Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
UyenVy  
#1 Posted : Monday, March 28, 2011 10:29:36 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 541 time(s) in 369 post(s)
UserPostedImageUserPostedImage

Tuấn Khanh Và Giấc “ Mộng Đêm Xuân”

Xuân vừa về trên bãi cỏ non…
Nghe câu hát ấy của Phạm Duy, ta nghe mùa xuân về đâu đó quanh đây, về trên những thảm cỏ xanh mướt, về trên những bông hoa dại đủ sắc mầu dọc theo con đường chúng ta đi.

Mùa xuân như đến gần thêm chút nữa khi ta nghe câu hát của Tuấn Khanh.
Em ơi xuân đến bên thềm rồi…
(Mùa Xuân Đầu Tiên)

Mùa xuân đến thật gần. Mùa xuân đã đến bên thềm, mùa xuân đã đến bên em.
Nghe câu hát, tưởng chừng nghe được cả tiếng bước mùa xuân, nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài lướt thướt của “nàng xuân” chạm vào những bậc thềm cửa, nghe được cả tiếng động nhè nhẹ trong câu lục bát Trần Dạ Từ, phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà.

“Anh nằm nghe bước em lên
Ngoài song lá động, trên thềm áo bay”
(Khi Nàng Đến)
Mùa xuân đến thật gần.
Xuân của đất trời, xuân trong lòng người.
Nỗi buồn ướp men say

Nghe những bài nhạc Xuân quen thuộc của các nhạc sĩ quen tên, tôi nhận ra một điều, mỗi “nàng xuân” của mỗi chàng nhạc sĩ có một vẻ đẹp riêng, những nét quyến rũ riêng.
Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh là “Xuân mộng”, dắt ta đi vào những giấc mộng êm đềm, đi vào những giấc mơ tràn đầy mùa xuân tình ái của lứa đôi.

Nghe tiếng xuân về tim rộn rã
cho ước mơ thành những vần thơ…
(Mộng Đêm Xuân)
Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh còn là mùa xuân tao ngộ, mùa xuân tương phùng sau những cách ngăn, chia lìa qua bao tháng năm dài biền biệt.
Hết rồi mùa chia ly
cho tình xuân vừa ý…
(Mùa Xuân Đầu Tiên)

Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh rất gần với mùa xuân của thi nhân.
“Ai bảo em là giai nhân
cho lệ tràn đêm xuân
cho tình tràn trước ngõ
cho mộng tràn gối chăn”

Những “lệ tràn đêm xuân” và những giấc mộng vàng, mộng đẹp ấy không chỉ có trong những câu thơ Lưu Trọng Lư thôi mà ta còn nghe được cả trong những câu hát của Tuấn Khanh nữa.
Mộng về một đêm xuân sang
em thì thầm ngày đó thương anh…
Mộng tràn ngập đêm trăng sao
sao đầy trời từng chiếc lấp lánh…

Những câu hát ấy ở trong bài “Chiếc lá cuối cùng”, một trong những ca khúc gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Tuấn Khanh, từng được nhiều ca sĩ trình bày nhất, được nhiều trung tâm băng, dĩa nhạc thu âm nhất và tất nhiên, được nhiều người yêu thích nhất.
Tại sao lại là “chiếc lá cuối cùng”? Không rõ là cái tựa của bài hát ấy và câu chuyện Chiếc Lá Cuối Cùng của nhà văn Mỹ nổi tiếng O’Henry có mối liên hệ nào(?).

Điểm tương đồng là cả bài hát lẫn câu chuyện đều buồn bã như nhau, và cả người họa sĩ trong câu chuyện ấy lẫn người nhạc sĩ trong bài hát ấy đều có những đêm thức trắng, những đêm dõi mắt trông chờ chiếc lá cuối cùng sẽ lặng lẽ lìa cành trong đêm lạnh vắng.
Chiếc lá cuối cùng rụng xuống là thời khắc cô bé trong câu chuyện ấy sẽ phải từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác, cũng là thời khắc hai kẻ yêu nhau trong bài hát ấy sẽ phải nói lời chia tay.
Lá trên cành một chiếc cuối bay xa…

Nghe “Chiếc lá cuối cùng”, ta nghe một nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ.
“Chiếc lá cuối cùng” là chuyện tình trái ngang, là mối duyên không thành, là tìm quên trong men rượu, là tiếc nhớ những ngày vui đã xa như dĩ vãng.

Rồi một chiều xuân thơ trinh
cho lòng mình về với dĩ vãng…
“Chiếc lá cuối cùng” là nỗi đau tê dại của trái tim rạn vỡ, là nỗi sầu chìm ngập trong men rượu, là nỗi-buồn-ướp-men-say.
Đã có bao nhiêu ca sĩ từng hát “Chiếc lá cuối cùng” kể từ khi bài hát ra đời (1962), kể từ khi người ta nghe Thái Thanh hát lên lần đầu tiên, tác giả bài hát không sao nhớ hết, không kể ra hết được.

Gần đây nhất, các ca sĩ trẻ ở trong nước cũng đã tìm đến bài hát ấy, cũng đã cất giọng “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng?...”
Bài hát có một đời sống thật là dài và vẫn luôn “mới”, luôn làm rung động những trái tim.
Đã có bao nhiêu là giai thoại về những người yêu “Chiếc lá cuối cùng”, như một nhạc sĩ Tuấn Khanh… khác ở trong nước đã đặt tựa cho một sáng tác của mình là…

“Chiếc lá đầu tiên”, hay như một người làm thơ đã cảm tác “Chiếc lá cuối cùng” để sáng tác bài thơ dài đến hơn trăm câu, mỗi câu bắt đầu bằng một hoặc hai chữ của trọn bài hát ấy.
. . . . .
Mộng về dưới bóng hoàng lan
một đêm trăng ngọt hương tràn môi xinh
xuân sang thắm lối ân tình
em duyên như nụ hoa quỳnh, trao nhau
thì thầm tiếng nhớ ngàn sau…

Đã có bao nhiêu người tìm gặp được mình, tìm gặp những nỗi niềm “trắng đêm tâm sự” của mình trong bài hát ấy. Bài hát, có phải vì lẽ ấy, đã ở lại về lâu về dài trong lòng người?
Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang
Thật ít có ai sử dụng chữ “chở” tuyệt vời đến như thế!
Trong những câu hát của Tuấn Khanh ta vẫn nhặt ra được những câu thơ đẹp như thế, những chữ và nghĩa hay đến như thế, như là những chữ “vội vã”, “len lén”, “quấn quýt”, “lẻ loi”…

Sao khi chia ly hôn em một lần vội vã
Đêm đêm heo may len lén vào hồn tìm nhau
Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt
cho đêm không mơ, cơn mơ lẻ loi

Những câu hát ấy–hay những câu thơ ấy–ở trong bài “Nỗi niềm” của nhạc sĩ Tuấn Khanh.
Từng ngày trôi qua tim em héo úa...
“Nỗi niềm” là nỗi buồn héo hắt đến rã rượi.
Những lời tình ta nghe được trong bài hát ấy như là tiếng thở dài não nuột của một người yêu. Nói “như là” vì lẽ, những lời ấy là “nỗi niềm” tâm sự của người vợ hiền, là nỗi lòng cô phụ những đêm dài trằn trọc, những đêm vò võ một mình một bóng, sau phút chia tay vội vã, tiễn chồng và các con lên đường… vượt biên.

Nên em cô đơn những đêm về sáng…
Anh ơi, đêm nay em nghe trống vắng buồn tênh…
Nghe “Nỗi niềm” mà nghe lòng chùng xuống, mà nghe tim thắt lại.

“Nỗi niềm”, nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết, là “Hoa soan bên thềm cũ” nối dài. Những lời thơ ý nhạc gửi gấm trong hai ca khúc ấy đều như lời hẹn ước gửi đến người bạn đời đầu gối tay ấp của ông.
Em nhé, mình thương nhau muôn đời…
(Hoa Soan Bên Thềm Cũ)
Xin cho đêm đêm tình đầy mộng say… (Nỗi Niềm)

“Nỗi niềm”, trong một nghĩa nào đó, cũng là “Chiếc lá cuối cùng” nối dài. Cũng là nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ, cũng là giai điệu chầm chậm, buồn buồn đến rã rời ấy. Có khác chăng, nỗi cách chia người yêu đổi thành nỗi chia lìa chồng vợ.
“Giàn hoa tím xưa chưa phai”

Dường như trong mỗi nhạc sĩ của chúng ta đều có ít nhiều một chàng thi sĩ. Nhờ vậy, chúng ta mới có được những câu hát thật là thơ, thật là đẹp.
Tôi vào vườn xưa
gặp em tóc buông vai gầy
thẹn thùng nhìn tôi ngỡ trong giấc mơ…

Nghe những câu hát như thế, ta nghe được cả những ý thơ.
Câu hát ấy ở trong bài nhạc có một mầu tím vấn vương của Tuấn Khanh, “Dưới giàn hoa cũ”, được ông sáng tác cách đây đúng năm mươi năm.
Nghe lại bài hát ấy, sau nửa thế kỷ, sau bao vật đổi sao dời, vẫn nghe lòng lâng lâng như “ngỡ trong giấc mơ”, vẫn nghe một nỗi xao xuyến, bâng khuâng như “thuở ban đầu” của bài hát, như mối tình đầu thường khó phai.
Nỗi xao xuyến, bâng khuâng ấy bàng bạc hầu hết trong các bài hát, trong từng lời ca ý nhạc của Tuấn Khanh.

Một hôm bước lần theo lối cũ tôi về
thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai…

Bài hát như mẩu tự truyện của người nghệ sĩ ấy. Dường như mỗi bài nhạc của ông là mỗi câu chuyện kể, là câu chuyện thật; nói đúng hơn, là câu chuyện tình.

Lòng tôi vẫn còn ghi mãi phút êm đềm
thềm hoa chia tay lúc trăng đang lên
Hẹn tôi, “Đến một mùa se thắm duyên lành,
ngắt bông hoa tím trên cành trao anh.”

Những chuyện tình ấy thường dẫn đến một kết thúc “êm đềm”.
Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm
vầng trăng thu soi mắt em long lanh…
Nếu ở Hoàng Trọng là “Trời buồn đem mây tím về chơi vơi…”

(Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím), ở Nguyễn Hiền là“Nhớ nhau khi mây vương vương màu tím…”
(Ngàn Năm Mây Bay) thì ở Tuấn Khanh là…

Những chiều buồn mây tím xây thành
có thương hoa thắm mong chờ không anh?

Edited by user Sunday, May 29, 2011 8:40:14 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#2 Posted : Monday, March 28, 2011 10:38:42 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 541 time(s) in 369 post(s)
Cũng là mầu mây tím, cũng là một mầu tím vời vợi, cũng là những nét nhạc lâng lâng, êm êm nhưng là những dòng nhạc không lẫn vào nhau được.

Nét nhạc Hoàng Trọng nghe man mác như ngọn gió heo may lay động mặt nước hồ thu, nét nhạc Nguyễn Hiền nghe mênh mang, đẹp và buồn như bức tranh thủy mạc, trong lúc nét nhạc Tuấn Khanh nghe xao xuyến, bâng khuâng, và có thoáng e ấp, ngại ngùng như “nụ hoa vừa hé”, như “đôi môi xinh” của “người em nhỏ bé mộng mơ”
(Mùa Xuân Đầu Tiên).

“E ấp, ngại ngùng” nên chàng trai chỉ “thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai”, cô gái chỉ thầm hỏi “Có thương hoa thắm mong chờ không anh?”

Trong những câu hát của Tuấn Khanh, ta vẫn nghe được những lời tỏ tình thầm kín như thế, những lời tỏ bày nhiều ẩn dụ và chan chứa những tình ý yêu đương như thế.
Chàng nhạc sĩ ấy không nói “Có thương người em nhỏ đợi chờ?” như ta vẫn thường nghe, thường gặp, mà nói… “Có thương hoa thắm mong chờ không anh?”

Chàng nhạc sĩ ấy cũng không nói “hương sắc phai tàn”, hay “tình yêu nhạt phai”, hay “lòng thủy chung qua bao tháng đợi năm chờ” mà nói… “giàn hoa tím xưa chưa phai”.

Tình yêu ấy thật nhẹ nhàng, thật tha thiết và đẹp như những cánh hoa mầu tím mỏng manh, lay động trong nắng sớm, trong gió chiều. Mầu hoa tím bâng khuâng và luôn có chút vấn vương.

Hoa nào đợi chờ không phai sắc hương
Ngày tàn không gieo nhớ thương
Dặm trường không gây vấn vương
Mầu tím, mầu của định mệnh.
Bài hát ấy đã như một định mệnh.
Đời tôi đã nhiều lần vui bước phong trần
gió lùa xao xuyến tim đơn chiếc thân…

Câu hát ấy,” nhạc sĩ Tuấn Khanh nói, “đã ‘ứng nghiệm’ vào tôi.” Chàng nghệ sĩ ấy, con người lãng tử ấy đã sống kiếp nổi trôi lang bạt kỳ hồ, kể từ ngày đơn thân độc mã khoác cây đàn lên vai, một mình vượt tuyến vào Nam năm 22 tuổi, hành trang chỉ vài bộ quần áo, vài tập sách nhạc và… chiếc đàn vĩ cầm không lúc nào rời chàng.

“Hoa soan bên thềm cũ”, ra đời ít năm trước “Dưới giàn hoa cũ”, cũng là câu chuyện kể, là câu chuyện tình mùa ly loạn mà giới yêu nhạc cuối thập niên 50’s và đầu thập niên 60’s hầu như không ai lại không biết đến.

Như bao lớp trai theo nhau lên đường, chàng trai phải giã biệt làng quê, giã biệt tình đầu vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi.
Người đi nói với người ở lại những lời nhắn nhủ, vỗ về thiết tha, ân cần.
Đừng buồn khi xa nhau em nhé,
thăm em đôi ngày rồi anh đi…
Người lính chiến dừng chân phút giây thôi, rồi lại lên đường, rồi lại miệt mài đi khi quê hường còn tiếng súng.
Chuyện tình mùa chinh chiến mang nhiều nỗi vấn vương “như hương hoa soan dâng bên thềm” trong buổi chiều vàng.
Người lính chiến luôn giữ chắc tay súng, không chỉ “giữ gìn biên cương xa vời” mà còn giữ gìn cho tình yêu bền chặt, không nhạt phai theo tháng năm..

Một chi tiết khá thú vị, trong lần ấn hành đầu tiên (nxb An Phú, 1956), một câu hát trong bản nhạc “Hoa soan bên thềm cũ” được in nhầm là “như hương hoa soan vang bên thềm”. Một số ca sĩ đã hát theo như thế (và nhiều ca sĩ đến nay vẫn hát như thế).
Một số ca sĩ nhận ra chỗ sai ấy (“hương hoa” thì không thể “vang” được), bèn đổi chữ “vang” thành chữ “vàng” (vẫn cứ… sai, vì “hương hoa” thì không thể… xanh đỏ tím vàng được).

Một số ca sĩ khác đổi lại là “như hương hoa soan vương bên thềm”, nghe hợp lý hơn, nhưng vẫn cứ… sai. Câu hát đúng, tác giả Tuấn Khanh cho biết, là “nhưhương hoa soan dâng bên thềm”.

Chữ “vương” đã hay, chữ “dâng” lại hay hơn. Thật khó mà có thể nghĩ ra, tìm ra được chữ nào hay hơn thế.
“Người kể chuyện mình”, có thể gọi nhạc sĩ Tuấn Khanh bằng cái tên ấy, qua những bài nhạc gắn liền với tên tuổi ông. Từ “Hoa soan bên thềm cũ” đến “Dưới giàn hoa cũ”, đến “Chiếc lá cuối cùng”, đến “Quán nửa khuya”, đến cả những bài nhạc về sau này như “Nỗi niềm”, “Nhạt nhòa”…

Có khi chỉ nghe qua cái tựa của bài nhạc thôi, như “Hai kỷ niệm, một chuyến đi”, “Đêm này nghỉ đỡ chân”… người ta cũng hiểu được đấy là những câu chuyện buồn vui được ông kể lại bằng lời ca tiếng nhạc.
Những câu chuyện kể trong nhạc Tuấn Khanh thường là “chuyện hai người”, thường là những lời tình thật tha thiết, thật dịu dàng “hai người” nói với nhau.

Em nhé mình thương nhau muôn đời
Anh giữ gìn biên cương xa vời…
(Hoa Soan Bên Thềm Cũ)
Nhìn nhau khẽ nói câu
“Thời gian trôi qua mau
không phai lạt đâu…”
(Một Chiều Đông)

Tuấn Khanh, ông đã phơi trải lòng mình qua những dòng kẻ nhạc, đã dẫn dắt người nghe đi vào những câu chuyện lòng qua những giai điệu đằm thắm, ngọt ngào.
Ngồi bên lửa bếp gia đình êm ấm
lặng nghe anh kể cuộc đời buồn vui…
(Chiều Biên Khu)
Câu hát ấy rất gần với câu hát của Phạm Duy, một “người kể chuyện mình” khác, kể về những buồn vui đời lính bên bếp lửa hồng trong ngày trở về của người chiến binh.
Ngày trở về, trong bếp vui
anh nói chuyện nghe, chuyện đời chiến sĩ
sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê…
(Ngày Trở Về)
Nghe nhạc Tuấn Khanh, người ta như nghe được những nỗi niềm và những rung cảm của trái tim ông.
Chính từ những rung cảm của trái tim, chính từ những rung cảm chân thực ấy, những ca khúc của ông đã chạm được tới trái tim người nghe.

“Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt”
Những người yêu nét đẹp trong nhạc tiền chiến cũng sẽ dễ dàng yêu thích những khúc “nhạc tình muôn thuở” của Tuấn Khanh như là “dòng nhạc tiền chiến nối dài”.
Một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc “lãng mạn tiền chiến”, nhạc sĩ Tô Vũ, cũng đã yêu những khúc nhạc tình ấy.
Tác giả “Em đến thăm anh một chiều mưa” đã tìm đến ông như tìm đến mối đồng cảm trong nhạc Việt, như tìm đến mối duyên tri ngộ giữa hai tâm hồn đồng điệu.

Sao gọi là “đồng điệu”? Hai chàng nghệ sĩ cùng chia sẻ mối đồng cảm về tínhthẩm mỹ trong âm nhạc và nghệ thuật. Hai chàng nghệ sĩ cùng “kể chuyện mình” bằng những giai điệu lâng lâng như ướp chút men say của tình yêu, và bằng những lời nhạc đẹp như lời thơ.

Ở Tuấn Khanh là:
Chiều nay buồn tôi đi tìm ý…
(Mộng Đêm Xuân)
Ở Tô Vũ là:
Ta đi tìm thơ muôn phương…
(Tạ Từ)
Ở Tuấn Khanh là:
Đồi núi chiều nay mây vương ngợp trời…
(Buồn Đêm Vắng)
Khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi…
(Hoa Soan Bên Thềm Cũ)
Ở Tô Vũ là:
Ta ước mơ một chiều thêu nắng
em đến chơi quên niềm cay đắng
và quên đường về…
(Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

(“Chiều thêu nắng”, trước Tô Vũ, tôi chưa hề nghe nhà thơ nào nói như thế. Chỉ có những “chiều vương nắng”, “chiều buông nắng”..., hoặc “đất thêu nắng” trong câu thơ Huy Cận.

“Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng
Lần lượt buông màn nhẹ vướng chân lâu” / Đi Giữa Đường Thơm)
Ở Tô Vũ là kỷ niệm êm đềm về một đôi mắt, một tà áo:
Em đến thăm anh người em gái,
tà áo hương nồng
mắt huyền trìu mến
sưởi ấm lòng anh…
(Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

Ở Tuấn Khanh cũng có một đôi mắt như thế:
Vầng trăng thu soi mắt em long lanh…
(Dưới Giàn Hoa Cũ)
Tại mình còn yêu, tại mình còn thương đôi mắt lạ thường…
(Nhạt Nhòa)
Và một tà áo như thế:
Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo…
(Từ Đó Khôn Nguôi)
Ở Tô Vũ cũng có một người “bồi hồi” đứng nhìn theo như thế:
Lòng bồi hồi nhìn theo chân em chìm trong ngàn xanh…
(Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

Trong câu hát của Tuấn Khanh có chữ “dâng” thật là đẹp:
Nay qua đau thương yên bình rồi
tình ta lên hương ngát
như hương hoa soan dâng bên thềm…
(Hoa Soan Bên Thềm Cũ)
Trong câu hát của Tô Vũ cũng có chữ “dâng” thật là đẹp:
Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh,
gió dâng khúc đàn thanh bình
ta đi tìm thơ muôn phương…
(Tạ Từ)

Cả hai chàng nhạc sĩ đều là “người kể chuyện mình”. Ở Tuấn Khanh là:
Có một lần tôi về qua nơi đó
Tiếng chuông chùa ngân báo tin đêm về…
(Đêm Này Nghỉ Đỡ Chân)
Ở Tô Vũ là:
Em đến thăm anh một chiều mưa,
mưa dầm dề đường trơn ướt tiêu điều…
(Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta nghe những thoáng rung động nhẹ nhàng, những xao xuyến, bâng khuâng về một câu chuyện kể, về một bóng hình nào đã đi qua đời mình, để lại những dấu ấn khó phai.
Nghe nhạc Tuấn Khanh là lần theo những lối mòn kỷ niệm, là tìm về những phút giây êm đềm, có khi là cuộc hạnh ngộ kỳ thú, có khi chỉ là cuộc gặp gỡ tình cờ trong một chuyến đi, một đêm nào “nghỉ đỡ chân”.
Cơm sắn canh rau
bên hàng cau xanh ba mái đầu
Mẹ thầm nói câu
“Chiều nay có con ta thấy vui,
ngày mai đơn người quá”…
(Đêm Này Nghỉ Đỡ Chân)
Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta gặp lại những mùa thu “mây tím xây thành”, những buổi chiều vàng “khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi”, và cả những lời hẹn thề dưới bầu trời lấp lánh sao đêm.

Rồi mai anh đưa em về nơi vui ấm êm
trăng soi đầy thềm
Nhìn nhau khẽ nói câu
“Thời gian trôi qua mau
không phai lạt đâu”
(Một Chiều Đông)

Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta nghe lại những nét nhạc lâng lâng “tiền chiến”, những mối tình như gió thoảng, những nhớ nhung và mộng mơ, những khung trời đầy trăng và sao.
Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm
vầng trăng thu soi mắt em long lanh…
(Dưới Giàn Hoa Cũ)
Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta còn nghe thấy những cuộc chia tay buồn bã, ngậm ngùi, nghe thấy những hối tiếc vì những lời chưa kịp nói hay chưa nói hết, và không làm sao trút cho cạn, dốc cho vơi những nỗi niềm.
Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi…
(Từ Đó Khôn Nguôi)
Sao khi chia ly hôn em một lần vội vã…
Đêm em xa anh em chưa kịp nói…
(Nỗi Niềm)
Đêm chia ly nghẹn ngào sao chẳng nói
chỉ nghe tim nức nở trở về thôi
(Chiếc Lá Cuối Cùng)
Những cuộc chia tay nhạt nhòa nước mắt. Những giọt lệ long lanh như là “từng hạt sương khuya hoen đôi mắt biếc”, và lặng thầm như những giọt sương đêm chảy ràn rụa trên những ô kính ngoài khung cửa nhỏ.
Đôi môi run run lệ tuôn khóe mắt
Ngỡ đã xa nhau nên khóc một lần từ giã… (Nỗi Niềm)
Từ biệt người yêu muốn nói thật nhiều
muốn khóc một chiều sao cứ ngại ngùng…
Lệ bỗng rưng rưng
Tình nỡ quay lưng trong chiều hấp hối…
(Nhạt Nhòa)
Thật may một điều là, những câu chuyện tình của ông sau cùng vẫn có một kết thúc tròn đầy, vẫn có những phút giây trùng phùng như người lính trở về sau chiến tranh, để tay trong tay đi xây lại chuyện tình và nối lại những giấc “mộng đêm xuân”.
Nay qua đau thương yên bình rồi
tình ta lên hương ngát…
(Hoa Soan Bên Thềm Cũ)
Ngày nào trăng khuyết nay lại tròn tươi nét môi
ai ngờ chiều nay chúng mình đẹp đôi…
(Chúng Mình Đẹp Đôi)
Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt
xin cho đêm đêm tình đầy mộng say…
(Nỗi Niềm)

Edited by user Sunday, May 29, 2011 8:41:56 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#3 Posted : Monday, March 28, 2011 10:46:46 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 541 time(s) in 369 post(s)
Chiếc vĩ cầm không có tuổi

“Những bài nào được anh yêu thích nhất trong số các nhạc phẩm của Tuấn Khanh?” tôi nhớ đã hỏi ông câu ấy. Thường thì với câu hỏi như thế, các nhạc sĩ ít khi trả lời thẳng hoặc chỉ trả lời xuôi theo… ý thích của số đông người yêu nhạc mình.
Tuấn Khanh thì khác, sau vài giây nghĩ ngợi, ông nhắc đến hai bài “Mộng đêm xuân” và “Một chiều đông”, và nói ông yêu nét lãng mạn, thi vị trong những bài ấy. “‘Hoa soan bên thềm cũ’ và ‘Chiếc lá cuối cùng’,” ông nói, “là hai bài hát của kỷ niệm”. “Kỷ niệm khó quên?” tôi hỏi.

Ông lắc đầu, “Không phải ‘khó quên’, mà… chẳng bao giờ quên được.”
Quay sang tôi, ông hỏi tôi… thích bài nào của Tuấn Khanh. “Dưới giàn hoa cũ,” tôi nói, không chút do dự.

Ông hỏi vì sao, tôi trả lời, “Bài nhạc ấy nghe… ‘Tuấn Khanh’ hơn cả.”
Những câu hát đẹp như thơ ấy, những nét nhạc lâng lâng ấy, đã gieo vào lòng tôi những tình cảm thật xao xuyến, thật êm đềm. Hơn thế nữa, câu chuyện trong bài hát ấy có một kết thúc thật đẹp, thật “happy ending”, nghĩa là rất… “Tuấn Khanh”.
(Một lý do khác có chút riêng tư, người tôi yêu ngày xưa đã… yêu bài hát ấy, đã yêu câu hát ấy, “Những chiều buồn mây tím xây thành…”).

“Dưới giàn hoa cũ”, bài hát đã đưa tôi lại gần với dòng nhạc Tuấn Khanh. Nét nhạc lâng lâng ấy, giai điệu thật là đẹp ấy chỉ có ở Tuấn Khanh, không lẫn vào đâu được.
(Tôi nhớ, lần đầu nghe “Nỗi niềm” qua giọng Ngọc Minh, người bạn hỏi, “Nghe được chứ?” Tôi nói, “Rằng hay thì có hay, nhưng mà nghe có vẻ…‘Tuấn Khanh’ quá.”

“Thì Tuấn Khanh chứ còn ai nữa!” người bạn nói. Tôi có hơi bất ngờ, vì không nghĩ ông vẫn còn… viết nhạc).
Tôi cũng yêu “Đêm này nghỉ đỡ chân”, yêu chút hạnh phúc đơn sơ trong bài tango hiếm hoi ấy của ông.

Ai cũng từng có một “đêm này nghỉ đỡ chân” như thế, ai cũng từng có những thoáng hạnh phúc thật đơn sơ như thế, ai cũng từng có chút vấn vương về một bóng hình nào đó đã tạt ngang qua đời mình.

Nói như thế cũng để thấy rằng, mỗi người có thể yêu thích những bài nhạc khác nhau của Tuấn Khanh, mỗi người đều tìm thấy một bài nào mình yêu thích, hay giữ trong lòng mình kỷ niệm nào về một bài hát nào của Tuấn Khanh.

Như các bài nhạc làm nên tên tuổi một nhạc sĩ, một ca sĩ, mỗi bài nhạc của Tuấn Khanh cũng phù hợp hoặc gắn liền với giọng hát nào đó.
“Hoa soan bên thềm cũ” nghe được vào “thuở ban đầu” qua hai tiếng hát quấn quýt Thái Thanh và Thái Hằng (hát duo) của Ban hợp ca Thăng Long, để từ đó trở nên một trong những ca khúc phổ biến nhất, được yêu cầu nhiều nhất trên các làn sóng đài phát thanh, các chương trình đại nhạc hội, các phòng trà ca nhạc. “Dưới giàn hoa cũ” và “Chiếc lá cuối cùng” được giọng hát… đầu tiên là Thái Thanh gửi đến giới yêu nhạc (Sĩ Phú và Lệ Thu được xem là hai giọng hát gắn liền với “Chiếc lá cuối cùng” về sau này).


“Một chiều đông” được yêu thích qua các giọng hát Sĩ Phú, Duy Trác, Mai Hương. “Mộng đêm xuân” được yêu thích với giọng Duy Trác và Sĩ Phú.

“Gọi buồn” với giọng Sĩ Phú. “Chiều biên khu” với giọng Lệ Thanh, Thái Thanh, Nhật Trường. “Quán nửa khuya” với giọng Thanh Thúy, Duy Khánh.
“Từ đó khôn nguôi” với giọng Quỳnh Giao. “Những lời ru cuối” với giọng Hoàng Oanh, Quỳnh Giao. “Chúng mình đẹp đôi” với giọng Nhật Trường…
Có thể nói được rằng không có ca sĩ tên tuổi nào của miền Nam ngày trước mà không từng hát bài nào đó của Tuấn Khanh.
Tất nhiên, ca sĩ đầu tiên thể hiện mọi ca khúc của Tuấn Khanh vẫn là… Trần Ngọc (một tên gọi khác của nhạc sĩ Tuấn Khanh).
Ít ai biết tác giả “Hoa soan bên thềm cũ” từng chiếm giải “thủ khoa” trong cuộc thi “tuyển lựa ca sĩ” của đài phát thanh Hà Nội năm 1953. “Thí sinh” Trần Ngọc, 21 tuổi vào thuở ấy, hát bài “Đôi chim giang hồ” của Ngọc Bích, và “thí sinh” Thanh Hằng, người đoạt giải nhì, hát bài “Đêm xuân” của Phạm Duy.
(“Thí sinh” đoạt giải nhất trong cuộc thi tổ chức năm sau, 1954, là Duy Trác).

Cánh “chim giang hồ” Trần Ngọc đã bay một vòng bay quá dài trước khi quay về lại chốn cũ (Hà Nội, 2007) để có cuộc hội ngộ kỳ thú, dạt dào cảm xúc với “cố nhân” Thanh Hằng, và cùng ngồi nhắc chuyện xưa sau khi chiếc bánh xe nặng nề của thời gian đã lăn đi một vòng hơn năm mươi năm.

Những người yêu nhạc cuối thập niên 50’s và thập niên 60’s hẳn còn nhớ tới ba viên “ngọc” quý của làng ca nhạc thuở ấy là Anh Ngọc, Ngọc Long và Trần Ngọc, trong đó giọng hát trầm ấm của Trần Ngọc (trong các ban nhạc tên tuổi của đài phát thanh Saigon và Quân Đội) từng cất lên các bài hát quen thuộc như “Trở về thôn cũ” (Nhị Hà), “Cánh hoa duyên kiếp” (Đoàn Chuẩn), “Mơ hoa” (Hoàng Giác), “Người về” (Phạm Duy)….

Chương trình “Nhạc chủ đề” về tiếng hát Trần Ngọc của đài phát thanh Saigon do nhà văn Đào Trường Phúc thực hiện vào giữa năm 1970 đã đánh dấu ngày tiếng hát ấy lặng lẽ rời bỏ sự nghiệp ca hát của mình.
Gần đây, rất tình cờ tôi được nghe lại giọng hát “vang bóng một thời” ấy qua bài “Nợ nhau một chút giận hờn” (một trong những sáng tác của ông về sau này).

Giọng hát “ngẫu hứng” nhưng vẫn nghe nhiều rung cảm, vẫn nghe phảng phất chút dư âm của một mùa kỷ niệm.

Cũng ít ai biết, sáng tác đầu tay của Tuấn Khanh là một bài phổ thơ T.T.KH, “Hai sắc hoa Ti-gôn”, cho thấy ở nơi ông, nơi chàng trai 16 tuổi ngày ấy, một tâm hồn yêu thi ca. Có thể kể ra được những bài phổ thơ của ông được yêu chuộng về sau này như “Tôi mở vòng tay” (thơ Tuệ Mai), “Những lời ru cuối” (phổ từ bài “Ru” của Nguyễn Đình Toàn)…, và gần đây nhất, “Chọn màu áo” (thơ Nhất Tuấn), “Chiều thứ Bảy xa rồi” (thơ Hồng Vũ Lan Nhi) và “Nợ nhau một chút giận hờn” (thơ Phạm Quang Vịnh).
Cũng ít ai biết, ông còn viết lời cho nhạc phim nữa. “Lá thu” (nhạc Đức Hưng, lời Tuấn Khanh), sau đổi tên thành “Mưa lạnh hoàng hôn”, là bài nhạc chính trong phim Mưa Lạnh Hoàng Hôn (1961) của đạo diễn Nguyễn Long (vừa là diễn viên chính, diễn chung với Mai Ly).
Bài hát được ca sĩ Mai Trường trình bày lần đầu và khá phổ biến với giọng hát Duy Trác về sau này.
Điều ít ai ngờ được, vào đúng năm 70 tuổi, chỉ trong vòng một năm thôi (1983), ông đã đặt lời cho một trăm bài thánh ca, và phổ đến hơn năm mươi bài thiền ca.

Điều gì khiến nguồn nhạc hứng trong con người nghệ sĩ ấy, vào buổi hoàng hôn của đời người, đã chảy xuôi về dòng nhạc tâm linh?
Điều gì khiến nguồn nhạc hứng trong con người nghệ sĩ ấy đến nay vẫn dào dạt, vẫn còn sung mãn đến như thế?
Chuyện thật nhưng lại như nhuốm một vẻ gì huyền nhiệm, khiến ngay đến chính ông cũng không sao giải thích được.
Có lẽ vẫn còn quá sớm để nói được bài nhạc… cuối cùng của Tuấn Khanh là bài nào.

Người ta khó mà biết được, hay chỉ biết được rằng, đấy là bài nhạc mà ông… chưa hề viết ra.

Trước năm 1975 chúng ta có “Hoa soan bên thềm cũ”, có “Chiếc lá cuối cùng”, có “Dưới giàn hoa cũ”, có “Mộng đêm xuân”, có “Một chiều đông”… của Tuấn Khanh.
Sau năm 1975 chúng ta có “Nỗi niềm”, có “Nhạt nhòa”, có “Từ đó khôn nguôi”, có “Tháng Chín dòng sông”, có “Nợ nhau một chút giận hờn”…
Nguồn nhạc hứng trong tim chàng nghệ sĩ ấy vẫn chưa hề vơi cạn.
Trái tim chàng nghệ sĩ ấy vẫn chưa có lúc nào “già”, và vẫn như những phím đàn nhạy cảm, chỉ cần chạm nhẹ đến là đã rung lên những nốt nhạc thảng thốt.

Có như thế hôm nay chúng ta mới có những “Nỗi niềm”, “Nhạt nhòa”… và mới nghe lòng rung động vì những khúc nhạc êm đềm, ngọt ngào như thanh âm tiếng vĩ cầm réo rắt của người nhạc sĩ ấy.
Không có tuổi nào cho người viết nhạc tình, vì tình yêu làm gì có tuổi, và vì tuổi nào không là tuổi của tình yêu.
“Chiếc vĩ cầm không có tuổi”, Tuấn Khanh, tôi muốn được gọi ông như thế.

Chiếc vĩ cầm, nhạc cụ được ông yêu thích nhất, đã dẫn ông bước vào thế giới kỳ diệu và mê hoặc của âm thanh, dẫn ông bước vào cuộc hành trình âm nhạc dài đến hơn sáu mươi năm, kể từ bài học về âm nhạc đầu tiên ông học được từ người anh cả ở Hà Nội.

Tuấn Khanh, ông đã viết nên những khúc nhạc tình ấy bằng những rung cảm thực sự của trái tim mình. Không yêu, không từng trải qua những hạnh phúc và khổ đau vì tình yêu thì không thể nào viết được những khúc nhạc, những câu hát cảm xúc tràn bờ đến như thế.
Hạnh phúc trong nhạc Tuấn Khanh thật đơn sơ và êm đềm như một giấc mơ thanh bình, có “trăng soi đầy thềm”, có “giàn hoa tím xưa chưa phai”.
Tình yêu trong nhạc Tuấn Khanh thật dịu êm và phảng phất tựa hồ như “hương hoa soan dâng bên thềm, nhẹ nhàng nhưng ngất say”.
Xao xuyến và bâng khuâng, dịu dàng mà tha thiết, nhẹ nhàng và lâng lâng như nhắp chút men say của tình yêu, như gối đầu lên những giấc mơ yên bình.
Nét nhạc Tuấn Khanh là thế, tâm hồn Tuấn Khanh là vậy.
Con người nghệ sĩ tài hoa ấy vẫn còn dạo lên những khúc nhạc êm đềm bằng thanh âm réo rắt, du dương từ chiếc vĩ cầm yêu quý của chàng để “đem nhạc tình ghi tràn đầy cung điệu buồn”.

Lê Hữu

Edited by user Sunday, May 29, 2011 8:43:22 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#4 Posted : Sunday, May 29, 2011 8:37:27 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 541 time(s) in 369 post(s)
UserPostedImage

Một Cốt Cách Ở Đời -Đỗ Nghê

Cuối Cùng của Võ Phiến là sự Mộc Mạc.
Suốt một đời người đeo đẳng văn chương chữ nghĩa, chẻ sợi tóc làm tư, lặn lội vào những nẻo u uẩn ngóc ngách của lòng người, bỗng dưng cuối cùng hiện ra trước mắt một vầng sáng: Mộc Mạc.

Phải, Mộc Mạc. Đó là tựa của một bài Thơ đặt ở trang cuối cùng của cuốn Cuối Cùng, như một khép lại: Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây… Chút nắng vàng giờ đây cũng vội… (TCS). Với tôi, Cuối Cùng là bài thơ, một bài thơ Thiền.

Nhiều người tưởng Võ Phiến là một nhà văn, hóa ra ông là một nhà thơ.
Đọc kỹ đi rồi thấy. Có người mắt tinh đời sớm nhận ra điều đó:

“Võ Phiến là thi sĩ. Mà là thi sĩ của trần gian nữa. Dù có khi anh viết bằng văn xuôi”. (Đặng Tiến).
Cuối Cùng của Võ Phiến là một tập sách trang nhã. Bìa cứng cổ điển. Nhưng bìa bọc ngoài lại là một mầu trời xanh và mây trắng với những cái bóng của Võ Phiến.
Không phải hình, mà bóng. Một cái lõi, xưa cũ, cứng cáp bên trong; một cái vỏ, bay bổng, tuyệt mù... bên ngoài.

Trang cuối không đánh số trang của Cuối Cùng như đã nói là một bài thơ. Mộc Mạc là tên bài thơ đó. Một sự trở về. Về với mộc mạc, với chân phác. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt (TCS).
Chắc vậy rồi. Với Võ Phiến, chốn về đó là xóm là làng, có con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lũ sẻ, bà con cô bác...

Xưa từng có xóm có làng
Bà con cô bác họ hàng gần xa
Con trâu, con chó, con gà
Đàn cò, lũ sẻ, đều là cố tri.
(Mộc Mạc)

“Đều là cô tri”. Họ thân thiết nhau quá, gần gũi nhau quá mà! Đi sao nỡ. Xa sao đành. Chẳng qua gặp thời thế thế thời thôi. Một người như Võ Phiến hẳn “chân bước đi mặt còn ngoảnh lại, từ cái mái nhà cái thềm nhà cho đến bụi cây khóm cỏ...:” (Quốc văn giáo khoa thư). Rứt sao ra.
Rồi Võ Phiến viết tiếp sau khi ngậm ngùi nhớ những “cố tri” đó của mình:

Múa may mãi chẳng ra gì
Mỗi lâu thêm một cách ly rã rời.
( Mộc Mạc)

Ra gì là ra gì? “Múa may” coi cũng được quá đó chứ! Mọi người đều nhìn nhận Võ Phiến, dù không nói ra mà ai cũng phải gật gù. Đông Hồ khen “nhất” miền Nam.

Nguyễn Hiến Lê khen tùy bút sâu sắc, tự nhiên, dí dỏm, đa dạng... Đặng Tiến bảo tác giả hàng đầu, Nguyễn Hưng Quốc kêu nhà văn của thế kỷ...
Vậy mà múa may mãi chẳng ra gì sao? Tới bây giờ, nhớ Đêm xuân trăng sáng hay Thác đổ sau nhà của ông đọc từ hồi còn trẻ, tôi vẫn còn như nghe nhột nhột ở đùi trong…

Tuyệt vời nhất ở hai chữ: mỗi lâu. Vừa mộc mạc vừa sâu thẳm. Sao lại “mỗi lâu”? Ấy là bởi ông đã đợi chờ, đã nghe ngóng, đã mong mỏi nó “rụp rụp” cho rồi, ai dè nó cứ dùng dằng dủng dẳng, bực cả mình. Rụp rụp như cái dao phay chặt thịt mà ông từng thấy ở một người đàn ông mặc áo thun, bán hủ tíu, quơ dao múa may mấy cái rồi rụp rụp ngon lành.

Đầu này nó cứ đủng đỉnh, cứ lằng nhằng. Nó càng đủng đỉnh, càng lằng nhằng ông càng bẽn lẽn vì đã có đôi lần ông làm thơ “giã biệt” gởi cho

“những người ở lại’ rồi, thế mà, chính ông lại ở lại. “Quê” quá chứ phải không? Nhưng mỗi lâu rồi thì sao? Thì, khổ thay, cứ mỗi lâu nó lại thêm một cách ly, rã rời!
Cách ly? Rã rời? Ông thấy hình như mọi người đâu đó đã sẵn sàng cả rồi, hồi hộp chờ đợi cả rồi, vậy mà chuyện lại không tới. Tẽn tò, tản ra, xa dần, quên lãng... ? Tự ông, ông cảm thấy “ngượng ngập vu vơ”. Ngượng ngập. Vu vơ. Văn viết không ra, chỉ có thơ mới “nói lên” được: mỗi lâu thêm một cách ly rã rời...

Thân tàn đất lạ chơi vơi
Trông lên chỉ gặp bầu trời là quen.
( Mộc Mạc)

Người ta thì gần đất xa trời, ông thì gần trời xa đất. Đất lạ, trời quen. Với người xa xứ “lạc loài đến đây” như ông thì cách ly với con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lũ sẻ đã đành là khổ, mà cách ly với những thân tình càng khổ hơn: “Gần đây nhiều lần nghe những trao đổi tưng bừng về các hướng thơ văn cũ mới, bị không khí sôi nổi lôi cuốn mạnh, tôi xun xoe nhấp nhỏm.
Bỗng chợt buồn, tặc lưỡi: Mình còn được bao nhiêu ngày tháng? Những chuyện ... như thế... trên đời... ối dào! (Người ơi người ở dài dài, tr45)”. Mãn Giác thiền sư chẳng đã từng than “Sự trục nhãn tiền quá/ Lão đầu tùng thượng lai...” đó sao? Còn “rã rời”.
Làm sao mà không rã rời cơ chứ? Có cái gì gắn với cái gì đâu. Toàn tạm bợ, lắp ráp cả đó chứ. Ngũ uẩn giai không mà!
Bài thơ “Cũng Hợp” –lại Thơ- mở đầu cho cuốn Cuối Cùng, ông chẳng bảo “lắp ráp” xài chơi, lâu ngày chầy tháng thấy “cũng hợp”...
Rồi đến một lúc nghĩ hay là ta... ở lại trần gian luôn chừng nghìn năm nữa cũng được. Để rồi giật mình: đã lắp ráp thì hẳn có lúc phải rời ra. Một câu hỏi đặt ra: Lắp ráp để chi?

Để “trưa nào cũng bay” ( tr 139) chớ chi. Hoàn thành nhiệm vụ rồi thì rã. Rã rồi lại ráp không chừng. “Cả năm uẩn chúng quấy ta là thế” (Cũng Hợp). Võ Phiến hiện nguyên hình thành một... thiền sư!

Dặn lòng lòng vẫn nao nao
Ta đi mây ở, trưa nào cũng bay

Nhưng thiền sư mà có cái chuyện dặn lòng này mới lạ! Dù sao thì cũng chỉ nao nao thôi. Nao nao khác với bừng bừng. Đó là khi ông nhìn những phút “ân tình” của chim câu: “...cái đuôi con chim mái, vẹt qua một phía...” Xong. Rồi bay. Trưa nào cũng bay. Ông thấy “nao nao”.
Nao nao quá chớ. Nó đến nó đi hờ hững thản nhiên. Sao trời nỡ đọa đày nhau đến thế? (Cũng Hợp)

Cái còn lại của một cốt cách: ít ỏi quá, mong manh quá”. (Hình bóng cũ, tr 32).
Không đâu. Cái cốt cách ở đời của Võ Phiến theo tôi không ít ỏi quá, cũng chẳng mong manh quá. Nó đáng cho ta ngã mũ chào. Với một nụ cười tủm tỉm, hân hoan.

Đỗ Nghê
UserPostedImage
UyenVy  
#5 Posted : Sunday, May 29, 2011 9:00:17 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 541 time(s) in 369 post(s)
Nghĩ Về Bùi Giáng ,Hàn Mạc Tử ,Thanh Tuệ

- Nguyễn Mộng Giác


Trong một bài tạp ghi viết cách đây khá lâu, tôi có ghi nhận mối duyên nợ thắm thiết giữa nhà thơ và nhà chùa. Hầu hết các nhà sư đều thích đọc thơ, làm thơ, in thơ. Hầu hết các nhà thơ, ngược lại, đều có quan hệ thắm thiết với nhà chùa, nhất là vào những lúc nhà thơ gặp cảnh hoạn nạn.

Cũng lạ. Tôn giáo nào cũng tuyên xưng lòng thương yêu. Chùa chiền, giáo đường, thánh thất... luôn luôn mở cửa chào đón những kẻ khốn cùng, những người bất hạnh. Một nhà thơ đau khổ cũng tuyệt vọng, xót xa như bất cứ ai, nhiều khi người biết làm thơ ít đau khổ hơn những người không biết làm thơ, vì nhà thơ có thể chia bớt nỗi đau cho chữ nghĩa.

Ðau mà khóc được thì mau vơi hơn nỗi đau thầm. Nhưng khi tìm một nơi an trú, hình như các nhà thơ lại có những cách lựa chọn khác hơn người thường. Lý do? Nói như ngôn ngữ nhà Phật, các nhà thơ thường có cái ngã lớn hơn người thường. Dù trong cảnh hoạn nạn, các nhà thơ không thích những đôi mắt nhìn xuống thương hại, không thích bị đối xử như một đứa trẻ mồ côi trong viện dục anh.

Thử tưởng tượng một nhà thơ như Alfred de Vigny (tác giả bài Cái chết của con chó sói) hay Tản Ðà (người tự nhận là ông tiên bị giáng xuống trần) mà phải chịu đứng yên cho các bà mệnh phụ ngắm nghía hình hài và xuýt xoa thương xót, chúng ta sẽ thấy hình ảnh đó nghịch lý biết chừng nào.

Thi sĩ có thể nghèo đến độ nhìn hoa cúc vàng mà gan ruột cồn cào vì đói như Nguyễn Du, có thể chết dấm dúi trong một chiếc thuyền rách như Ðỗ Phủ. Nhưng phải chịu thu vai bó gối cho thiên hạ nhìn xuống thương hại, thì không.

Nhất định không. Thi sĩ thích tìm nơi an trú nào ở đó, anh ta vẫn có thể tiếp tục làm thi sĩ, ở đó không có những ánh mắt thương hại, ở đó khỏi phải ngửng đầu lên mà cầu khấn. Nhìn quanh, hình như chỉ có chùa chiền là nơi an trú thích hợp cho các nhà thơ.

Kể cũng đúng thôi. Vừa qua khỏi cổng chùa, thi sĩ đã gặp một thi sĩ thực thụ (hay một chuẩn thi sĩ) là nhà sư trụ trì. Hai bên đều thầm nghĩ thơ mình hay nhất, nhưng cách định giá chủ quan ấy không làm cho mối quan hệ khó khăn nặng nề hơn, vì đã có một lối phân định ranh giới hợp lý: tôi thơ đời, thầy thơ đạo. Trong thơ tôi nỗi thống khổ lên cao đến hết cung bậc.

Trong thơ thầy, nỗi đau chỉ là gió thoảng. Lối xác định rạch ròi ngay từ ban đầu giữa hai thi sĩ không phải là ngẫu nhiên.
Nó bắt nguồn từ Phật pháp. Khi Ðức Phật nhận mình chỉ là người dẫn đường chứ không phải là đấng thiêng liêng cứu thế, và mỗi người phải tự đốt đuốc soi tìm đường đi, thì nhà sư trụ trì không thể đứng trên cao nhìn xuống cái thế gian nheo nhóc này mà thương xót được.

Mỗi người đều tự tạo nghiệp cho mình, và chỉ có mình chứ không có ai khác có thể cứu mình. Ðạo Phật cũng không đòi hỏi mọi người phải chấp nhận những tín điều mình đưa ra như những chân lý tuyệt đối bất khả tư nghị.

Chính Ðức Phật cũng thường xuyên cảnh giác Phật tử, khuyên họ không nên tin theo những điều chính mình cũng chưa hiểu rõ, chưa thông suốt, kể cả những điều đã được người xưa truyền lại, ngay cả những điều đã được ghi trong kinh sách. Tinh thần vô chấp của Ðạo Phật rất thích hợp với khát vọng suy nghĩ và sáng tạo tự do của văn nghệ sĩ.

Nhà thơ vào chùa thoải mái, không bị ai chận cửa thu thẻ căn cước, khỏi phải rón rén bước đi vì kinh sợ đấng thần linh, lỡ nói năng ba hoa quá lời cũng không sợ tội phạm thánh vì nhà chùa không có thánh, và nếu không chịu được cuộc sống tu hành kham khổ phải rời chùa, cũng không bị ai chê trách. Ðúng là chỗ an trú lý tưởng của các nhà thơ, khi họ cần một chỗ trú.

Vì thế Phạm Công Thiện là khách quí của khắp các chùa lớn chùa nhỏ ở Việt Nam và ở hải ngoại. Nguyễn tất Nhiên lái xe đến chùa trước khi quyết định từ giã cõi đời. Và Bùi Giáng trong suốt cuộc chơi lớn với đời vẫn xem chùa chiền là chỗ dừng nghỉ thoải mái.

Nói như thế, không có nghĩa là khi khổ đau các nhà thơ Việt Nam chỉ tìm tới một địa chỉ: nhà chùa. Nói như thế không công bằng, khi ai trong chúng ta cũng biết bài thơ tuyệt tác Eve Maria của Hàn Mặc Tử trong tập Xuân Như Ý.

Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh viết: "Ðây là mùa xuân trong tưởng tượng, một mùa xuân theo ý muốn của thi nhân, đầy rẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ.

Với Hàn Mặc Tử, thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng đế mà cũng để nối người ta với Thượng đế, để ban phước cho cả và thiên hạ". Rồi Hoài Thanh đưa ra nhận xét chung: "Hình như trong các thi phẩm xưa nay có tính cách tôn giáo không có gì giống như vậy".

Hoài Thanh nói đúng. Hàn Mặc Tử là nhà thơ đầu tiên mang không khí Phúc âm vào thi ca Việt Nam. Và cũng là lần đầu người đọc chứng kiến một nhà thơ say sưa dâng trọn đời mình cho Ðức Tin:

Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến
Lạy Bà là Ðấng tinh truyền thanh vẹn
Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế...

Edited by user Sunday, May 29, 2011 9:01:06 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#6 Posted : Sunday, May 29, 2011 9:04:11 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 541 time(s) in 369 post(s)
Giả dụ Hàn Mặc Tử sống cùng một thời một chỗ với một thi sĩ lớn khác là Bùi Giáng. Trong khi Hàn Mặc Tử dọn mình tinh sạch để "dâng lời cảm tạ phò nguy" lên Ðức Mẹ trong khung cảnh trang nghiêm thiêng liêng của giáo đường, thì Bùi Giáng vung tay huơ chân đùa cợt với Thượng Ðế:

Hôm nay ông Thượng Ðế đề huề
Ngày mai cô độc mỏi mê linh hồn
Hôm nay Thượng Ðế ăn cơm
Ngày mai ông ăn cá cơn cơn cuộc tình
Hôm nay ông ăn nói đinh ninh
Ðàng hoàng rất mực tặng Na Quỳnh bài thơ...

Nhất định không ai cho Bùi Giáng được phạm thánh ở chỗ Hàn Mặc Tử đang cầu nguyện, dù ông được mọi người cho rằng ông điên, khỏi phải chịu trách nhiệm về những điều nói ra. Gọi Thượng Ðế bằng "ông" là một tội lỗi không thể tha thứ được, chưa nói tới vụ bắt Thượng Ðế "ăn cơm, ăn cá, cơn cơn cuộc tình" và sợ cô độc, y như Bùi Giáng vậy. Không ai có thể cao hơn Ðấng Sáng Thế, kể cả các thi sĩ ngông cuồng tự xem mình là trích tiên như Lý Bạch, Tản Ðà.

Không có thứ tài ba nào có thể ở ngoài sự xếp đặt của Ðấng Sáng Thế, cho nên kiểu tự phong ngang xương mà đáng yêu của Bùi Giáng không có chỗ trong giáo đường:
Làm thơ hay nhất trần đời
Cái điên cũng đến tuyệt vời cuồng điên
Cái khùng cũng vậy tuy nhiên

Bùi Giáng chỉ có thể đến nương náu nơi cửa chùa, vì Ðức Phật chẳng những không cấm đoán mà còn khuyến khích cái quyền ngờ vực chân lý có sẵn.

Thơ Bùi Giáng bay lượn giữa thực và ảo, nghiêm chỉnh và bông đùa, phóng túng và cổ điển nhờ ông tận hưởng được cái quyền tự do tìm kiếm chân lý và chọn kiểu sống theo ý mình. Ngược lại, thơ Hàn Mặc Tử có giá trị trường cửu nhờ Ðức Tin nhiệt thành của ông. Hai con đường vào thơ cũng là hai cách chọn chỗ an trú. Hai cách chọn khởi điểm để sống trọn đời mình: biết ngờ, và biết tin.

Con đường vào thơ của Bùi Giáng dẫn tới cửa chùa
Nói cụ thể hơn, không có nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ thì bạn đọc không có cơ hội thấy hết được sự nghiệp thơ đồ sộ của Bùi Giáng. "Cuộc chơi lớn" của Bùi Giáng không dễ tìm được một nhà xuất bản nào chịu bỏ tiền ra in thơ cho ông, ngoài nhà An Tiêm.

Có thể nói hầu hết những tác phẩm quan trọng của Bùi Giáng (và cả Nguyễn Ðức Sơn) đều do anh Thanh Tuệ in, dù nhà xuất bản biết không thể lấy lại vốn in đã bỏ ra. Dường như có một trùng hợp may mắn cho văn chương miền Nam trước 1975: một nhà thơ lớn đẩy thơ vào một cuộc chơi lớn, thì ngay lập tức cũng có một nhà xuất bản "chịu chơi" có đôi mắt xanh sẵn sàng bỏ công bỏ sức ra in thành quả khác thường của cuộc chơi ấy.

Thời nào cũng vậy, bỏ tiền ra in thơ là một hành động đầy "thi vị". Nhưng in thơ một cách trân trọng, trang nhã, mỹ thuật như anh Thanh Tuệ lúc đó in cho Bùi Giáng, thì người đi tiếp cuộc hành trình của Bùi Giáng cũng phải có tâm hồn của một nhà thơ lớn.
Cái tài hoa cũng muộn phiền lắm thay.

Phải, tôi tin chắc rằng anh Thanh Tuệ kiếp trước cũng là một nhà thơ. Không, tôi lầm. Không cần phải đi ngược lên kiếp trước. Ngay trong kiếp này, anh "đã là" một nhà thơ. Thi nghiệp của anh là An Tiêm. Mỗi quyển sách anh in ra là một bài thơ, vì hầu hết đều rất đẹp.

Rất trang nhã. An Tiêm đã nâng tiêu chuẩn hình thức sách của miền Nam trước 1975 lên một mức cao hơn trước đó rất nhiều, bắt buộc các nhà xuất bản khác phải chú trọng đến cách trình bày bìa, cách chọn kiểu chữ, cách chọn màu giấy, cách bố trí trang... Không phải là nói quá lời, nếu bảo An Tiêm là cái mốc cho trình độ của ngành xuất bản ở miền Nam.

Nói đến giá trị hình thức sách, phải nói đến phân ranh "trước và sau An Tiêm". Tôi chưa thấy ai mê sách đẹp cho bằng anh Thanh Tuệ. Rảnh lúc nào, anh dạo một vòng qua các hiệu sách. Anh dán mắt vào tủ kính trưng bày những cuốn mới xuất bản và vừa phát hành.

Anh không quan tâm tới tên tác giả, và nội dung. Anh say sưa ngắm nghía cách nhà xuất bản chọn chữ cho nhan sách, màu bìa, phẩm chất giấy, cách bố cục hài hòa giữa màu sắc và hình ảnh... Cái đẹp của sách là cái nghiệp nặng làm trở ngại không ít cho cuộc đời tu hành của anh.

Mê sách đẹp và những tâm hồn rộng, cuộc chơi lớn, anh đứng đợi Bùi Giáng vào lúc, vào chỗ thích hợp nhất, để hai người sóng vai thực hiện một cuộc hành trình mới vào thơ. Anh Thanh Tuệ làm thơ theo cách của anh, chất liệu thơ anh là những trang sách đẹp, và cái mới trong thơ anh là những quyết định in thơ đầy táo bạo và thi vị.

Hậu thế yên tâm thừa hưởng những thành quả của nghệ thuật, tưởng nhớ và biết ơn những nghệ sĩ sáng tạo ra các thành quả ấy.
Nhưng hậu thế cũng thường bất công khi quên ơn những người có đôi mắt xanh biết trước mọi người những viên ngọc nằm lẫn lộn trong đám cát bụi đất đá, những người bỏ công thu góp những viên ngọc ấy rồi cặm cụi mài giũa, gắn kết lại thành những giá trị vĩnh cửu.
Với văn chương chữ nghĩa, họ là những người làm xuất bản như anh Thanh Tuệ của nhà An Tiêm

Nguyễn Mộng Giác
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.