Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#1 Posted : Wednesday, April 29, 2020 1:26:47 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Hồi ký : 45 NĂM CHƯA NGỪNG TIẾNG SÚNG

Lan Phi Vo


Ngày mai ...Lan Phi sẽ đăng lên Hồi ký : 45 NĂM CHƯA NGỪNG TIẾNG SÚNG....mong đón nhận góp ý của tất cả các bạn...

Đôi lời phi lộ ....

thời gian 45 năm trôi qua trong ký ức...có những việc cố quên vì nó đôi khi mơ hồ....như đoạn đường gai góc của người chiến sĩ Biệt động quân cũng mờ dần theo năm tháng...sự hổn loạn trong hoàn cảnh bị mất nước non và tù đày cộng với cuộc trả thù lên thân thể có lẽ cũng bào mòn một số ký ức không được ghi nhận một cách chính xác...viết hồi ký là viết lại những ký ức hồi tưởng của mình...đôi khi nó hiện lên như một cuốn phim cuộc đời...và đôi khi nó lại bị vùi lấp bởi lý do nào đó mà mình cố gắng nhớ nhưng không làm sao ...lần giở lại được...cho nên...hồi ký hay hồi ức...không thể nào cho một con số chính xác để mà tôn vinh cái tôi...thành thật mà nói...cái tôi đã chết từ ngày 30/4/1975...chỉ còn lại một người lính chưa giãi ngũ và ước mong để lại cho đời sau những ghi nhận thực tế chính mình đã trãi qua trong những giờ phút hấp hối của Miền Nam Việt nam ...đất nước Việt Nam Cộng Hòa mà chính máu xương của người lính VNCH đã đổ xuống gìn giữ cho đến ngày ...nằm xuống chung thân....mong lắm thay...

HỒI KÝ LAN PHI : 45 NĂM TRÔI QUA VẪN CHƯA NGỪNG TIẾNG SÚNG..
viết trong mùa đại dịch...( 30/4/1975 - 3/2020 )

giây phút nầy đây....khi ngồi viết lại những dòng chữ nầy...thì tôi đang dọn mình cho lần thứ hai...phải...lần thứ hai trong cuộc đời tôi dọn mình chuẩn bị....để cho ngày trở về...một nơi nào xa lắm....để biết rằng không có sự sợ hãi nào giống sự sợ hãi nào...không có sự ra đi nào giống nhau...nhưng con người vẫn tránh né cái chết trong sự sợ hãi...Hãy vâng lời Thượng đế...chẳng tiếc nuối khi mà ....mọi thân xác vay mượn và mọi vật chất trên thế gian nầy đều chỉ là tro bụi....thời gian là trường sinh bất tử nhưng đời sống là giới hạn...tùy theo nghiệp lực và cách gieo trồng mà đón nhận....kết quả của nó.

dọn mình lần thứ nhất :

ngày 24/3/1975 tại chốt đèo Củng sơn... (N +1 )...bắt đầu tách khỏi đoàn người di tản bên nầy tả ngạn sông Ba...

_ khi chứng kiến 2 chiếc A 37 rà sát xuống quăng từng trái bom 250 cân anh và các chiến sĩ BĐQ /TĐ 58 bung lên trên cao....tôi chửi thề.....ĐM...mấy thằng phi công nầy làm sao vậy...sao nó lại đánh vào quân mình....

tất cả mọi liên lạc với thẫm quyền cấp Liên đoàn hay Tiểu đoàn đều bị cắt đứt....hỗn loạn và mất tinh thần...tôi coi lại phương hướng và bản đồ rồi hỏi thằng Đuông đang theo sát....

_ lương thực còn mấy ngày hả Đuông...
thằng Đuông vạch balo ra dòm ...thò tay mò mẫm rồi nhìn tôi....
_ chừng 3 ngày thôi ông Thầy...
_ mầy để balo xuống...tuột xuống dưới hỏi ông Ngọc ,thằng Bền và Th/úy Kiêm Trạch coi họ còn bao nhiêu ngày...
_Dạ...thằng Đuông buông cái balo xuống rồi chụp cây M 16 tuột thẳng xuống đồi....

bên kia...hai chiếc A 37 đã bay đi mất...dường như có nhiều ...không rất nhiều tiếng la vọng về theo gió...trời nắng rát...bộ đồ trận nhớp mồ hôi và cái bản đồ thì chi chít những chấm xanh đỏ bởi những lệnh hành quân...lúc vầy lúc khác....quá nhiều mệnh lệnh...và quá nhiều cái chết đã rải trên đoạn đường chết chóc nầy...tôi thò tay vào túi ngang của balo thằng Đuông ...mò lấy 2 cuốn kinh : một là cuốn Kinh thánh nhỏ của Mục sư Trần xuân Hỉ trao cho tôi với lời chúc lành :Chúa sẽ phù hộ cho cậu...và một cuốn kinh Đại bi chú của má tôi bỏ vô balo khi sửa soạn đồ cho tôi về lại đơn vị...hai cuốn nầy đã theo tôi từ ngày ra đơn vị cao nguyên cho đến bây giờ...

tôi gộp lại bỏ vào túi trước ngực...hiện tại bây giờ...giây phút nầy ngoài sự mệt mỏi và áp lực...tôi bỗng nhiên cảm thấy như có một sự chở che siêu hình nào đó luôn theo sát tôi...qua 2 lần bị thương...tôi có cái giác quan thứ sáu rằng....mình sẽ không bỏ xác nơi đây...chắc chắn là không...nếu mình không có một quyết định cho 45 thằng còn lại...

kéo tấm bản đồ hành quân ra khỏi tấm bao cao su chằng chịt chấm đỏ xanh...tôi trải rộng...

trên máy PRC-25 mọi liên lạc giờ không còn hoạt động hữu hiệu nữa...có nghĩa là..lệnh lạc bị nhiễu thông tin và mạnh ai nấy bảo toàn....người dân thì cố bám víu vào lính ...vào những con cua sắt lần lượt bị bỏ lại bởi bất khiển dụng và những người lính mũ đen cũng phải bỏ xe theo trong đoàn người di tản...

tôi coi những ô vuông trên bản đồ...chấm điểm đứng rồi bắt đầu đặt la bàn xoay theo cột tung và hoành cho mũi tên la bàn ra hướng màu xanh nước biển....hướng đèo Cả và đoạn rừng để ước tính thời gian di chuyển và lương thực có còn đủ hay không...

bỏ đoàn...đi tản và cắt đường về đèo Cả...từ đó có thể men theo QL 1 để về Nha trang ...trên đường đi sẽ có những nhà dân cặp theo QL 1 để mua lương thực được...nếu không thì không cách gì mà về được NT ...ra Tuy Hòa thì chắc chắn là không rồi vì giờ này...bọn Sư 320 hoặc 968 đuổi theo và liên lạc chốt chặn hoặc phục kích đoàn quân di tản đã bị chậm lại mấy ngày vì bảo vệ dân chúng và nếu theo chắc chắn sẽ bị hốt hết không còn một mống....

ĐM...sống thì sống hết mà chết thì chết hết....tôi thở dài....có gì mà phải sợ sệt....phải quyết định thôi...
tôi gọi thằng Khuyến liên lạc lần cuối cùng về BCH/LĐ 23....thằng Khuyến mở máy sang tần số liên lạc thì nghe lao nhao toàn tiếng bắc rặt...
_ xong rồi...ông Thầy...bộ mặt thằng Khuyến lộ rỏ nét thất vọng...
_ mầy gọi xuống ông Tư tưởng bảo là dọn hàng....
_ mình đi đâu đây ...Ông Thầy...
thăng Đuông trở về mặt mày hớt hãi....
_ ông thầy...ông thầy....bọn nó đông lắm....bên kia đèo...
_ tao biết....sao rồi...
tôi đưa bi đông nước cho thằng Đuông...uống một ngụm...nó lấy tay chặn ngực rồi nói...
_ mấy ông phía dưới nói lương thực gom lại còn khoảng 4 ngày....nếu không có đụng vịt...
_ Đuông...mầy chuẩn bị đồ...những vật đụng không cần thiết thì bỏ hết cho nhẹ....chỉ mang lương thực và súng đạn...quần áo và đồ cá nhân quăng hết đi...chuẫn bị nhổ neo...thằng Khuyến chỉ mang một máy thôi...máy của thằng Ngấm hết pin thì đào lổ chôn xuống đi...sẵn sàng....mình sẽ băng rừng....

tôi đút lại bản đồ vào túi nilon...cầm cây M 16 và soát lại hai túi đạn... cây colt 45 thì chỉ còn một băng 6 viên và 1 viên trong nòng đã lên sẳn....ngước mặt nhìn trời....nếu trời còn thương thì mình sẽ thoát khỏi bài toán hiểm hóc nầy...bài toán khó nhất trong đời chiến binh của tôi...hành quân mở đường máu đơn độc không yềm trợ....không chỉ huy và không thấy hy vọng bởi tứ bề là địch bủa vây....không biết bao nhiêu quân số ...không biết tin tức của bạn....trên đường rút quan nếu không cẩn thận sẽ bị bạn nhận lầm cũng không biết chừng....nan giải ...
tôi quỳ xuống...dọn mình cho cái chết mà sự chọn lựa cho số mệnh của tôi và 44 người lính trinh sát BĐQ đi tìm nẻo sống hy vọng trong tử lộ....( viết tới đây....những hình ảnh căng thẳng của 45 năm trước hiện rỏ mồn một trước mặt....phải chăng...thời gian đang quay trở lại.....)

-----------------------------------------------------------------------

chúng tôi tuột xuống tới chân đồi...bộ sậu của tôi họp lại sau một hốc đá gồm có tôi ...th/úy Trạch ...trung sĩ nhất Ngọc ...hạ sĩ Bền là trưởng toán Viễn Thám...Hạ sĩ nhất Tú ...ngoài ra tất cả đều nằm giãn ra phòng thủ...

_ tôi thông báo với anh em là hiện tại chúng ta đã mất tất cả lên lạc về Liên đoàn...có nghĩa là chúng ta đơn độc và tác chiến không có ai yểm trợ cũng như tiếp tế...tôi trãi tấm bản đồ ra trước mặt...
_ theo nhận xét của tôi thì....hiện giờ...địch đã biết cuộc hành quân nầy là triệt thoái mình bỏ vùng II...chắc chắn là những công trường và sư đoàn của việt cộng sẽ theo đánh chặn và các tiểu đoàn VC địa phương sẽ chốt chặn phục kích ngăn đường...tôi sẽ cắt đường về hướng Nha trang không qua Tuy Hòa...lương thực chúng ta phải tiết kiệm...di chuyển tránh chạm địch...có thể là di hành ban đêm..hiện tại ...mìn Claymore chúng ta còn bao nhiêu ...tôi quay qua hỏi Th/úy Trạch...
_ tôi cho kiểm tra rồi...còn lại 8 trái thôi...mang 12 xử dụng hết 4...
_ được rồi...sẽ lấy C4 ra để nấu nước pha gạo xấy...chúng ta di chuyển không còn phòng thủ nên tránh nấu cơm bằng củi rừng sẽ bị phát giác...sẽ bị chúng phục kích..
_ từ tấm bản đồ tôi vạch một đường xanh từ đèo Tu na đến chân đèo Cả rồi từ chân đèo Cả khoảng 2 ô vuông về nha trang thì hết bản đồ....tôi nói ...
_ nếu chúng ta mỗi ngày di chuyển nhanh thì phải mất khoảng 4-5 ngày mới đến đây....tôi chỉ vào khoảng mười mấy chấm nhỏ rải rác trên khoảng trống trắng sát biển...khi đến chổ nầy có nghĩa là chúng ta đã đến dưới chân đèo Cả...từ đèo Cả nếu có xe đò hoặc xe hàng thì có thể chúng ta sẽ về tới Nha trang và hoặc có thể sẽ gặp được quân bạn...chừng đó tính sau...lương thực tới khi chạm chân đèo thì đã hết ...chúng ta có thể tìm hoặc mua với người dân nơi đó...sau đó tính tiếp...hiện giờ chúng ta phải thoát khỏi vùng nầy trước...đi ban ngày thì Tr/sĩ Ngọc và toán Viễn thám Hạ sĩ Bền khinh binh ...Th/úy Trạch bọc hậu...tôi sẽ theo chân khinh binh đi đầu để ra thủ lệnh...hiện giờ ...chúng ta là một ...không có hai...các anh em phải cố gắng vừa tiết kiệm đạn dược vừa tiết kiệm lương thực....chúng ta băng rừng...tránh chạm địch càng nhiều chừng nào tốt chừng nấy...ai có thắc mắc gì không....nếu không có thắc mắc gì thì về tuyến thông báo lại cho anh em chuẩn bị ....chúng ta zoulu....trong vòng 15 phút nữa...

nói thì nói vậy...chứ trong bụng cũng lo âu vì khi nhìn thấy tất cả các khuôn mặt sau gần 10 ngày vừa đi tiền sát vừa đánh và vừa...chạy cũng đủ biết là anh em mệt mỏi như thế nào...những căng thẳng và hốc hác lộ rỏ trên ánh mắt và khuôn mặt cũng đủ nói lên nỗi lo âu bất an trên chặng đường chông gai phía trước...không biết rằng ai còn...ai mất ...hoặc là tất cả sẽ mãi mãi nằm xuống nơi đây...vùng đất mà ...chưa một lần hành quân...lạ lẫm....hoang vu...trơ vơ và đang có tử thần lởn vởn...

bên kia chân đèo...tiếng súng vẫn còn râm ran ...nhưng tôi nghe nhiều tiếng AK hơn là M 16...có nghĩa là...chốt 42 đã bị chiếm...và đoạn đường vòng qua đèo Tuna sẽ được kéo dài hơn tưởng tượng...

trong đầu tôi bắt đầu có một ....suy nghĩ kỳ quặc....mình có chọn lầm binh chủng không...cái binh chủng luôn đi đầu...luôn biệt phái...luôn đánh đấm không có ngày nghỉ ngơi...cái binh chủng mà nghe anh em kháo nhau là con ghẻ...đứa con bị cha mẹ xài không thương tiếc rồi thì....vinh quang hay khen thưởng thì chỉ là những giọt gạo rơi sau khi đã được sàng xãy mới tới tay mình....

kệ mẹ ...bây giờ thì mới biết thì có muộn không...dân chơi thì đâu có tiếc...trót sinh ra trong thời loạn thì đi lính nầy hay đi lính khác đâu có khác gì nhau...hơn thua làm đéo gì...giữ mạng về với gia đình là quan trọng....rồi lại nghĩ tới nhà ở Sài gòn...hây ya...má giờ ra sao...gia đình ra sao....mong SG luôn bình yên....

nắng đã hửng....cái nắng của mùa hè sắp tới đang tràn qua những ngọn cây cao quá đầu người một chút....tôi quét một vòng đế quan sát....có lẽ...cái nguy hiễm đang chờ đợi hay bọn việt cộng ...phục kích đâu đó như những con sói đói mồi sau khi bầy đàn của chúng đã sâu xé thịt xương của đồng bào di tản cao nguyên không đủ chia chác nên tôi có thể thấy cùng cảm nhận được bằng những tràng AK và những bụi rậm di động ngụy trang của chúng đang lùng sục sau khi đã chận đứng những đợt xung phong của BĐQ cố gắng tái chiếm ngọn đồi 42 nầy...những công sự phòng thủ của người lính Đại hàn quá kiên cố cho nên ...vô tình khi rút đi lại là nơi ...khó nhai nhất và thất bại khi anh em BĐQ của LĐ 7 cố xung phong để nhổ chốt....thì bất ngờ bị ăn mấy quả bom...phe ta mà...toi mạng oan uổng....chiến trường...ĐM...thằng nào cũng nói ngon nói tướng...có oai thì ra lội hành quân với lính mới biết là muôn vàn khó khăn...cái gì cũng phải tiết kiệm ...ĐM...đánh giặc mà tiết kiệm thì đánh đấm cái gì...lương thực thì quảy gảy cả lưng ...từ 4 ngày khô 3 ngày tươi thành 3 ngày khô 4 ngày tươi...rồi thì ...5 ngày tươi 2 ngày khô...đổi sành xoạch...lệnh thì nay ông nầy bảo vầy...mai ông kia lại ra khác...làm sao đây...những thằng lính xa mặt trời thì như thiên lôi...bảo đâu thì đục đó...đục tới thì ..bỏ mạng...mà mạng thì thằng nào cũng có một cái...từ quan cho tới lính...đâu thằng nào có 2 cái hay là 3 đầu 6 tay như tề thiên đại thánh....nhổ lông d....ra rồi hô biến...con bà nó...

tôi đút túi cái bản đồ...cầm la bàn lên ngắm hướng Nam....lệch một chút để đánh vòng qua cái đèo khó nhai nầy....giờ mình là cọp...hèn...chạy chết...không hiểu sao...mấy ông thẫm quyền đem con bỏ chợ hay là mấy ổng cũng đang rối nùi với ...lung tung lệnh...trong rừng bây giờ...thằng nào khôn thì thằng đó sống...bọn VC tụi nó biết là lính đang bảo vệ cho dân di tản...muốn quấy rối đội hình tác chiến thì cứ đè đoàn người dân đang di tản mà quất thì lính sẽ tiêu...sẽ bị khủng bố tinh thần...mất đi ý chí chiến đấu...và tôi..thằng lính BĐQ chỉ có chút ít kinh nghiệm mà ..cà chớn cà cháo....ngang bướng hay cải lịnh đang làm một cái quyết định chắc chắn ăn củ...nếu mà còn sống trở về....mặc mẹ nó....bỏ đoàn quân đang nháo nhào dưới kia...tôi cắt rừng tìm sinh lộ cho 44 thằng lính trinh sát và cho cả tôi nữa...không còn gì nữa...mọi quyết định nhập bầy sẽ bị chết chùm...chết chung mà không có đường lui...

thông thường khi mở đường hay đi hành quân an ninh lảnh thổ thì có những khinh binh số 2 đi đầu....nhưng hôm nay...tôi sẽ phải làm thằng khinh binh số 2 đễ đưa đại đội còn lại của tôi tìm về một con đường sống...bây giờ là lúc thực hành bài học Mưu sinh thoát hiểm...bài học cuối cùng của khóa học RNSL sau 21 ngày căn bản BĐQ tại TTHL/BĐQ/Dục Mỹ....bây giờ tôi phải công nhận là cái nhìn của Thiếu tướng Đỗ kế Giai là hay nhất hay chí ít cũng là cái nhìn xa để trang bị cho người chỉ huy BĐQ một kinh nghiệm thực tiển khi đối đầu với sinh tử thì được trang bị ấy sẽ sẵn sàng đề đối đầu..."nhanh như sóc...mạnh như hổ...can trường trường chiến đấu và vững ý chí trong mọi gian nan ..."

(còn tiếp)

Edited by user Wednesday, April 29, 2020 1:33:01 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#2 Posted : Friday, May 1, 2020 10:55:46 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
HỒI KÝ LAN PHI (tiếp theo) :

45 NĂM TRÔI QUA VẪN CHƯA NGỪNG TIẾNG SÚNG..


UserPostedImage

UserPostedImage

càng cao danh vọng....càng dầy gian nan....
có một lúc nào đó...bạn phải làm một người hèn...nhưng đừng bao giờ làm một người tồi....

tôi giờ làm một người chỉ huy hèn...chạy chết...đúng vậy...ngoài ra còn phải cõng trên vai 44 sinh mạng ...và cộng thêm gia đình họ đang trông chờ ngày trở về của họ trong vô vọng...kể cả gia đình tôi... công hầu vương tướng với tôi trong hoàn cảnh nầy đều là ....con số 0 to tướng...chỉ có là...nhưng tôi chỉ mong mình đừng làm một cấp chỉ huy tồi thì...coi như chấm hết....

đáng lý ra là tôi cho ĐĐ nhổ neo sớm khi mặt trời bắt đầu đứng bóng nhưng....cái cảm giác rợn người và những tiếng AK từng phát một vang dội bên kia đèo khiến tôi.....sợ...cái sợ kéo dài từ đỉnh đầu lan tỏa xuống sống lưng làm nổi gai mặc dù trời thì nóng hầm hập....không có gió...không có mây....

_ Nhổ neo chưa ông thầy...
_ khoan Khuyến...tao thấy có gì đó không ổn....
_ Đuông ...mầy ra tuyến gọi Th/úy Trạch gặp tao chút...
_ Dạ ông thầy...thằng Đuông cầm cây súng chạy lom khom ra phía trước...
_ thấp xuống...chậm thôi tránh di chuyển nhanh nó có đề lô đó Đuông....

thằng Đuông rạp người xuống như bò luôn...
một lúc sau thằng Đuông và Th/úy Trạch quay lại...tôi và Th/úy Trạch nhận xét những vòng cao độ trên bản đồ để xác nhận lại đường vòng và thời gian di chuyển...tôi lại móc tấm bản đồ ra rồi nói với Th/úy Trạch...

_ tôi sẽ đi với toán VT Hạ sĩ Bền...Tr/sĩ Ngọc đi giữa và ông đi cuối cùng...mỗi khi dừng lại sẽ điểm danh bằng cách vỗ nắp balo và tới cuối thì ông nói tên ông ...sau đó lính sẽ trả lời lại cho đến khi tôi nhận được tên ông nhé...
_ được ...sẽ làm như vậy...Th/úy Trạch đáp lại...
_ tôi nghĩ giờ ông về tuyến cho anh em ăn uống nghỉ ngơi đến khi 4 giờ nắng xuống mình sẽ nhổ neo....vì tôi thấy nếu đi bây giờ sẽ ...dính chấu...tụi nó đang lùng sục sau khi mình bị tổn thất dưới kia...đợi hạ nắng...chúng rút là mình đi...
_ được...tôi đồng ý với ông...mà....mình đi đêm luôn sao...? Trạch hỏi lại...
_ đúng vậy...tôi quyết định đi đêm cho an toàn...tuyệt đối phải cho anh em bám sát và im lặng di chuyển...khi nào thấy tôi ra lệnh dừng lại thì là điểm danh...nhắc lại phải tuyệt đối im lặng khi di chuyển...
_ tôi biết...ông còn gì căn dặn nữa không...
_ ông thấy sao khi mình cắt rừng bỏ đơn vị....
_ tùy ông quyết định....tôi sẽ thi hành tuyệt đối...
_ về tuyến trấn an anh em....mình sẽ thoát khỏi chổ nầy càng nhanh càng tốt...tôi nghĩ trên đường chỉ còn tụi du kích địa phương...nhưng mình cũng cẩn thận...tránh chạm súng ...tránh gây ra tiếng nổ bứt dây động rừng để chúng sẽ tập trung lại để chận đánh mình....

tôi chỉ xuống bản đồ con đường QL 1 xuyên qua những vòng cao độ từ khít cho đến giãn dần xuống tới bên dưới có mấy nhóm chấm đen và màu xanh nhạt dần...
_ nơi nầy tôi đã đi qua tháng 12 rồi khi tôi về Dục Mỹ học Viễn thám....hy vọng là sẽ không có thay đổi nhiều....

ánh mắt Trạch nhìn ra xa....tôi cũng nhận thấy được sự lo âu giăng giăng trong đó...đời lính...có những lúc thấy phải đội diện với trùng trùng hiểm nguy thì lại thanh thãn ...cái thanh thãn như chấp nhận số phận ai cũng đều phải như vậy...chặng đường đã đi qua từ lúc rời Thanh An qua Thuần Mẫn...Cheo reo...Phú Túc tới sông Ba...những thằng cọp lót đường...nằm lại rồi chấp nhận đời lính là ra đi không hẹn ngày về...là làm phân bón cho rừng xanh...trả nợ sông núi không phàn nàn...không hối tiếc...không sợ hãi...chai lì với cái chết...đối diện với thần chết từng giây từng phút không lùi bước...đi tới...đoạn đường của người chiến binh biệt động là biết trước mình không còn là mình...mà chỉ biết bảo quốc an dân trong muôn ngàn khó khăn nhọc nhằn mà chỉ có những cấp chỉ huy gần gủi với họ mới thấu hiểu những gì người lính đang mang vác trên lưng là nặng nhọc cỡ nào...là gian nan cỡ nào để đánh giá cho đúng nghĩa..

_ ông không còn gì nữa thì tôi về tuyến...
_ được rồi...khi nào di chuyển thì tôi sẽ cho thằng Đuông báo cho ông và anh em chuẩn bị....giờ thì nghỉ lấy lại sức...

Trạch là người Miên ở Sóc trăng.....cái tình cờ khi tôi "bị" trả về Liên đoàn thì Trạch cũng được thuyên chuyển từ vùng I Thượng Đức TĐ 79 về nằm trong quân số LĐ chờ bổ xung về TĐ để tác chiến ...nhưng ngày 10/3 thì BMT bị mất...LĐ 23 gom quân số để thành lập một ĐĐ trinh sát và chuẩn bị cho việc tái chiếm lại BMT nên tôi và Trạch kết hợp lại trong sự ngẩu nhiên cần thiết....tôi lại biết nhiều về Sóc Trăng Ba xuyên khi còn là SVSQ nằm trong TBB/TĐ đi chiến dịch về đây.....gần 2 tháng nên nhờ vậy mà những ấp như Lồng Đèn...Đại Ngãi...Kế Sách ...Lịch hội thượng ...cù lao Dung ...Long Phú lần lượt được lôi ra trong cái trí nhớ đã đem tôi và Trạch lại gần nhau như anh em...Trạch tốt nghiệp khóa sĩ quan tại Đồng đế....tôi cũng không tò mò là khóa mấy vì theo như lời Trạch nói là chỉ mới tốt nghiệp trung học và vì là người thiểu số nên được nâng đỡ của Bộ Sắc tộc giới thiệu đi học khóa SQ tại Đồng đế...bình thường thì thấy Trạch chậm chạp vì người hơi thấp nhưng to con...nhưng khi đụng trận thì năng nổ và nhanh như sóc khiến tôi hoài nghi là ....Trạch có "dzô" cà tha của mấy ông Lục cả của cái xứ " Òn ơi...on xà lanh bòn tê ...hay òn ơi ...tâu na...phất xạ......"

nắng dịu lại và trời bắt đầu mát ...trong rừng thì khoảng 4 giờ là thấy sắp tối....khi tất cả tiếng súng ngưng hẳn thì tôi biết là thời gian an toàn để có thể di chuyển...tôi bảo với thằng Đuông ...

_ Đuông...em xuống tuyến thông báo anh em là mình sửa soạn nhổ neo...cẩn thận...
_ thằng Đuông nhỏm dậy lanh lẹ...em biết rồi ...ông thầy...
tôi nhìn lại bản đồ lần nữa rồi gấp lại đút vào túi hông dưới chân...lôi cái la bàn mở nấp gióng lại độ lệch rồi cầm cây M 16 lên nói với thằng Khuyến và Ngấm...
_ mình đi mấy đứa...ra tuyến thằng Bền rôi zoulu...

Khuyên mang cái balo đựng máy PRC-25 lên lưng...bẻ con cần ăng ten lá lúa đút vào bên trong dây ba chặc...tôi bảo Khuyến tắt hết liên lạc để tiết kiệm pin để khi nào cần liên lạc với quân bạn khi xuống tới chân đèo Cả...còn bây giờ thì di chuyển thật im lặng...nếu khi nào em thấy mỏi thì chuyển qua cho thằng Ngấm thay đổi....

thắt lại dây ba chạc...cây colt 45 ...hai túi đạn M-16...3 trái na M- 26 và một trái mini ...dao quắm của thằng Nap tặng ( sẽ nói trong những bài tới )bi đông nước...đồ chơi nhiêu đó chắc không tệ...
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#3 Posted : Friday, May 1, 2020 11:07:20 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

HỒI KÝ LAN PHI ( tiếp theo...):

45 NĂM TRÔI QUA VẪN CHƯA NGỪNG TIẾNG SÚNG..


UserPostedImage

UserPostedImage

trời chiều thì không khí càng đỡ nóng nhiều...tôi cho quân di chuyển nhanh vì biết rằng không bao lâu thì sẽ mau tối...nếu bạn hành quân vùng Kontum - Krong sơ lũ hay Krong Put hoặc Gia vực thì rừng nơi đây rậm rạp hơn và cây rừng to cao tán lá rộng sẽ che mắt ánh sáng mặt trời về chiều nên rất là mau tối...nhưng càng xuôi về hướng QL 14 về hướng Đông thì có những đồng bằng với rừng cây không rậm nhưng sẽ có nhũng trảng tranh dài và đồi cát đá lởm chởm...và ít dây leo chằng chịt như vùng Kontum dọc dài ra biên giới qua bên kia vùng tam biên Lào...thế cho nên di chuyển giớ nầy rất là thích hợp và tụi VC chúng nó sau một ngày lùng sục chắc chắc sẽ rút về để bảo vệ cứ điểm 42....tôi ra thủ lệnh di chuyển và cứ thế quân ta đi cách khoảng nhau mỗi người chừng một mét rưởi...tôi đi sau Hạ sĩ Bền và cứ liên tục nhìn ra sau chỉ sợ lính mình sẽ bỏ khoảng cách....kim la bàn chuyển động khi tôi bắt đầu bảo Hạ sĩ Bền bẻ cua lệch lên hướng tây nam đi khoảng chừng nửa tiếng ...lúc bấy giờ nhìn đồng hồ là 4 giờ 54 phút chiều thì tôi nghe có tiếng máy bay A-37 trên đầu mình...tôi ra thủ lệnh cho quân dừng lại...thì thấy hai chiếc...rồi 2 chiếc nữa...rồi 2 chiếc nữa phi cơ A-37 lướt qua hướng về đồi 42...sau đó chừng 5 phút thì tôi bắt đầu nghe tiếng nổ của bom rền lên...loại bom 250 cân Anh khi đánh xuống mục tiêu thì bạn sẽ nghe được tiếng rít và sau đó chừng mấy giây sau thì là tiếng nổ rền...khi bạn nghe tiếng rít thì có nghĩa là ...trái bom ấy đang lướt qua trên đầu mình và khoảng cách của điểm đến sẽ là thời gian nhân cho vận tốc của trái bom đi...có nghĩa là nghe tiếng gió rít và bắt đầu đếm 1...2....3.....4 cho đến khi nghe tiếng nổ là sẽ suy ra khoảng cách điểm mình đứng gần hay là xa....tiếng nổ đất rung mạnh hay yếu...kinh nghiệm nầy không có học trong quân trường nhưng bằng kinh nghiệm mấy đàn anh truyền lại khi mà anh gọi flyghter trên chiến trường... theo tiếng nổ ấy tôi dự trù thì cách điểm đứng của tôi cũng trên 1 km hơn nên tôi truyền lệnh xuống cho tất cả các anh nằm im tại vị trí...không nên chuyển động vì sợ s4 bị abn5 mình phác giác mà...bom lầm...thì bà nội cũng đội chuối khô....

sau một hồi quần thảo và bom dội liên tục thì đội cào cào châu chấu của quân bạn cũng rút...đây là thời điểm vàng để di chuyển nhanh nên tôi ra lệnh phải zuolu nhanh nhất...

_ Bền ...nhanh lên...chúng ta di chuyển thật nhanh...càng nhanh càng tốt...

đoàn quân lại lên đường và lần nầy thì không kiêng dè mà đi thật nhanh...

trời tối dần...cuối tháng 3 không trăng...đoàn quan đi trong đêm bằng đôi mắt cú vọ và tay người đi sau đặt lên nắp balo người đi trước...im lặng tuyệt đối...ai cũng biết rằng đi xa khỏi vùng ...bao vây của địch quân càng xa càng tốt...tôi nắm sợi dây nắp balo của Hạ sĩ Bền bằng tay trái...vai mang khẩu M-16 mủi chúc xuống đất...tay phải cầm la bàn thỉnh thoảng theo dõi kim la bàn có anh lân tinh lấp lánh....

_ ngừng lại nghỉ chút đi Tr.úy....
_ được...tôi .quay ra sau thằng Đuông ....truyền xuống dưới tạm nghỉ lại...kiểm tra quân số...
_ rồi...truyền xuống dừng lại...kiểm tra quân số...
mở túi lấy bidong nước tôi uống chút rồi bảo với thằng Bền...
_ em có cần thay người không...
_ không cần Tr/úy...em còn được...

Bền là người Hạ sĩ người dân Phan Rí cửa...người to tròn rắn chắc của dân làm biển...tật nói cà lăm nhưng khi đụng trận thì lại thông suốt nói không vấp tiếng nào đặc biệt là bắn M-79 không cần giương khung ngắm....bắn vào mục tiêu rất chính xác...khi về Đại đội trinh sát tôi đề nghị lên Hạ sĩ I và nắm tiểu đội viễn thám rất ngon lành...( tôi có hỏi về vấn đề bắn không cần ngắm khung của Bền thì anh ta bảo rằng thuở nhỏ anh ta bắn chim...bá....bá....phát....bá....trúng....hihi) thế nhưng có một con chim....mà em bắn trật lất nên....em buồn em đi lính....

trời tối nhanh...phía trước không còn thấy gì mà tôi thì không thể mở địa bàn để xác định điểm đứng...cho nên tôi quyết định cho đoàn quân dừng lại nghi đêm...nhìn đồng hồ dạ quang thì gần 1 giờ sáng...có nghỉa là chúng tôi đã đi gần 7 tiếng trong rừng....ước tính là có thể rới xa khỏi vùng Phú túc khoảng 5-6 km đường chim bay trên bản đồ...
khẩu lệnh dừng quân nghỉ ngơi được truyền xuống kèm theo tôi muốn Th/úy Trạch bố trí phòng thủ hàng ngang và đặt toán VT phía sau đoàn 2 người cách khoảng 20 mét...cắt gát nhưng không gài đồ chơi vì tối và có thể ngày mai đi sớm....

tôi nói Bền là em nghỉ đi ...tôi sẽ đi một chút kiểm tra đội hình sau đó trở lại gát đầu 1 tiếng sau đó thì là thằng Đuông rồi thằng Ngấm và sau cùng là Khuyến...theo thời tiết nầy thì khô ráo mình sẽ di chuyển sớm vào sáng mai....

tôi luồn ra phía sau...đi thăm từng anh em bằng cái xiết tay thật chặt ...trong đêm tối ..tôi thì thầm bên tay họ...cố lên...giữ tinh thần...mình sẽ ra khỏi nên đây....anh em phải thật cố gắng....cái gắn bó của người chỉ huy và người lính đã phá vỡ biên giới lo sợ bằng sự an ủi và động viên tinh thần...không còn cấp trên hay cấp dưới...mà là cảm nhận rằng bây giớ là một gia dình đang đi trong dầu sôi lửa bỏng...đang lần mò đi trong tử lộ để tìm cho ra một sinh lộ cuối cùng.... cuối tuyến...gặp Th/uy Trạch bố trí phòng ngự tôi rất an tâm...xiết tay...tôi nói với Th/úy Trạch...Ông bao chót...tôi an tâm.... giữa hàng quân...tôi dừng lại bên Tr/sĩ Ngọc...

_ sao rồi anh Ngọc...anh em di chuyển tốt chứ...
Tr/sĩ Ngọc trả lời tôi...
_ Ông cứ an tâm...trên đường đi tôi bắt họ ngậm thẻ bài...không nói chuyện hay ho hen...yên chí...

tôi bóp vai anh Ngọc...tốt lắm ...có gì xảy ra....anh lùi lại với Th/úy Trạch....tôi sẽ lo phần đầu...mình sẽ ra khỏi nơi đây....
một ngày trôi qua trong lo âu sợ hãi...tôi trở về tuyến đầu ...thằng Đuông đưa cho tôi nửa gói cơm xấy còn nóng...tôi ngạc nhiên...hỏi nó

_ nấu hồi nào vậy...nó bảo...đào lổ nấu nước...pha cơm...ăn đi Ông thầy lấy sức...cả ngày nay không ăn gì rồi...

Đuông nhắc tôi mới nhớ...cả ngày nay tôi chưa ăn gì....giớ thì mới thấy đói thật sự...

_ mấy đứ ăn chưa...
_ ăn rồi...nấu hai ca chia cho 4 gói...em nấu hết bi dong nước...ngày mai trên đường đi ông Thầy cho lấy nước...

tôi ăn ngon lành...mới biết trong lúc đói bụng cái gì cũng ngon...trong cơm tôi nhận được một ít mùi mỡ màng của thịt hộp ... QTV...hàng của Việt nam sau nầy do Việt nam kỷ nghệ súc sản ...có hợp đồng cung cấp lương khô cho quân đội...mặc dù mùi vị chỉ bằng 60% của thịt ba lát Mỹ...nhưng cũng không đến nỗi nào...đói...cái gì cũng ngon....ngon tuyệt vời luôn...

5 giớ sáng hôm sau...tôi cựa mình thức giấc...trời vẫn còn tối và cái lạnh ập đến...tôi kéo góc cái poncholay nghe hơi ẩm ướt...rừng thưa nhưng tôi vẫn nghe rỏ tiếng côn trùng rỉ rả...và nghe cả tiếng gà rừng.....gáy....tôi đập tay khều thằng Đuông dậy chuẩn bị...nhanh chóng thằng Đuông thu gọn poncho nhét vào balo ....

_ em xuống cho ông Ngọc và Th/úy Trạch hay mình sẽ xuất phát trong vòng nửa tiếng nữa....
_ Dạ...ông Thầy....

Thằng Đuông luồn ra phía sau....nhanh như một con sóc...
không gian bắt đầu lộ ra trong cái màn sương mù lãng đãng của buổi sáng...bọn tôi đã nai nịch lại gọn gàng chuẩn bị xuất phát....
thường mỗi sáng trước đây khi còn thằng Nap theo thì khi xong "báo động" là tôi chuẩn bị " một ...nhận lệnh của thẩm quyền Xuân xanh báo cáo số nhà của mình và mấy toán VT đang chốt ngoài tiền đồn ...có thể là "dặm chân tại chổ " thì khỏi cuốn " đồ chơi " đã gài đêm qua lại còn ...hai là chuẩn bị " trồng lúa "cho sớm để " zoulu " đến số nhà mới hoặc làm Django leo lên một "yên ngựa" nào đó rồi bung mấy thằng con "vẻ vang -tư tưởng" đi tìm " 2 lần tư tưởng" trong kế hoạch hành quân an ninh lãnh thổ....thời gian lên máy là thời gian ....thưởng thức một ca cà phê sáng với vô số thông tin báo cáo về BCH/TĐ và phê pho một hơi thuốc " đầu tháng anh hút capstan...đến chừng cuối tháng...anh binh " ách chuồn.."...đó là đời lính luôn phong sương thuốc lá ách chuồn thì là hạng bét ...còn bị xếp hạng dưới...bastos QTV...

nếu trên bản đồ bạn vẽ một đường thẳng "chim bay" chừng vài ô vuông xanh đậm và chi chít những vòng màu mâu từ khít tới thưa thì có nghĩa là...những ngọn núi với những đỉnh trời ...gian nan khi đi lên và tuột xuống...có thể tốn cả ngày leo lên và nửa ngày tuột xuống....chưa kể ...dốc đá cheo leo...dây rừng chằng chịt hiểm trở và...nếu hên thì xuống ngon lành mà xui thì...rơi tan xác...những phim ảnh mà quý vị coi trên màn ảnh rộng hay tivi chỉ thể hiện được 1/10 cái oai hùng của đoàn quân đóng phim theo trí tưởng tượng của nhà viết kịch bản cho màn bạc...mà thực tế thì....nó còn gềnh thác hiểm nguy và chưa kể đến ...đoàn quân chạm địch với những ụ súng sẵn sàng châu vào "dzủa "cho những viên đạn đồng ...thân mời bạn theo chầu diêm vương bất đắc dĩ.....

trời chưa sáng hẳn...còn sương mù đứng gần nhau mới nhìn rỏ mặt tôi ra lệnh lên đường...chúng tôi đi lầm lủi và im lặng...bởi vì ai cũng biết....đường về phía trước chỉ là hy vọng sống còn nhỏ nhoi...có thể ...một tráng Ak nổ ra thì bọn địch sẽ bu lại xé xác chúng tôi ngay...cấp số bao nhiêu...không biết...tin tức liên lạc với quân bạn...không có....lương thực thì cạn dần....tính mạng thì như đang treo trên...một sợi chỉ mành mong manh....

trời sáng dần....sương tan...chúng tôi đang men theo dưới chân núi thì đột nhiên thằng Bền khoát tay ra dấu hiệu dừng lại...quay lại ra dấu cho tôi biết là phía trước có người....
tôi quay ra phía sau thủ lệnh tất cả dừng lại tại chổ...đồng thời di chuyển lên trên với thằng Bền để đoán tình hình...

_ có một thằng VC đang di chuyển từ trên kia xuống....em thấy thì chỉ có mình nó....tính sao Tr/úy....
_ theo hướng tay chỉ của thằng Bền...tôi thấy một người đang ẩn hiện nhanh sau mấy ụ đá trắng và mấy bụi môn nước tàng lá rất to...
tôi nói với thằng Bền...

_ mình lên gần xem sao...rồi tính...

Thằng Bền nhìn tôi gật đầu...nó di chuyển lom khom đi trước tôi theo sát...hai người chúng tôi thật nhẹ tránh gây ra tiếng động ....diễn tả thì nhanh nhưng thời gian ấy thì rất là chậm chạp ....tôi có thể cảm nhận được hình như chỉ có nhịp tim tôi đang đập trong lồng ngực và cây kim giây đồng hồ thì đang dừng lại....

buổi sáng sương vừa tan...ánh sáng mặt trời đang rãi khắp núi rừng kèm theo là những tiếng chim hót và tiếng gió xào xạt trên cây giúp phần nào giãm bớt căng thẳng đang có trong đầu của tôi...chúng tôi tới gần tên VC...tôi thấy hắn mặc một bộ đồ bà ba hai túi màu nâu đất xậm...bên hông trái là một cái túi "dzếch " loại của mình đựng mìn Clamore...còn bên hông phải là cái dây choàng mang một cái bidong nước nhôm được sơn màu ngụy trang của tụi trung cộng...tay hắn cầm khẩu AK 47 bá xếp...vì quay lưng nên chỉ thấy rằng hắn không cao lắm...người gầy và vào khoảng 1 mét rưởi là cùng...không thấy gương mặt nên không đoán được bao nhiêu tuổi...và cái nón tai bèo đã che hết phần ót phía sau...

Thằng Bền đưa một ngón tay lên miệng nó ra đấu cho tôi im lặng ...rồi thì thầm cho tôi...

_ thằng nầy có thể là du kích hay giao liên vì nó đi một mình ...em sẽ đánh tiếp cận để giữ an toàn im lặng...ông bọc hậu được không...

tôi gật đầu...thằng Bền đặt khẩu M-79 xuống...rút cây dao găm cầm tay rồi xê dịch lên như một con mèo...tôi cũng đặt khẩu M 16 của mình xuống rồi rút con dao quắm của thằng Nap thủ chặt trong tay bám theo Bền...
khi khoảng cách được rút ngắn lại thì tên VC đang lum khum mở cái nắp bidong ra cúi xuống để lấy nước...thằng Bền bỏ bước chỉ cách thằng VC chừng 5 bước chân thì bị phát giác....tên nầy quay lại và la lên....

_ ai ?.....

thằng Bền lao tới..như một con sóc...tôi thấy mủi dao găm đi trượt qua vai tên VC đồng thời....tay của nó đánh lên...con dao của Bền văng ra đánh cạch vào viên đá và hắn bỏ chạy...tôi lao tới....con dao quắm đi trước như một mủi tên....

cảm nhận cánh tay tôi đang khựng lại như chạm vào một vách ngăn nào nó rồi lọt tỏm....vào một cái không gian đậm mùi chết chóc....
tên VC hai tay ôm ngực ...đổ xuống như một cây chuối bị đốn....úp mặt xuống đất....không cục cựa....trước mặt tôi và tôi cũng chết sửng như trời trồng....

_ Trung úy.....Trung úy....

thằng Bền lắc vai tôi thật mạnh...tôi bừng tỉnh nhìn xuống....hình hài tên VC như đang quỳ gối như cầu xin một điều gì đó nơi Thượng đế....

_ nó chết không kịp ngáp....

thằng Bền lật cái xác qua một bên...thò tay rút lưỡi dao...trao cho tôi....lưỡi dao sắc cạnh...bén ngót của người Thượng tôi không biết là rèn bằng loại thép nào mà lạnh....cho đến bây giờ tôi còn nhớ như in là nó ...dường như có ẩn một thứ gì đó khó diễn tả bằng lời...cái ẩn giấu của người dân tộc Rhade du canh du cư....như là ma xó giữ người chủ sỡ hữu nó vô hình và ràng buộc....

" tháng 11 /74 sau khi ra hội đồng y khoa phân loại tôi phải về trình diện đơn vị cũ là TĐ 22/BĐQ với bút phê trong giấy ra Hội đồng ở dơn vị II quản trị là chỉ làm việc văn phòng không đi tác chiến...những ngày này tối ngũ phòng SQ độc thân và ngày thì lang thang ngoài phố Pleiku khiến tôi chán ngán không thể tả...một hôm ..sau khi ...ngủ trưa một giấc ở căn phòng tole nóng hầm hập tôi ở trần ,,,khoác cái khăn lông định đi ra suối sau rẩy bắp của hậu cứ TĐ để tắm thì tôi gặp thằng Nap ở đây...
_ ủa ...Nap ...sao mầy ở đây...
_ Ông thầy...tao về bắt cái lương...
_ mầy không đi hành quân à...
_ tao bị thương nhẹ nên về QYV một tháng...giờ qua TĐ bắt cái lương ngày mai lên xe tiếp tế ra lại đại đội...
_ Oh...sao tao không biết cà...
_ sao tao không nghe Thượng sĩ Giang thường vụ nói gì hết...
_ tao cũng không biết....
_ được rồi..chiều nay mầy lảnh lương xong thì qua bên chợ gia binh TĐ 11 ăn cơm với tao...giờ thì đi lảnh lương đi...
_uh...chiều gặp ông ở đâu...
_ thì văn phòng hậu cứ của đại đội 1...

chiều hôm đó...tôi dẫn thằng Nap qua bên kia đường có khu chợ gia binh nơi tôi ăn cơm tháng ở đó ...ăn xong thì uống cà phê rồi tối thì dẫn nó về phòng SQ độc thân ngủ...đêm đó hai thầy trò tâm sự rất nhiều..những chuyện vụn vặt khi tôi bị thương rời khỏi đại đội rồi thì nó chuyển qua trung đội 3 và hành quân liên miên...cuối cùng...nó lôi trong balo của nó ra con dao quắm đưa cho tôi...

_ tao cho mầy con dao nầy....nó của anh tao .... khi nó chết thì con chị dâu tao đưa cho tao giữ...giờ tao cho mầy làm vật phòng thân...
tôi cầm con dao...rút ra khỏi cái vỏ làm bằng hai miếng gổ (không biết gổ gì) ép lại...cán dao bằng gổ trắc hai màu đã lên nước bóng đồng thời có ánh thép rất lạnh...dài khoảng 2 tấc tính từ cán đến mủi dao...
_ anh tao bị tụi nó giết trên rẩy...cái nhà sàn để giữ ngô và lúa giống bị đốt ..chúng trói thúc ké anh tao lại rồi bắn chết...chỉ còn lại cái chà gạt và con dao nầy....

tôi lạnh mình...dút con dao trở lại rồi đưa lại cho thằng Nap...

_ của anh mầy mầy giữ đi...đưa cho tao chi...
_ tao không giữ được...mỗi lần nhìn thấy nó tao lại thấy có lỗi với anh của tao lắm....cho mầy giữ tao thấy ưng cái bụng lắm....
_ vậy sao được...
_ được mà...cái bụng tao ưng là tao thấy được....
_ thôi cũng được...coi như là khi nào tao dùng nó thì nhớ đến mầy....

tôi với thằng lính Thượng Rhade trẻ măng nầy coi như là cũng có duyên thầy trò...lần bị thương thứ nhì thì nó có ghé thăm tôi vì tôi là thằng....cấp trên cà chớn nhưng lại chịu chơi....trung đội nằm tiền đồn mà dám cả gan thả lính ...đi chơi ...đĩ ngoài chợ Kontum để cho tới tai ông LĐT ...lần đó nếu không nhờ ông TĐT Sông Lô "dzớt" điểm phòng thủ khong để mất tiền đồn 5 thì tôi ăn củ là cái chắc...cũng vì lỡ hứa với thằng Nap nầy cho nó đi..."bắt cái nước"...cho biêt mùi với người ta nhưng ...xôi hỏng bỏng không vì cô kia làm nó sợ quá mà...teo mẹ nó ...thằng nhỏ...

ngày mai nó lên vùng trở lại...rồi không biết còn có dịp nào để gặp nữa không...nhất quá tam...gặp nhau ba bận thì kể ra cũng quá đủ đề mà nhớ rồi...

_ thôi .... ngủ đi Nap...ngày mai mầy đi sớm...nhớ giữ gìn ...cho tốt...

tôi bỏ lững câu nói ấy...kéo tấm Poncho phủ ngang ngực...ngoài kia con gió Biển Hồ lướt qua rẩy bắp lùa vào kẻ hở của mấy miếng vách ván làm cho cái mùng giăng trên ghé bố lay động....tôi chìm vào giấc ngủ của mùa lạnh cao nguyên....cái cao nguyên mù sương quanh năm luôn là mùa đông mà không biết tại sao cứ giữ lấy chân ...à...mà không ...giữ lấy tuổi thanh xuân của tôi chẳng biết cho đến khi nào thì buông ra....tiếng con tắc kè lại vang lên trong bóng đêm...có lẽ ...trời khuya lắm rồi...."

Edited by user Friday, May 1, 2020 11:09:36 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#4 Posted : Friday, May 1, 2020 11:17:04 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

HỒI KÝ LAN PHI ( tiếp theo...) :

45 NĂM TRÔI QUA VẪN CHƯA NGỪNG TIẾNG SÚNG..


UserPostedImage

UserPostedImage

cho đến bây giờ....khi ngồi xuống viết lại cái hình ảnh lúc bấy giờ....dù đã trôi qua 45 năm nhưng vẫn như in trong đầu tôi khuôn mặt hốt hoảng và xanh mét của tên du kích ấy...khuôn mặt xương xẩu và mang cái dấu của một người bị sốt rét lâu năm sống như thiếu đi phần ánh sáng mặt trời...nó âm u và bí hiểm...

_ Trung úy...mình phải giấu xác nó và đi ngay...nếu nó có đồng bọn theo là lộ đó Trung úy...

tôi gật đầu lấy lại bình tỉnh mặc dù tôi biết rõ rằng tay tôi khi chạm vào cái xác chết nầy hiện tại còn rất là run...

sau khi lôi xác hắn giấu vào một hốc đá rồi bứt một số lá môn nước đậy lại ...chúng tôi xóa hết dấu vết cùng những vết máu....thằng Bền lấy cây AK 47 và cái bidong nước...nó đưa cho tôi cái túi mìn đựng một số giấy tờ đựng trong đó...tôi cuộn lại rồi đi về chổ cũ lấy khẩu súng của mình giục Bền...

_ Nhanh lên Bền...mình phải đi ngay không thôi sẽ bị phát giác...

khi trở lại đoàn thì thằng Khuyến và Ngấm thấy thằng Bền mang theo khẩu AK liền biết ngay là đã có chuyện...tôi ra lệnh lên đường ngay...lần này tôi bẻ phương giác đi ngược lại hướng Đông rồi tính....

mặt trời lên cao...những ánh sáng len lỏi chiếu xuống đan xen với lá cây thành những vệt sáng lung linh....những gì xảy ra khiến tôi quên luôn cơn đói....Thằng Bền thì đi sau lưng thằng lính đi đầu....lầm lủi...bõ bước..đoàn quân đi nhanh trong im lặng...chỉ nghe tiếng lào xào của bàn chân giẫm trên lá..thỉnh thoảng vài tiếng gẩy khô vụng của những nhánh cây bị chân giẫm lên...tiếng gai cào sột soạt trên ba lo và tiếng chim rừng gọi bầy càng làm cho suy nghĩ của tôi thêm nặng nề....ra khỏi vùng nầy...rồi sẽ làm gì tiếp theo.....lương thực sắp hết....lính đi hơn mười ngày đã mệt mỏi...giờ nếu gặp địch liệu rằng còn có thể tác chiến được không....

những dấu hỏi lởn vởn trong đầu...còn phía sau là 44 sinh mạng đang phó thác cho một thằng chỉ huy còn " sửa" như tôi...có lẽ...trong giờ phút sống chết thì mọi quyết định của tôi họ đều tuân thủ tuyệt đối ...không chút nghi ngờ...tôi là người đang nắm bản đồ hành quân...nắm la bàn và nắm cả cái sống hay chết của họ từ khi họ lên đường cùng tôi trong ngày bắt đầu cuộc di tản đau thương ...không thể nào ngờ rằng có hay không đoạn kết thúc tốt đẹp hay là sẽ như liên đoàn bị đối phương tóm gọn....
đoàn quân ngoặc 90 độ phương giác đi về hướng đông đến giữa trưa thì tôi cho dừng lại cho phòng thủ và " cơm nước " ...họ cũng mệt và tôi cũng mệt kèm theo cơn đói cồn cào....C4 được cấp phát và tôi muốn họp bộ sậu một lần nữa.... lần này thì thằng Ngấm đi gọi mấy " cấp trưởng " lên họp hành quân với yếu tố bất ngờ....

nắng chạm đỉnh ngọn cây...gió xào xạt và xa xa tiếng con chim tu hú.....nghe vang vang....tôi trải tấm bản đồ...thằng Đuông cầm đưa tôi một vắt cơm bóp tròn...nóng hổi..

_ ăn cơm đi ông Thầy...tôi cầm lấy cắn một miếng...nhai chậm rồi nuốt...miếng cơm trôi qua cổ họng ...khô khốc...
_ uống chút nước cho không bị nghẹn ...ông thầy...
_ lương thực còn nhiều ít hả Đuông...?
_ còn một ngày mai thôi...nếu dùng cho 2 bửa...

lại một câu hỏi lẩn quẩn trong đầu ....làm sao lo lương thực cho đoàn quân đang trong tình trạng ...hoang mang đây....đi mấy ngày đường rồi...bao giờ thì thoát ra khỏi cảnh núi rừng nầy....
Th/úy Trạch và Tr/sĩ Ngọc đã tới....

_ mấy ông ăn cơm chưa....
_ Trạch đưa tay cho tôi thấy còn đang nắm vắt cơm trong tay...
_ tôi đang ăn đây...

Tr/sĩ Ngọc với tay cầm lấy bidon trong tay thằng Đuông...

_ cho tao chút nước đi Đuông...cơm xấy mấy ngày nay khô quá...
đợi cho Tr/sĩ Ngọc uống xong ...tôi hỏi...
_ mấy ông có biết vụ sáng nay chưa....
_ biết rồi...ông bẻ phương giác là biết có chuyện...lính nó nói là ông ...nhỏ con mà chơi lớn quá....bạo...
_ Đm...bạo gì....liều thôi...nếu không nó la thì bể ổ...tôi bật lên chửi thề...
_ thằng nầy có để lại một đống giấy nè....tôi quăng cái túi "dzếch" lên trên tấm bản đồ.... Tr/sĩ Ngọc lôi ta từng tấm giấy nhàu nát vàng vàng ...có vài tấm viết chữ nguệch ngoạc...vài tấm đánh máy là bằng tuyên dương .... thưởng công... QK 5 của cái MTGPMN ...chứng tỏ thằng nầy là cũng thuộc hạng có thớ....

_ nó tên Trần Lãm....làm tổ đội trưởng tổ giao liên cho Huyện ủy Phú yên - Vũng Rô...
_ vậy sao...tôi cũng đoán như vậy vì nó có mang cây AK-47 bá xếp....thằng Bền đang giữ...
_ chắc nó tới số...Tr/sĩ Ngọc cười cười nháy mắt với tôi...
_ bỏ đi...giờ mình họp chút....tôi có ý nầy...giờ mình lương thực không còn bao nhiêu...nếu đi xuyên ngọn núi nầy xuống bên kia đèo Cả thì ít nhất cũng phải 2 hoặc 3 ngày lội rừng nữa...tôi sẽ đi theo hướng nầy ra 2 ngọn núi nhỏ ....là có thể mình thấy QL 1...mấy ông có thấy kèm theo QL 1 là có đường rầy xe lửa cặp theo không... nếu không có gì thì mình sẽ cặp theo nó đổ đèo và xuống tới chổ nầy.....

ngón tay tôi chỉ vào khoảng trắng giữa đèo Cả có nhiều chấm nhỏ li ti trên bản đồ...đó là một làng chài tiếp giáp với biển mà tôi biết khi xe đi qua trong năm vừa rồi...

_ tôi cũng đồng ý với ông...chúng ta có thể tìm chút lương thực và biết thêm tình hình khi ra tới QL 1...mấy ngày rồi...cứ tăm tăm mù mù... Th/úy Trạch trả lời...
_ Tr/sĩ Ngọc tính sao ....tôi quay qua hỏi Ngọc...
_ được rồi...tới đâu hay đó...điều quan trong là phải tìm lương thực cho lính...nếu không sẽ mệt lắm...

tôi chỉ tay vào những sợi màu nâu cao độ giãn rộng và những vùng với màu xanh lá cây nhạt....

_ mình sẽ luồn vào những đám rừng thưa nầy...có những chổ trắng tôi nghỉ là rẩy dân hay của người Thượng chúng ta sẽ có bắp hay khoai mì cũng được...nhớ là phải thật cẩn thận...có phát giác gì lập tức ngừng lại ra thủ lệnh ngay...bây giờ hai ông về tuyến cho anh em biết khoảng nửa tiếng nữa thì mình nhổ neo....

tôi mở nắp bidong...nhắp thêm một ngụm nước...còn sót lại....trong đó...phải nói là tôi đoản thiệt....đia qua mấy lần những khe nước suối mà quên không lấy nước...thôi...chút nữa trên đường đi sẽ lấy sau...có núi thì sẽ có nước...những đường thông thủy qua hai ngọn núi có vòng cao độ thấp 540 và 664 thì chắc chắn khỏi lo nước khe....có sẵn...

khi tôi ra lệnh zoulu thì trời bắt đầu chuyển mưa...cũng tốt...vì mưa thì sự di chuyển sẽ nhanh hơn vì không sợ âm thanh nhiều nếu có địch sẽ dễ bị phát giác...tất cả đều trùm Poncho cột ngang hông cho gọn và đi nhanh...có chút trở ngại là nếu đánh vòng lên triền núi thì hơi vất vả...không sao...lính biệt động thì phải thích ứng với mọi địa hình....tôi cầu cho mưa thật lâu để sự di chuyển sẽ được an toàn hơn không tạo ra nhiều âm thanh của đoàn quân trong rừng bởi tiếng động từ bước chân...

tôi cầm chắc chiếc la bàn theo độ lệch kim đồng hồ....qua khỏi một triền dốc thì trước mặt có một trảng tranh mà ước chừng khoảng 200 mét trống trải có thể nhìn bằng mắt qua sườn núi bên kia một khoảng trống lốm đốm vệt đen và có một làn khói trắng bay lên lan tỏa....tôi ra thủ lệnh cho đoàn dừng lại....nói với thằng Bền...

_ Bền...mầy thấy phía bên kia triền núi không....
_ thấy.....tôi nghĩ chắc là rẩy của người dân tộc...
_ nhìn kỷ coi...tao thấy có khói...
_ uh...tôi cũng thấy...giờ ông tính sao...
_ từ đây đến đó ước chừng bao xa..
_ cũng hơi xa đó Tr/úy....tôi ước chừng một ô vuông đường chim bay...
trời vẫn còn mưa...giọt mưa lộp độp trên tán lá và bầu trời thì u ám...
_ ông có tính gì không Tr/úy...mình đi tiếp hay....thằng Bền bỏ lửng câu hỏi....

tôi nhìn đồng hồ...sắp tới 4 giờ chiều...trời vẫn mưa ...đừng đợt mưa trắng quất ràn rạt theo từng cơn gió...miền trung thì không có mưa rào như Sài gòn...mưa một loạt rồi trời quang mây tạnh....mưa miền trung đôi khi lâm thâm ...dai dẳng...cũng có khi mưa theo mây...từng đợt rồi từng đợt...kéo dài như...mãn thiên hoa vũ...

_ nếu toán Viễn Thám từ đây qua đó trở về ước chừng mấy tiếng hả Bền...
_ tôi nghĩ chắc cũng 4 tiếng đó Tr/úy....
tôi phóng tầm mắt xác định lần nữa...mưa trắng xóa....từ chổ nầy thả xuống triền qua tới bên kia trời sẽ tối....tôi quay qua Đuông...nói...
_ Đuông...mầy xuống dưới nói Th/úy Trạch lấy cho tao cái la bàn của Th/úy Trạch....nói tao cần gấp...
_ được ...ông thầy....thằng Đuông tháo cái balo xuống rồi đi ra phía sau....được 5 phút sau thì mang cái la bàn của Th/úy Trạch đưa cho tôi...

tôi gióng hướng xong rồi chỉ cho thằng Bền...căn dặn khi đến gần thì hết sức cẩn thận ...toán VT được thả đi 4 người...tập trung lựu đạn M 26 và thằng Bền thì thủ 2 cây vừa M-79 và cây AK bá xếp...

_ tránh đụng độ nếu mầy thấy không cần thiết thì rút lui....nhớ là tránh nổ súng....nếu tao nghe thấy tiếng súng là.....tụi bây ráng núp lại chờ tụi tao qua...nhớ cho kỷ....tôi dặn dò trước khi toán tuột xuống triền...

khoảng thời gian chờ đợi là sự cầu nguyện các đấng bề trên luôn gia hộ cho toán VT an toàn....những ngày tháng tác chiến trên vùng cao nguyên...từng bước chân hành quân theo cha rừng và bầu sữa thơm tho từ khe suối mẹ núi đã trui rèn tôi từ một thằng thư sinh gầy gò trở nên lì lợm và coi pha cái chết...nói ra thì thẹn...có khi cũng sợ hãi đến....són đái trong quần khi nghe tiếng rít của thằng 122 ly hay tiếng khè ...khè như rắn hổ của thằng cối 82 đến đít...trời kêu ai nấy dạ....đụng chạm chiến trường mới thấy cuộc đời có nhiều hợm hỉnh đáng ghét hơn là đáng sợ....những đêm đặc công mò vào hàng rào ăn mìn hay " lệ đá" khóc cho thân xác bấy nhầy...vắt vẻo trên những bông hoa kẻm gai....thấy mà tiếc cho những thằng cán binh CS "sinh bắc tử nam"...

mưa đã dứt hạt...trời bắt đầu tối dần...có một màn sương mỏng đang lang thang luồn vào từng thân cây ngọn cỏ....tạo một khung cảnh vừa lạnh lẻo vừa âm u....tôi căng mắt nhìn qua bên kia...mọi việc vẩn im lìm mà chỉ còn nghe được tiếng giọt nước rơi chậm chạm xuống lớp lá dầy dưới chân...

tất cả vẫn im lặng...tấu khúc của rừng xanh bắt đầu bằng những tiếng lật cánh của vạc sành...của loài giun dế muôn đời không thay đổi...thời gian chầm chậm trôi qua....tôi theo dõi hai cây kim trên mặt đồng hồ...không gian như sánh lại.....

Edited by user Friday, May 1, 2020 11:18:11 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#5 Posted : Friday, May 1, 2020 11:23:07 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

HỒI KÝ LAN PHI ( tiếp theo...):

45 NĂM TRÔI QUA VẪN CHƯA NGỪNG TIẾNG SÚNG..


UserPostedImage

UserPostedImage

gác phiên cuối tôi đốc canh mà toán VT của Bền vẫn chưa về...tôi ra lệnh báo động đồng thời lấy một tiều đội trang bị "đồ chơi" để chuẩn bị ...nếu mà đến sáng toán không về thì tôi đích thân sẽ qua bên đó...mà lạ....không có tiếng súng...cũng không thấy có gì .....động tịnh...lòng tôi nóng như lửa đốt...bao nhiêu câu hỏi và nghi vấn cứ đan xen...nếu như có bị...úp thì lanh trí như thằng Bền cũng ...chơi một phát báo động chứ....đàng nầy cứ im lìm...cái im lìm đáng sợ và hồi hộp...suốt đêm tôi không chợp mắt...

tôi gọi Trạch và Ngọc lại bàn bạc....

_ ông Trạch giữ anh em còn lại...còn anh Ngọc thì sau khi theo tôi xuống dưới đường thông thủy thì anh ở bên nầy tiếp ứng...tôi sẽ dẫn tiều đội lên trên coi toán thằng Bền bị gì....nếu như có tiếng súng thì anh Ngọc đưa anh em qua tiếp yểm trợ cho tôi nhé....
_ được .....tôi sẽ chọn mấy thằng ngon lành ...kỳ nầy nếu đụng thì tới luôn...Ngọc nói...càm bạnh ra....
_ xong ...cứ như vậy...trời sáng chút mình mình tuột xuống....
tất cả đều nai nịch gọn.....lấy thêm lựu đạn và mỗi người thêm một băng M-16 /20 viên...

khi tôi tuột tới lưng chừng thì toán VT của Bền đang lôi hai cái poncho cuộn tròn và hai thằng mỗi thằng nắm một đầu lôi lên....trên triền dốc....

thằng Bền khoác tay ra đấu...tôi cho tiểu đội dừng lại bố trí....

_ Tr/úy...tụi tui về...nè
_ Bền ...ĐM...tụi mầy sao vậy...đi cả đêm sao không về....tôi nhìn lom lom vào hai cái Poncho cuộn chặt... hỏi lại
_ cái gì vậy hả....có chuyện không ổn sao...
thằng Bền trả lời....
_ bắp...toàn là bắp...
_ cái gì...?
_ rẩy bắp....nhiều bắp lắm...có cả khoai mì ...tụi tui cả đêm thằng canh thằng hái được nhiêu đó...

nó đưa cho tôi coi hai bàn tay đỏ lựng...

_ thì mầy cũng phải về sớm rồi tính chứ...ĐM...cả đêm không thằng nào ngủ được...
_ tui thấy có cái chòi...bị cháy...chắc là tụi canh rẩy hay là tụi VC nó đốt hông chừng...sau đó thì bắp đang lứa ...tụi tui bẻ mấy trái lùi vô đống lửa rồi một thằng canh ...tui với thằng Toán là thằng Luyện đi một vòng thì thấy bên kia tầm 300 mét có một rẩy trồng khoai mì....trở lại tụi tui ăn xong mấy trái bắp rồi thì qua bên kia thì trời tối...bên đó không có mưa nên nhờ có mặc Poncho nên tôi mới nghĩ sẵn thì quất luôn mấy trái bắp mang về khỏi phải mất công...rẩy khoai mì tui thấy cũng chắc có củ rồi...cây cao hơn mét....

_ thôi về tuyến rồi tính....

cả nhóm rút lên trên...trải hai cái Poncho ra thì bắp trái nào trái nấy ú nụ...hột chắc và trắng tươi..

tôi hỏi thằng Bền là khi qua tới bên đó có thấy dấu vết gì lạ không thì nó trả lời là không thấy gì ngoài cái chòi bị cháy còn lại 4 cái chân cột đang ngún và đống tro...còn lại thì nó đi xem không thấy dấu vết gì nữa...

tôi nghe thằng Bền nói xong...ngữa mặt lên trời lầm thầm :

_ con xin cảm tạ ơn Chúa...ngài đã cho con đúng lúc cất đi gánh nặng trong lòng con...con xin cảm tạ Ngài đã chấp nhận lời cầu xin của con trong giờ phút mà con cảm thấy vô vàn tuyệt vọng nầy....

suốt đêm qua tôi không thể nào chợp mắt được...đã chứng kiến nhiều anh em ra đi...đã rớt nước mắt khi nhìn thấy người dân bị bắn và bị pháo...những hình ảnh người dân gồng gánh bồng bế nhau chạy loạn...tay không tấc sắt bị bọn CSBV dã man nã đạn pháo vào và những người lính bảo vệ dân dưới tầm đạn pháo đã chết oan ức...giờ đây...trên đoạn đường chạy chết và mang trên mình một gánh nặng sinh mạng của nhiều người...tất cả như một gia đình thân thiết .....toán thằng Bền không biết ra sao...những người lính còn lại thì đang đối diện với hiểm nguy trùng trùng và cái đói trong những ngày sắp tới...tôi là người lính trẻ...kinh nghiệm chiến trường không có bao nhiêu...lại phải chống chọi với những khó khăn trước mặt bởi vì...những người lính của tôi đặt hết vào tôi những hy vọng cuối cùng của họ....đêm qua ..tôi đã dọn mình ..khẩn nài Thiên Chúa xin Ngài hãy tha thứ cho tôi ...hãy nâng đỡ tôi trong lúc mà tôi cảm thấy tuyệt vọng ...hãy cho tôi một niềm tin vào nơi Thiên Chúa...tôi là một tín đồ ngoại đạo...chỉ biết lượn lờ bên hông nhà thờ để ...nhìn mấy cô ...áo xanh áo tím...chưa hề đọc một lời kinh...ấy vậy mà khi con người đã bước vào tử lộ thì bỗng dưng lại ...cầu xin Ngài tha thứ...

" lạy Chúa tôi....Chúa là đấng trọn tốt trọn lành vô cùng....Chúa đã dựng nên tôi...và cho con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì tôi....mà tôi đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa lại cùng Chúa...giờ tôi lo buồn đau đớn.....cũng chê ghét tội lỗi tôi trên hết mọi sự...cầu xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi nầy ...che chỡ cho tôi cùng anh em tránh được mọi sự dữ...Amen..."

Thiên Chúa lòng lành...Ngài đã chấp nhận lời cầu xin của tôi như là bằng chứng trước mắt....

dù muốn hay không...tôi cũng biết mình phải làm gì...tôi cho anh em tập họp lại rồi phân công việc ....

_ Th/uy Trạch sẽ lấy thêm 10 anh em và toán VT qua bên đó trước...phòng thủ xung quanh..
_ Tr/sĩ Ngọc sẽ nằm chặn đường dưới con suối để giữ con đường lên an toàn đồng thời đặt 2 chốt báo động....
_ anh em còn lại sẽ luộc bắp và nấu mì để làm lương thực cho những ngày di chyển sắp tới...nên nhớ là phải nhanh và hết sức đề phòng....mình nghỉ ngày hôm nay ...lấy sức ..có thể sau khi lương thực đầy đủ...mình sẽ đi ngay trong đêm...dự trù qua khỏi rặng núi nầy thì bên kia là đèo Cả...chúng ta chưa biết là sẽ chạm mặt bên nầy hay bên kia đèo nhưng chắc chắn là sẽ ra tới QL 1 thôi...

sau khi cắt đặt xong...nhìn khuôn mặt của tất cả đều thấy được nét vui mừng...thú thật...có ở trong hoàn cảnh lo sợ và sắp hết lương thực mà đường thoát thì còn thăm thẳm mù xa thì ai lại không thấy nãn chí...giờ thì lấy lại tinh thần..riêng tôi..trong lòng cảm tạ ơn Thiên Chúa đã chấp nhận lời cầu xin và giúp đỡ tôi an lòng qua cơn khó khăn nầy....
một ngày trôi qua trong sự quan phòng của ơn trên...tôi bắt đầu lấy lại tự tin và biết chắc rằng...tôi và sinh mệnh của 44 người anh em luôn luôn có Thiên Chúa che chỡ...

những thùng đạn được xử dụng để luộc mì...toán Tr/sĩ Ngọc đã cung cấp nước từ dưới suối đưa lên....củi khô được gom lại để đốt lò và nón sắt thì làm nồi để luộc từng trái bắp được cắt đôi ra cho mau chóng....người lính Biệt động ngoài việc đánh nhau ngoài chiến trường thì họ lại thích ứng nhanh với những chuyện ...bếp núc tự nhiên như phụ nữ...với lại nấu khoai mì hay là trái bắp đâu có khó khăn gì....khi nấu xong ..thì được đổ ra trên một tấm thảm lá bắp cho ráo nước rồi mới dùng lá gói lại....phần lương thực cho mấy ngày đường đã tạm ổn thì trời cũng sắp chạng vạng....tôi cho anh em gom lại rồi ....ra lệnh chuẩn bị để lên đường....

Edited by user Friday, May 1, 2020 11:25:02 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#6 Posted : Friday, May 1, 2020 11:33:18 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

HỒI KÝ LAN PHI ( tiếp theo...):

45 NĂM TRÔI QUA VẪN CHƯA NGỪNG TIẾNG SÚNG..


UserPostedImage

luồn rừng.....chỉ hai từ nói ra thì dễ nhưng khi thực hành thì rất là khó khăn...rừng rậm Việt nam trong khoảng thời gian dài sau khi Pháp rút đi rồi đến chiến tranh qua hai chế độ đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa vì không có khai phá nên rừng nhiều dây gai chằng chịt ...không như xa lộ hay đường trường ngoài Quốc lộ...nếu cầm bản đồ trên mặt phẳng vạch chừng 5 ô vuông đường chim bay...thực tế di chuyển 5 km đường núi hay rừng có khi phải mất từ 1 ngày tới 1 ngày rưởi...chưa kể nếu đụng cấp độ cở C hay D thì...coi như là ...xong game...

ngày đi đêm nghỉ....cho đến ngày N+5 thì có một trục trặc xảy ra....
hôm nay quân di chuyển chậm vì cãm giác là sắp sửa ra gần QL 1...càng gần đường thì cần phải cẩn thận hơn vì biết đâu VC chúng nó hay bung quân để phục kích những quân bạn di chuyển tiếp ứng từ Nha trang ra Tuy Hòa hoặc ngược lại...cho nên tôi căn dặn tất cả anh em luôn phòng thủ chuẩn bị nếu có đụng là tấp luôn không cần do dự và khinh binh đi đầu hôm nay là Tr/sĩ Ngọc...một chiến binh Phan thiết xứ biển có cái mủi đánh hơi vịt con rất tài tình và dân chơi xâm mình không hề biết lạnh cẳng....

tiếng lắc rắc của cành cây gảy hay bước chân di chuyển dù nhẹ tới đâu cũng tạo ra một âm thanh lào xào không thể tránh....đang đi đột nhiên Tr/sĩ Ngọc khoát tay ra thủ lệnh ...dừng lại....tất cả đều quỳ xuống nâng khẩu súng lên trên chỉa ra hai bên...tôi lum khum chạy lên với Tr/sĩ Ngọc hỏi :

_ Chuyện gì vậy anh Ngọc...
Tr/sĩ Ngọc đưa một ngón tay lên miệng ...suỵt nhỏ rồi thì thầm...
_ tôi nghe có tiếng người....
tôi căng thẳng...cái căng thẳng căng ra như một dây đàn chạy dọc theo sống lưng đang mướt mồi hôi đột nhiên thấy lạnh...
_ giờ...ông ....tính sao....câu hỏi tự nhiên thấy lãng xẹt.....
Tr/sĩ ngọc cầm cái la bàn tòn ten trước ngực đưa lên gióng phương hướng... rồi chỉ tay chếch qua phải...
_ hướng nầy...tôi nghe tiếng từ hướng nầy...
tôi ngoắc thằng Đuông bò lên...
_ Đuông...em xuống nói Th/úy Trạch cho anh em chuẩn bị...gọi cho Hạ sĩ Bền và toán VT lên đây...

Đuông đi lum khum xuống dưới thì một chút sau toán VT do Bền đang di chuyển lên....

tôi nhìn qua hướng tay phải thấy một khoảng rừng cây không rậm rạp lắm...nhưng vì lá mây đan dầy nên tầm nhìn không được xa...cùng những con gió cứ lao xao nên không nghe được gì như là Tr/sĩ Ngọc cho biết...cẩn tắc vô áy náy...tôi nói với Tr/sĩ Ngọc...

_ tôi sẽ lên với toán VT...anh và Th/úy Trạch khoanh anh em lại....nếu mà gặp chúng thì tôi rút về để mình tính sau...cần thiết cho anh em phải hết sức giữ im lặng và lúc nào cũng sẵn sàng...tác chiến...

Bền máng khẩu M 79 quàng qua vai...cầm cây AK 47 mở khóa an toàn...phải công nhận...cây súng bá xếp nầy mang nguyên một băng cong ngầu và gọn...còn nổ thì tôi đã từng nghe...nó đưa âm thanh cướp tinh thần nếu mà bắn trong vùng trủng của núi thì...bá chấy....kỳ nầy...dùng gậy ông mà đập lên lưng ông đây...tôi tự nhủ...

Bền lướt lên...bỏ chân...tôi bám theo sát...hai tay súng VT của đại đội cũng dính theo ...đội hình hàng dọc tuy có ít nhưng tôi rất an tâm vì đã từng cùng nhau vào sinh ra tử....nhiều trận từ ChuPao qua tiền đồn 5 Kontum...từ Lệ Ngọc vô Lệ Khánh vào Pleime....từ Võ Định đến Eo gió Gia vực về Sa Thầy thì chúng tôi hợp rồi tan...tan rồi hợp...mới hay...cái tình huynh đệ chiến trường gắn bó còn hơn là anh em ruột thịt...

nhẹ hẩng...chúng tôi bỏ bước...từng bước rất nhẹ...gió rừng lao xao...từ xa tôi nghe trong gió....

_ mầy.......l....à...m..........đi...
_ không......tao......làm......không được....
_ tao ...chịu...h....ế....t...nổi....rồi...

chúng tôi.....rạp người nằm im...xuống....cố gắng....hết sức...để nghe....

_ xin ...mầy.....làm...cho ngọt.....
_ ĐM....tao làm......không có....được....

tôi nghe loáng thoáng tiếng khóc nức nở...tiếng hức hức của một người khác đang van xin một điều gì đó.....

chúng tôi bò thật nhẹ đến gần...thật gần ...êm ái như là những con cọp đang săn mồi ...con mồi vẫn không phát giác....
cho đến khi tôi trừng mắt nhìn lên thì...một cảnh tượng thật bi đát .....khó mà diễn tả đang xảy ra trước mắt tôi...hai thân thể bê bết...trong màu áo hoa rừng ....môt người nằm thì đã bị thương cánh tay....cánh tay bên trái được cặp hai khúc cây rừng chặt vội còn một người thì ngồi ...tay cầm một lưỡi lê đã rút ra khỏi vỏ....người lính nằm có lẽ vì quá đau nhức nên muốn thằng bạn mình đoạn lìa cánh tay bị thương đi....

tôi lên đạn....tiếng cơ bẩm khô khan bật ra....viên đạn nằm trong nòng súng nhảy ra ngoài và viên đạn khác đã nạp vào....cái phản ứng nhanh chỉ trong vài giây làm cho tất cả toán VT ngỡ ngàng....

_ nằm im....chúng tôi là BĐQ...là bạn... tiếng nói tôi chỉ vửa đủ nghe....không lớn cũng không nhỏ...bình thường khi trong cuộc chiến tôi la hay chữi thề vang rân trong máy PRC-25 lớn lắm mà nhưng không hiểu tại sao hôm nay trong hoàn cảnh nầy...tiếng nói như có một bàn tay bóp cổ họng cho âm thanh phát ra chỉ vừa đủ nghe...để không ....làm phiền hàng xóm đâu đó...

người cầm lưỡi lê quay ra....theo một phản xạ tự nhiên....khi nhìn thấy chúng tôi....anh ta trợn mắt rồi giơ hai tay lên trời...như đầu hàng...

tôi đứng lên...súng vẫn chỉa về phía trước ...toán tôi và Bền đều chổi dậy chạy lại....

hai cặp mắt nhìn lên chúng tôi trừng trừng...tôi thấy tại hiện trường là một cây M-16 nằm lăn lóc...cái balo xẹp lép và hai thân thể gầy còm ...có lẽ họ lạc đơn vị đã lâu...

tôi nói với anh lính ngồi..

_ anh bạn ..chúng tôi là bạn ...hãy cho chúng tôi thấy thẻ bài của anh...

anh ta buông tay xuống thò vào cổ áo móc tấm thẻ bài lôi ra....tôi ra lệnh cho toán VT hạ súng xuống và hỏi

_ mấy anh thuộc lính gì...đơn vị ở đâu...sao lại lạc ở đây...
anh lính đang ngồi trả lời rằng ...
_ chúng tôi thuộc đại đội 3 trung đội 1 tiểu đoàn 58 /BĐQ ...bị máy bay thả bom lầm...thằng bạn tôi bị thương và sau đó thì chúng tôi chạy và mất liên lạc với đơn vị....

nhìn đôi mắt của anh...tôi thấy trong lòng mình có một sự bất nhẫn và thương tâm...tôi nhủ lòng rằng nếu mấy thằng em của tôi mà bị như vậy...chắc tôi sẽ điên...ĐM...đéo cần biết là thằng nào ra lịnh...tôi sẽ truy tới ổ ...tới đâu thì tới....những tháng ngày lăn lộn trên cao nguyên nắng cháy...đã không ít một hoặc hai lần tôi xài giấy 500 con cọp với cấp thẫm quyền cao hơn tôi khi mà mấy chàng pháo binh bắn...bừa ...thiếu thuốc bồi hay là chỉnh phương giác ....cho đạn bay qua đầu mình...vô tội vạ....

giữa chiến trường khi mà bạn bị thương....bất ngờ...vì đạn hay mảnh đạn đi nhanh lắm...xẹt qua một chỗ nào đó trên thân thể ban...cho đến khi bạn có một cái cảm giác mình ....ướt ướt hay tự dưng ...mình không còn một chi nào đó trên thân thể thì....bạn đã bị thương...còn nếu như....bạn ngã xuống mà không biết gì nữa...thì bạn đã ...leo bàn thờ chớ ngắm con gà cụt móng không mặc quần áo...tin tôi đi...vì những cái nầy tôi đã trãi qua...nếu mà trình diện Diêm vương mà không có ....sự vụ lệnh bị duổi về thì....tử thần sẽ xếp lưỡi hái mời bạn uống rượu hay bia...hoặc giã ...bạn đã làm con ông Trời cháu ông Phật rồi....có thiên thần bản mệnh hộ thể....khó mà chết lắm...

nhưng cái đau bản ngã thì có đấy...bằng chứng là anh lính bị thương nằm kia với vết thương ...tay lìa và đang bốc mùi....như là xác thối....tôi hiểu và ra dấu cho Hạ sĩ Bền cùng toán VT đưa anh ta về tuyến...

dìu anh ta về đến nơi thì có lẽ anh ta đau đớn quá nên xỉu...hay bất tỉnh cũng chẵng biết...tôi gọi cho Hạ sĩ Tú mang túi cứu thương đến...ah...nói đến Hạ sĩ Tú thì cũng có một chút....đặc biệt vì anh ta là lính Nhảy dù trợ y đào ngũ trong trận hành quân Lam sơn 719 Hạ lào....anh ta bị thương nhẹ được đưa về bệnh viện Đỗ Vinh điều trị...không biết là vì sợ chiến tranh hay thấy đồng đội chết nhiều quá bên Hạ Lào nên anh ta leo rào bệnh viện trốn về nhà ở đâu miệt Củ chi hay Trãng Bàng gì đó...trong một trận càn quét địa đạo nơi anh ta ở thì bị bắt lại...mới đầu quân mình tưởng là Vi xi tính đưa ra ngoài Phú quốc...nhưng khi điều tra lý lịch hay là vì sợ tù xa quá anh ta khai ra là đào ngũ nên được đưa ra Trung tâm Huấn luyện BĐQ vào Đại đội hồi ngũ học được khoảng 4 tuần lễ thì tống ra vùng II bổ xung quân số cho BĐQ...khi anh ta về đến Liên đoàn thì khai tiếp là có học khóa trợ y nên được điều về đại đội trinh sát liên đoàn theo Hạ sĩ I Ông văn Thành mang y cụ và cứu thương...sau đó thì H/sĩ I Ông văn Thành bị pháo tử thương đã nằm lại bên kia đèo Cheo reo ...giờ thì anh ta lên làm trợ y ...vì quen miệng gọi H/sĩ Thành nên tôi gọi luôn anh ta là H/sĩ Tú....có cùng gian nan nguy hiễm thì mới biết là anh ta có rất nhiều kinh nghiệm về trợ y...đôi khi...cái nhanh nhẹn không đến bằng học hỏi mà đến bằng kinh nghiệm....vì vậy...anh Tú rất biết điều và rất quý mến tôi...

H/sĩ Tú đến nơi...tôi chỉ người lính bị thương rồi nói...

_ Anh Tú coi vết thương anh ta ra sao...có còn....chữa được không...

Tú lật miếng vải áo ra....rồi bịt mũi quay ra chỗ khác nói...

_ vết thương làm độc nặng rồi Tr/úy...không có cách nào chữa được rồi...
_ vậy phải làm sao...

Tú nhìn tôi rồi chỉ tay xa xa ra dấu ....

_ mình ra kia nói chuyện đi Tr/úy...

tôi nhìn Tú rồi nhìn anh lính...có lẽ anh ta quá đau đớn hay là mệt không biết...hai mắt nhắm nghiền ...và cũng có lẽ đang lên cơn sốt ...mặt đỏ và miệng rên hừ hừ...nước...nước...nước...

Tú nắm tay tôi đi ra xa rồi nói nhỏ...

_ vết thương đã thúi rồi Tr/úy....giờ thì phần dưới cánh tay đã bất khiển dụng và đang hoại tử.....chỉ có cách là....cắt bỏ...
_ cắt bỏ...tôi thảng thốt nhìn Tú...
_ làm sao mà cắt đây...anh ta có thể chết không...
_ mình không còn có thuốc men gì hết Tr/úy ,chỉ còn lại thuốc sốt rát và băng cá nhân thôi ..vả lại nó đang bị vết thương hành sốt nặng...mất máu nhiều và nếu không cắt bỏ chi dưới cánh tay thì khó mà giữ mạng vì sẽ thúi lên trên...
_ tôi quay lại nhìn anh lính....rồi nhìn Tú...tại sao lại phải là tôi quyết định...thân thể là của anh ta...do cha mẹ anh ta sinh ra....giờ lại trao cho một người không quen biết chỉ tao ngộ chưa đầy nửa giờ đồng hồ...tôi chặc lưỡi rủa thầm....ĐM...ông trời chơi khăm tôi hay sao đây hả ông....
_ anh hỏi người bạn của anh ta đi....chuyện nầy tôi không có ý kiến....dẫu gì thì họ cũng đi chung...
_được ...để tôi hỏi anh ta...

anh lính sau khi được cho ăn uống thì thấy như lại tinh thần...tôi ngoắc anh ta lại gần rồi hỏi tên gì...nảy giờ cứ lo vấn đề thương tích của người kia mà quên mất vụ tên tuổi....

_ anh tên gì...
_ dạ....em tên...Tuyên ...Tr/úy....Hoàng ngọc Tuyên...
_ còn anh bị thương...
_ Dạ...nó tên Cử ...Trần tấn Cử người Bắc di cư ở Cái sắn...em ở Bình Tuy...
_ tôi hỏi anh nếu bây giờ...cái tay của anh bạn anh phải cắt đi thì anh thấy sao...

anh ta gải đầu rồi nhìn tôi...

_ dạ...nó cũng muốn như vậy mà em.....hông có làm được....thấy ác quá Tr/úy...
_ vậy là được rồi...cánh tay chi dưới không còn để được...phải cắt bỏ...nếu không anh ta sẽ chết...
_ dạ...em không biết...tùy Tr/úy quyết định....

tôi nghĩ thầm....ĐM...vòng vo một hồi rồi cũng máng cái cựa cho mình...được thì tôi quyết định ...cắt....bà mẹ nó ..đã chôn mấy chục thằng rồi...giờ cắt bỏ đi một cánh tay thì....cũng đéo có sao hết...

_ quay qua Tú...tôi gật đầu ra hiệu....làm đi...

trong khi Hạ sĩ Tú chuẩn bị để cắt bỏ cánh tay của Cử thì tôi bỏ lên tuyến trước...không muốn nhìn thấy ...cái quyết định bất đắc dĩ của mình ....con bà nó....chiến tranh tàn nhẫn....
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#7 Posted : Saturday, September 25, 2021 9:01:13 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Những ngày cuối cùng của thành phố Quảng Trị (3/1975)


Đổ Rô

Posted on February 22, 2019 by dongsongcu

Sau cả năm dài miệt mài hành quân theo đơn vị, hồi đầu tháng 3/1975, tôi về hậu cứ của TĐ 120 ĐPQ nằm trong khuôn viên TK/QT để nhận giấy đi phép. Khỏang 5 -6 giờ chiều hôm ấy, tôi nóng lòng đi ra đi vô và thầm nghĩ sao giờ nầy mà 72 (danh số biệt hoá của TĐT) chưa ký. Như mọi khi ông đã ký sẵn trước đó một hai hôm, nay linh tính như có chuyện gì không ổn…..

Tuy vậy tôi vẫn cứ loay hoay suy nghĩ với phương tiện gì vào Huế cho kịp trong chiều nay thì Tr/si nhất Tiềm kêu giật:

-Th/uy vào gặp 72!

– Kính 72 tôi đang nghe đây.

– Ngày mai anh đại diện đơn vị vào QĐ1- Đà Nẵng họp .

– Tôi nhận 5/5 (72).

Như vậy là mấy ngày phép chồn tha rồi. Tôi lầm thầm trong bụng: Đây là công việc của ông Th/uy trưởng ban năm chứ đâu phải của tôi. Như qúy vị biết, quân đội lệnh là thi hành. Thời gian sau tôi hiểu ra là ông TĐT hỏi ở hậu cứ có ông SQ nào không thì Tiềm trả lời có thấy tôi loáng thoáng đâu đây thành thử coi như bị bắt cóc bỏ dĩa vậy.

Quãng Trị sao mấy ngày này thời tiết ảm đạm dù đang mùa Xuân. Chắc có linh tính báo trước cho chuyện gì bất lành chăng?? Lòng tôi cũng nặng trịch lo âu! Dân lành ở đây họ cực khổ thiếu thốn đủ điều chỉ mong hai chén cơm mỗi ngày bên cánh đồng chơ vơ, khô cằn trơ trụi kia mà!? Người dân ở đây chân thật mộc mạc, đồng đội tôi đa số là dân địa phương nơi đây và như có cái gì chôn chặt níu kéo tôi với họ một cách thật thật tuyệt vời.

Đúng 10 giờ sáng ngày hôm sau, một chiếc xe Doge chở tám vị Sĩ Quan trực chỉ Đà Nẵng và dĩ nhiên có tôi trong đó. Phải ngủ lại thành phố ĐN một đêm. Lợi dụng lúc này vì xa ĐN hơi lâu nên bây giờ thả bộ về đêm xuống dọc sông Bạch Đằng một hồi để tìm lại không khí cũ. Khói thuốc càfe với những bản nhạc tình bất hủ trong một đêm buồn xa nhà với nhiều tâm trạng bang khuâng… Ôi thật lãng mạn ấm áp so với QuảngTrị thành phố không đèn. .

Ngày hôm sau xe đưa chúng tôi vào phòng khánh tiết trong phi trường ĐN của KQ. Buổi họp bắt đầu với chủ đề: Tại sao thành phố Buôn Mê Thuộc di tản và phổ biến Kế Hoạch Chân Trời Mới (tôi sẽ trình bày vấn đề này ngắn gọn kế sau). Trên khán đài trang hoàng sơ sài, tôi nhìn thấy hai vị Tr/Tá đứng hai bên thuyết trình và Tr/Tư Ngô Quang Trưởng chủ trì. Vị Tr/Tá cho hay mọi diễn biến quân sự giữa QĐ/VNCH và QĐ/Bắc Việt: Chúng ta đang bị áp lực nặng nề của quân BV hiện có rất nhiều SĐ quân chính quy gần như bao vây và có mặt khắp mọi nơi, từ QT cho đến QN Đà Nẵng. Trong hội trường tôi nhìn thấy mọi người có vẽ lo âu nhưng bình tỉnh. Nhiều đơn vị trưởng phát biểu là vấn đề thứ nhất phải chiếm lại BMT. Có người đứng dậy dõng dạc phát biểu:

-Kính Tr/Tư nếu có lệnh tái chiếm BMT xin Tr/Tư cho đơn vị tôi làm nổ lực chính tiên phong đi đầu!!

Cạnh bên tôi có một Tr/uy không quân, bên vai trái anh có mang huy hiệu chiếc máy bay A 37:

-Tôi xin được làm phi vụ đầu tiên.

Xen kẻ phần nghỉ gỉai lao có chương trình văn nghệ. Nhiều ca sĩ của ban CTCT Quân Khu I thật tuyệt vời trong những bản hùng ca quen thuộc và hấp dẫn hơn cả là các cô ăn mặc đồ ba ba màu đà trình diễn những màn ngoạn mục như ca múa, vũ diệu nhảy qua nhảy về với nhiều đoạn tre gõ dập dưới đất thật nhịp nhàng. Trong lúc họ nhảy họ khéo léo không vướng vào chân làm mọi người bừng tỉnh vui lây và được chấm dứt bằng những tràng vỗ tay hoan hô khen ngợi!-

Kế hoạch Chân Trời Mới cũng xuất phát từ buổi thảo luận hôm nay mà từ trước tới nay tôi chưa hề đọc hoặc nghe ai nói do Tr/Tư đề ra đơn giản những vấn đề như sau nếu tôi không quên: Từ nay trong các binh chủng phải tiết kiệm tối đa về súng đạn, xăng dầu và lương thực. Nếu là những đơn vị hậu cứ hoặc đóng chốt yên một vị trí nào đó thì phải trồng thêm hoa màu như rau cải vv.. Trong suốt thời gian hội họp bàn thảo xuất hiên nhiều nét chán chường mệt mỏi trên gương mặt ông. Trước lúc tuyên bố bế mạc trông ông ta thật uể oải nhưng khoan thai:

-Tôi sẽ trình lên Tổng Thống vấn đề chiếm lại BMT. Và theo tôi thì đây là vấn đề chính trị!

Thật đơn giản! Chỉ vỏn vẹn có hai câu!!

Tan buổi họp, tôi trở lại đơn vị mà lòng cứ lo nghĩ viễn vông. Mặc dầu là một thằng Th/uy vô thưởng vô phạt không hơn không kém một anh binh nhì chẳng có quyền có hạng chi, chỉ trách nhiệm trong vòng hai hay ba chục người lính là cùng. Thế nhưng một người có chút mảy may trách nhiệm ít ra cũng còn nằm trong tôi và cho đến bây giờ đã 37 năm, tôi còn ngây thơ tưởng rằng QL/VNCH sẽ lấy lại BMT như năm 1972 đã từng lấy lại cổ thành Đinh Công Tráng thành phố Quãng Trị.

Trở về đơn vị thì một vài ngày sau TĐ vào học bổ túc tại TT/HL Đống Đa gần Phủ Bài – Huế. Một bữa nọ tôi nhận lệnh dẫn ĐĐ về lại trung tâm lúc đang học dỡ ngoài bãi tập. Vừa vào khỏi cổng thì một đoàn xe GMC đang chờ sẵn để mang TĐ tôi trở ra QT đánh chiếm lại những làng mạc đã mất vào tay CS cách đây một ngày. Dịp này lại được nghe lại những bản nhạc hùng ca rền vang trên nhiều đường tiến ra QT. Lúc xe ngang qua Cầu Mới, tự nhiên tôi nghe sâu kín trong lòng một nỗi niềm khắc khỏai …. Tôi nghiêng đầu nhìn về phía ngôi nhà tôi mà lòng buồn vô tả ở đó có Mẹ già em gái tôi đang mỏi mắt trông tôi cuối tuần này sẽ trở về. Đoàn xe ngang qua đâu xa lắm thế mà không có một lời tạm biệt mẹ già. Thôi thì cũng đành tạm xa Huế, hẹn ngày trở lại và ai ngờ rằng kể từ hôm đó, sau hơn ba năm tù tội, tôi mới nhìn lại được mẹ và em mình.

Chiếc GMC chở Tr /đ tôi vừa cụng đầu bên này cầu Mỹ Chánh thì đã thấy Tr/Ta Nhiễm TK phó đảo tới đảo lui trên chiếc jeep có hai cần câu truyền tin:

-Tất cả các SQ lẹ lên!

Chúng tôi đứa đứng đứa qùy vội vàng trên mảng cỏ bên lề đừơng và trãi tấm chiếu ra (Bản đồ). Ông chỉ đây là mục tiêu của các anh, chỉ cách các anh khỏang 300 mét. Thoáng nhìn trên tấm chiếu tôi cũng nhận ra ít lắm là năm hột vịt đỏ lòm (vòng khoanh mục tiêu bằng viết chỉ mở màu đỏ) và cũng biết mục tiêu không xa chỗ tôi đang đứng là bao. Ông ĐĐ/Tr nhanh chóng phân công:

-Bên kia sông Mỹ Chánh, di chuyển hướng Đông: Tr/đ tôi 04 kèm theo Tr/đ 02 Ch/uy: P. Bên này sông Mỹ Chánh Tr/uy: H, kèm bên: Tr/đ 01: Th/uy: T.

Trời lọang chọang hoàng hôn. Nhìn xa xa vài căn nhà tranh vách đất bao bọc một vài dãy tre thưa thớt…Mục tiêu ở đây chăng? Chúng tôi đội hình tác chiến, hàng ngang từ từ đến gần; một vài tràng AK xé trời vèo vèo trên đầu. Không khí căng thẳng bắt đầu từ đây. Tiếp theo, tiếng súng loạn xạ hai bên thi nhau phát nổ: AK, AR 15, M 79, Cối 81 ly, B 40. Thấp thoáng trong lũy tre xanh ngôi làng nhỏ, năm mươi người dân, gánh gồng, bồng bế, nao núng hoãng sợ chạy về phiá chúng tôi. Não nùng chơ vơ trước cảnh tượng, lòng tự hỏi: Họ tự nhiên tìm đến chốn tạm gọi là yên bình, còn mình thì lao vào nơi chết choc máu đổ. Nơi đây thật là khổ sở, tội nghiệp… Thật làm gì có tiếng giả gạo dưới đêm trăng, cậu bé chăn trâu ê, a nơi cánh đồng dắt trâu về chuồng mỗi khi chiều xuống, làm gì có tiếng đánh vần của trẻ thơ, bên ngọn đèn dầu, đủ chiếu sáng khỏang chừng hai gang tay!!

UserPostedImage

-Tránh nổ súng bừa bãi lạc vào người dân nghe tụi bây !

Nghe tiếng hỏi bên kia Tr/s Phú: có VC trong không Bác? một người đàn ông tuổi độ 60

-Lính Cụ Hồ ở trong đó en ơi!

-Thôi Bác đi về hướng ni (nầy), mau lên nghe Bác. Vẫn nghe tiếng truyền lệnh dõng dạc của Tr/uy ĐĐT:

-Làm gì giờ này con cái anh còn đó ? tôi lo tải thương, có ba rách áo rồi (bị thương). Khổ thật! cứ mỗi người bị thương là mất đi ba người khác. Nếu bị thương nhẹ để đó toán đi sau họ lo.,

-Anh bám bìa làng lẹ đi. Thằng Tr/đ 01 đã đến được rồi anh không thấy sao??

– 5/5 nghe rõ, không khó khăn lắm.

Sau khi băng qua khúc đồng và bãi tha ma nhỏ, Tđ/đ tôi không gặp trở ngại lắm và đã vào được để kiểm soát nửa ngôi làng bên trong. Trời bắt đầu buông tối. Nếu không có chiến tranh giống như những làng quê khác thì nơi đây có luỹ tre bao quanh, dựa lưng vào con sông êm ả uốn khúc, dòng nước trong vắt lờ lững. Với cảnh tượng nơi đây, nếu là một thi sĩ, tay súng tay đàn cũng không khó khăn lắm để có thể sáng tác hoặc gẩy lên một bản Tình Anh Lính Chiến (Lam Phương) dễ dàng như chơi. Đêm xuống, tôi nhanh chóng, cẩn thận chọn một căn nhà nhỏ, có mảnh vườn vuông vắn, hàng rào tre nhỏ bao quanh, dựa lưng bên dòng sông. Còn bên kia là cánh đồng trống trải, địa thế này thật lý tưởng cho việc phòng thủ qua đêm: Cây P 57, đại liên M 60 do toán Hạ/sĩ Don, đặt dọc theo con đường dẫn vô làng phía còn lại mà chúng tôi chưa kịp kiểm soát được. Phần tôi đóng tại căn nhà mà tôi nói ở trên. Sau buổi chiều tiến quân mệt mỏi, mọi người ai nấy đều cố lo cho xong cái hố cá nhân an toàn cho việc phòng thủ qua đêm. Ăn vội một miếng lương khô của VC và là lần đầu tiên trong cuộc đời quân ngũ mà anh em binh sĩ gom nhặt được hồi chiều.

-Tau ngại lắm – tau không dám ăn mô!

-Cứ ăn đi! trời ơi, tụi tôi đã ăn khi chiều đến giờ rồi.

-Vậy thì đưa tau một cục.

Ăn xong, hớp ngụm nước lạnh trong bi đông, tôi nhẹ nhàng tụt xuống hầm mà Lạc mới đào xong. Vừa đội cái nón sắt lên đầu, hai thầy trò chưa kịp cầm cây súng thì một tia chớp lóe lên trước mặt, không xa lắm, khoảng bảy tám mét và liền tức thì kéo thêm một tiếng nỗ chát chuá. Bụi đất phủ ngập hai thầy trò tôi cùng lúc tiếng ngiến răng (chết chết.)..của Tr/si Phú.

-Mầy sờ trên cổ và sau lưng tau thử có chi không Lạc??

Tôi cảm thấy hơi lạnh lạnh. Dòng máu từ bên trong chảy ra trên mu bàn tay trái. Tôi dùng tay còn lại lần theo vết máu. Rất may, tôi đụng phải mãnh đạn ghim vào nơi đây đang nửa trong nửa ngoài. Nói nhỏ vừa đủ Lạc nghe:

-Tau bị thương rồi Lạc ơi! còn mi có can chi không??

Thật may mắn, Lạc không mệnh hệ gì, chỉ bị đất cát phủ đầy người. Chiếc ba lô trên miệng hầm tan hoang như xơ mướp. Có lẽ thượng đế thương và che chở cho hai thầy trò tôi! Vết thương tuy nhẹ nhưng bắt đầu hơi nhức nhối khó chịu. Tôi bò ra chổ Tr/si Phú:

-Cái gì mà mi vừa bắn vừa la chết chết.?

-Thôi đừng nói nữa ôn ơi, nó (VC), nó đi ngờ ngờ trước mặt tôi đây nè, tui níu áo nó cũng được nữa đây nầy bởi vậy tôi mới bắn (M79).

Phú đang ngồi gác với cây súng loại nầy, có lẽ vì vậy mà tôi và Lạc ăn nguyên trái đạn B40 vừa rồi. Càng gần sáng cánh tay càng đau vì có lẻ đã bị nhiễm trùng, Lạc nói:

-Tui báo lên TĐ để ôn lui nghe!

-Thôi để ngày mai tính.

Có lẽ vừa bên sông Thạch Hãn mới xâm nhập vào nên họ mất liên lạc với du kích địa phương thành ra đi đứng lọan xạ nơi đây.. Đêm nay nếu có lệnh di chuyển thì người đi sau phải nhìn người đi trước để coi thử đội nón sắt hay nón cối, chẳng khác đậu đen trộn đậu đỏ. Đến trưa ngày hôm sau đơn vị tôi đã kiểm sóat hoàn toàn phần còn lại của ngôi làng này. Có một vài gia đình về lại nhà họ khi đã tạm rời xa một vài ngày trước đó. Đại đội tôi cũng bắt đầu rời khỏi nơi đây. Có không ít người dân đứng hai bên lối vào làng quê, tỏ vẽ lo âu và luyến tiếc.

Trực chỉ hướng đi ra QT, ngang qua Bến Đá, quẹo phải vào hơi xa một chút, nơi đây thì trận giáp chiến ác liệt, qui mô hơn, đại đội dang hàng ngang nằm lại giữa cánh đồng, pha lẫn bên bãi tha ma, ngỗn ngang không thứ tự, trong tư thế căng thẳng sẵn sàng tác chiến. Sau khi hai chiếc trực thăng (Cobra) đảo vòng bắn rocket, tiếng súng đạn vang rền cả góc trời. Đại đội tùng thiếc xe tank M113, ép hông từ từ áp sát mục tiêu, không trở ngại nhiều lắm. Đại đội đã làm chủ được nơi đây. Phút chốc mà chẳng thấy thiệt hại tính mạng, kể cả hai bên. Chỉ có người dân là hứng chịu nhiều tai ương, chết chóc, ly loạn. Những nét lo âu âu, sợ sệt, bi đát bên làng quê tiêu điều xơ xác. Tội nghiệp người dân ở đây! vốn tính tình chân thật, chất phác, hiền hoà mà tai ương thời tiết đổ ập đến hầu như mỗi năm. Với mơ ước nhỏ nhoi, họ chỉ mong sao ngày hai bữa cơm dưa muối… Chưa đủ, thế rồi chiến tranh lại ùn ùn kéo về nơi đây, gây bao cảnh tang tóc, chia lià… Chán chường, bất công thật!. Đại đội lần lượt ngang qua: Diên Sanh, Trà Trì, Trà Lộc, Bích La v.v.. Nút đừng chân cuối cùng là: cổ thành QT. Nơi đây Tr/đ tôi có nhiệm vụ tạm thời làm an ninh cho phái đoàn kiểm soát đình chiến viết tắt là (ICCS). Họ đã có doanh trại ở đây từ bao giờ (??). Có một T/đ, chốt không xa lắm nơi cửa ra vào. Lúc nầy thời tiếc u ám, mưa lất phớt nhỏ hạt suốt ngày. Sao ngày đã qua mà nơi đây vắng hoe, thỉnh thoảng chiếc trực thăng lên xuống rời rạc. Phiá bên kia là sông Thạch Hãn, vùng mà quân đội Bắc Việt đã đánh chiếm năm 1972, từ lúc Hiệp Định Paris 27/01/1973 ra đời. Mấy ngày nay không thấy sinh hoạt cấy cày cuả người dân. Cờ của MTGP củng không thấy họ treo như mọi ngày. Tr/đ thì đóng trong căn nhà sập nát, loang lỗ, bỏ hoang từ lâu. Khoảng sáng ngày 15/3/1975, nhận lệnh vào TK, làm lễ chào cờ đồng gắn huy chương cho một số anh em binh sĩ.

UserPostedImage

Cầu Thạch Hãn

Sáng ngày hôm sau có một người lính thuộc T/đ gác cổng ICCS lật đật chạy vào báo cho tôi hay:

-Ủy Hội KSĐC (ICCS) rút, họ đang kéo cờ xuống, dọn dẹp tất cả những cây anten, tủ lạnh, drap nệm. Họ đang thu xếp gọn gàng để rời khỏi nơi nầy v.v ..

Đích thân tôi ra tại chổ quan sát thì đó là sự thật. Tôi cấp tốc báo lên ĐĐ rồi ĐĐ báo cho TĐ. Chẳng mấy chốc tôi được lệnh nhanh chóng rời khỏi chổ này, trở ngược lại hướng thành phố Huế, trên QL 1. Sau đó nhận được lệnh, một lần nưã trấn phía bên kia sông Mỹ Chánh, địa phận tỉnh Thiên Huế để làm nút chận và làm tuyến phòng thủ. Lạ lùng thật, mới cách đây mấy ngày, nơi đây đơn vị tôi làm tuyến xuất phát. Và cũng trong ngày nầy tôi nhận thấy lai rai một vài đơn vị dùng QL1 làm trục lộ chính rời khỏi QTrị rồi càng lúc càng tấp nập đông đúc và sau đó là người dân, hoà đồng với binh lính, bằng mọi phương tiện cá nhân xe đạp, đi bộ, xe cày thoát chạy về phía Nam và không khác lắm cuộc di tản khỏi QT năm 1972. Chỉ duy nhất một điều là hầu như không nghe tiếng súng nỗ cuả hai bên. Khi đơn vị vừa đến được bên này cầu Mỹ Chánh thì trời sập tối: Quãng Trị một lần nưã rơi vào vùng kiểm soát của QĐ Bắc Việt. Hình như hai ngày sau tức là ngày 18/03/1975 thì họ kiểm soát hoàn toàn vùng đất nầy. Chào Tạm Biệt thành phố Quãng Trị!

Chưa kịp lấy lại sức thì được lệnh di chuyển đến cây số 23 làm nút chặn tại căn cứ Đồng Lâm. Vưà đặt chân đến thì đơn vị được chào đón ngay vài trái sơn pháo 75 ly. Cũng may nơi đây hầm hố giao thông hào đã có sẵn của anh em binh chủng Nhảy Dù để lại nên chẳng hề hấn gì! Lúc im tiếng súng và ngồi dưới giao thông hào tôi ngoái đầu về phiá QT mà ngậm ngùi, luyến tiếc, rồi bâng quơ nghĩ về số phận của thành phố Huế, nơi mà giờ này cha mẹ anh em đang mỏi cổ chờ mong tôi về. Khi biết được lực lượng tổng trừ bị cuả QLVNCH là Nhảy Dù và TQLC đã rút bỏ nơi đây thì Huế sẽ ra sao??

Kính thưa qúy vị và các anh em trong khóa 9B/72! Thành thật cám ơn, bạn bè: Công, Vinh, Tuấn, Tùng, anh Danh, anh Cường đã nhiều lần khuyến khích, tôi mới mạnh dạn ghi chép lại,câu chuyện này, bằng trí nhớ.

Mặt dầu chiến tranh đã chấm dứt sau 38 năm rồi mà dư âm vẫn còn vang vọng đâu đây! Với trí nhớ để nhắc lại một sự việc qúa lâu của một thằng Th/uy còn non choẹt mà tầm hiểu biết chỉ đóng khung trong phạm vi của TĐ 120 ĐPQ /TK/Quảng Trị. Chắc rằng có nhiều điều thiếu sót, nhất là về thời gian. Nếu có vậy, xin Quý Vị thông cảm mà bỏ qua.

Tác gỉa bài viết không có tham vọng gì hơn ngoài việc để lại một kỷ niệm cho bạn bè và con cháu hầu biết được sự thật của cha, ông đã gánh chịu những thiệt thòi, gian khổ và nguy hiểm tuy chỉ là một phần nhỏ nhắn trong cuộc chiến bảo vệ quê hương Việt Nam dấu yêu ….

Paris – Pháp 8/2011
Đổ Rô

Nguồn: Ái Tử Bình Điền – https://hung-viet.org/p1...nh-pho-quang-tri-3-1975-

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#8 Posted : Saturday, September 25, 2021 10:55:53 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

QUẢNG TRỊ TRONG LÒNG NGƯỜI ĐI


Tháng Tư 4, 2019 at 7:35 sáng

Đất cát không biết khóc, chỉ có người khóc thương tiếc đồng đội thuở sống chết và sát cánh nhau trên một chiến tuyến của chiến trường xưa cũ và xa hơn cây cối nơi đây bốn mùa mãi phất phơ cành trước gió cùng tiếng rỉ ran loài côn trùng về đêm như lời ru êm cho những đồng đội ngã xuống được yên giấc ngàn thu.

Lữ khách dừng chân, địa hình vẫn quen thuộc vì đã quá nhiều lần chuyển quân, bố trí đội hình từ biển Mỹ Thủy băng qua Diên Sanh hướng về quốc lộ 1. Con đường xưa cũ đầy không khí chiến tranh biến mất nhường lại cho một cảnh trí những quán xá, nhà cửa mọc lên dày đặc ở hai bên: Ngã Ba Long Hưng Quảng Trị. Nơi đây còn in trong bao ký-ức những người trai thời đại trong những lần hành quân lúc nào cũng bập bùng lữa đạn khi ở trên trục tiến quân, hướng về Cổ Thành Đinh Công Tráng. Nhìn hút tầm xa phía Bắc, những hàng cây mọc lên um-tùm, đan sát vào nhau, thấy trùng trùng như một khu rừng nhỏ, vô-tư uốn- lượng chập chùng.

Ngã Ba Long Hưng, làm sao quên được cái thuở đạn cối quân thù cày xới từng thước đất. trên những đụn cát, dọc bờ quốc lộ, có những hàng cây bạc hà, cành cháy xém, những tàng cây khô quéo, nằm trơ trơ trước mưa gió, nắng lửa Nam Lào qua bao năm tháng. Vết tích nhắc nhở cho khách qua đường dấu vết còn lại từ những cuộc trốn chạy hổn-loạn vì hiểm-họa Cọng-Sản… Trong ký-ức bao người vẫn còn in hình ảnh rải rác ngang con đường số 1 nầy , những chiếc cột nhà cháy đen nằm xiêu vẹo, vài con chó hoang không chủ sục-sạo tìm mồi trên những xác người chết lúc loạn ly,em bé thơ ngây ngủ yên bên nắm vú mẹ đang nằm chết với đôi quang gánh lúc bàng hoàng trốn chạy họa Cọng Sản.



Ngã Ba Long Hưng

Xa xa về phía Bắc chừng vài cây số, ngõ vào thánh địa La Vang nằm bên trái như thuở nào. Một trại lính với kiểu kiến-trúc tân-thời, mái ngói đỏ rực chiếm lỉnh một góc lớn ở lối vào đã làm mất vẻ mỹ-quan ban đầu về một vùng đất thiêng trên cánh rừng thưa chập chùng những đồi sim tím.. Con đường nhỏ lát đá chạy dài theo từng triền dốc ngoằn nghèo mà mới thoạt nhìn hầu như không có lối ra do cây cối um-tùm che kín tầm nhìn .. Các quán giải khát, bún phở phục-vụ khách hành hương nằm rải-rác trên lối vào thánh địa. Những vũng nước đọng sau cơn mưa chiều qua cũng đôi khi làm cho người dân làng đi đường co ro tránh né khi một chiếc ô tô băng qua làn nước đục màu đá ong nầy. Trời tức giông nên cơn nóng hấp hơi đến đầm-đìa mồ hôi hạt. Thánh đường lộ dần mái tháp sau chừng hai cây số trên con lộ rẽ lối từ quốc-lộ. Vẫn có đây ngôi làng La Vang thượng, La Vang hạ. Dân làng sau những lần cố thoát hiểm-họa Cọng Sản, đã về đây lập nghiệp trở lại. Những nương sắn, luống khoai dưới những rặng phi lao vẫn mượt-mà một màu xanh đến cuối chân trời. Ngôi tháp chuông hình hộp có chiếc thánh giá quen thuộc trên đỉnh đầu vẫn còn lưu lại cho các thế-hệ về sau chứng-tích chiến tranh xâm-lược của Cọng Sản Bắc Việt vào thôn tính miền Nam bằng bạo lực. Tháp chuông giáo đường vẫn còn nguyên những lỗ đạn hình chóp nón quanh bốn bức tường. Ngôi tháp không đổ qua trận tái chiếm Quảng Trị kiêu-hùng, vẫn đứng vững, thách đố với thời gian. Ơn nhiệm-mầu lành thánh đã là sức mạnh vô hình mãnh-liệt cho bao chiến-sĩ kiên-cường chống lại lũ cuồng si quyết giữ La Vang vẹn toàn. Phía trước tháp chuông là hai dãy tượng của mười hai chặng đường thánh giá ghi lại nỗi khổ nhục Chúa Cứu Thế trên đường bị đóng đinh vì tội kiêu-ngạo của loài người. Nơi đây một thời, trong lúc giao-tranh giành lại ngôi giáo đường, những viên đạn thù đã bắn bể cánh tay tượng Chúa. Quá xót-xa, người lính Thủy quân lục chiến của miền Nam đã vội lắp lại, nhưng không liền nên đành phải mang đi..

Giặc bắn gảy cánh tay Chúa
Lắp lại không liền con đành phải mang đi (thơ Vũ Hoàng Chương)

UserPostedImage

Vương Cung Thánh Đường La Vang

Ôi người lính Cọng Hòa, ắp đầy tình thương của đồng bào, quyết gìn-giữ chốn tôn-nghiêm bằng chính máu mình, nhưng bên cạnh đó cũng tràn đầy một niềm tin siêu-nhiên. Hãy tưởng lại chiếc ba lô quân hành nơi anh mang theo ngoài cấp số đạn, thêm quân trang quân dụng,thực phẩm hành quân, chiếc ba lô anh cài thêm cánh tượng Chúa, sức nặng theo nỗi nhọc-nhằn đã nâng cao tình yêu của đấng Cứu-Thế. Theo bước đường hành quân, anh lính chiến cỏng Chúa trên người, lòn lách lửa đạn cứu tượng Chúa, cất giữ một niềm tin trên chiếc ba lô của chính mình…

Lữ khách nhìn lại La Vang, vẫn một khung trời quen thuộc của địa hình hành quân xưa cũ. Từ cổng ngoài đi vào, hai dãy tượng trãi dài trên một khu đất rộng. Những bức tượng đá trắng thiết đặt trên những bệ cao. Cuối tầm nhìn từ ngoài vào là chiếc lầu chuông bằng gạch đỏ được lưu lại, một biểu tượng của La Vang vẫn còn trong ký-ức ngàn đời của người giáo dân Việt Nam tin yêu Chúa. Ngôi nhà nguyện phía sau lầu chuông được thay mới. Từ bàn thánh, ghế quỳ, nhà sau đều đổi mới, đẹp bằng kiểu kiến-trúc tân thời.

Phía phải của giáo đường, bức tượng linh-thiêng nhiệm-mầu Mẹ Maria bồng Chúa Giê-Su dưới hai cây sồi và vẫn mang nét cổ-kính huyền-diệu. Người Việt trong và ngoài nước luôn cất giữ trong lòng như một nơi tôn-kính nhất để dâng lời nguyện cầu, để thổn-thức, tâm tình với Mẹ. Nơi đây, quý vị tổng thống VNCH, những quân nhân các cấp sau giờ làm việc hay hành quân, vẫn thiết-tha mơ-ước và cố tìm về đây, quỳ xuống dâng lời cầu nguyện,mong sao cho đất nước thanh-bình và thoát khỏi sự điêu-linh vì hiểm họa Cọng-Sản..

Mẹ ơi đoái thương xem nước Việt Nam
Trời u-ám chiến tranh điêu tàn
Mẹ hởi giơ tay làm phước bình an
Đưa Việt Nam qua chốn nguy-nan…

Đức Mẹ Cây SồiTrong trận tái chiếm Quảng Trị của mùa hè đỏ lửa 72, vết tích đạn bom phi pháo được đong đầy trên từng thước đất của xứ sở địa đầu giới tuyến nầy, nhưng không một vết đạn nào tìm đến chốn tượng đài Đức Mẹ đầy linh thiêng ấy. Ngày nay, dưới chân tượng đài, vô số những tấm bia đá khắc ghi lời cảm tạ nhiệm-mầu của con cái Mẹ từ khắp nơi trên thế giới. Đền thánh ngày nay được lót bằng những tảng đá mài bóng loáng quanh một khuôn-viên rộng lớn, bao quanh và chạy dài đến nhà thờ.Khách hành hương trong và ngoài nước hầu như không khi nào vắng.

Từ bờ Nam sông Mỹ Chánh nơi bờ tuyến cuối cùng trấn giữ vòng đai miền Nam, lữ khách cố tìm trên hai bờ đại lộ kinh hoàng những vết tích chiến trường cũ, cố nhớ lại hình ảnh bảo quốc an dân của người lính Việt Nam Cọng Hòa với áo giáp, nón sắt, cây súng M16 ở tư thế sẳn sàng trong màu áo rằn ri thủy quân lục chiến. Bao nhiêu năm trường chiến-đấu, lính ở đâu là dân bám lấy đó. Lính ở lại, dân ở lại. Lính chuyển vùng, dân chuyển theo.

Sự gắn bó dân quân tựa cá với nước đã nói lên được thế nào là chính nghĩa của cuộc chiến. Mùa hè đỏ lửa 72, khi bám theo quân ta hướng về bờ Nam sông Mỹ Chánh, người dân Quảng Trị đã trả giá quá đắt khi hàng trăm người vô tội đã bỏ xác vì những đợt pháo kích dọc theo đại-lộ kinh-hoàng cùa Cọng quân khi chúng cố tạo áp-lực với quân ta bằng cách muốn kềm chân người dân để ta gặp khó khăn tránh né dân lành khi lâm trận.

UserPostedImage

Cầu Mỹ Chánh

Cây cầu sắt tuyến Mỹ Chánh vẫn còn nguyên vẹn, nằm thu mình im bóng bên chiếc cầu mới đang nườm-nượp xe cộ lưu-thông. Pháo đài góc cầu phía Nam vẫn còn, màu vôi phai nhạt bao mùa mưa nắng còn gợi nhớ cho đời hình ảnh cuộc chiến-đấu miền Nam bằng những dấu đạn công phá lởm chởm vòng quanh lô cốt. Con đường số 1 năm xưa đầy kinh-hoàng cảnh người dân gồng gánh chạy loạn, giờ thay thế bằng cảnh hai bên có những ngôi nhà, trạm xăng dầu, quán ăn phục-vụ xe đường dài. Xe cộ từ Hà Nội đi Sài Gòn, băng qua các thành phố miền Trung ven biển chạy vun-vút ngày đêm. Những bãi cát trắng vùng Hải Thượng, Hải Thọ nơi chứng kiến bao cảnh máu đổ thịt rơi do đạn pháo quân Cọng Sản, giờ đây, những cây dương, bạc hà như từng được tươi-tốt lên từ những xác người, đang khoan thai rủ lá theo dòng thời gian. Nhìn xa xa phía sau hai bờ, nhà cửa cây cối vẫn còn dáng đìu hiu, một xứ sở có tài nguyên nghèo nàn. Quanh vườn chỉ trơ trơ vài dãy sắn, luống khoai ….

Tiến về phía ngã ba Hải Lăng, những chiếc xe ca vụt qua, rít lên những âm thanh như cuốn hút người đi. Lữ khách như lảo đảo, nhưng dĩ vãng vẩn miên-man gợi về. Giọng nói đầy âm sắc địa phương đưa về thực tại:

–Eng về mô, vô đây uống nước cái đã, cần chi em chỉ cho…

Nghe nói rồi bổng chốc gợi nhớ cho lữ khách những bối cảnh sinh-hoạt chốn địa đầu giới tuyến nầy qua những lần chuyển quân, trấn đóng…

Quảng Trị đây rồi, lữ khách cố tình nhắm mắt lại, níu kéo một vùng quá khứ.…đâu đây nón sắt ba lô và trang thiết bị, những người trai trong những đội hình quả trám, hàng ngang, hàng dọc, bung tuyến hay co cụm trong những chiến thuật địa hình nhằm gìn-giữ từng tấc đất hoặc bảo bệ từng cánh chốt…. Những chiến sĩ, những người lính hùng hổ, gan lì nhưng vẫn thật ngoan-ngoãn tuân-phục với những “ông thầy” khi có trách nhiệm. Đâu đây còn in vết ký-ức những đêm gác chong mắt xuyên đêm cảnh giác quân thù hoặc len lỏi bước chân trên trục tiến quân qua các đồi cát. Ôi những bước đi chân cứng đá mềm, vượt đồi núi, vượt rừng sim để bắt tay cùng đơn vị bạn nhằm tạo một vòng đai máu tiến chiếm mục-tiêu như trên vạch kẻ của phóng đồ hành quân. Lữ khách quỳ xuống, cung kính hôn lên đất, bốc từng nắm rải dài, thổn-thức nhớ đồng-đội từng sát cánh, từng vội chia tay trên vùng đất nầy. Có những cuộc hạnh-ngộ trùng phùng các chàng trai từ bao nẻo đường xa-xôi về đây cùng nhau đấu vật với quân thù, cùng gìn-giữ từng tấc đất của giang-sơn quê mẹ, họ lại có những phút giây chia tay bàng hoàng, đột biến, ra đi như tình cờ bằng những cú bắn sẽ CKC hay một trái B40 đang núp lén sẳn tự bao giờ: một nồi vừa cơm bốc khói, một điếu thuốc đang hút dang dở, một ống đạn pháo binh vừa cõng nước lên đồi và có khi đang ở một phút tư lự nhớ gia-đình hay người yêu đều có thể trở thành giây phút biệt ly cho người chiến sĩ cọp biển ở tuyến đầu nầy khi bị rình-rập từ một điểm phục-kích nào….đồng đội ơi, khi chuyền nhau rít một điếu thuốc Bastos, san-sẽ một chuyện tình rô mê ô ju li ét , hoặc những phút chạnh lòng thương cha nhớ mẹ, hay lời tâm sự cho nhau ở những buổi đăng trình khi chia tay người thương bé bỏng ở lại..Những người lính kể cho nhau về đôi mắt, ôi những đôi mắt buồn tiển đưa đầy tính biệt ly và mang ra tận chiến trường như một thứ hành trang tình tứ thủy chung.Những đôi mắt nầy từng giúp họ rực sáng dưới ánh hỏa châu,gắn bó theo anh lính chiến ở những phút giây đối diện lằn tên mũi đạn.Ngoài tình yêu tổ-quốc nỏi anh hiên-ngang chấp nhận hiểm nguy để tiến bước,anh có bên người hình ảnh những đôi mắt với những dư-âm huyền hoặc của một tình-yêu nam nữ thời ly-loạn…Anh em đồng đội sống với nhau những phút giây chan-chứa và keo-sơn đó để rồi số phận oái ăm luôn phải vấp cảnh người đi kẻ ở.Những ngày cuối khóa quân-trường,các chàng trai đả phải đương đầu với những cuộc chia tay mà biết rằng ngay mai dễ gì gặp được.Màu áo hoa biễn và giới-tuyến Quảng-Trị xa-xôi đã trở thành gắn bó khi họ hiên-ngang nhập cuộc vào gia-đình cọp biển nầy…Eng ơi,miền nè,ngoài cươi,cái đoại,ảng nước,cái gáo…Vài anh em thường cố học những âm sắc của ngôn-ngữ địa-phương để có được sự hòa-đồng lúc đóng quân quanh vùng dân cư sinh sống. Cuộc chiến có những mất mác tàn-nhẫn không lường được để có những cuộc ra đi nhẹ nhàng, tức tưởi và đôi khi tình cờ nữa.Chuyện xảy ra hôm nay mà ngày mai lại đến với biết bao đổi thay và bất ngờ . Có rất nhiếu người ở lại đằng sau cuộc chiến, từng cưu mang tâm-sự ngọt-ngào của những người bạn thuở sống chết có nhau mà tóc giờ đây đã bạc, lưng sắp còng, nhưng cho đến phút lâm chung của một đời người vẫn còn ấn tượng sâu-đậm về nỗi thâm tình của đồng-đội.Bao nhiêu năm qua rồi,chiến-tích dài theo năm tháng của những tận thư hùng quyết giành từng tấc đất với quân thù,những người lính chiến bao nhiêu lần ngồi lại,ôn kỷ-niệm xưa,nhớ chiến trường cũ,nhớ đồng đội mình..Khi có dịp mặc lại màu áo đơn vị và khi nâng-niu lại những tấm huy chương còn rực sáng những chiến công năm nào,làm sao không khỏi ngậm-ngùi khi nhớ lại biết bao đồng đội,chiến sĩ mình đã ngã xuống để tạo vinh-quang cho những chiến thắng của màu cờ sắc áo mà mình có được đến ngày nay và mãi mãi …

…tôi với anh hai người xa lạ
Từ phương trời chẳng hề quen nhau ( trích nhạc tình đ..chí)

Khung cảnh đổi chủ vô tình, đường xá, nhà cửa, xe cộ, quán xá như đang ở trong một hấp-lực quay-cuồng tìm nhựa sống. Chỉ có những vết đạn in dấu trên thành lô-cốt bờ Mỹ Chánh, quanh bờ tường tháp chuông thánh đường La Vang hoặc những bờ độn cát trắng từng thấm máu đồng bào và chiến-sĩ cùng những rặng phi lao phất phơ những cành lá rũ trước cơn gió Lào ác nghiệt là còn trọn vẹn ần-tích ân-tình người lính cũ.

Bên vùng đất trải dài từ bờ Nam sông Mỹ Chánh, dọc theo quốc lộ 1, bung rộng qua Hải Lăng, xuống giòng Thạch Hãn, băng qua cổ thành Đinh Công Tráng, người lính hởi, giờ nầy anh ở đâu, còn trên đời nầy hay siêu-thăng nơi tiên cảnh…dấu tích anh vẫn còn bên những căn nhà ven đồi: chiếc mũ sắt ngày nào ôm-ấp anh nay là chiếc gàu múc nước giếng cho người dân làng, quanh các triền đồi Hải Lăng ,Triệu Phong,Cam Lộ….chiếc ca nhôm vẫn còn sắc men sáng loáng treo bên lu nước căn nhà ven đồi vùng La vang thượng, chiếc xẻng anh đào hố năm nào thoáng thấy đâu đây trên rẩy sắn nương đồi và đêm về, tiếng côn trùng rì rả một liên khúc về những điệu luân-vũ nhịp nhàng như ai-oán cho giấc mộng chưa thành của những người trai phải bỏ cuộc giữa chừng giữa tuổi thanh xuân đang tràn-trề ước-mộng…

Lữ khách hôn lên những nắm đất cát trắng, đất cát mãi chung tình với những đồng đội ngày nào cùng dẫm bước trên vùng đất nầy trong một cuộc chiến đấu vì tự do cho miền Nam bằng những bước chân oai hùng như triều dâng sóng vổ. Đất cát không biết khóc, chỉ có người khóc thương tiếc đồng đội thuở sống chết và sát cánh nhau trên một chiến tuyến của chiến trường xưa cũ và xa hơn cây cối nơi đây bốn mùa mãi phất phơ cành trước gió cùng tiếng rỉ ran loài côn trùng về đêm như lời ru êm cho những đồng đội ngã xuống được yên giấc ngàn thu.

Về thăm lại ĐỒNG ĐỘI nơi căn cứ Barbara

SEUL LES MORTS PLEURENT L’OUBLI DES VIVANTS

ĐỒNG ĐỘI ĐÃ MẤT CHỈ BIẾT KHÓC KHI BÈ BẠN CÒN SỐNG QUÊN HỌ (IMMORTEL-PHÁP)

MX Hoa Biển

Edited by user Saturday, September 25, 2021 11:16:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#9 Posted : Saturday, September 25, 2021 11:22:28 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ VÀ NHỮNG ĐỊA ĐIỂM LƯU NIỆM
SỰ KIỆN 81 NGÀY ĐÊM NĂM 1972


1. DI TÍCH THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

Di tích Thành cổ Quảng Trị nằm giữa lòng thị xã Quảng Trị; cách quốc lộ 1A gần 1km về phía đông bắc, cách thành phố Đông Hà - tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị hiện nay khoảng 14km về phía đông nam và cách thành phố Huế hơn 60km về phía bắc. Địa bàn thị xã Quảng Trị có diện tích không lớn nhưng nằm trên trục giao thông huyết mạch quốc gia, có vị trí địa chính trị quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

UserPostedImage

Đài tưởng niệm Thành cổ Quảng Trị

1. Lịch sử xây dựng và diện mạo kiến trúc Thành cổ Quảng Trị

* Lịch sử xây dựng

Năm 1809, một năm sau khi dinh Quảng Trị trở thành dinh trực lệ Kinh sư (cùng với Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Đức), triều đình nhà Nguyễn nhận thấy vị trí đóng lỵ sở của dinh Quảng Trị tại Ái Tử - Trà Liên không được đắc địa, khó có thể hội đủ các điều kiện để trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội cho một vùng trực lệ Kinh sư nên vua Gia Long cho chuyển lỵ sở dinh Quảng Trị về xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng. Khu vực được chọn xây dựng Thành Quảng Trị là khu đất cao tại xã Thạch Hãn - Hải Lăng (ngày nay thuộc thị xã Quảng Trị). Từ Thành Quảng Trị có thể đi vào Nam hay ra Bắc bằng đường sông, đường bộ, đường biển đều thuận tiện. Quá trình xây dựng Thành Quảng Trị kéo dài gần 28 năm (1809 - 1837), bắt đầu từ thời Gia Long đến thời Minh Mạng. Lịch sử xây dựng thành Quảng Trị trải qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất (1809 - 1832): bao gồm công việc di chuyển lỵ sở, quy hoạch và xây dựng. Theo sách “Đại Nam thực lục”: “Năm Gia Long thứ 8 (1809), dời dinh lỵ Quảng Trị đến xã Thạch Hãn” [1]. Địa điểm được chọn để đặt lỵ sở mới của dinh Quảng Trị nằm giữa hai làng Cổ Vưu (về sau gọi là Trí Bưu) và Thạch Hãn. Thời điểm cụ thể của việc xây dựng dinh lũy được bắt đầu từ trước tháng 3 (ÂL) năm 1809 với lực lượng nhân công tại chỗ và được đặt dưới sự điều hành của quan Lưu thủ dinh Quảng Trị là Nguyễn Cữu An.

Giai đoạn thứ hai (từ năm 1832 - 1837): có thể được coi là thời kỳ củng cố, nâng cấp và mở rộng quy mô dinh lũy. Sau hơn 20 năm tồn tại, tháng 11 năm Nhâm Thìn - Minh Mạng thứ 13 (1832), “vua cho rằng lỵ sở Quảng Trị địa thế rộng mà bằng phẳng, muốn được chỗ trung độ mà hiểm trở để dời tỉnh thành cho mạnh sự phòng thủ ở trong bờ cõi, bèn sắc sai quan tỉnh chọn xem chỗ nào đất hẹp thì tâu lên. Thự Tuần phủ là Nguyễn Tú tâu nói: “Xem khắp trong tỉnh đều không có chỗ đất nào tốt, mà lỵ sở cũ đất cao, nước ngọt, thấy ổn tiện hơn cả”. Vua dụ rằng: “Ta xem địa đồ hạt ngươi cũng không có chỗ nào có hình thế sông núi tiện lợi, vả lại tỉnh ngươi ở gần kinh kỳ, cốt người có tài là hơn cũng đủ làm cái hiểm trở vô hình rồi. Vậy nhân cũ sửa lại cũng không hại gì. Ngươi nên chiếu theo cách thức đồ bản của bộ đưa cho, tùy thế đo đạc nêu lên dự tính nhân công, vật liệu rồi tâu trình” [2] .

Chính vì thế, năm Qúy Tỵ - Minh Mạng thứ 14 (1833), vua lệnh cho quan binh sở tại tiến hành nâng cấp và mở rộng quy mô thành Quảng Trị. Với ý thức coi việc “xây đắp tỉnh thành thực mong bền vững muôn đời” nên Minh Mạng đã “sai thự Tuần phủ Nguyễn Tú thuê dân làm việc. Lại nghĩ việc đắp thành là công trình to lớn, Tú khó mà kiêm làm cả. Vậy đặc cách sai trung quân Tống Phước Lương đi trông coi; cho thự Tả quân Nguyễn Văn Hiếu quyền lãnh ấn triện Trung quân”. Lần này, không rõ thời gian tiến hành trong bao lâu, nhưng quy mô của thành theo “Đại Nam thực lục” thì được mở rộng thêm cả về ba phía. “Mặt trước đắp rộng thêm 33 trượng, mặt tả và mặt hữu đều rộng thêm 16 trượng 5 thước, mặt sau để như cũ” [3].

Như vậy, mặc dù về quy mô, cấu trúc tòa thành không được các tư liệu triều Nguyễn ghi lại nhưng có thể thấy rằng công trình Thành Quảng Trị được đắp dưới thời Gia Long chỉ là một thành đất có hình chữ nhật, kích thước nhỏ hơn nhiều so với lần đắp dưới thời Minh Mạng. Diện mạo cấu trúc của công trình thành Quảng Trị về cơ bản đã được xác lập kể từ sau lần đắp thứ hai. Với việc mở rộng kích thước của mặt trước bằng kích thước được mở rộng về cả hai bên đã làm cho chúng ta có thể hình dung diện mạo của tòa thành từ hình chữ nhật đã được tạo thành hình vuông. Trong lần mở rộng diện tích này, hệ thống hào thành xung quanh mới được đào hoàn chỉnh. Cũng trong năm 1833, chuẩn y lời tâu của quan Tuần phủ Quảng Trị, Minh Mệnh cho khai đào một đường hào dài 48 trượng nối từ góc đông bắc của thành thông với sông Thạch Hãn để thoát nước từ phía hệ thống hào thành vào sông Thạch Hãn [4].

Giai đoạn thứ ba (năm 1837): Đây là thời kỳ hoàn thiện và kiên cố hóa kiến trúc thành lũy cùng với việc xây cất hoàn chỉnh những công trình kiến trúc bên trong nội thành. Mùa xuân năm 1837, vua Minh Mạng chủ trương cho xây thành Quảng Trị bằng gạch.

Để thực hiện việc chỉ đạo xây dựng, triều đình Huế “sai thống chế doanh Tiền phong là Trần Văn Trí đi trông coi làm việc ấy, Ty Bộ Công và Khoa đạo mỗi bên một người, cùng trông coi việc làm”. Đồng thời, vua “chuẩn cho thuê bắt binh dân 4.000 người làm việc, hậu cấp tiền, gạo (binh mỗi tháng 2 quan, dân 4 quan, gạo đều một phương)” [5]. Vua Minh Mạng cũng là người luôn theo dõi tiến trình xây dựng và đã có những thái độ quan tâm đúng mức. Điều này không chỉ thể hiện ở việc vua thân hành ngự giá ra Quảng Trị để xem xét mà còn được cụ thể hóa bằng các chính sách cụ thể đối với dân binh làm việc trong thời gian tiến hành việc xây thành vào năm 1837: “Chuyến này xây đắp thành Quảng Trị, đã chuẩn cho binh lính đi làm ở đấy cấp mỗi tên mỗi tháng 1 quan tiền; dân thuê mướn thời mỗi tên mỗi tháng 3 quan. Nay lại nghĩ, một phen xây dựng, đụng đến sức binh dân cũng là việc bất đắc dĩ. Nay đương giữa hè nắng dữ, những người làm việc thực thấy vất vả. Vậy gia ơn cho phép chiếu cố dân binh hiện tại làm việc là bao nhiêu, cấp thêm cho mỗi tên 1 quan nữa. Lại lính từ khi bắt đầu khởi công đến nay, trừ tên nào lúc đi lúc không, hay làm việc chưa đủ 1 tháng, không cần bàn đến không kể, còn chiếu như vậy mà truy cấp từ đầu, cho đủ số binh lính mỗi tên 1 tháng 2 quan, dân phu mỗi tên 1 tháng 4 quan” [6].

Việc xây đắp thành Quảng Trị lần này được huy động với số nhân công tương đối lớn (4.000 người). Lực lượng này phần lớn là dân binh trong địa hạt. Các loại nguyên vật liệu phục vụ cho việc xây thành như gạch, mật mía, vôi hàu đều được sử dụng chính từ nguồn của địa phương; một số loại khác như đá xây cổng thành thì được triều đình cho vận chuyển từ nơi khác đến. Và mặc dù quy mô không lớn so với nhiều tỉnh thành khác nhưng do được đặt dưới sự chỉ đạo và giám sát của triều đình nên chỉ trong vòng hai tháng thì công việc hoàn tất. Khi việc xong, “từ đổng lý đến binh dân, đều cho ăn yến một thứ, xem tuồng 3 ngày, Phái ty thuộc hai bộ Lễ, Công cùng ty Lý thiện đi đến trong coi việc khoản đãi, lại thưởng kỷ lục và tiền có thứ bậc” [7].

Khối lượng công việc được Minh Mạng cho thực hiện trong lần xây đắp vào năm 1837 có thể nhận thấy về cơ bản là toàn bộ những gì vốn có như diện mạo kiến trúc của thành Quảng Trị trước khi bị bom đạn chiến tranh tàn phá năm 1972. Từ đó về sau hình dạng tòa thành không có gì thay đổi. So với nhiều tòa thành thuộc các trấn, tỉnh trong cả nước được vua Minh Mạng cho xây bằng gạch thì Thành Quảng Trị có thời gian tương đối muộn nhưng tiến trình thực hiện việc kiên cố hóa lại được thi công trong thời gian tương đối ngắn. Một mặt là do quy mô, cấu trúc của tòa thành không lớn, điều kiện thi công tương đối thuận lợi, lại được sự chỉ đạo trực tiếp của triều đình nên đạt hiệu quả cao; nhưng mặt khác, đồ bản thiết kế mà Minh Mạng chuẩn định với việc giản lược những chi tiết phức tạp không cần thiết cũng cho thấy ý đồ coi thành Quảng Trị là công trình phòng vệ quân sự chỉ ở mức thứ yếu so với ý đồ thiết lập một trung tâm hành chính, chính trị.

Từ khi thành được xây xong, các công trình kiến trúc bên trong như: hành cung, cột cờ, các cơ quan thuộc công đường Quảng Trị như Ty Phiên, Ty Niết, nhà Kiểm học, trại lính.... đã được lần lượt xây dựng trên cơ sở mở rộng, nâng cấp và kiên cố hóa những năm sau đó.

Với thời gian tồn tại của mình cho đến hiện nay, thành Quảng Trị có 27 năm được đắp tạm thời bằng đất, 135 năm được tạo dựng kiên cố bằng gạch (kể từ năm 1837 đến trước khi bị tàn phá vào năm 1972) và còn lại là quãng thời gian có cả sự hoang phế lẫn công việc phục hồi, tái thiết mới. Như vậy, việc chuyển trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh Quảng Trị về Thạch Hãn và xây dựng bằng gạch kiên cố đã chứng tỏ ngoài những lí do về chiến lược quân sự, nhà Nguyễn đã rất chú ý đến vị trí của Thành Quảng Trị trong việc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa đối với vùng đất nằm cạnh Kinh đô trong mối tương quan với kinh thành Huế và các tỉnh khác. Quá trình xây dựng của Thành Quảng Trị từ khi khởi công dưới thời Gia Long đến khi hoàn thiện dưới thời Minh Mạng kéo dài trong gần 28 năm (1809 - 1837) với 3 giai đoạn.

* Diện mạo kiến trúc qua các thời kỳ

Nói diện mạo kiến trúc thành Quảng Trị không chỉ là nói đến quy mô, cấu trúc, kỹ thuật xây dựng của tòa thành mà còn có cả những công trình đã được xây dựng bên trong. Tuy nhiên, với tư cách là một trung tâm hành chính địa phương cấp tỉnh, trải qua gần 150 năm dưới thời quân chủ phong kiến nhà Nguyễn và thời thuộc Pháp (1809 - 1954); hơn 18 năm dưới thời VNCH (1954 - 1972) Thành Quảng Trị (được đổi thành Đinh Công Tráng) do chịu nhiều biến động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội nên các công trình kiến trúc đã có nhiều thay đổi về vị trí, chức năng cũng như phong cách kiến trúc.

Bộ phận kiến trúc chính tạo ra diện mạo tổng quát của Thành Quảng Trị là cấu trúc phòng thành. Nội thành là những công trình mang các chức năng khác nhau liên quan đến một trung tâm hành chính, được xây dựng và bố trí theo mô thức chung như nhiều tỉnh thành khác trong cả nước. Vì thế, nếu gọi theo đúng nghĩa thành quách với đầy đủ hai lớp thành là thành trong và thành ngoài hay gọi theo cấu trúc của Kinh thành Huế gồm thành ngoại (tức Kinh thành) và thành nội (Đại nội - tức Hoàng thành và Tử cấm thành) thì Thành Quảng Trị chỉ có thành ngoài mà không có thành trong.

UserPostedImage

Cổng Tiền Thành cổ Quảng Trị (Ảnh Yến Thọ)

Thành ngoài, tức phòng thành Quảng Trị được xây bằng gạch, tổng thể có hình vuông. Thành được cấu trúc theo kiểu Vauban. Đặc điểm của thành luỹ cấu trúc theo kiểu Vauban là cả một hệ thống phức hợp các công trình kiến trúc liên quan chặt chẽ với nhau và mang tính phòng thủ rất vững chắc. Nhìn toàn cục nó bao gồm các bộ phận chính kể từ trong thành ra bên ngoài như sau: Luỹ, pháo đài, pháo đài góc, đoạn thành nối hai pháo đài, tường bắn, những pháo nhãn hay pháo môn, đường phòng hộ chân thành ngoài, hào thành… phương thức kiến trúc ấy xuất hiện trong điều kiện mà quân đội nhiều nước trên thế giới đã qua khỏi thời đại chiến đấu bằng cung tên và gươm giáo, họ đã được trang bị bằng các vũ khí bắn đạn được đẩy đi bằng thuốc súng Eight Ball.

Hệ thống phòng thành với thân thành xây cao và thẳng ở 4 mặt, 4 góc có 4 pháo đài nhô hẵn ra để từ đó có thể kiểm soát được các mặt thành. Ở chính giữa thành của 4 phía mở 4 cửa ra vào (Nam môn - cửa Tiền, Bắc môn - cửa Hậu, Đông môn - cửa Tả, Tây môn - cửa Hữu). Bao quanh là hệ thống hào thành. Dưới chân thành có đường phòng hộ. Trước mỗi cửa thành đều có một chiếc cầu xây vòm cuốn bắc qua hào thành nối bên trong với bên ngoài. Ngoài ra còn có một hào thành nối hệ thống hào thành với sông Thạch Hãn để thoát nước và chống úng khi mùa lũ.

UserPostedImage

Hào thành và pháo đài đông nam Thành cổ Quảng Trị (Ảnh Yến Thọ)

Theo sách “Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ” thì Thành Quảng Trị có chu vi 489 trượng 6 thước, cao 1 trượng 3 thước, mở 4 cửa, 1 kỳ đài, hào rộng 2 trượng[9]. Theo “Đại Nam nhất Thống chí” thì thành có chu vi là 481 trượng 6 thước, cao 1 trượng linh, bề dày 3 trượng, mở 4 cửa, hào rộng 4 trượng, 6 thước, sâu 8 thước trượng [10]. Còn theo sách “Đồng khánh dư địa chí lược” thì thành có chu vi là 489 trượng, 6 thước, cao 1 trượng, 7 tấc, dày 1 thước, 7 tấc. Thân thành 4 góc, 4 cửa. Hào rộng 8 trượng, 2 thước, sâu 5 thước [11]. Như vậy, kích thước thành Quảng Trị được chép trong các tài liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn không thống nhất, thậm chí có sự chênh lệch nhau.

Từ năm 1992 đến nay, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện dự án quy hoạch, đầu tư tôn tạo di tích thành Quảng Trị, qua tiến hành nhiều bước khảo sát, đo đạc lại kích thước thành ngoài với sự hỗ trợ đắc lực của các thiết bị kỹ thuật hiện đại và đã có những kết quả như sau: Chiều dài của tường thành phần thẳng tính từ mép ngoài (kể cả kích thước của tổng thành) ở mỗi mặt là 280m, ở 4 mặt là 1.220m. Chiều dài tường thành ở mỗi góc bầu (pháo đài) với 2 hai cạnh ở đỉnh góc, mỗi cạnh 95m, 2 cạnh tiếp giáp với thân thành ở mỗi góc bầu (pháo đài) với 2 cạnh ở đỉnh góc, mỗi cạnh 95m, 2 cạnh tiếp giáp với thân thành, mỗi cạnh 35m, có tổng cộng là 260m và ở cả 4 góc pháo đài là 1.040m. Từ đó, chu vi toàn thành sẽ là 2.160m, tổng diện tích toàn bộ thành Quảng Trị là 18,56 ha.

Án ngữ 4 góc thành là 4 pháo đài nhô hẵn ra phía ngoài, sắp xếp cân đối ở mỗi góc và xếp đối xứng nhau qua các cửa chính diện của chân thành mà dân địa phương quen gọi là “góc bầu”. Mỗi pháo đài có 4 cạnh bố trí theo dạng hình thoi. Hai cạnh của pháo đài nhô ra xếp gần như vuông góc với mặt thành thẳng có chiều dài mỗi cạnh là 35m. Hai cạnh còn lại xếp song song với 2 phía thân thành để tạo ra một góc nhọn của pháo đài có bề dài mỗi cạnh là 95m.

Trên toàn bộ chiều dài của tường thành bằng gạch, ở mặt ngoài, để tạo ra một mặt đứng nghiêng với độ khuynh 1/10, các viên gạch được xây theo kỹ thuật xếp kế tiếp nhau, lớp trên xếp lùi dần từ 2 - 3mm so với lớp dưới để thành những gờ gạch như những đường diềm mỏng chạy quanh thành mà chân người không thể tỳ vào đó để leo lên thành được. Ở mặt trong, tường gạch dựng đứng để làm ốp chắn tường đất dày ở bên trong đến đỉnh thành gạch còn hơn 1m để làm tường bắn. Dọc theo bờ tường, cách đều từng đoạn có chừa những khoảng trống để làm nơi đặt súng gọi là pháo nhãn hay pháo môn. Trên mặt thành đất chừa một khoảng khá rộng để binh lính quan sát, chiến đấu di chuyển trên thành. Dưới chân thành là các hầm chứa vũ khí. Chân choãi rộng, với độ dốc 300 binh sĩ có thể vận động lên xuống dễ dàng ở mặt trong của thành.

Trước mặt mỗi cửa thành, có một chiếc cầu được xây bằng gạch và kè chắn bằng đá vững chắc bắc qua hào thành, nối nội thành với bên ngoài. Bao bọc xung quanh là hệ thống hào thành tương đối rộng, khá sâu (chừng 3m) và luôn chứa đầy ắp nước. Bờ trong của hào thành chạy song song với các cạnh của tường thành, cách chân thành ở mặt ngoài 5m. Bờ ngoài của hào thành thẳng, nhưng ở mỗi mặt thành, hai đường bờ hào kéo từ phía cổng thành về 2 góc pháo đài lại chéo hình chữ V. Vì thế, bề rộng của hào thành ở mỗi mặt có kích thước không giống nhau tại mỗi vị trí. Hệ thống của hào thành được thông ra sông Thạch Hãn bằng một cái hói chạy theo hướng đông - tây, tính từ mép ngoài của hào thành ra đến bờ sông Thạch Hãn thì chiều dài con hói gần 250m, sâu 3,4m.

UserPostedImage

Không gian phía trước cửa Hữu Thành cổ Quảng Trị (Ảnh Yến Thọ)

Nội thành có nhiều công trình kiến trúc được xây dựng nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho việc ở và là việc của các cơ quan công đường thuộc bộ máy hành chính của tỉnh Quảng Trị. Công trình trọng yếu phải kể đến trước hết là Hành cung, nằm cách cửa Tiền chừng 500m. Khu vực này có hình vuông chu vi chừng 400m.

Hành cung là nơi dùng để vui nghỉ ngơi trong những lần ngự giá đi qua địa hạt. Cũng như nhiều Hành cung trong các tỉnh thành khác, Hành cung Quảng Trị là một công trình kiến trúc được xây dựng theo mô thức nhà rường, có 3 gian, 2 chái, mái lợp ngói âm dương, cột sơn son thếp vàng. Bên trong có ngai đặt trên bệ rộng, trên có tán rộng. Hai phía cửa hữu có hai công trình nằm quay mặt về nhà chính. Xung quanh xây bằng tường gạch chỉ để mặt trước 2 cửa ra vào. Có lẽ vì tính quy mô và vị trí trung tâm cùng với hệ thống tường gạch dày, xây cao bao bọc xung quanh nên được gọi là khu vực nội thành. Hành cung chỉ mở khi có vua đến hoặc các dịp làm lễ bái vọng, lễ thăng chức của các cơ quan đầu tỉnh ở Quảng Trị và các dịp tế lễ định kỳ trong năm.

Phía trước mặt Hành cung là Kỳ đài, có nền xây gạch, tạo thành 3 bậc; được dựng ở vị trí chính diện của mặt tiền. Chiếu theo quy định của Minh Mạng vào năm thứ 12 (1831) thì kỳ đài ở Thành Quảng Trị cũng như kỳ đài các trấn thành, “mặt sau rộng 3 trượng 2 thước, bên tả bên hữu đều rộng 2 trượng 7 thước, cột cờ cao 5 trượng 1. Tức là kỳ đài có hình chữ nhật, bề dài 13,5m, bề rộng 11,47m, cột cờ cao 21,25m.

Phía sau khu vực Hành cung là những cơ quan công đường, nơi ở và làm việc của các cơ quan lại thuộc bộ máy hành chính của tỉnh như: Dinh Tuần phủ, Dinh Án sát, Dinh Bố chính, Dinh Lãnh binh, Nhà kiểm học, Trại quân, Nhà bếp, Nhà Kho, Khám đường, Ngục thất. Các công trình kiến trúc này đều được xây dựng theo kích thước nhà công với mô thức thông dụng thời Nguyễn là kiểu nhà rường, có bộ khung chịu lực bằng gỗ, mái lợp ngói liệt, xung quanh xây tường gạch hoặc che chắn bằng ván gỗ.

UserPostedImage

Cửa Hậu Thành cổ Quảng Trị (Ảnh Yến Thọ)

Những công trình kiến trúc thuộc nội thành Quảng Trị nhìn chung không mang tính bền vững cao và thường xuyên biến động, thay đổi để phù hợp với tính chất, công năng cũng như mục đích sử dụng theo từng thời kỳ. Sự ổn định tương đối về diện mạo kiến trúc nội thành Quảng Trị chỉ giới hạn trong khoảng thời gian từ khi hoàn chỉnh việc xây dựng (1837) đến trước khi người Pháp chính thức đặt chính quyền “bảo hộ” lên toàn bộ tỉnh Quảng Trị.

Sau khi cơ bản bình định được An Nam, người Pháp chọn khu vực xung quanh Thành Quảng Trị để xây dựng thị xã tỉnh lỵ, lấy Thành Quảng Trị làm tâm điểm của một trung tâm hành chính, chính trị thì một số công trình trong khu vực thành được người Pháp xây mới, làm theo diện mạo kiến trúc nội thành có sự thay đổi. Căn cứ vào bản sơ đồ về Thành Quảng Trị do Nguyễn Thứ vẽ năm 1889 [12], có thể biết được đến những năm cuối thế kỷ XIX, nội thành Quảng Trị ngoài những công trình được xây dựng dưới thời Nguyễn còn lại như: Hành cung, Dinh tuần phủ, Dinh án sát, Dinh Lãnh binh… vẫn do bộ máy quan lại của Quảng Trị thuộc triều đình An Nam sử dụng đã có thêm các công trình khác do người Pháp xây dựng như: đồn cảnh sát, nhà tù, nơi chỉ huy các binh chủng, cửa hàng lương thực, bưu điện, trạm xá, cửa hiệu, lò mổ gia súc, tiệm mì… Đến đầu thế kỷ XX, một loạt các công trình mới bên trong thành được chính quyền “bảo hộ” Pháp cho thiết lập thêm để phục vụ cho bộ máy cai trị; trong đó, điểm hình là công trình lao hầm bên trong khu nhà giam cũ, các kho vũ khí, nơi ở và nơi làm việc của các cơ quan chức quân sự, các sĩ quan, văn phòng chỉ huy trưởng, trại lính trinh sát, kho quân trang, xưởng may, xưởng đóng giày và sửa chữa vũ khí, kho gạo…

Dưới chế độ VNCH (1954 đến 1971), thành Quảng Trị được gọi là thành Đinh Công Tráng và đã có sự thay đổi cả về diện mạo lẫn chức năng. Trải qua các biến động xã hội trong năm 1945 và 9 năm chống Pháp, các công trình kiến trúc (xây dựng dưới thời nhà Nguyễn) ở bên trong hầu như đã bị chiến tranh và thiên tai tàn phá gần hết. Vì thế, chính quyền Sài Gòn đã biến nơi đây thành doanh trại quân đội, khu nhà ở cho binh lính (thuộc lực lượng địa phương quân của Sư đoàn I) cùng với sân vận động và nhà lao. Ở góc đông nam thành, bên cạnh việc tận dụng lại những nhà lao kiên cố được xây dựng từ thời Pháp, chính quyền miền Nam cho mở rộng thêm một số nhà tạm, phòng giam để giam giữ tù nhân. Đồng thời, trên cơ sở một số nền nhà cũ, những căn nhà với kết cấu cột, vì kèo sắt, mái lợp tôn đã được dựng lên để dùng làm nơi ở cho binh lính. Số quân đồn trú thường trực tại đây luôn có khoảng 2 đại đội (100 - 120 người) làm nhiệm vụ bảo vệ thị xã, tiếp viện và điều động cho các khu vực xung quanh khi cần thiết. Ngoài ra, để bảo vệ các sở bên trong, chính quyền Sài Gòn còn dựng các lô cốt ở những vị trí thích hợp trong và ngoài thành để canh gác. Trong thành Quảng Trị, ngoài các công trình phục vụ cho mục đích quân sự và bộ máy nhà nước của chính quyền tay sai còn có một số nhà dân.

Như vậy, diện mạo kiến trúc thành Quảng Trị là một tòa thành kiểu Vauban, chỉ có hệ thống phòng thành với tường thành xây gạch ở mặt ngoài và đắp đất ở mặt trong, 4 góc là 4 pháo đài, 4 mặt có 4 cửa cùng với một số công trình kiến trúc ở nội thành được xây dựng nhằm vào mục đích phục vụ cho bộ máy cai trị của tỉnh Quảng Trị qua các thời kỳ. Nếu như hệ thống phòng thành Quảng Trị kể từ khi hoàn thiện đến trước khi bị bom đạn phá hoại (1972) là có tính bền vững, ổn định cao, thì các công trình kiến trúc được xây dựng ở nội thành luôn thay đổi tùy theo tính chất, công năng và mục đích sử dụng theo từng thời kỳ lịch sử. Nếu như cấu trúc hệ thống phòng thành nặng về ý nghĩa của một công trình quân sự thực hiện việc phòng thủ trong bờ cõi theo ý đồ của người tạo lập thì các công trình kiến trúc nội thành thiên về diện mạo của một trung tâm hành chính. Có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng có thể nói rằng, thành Quảng Trị là một trung tâm chính trị, hành chính đúng nghĩa của tỉnh Quảng Trị.

2. Cuộc chiến đấu chống phản kích, tái chiếm bảo vệ Thành cổ 81 ngày đêm năm 1972

* Vị trí chiến lược của Thành cổ Quảng Trị

Dưới chế độ VNCH, thị xã Quảng Trị là một vùng nhỏ hẹp nằm giữa vùng nông thôn trù phú ở bờ Nam sông Thạch Hãn, có phố xá đông đúc và sầm uất. Có 3 đường chính đến thị xã: Quốc lộ 1A, đường 68 từ Thừa Thiên Huế ra và đường 64 từ Cửa Việt lên. Thị xã Quảng Trị là trung tâm tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị, nơi tập trung tất cả các cơ quan đầu não của chính quyền VNCH. Giữa lòng thị xã có tòa Thành cổ Quảng Trị, một kiến trúc thành luỹ được xây dựng vào thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn. Đây là nơi đóng các cơ quan đầu não về quân sự gọi là Tiểu ban quân sự Quảng Trị.

Với cuộc tiến công nổi dậy năm 1972 từ ngày 30-3 đến 1-5-1972, Quân Giải phóng đã tiêu diệt và phá hủy các tập đoàn phòng ngự, cụm cứ điểm mạnh từ Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà, Ái Tử, thị xã Quảng Trị, giải phóng tỉnh Quảng Trị. Quyết không thể để mất Quảng Trị, một tỉnh địa đầu giới tuyến miền Nam giáp miền Bắc XHCN, trong khi Hội nghị Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam đang đến cần một giải pháp chính trị. Không cam chịu thất bại, Mỹ vội ra lệnh “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh ở miền Nam, đưa các sư đoàn mạnh thuộc lực lượng tổng dự bị quốc gia trong đó có 2 sư đoàn thiện chiến đó là sư dù và thủy quân lục chiến cùng với xe tăng, máy bay, pháo hạm... chi viện tối đa, mở cuộc hành quân mang mật danh “Lam sơn 72” với âm mưu chiếm thị xã và các huyện Nam sông Thạch Hãn trước ngày 10-7; sau đó vượt sông Thạch Hãn đánh chiếm các huyện phía bắc.

Như vậy, xuất phát từ vị thế của một trung tâm hành chính, chính trị của một tỉnh nên khi cuộc chiến chống phản kích tái chiếm diễn ra, Thành cổ và thị xã Quảng Trị trở thành điểm mấu chốt để cả hai bên đặt cược vào trong một ván bài mang tính chính trị và ngoại giao hơn là quân sự. Phía Mỹ và chính quyền VNCH thì tập trung tái chiến bằng được vùng đất đã mất, trong đó mục tiêu chính là thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Về phía Quân Giải phóng, để bảo vệ thành quả đã giành được, bảo vệ tỉnh địa đầu miền Nam mới được giải phóng nên phải tập trung lực lượng để quyết tâm giữa bằng được thị xã và Thành cổ, đánh tan cuộc phản kích. Tất cả đều hướng đến mục tiêu là tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho mình trên bàn đàm phán của Hội nghị Paris.

* Chủ trương của Bộ quốc phòng và Quân đội nhân dân Việt Nam

Ngay khi quân đội VNCH lập phòng tuyến ngăn chặn hướng tiến công của Quân Giải phóng vào Thừa Thiên và bắt đầu mở cuộc phản kích tái chiếm, đêm 28-6-1972, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh chiến dịch họp đánh giá kết quả đợt tiến công thứ 3 và nhận thấy đợt tiến công này không thành công, sức tiến công yếu, lại giảm sút nhanh chóng. Về phía quân đội VNCH thiệt hại không đáng kể nên có thể dùng 1 đến 2 trung đoàn ngăn chặn Quân Giải phóng ở hướng đường 1 và nhân lúc hậu phương chiến dịch của Quân Giải phóng sơ hở mở cuộc tiến công chiếm lại.

Từ kết luận đó, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh chủ trương: Tiếp tục tiến công hiện nay có trọng điểm, có hiệu lực, đồng thời khẩn trương triển khai các lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, các đơn vị binh khí kỹ thuật để đánh bại cuộc hành quân của địch, chặn bằng được các cánh quân tiến công của chúng ở Trường Phước và Hải Lăng. Cụ thể: dùng một bộ phận lực lượng giữ vững các khu vực bàn đạp quan trọng ở Quảng Trị; đồng thời thực hành tiến công nhỏ và vừa tiêu hao một số bộ phận sinh lực địch, đánh mạnh vào hậu phương, kho tàng, sân bay và bắn máy bay địch, làm chúng rối loạn, sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không, đường biển để giữ vững vùng giải phóng [13].

Sau khi quán triệt quyết tâm của Quân uỷ Trung ương “chỉ có một khả năng giữ vững Quảng Trị, đánh bại cuộc hành quân của địch”, và nêu bật ý nghĩa chính trị, quân sự, ngoại giao của cuộc chiến đấu mới, Nghị quyết chỉ rõ: Quân VNCH đánh ra Quảng Trị (mục tiêu chủ yếu là thị xã và Thành cổ) nhằm phá cuộc tiến công của Quân Giải phóng, giữ Thừa Thiên Huế - một mặt trận mà quân VNCH coi là then chốt trên chiến trường miền Nam hiện nay, chiếm lại một khu vực đất đai và một số dân quan trọng mà Quân Giải phóng đã chiếm được trong thời gian qua để củng cố tinh thần quân VNCH và phục vụ âm mưu chính trị, ngoại giao của Mỹ. Đây là một trong những cố gắng cuối cùng để cứu vãn chính sách “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ, cứu vãn uy tín của Tổng thống Ních-xơn, phục vụ cho cuộc tranh cử tổng thống. Mưu đồ của quân VNCH rất lớn nên đã cố gắng tới mức cao nhất, tập trung lực lượng không quân, hải quân và lực lượng quân đội VNCH vào cuộc hành quân “tái chiếm” này [14].

Ngay sau khi Mỹ và chính quyền VNCH mở cuộc hành quân “tái chiếm”, đi đôi với việc chỉ đạo các cánh quân phản công, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo phương hướng chuyển dần vào tác chiến phòng ngự. Đối với thị xã và Thành cổ Quảng Trị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ thị rất cụ thể về bố trí trận địa, binh lực, hỏa lực, xe tăng và tổ chức trận địa phòng không và pháo binh ở tả ngạn sông Thạch Hãn, đề phòng những tình huống có thể xảy ra [15].

Chỉ đạo chiến dịch có Bộ Chỉ huy chiến dịch do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tham mưu trưởng Tư lệnh chiến dịch Trị - Thiên. Trung đoàn 48 chịu trách nhiệm chỉ huy chung các lực lượng trong thị xã Quảng Trị, Sở chỉ huy đặt ở Bích Khê, sau chuyển về An Mô, trong thành có sở chỉ huy nhẹ. Ngày 14-7, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng và Ban Chỉ huy bảo vệ Thành cổ Quảng Trị gồm: Tham mưu phó Bộ Tham mưu chiến dịch làm Chỉ huy trưởng, Cục phó Cục Chính trị chiến dịch làm Chính ủy. Các chỉ huy Trung đoàn bộ binh 48, Phó tỉnh đội trưởng, Chủ tịch Ủy ban quân quản Quảng Trị làm Chỉ huy phó. Cơ quan của Trung đoàn 48 làm cơ quan của Ban Chỉ huy, lấy Sở Chỉ huy cơ bản của Trung đoàn 48 làm Sở Chỉ huy của Ban Chỉ huy bảo vệ Thành cổ.

* Diễn biến và kết quả

Từ ngày 28-6 đến 3-7-1972, Mỹ và quân lực VNCH đã điều 4 sư đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn xe tăng thiết giáp được hoả lực phi pháo chi viện tối đa đã ồ ạt đánh chiếm một số vùng rộng lớn từ Gia Đẳng, Linh Chiểu, Hải Lăng, điểm cao 28, 105B, Nam sông Nhùng, Nam Long Hưng, La Vang, áp sát thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Trong khi đó, Quân Giải phóng đang từ thế tiến công phải điều chỉnh gấp đội hình trong điều kiện cơ động hết sức khó khăn bị phi pháo (kể cả máy bay chiến lược B52) đánh phá quyết liệt, lực lượng chuẩn bị bố phòng cho vùng mới giải phóng chưa đầy đủ, nên đã bị thiệt hại tương đối nặng (thế trận bị động, mất đất, mất dân). Trung đoàn 48, mặc dù được giao nhiệm vụ bố trí lực lượng chốt giữ Thành cổ và thị xã Quảng Trị nhưng đến ngày 6-7-1972, Trung đoàn mới tập trung và triển khai được lực lượng. Nhưng với quyết tâm sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thành cổ và thị xã Quảng Trị, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương cùng quân và dân Quảng Trị chiến đấu kiên cường đẩy lùi các đợt tiến công của quân VNCH.

Sau hơn 10 ngày mở cuộc phản kích tái chiếm, Mỹ và chính quyền VNCH quyết tâm cắm cờ lên tòa Thành cổ vào ngày 13-7, tức trước khi có cuộc gặp giữa phái đoàn VNDCH và Mỹ ở Hội nghị Paris sau nhiều tháng bị gián đoạn. Để thực hiện mục tiêu đó, quân VNCH đẩy nhanh tiến công vào các trận địa chốt của Quân Giải phóng ở vùng ven thị xã như Tri Bưu ở hướng đông bắc Thành cổ. Trên hướng đông nam tại chốt Ngã ba Long Hưng, Quân Giải phóng đã đẩy lùi được các đợt tiến công của quân dù nhưng trên hướng đông bắc quân VNCH đã chiếm được làng Tri Bưu, uy hiếp trực tiếp Thành cổ. Không bỏ lỡ thời cơ, Tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh cho quân dù: “Bằng cách gì, đêm nay cũng phải cắm được cờ trong Thành cổ” [16]. Việc cắm cờ lên Thành cổ Quảng Trị trước giờ khai mạc Hội nghị Pari đã trở thành mục tiêu thôi thúc quân Mỹ và quân VNCH. Cũng từ đây nhiệm vụ phòng giữ thị xã và Thành cổ của quân giải phóng trở nên quyết liệt.

Xác định âm mưu của đối phương, tối 12-7, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh chiến dịch, ra lệnh cho Trung đoàn bộ binh 48: “Đêm nay phải cố thủ giữ vững Thành cổ Quảng Trị, không được để một tên địch lọt vào”. Tiếp đó, điện số 915 của Quân ủy Trung ương: “Các đồng chí phải giữ Thành cổ bằng bất cứ giá nào” [17]. Đúng như kế hoạch, tối 12-7, một bộ phận quân Dù đã theo cống ngầm vào Thành cổ để cắm cờ nhưng đã bị Quân Giải phóng chặn đánh. Không thực hiện được mục tiêu, quân dù đã lệnh cho các hướng phải tiếp tục tấn công cùng với pháo bắn phá dữ dội, sử dụng bom khoan có sức công phá lớn để phá hủy các bức tường thành, hầm ngầm, công sự của Quân Giải phóng để thực hiện ý định cắm cờ lên Thành cổ, nâng tổng số đạn pháo đánh phá khu vực Thành cổ Quảng Trị trung bình mỗi ngày 8.000 viên lên 15.000 viên. Cao điểm có ngày, quân VNCH bắn tới hơn 30.000 viên; sử dụng mỗi ngày từ 40-60 lần máy bay phản lực và phun chất độc hóa học, vừa thả bom khoan, bom hơi để phá tường thành, đánh sập hầm hào công sự của quân giải phóng; tăng số phi vụ B52 đánh phá mỗi ngày từ 30-40 lần chiếc lên 60-70 lần chiếc để chặn tiếp tế vào Thành cổ và đánh sâu vào hậu phương [18].

Với sức công phá lớn của bom, pháo đã gây nhiều thiệt hại cho Quân Giải phóng đang chiến đấu tại Thành cổ và thị xã Quảng Trị. Trước tình đó, Bộ tư lệnh chiến dịch tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 4 của Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn bộ binh 9 của Trung đoàn 64 vào thị xã cùng phối hợp với Trung đoàn 48.

Về phía quân VNCH, sau thất bại đợt 1 tấn công vào Thành cổ, 14 giờ ngày 14-7, sau khi được tăng lực lượng, quân dù cho một tốp biệt kích bí mật luồn theo những chỗ tường thành bị bom đạn phá vỡ, lẻn vào Thành cổ cắm cờ ở phía đông bắc nhưng đã bị các chiến sĩ Đại đội 14 hỏa lực của Trung đoàn 48 và các chốt của Tiểu đoàn bộ binh 3 địa phương Quảng Trị phát hiện, nổ súng tiêu diệt một số tên, số còn lại bỏ chạy.

Âm mưu tiến công ồ ạt vào thị xã và cắm cờ lên tòa Thành cổ trong đầu tháng 7 đã không thực hiện được, quân đội VNCH đã tăng cường mở các cuộc tấn công trên tất cả các hướng đẩy lùi thời gian cắm cờ đến ngày 18, rồi 27-7 nhưng các cuộc tấn công đó đã bị Quân Giải phóng chặn đứng, bị thiệt hại nặng. Để đánh lừa dư luận, tối 25-7, đài phát thanh Sài Gòn phát một bài tường thuật: Quân dù mũ nồi đỏ đang tràn vào chiếm được Thành Quảng Trị, họ đang chuẩn bị ngày mai long trọng làm lễ kéo cờ trong Thành cổ. Tiếp đó, 9 giờ ngày 26-7, quân VNCH tổ chức cắm cờ có cố vấn Mỹ, phóng viên báo chí để quay phim nhưng không phải ở Thành cổ mà là tại bức tường thành đổ của đình làng Trâm Lý (thuộc xã Hải Quy), cách thị xã 3km về phía đông. Tuy nhiên, trò lừa bịp này ngay từ đầu đã bị lực lượng trinh sát của Quân Giải phóng phát hiện nên đã huy động pháo binh bắn vào vị trí tổ chức làm quân VNCH hoảng loạn, vội vã lên máy bay trực thăng bỏ chạy.

Như vậy, sau 1 tháng mở cuộc tiến công, quân dù đã không thực hiện được kế hoạch mà ngược lại còn bị thiệt hại nặng. Bản tin của hãng AFP ngày 27-7-1972 đưa tin: “Trong cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị quân Dù Nam Việt Nam đã bị đánh quỵ. Trong những ngày chiến đấu đẫm máu tại đây, mỗi ngày họ chết 150 người, các cố vấn Mỹ cho rằng thật chẳng đáng để bám lấy cái thị xã Quảng Trị nguy hiểm ấy làm gì, lính Dù đã bị thương vong quá nặng, họ cần có thời gian để tổ chức và hồi phục lại” [19]... Ngày 27-7, tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khu 1 hạ lệnh đưa các lực lượng quân dù ra củng cố, giao nhiệm vụ cho Sư đoàn Thủy quân Lục chiến đảm nhiệm tiếp tục tấn công vào thị xã Quảng Trị.

Thủy quân lục chiến vào thay quân dù, nhanh chống đẩy mạnh chuyển hướng tấn công từ tiến công ồ ạt sang “lấn dũi” với cách đánh dùng hỏa lực đánh mạnh trước, dùng xung lực lấn dũi từng bước, củng cố chắc bàn đạp chiếm được, làm hầm kiên cố, đưa xe tăng vào chi viện cho bộ binh. Để thực hiện nhanh mục tiêu, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Thủy quân lục chiến hạ lệnh cho Lữ đoàn 258 cùng sự hỗ trợ của Chiến đoàn 4 (gồm 1 trung đoàn bộ binh và 1 trung đoàn xe tăng, thiết giáp) phòng giữ phía sau, tấn công vào thị xã Quảng Trị từ 3 hướng: đông bắc (Tri Bưu, Hành Hoa), tây nam phối hợp với quân dù (La Vang, Tích Tường, Như Lệ, Cầu sắt, Đệ Ngũ, Bồ Đề), hướng bắc (An Tiêm, Nại Cửu, chợ Sãi) tạo thành ba gọng kìm tấn công vào thị xã và Thành cổ.

Lợi dụng cơn mưa bão đầu mùa vào cuối tháng 7, đầu tháng 8 gây khó khăn cho Quân Giải phóng, quân VNCH đã tiến vào được thị xã Quảng Trị và kế hoạch là đêm 7-8 sẽ tổ chức chào cờ tại Thành cổ nhưng đã bị Quân Giải phóng đánh chặn trên tất cả các hướng. Những địa điểm chốt quan trọng bao quanh Thành cổ như Bồ Đề, Đệ Ngũ, Tri Bưu, Hành Hoa... cả hai bên giành giật nhau và đang ở thế giằng co. Kết quả, quân VNCH đã không thực hiện được kế hoạch.

Giữa tháng 8, quân VNCH phải dàn trải lực lượng ra cánh đông và ven biển. Hơn nữa, sau những đòn thất bại tại thị xã, tinh thần quân lính bị giảm sút cần phải có thời gian để củng cố. Mặt khác, sự thôi thúc theo yêu cầu ngoại giao ở Hội nghị Paris không còn như hồi tháng 7. Do vậy, thời gian này chiến trường thị xã không diễn ra trận chiến nào lớn chỉ có những trận tập kích nhỏ nhưng với tinh thần “còn người còn trận địa”, dựa vào thế lực liên hoàn, từng chốt yểm trợ cho nhau, tích cực tập kích, phản kích nhỏ, ban ngày bị mất chốt thì ban đêm tổ chức tập kích chiếm lại. Chính vì vậy, Thành cổ và các con đường dẫn vào thành vẫn được giữ vững. Cuộc chiến bảo vệ Thành cổ thực sự ác liệt và tàn khốc nhất diễn ra từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9.

Thời gian này, về phía Quân Giải phóng bố trí lực lượng xung quanh Thành cổ gồm có: hướng bắc có Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64, Tiểu đoàn bộ binh 2 của Trung đoàn 48, Đại đội bộ binh 45 của tiểu đoàn địa phương Quảng Bình. Hướng đông bắc Tri Bưu có Tiểu đoàn 6 bộ binh của Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 48. Hướng đông nam có Tiểu đoàn bộ binh 4 của Trung đoàn 95. hướng nam có Tiểu đoàn 8 địa phương Quảng Trị. Trong Thành cổ có Tiểu đoàn 3 địa phương Quảng Trị. Ngoài ra còn có đại đội hỏa lực của Trung đoàn 95, 1 phân đội chống tăng B72 của Sư đoàn 325, 1 đại đội công binh.

Về phía quân VNCH bố trí tại thị xã như sau: Tiểu đoàn 6 bố trí khu vực đông nam Thành cổ; Tiểu đoàn 2 bố trí từ ngã ba Long Hưng đến Đệ Ngũ Đông; Tiểu đoàn 1 từ ngã tư đường sắt đến Đệ Ngũ Tây; Tiểu đoàn 3 ở làng Tri Bưu, Hành Hoa, Đông bắc Thành cổ; Tiểu đoàn 8 làm lực lượng dự bị.

Đặc biệt từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9-1972, Quảng Trị gặp cơn mưa bão gây mưa lũ lớn, dài ngày, nước sông Thạch Hãn dâng cao tràn vào thị xã, làm ngập úng, sụt lỡ các trận địa, hầm hào của quân giải phóng, mưa lớn và dài ngày nên đạn dược, lương thực, thực phẩm bị ướt, đời sống sinh hoạt khó khăn, sức khỏe bộ đội giảm sút. Lợi dụng dụng tình hình đó, quân VNCH liên tục “lấn dũi” vào chiếm các trận địa của Quân Giải phóng, chiếm được các địa điểm chốt ở Bồ Đề, Đệ Ngũ, khống chế bến vượt - tuyến chi viện duy nhất cho thị xã bằng đường sông Thạch Hãn. Quân Giải phóng tổ chức nhiều đợt tấn công nhưng không phá được thế vòng vây. Đặc biệt, trong các trận đánh ngày 9 và ngày 10-9, Lữ đoàn 258 Thủy quân lục chiến tập trung cả 3 tiểu đoàn bộ binh, có xe tăng yểm trợ tiến công từ các hướng nam, đông nam và tây nam Thành cổ. Các lực lượng chốt của Quân Giải phóng đã đánh trả quyết liệt, hai bên giành giật nhau từng căn nhà, góc phố, nhất là các khu vực ở chùa Bà Năm, Ty cảnh sát, Thánh đường Thạch Hãn... ở hướng nam. Sau đợt tấn công này, cả hai phía đều có những thiệt hại nặng nhưng về phía quân VNCH vẫn chiếm ưu thế về binh, hỏa lực. Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 95 cũng bị thiệt hại lớn, trên 50 người hi sinh và bị thương nặng, cả Tiểu đoàn chỉ còn 7 người, đến tối 10-9, Tiểu đoàn 4 được lệnh rút ra củng cố. Trên hướng đông bắc, Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 48 kiên quyết ngăn chặn và phản kích địch, nhưng 1 trung đội Thủy quân Lục chiến đã lọt vào Thành cổ. Không để cho địch phát triển, Ban Chỉ huy bảo vệ Thành cổ lệnh cho Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị lập tức phản kích, quân địch buộc phải tháo chạy ra khỏi thành. Nhiều trận chiến ác liệt diễn ra ngay dưới chân Thành cổ. Trên các hướng đông bắc, đông nam, nam đã được nối liền nên quân VNCH có điều kiện để hiệp đồng, chi viện cho nhau tiến công đồng loạt từ 3 hướng, gây cho Quân Giải phóng rất nhiều khó khăn, nhất là thiếu lực lượng cơ động để cùng các chốt phản kích, đơn vị nào cũng phải lo giữ chốt, không có lực lượng dự bị do tuyến chi viện duy nhất bằng đường sông gặp nhiều khó khăn vì nước sông Thạch Hãn dâng cao và bị pháo binh, thủy lôi phong tỏa.

Ngày 11-9, quân VNCH tiếp tục tiến công trên tất cả các hướng vào Thành cổ. Trên hướng đông nam, 6 giờ sáng đã có một bộ phận địch lọt vào thành, Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị xuất kích đánh bật chúng ra ngoài. Đến 12 giờ, đại đội địch tập trung nhảy vào thành, Tiểu đoàn 3 tiếp tục đánh đánh trả quyết liệt và liên tục phản kích, chúng bị thiệt hại nặng phải dùng hỏa lực chi viện và lui khỏi thành trước khi trời tối.

Mặc dù chiến đấu rất kiên cường nhưng trước sức ép của hỏa lực và bộ binh tấn công tập trung của quân lực VNCH, các chiến sĩ Quân Giải phóng buộc phải bỏ các địa điểm chốt bao quanh Thành cổ lui về giữ Thành. Với thế phòng thủ trong điều kiện nhiều bất lợi: Lực lượng bị tiêu hao nhiều, tình hình bị bao vây từ các phía, thời tiết mưa lũ, trong nội thành các công trình đã bị bom, pháo phá hủy, tường thành tuy cao và dày nhưng cũng đã bị đổ nát, không còn vật liệu để làm hầm hào, công sự, vũ khí đạn dược còn ít, chi viện rất khó khăn... nhưng các chiến sĩ quân giải phóng vẫn quyết tâm bám trụ giữ vững Thành cổ Quảng Trị chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, đẩy lùi được nhiều đợt tấn công của quân VNCH.

Ngày 15-9, các Lữ đoàn 258 và 147 Thủy quân Lục chiến tổ chức tiến công từ 3 hướng vào Thành cổ với sự chi viện trực tiếp của tất cả các loại hỏa lực pháo, cối, xe tăng, súng phun lửa... mở đợt tổng đột phá vào 2 góc thành đông nam và đông bắc và cổng thành phía nam. Đến 4 giờ ngày 15-9, một đại đội lính VNCH bí mật tập kích vào Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 48, chiếm góc đông bắc Thành cổ và từ hướng đông nam, tây nam áp sát vào chiếm góc thành phía nam. Trong suốt ngày 15-9, hai bên chiến đấu quyết liệt tại các góc tường thành. Tối 15-9, các lực lượng Quân Giải phóng phải lui sâu vào thành, quân VNCH đã kiểm soát được cổng thành phía nam, đưa 4 đại đội và 5 xe tăng vào củng cố các khu vực đã chiếm được từ góc đông bắc đến góc đông nam. Trong khi đó, về phía Quân Giải phóng, quân số hy sinh ngày càng nhiều, có ngày lên đến hơn 100 người, hỏa lực chi viện cho lực lượng chiến đấu ở thị xã cũng giảm dần, các đường tiếp tế qua sông đều bị quân VNCH chặn đánh, quân số chiến đấu mỗi đại đội chỉ còn 5-7 người, có những đại đội chỉ còn 3 người, tiểu đoàn còn 19 người, vũ khí không đủ chiến đấu, thông tin liên lạc bị gián đoạn. Theo kế hoạch tối 15-9, Trung đoàn 18 và đại đội xe tăng sẽ vào nhận nhiệm vụ hợp đồng nhưng vẫn chưa nhận được thông tin. Trước tình hình đó, 1 giờ ngày 16-9, Ban Chỉ huy quyết định cho các lực lượng còn lại tại Thành cổ và thị xã Quảng Trị rút về tả ngạn sông Thạch Hãn để bảo toàn lực lượng và triển khai bảo vệ vùng giải phóng. Đến 2 giờ ngày 16-9, đội hình còn lại của Quân Giải phóng cơ bản đã qua sông, kết thúc 81 ngày đêm chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng.

Trong 81 ngày đêm chiến đấu chống phản kích tái chiếm, Thành cổ Quảng Trị với chu vi hơn 2.160m đã trở thành “túi bom” của quân lực VNCH với các loại phương tiện chiến tranh, vũ khí hiện đại nhằm chiếm cho bằng được Thành cổ vì đây là địa bàn chiến lược, có thể tạo sức nặng “mặc cả” với ta tại Hội nghị Paris. Không thể thống kê được số bom đạn dội xuống mảnh đất này. Các nhà khoa học quân sự ước tính trung bình mỗi chiến sĩ Quân Giải phóng ở đây phải chịu trên 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Người ta ghi nhận được đêm 4-7-1972, pháo đài B52 Mỹ đã ném 4.000 tấn bom; ngày 31-7-1972, khoảng hai vạn quả đại bác cỡ lớn từ 105mm đến 203mm đã nã xuống khu vực thị xã Quảng Trị; ngày 25-7-1972, địch điên cuồng xả vào Thành cổ khoảng 5.000 quả đại bác [20].

Hàng ngày, tại Thành cổ như có mưa bom, mưa đạn pháo, địa thế lúc nào cũng rung chuyển như đang có động đất. Với một khối lượng lớn bom đạn ném xuống Thành cổ làm cho bốn dãy tường thành thành dày đến 12m cứ vỡ dần vì bom đạn và chấn động của mặt đất. Máu xương của các anh hùng liệt sĩ đã hòa vào lòng đất Thành cổ. Thế nhưng bom đạn đã không làm nao núng ý chí quyết tử với Thành cổ của những chiến sĩ quân giải phóng, hầu hết đều rất trẻ, tuổi mới mười chín, đôi mươi, là những tân binh, nhiều người trong số họ là học sinh, sinh viên các trường học miền Bắc tăng cường cho chiến trường. Các anh đã anh dũng bám trụ từng tấc đất của Thành cổ. Có ngày, các chiến sĩ Quân Giải phóng đã phải đánh phản kích từ 5-7 lần, có khi 13 lần. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra như một huyền thoại và cách đánh cũng vượt ra những quy ước thông thường với những tấm gương quả cảm. Nhiều chiến sĩ như Phan Văn Ba bị pháo làm nát một bàn tay vẫn xin ở lại chiến đấu; chiến sĩ Hán Duy Long dùng Trung liên kẹp nách truy kích diệt 58 tên địch, ba lần bị thương vẫn giữ vững trận địa... Ở đây khi giao chiến, Quân Giải phóng phải để lựu đạn xì khói trên tay mới ném, phải trèo lên tường cao ném xuống hoặc bò vào sát miệng hầm địch mà liệng...

Kiểm soát Thành cổ Quảng Trị là mục tiêu của cả hai phía như là một nổ lực to lớn - nơi biểu dương sức mạnh của mỗi bên nhằm phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao đang đi đến một thời điểm quyết định [21].

Sau 81 ngày đêm chiến đấu oanh liệt, đánh phản kích tại Thành cổ và thị xã Quảng Trị, Quan Giải phóng và nhân dân Quảng Trị đã vượt qua mọi khó khăn, bền bỉ chiến đấu, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, gan góc, táo bạo, dũng cảm, mưu trí. Chiến công ở Thành cổ Quảng Trị đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam những trang hào hùng đầy máu và lửa. Nghĩ đến Thành cổ, chúng ta nghĩ đến mảnh đất rực lửa chiến công và sự hy sinh cao quý của đồng bào và chiến sĩ cả nước trong 81 ngày đêm “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

3. Qúa trình trùng tu, tôn tạo di tích Thành cổ Quảng Trị

Do phải gánh chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ trong cuộc chiến chống phản kích tái chiếm bảo vệ Thành cổ và thị xã Quảng Trị 81 ngày đêm năm 1972 nên từ sau ngày đất nước giải phóng, Thành cổ Quảng Trị hầu như bị phá huỷ hoàn toàn, chỉ còn lại hình dạng hệ thống tường thành với một số đoạn tường xây gạch loang lỗ vết đạn, còn 2 cổng Tiền, Hậu chưa sụp đỗ. Bên trong thành, tất cả các công trình đều bị san phẳng thành bình địa. Toàn bộ diện tích của thành loang lỗ những hố bom, hố pháo và tiềm tàng vô số các loại bom mìn chưa nổ đe doạ cuộc sống của người dân. Nhăm 1986, Thành cổ Quảng Trị được công nhận di tích quốc gia, nhưng do điều kiện kinh tế còn khó khăn, đơn vị hành chính tỉnh chưa ổn định nên chưa có một đầu tư nào cho di tích. Thành cổ Quảng Trị vẫn ở trong tình trạng hoang phế, hệ thống hào thành bao quanh khu vực bị sụt lỡ, lòng hồ bị lấp cạn, cây cỏ hoang dại mọc um tùm. Một công trình duy nhất trong thành là lao xá cũng đã hư hại nặng nề. Di tích Thành cổ Quảng Trị bị xuống cấp nghiêm trọng, một địa danh ghi dấu một thời kỳ oanh liệt của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dần dần trở thành một vùng đất hoang phế.

Trước tình hình xuống cấp nghiêm trọng của di tích, đầu năm 1992 Sở Văn hoá và Thông tin Quảng Trị đã phối hợp với Viện thiết kế qui hoạch đô thị và nông thôn hoàn thành bản dự án “Tôn tạo khu di tích lịch sử Cách mạng Thành Cổ Quảng Trị” và được Bộ Văn hoá - Thông tin đầu tư kinh phí thực hiện trùng tu tôn tạo di tích. Từ năm 1992 đến nay Thành cổ Quảng Trị đã được trùng tu tôn tạo chia làm hai giai đoạn.

Giai đoạn 1: Tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Thành cổ Quảng Trị với các công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng: Đài tưởng niệm trung tâm; nhà bảo tàng; cổng Tiền và cầu bắc qua hào thành trước cổng Tiền; hệ thống hào nước xung quanh thành được nạo vét và kè bằng đá học; hệ thống đường chính và đường nội bộ; hệ thống cây cảnh, cây bóng mát; hệ thống điện nước, hạ tầng. Các công trình được bảo tồn: di tích cổng Hậu, vết tích cổng Tả, Hữu, Lao xá, vết tích tường thành, hố bom... với tổng mức vốn đầu tư giai đoạn 1 là hơn 12 tỷ đồng.

Giai đoạn 2 với các hạng mục công trình đã hoàn thành: Phát lộ hệ thống tường thành; xây dựng hệ kênh mương dẫn nước từ mương thuỷ lợi đến hồ Thành cổ; nạo vét, vệ sinh mặt hồ thả hoa sen; xây dựng hệ thống lan can quanh hào thành; xây dựng lại 3 chiếc cầu bắc qua hào thành ở 3 cổng; bổ sung hệ thống chiếu sáng sân vườn trong và ngoài thành; xây dựng và các tạo hệ thống đường bao quanh thành với tổng kinh phí hơn 41 tỷ đồng. Hiện tại đang tiến hành nâng cấp Đài tưởng niệm trung tâm với tổng kinh phí 32,423 tỷ đồng.

Được sự quan tâm đầu tư của các cấp và chính quyền địa, hiện nay di tích Thành cổ Quảng Trị đã có nhiều thay đổi bên cạnh bảo tồn những yếu tố gốc còn lại sau chiến tranh, dự án còn trùng tu và xây dựng mới nhiều công trình tri ân tưởng niệm đáp ứng nhu cầu viếng thăm của hàng chục vạn lượt khách tham quan trong và ngoài nước mỗi năm.

Hiện trạng di tích Thành cổ được cấu thành bởi hai nhóm công trình:

1. Các dấu tích mang yếu tố gốc được bảo tồn, trùng tu, phục hồi:

- Hệ thống cổng thành
- Hệ thống tường thành
- Hệ thống pháo đài
- Hệ thống cầu bắc qua hào thành
- Hệ thống hào thành
- Lao xá
- Chứng tích hố bom

2. Các công trình tôn tạo:

- Đài tưởng niệm trung tâm
- Nhà trưng bày
- Bia chiến tích sinh viên

Dự án trùng tu tôn tạo vừa bảo tồn những yếu tố gốc của di tích phần nào vẫn giữ được nguyên diện mạo Thành Quảng Trị đã góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu Thành Quảng Trị nói riêng và hệ thống thành lũy dưới thời Nguyễn nói chung; bảo tồn yếu tố gốc cùng với sự đổ nát và loang lỗ của những vết nứt, vết bom đạn nhằm minh chứng cho cuộc chiến tàn khốc và sự phá hủy của bom đạn qua đó giúp khách tham quan hiểu hơn về sự chiến đấu và hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Quân Giải phóng trong 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ thị xã và Thành cổ Quảng Trị.

Xác định bảo tồn yếu tố gốc là công việc quan trọng của di tích, do vậy trong những năm qua cơ quan quản lý di tích đã và đang chú trọng. Về phía đơn vị trực tiếp quản lý đã thường xuyên tiến hành làm vệ sinh, phát quang cỏ dại và những loại cây leo... nhằm hạn chế tối đa sự xâm thực làm phá hủy hệ thống tường thành và các công trình bảo tồn. Tuy nhiên, đây chỉ là những biện pháp tạm thời, về lâu dài để bảo tồn được những yếu tố gốc còn lại tại di tích Thành cổ đặc biệt là hệ thống tường thành đã trải qua thời gian, chịu tác động của bom đạn làm sụt lún, nứt vỡ cùng với sự ảnh hưởng của thời tiết nhất là mùa mưa lũ sẽ tác động rất lớn đến công trình. Do vậy, cần nghiên cứu tìm ra những phương án tối ưu cho quá trình bảo tồn.

Các công trình xây dựng mới trong đó hai công trình trọng tâm là Đài tưởng niệm trung tâm và nhà trưng bày là điểm nhấn của toàn bộ di tích Thành cổ. Đài tưởng niệm trung tâm được xây dựng dựa trên ý tưởng về triết lý âm - dương, quan niệm về nhân sinh quan, vũ trụ quan; về mối quan hệ giữa người sống và người chết... đã để lại những ấn tượng sâu sắc cho khách tham quan đến với di tích Thành cổ. Đài tưởng niệm trung tâm từ một công trình mới xây dựng nhưng trở thành biểu tượng thiêng/cõi thiêng trong không gian thiêng Thành cổ. Cùng với Đài tưởng niệm trung tâm, nhà trưng bày Thành cổ với hơn 115 ảnh tư liệu, 155 hiện vật, 21 khoa học phụ nhằm giới thiệu rõ hơn về những vấn đề liên quan đến di tích bao gồm quá trình xây dựng Thành; chiến dịch giải phóng Quảng Trị; cuộc chiến chống phản kích tái chiếm bảo vệ thị xã và Thành cổ 81 ngày đêm năm 1972; công tác tri ân sau ngày đất nước giải phóng... Từ khi nhà trưng bày đưa vào sử dụng, khai thác cho đến nay đã phần nào đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về di tích. Trong thời gian sử dụng, đơn vị quản lý đã quan tâm tiến hành chỉnh lý, bổ sung nhiều hiện vật quan trọng, đặc biệt là hiện vật di vật liệt sĩ tiêu biểu như bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh và di vật của liệt sĩ Lê Binh Chủng đã để lại nhiều xúc động và ấn tượng cho khách tham quan.

Ngoài ra, các công trình trùng tu tôn tạo khác như: Nhà đón tiếp, nhà dịch vụ, hệ thống lan can, kè hào thành; hệ thống cầu bắc qua hào thành; hệ thống đường nội bộ; hệ thống cây xanh, cây bóng mát; hệ thống điện chiếu sáng; bãi đỗ xe... đã đưa vào sử dụng, khai thác đáp ứng nhu cầu đón khách tham quan.

Với những kết quả đạt được trong quá trình trùng tu tôn tạo di tích Thành cổ Quảng Trị đến nay về cơ bản các công trình đã phát huy tính hiệu quả trong việc giới thiệu, học tập, tham quan, suy ngẫm và là nơi tôn vinh, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ với những chiến công bất tử; đồng thời là nơi giáo dục truyền thống Cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Hiện nay, hàng năm tại di tích Thành cổ đã đón tiếp hàng chục vạn lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan, tưởng niệm. Thành Cổ Quảng Trị trở thành một cõi thiêng trong không gian thiêng của sự kiện 81 ngày đêm, nơi hành hương tưởng niệm trong các tour DMZ, “Du lịch hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội”.

Di tích Thành Cổ Quảng Trị là một trong 07 di tích thành phần thuộc di tích “Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972” được Thủ tướng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 2383QĐ-TTg ngày 09/12/2013.

Nguyễn Thị Thanh Bình

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn (1962). Đại Nam thực lực chính biên. Tập 4. Nxb Sử học, Hà Nội, tr.12.

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn (1962). Đại Nam thực lực chính biên. Tập 4. Nxb Sử học, Hà Nội, tr.12.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn (1962). Đại Nam thục lục chính biên. Tập 11. Sđd, tr. 30.

[4] Nội các triều Nguyễn (1993). Khâm định Đại hội điển sự lệ. Tập 13. Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện sử học. Nxb Thuận Hoá, Huế, tr.215.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn (1962). Đại Nam thực lực chính biên. Tập 4. Sđd, tr.70.

[6] Nội các triều Nguyễn (1993). Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ. Tập 9. Viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện Sử học. Nxb Thuận Hoá, Huế, tr. 548

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn (1962). Đại Nam thực lực chính biên. Tập 4. Sđd, tr.70

1 Đỗ Văn Ninh (1983). Thành cổ Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.129.

[9] Nội các triều Nguyễn (1993). Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ. Tập 13. Nxb Thuận Hoá, Huế, tr.144

[10] Quốc sử quán Triều Nguyễn (1992). Đại Nam nhất thống chí. Tập 1. Nxb Thuận Hoá, Huế, tr 117

[11] Quốc sử quán Triều Nguyễn. Đồng Khánh dư dịa chí lược. Dịch giả Văn Thanh, bản đánh máy lưu tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị.

1 Quốc sử quán Triều Nguyễn (1962). Đại Nam thực lục chính biên. Tập 18. Nxb Sử học, Hà Nội, tr.296.

[12] L Cadièreet H.Cosserat (1914). Les Postes militares du Quang Tri et du Quang Binh en 1885 - 1890. (Các đồn binh ở Quảng Trị và Quảng Bình từ 1885 - 1890). B.A.V.H. Số 1, tr.14.

[13] Bộ quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam. “Tổng kết tác chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972”. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 25 - 26.

[14] Nguyễn Bình (2003). “Thành Quảng Trị trong tiến trình lịch sử dân tộc”. Tlđd, tr. 153.

[15] Tài liệu mật, Điện số 118 (10-7) 144 (18-7) 173-174, 233 ĐK (8-72) tại Ban sử LLVT Quảng Trị. Dẫn theo: Nguyễn Lộc (1990), “Phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân Quảng Trị năm 1972”, lưu tại Phòng tư liệu, khoa Lịch sử, Trường Đại học khoa học Huế, tr. 92.

[16] Bộ quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam. Tổng kết tác chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Sđd, tr. 47.

[17] Bộ quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam. Tổng kết tác chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Sđd, tr. 47.

[18] Bộ quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam. Tổng kết tác chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Sđd, tr. 51.

[19] Bùi Công Ái - Trần Tiến Hoạt. Quảng Trị 1972. Sđd, tr. 119 - 120.

[20] Sở Văn hóa Thông tin - Bảo tàng Quảng Trị (2004). “Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tỉnh Quảng Trị”. Sở VHTT Quảng Trị xuất bản, tr. 66.

[21] Trương Minh Tuấn (2012). “Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - biểu tượng sáng ngời về ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”. Tỉnh ủy Quảng Trị - Bộ quốc phòng. 40 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị và chiến đấu bảo vệ Thành cổ (1972 - 2012). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 492.

Edited by user Saturday, September 25, 2021 12:01:03 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#10 Posted : Saturday, September 25, 2021 11:29:46 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ VÀ NHỮNG ĐỊA ĐIỂM LƯU NIỆM
SỰ KIỆN 81 NGÀY ĐÊM NĂM 1972


2. DI TÍCH NGÃ BA VÀ NHÀ THỜ LONG HƯNG

Di tích Ngã ba Long Hưng và nhà thờ Long Hưng nằm bên trục quốc lộ 1A, thuộc địa phận làng Long Hưng, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, cách thành phố Đông Hà - trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị chừng 15km về hướng nam, cách trung tâm huyện chừng 7 km về hướng bắc, cách Thành cổ Quảng Trị 2 km về hướng đông nam.

Ngã ba và nhà thờ Long Hưng là những trận địa chốt của lực lượng chủ lực Quân Giải phóng trong cuộc chiến đấu chống phản kích tái chiếm, bảo vệ thị xã Quảng Trị 81 ngày đêm năm 1972.

UserPostedImage

Chứng tích nhà thờ Long Hưng (Ảnh Yến Thọ)

Ngay sau khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở cuộc phản kích tái chiếm Thành cổ và thị xã Quảng Trị theo hai hướng chính thì trên hướng chủ yếu theo Quốc lộ 1 (Sư đoàn dù (gồm 3 lữ đoàn), tăng cường 2 thiết đoàn cơ giới, 1 tiểu đoàn pháo 155mm) thì chỉ sau một thời gian ngắn từ 28-6 đến 3-7-1972, lực lượng quân VNCH đã nhanh chóng đánh chiếm lại các vùng giải phóng rộng lớn tại Bắc sông Mỹ Chánh, Thượng Xá, Nam sông Nhùng và các điểm cao 28, 105 (hướng Tây) tạo nên thế bao vây tấn công vào thị xã Quảng Trị.

Xác định Ngã ba và nhà thờ Long Hưng nằm trên hướng tấn công chủ yếu của quân lực VNCH nên ngay sau khi mở cuộc phản kích, ngày 30-6-1972, Phó tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh Mặt trận Trị - Thiên - Thiếu tướng Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ: “Trung đoàn 48 cùng với tỉnh đội Quảng Trị tổ chức phòng thủ khu vực La Vang, Tích Tường, Ngã ba Long Hưng, nhà ga Quảng Trị, Trí Bưu dùng chướng ngại vật kết hợp với hỏa lực tổ chức chiến đấu chặt chẽ, kiên quyết không cho địch lọt vào thị xã. Ban chỉ huy Trung đoàn phải trược tiếp tổ chức, đôn đốc, kiểm tra mọi mặt việc xây dựng các trận địa trong khu vực phòng thủ đảm bảo khẩn trương và chiến đấu có hiệu quả cao nhất” [1].

Về không gian diễn ra cuộc chiến trên trận địa chốt Ngã ba Long Hưng kéo dài từ ngã ba đi nhà thờ La Vang cách cầu Nhùng khoảng 1km về phía bắc, cách thị xã Quảng Trị khoảng 2 km về hướng đông nam, thuộc địa phận làng Long Hưng, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng đến phía nam cầu Trắng. Trên không gian này có hệ thống kênh mương tưới tiêu nhỏ đan xen đi qua khu vực ngã ba thuận tiện cho Quân Giải phóng khi tổ chức bố phòng, có nhà thờ Long Hưng nằm ngay bên trục quốc lộ 1A là những công trình được xây dựng kiên cố, có gác chuông cao thuận lợi cho dùng làm nơi trú ẩn, làm công sự chiến đấu cũng như đài quan sát xung quanh khu vực. Ngoài ra, còn có các tuyến đường nối quốc lộ 1A đi La Vang, Tích Tường, Như Lệ... Đây cũng chính là hướng có điều kiện thuận lợi để triển khai binh hoả lực lớn trên Quốc lộ 1.

Với vị trí rất quan trọng án ngữ trên trục quốc lộ và trên trục đường đi vào thị xã và Thành cổ mà cả hai phía luôn quyết tâm đánh chiếm; nếu bên nào làm chủ được địa điểm này sẽ làm chủ được hướng tiến công vào thị xã từ hướng nam và đông nam.

Về phía quân lực VNCH, ngay sau khi mở cuộc phản kích tái chiếm Thành cổ và thị xã Quảng Trị, lấy hướng đường số 1 làm hướng tấn công chủ yếu và do Lữ đoàn 2 dù đảm nhiệm có xe tăng, máy bay B52, pháo binh hỗ trợ chi viện. Thực hiện âm mưu tiến công ồ ạt nhằm “đánh nhanh thắng nhanh” tiến thẳng vào Thành cổ và thị xã Quảng Trị, chỉ đạo chung của Quân dù ở đường số 1 và cánh phía tây do Tư lệnh Lê Quang Lưỡng, Lữ đoàn dù 2 là Lữ đoàn đầu tiên của quân lực VNCH được Trung tướng Ngô Quang Trưởng - Tổng Tư lệnh Quân đoàn 1 chiến thuật giao nhiệm vụ cắm cờ lên toà Thành cổ Quảng Trị.

Về phía Quân Giải phóng, thực hiện chủ trương của Tư lệnh Mặt trận, tại trận địa chốt Ngã ba Long Hưng giao cho Trung đoàn 48, Sư 320B chỉ huy và bố trí lực lượng. Từ 3 - 10-7-1972, Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48 được giao nhiệm vụ chốt giữ phía nam ngã ba (phía đông La Vang), cách cầu Nhùng 1km về phía bắc, làm nhiệm vụ đánh địch từ xa. Từ ngày 28-6 đến cuối tháng 7-1972, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48, Sư 320B vào thay.

Trong thời gian dài giữ chốt từ đầu tháng 7 đến kết thúc cuộc chiến 81 ngày đêm năm 1972, trên địa bàn Ngã ba Long Hưng đã diễn ra nhiều trận chiến đấu trong đó có những trận tiêu biểu như: Trận đánh mở màn ngày 3-7-1972, trận đánh quyết liệt nhất vào ngày 12-7-1972.

Ngày 28-6-1972, cuộc hành quân phản công tái chiếm lấy mật danh “Lam Sơn 72” bắt đầu thì chỉ sau một thời gian ngắn, đến ngày 3-7-1972 cánh Quân dù của tiểu đoàn 11, Lữ đoàn 2 trên đường số 1 thuộc hướng tiến công chính đã đến Thượng Xá, Nam sông Nhùng. Tại đây, Quân dù nhanh chóng củng cố thế đứng chân. Đến 6h ngày 3-7, Quân dù vượt cầu Nhùng tiến công vào phía nam ngã ba Long Hưng (đoạn giáp đường sắt, phía Đông nam La Vang) do 1 trung đội của Đại đội 11, Tiểu đoàn 3 chốt giữ. Sau hơn 1 giờ dùng máy bay và pháo bắn vào trận địa chốt của Quân Giải phóng, đại đội đi đầu của quân VNCH có xe tăng chi viện, xông lên chốt. Các chiến sĩ Quân Giải phóng vượt qua bom đạn ác liệt, kiên trì chờ quân VNCH tiến vào thật gần mới đồng loạt nổ súng. Bị tấn công bất ngờ nên đã có 43 quân VNCH bị diệt ngay trước trận địa. 8h cùng ngày, Quân dù buộc phải rút lui. Sau thất bại, quân VNCH lùi ra xa, dùng hoả lực bắn phá liên tục vào trận địa, chuẩn bị cho đợt tấn công mới. 14h quân VNCH tiếp tục tiến công. Sau các đợt tấn công, Quân dù không chiếm được chốt của Đại đội 11, mà còn bị thiệt hại nặng. Đến 18h chúng phải rút lui ra xa, dùng hoả lực, phi pháo đánh vào trận địa. Trước sức mạnh của hoả lực quân VNCH, Quân Giải phóng bị thiệt hại nặng, thương vong 12 người, hết đạn sau một ngày liên tục chiến đấu; hơn nữa do địch bắn phá ác liệt kéo dài nên lực lượng còn lại phải rút về phía sau. Đây là trận đánh đầu tiên của lực lượng bảo vệ thị xã.

Sau thất bại trận đầu tiên đánh vào phía nam Ngã ba Long Hưng, quân VNCH đã chuyển hướng mở các cuộc tấn công vào những điểm Quân Giải phóng chưa bố trí được lực lượng chốt giữ như Đại Nại, An Thái và đã nhanh chóng lấy được khu vực này làm uy hiếp thị xã ở hướng đông nam. Trước tình hình đó, ngày 6-7-1972, Trung đoàn 48 điều Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 xuống chốt chặn Ngã ba Long Hưng. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, Đại đội 5 đã tập trung xây dựng lại trận địa chốt, bố trí lực lượng, chuẩn bị mọi công tác cho tác chiến lâu dài.

Sau hơn 10 ngày tác chiến, quân lực VNCH dồn hết sức tiến công nhưng cuộc hành quân “Lam sơn 72” vẫn không đạt kết quả mong muốn; trong khi đó, thời gian hội đàm Paris đang đến gần. Trước tình hình đó, Mỹ và chính quyền VNCH đã chỉ thị cho cấp dưới bằng mọi giá phải cắm cờ lên toà Thành cổ trước ngày 13-7-1972.

Thực hiện chỉ đạo cấp trên, sáng 10-7, quân VNCH tập trung một lực lượng lớn gồm bộ binh và xe tăng ở các khu vực làng Đại Nại, An Thái trên đường số 1 nhằm tiến nhanh đến thị xã Quảng Trị.

Về phía Quân Giải phóng, Ban Chỉ huy yêu cầu các trận địa pháo của chiến dịch cùng hoả lực của các đơn vị phòng ngự chuẩn bị mọi lực lượng đánh lại các đợt tiến công. Chốt ngã ba Long Hưng lúc này do Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 chốt giữ nằm trên tuyến hành quân quan trọng của quân VNCH. Ngày 10-7, nắm lấy thời cơ pháo Quân Giải phóng bắn, quân VNCH đang rối loạn, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 đã tiến hành xuất kích đẩy lực lượng quân VNCH ra khỏi Long Hưng, tạo thế bố trí chốt giữ vững chắc ở một ngã ba quan trọng trên .

Sau đợt tập kích ngày 10-7, phán đoán tình hình quân VNCH sẽ tăng cường lực lương và phi pháo tiếp tục mở cuộc tiến công trên các hướng để vào thị xã, Quân Giải phóng tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, sửa sang lại hầm hào trận địa chốt. Theo kế hoạch ngày 12-7-1972 (trước ngày họp bàn tại hội nghị Pari), chính quyền VNCH tập trung binh hoả lực với mật độ cao nhất để thực hiện âm mưu “tái chiếm thị xã Quảng Trị”. Trên tuyến quốc lộ 1A phía đông nam thị xã Quảng Trị, Lữ đoàn dù 2 kết hợp xe tăng tổ chức tiến công vào La Vang, Long Hưng. Trước khi Quân dù tiến công, hàng loạt máy bay B52, pháo từ Đại Nại (khu vực giáp Long Hưng đã bị quân đội VNCH chiếm lại), pháo từ hạm đội ngoài khơi bắn vào tới tấp đã là cho một số hầm hào của quân giải phóng sạt lỡ, chiến sĩ bị thương... Sau đợt máy bay rải thảm, pháo dọn đường, sáng ngày 12-7-1972, khoảng một trung đội lính VNCH có xe tăng tiến vào chốt ngã ba Long Hưng. Lúc này, Đại đội 5 của Quân Giải phóng chỉ còn 30 tay súng chốt giữ. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Kết quả sau một ngày chiến đấu, Đại đội 5 đã đẩy lùi các đợt tấn công của quân VNCH, giữ vững trận địa chốt ngã ba Long Hưng, ngăn chặn âm mưu tái chiếm Thành cổ và thị xã Quảng Trị trong thời gian ngắn.

Sau khi được giao nhiệm vụ tiến nhanh theo quốc lộ 1A vào cắm cờ lên toà Thành cổ, Lữ đoàn dù của quân lực VNCH không thể thành công khi chưa qua được chốt ngã ba Long Hưng của Quân Giải phóng. Chính vì vậy, những ngày tháng tiếp theo trên chốt ngã ba Long Hưng tiếp tục diễn ra nhiều trận chiến ác liệt giữa hai bên.

Từ cuối tháng 7, sau nhiều đợt tấn công vào Ngã ba Long Hưng của Sư đoàn dù không thành, đến ngày 27-7-1972, Tướng Ngô Quang Trưởng phải rút Sư đoàn dù ra củng cố và đưa Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến vào tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Sau khi vào thay Quân dù, Thuỷ quân lục chiến tập trung lực lượng quân, phương tiện tấn công lên La Vang, Tích Tường, Như Lệ, đánh xuống đường sắt, đường số 1, qua Long Hưng, nhà ga,... bao vây thị xã Quảng Trị ở hướng tây nam. Cũng trong thời gian này, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48 rút lui về chiến đấu tại Tri Bưu và góc đông bắc Thành cổ, toàn bộ cánh phía nam và tây nam giao cho Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 đảm nhận. Tiểu đoàn 88 tổ chức lực lượng mở nhiều đợt tấn công sự “lấn dũi” của Lính thuỷ đánh bộ vào Long Hưng, tiếp tục bảo vệ Thành cổ và thị xã Quảng Trị ở sườn nam và tây nam. Tuy nhiên, thời gian này, trên các trận địa chốt không còn diễn ra những trận đánh quyết liệt vì hội đàm Paris đang tạm dừng và hơn nữa cả hai phía cũng chịu nhiều thiệt hại cần củng cố.

Đến cuối tháng 8, đầu tháng 9, lợi dụng thời tiết đầu mùa mưa bão, nước các sông dâng cao làm ngập toàn bộ thị xã gây nhiều khó khăn cho Quân Giải phóng, quân VNCH đã đẩy mạnh hoạt động phi pháo vào các trận địa chốt của Quân Giải phóng và nhanh chóng vào được nhiều khu vực trong thị xã, buộc Quân Giải phóng phải rút lực lượng vào phòng thủ tại thị xã và Thành cổ. Đến đây, các trận địa chốt vòng ngoài như ngã ba và nhà thờ Long Hưng đã không còn giữ vai trò quan trọng.

Như vậy, sau gần 2 tháng bám trụ, những chiến sĩ chốt giữ trận địa ngã ba Long Hưng mặc dù phải đương đầu với đội quân VNCH có hỏa lực mạnh, lại phải chiến đấu trong một điều kiện hết sức khó khăn, thiếu thốn nhưng các chiến sĩ quân giải phóng vẫn không một phút ngơi nghỉ, kiên quyết không cho một tên địch lọt vào thị xã. Trong thời gian chiến đấu, các chiến sĩ trên chốt Ngã ba Long Hưng đã thực sự trở thành “lũy thép” kiên cường trên một ngã ba được mệnh danh là “Ngã ba bom”, “Ngã ba lửa”. Ở đây họ đã nêu những tấm gương cảm tử cho Thành cổ Quảng Trị, cho sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc.

Ngã ba và nhà thờ Long Hưng cùng với những trận địa chốt khác trong cuộc chống phản kích bảo vệ Thành cổ 81 ngày đêm đã đi vào lòng người dân Quảng Trị niềm kính phục và tự hào về những chiến công bất diệt.

Để ghi dấu chiến công và tưởng nhớ các chiến sỹ đã hy sinh bảo vệ trận địa chốt ngã ba Long Hưng, Sư đoàn 320B đã cùng với ngành VHTT Quảng Trị đã xây dựng đài chiến thắng.

UserPostedImage

Bia đài tại di tích Ngã ba Long Hưng (Ảnh Yến Thọ)

Nhà thờ Long Hưng hiện nay không còn sinh hoạt tích ngưỡng. Toàn bị khung hình với những bức tường loang lỗ dấu vết bom đạn đang được bảo tồn làm chứng tích chiến tranh.

Di tích ngã ba và nhà thờ Long Hưng là một trong 07 di tích thành phần thuộc di tích “Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972” được Thủ tướng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 2383QĐ-TTg ngày 09/12/2013.

Nguyễn Thị Thanh Bình

Edited by user Saturday, September 25, 2021 11:37:14 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.