãy tô màu cho thế giới bởi thế giới cần những người Điên biết Yêu.


Users browsing this topic
Guest (2)
84 Pages«<7677787980>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.