Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

197 Pages«<192193194195196>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Nam  
#3861 Posted : Saturday, September 8, 2012 11:44:30 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,138

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

Viên ngọc nát

(Hồi ký- Vương Mộng Long- K20)


“Người yêu nước có thể bị giết.
Nhưng tinh thần ái quốc của một dân tộc thì bất diệt.”
(Vương Mộng Long)


Giữa năm 1978, toán bốn người cựu sĩ quan của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, tù cải tạo ở Trại 4, Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bái, vượt ngục lần thứ nhì, nhưng bị thất bại. Đại Úy Lê Bá Tường chết trong rừng. Còn lại Thiếu Tá Đặng Quốc Trụ, Đại Úy Trần Văn Cả và tôi (Thiếu Tá Vương Mộng Long) bị bắt đưa về tạm giam ở Đoàn 776 Yên-Bái.

Ngày đầu, một vệ binh còn rất trẻ tên Lời đã thẳng tay nện một báng súng A.K vào mặt tôi, một cái răng gãy. Tên vệ binh Cộng-Sản trẻ tuổi này đã nặng tay với tôi, vì hắn vừa tìm thấy trong ba-lô của tôi một bài thơ "phản động". Chưa hả giận, hôm sau y trở lại. Tôi bị quật thêm một báng súng vào ngực, gãy một cái xương sườn.

Qua ngày thứ tư thì chúng tôi bị đưa xuống phà để về Trại 9 bên hồ Thác Bà, Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bái.
Hai bạn đồng hành của tôi, Thiếu Tá Trụ và Đại Úy Cả bị nhốt trên nhà kho của trại. Tôi không rõ họ bị đối xử ra sao. Còn tôi là người cầm đầu cuộc vượt ngục này, nên bị tách riêng, giam trong nhà kỷ luật, sát với hàng rào khu cưa xẻ thợ mộc. Tôi bị cùm cả hai chân, còng cả hai tay.

Khi ấy đang mùa hè, trong hầm nóng nực, muỗi như trấu, bất kể đêm, ngày. Da mặt, da cổ, da tay chân của tôi trở nên sần sùi vì muỗi đốt.

Tôi được phát hai cái ống nứa lồ ô dựng gần chân nằm. Một ống nứa để đại tiểu tiện, một để chứa nước uống. Tay bị còng, chân bị cùm, vấn đề đi đại, tiểu tiện quả là một cực hình. Nhưng vì bụng đói liên miên, nên vấn đề đại tiện cũng khó xảy ra thường xuyên.

Cũng do biên bản bàn giao lại từ Đoàn 776, nên từ hôm về Trại 9, ngày nào tôi cũng trải qua một trận đòn hội chợ, kéo dài trên, dưới hai tiếng đồng hồ. Tôi bị bắt đứng giữa phòng trực trại, bốn góc phòng là bốn vệ binh. Tôi bị đánh chuyền tay từ góc này sang góc khác, xoay tròn quanh phòng. Má bên trái vừa lãnh một cú đấm chưa kịp cảm thấy đau thì má bên phải đã lãnh cú đấm tiếp theo. Những đợt máu mũi phọt ra ồng ộc tràn trên má và trên ngực tôi chỉ làm cho những tên vệ binh trẻ tuổi hăng tiết thêm.

Trọng lượng thân tôi thời này còn chừng trên ba mươi ký lô là cùng. Những cú đấm móc tận lực làm cho tôi có cảm tưởng như là đang "bay" từ góc nhà này, sang góc nhà khác. Sau mỗi tiếng "hự!" máu tôi lại trào ra như xối. Không biết máu từ mồm tôi hay từ phổi tôi phun qua hai lỗ mũi thành vòi? Mặt tôi bầm tím sưng vù, đôi mắt híp lại, nhìn một vật hóa hai. Sau khi bị hàng chục cú đá cật lực vào bụng dưới, cứt đái trong bụng tôi cứ tự do tuôn ra quần. Tôi cố nín, cũng không nín được.

Lãnh những trận đòn thù như thế này, tôi mới thấm ý câu hăm he của tên sĩ quan an-ninh Trại 9, "chúng ông sẽ đánh cho mày té đái, vãi phân".
Nhiều lần tôi bị đánh mửa mật xanh, mật vàng mà vẫn chưa được tha; đến lúc tôi mềm như sợi bún, vệ binh mới kéo tôi ra vứt ngoài cửa phòng trực. Có hôm cả giờ sau trực trại mới cho người kè tôi về nhà giam.

Chắc nhiều bạn tù thấy cảnh tôi nằm rũ như cái xác không hồn nơi góc sân phơi sắn khô, nên một người được tha về Ban-Mê-Thuột đã đến nhà ông bà nhạc của tôi kể lại rằng tôi trốn trại và bị vệ binh đánh chết rồi!

Khi nhận tin này, ông anh vợ của tôi lo quá, vội đề nghị với bà mẹ vợ tôi, "Đừng nói cho con Loan hay tin chồng nó chết. Nghe tin này nó không sống nổi đâu! Nó mà chết thì đàn con nó sẽ bơ vơ..."
Những ngày không bị dẫn lên "khung" để lãnh đòn, tôi nằm chờ thời gian trôi qua.
Một tia nắng xuyên khe mái nứa, in một đốm sáng trên nền nhà. Nhìn vị trí đốm nắng di chuyển, tôi biết giờ giấc. Chấm nắng bắt đầu xuất hiện trên vách nhà hướng Tây vào lúc kẻng giải lao thứ nhứt của trại (khoảng chín giờ sáng) rồi từ từ di chuyển dần về hướng đông. Khi tiếng kẻng báo giờ điểm danh chiều (khoảng năm giờ chiều) thì chấm nắng tới giữa vách hướng Đông, thế là hết một ngày!

Hàng ngày, tù nhân của nhà bếp đem cho tôi một bát sắn khô nấu nhão nhoét. Anh ta phải để bát sắn nơi cửa buồng giam; tiếp xúc với người đang bị cùm là điều cấm kỵ!

Khi người tù đưa cơm rời bước, đàn gà của trại vội tranh giành nhau những mẩu sắn trong tô. Tới giữa trưa, tên bộ đội trực trại mới đến mở cửa hầm giam cho tôi ăn bữa cơm tù độc nhất trong ngày. Nhiều khi, tô sắn tới tay, tôi chỉ thấy một mớ bầy hầy đất cát và vài cọng sắn khô cỡ ngón tay. Tôi đói tới run chân, run tay, đói ngủ không được.

Hình như không có "chế độ" ẩm thực nào áp dụng cho những trường hợp tù cải tạo vượt trại. Có hôm tôi được một củ sắn lớn cỡ cườm tay, dài một gang. Cũng có ngày tôi được hai củ khoai lang luộc nặng chừng nửa ký. Thường xuyên, thực đơn cho tù trốn trại là một tô cháo sắn phơi khô rắc muối.

Từ lâu lắm rồi, không nghe ai nhắc tới hai chữ "nhân quyền". Trong thời gian tôi bị cùm ở trại này thì, cứ cách hai hay ba tiếng đồng hồ, một tên bộ đội đi tuần tra lại ghé kiểm soát tình trạng khóa, chốt, còng, cùm một lần. Trong bóng tối, để chắc chắn rằng tôi còn sống, anh ta thường "tiện tay" khện cho tôi một cái bạt tai hay một báng súng để nghe tôi la lên oai oái vì đau.

Đêm nào nghe thấy tiếng chân nhiều người đi tuần, lòng tôi lại phập phồng,... biết đâu?... rất có thể, người ta sẽ ập vào, hè nhau đè tôi xuống, bịt miệng, khóa tay tôi, tròng một sợi dây thòng lọng vào cổ tôi, rồi lôi thân tôi lên xà nhà, như cách đây hai năm họ đã làm, để giết một anh tù vượt ngục bên Trại 4. Những cái chết như thế sẽ được thông báo là "tù tự tử", thật đơn giản.

Một ngày, khi vệt nắng vừa chấm chân vách tường hướng Tây, từ bên sân của đội cưa xẻ, sát hàng rào có tiếng người nhắn sang, tôi nhận được đó là tiếng thằng bạn thân Vũ Văn Bằng,
" Long ơi! Thợ mộc được lệnh đóng ba cái áo quan. Chắc tụi mày sẽ bị xử bắn. Trưa mai tao sẽ đem cơm cho mày. Mày có nhắn gì cho gia đình thì nói với tao, tao sẽ thư cho gia đình tao, rồi chuyển cho gia đình mày. Tao cứ tưởng tụi mày đã đi thoát, không ngờ..."

Rồi nó nấc lên, nghẹn ngào...
Thằng Bằng cũng là dân Bắc-Kỳ Di Cư như tôi. Chúng tôi thân thiết sáu năm cùng lớp Trung Học Trần Quí Cáp. Sau khi tốt nghiệp Tú Tài 1, nó tình nguyện đi Khóa 63 A Sĩ-Quan Không-Quân.

Thiếu Tá Vũ Văn Bằng là Trưởng Phòng Quân-Báo Sư Đoàn 6 Không-Quân. Mỗi lần từ tiền đồn về thăm Pleiku, tôi thường gặp nó.
Nằm trong cùm, nghe tiếng khóc của người bạn đồng môn, lòng tôi chạnh nhớ ngôi trường đã đào tạo tôi thành người.
Tiếng thày hiệu trưởng Tăng Dục, ngày đầu Đệ Thất, còn đâu đây,
"Trường chúng ta được hân hạnh mang tên Trần Quí Cáp. Cụ Trần là một vị anh hùng ái quốc. Thày mong muốn các em chăm chỉ học hành, để sau này thành đạt, ra giúp nước, làm rạng danh cho trường."
Hôm ấy có một vị khách, vốn là một giáo viên, bạn của thày hiệu trưởng, tới thăm và nói chuyện. Vị khách này là thân sinh ra anh Phạm Phú Nhàn, người ngồi bên cạnh tôi.
Ông khách mở đầu bài diễn văn bằng một câu mà tôi nhớ cả đời,
"Tụi mi nhớ đây! Thà làm một viên ngọc nát, chứ không làm một viên ngói lành. Nếu tụi mi không chăm chỉ học hành thì suốt đời tụi mi chỉ là những cục cứt xái mà thôi!"

Sau đó ông già dài dòng kể về lý lịch và cuộc đời người anh hùng ái quốc Trần Quí Cáp, qua đấy, chúng tôi biết cụ Trần vì yêu quê hương, yêu đồng bào, nên đã bị cầm tù, bị đưa lên đoạn đầu đài.

Tôi lớn lên, tự hào và hãnh diện là một đứa con của cụ Trần. Tôi cứ nhớ mãi hai danh từ "viên ngọc nát"' và "cục cứt xái" mà ông bố anh bạn học của tôi đã đem ra ví von trong câu truyện khuyên nhủ tụi nhỏ.
Tháng Năm năm 1908 cụ Trần Quí Cáp đã bị đưa ra pháp trường, xử trảm ngang lưng. Ngày đó khóc bạn, cụ Phan Bội Châu đã viết,
"Ngọc toái bất ngõa toàn, tam tự ngục hàn, sơn hải khấp
Hồng khinh nhi thái trọng, thiên thu luận định, nhật tinh huyền." (Phan Bội Châu)
Dịch:
Ngọc nát vẫn hơn ngói lành, nhà tù ba chữ, núi biển khóc
Thái Sơn nặng, lông hồng nhẹ, bàn luận nghìn năm, còn thấy sao trời sáng.
Bảy chục năm sau, tháng Năm năm 1978, một người vì yêu đất nước, yêu đồng bào cũng đang nằm chờ giờ ra pháp trường.
Hai người, tôi và cụ Trần Quí Cáp, tuy sinh ra không cùng thế kỷ, nhưng đã phạm cùng một tội: "Tội mất nước" (Phan Bội Châu)
Thế mới biết, những người yêu nước có thể bị giết, nhưng tinh thần ái quốc của một dân tộc thì bất diệt.
Trưa nay nghe tiếng khóc của thằng bạn, tôi thở dài,
"Thôi thế cũng là xong! Cứ coi như một lần ra trận..."
Mười hai năm lửa đạn, vào sinh ra tử, tôi đã không ngừng cố gắng để hoàn thành phần nào ước vọng của thày tôi ngày đầu Đệ Thất. Là đệ tử của cụ Trần Quí Cáp, tôi đã noi gương cụ, cống hiến trọn đời tôi cho tổ quốc.
Tiếc thay, đất nước tôi đã tới thời mạt vận, nên tôi đành chấp nhận những tai ương giáng xuống số phận mình.
Đêm hôm đó tôi thức trắng. Tôi nằm im, nhắm đôi mắt lại, mường tượng ra trong trí, từng khuôn mặt của những người thân. Trước hình ảnh mỗi người, tôi lẩm nhẩm nhắn nhủ lời vĩnh biệt. Lần lượt, tôi chia tay với mẹ tôi, rồi tới vợ tôi, cùng ba đứa con gái.

Đến lúc phải tưởng tượng ra khuôn mặt thằng con út thì óc tôi quay mòng mòng. Tôi không làm sao vẽ ra trong trí khuôn mặt của thằng con. Nó sinh ra ba tháng sau ngày Miền Nam sụp đổ, lúc đó tôi đã ở trong tù rồi.
Trưa hôm sau thằng Bằng năn nỉ anh bạn tù trưởng bếp để nó thay anh ta đem phần ăn một ngày sắn khô cho tôi. Nó đứng ngoài cửa buồng giam, miệng cười hô hố,
- Long ơi! Chiều hôm qua, sau khi đóng xong ba cái áo quan, về lán tao không ngủ được. Tao buồn, tao thương mày, tao khóc suốt đêm. Sáng nay tao mới biết, Trại 7 có năm thằng chết đuối vì bị chìm mảng khi đi chặt nứa. Nhưng Trại 7 chỉ có hai cái áo quan, nên tụi tao phải đóng thêm ba cái nữa. Thế mà tao cứ ngỡ là áo quan để dành cho ba đứa tụi mày...

Thằng Bằng chưa dứt lời đã có tiếng vệ binh quát tháo,
- Anh kia! Đem cơm cho "phạm" xong là phải đi ngay. Lớ ngớ ở đây tôi cho một báng súng bây giờ.
Lúc đó vệt nắng nằm ngay giữa nền nhà, đúng Ngọ! Anh bạn Thiếu Tá Vũ Văn Bằng vừa báo cho tôi một tin vui. Như vậy là, ít nhứt tôi cũng còn sống thêm một, vài ngày nữa!
Nhưng vừa cảm thấy vui đó, lòng tôi lại chùng xuống ngay. Bởi vì, suy nghĩ lại, thì đó cũng là một tin rất buồn, vì tôi vừa mất năm đồng đội. Mai đây, ở một nơi xa xôi nào đó, trong Nam, sẽ có năm gia đình đau khổ vô cùng khi được báo tin này.

Chuyện ra pháp trường của tôi đã không xảy ra. Hôm sau chúng tôi bị chuyển trại. Ba người bị trói quặt hai tay ra đàng sau. Thêm vào đó là một sợi thừng được buộc vào cánh tay phải của tôi, luồn qua lưng anh Trụ, tới cánh tay trái của anh Cả. Đi hướng nào, chúng tôi cũng bị dính chùm.
Hai khẩu A.K kèm chúng tôi rời Trại 9 vào giờ tù tập họp đi lao động. Những khuôn mặt hốc hác vì đói khát của đồng đội đang hướng về phía chúng tôi. Có đôi bàn tay gầy guộc đưa lên má vội vàng quệt nước mắt.

Chúng tôi bị dẫn đi một vòng quanh chợ Cẩm-Nhân để cho dân địa phương coi mặt. Cũng may, lần này dân chúng chỉ đứng nhìn theo ba người tù bị trói một cách tò mò, không có ai chạy theo ném đá hay đả đảo, sỉ nhục chúng tôi như thời 1976.

Năm 1976, sau khi bị bắt vì tội vượt ngục lần đầu từ Trại 3, tôi và Thiếu Tá Đặng Quốc Trụ đã bị trói ngoặt cánh khuỷu, rồi bị dẫn riệu qua đây để dân địa phương bày tỏ lòng căm thù “Ngụy Quân ác ôn". Chúng tôi bị ném đá sưng đầu, sưng cổ.
Cùng thời gian đó, toán bị bắt bên kia sông Hồng, về qua đây cũng bị dân đánh đập tơi bời, Thiếu Tá Hồ Văn Hòa gãy xương sườn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm sưng vù hai má, Thiếu Tá Trần Tấn Hòa dập mũi.
Riêng toán đi từ Trại 4 là bị "chiếu cố" kỹ càng nhứt: Đại Úy Nguyễn Tấn Á bị đánh bằng đòn gánh, xệ vai trái, Thiếu Tá Chu Trí Lệ bị quật lọi cẳng chân, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Đông bị đấm lòi mắt. Không những thế, ba anh này còn bị nhốt trong chuồng trâu, bị dân quân nắm tóc, dúi mặt vào hố phân trâu bò nhiều đợt, xém chết ngạt.

Trong hai năm bị giam giữ ở đây, chúng tôi có nhiều dịp đi lao động "vần công" với các hợp tác xã nông nghiệp của dân địa phương. Qua những lần tiếp xúc ấy, người dân có lẽ đã nhận ra rằng, những sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa không phải là những kẻ "ác ôn" như họ từng nghe chế độ Bắc-Việt tuyên truyền. Dần dà, dân chúng nơi này đã nhìn chúng tôi với đôi mắt khác xưa. Càng ngày, dân trong vùng càng tỏ ra thân thiện với chúng tôi hơn.
Rời chợ Cẩm-Nhân, vệ binh dẫn chúng tôi nhắm hướng Lũng Ngàn: thế là chúng tôi về lại Trại 4!
Tháng Tám năm 1976 tôi đã bị cùm ở buồng giam Trại 4 hơn ba tháng trời. Rồi cũng từ nơi này, đầu năm 1978, tôi lại xuất phát cuộc vượt ngục lần thứ hai.
Nay bị đưa trở lại nơi đây để chấp cung thì quả là điều đáng sợ đối với tôi.
Cũng như ở bên Trại 9, hai bạn tôi bị nhốt trên ban chỉ huy. Còn tôi bị cùm riêng trong nhà kỷ luật nơi góc trái cổng trại, sát hàng rào, bên bờ suối.
Vừa đặt chân vào phòng giam, tôi đã nhìn thấy một cái cùm mới cáo cạnh. Cái cùm chân này tinh vi và chắc chắn hơn cái cũ nhiều.

Trước đây, năm 1976, chân người bị cùm có thể duỗi dài thoải mái, hai chân sát đất trong buồng giam.
Lần này cùm làm bằng hai tấm ván ghép, mỗi tấm được khoét hai nửa vòng tròn vừa cổ chân. Sau khi gác hai cổ chân tù nhân lên hai hình bán nguyệt của tấm ván dưới, cai tù sẽ kéo sập tấm ván trên xuống và khóa chốt. Thế là, tù nhân chỉ còn cách nằm ngửa, vắt hai chân lên cao 45 độ. Chân người bị phạt sẽ lòi ra ngoài ô cửa sổ đầu hồi. Lính canh không phải đi tới cửa buồng giam, mà chỉ cần bước qua cổng chính là đã nhìn thấy đôi chân người có tội rồi.

Sau này tôi mới biết, cái cùm đó được hoàn thành chỉ vài ngày trước khi chúng tôi bị giải về đây. Người vẽ kiểu cùm là viên Thượng Úy Việt-Cộng tên Xuyên, Chính Trị Viên của Trại 4. Người tù thợ mộc được giao nhiệm vụ đóng cái cùm lại là một cựu Hải Quân Thiếu Tá VNCH, bạn cùng lớp Trần Quí Cáp của tôi.
Còng tay là một cặp khoen sắt rèn số 8 vừa sát với cổ tay. Khóa của nó là loại khóa cửa, lớn bằng bàn tay, nặng chừng một ký lô. Cái khóa này đè trên ngực làm cho tù nhân khó thở vô cùng.
Ngay buổi chiều đầu tiên, tôi đã bị tên vệ binh Lê Văn Tưởng tới "hỏi thăm sức khỏe".
Vệ binh Lê Văn Tưởng và vệ binh Hồ Ngọc Thắng, biệt danh "Thắng Bo" là hai hung thần của Trại 4. Thấy bóng dáng hai tên này từ đàng xa, anh em bạn tù đã run rồi.

Tên Tưởng ló đầu bên cửa sổ đầu hồi, đôi mắt chớp chớp, miệng cười cười,
- Anh Long ơi! Mạnh khỏe chứ?
- Thưa anh bộ đội, tôi vẫn khỏe.
- Người ta đồn, nửa đường, máy bay lên thẳng của Mỹ đến đón, nhưng các anh thích đi bộ cho khỏe chân, nên mới bị bắt lại, có đúng không?
- Tôi không biết chuyện này anh bộ đội ạ!
- Mình "nhớ" anh muốn chết! Anh có "nhớ” mình không?
Tôi lặng thinh.
- Anh đi vắng mấy ngày? Anh nhỉ?
- Tôi trốn sáu mươi bốn ngày.
Tên bộ đội gỡ cái băng đạn A.K ra khỏi súng, nhoài người qua cửa sổ,
- Sáu mươi tư ngày! Kỷ lục đấy!
Hắn dơ cao cái băng chứa đầy đạn A.K gõ xuống hai chân đang bị cùm của tôi, rồi lớn tiếng dõng dạc đếm,
- Một!...Hai! ...Ba!... Bốn!...
Sống của cái băng đạn giáng trên xương ống quyển làm cho tôi thót tim. Tôi la lên,
"Ối!... Ối!...Ối! ..."
Thấy tôi đau líu lưỡi, Tưởng cười khoái trá. Nó cười bằng miệng, và cười cả bằng đôi mắt,
- Anh Long đi vắng sáu mươi tư ngày. Tôi khổ vì anh sáu mươi tư ngày. Tôi sẽ gõ chân anh sáu mươi tư lần để anh nhớ! Mười hai! Mười ba! Mười...
Tôi đau đến chảy nước mắt, đau nhảy nhổm, đau quằn quại, giẫy đành đạch.
Vệ binh Lê Văn Tưởng vẫn tỉnh bơ, mặt không đổi sắc, tay nó dơ lên, giáng xuống, đều đều...
Ống chân tôi sưng lên, rồi tóe máu. Mắt tôi bắt đầu hoa, tai tôi ù như sắp điếc đặc.
Đau quá, tôi điên tiết, ngồi bật dậy. Tôi dơ hai tay có cái còng lên cao, nện một phát thẳng cánh, trúng cổ tay thằng mất dạy.
Bất ngờ bị một cú đau điếng, nó buông rơi băng đạn. Mặt nó đổi sắc thành màu tím. Nó nghiến răng, rít lên,
- Tiên sư cha nhà mày! Ông cho mày biết tay. Từ nay mày chỉ còn nước bò thôi, hết đi được nữa rồi! Con ơi!...
Nó cúi xuống rút con dao găm đeo trên dây lưng. Một tay nó cầm bàn chân phải của tôi, tay kia dí mũi dao vào nhượng chân. Chỉ một giây đồng hồ nữa là gân nhượng chân tôi bị cắt! Tôi sẽ thành phế nhân!
- Ngừng tay ngay!
Tiếng quát của ai đó làm cho tên khát máu chùn tay, mũi nhọn của con dao găm vừa chạm lớp da khuỷu chân tôi thì ngừng lại.
Người vừa quát là cán bộ Vấn.
- Đồng chí có nhiệm vụ gì ở đây? Sao lại định cắt gân chân người ta?
- Thủ trưởng ơi! Thằng này hỗn láo quá! Nó chửi tôi. Tôi phải dạy nó một bài học.
Cán bộ Vấn nghiêm giọng,
- Chuyện gì cũng phải báo cáo với cấp trên. Đồng chí không được tự tiện.
Hung thần họ Lê đi vòng sang cửa chính, khom mình lượm cái băng đạn. Nó lườm lườm nhìn tôi với đôi mắt căm hờn,
- Tiên sư cha mày! Số mày còn may lắm đấy!
Tôi cũng nghiến răng, trợn mắt, nhìn ngay mặt nó,
- Tổ mẹ mày! Đồ con chó!
Cán bộ Vấn ra lệnh,
- Đồng chí Tưởng ra khỏi đây ngay! Từ nay, nếu không phải phiên trực, tôi cấm đồng chí léo hánh tới đây.
Chờ cho tên Tưởng qua khỏi cổng, cán bộ Vấn mới bước tới sát cửa phòng giam, nhỏ giọng nói với tôi,
- Chuyện đâu còn có đó. Anh Long yên chí nằm nghỉ đi, đừng lo nghĩ gì cả.
Viên Trung Úy Cộng-Sản tên Bùi Văn Vấn này là dân Hải-Dương. Anh ta làm quản giáo ở đây từ ngày mới lập trại.

-----o-----

Đêm tháng Năm, muỗi vo ve...
Ngoài rào có tiếng chân người lội lõm bõm dưới nước; chắc đó là ông già Khê người dân tộc Tày? Đêm nào già Khê cũng đi cắm cần câu cá dọc theo con suối.
Nhà của già Khê nằm sát rào Trại 4. Trước khi trốn trại, mỗi lần tôi đi ngang qua rào, ông cụ tốt bụng này thường dúi cho tôi một gói ớt hiểm, kèm với lời dặn dò,
"Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, nhớ mỗi ngày làm một quả ớt hiểm để chống sốt rét, ngã nước!"
Có ánh đèn pin loang loáng, rồi tôi nghe già Khê lớn tiếng hỏi người nào đó,
- Làm gì mà ngồi đây thế? Thấy hết hồn... tưởng ma!
Người kia trả lời,
- Suỵt! ... Suỵt!... Cháu... ngồi ...chơi...
Tiếng người này nhỏ nhí, nhưng tôi vẫn nghe được đó là tiếng vệ binh Đèo Văn Thắng. Trại 4 có hai vệ binh tên là Thắng. Đèo Văn Thắng người Cao-Bằng, hiền như bụt nên chúng tôi gọi là "Thắng Phật". Tính nết "Thắng Phật" trái ngược hẳn với "Thắng Bo" Hồ Ngọc Thắng người Bắc-Thái rất độc ác dữ dằn. Gặp điều không vừa ý, "Thắng Bo" đánh tù không nương tay. Chữ "Bo" là từ chữ "Porteur" tiếng Pháp, có nghĩa là "phu khuân vác". Biệt danh của hai vệ binh tên Thắng đều do anh em tù Trại 4 đặt ra, và truyền miệng với nhau.
Già Khê lại lớn tiếng thắc mắc,
- Ngồi chơi mà chong súng như canh kẻ trộm? Có báo động hử?
- Không...không...cháu ngồi chơi mà...
- Ừ! thôi nhá! Có rảnh vào nhà rít điếu thuốc lào rồi hãy về...
- Vâng...vâng...
Sau đó tôi nghe mấy tiếng “Thịch! Thịch! Thịch!...” trên nền đất, có lẽ già Khê đang dậm dậm gót chân vài cái cho ráo nước?
Rồi tiếng chân bước xa dần, đêm trở lại với mớ âm thanh hỗn độn của ếch nhái, côn trùng...
Tôi đang thiu thiu sắp ngủ thì có bóng người bước vào. Người đó vỗ nhè nhẹ bên hông tôi,
- Dậy! Dậy mau! Ban chỉ huy trại thấy anh tiến bộ nên xét tha cho anh về lán đấy!

Tên vệ binh cúi xuống lấy chìa khóa mở còng tay cho tôi, rồi y đi vòng ra ngoài đầu hồi tháo chốt cái cùm chân.
Bất ngờ nghe lệnh được tha về đội lao động, tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ.
Tôi chưa đứng vững, tên bộ đội đã thúc giục,
- Đi mau! Anh lên "khung" gặp trực trại, ký giấy tha rồi về lán cho sớm!
Tôi thấy ngoài trời tối đen như mực, nên chùn bước,
- Tối thế này làm sao thấy đường mà đi? Mọi đêm, các anh dẫn tôi đi đâu cũng có cái đèn bão mà?
- Hôm nay chỉ lên ký cái giấy thôi, cần gì đèn với đóm?
Linh tính báo cho tôi biết, hình như có điều gì không ổn, nên tôi vội ngồi bệt xuống bực cửa,
- Tôi không đi đâu! Muốn tôi đi, phải có đèn, đi không đèn thì vệ binh gác trên chòi sẽ bắn tôi chết!
Tên bộ đội thấy tôi ngồi ì ra trước thềm, bèn rút túi, lấy ra một khúc nến. Y bật quẹt đốt nến lên, trao cho tôi,
- Đây! Đèn đây, anh cầm lấy rồi đứng lên đi đi!
Tôi ù lì,
- Nếu anh đưa cái đèn bão, tôi sẽ cầm đi ngay. Cây nến này ra gió là tắt liền, tôi không đi đâu!
Tức quá, nó quát ầm lên,
- A! Cứng đầu hả? Anh không đi, tôi điệu anh đi!
"Huỵch! Huỵch!"
Bị hai cái báng súng đánh vào vai, đau lắm, nhưng vẫn không nao núng, tôi cứ ngồi ôm chặt cây cột cửa không chịu buông.
Sau cùng, thằng vệ binh đành quàng khẩu súng ngang vai để hai tay nó được tự do nắm cổ áo tôi, lôi ra cửa. Biết mình không đủ sức vật nhau để cướp súng, tôi đành ôm cánh tay kẻ thù, nhe răng cắn tới tấp. Đau quá, nó đành buông tôi ra. Tay xoa chỗ bị cắn, miệng nó chửi,
- Đồ chó cắn càn!
Tôi la lên,
- Anh muốn bắn tôi phải không? Bắn thì bắn bây giờ đi! Tôi không ngu mà bước ra cổng cho anh bắn đâu! Tôi biết tỏng... tòng... tong... âm mưu của anh rồi!
Hình như câu nói đó làm cho tên vệ binh chạm nọc, nó ấp úng,
- Ấy! Ấy! Tôi không bắn anh đâu! Mà sao anh biết? Ơ ...ơ ...ơ...
Bộ dạng bối rối của thằng cai tù kèm với câu “Mà sao anh biết?...” khiến tôi suy ra ngay,
“Đúng rồi! Tụi nó gài cho mình không đèn đóm đi ra cổng để giết mình! Mấy thằng bộ đội chong súng ngoài kia đang ngồi phục kích chờ bắn mình chứ đâu phải ngồi chơi?”
Thấy chết đến nơi, tôi đánh nước liều, chõ mồm về hướng các lán tù, tôi gào lên,
- Anh em ơi! Người ta giết tôi! Anh em ơi! Chúng nó bắt tôi đi ra khỏi rào để bắn tôi! Anh em ơi! Cứu tôi với!
Ngay từ lúc đôi bên giằng co, đã có vài người tù ở Lán 1 và Lán 5 ló đầu ra theo dõi. Nghe tiếng tôi kêu cứu, họ cũng hét ầm lên,
- Không được giết người! Không được giết người!
- Chúng nó giết tù! Anh em ơi! Chúng nó giết tù! Anh em ơi!
Tiếng la lớn nhứt tôi nghe được, rõ ràng là tiếng của Đại Úy Phạm Xuân Độ.
Gặp cảnh bất ngờ, tên bộ đội đứng ngẩn người, không biết xử trí ra sao.
Bỗng có ba tiếng súng chỉ thiên phát ra từ chòi gác ngoài cổng trại. Rồi một tốp bộ đội ôm A.K chạy túa vào sân. Tên trưởng toán vệ binh thét lớn,
- Tù làm loạn hả? Vào lán! Đóng cửa lại! Đứa nào lớ ngớ ngoài hiên chúng ông bắn bỏ mẹ! Nghe chưa?
Có tiếng lên đạn, "Cà róch!... Cà rách!..."
Tôi bị tống năm, sáu báng súng vào ngực, vào lưng, rồi bị đẩy vào nhà kỷ luật trở lại. Hai phút sau, còng, cùm khóa xong. Vệ binh tản mát dần. Cảnh vật lại yên tĩnh như không có gì xảy ra.
Trại tù đèn tắt tối thui, nhưng tôi yên tâm nhắm mắt ngủ, vì tôi tin tưởng rằng qua khe vách liếp của các lán tù, thế nào cũng có vài đôi mắt đang theo dõi sự an nguy của tôi.
Sáng hôm sau, trước khi nghe tiếng kẻng xuất trại lao động, có bốn, năm người bị gọi lên trình diện cán bộ an ninh của trại, trong số này có anh Phạm Xuân Độ. Đại Úy Biệt Động Quân Phạm Xuân Độ là một người đàn em trong đơn vị tôi. Tôi và Độ thân nhau như anh em ruột.
Khi đi ngang qua nhà giam, Độ lớn tiếng, cốt cho tôi nghe,
“Thái Sơn ơi! Đàn em không bỏ đại ca đâu! Đại ca ơi!”
Tôi ngồi nhìn theo bóng chú Độ, lòng bồn chồn, thấp thỏm không yên.
Chừng một tiếng đồng hồ sau, nhóm tù dính líu tới vụ lộn xộn đêm qua được thả về. Ngang qua chỗ tôi ngồi, Độ lại phát thanh bổng,
“Thái Sơn ơi! Chỉ có một tờ kiểm điểm, không nhằm nhò gì.”
Nghe vậy, tôi mới thấy lòng nhẹ nhõm, hết lo âu.
Mấy cái báng súng đêm trước đã khơi động những chấn thương cũ trong thân thể tôi. Tôi chợt thấy ngực mình đau nhói một cách kỳ lạ.
"Bục!...Bục!...Ục!...Ục!..."
Ruột gan tôi như đang lộn lạo, sôi sùng sục. Có một vật gì tròn tròn, mềm mềm như cái bong bóng đang tìm đường chui qua cổ họng tôi để thoát ra ngoài.
"Ộc!...Ộc! Phè!...Phè!..." Máu từ ngực tôi vọt qua hai hàm răng, văng tung tóe trên đùi và trên nền ván gỗ.
Tôi ói máu liên tục. Lúc này, trước mắt tôi chỉ còn những đốm sao chớp chớp, lập lòe. Rồi tất cả tối sầm lại, đen đặc. Tôi gục đầu hôn mê trên chiếc còng tay...
"Lai tỉnh đi Long! Long ơi!... Lai tỉnh đi Long!..."
Tôi mở mắt ra, thấy mình đang nằm thoải mái trên nền đất nhầy nhụa, hôi tanh, tay không còng, chân không cùm. Ông thầy thuốc Nam của trại một tay bóp miệng cho tôi thở, tay kia không ngừng giựt giựt mớ tóc mai bên thái dương tôi.
Cán bộ Nghiễm trực trại, đang đứng trước cửa theo dõi. Thấy tôi mở mắt tỉnh lại, y buột miệng,
- Tưởng đi luôn rồi chứ!
Sau đó y ra lệnh cho tên lính gác,
- Dẫn nó ra suối!
Thế rồi, sau nhiều ngày ủ mình trong bộ quần áo kaki đầy máu me, cứt đái hôi thối, tôi được đi tắm. Sức yếu, hai chân lại đau, tôi đi không nổi, đành phải bò. Tới cổng, tôi níu vào hàng rào đứng lên, cố gắng lần mò từng bước. Có hai anh bạn đánh liều chạy tới đỡ, dìu tôi đi. Thấy thế, vệ binh cũng làm ngơ.
Trong lúc tôi đi vắng, một anh bạn tù bị bắt làm công tác vệ sinh nhà giam với một thúng tro.
Tới suối, tôi tụt hết quần áo, lết nhanh xuống dòng nước mát. Hai tên lính canh đã ghìm súng ngồi sẵn trên bờ. Cán bộ Nghiễm ra điều kiện,
- Anh Long có mười phút tắm gội. Cấm không được lặn!
Tôi bỏ ngoài tai lời đe dọa, cứ gục đầu xuống uống đầy một bụng nước, rồi lặn ngụp, vò đầu vò tai. Những con cá lòng tong bu vào gặm nhấm lớp da phủ vảy máu mủ chưa khô trên ống quyển. Lúc đầu, răng cá làm cho những vết thương chân của tôi thật là đã ngứa. Sau đó máu tươm ra, tôi bắt đầu cảm thấy xót, thấy đau.

Buổi chiều, trực trại sai hai bạn tù kè nách đưa tôi lên phòng làm việc. Tôi phải viết hai tờ tự kiểm, phải thành tâm hối hận về hành động trốn trại vừa qua để xin ban chỉ huy trại khoan hồng.
Tôi nại cớ hai tay bị cùm, bị đánh, đã tê dại, không cầm bút được. Thế là một anh bạn gốc Không Quân đang ngồi tỉa bắp trên kho bị điệu vào ghi chép tờ tự khai cho tôi. Tôi nói anh bạn muốn viết gì thì viết, rồi tôi nhắm mắt ký bừa, không cần đọc lại. Lúc nộp hai tờ tự kiểm cho cán bộ, hình như anh ta đã ghi lộn họ Vương của tôi thành họ... Nguyễn thì phải?

Trong thời gian chờ cán bộ của Nha Quân-Pháp Bộ Quốc-Phòng Cộng-Sản từ Hà-Nội về chấp cung, tôi không được đi ra ngoài. Mọi sinh hoạt tiêu, tiểu đều ở ngay chỗ nằm. Hằng ngày, ông thầy thuốc Nam của trại có nhiệm vụ đi vứt cứt đái cho tôi. Biết tôi bị nội thương, ông ta lén dấu cho tôi vài viên xuyên tâm liên. Ông thầy thuốc này cũng là tù cải tạo. Tù mắc bịnh gì ông ta cũng cho uống xuyên tâm liên! Từ thời ông ta đảm nhận công tác y tế của trại, tôi chưa thấy ai chết vì xuyên tâm liên cả.

Ngày Chủ Nhật, trại được nghỉ lao động. Hai cổng trước sau đều bị khóa. Tên lính gác trên chòi cao ngồi ngủ gà ngủ gật. Các bạn tù túa ra sân, người thì tay chân bận bịu với ca cóng trong việc nấu nướng, kẻ tụ họp đánh cờ, vài anh khác mải mê tập thể dục, dưỡng sinh. Có bóng người lạng qua cửa nhà cùm.
"Vèo!...Vèo!...Độp!...Độp!..." vài cục đường thẻ và mấy củ khoai lang luộc được quăng vào nhà kỷ luật.
Hai củ khoai bay tuốt vào góc phòng, ngoài tầm tay với. Còn hai cục đường vì nhẹ, nên rơi nơi bục cửa, tôi chụp lẹ, rồi đưa ngay vào mồm.
Oái oăm làm sao! Cục đường trong miệng lại nằm kẹt ngay chỗ cái răng đã bị tên Lời đập gãy, tôi đau điếng người! Cả hàm răng tê tái, cứng đờ, cục đường nằm trong họng mãi không chịu tan.
Hai ông bạn tù vừa ném đồ ăn cho tôi, một ông là Hải Quân Thiếu Tá Trần Văn Căn, bạn cùng lớp Trần Quí Cáp, người thứ nhì là Đại Úy Vương Thành Lân Khóa 19 Võ-Bị.
Lâu ngày mới thấy chất ngọt, nước dãi trong mồm tôi tiết ra ào ào, nuốt không kịp.
Tới trưa hôm đó mới khổ! Tôi chưa kịp cởi quần đã bị "Tào Tháo" đuổi, bắt tại chỗ! Tay còng, chân cùm, tôi đành nằm chịu trận.
Chờ mãi, tôi mới thấy bóng dáng ông thầy thuốc Nam trước cửa nhà bếp. Tôi lên tiếng gọi, rồi mắc cỡ, nói với ông ta rằng vì bị trúng gió, tôi đã "bĩnh" ra quần.
Ông lang sốt sắng chạy vội lên gặp cán bộ trực trại. Tôi được "chiếu cố" cho ra suối tắm rửa lần nữa.
Hai ngày sau, vào lúc xế chiều, cán bộ Vấn xuất hiện. Đứng chân trong, chân ngoài ngạch cửa, anh ta dặn dò,
- Ngày mai có người từ trên Bộ xuống chấp cung. Tính mạng của anh coi như an toàn rồi đấy! Tôi cũng mừng cho anh. Có điều là cần kín miệng.
Nói vừa xong câu, anh ta vội vàng xoay lưng, bước đi.

---o---

Chín giờ sáng ngày hôm sau, tôi ngồi đối mặt với một thượng úy của Nha Quân-Pháp Cộng-Sản. Công tác chấp cung xảy ra đúng ba ngày.

Ngày thứ nhứt...

Tay nhấn cái nút "Play" màu trắng, đồng thời với cái nút "Record" màu đỏ của chiếc cassette để trên bàn, tên cán bộ bắt đầu cuộc thẩm vấn,
- Trong thời gian ở Trại 4 này, cán bộ và chiến sĩ của trại có làm điều gì trái với chính sách của đảng và nhà nước khiến cho anh và các trại viên khác bất mãn không?
Tôi thoáng nghĩ, "Phủ bênh phủ, huyện bênh huyện, mình có nói ra những hà khắc, bất nhân của cán binh trại này, chưa chắc hắn ta đã làm được điều gì thay đổi. Mà không chừng, tố cáo những gì mình chứng kiến, có khi còn mang vạ vào thân..."

Hai bàn tay xếp trên đùi, tôi tránh đôi mắt người đối diện,
- Thưa cán bộ, tôi thấy rằng ở trại nào thì chế độ cũng như nhau. Tôi không có điều gì để khiếu nại cả.
- Vậy thì, nguyên nhân nào đã khiến anh vượt trại?
- Tôi trốn trại là để đi tìm tự do.
- Sao lại phải đi tìm? Bao giờ học tập xong, anh sẽ được trả tự do thôi!
Ngẩng đầu lên, thấy vẻ mặt người sĩ quan Cộng-Sản không có nét gì là giận dữ, tôi đánh bạo,
- Thưa cán bộ. Cán bộ có thể cho tôi biết, đến bao giờ thì khóa học của tôi mới chấm dứt?
Thừ người ra một phút, viên thượng úy nhịp nhịp cái bút chì trên mặt bàn,
- Cái ấy cũng tùy, một năm, vài ba năm, tùy nơi các anh...

Lúc đó mắt tôi chợt nhìn thấy trong góc phòng một cái giá súng, trên đó dựng bốn khẩu A.K của vệ binh. Một ý nghĩ thoáng qua,
"Hai giây đồng hồ để nhảy từ đây tới cái giá súng. Một giây chụp khẩu A.K. Một giây kéo cơ bẩm. Hai giây vượt qua cửa sổ. Một phút sau có mặt trong vườn sắn. Lính canh trên chòi gác không thể quan sát được phía sau vườn sắn. Phải tốn ít nhất là năm phút, vệ binh mới tập họp xong. Chỉ cần năm phút phù du ấy là ta đã lên tới Lũng Ngàn rồi!"

Tiếng gõ nhịp bút chì chợt ngừng thình lình. Tôi liếc mắt thấy vẻ mặt hơi thất sắc của tên cán bộ. Hình như hắn ta đã thấy mắt tôi đang dán vào cái giá súng?
Y vụt xô ghế, đứng dậy,
- Thôi anh về nghỉ, ngày mai ta làm việc tiếp.
Tôi chột dạ, nhưng cũng không tỏ vẻ bối rối. Phải chống hai tay lên ghế lấy đà, tôi mới từ từ đứng lên được. Lúc này tôi chợt sực tỉnh: sức tôi yếu quá! Tôi đứng còn khó khăn, nói chi tới chuyện chạy, nhảy, leo trèo?

Ngày thứ nhì...

Bước vào phòng trực, tôi không còn thấy cái giá súng A.K trong góc nhà nữa. Bên ngoài cửa sổ thấp thoáng bóng vệ binh ôm súng, rảo bước đi qua, đi lại.

Chờ cho tôi ngồi xuống ghế, viên sĩ quan quân pháp chỉ tay vào một cái bịch giấy dày cộm trên bàn,
- Tôi đã có toàn bộ hồ sơ quân bạ của anh Long ở đây. Đầy đủ hết! Từ bản tướng mạo công vụ, cho tới từng cái giấy phạt, giấy khen, huy chương, khai sinh, giá thú ... không thiếu bất cứ thứ gì. Nếu không tin, anh có thể tự tay kiểm tra lại, xem tôi nói có đúng không?
Rồi y rút ra đưa cho tôi mấy tờ huy chương và bản tướng mạo công vụ của tôi. Thoáng nhìn thôi, tôi đã biết đó là thứ thật.
Thấy tôi có vẻ không hứng thú với việc đọc mớ giấy tờ kia, hắn từ tốn cất chúng vào bao trở lại, rồi gật gù,
- Hôm nay chương trình sẽ là nghe vài cuộn băng.

Cuộn băng thứ nhứt dài nửa giờ ghi lại phiên tòa ngoài trời, cách đây không lâu, xử một anh tù cải tạo tên Phê (?) trốn trại ở đâu dưới Vĩnh-Phú hay Thanh-Hóa gì đó. Tiếng loa vang vang lời kết tội phát ra từ miệng một "cải tạo viên", có lẽ là trật tự hay thi đua,
"Tên ngụy quân này đã ngoan cố vượt trại, không chịu học tập! Đề nghị xử tử!"
Hàng chục người khác nhao nhao tán đồng,
"Đồng ý! "..."Nhất trí!"..."Đồng ý!"..."Nhất trí!"...
Một người nữa phát biểu,
"Thằng này đã cướp súng bắn lại cán bộ! Phải xử tử nó ngay!"
Đám đông lại thét gào,
"Xử tử!"..."Xử tử!"..."Xử tử!"...
Một ý kiến khác,
"Chúng tôi không an tâm học tập khi tên ác ôn này còn sống và tiếp tục quấy rối chúng tôi..."
Khán giả dường như đã say máu,
"Xử tử nó đi!"..."Xử tử nó ngay!"..."Xử tử nó!"..."Xử tử!"...
Đa nghi cách mấy tôi cũng không thể nói cuộn băng này là giả tạo được! Rõ mồn một, đấy là tiếng nói, tiếng la, tiếng hét của đồng đội tôi. Tôi không thể nghe lầm: Đồng đội của tôi đang tranh nhau đòi giết bạn mình!
Là một tù nhân sắp ra tòa lãnh án, tôi không mảy may sợ hãi cái chết, nhưng những tiếng la hét của những người đồng ngũ lại làm cho tôi đau đớn vô cùng.
Cuộn cassette dài có nửa giờ, vậy mà tôi cảm như mình đang trải qua một cuộc tra tấn dài vô tận.

Ngón đòn cân não đã có hiệu quả! Lòng đau như cắt, hai lá nhĩ lùng bùng, đầu tôi choáng váng như muốn nổ tung vì những tiếng thét đầy man rợ,
"Xử tử!"..."Xử tử!"..."Xử tử!"..."Xử tử!"...
Cuộn băng ghi âm chấm dứt không có đoạn kết của phiên tòa. Viên thượng úy xoi mói nhìn vào mặt tôi, như tìm đọc phản ứng của tôi, rồi y bồi theo một câu, như phát đạn ân huệ,
- Anh Phê bị xử bắn rồi đấy anh Long ạ!
Thấy tôi ngồi lặng thinh, hắn ta nói nhỏ,
- Tôi không cần hỏi thêm anh về lai lịch hay thành tích nữa làm gì. Chúng tôi có đủ tài liệu và hồ sơ để xác định tội trạng của anh rồi. Tuy nhiên, tôi cũng mạnh miệng bảo đảm rằng, tội của anh chưa đến mức bị xử tử hình. Tin tôi đi!
Sau khi được uống một bát nước lạnh, tôi tiếp tục ngồi nghe cuộn băng thứ nhì, cuộn băng ghi lời phát biểu của hai vị đại tá bị Cộng Quân bắt tại mặt trận Ban-Mê-Thuột.

Cuộn băng chót là một buổi học tập, phê bình, kiểm thảo của một nhóm sĩ quan cấp tướng và đại tá.
Qua hai cuộn ghi âm vừa rồi, tôi nhận ra giọng nói của những vị tôi đã từng dưới quyền, đã từng thân thiết. Vẫn giọng nói xưa, nhưng những lời tôi nghe được lại như từ miệng ai đó, tôi chưa từng gặp, chưa từng tiếp xúc bao giờ!
Trong cơn bão tố cuồng điên, con thuyền quốc gia của dân tộc tôi chìm nhanh quá! Giữa biển khơi không thấy bến bờ, những người sắp chết đuối thấy vật gì bồng bềnh trước mắt, cứ ngỡ rằng đấy là một cái phao, đâu ngờ đó chỉ là đám bọt nước mà thôi!
Thực tình, từ ngày mất nước, tôi chưa bao giờ có ý oán trách bất cứ ai, kể cả các cấp chỉ huy và bạn đồng ngũ của tôi. Tôi chỉ thấy xót thương cho bạn bè mình, và buồn cho số phận của chính mình.
Người cán bộ xếp dọn đồ nghề, rồi nói câu chấm dứt buổi thẩm cung,
- Thôi! Mai ta tiếp tục anh Long nhé!
Tôi khập khiễng trên đoạn đường từ ban chỉ huy trại về buồng giam, sau lưng là một họng A. K.

Ngày chấp cung thứ ba...

Viên thượng úy xoa xoa hai bàn tay vào nhau,
- Hôm nay chủ đề trao đổi giữa chúng ta sẽ là: “Quốc-Gia và Cộng-Sản.” Tôi sẽ không đánh đập anh đâu. Đừng e ngại, sợ sệt, cứ việc phát biểu một cách công tâm. Tôi cho phép, và khuyến khích anh nói thật lòng mình, về những gì anh cho là sai, là đúng của hai chế độ. Mục đích chuyến công tác của tôi lần này chỉ có thế!

Tôi ngồi ngẩn mặt ra. Thật là ngoài mức tưởng tượng! Tôi đã một lần nếm mùi cái “kinh nghiệm thương đau" của kẻ bị tra khảo vì tội trốn trại rồi, nên tôi biết, trong thời gian chấp cung, tù vượt ngục nào cũng bị đánh cho tới bò lê, bò càng, cả tháng sau, thân mình còn ê ẩm.

Tôi nghĩ lần này cũng lại bị đánh, bị buộc tội trối chết, rồi phải tỏ ra ăn năn, hối lỗi những việc mình đã làm, sau cùng là ký bản cam kết, hứa hẹn sẽ không còn tái phạm nữa...vân vân.

Ấn nút cho máy ghi âm chạy, thẩm vấn viên hất hàm,
- Theo anh, cuộc chiến tranh vừa qua chính nghĩa thuộc về phe Quốc-Gia hay Cộng-Sản?
Tôi đáp liều,
- Mỗi bên tham chiến có lý lẽ riêng để bênh vực cho chủ trương của phía mình. Người Cộng-Sản có lý của họ, còn chúng tôi, có lý của chúng tôi.
Người hỏi cung lắc đầu, nghiêm giọng,
- Anh hãy nói thẳng ra ý kiến của cá nhân anh. Phải là "ý kiến tôi thế này, ý kiến tôi thế kia!" Không được nói quanh quanh, nói chung chung kiểu..."chúng tôi thế này, chúng tôi thế kia..."
Tôi nuốt nước bọt rồi trả lời thẳng thừng,
- Tôi chiến đấu có chính nghĩa vì tôi là người tự vệ, Miền Bắc là kẻ xâm lược.
Hắn ta vội át giọng tôi,
- Anh nói sai rồi! Chúng tôi mới có chính nghĩa vì chúng tôi chiến đấu để giải phóng Miền Nam thoát ách cai trị của ngoại bang.
- Không có ngoại bang nào cai trị Miền Nam cả. Việt-Nam Cộng-Hòa là một nước độc lập.
Y hét lên,
- Độc lập giả tạo! Thực chất Ngụy-Quyền Miền Nam chỉ là tay sai của đế quốc Mỹ.
- Việt-Nam Cộng-Hòa là một quốc gia đồng đẳng với các nước khác trên thế giới. Miền Nam có chính phủ riêng, hiến pháp luật lệ riêng. Tổng Thống và Quốc Hội nước Việt-Nam Cộng-Hòa là do dân bầu lên, có nhiệm kỳ hiến định hẳn hoi, sao lại gọi là tay sai được?
Tôi ngừng lại, chờ xem ý kiến của người đối diện ra sao thì thấy y đã tắt máy.

Ngồi im một lát như để tĩnh tâm, rồi thật chậm rãi, hắn ta ôn tồn trở lại,
- Tôi sẽ không đấu lý với anh nữa. Vì nếu cãi nhau thì anh sẽ ở vào thế yếu, còn tôi ở thế mạnh, không được công bằng. Từ bây giờ tôi chỉ đặt câu hỏi. Anh được tự do trả lời theo ý anh! Như vậy có được không?
Thấy tôi gục gục đầu, hắn nhấn nút cho máy quay, rồi tiếp tục,
- Anh nói rằng Miền Nam là tự do, vậy hãy diễn tả cái tự do đó thể hiện ra sao ngay trong cuộc đời của chính anh.
- Tôi lớn lên trong một chế độ mà trong đó, chúng tôi muốn nói gì thì nói, nghe gì thì nghe, đọc gì thì đọc. Không bị ai nhồi nhét tư tưởng này, tư tưởng kia vào đầu. Ngay như tôi là một thiếu tá, mà suốt mười hai năm quân ngũ tôi chưa bị bắt buộc phải vào dự một buổi học tập chính trị nào cả. Những hiểu biết về Cộng-Sản, hay Tự-Do là do cái vốn kiến thức thu thập từ thực tế và tự tìm hiểu qua báo chí, sách vở. Không ai ép buộc tôi phải tôn thờ chủ nghĩa này, đả phá chủ nghĩa kia.
- Nếu nói rằng Miền Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì tại sao lại có những cuộc biểu tình, xuống đường của Cha, Cố, Giáo Dân cũng như của Tăng Ni, Phật Tử?
- Chính vì có tự do nên mới xảy ra những chuyện xuống đường, phản kháng, nếu không có tự do thì toàn dân sẽ câm như hến.
- Anh có là một thành viên của đảng Dân-Chủ không? Nếu một người lính mà không là đảng viên đảng Dân-Chủ thì có bị thiệt thòi gì không?
- Thú thật tôi không để ý đến vụ đảng phái. Tôi không gia nhập đảng nào. Tôi cũng chưa thấy đảng nào công khai gây ảnh hưởng trong đơn vị tôi bao giờ.
- Trong thời gian qua, anh đã có dịp tiếp xúc với dân chúng Miền Bắc, anh có nhận xét gì về nếp sống của dân chúng Miền Bắc không?

Thấy có dịp giải tỏa ấm ức, tôi hứng chí nói một mạch,
- Miền Bắc và Miền Nam khác hẳn nhau. Ở trong Nam, người dân có thể sống theo ý mình muốn. Còn Miền Bắc là một xã hội có quy củ, có khuôn phép. Từ vấn đề cơm, áo, gạo, tiền, nhà cửa, ruộng vườn, cái gì cũng có tiêu chuẩn cả. Cái gì cũng tem phiếu, sổ sách. Hàng còn nằm trong kho quốc doanh có một giá, tới lúc tuồn ra ngoài, nó thành giá khác, đắt gấp chục lần. Lao động xã hội chủ nghĩa thì người này dựa vào người kia. Làm việc hợp đồng, vần công chỉ là chuyện lãng phí nhân lực. Tôi đã thấy có một mảnh ruộng cỡ nửa sào, mà ào xuống mười người, với mười con trâu, và mười cái cày. Họ làm việc chừng một giờ đồng hồ, mà chấm công là một ngày. Thời giờ còn lại, mạnh ai nấy đi canh tác riêng để cải thiện. Lý thuyết là không có quyền tư hữu, tất cả là tài sản chung, nhưng trên thực tế, ai cũng lo mưu cầu lợi ích riêng, vì ai cũng thiếu thốn cả. Có lẽ vì thế mà mấy chục năm nay Miền Bắc vẫn nghèo, không khá lên được.

Tôi thấy kỹ thuật thẩm vấn của người Cộng-Sản có vẻ na ná với kỹ thuật khai thác của Đức Quốc-Xã thời Thế Chiến thứ 2 trong những tài liệu mà tôi đã đọc qua. Thoạt đầu, với đôi ba câu hỏi bâng quơ, tù binh được nói thoải mái thả giàn vài phút. Sau đó, thẩm vấn viên mới ra tay, bằng những câu hỏi dồn dập, tới tấp, loanh quanh, lẩn quẩn một vấn đề, làm cho óc người bị thẩm vấn rối tung lên, không biết đâu mà chống đỡ.

Với những câu hỏi ngoắt ngoéo, viên thượng úy Cộng-Sản đã cố gắng moi móc những gì tôi cất dấu trong đầu về cuộc đời tôi, từ thuở mới di cư, đến khi ngập ngũ, rồi tới ngày rã ngũ.
Trong thời chiến, tôi đã qua lớp Tình-Báo Tác-Chiến Singapore, rồi nhiều năm, đảm nhận chức Trưởng Phòng Quân- Báo của Bộ Chỉ-Huy Biệt Động Quân, Quân-Khu 2, Việt-Nam Cộng-Hòa. Tôi đã thẩm vấn rất nhiều tù binh, và đã hoàn tất nhiều bản cung từ.

Do đó, tôi đủ bản lãnh để luồn lách, tránh né những bí mật liên quan tới sinh mạng những người đã cộng tác với tôi thời trước, như tên tuổi các mật báo viên trong mạng lưới mật báo của Phòng 2 Biệt Động Quân Quân-Khu 2, danh sách các cán binh chiêu hồi đã hướng dẫn các chuyến xâm nhập vào lòng địch của tôi trong thời gian 1972- 1973.

Chỉ sau vài câu hỏi trùng lặp, tôi đã nghiệm ra ngay chủ đề của cuộc "thi vấn đáp" trường chinh hôm ấy là nhằm khai thác tin tức liên quan tới "Vai trò của Chính-Trị và Tôn-Giáo trong Quân-Đội Việt-Nam Cộng-Hòa" Về cả hai lãnh vực trên đây, quả tình, tôi chỉ là một tay ấm ớ, nên người tra hỏi chẳng biết được gì.

Cứ thế, trừ đi cỡ sáu, bảy phút cho hai lần đi tiểu, và khoảng mười phút cho bữa ăn trưa với một củ khoai lang luộc, tôi phải trả lời hàng trăm câu hỏi trong thời gian dài từ sáng sớm tới xế chiều. Tôi không nhớ có bao nhiêu cuộn băng mới đã được thay, mấy lần pin mới được lắp vào máy.
Chấm dứt ngày làm việc cuối cùng, không chỉ người bị chất vấn, mà ngay cả người đặt câu hỏi cũng thấy mồ hôi vã ra đầy mặt.

Người cán bộ châm điếu thuốc lá, rít một hơi, rồi trao nó cho tôi,
- Anh Long ạ! Tôi đã thực hiện công tác phỏng vấn này với một ông sư, một ông cha, một nghị sĩ, một dân biểu, hai cấp tướng, hai cấp đại tá, và ba người cầm đầu đảng phái chính trị. Mỗi anh có nhân cách riêng khi đối diện với tôi. Cũng những câu hỏi ấy nhưng mỗi người trả lời khác nhau. Mỗi anh có lý lẽ riêng. Anh là người tuổi nhỏ nhất và có địa vị thấp nhất mà tôi đã gặp trong công tác này đấy! Bây giờ tôi có một câu hỏi riêng tư với anh. Câu hỏi cuối cùng. Anh có vui lòng trả lời tôi không?

Tôi rít một hơi thuốc dài, nuốt ực vào, ém khói trong phổi, thấy tỉnh táo dần,
- Vâng! Tôi sẽ trả lời cán bộ.
- Nào! Anh hãy thành thật, tuyệt đối thành thật, trả lời tôi: Quan niệm của anh ra sao đối với sự sống và sự chết?

Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt người đối diện, dò chừng. Hình như hắn ta không có âm mưu gì chứa ẩn trong câu hỏi. Tôi hắng giọng, rồi nhỏ nhẹ trả lời, rõ ràng từng tiếng một,
-Thưa cán bộ. Tôi nghĩ, đời tôi bây giờ có sống cũng chẳng thấy vui thú gì, thì nếu chết, tôi cũng coi như là trở về cùng cát bụi. Tôi không có điều gì phải hối hận hay vướng bận cả.
Viên thượng úy Cộng-Sản đứng lên, bàn tay y xiết bàn tay tôi một cái rất nhẹ, rồi buông ra ngay. Y nói với tôi, nhưng có vẻ như nói một mình,
-Tiếc thay! Anh lớn lên ở Miền Nam. Nếu ngày đó anh không di cư, thì có lẽ, giờ này, những người tầm cỡ như tôi, muốn gặp mặt anh cũng là một điều khó khăn.

-----o-----

Buổi trưa sau ngày hoàn tất hồ sơ thẩm vấn, đầu óc thật thoải mái, tôi nằm im, đón nghe trong gió vọng về những âm thanh quen: tiếng ve sầu rên rỉ trên Lũng Ngàn, tiếng chân trâu kéo gỗ nặng nề qua đoạn đường quanh, tiếng xẻng cạo chảo bên nhà bếp. Gần tôi nhứt là tiếng "kẽo! kẹt!" của loài mọt gỗ đang đục khoét cái cột giữa nhà.

Tôi ngửa cổ nhìn lên nóc tranh, trước mắt tôi là cảnh một con ruồi xanh đang cố gắng một cách tuyệt vọng tìm cách thoát khỏi cái màng lưới nhện. Thân phận tôi giờ đây ví như thân phận con ruồi xanh trên kia, không hơn, không kém. Nhện và ruồi là hai động vật khác loài. Chúng giết nhau để sinh tồn. Còn tôi và những người đang giam cầm tôi lại cùng chủng loại.

Tuần lễ sau, vào giờ cơm chiều, cán bộ Vấn bước vào, ngồi trên bệ cửa, rút bao Cửu-Long ra, bật lửa châm cho tôi một điếu. Chờ tôi hút xong điếu thuốc lá thơm, anh ta mới mở lời,
- Bà mẹ anh ngày xưa đẹp nhất làng Trác-Châu đó! Anh có biết không?
Tôi trố mắt,
- Cán bộ có lớn tuổi hơn tôi nhiều đâu? Làm sao mà cán bộ biết điều này?
- Ngày anh bị đưa về cùm lần đầu ở trại này, tôi đã đọc qua lý lịch của anh rồi. Tôi biết tên bố mẹ anh và tất cả họ hàng bên ngoại của anh nữa. Nhà tôi ở sát rào nhà cụ Ngãi, ông ngoại của anh. Thời còn là con gái, bà cụ sinh ra tôi là bạn thân của bà cụ nhà anh. Mẹ tôi nói hồi đó mẹ anh có làn da trắng như trứng gà bóc. Mẹ anh không lấy người trong làng, lại đi lấy người làng bên. Sau khi bố anh bị giết, mẹ con anh đã bỏ xứ, ra đi biệt tăm. Không ngờ sau đó gia đình anh di cư vào Nam, và anh đã làm tới chức thiếu tá. Dù gì thì chúng ta cũng là người cùng làng...

Tới lúc đó, tôi mới hiểu lý do vì sao viên sĩ quan Cộng-Sản này lại nương tay với mình.
Cán bộ Vấn thọc tay vào túi, lôi ra một cái phong bì. Mở phong bì, móc cái ảnh cỡ 6x9 cm đưa cho tôi, anh ta nói nhỏ,
- Anh Long có thơ. Nhưng tôi không được phép đưa thơ cho anh. Tôi "diếm" cho anh cái ảnh của vợ con anh. Nhớ giữ kín đừng cho ai biết.

Nói xong câu này, Vấn nhét vào tay tôi một điếu thuốc nữa, rồi đứng lên, lững thững đi về hướng nhà bếp.

Có lẽ cái thư chứa tấm hình đã tới trại trong thời gian tôi tại đào. Trong hình là vợ tôi bế thằng con út ngày nó vừa biết lật. Nay chắc thằng bé đã biết nói, biết chạy rồi?
Ấp cái ảnh vợ con vào lòng, tôi nghe rõ ràng, tim mình đang thổn thức...
Tôi được nhìn thấy mặt bố tôi lần cuối cùng (1946), ngày tôi lên bốn tuổi. Còn thằng con tôi, không biết suốt đời, nó có dịp nào nhìn thấy mặt bố nó hay không?
Từ lúc đó cho tới tối mịt, cứ lâu lâu, tôi lại dở cái ảnh ra xem.

(Vợ và con trai của VMLong-1975

Vằng vặc trăng trôi...
Tôi nằm quay mặt về hướng Tây. Cửa chính của phòng giam không bao giờ đóng. Ngoài kia ánh nguyệt chan hòa.
"Tưng!... Tửng!... Từng!... Tưng!..."
có tiếng đờn ghi ta vọng cổ bay sang từ Lán 1. Tiếp đó là một câu hò (hay sàng xê) não nuột,
"Đêm nay trăng sáng...(á!) lung linh, em ngồi trông trăng.
Lòng nhớ thương anh, mà lòng... (ừ!) buồn mông mênh.
Mình cách xa nhau rồi...(à!) Mình mất nhau muôn đời.
Đêm ngồi trông trăng, mà mắt lệ ...(ý! à!) tuôn rơi..."
Tôi không phân biệt được giọng hò này là của ông trung tá con rể bà Bút Trà, hay là của ông đại úy con rể cụ dân biểu Hoàng Kim Quy?
Ánh trăng lùa tiếng đờn tràn qua cửa phòng giam.
"Từng!" ..."Tưng!"..."Tứng!"..."Tứng!" ..."Tưng!"...
Nhịp đờn bỗng rối rít hẳn lên, quện vào tiếng hát, xoắn lại như con chốt, rồi vút lên thật cao,
" Trời ơi! ... Bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn
Nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu ... Hà...
...Tưng! Từng!...Tưng! Tửng!...Từng! Tưng!... Ư...ưng... ư...ưng..."
Giữa đêm trăng lạnh, vô tình, khúc "Võ Đông Sơ" đã như mũi dao nhọn, xoáy vào tim người nghe...
Ngày xưa tôi là chúa ghét vọng cổ. Cứ thấy mấy anh kép cải lương "miệt rừng" trong đơn vị vừa cất giọng,
"Biên cương lá rơi, Thu Hà em ơi!”
... tôi lại bấm bụng cười thầm, lỉnh nhanh đi chỗ khác.
Vậy mà giờ đây, giọng ca của mấy ông nghệ sĩ tay ngang cũng làm cho tim tôi xốn xang. Tôi nằm trằn trọc hoài mà không nhắm mắt được. Đêm sao quá dài...

-----o-----

Từ đầu tháng Sáu, sau giờ ăn trưa mỗi ngày, tôi được mở còng cùm vài phút để đi vệ sinh. Chuyện ỉa đái của tôi xảy ra ngay trong vòng rào mà vệ binh cũng phải kè kè đi kèm. Khi tới đầu Lán 11, vì sợ thối nên tên bộ đội đành dừng lại, ôm súng đứng canh, cách nhà cầu chừng sáu chục thước. Mắt nó cứ lom lom theo dõi những người tù trên đường ra nhà xí. Nó soi mói, kiểm soát kỹ càng những ống vầu chứa nước họ xách theo để rửa đít. Nó sợ bạn tù lén lút liên lạc tiếp tế cho tôi!

Bọn cai tù không thể ngờ rằng, trước khi tôi được mở cùm, đã có hai ba anh bạn tới ẩn mình trong cầu tiêu rồi. Họ tranh nhau nhét vào miệng tôi, cục đường, củ khoai, và cả những viên thuốc bổ. Tôi chỉ được phép ở trong chuồng xí có năm phút. Trong năm phút, tôi vừa ăn, vừa đại tiểu tiện, vừa nói chuyện với bạn bè.

Hàng ngày, bạn tù chia phiên nhau giúp đỡ cho ba người đang bị phạt. Các anh Thiếu Tá Hoàng Văn An, Đại Úy Vương Thành Lân, Đại Úy Nguyễn Hữu Quang, Đại Úy Phạm Xuân Độ, và Đại Úy Đỗ Dũng là những người tôi gặp mặt thường xuyên, ngoài ra còn nhiều bạn khác nữa. Họ lo cho tôi vào giữa trưa, và lo cho anh Trụ, anh Cả vào lúc xế chiều. Nếu hôm nào cả trại phải đi lao động suốt ngày, thì các anh trực lán sẽ làm công tác cứu trợ.

Thời gian này người tù mang cơm cho nhà kỷ luật là Nguyễn Hữu Quang, bạn cùng khóa Võ-Bị của tôi. Những khi có dịp thuận tiện, anh Quang thường lén lút ém thêm phần ăn cho người bị giam.

Cũng may những chuyện này không đổ bể. Chứ cai tù mà biết được thì các bạn tôi chỉ có nước vào cùm!
Trong cảnh hoạn nạn, tôi đã không bị bạn bè bỏ rơi. Những sự trợ giúp ấy đã khiến tôi tăng thêm sức lực cả về thể chất lẫn tinh thần. "Khốn khó có nhau, là huynh đệ chi binh!" phải gặp cơn nguy biến mới thấy cái cao đẹp của tình đồng đội.

Những tháng tiếp theo, tôi và hai anh bạn bị đưa đi vòng vòng, lần lượt nhốt trong các trại tù quanh vùng Cẩm-Nhân, Yên-Bình. Mỗi khi tới trại mới, ba “cải tạo viên” vượt ngục lại trở thành những cái bao cát cho bọn vệ binh của trại đó thực tập võ nghệ.

Cuối cùng chúng tôi bị dẫn vào Trại 2 trong Tích-Cốc, nhốt chung với một tay "Papillon" của trại này. Anh ta nằm trong căn bìa của nhà kỷ luật, cách tôi một tấm phên.

Ghé mõm sát cái lỗ nhỏ dưới chân vách, tôi hỏi nhỏ,
- Này! Tên gì? Cấp gì?
- Thường! Đại úy!
- Đi lúc nào?
- Sau các cha một tháng.
- Mấy người?
- Bốn.
- Ba ông nội kia đâu?
- Thoát rồi!
- Còn cha? Sao lại nằm đây?
- Mình bị sa ruột, giữa đường đành bỏ cuộc, bị dân quân bắt, dẫn về giao lại cho trại, rồi bị tống vào đây.
- Đã bị chấp cung chưa?
- Rồi!
- Có bị đánh không?
- Tơi bời! Đau lắm các cha ơi!

Mấy ngày sau, người đưa cơm của Trại 2, vốn là một đại úy Biệt Động Quân thì thầm với tôi rằng,
"Một toán vệ binh của Trại 2 đã kêu gọi được ba người bạn của anh Thường ra đầu hàng rồi. Nhưng ngay sau đó, chúng bắn chết hết ba người này, rồi đổ hô là họ bỏ chạy lúc ban đêm!"

Nghe chuyện này, tôi nhớ lại cái đêm trời tối đen như mực cách đó không lâu, nếu tôi nghe lời tên vệ binh, bước ra khỏi cổng để lên ban chỉ huy ký giấy cho về đội lao động, thì tôi đã bị bắn chết rồi!
Cuối năm 1978 có tin Trung-Cộng sắp đánh Việt-Cộng, ba chúng tôi lại bị còng dính vào nhau đưa lên xe, vượt sông Lô, qua đèo Khế, ghé Tân-Trào, rồi chạy một lèo về Trại Phú-Sơn 4, Thái-Nguyên.

Tại đây, vừa được tháo còng ra, tôi đã bị tống vào đội trừng giới số 12 toàn là dân vượt ngục, chuyên làm lò gạch. Đồng cảnh ngộ, nên anh em trong đội này đã thương yêu, đùm bọc lẫn nhau như người thân trong một nhà.

Tháng Ba năm 1979 quân Tầu ào qua biên giới, chúng tôi lại bị còng từng cặp, đưa lên Molotova, chạy một mạch qua thủ đô Hà-Nội về tuốt miệt Hà-Nam, Phủ-Lý.

Trong lúc chờ phà vượt sông Hát, đoàn xe bị dân chúng ném đá tơi bời. Tù chỉ còn nước ôm đầu, úp mặt xuống sàn xe. Thì ra dân chúng tưởng chúng tôi là tù binh Trung-Quốc!

Đến khi biết trên xe là tù cải tạo Việt-Nam Cộng-Hòa thì dân chúng lại đua nhau ném chúng tôi lần nữa! Chúng tôi lại lo ôm đầu, úp mặt. Nào ngờ, lần này đầu cổ, tóc tai lãnh toàn là xôi, đường, kẹo bánh, xu hào, cải bắp!

Quý hóa hơn mọi món quà mà chúng tôi nhận được ngày hôm đó là, lần đầu kể từ khi bại trận, chúng tôi lại được nghe hai tiếng "Hoan hô!" từ miệng của đồng bào tôi.

Dù chỉ có vài tiếng "Hoan hô!" rụt rè phát ra trong đám đông thôi, đã khiến đôi mắt tôi cay xè. Nhìn sang bên, tôi thấy mặt anh bạn chung còng cũng nhạt nhòa nước mắt...
Từ ấy, cứ vài năm một lần, tôi lại bị chuyển sang trại mới, cuối cùng là Z30 D Hàm-Tân. Tới năm 1988 tôi được tha.

Nhớ lại, một ngày mùa đông năm 1965, tôi đã quỳ xuống giữa vũ đình trường Lê-Lợi Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam để tuyên thệ rằng sẽ đem xương máu mình bảo vệ tổ quốc, phục vụ đồng bào. Sau khi đứng lên, tôi trở thành một sĩ quan Biệt Động Quân. Qua bao nhiêu năm xông pha nơi chiến trường, rồi trầm luân trong tù ngục, tôi vẫn ghi tạc trong lòng một lời khuyên,
“Thà làm một viên ngọc nát, chứ không làm một viên ngói lành!"

Vương Mộng Long
Seattle, tháng 3 năm 2012
hongvulannhi  
#3862 Posted : Saturday, September 8, 2012 7:53:29 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,833

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

Câu chuyện về chữ NHẪN


Có một nhà sư chọn tu pháp Nhẫn nhục Ba la mật, sau nhiều năm tháng nỗ lực tu tập thì sư cũng thành tựu được rất nhiều công hạnh, trụ vững như kim cương khi bình an trước mọi nghịch cảnh, bị người khách ganh ghét, lăng nhục, mưu hại sư vẫn luôn nở nụ cười trên môi thản nhiên như không.

Rất nhiều người tán thán sư và thường xuyên đến chỗ sư để đàm đào và thực tập hạnh tu này, sư luôn vui vẻ tiếp đón và chia sẻ những kinh nghiệm thực tập được cho họ.

Một hôm có một thanh niên đến tham quan chùa, anh ngưỡng mộ hạnh tu của sư nhưng vì mới tìm hiểu đạo nên không biết chuyện gì để tham vấn, nhìn quanh thấy trên tường treo tấm bảng gỗ có một chữ sư viết rất bay bướm, anh liền hỏi:

- Thưa Thầy, đây là chữ gì ạ?

Sư trả lời đầy vẻ tự hào:

- Chữ Nhẫn viết theo lối thư pháp, ta phải tập viết hàng trăm lần mới được như ý đấy con à.

Anh gật gù vẻ tán thưởng, sau khi đi lòng vòng ngó nghiêng đây đó anh đứng trước tấm bảng gỗ gãi đầu gãi tai:

- Thưa Thầy chữ gì đây ạ?

Nhà sư tươi cười trả lời:

- Ta tu hạnh nhẫn nhục nên viết chữ Nhẫn đó mà .

Một chút sau, anh lại ngắm nghía tấm bảng và hỏi:

- Thưa Thầy, thầy viết chữ gì đây ạ ?
- Chữ NHẪN!

Trước khi ra về anh lại tần ngần trước tấm bảng:

- Thưa Thầy, chữ gì đây ạ?

Nhà sư không chịu nổi nữa, nộ khí xung thiên:

- Chữ nhẫn! nhẫn ! nhẫn! Đồ ngu , ngu gia truyền ! Có một chữ mà nãy giờ hỏi hoài, hỏi hoài! Cút ngay!

Lời bàn :

Chữ Nhẫn được ghép từ hai chữ: Đao ở trên và Tâm ở dưới. Tâm( tức là trái tim) mà không chịu nằm yên thì Đao ( tức con dao) sẽ phập xuống tức thì. Vậy đấy, tự mình mà nhẫn nhịn được thì đao kề cổ vẫn bình yên vô sự, bằng không thì tai họa sẽ giáng xuống đầu mình trước tiên.

Cách viết chữ nhẫn:

Chữ ĐAO (con dao) ở trên và chữ TÂM (con tim) ở dưới. Lưỡi dao ấy ở ngay trên tâm, và nếu như gặp chuyện mà không biết nhẫn nhịn thì tránh sao khỏi đau đớn, có nhẫn nhịn mới chuyển nguy thành yên, bại thành thắng, dữ thành lành…
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
BiểnĐông on 9/9/2012(UTC)
hongvulannhi  
#3863 Posted : Saturday, September 8, 2012 8:37:51 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,833

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

.Trã 1 tỷ bằng tiền xu !!


Tuần rồi, sau khi thắng kiện Samsung phải bồi thường cho quả táo cắn dỡ 1 tỉ Đô la. Tuần nầy, Apple tiếp tục đệ đơn kiện Samsung vi phạm 8 bằng sáng chế. Mời xem Samsung đền tiền cho Apple nè ...

Như mọi người đã biết Samsung đã thua kiện Apple và phải trả cho Apple 1 tỉ đô la tiền phạt.

UserPostedImage


Sáng nay, hơn 30 xe tải chở đầy tiền xu loại 5 cent đã đến trụ sở Apple ở California. Ban đầu, bảo vệ của Apple còn bảo các tài xế là họ đã đến nhầm địa chỉ nhưng một lúc sau đó, CEO Apple, ông Tim Cook đã nhận được một cú điện thoại từ CEO Samsung giải thích rằng đó là số tiền 1 tỷ USD tiền thua kiện sáng chế họ trả cho Apple.

Trong điều khoản thanh toán Apple đã quên mất 1 điều khoản về địa điểm và giới hạn loại tiền thanh toán.

Đây quả là một vấn đề đau đầu của Apple. Các giám đốc Apple sẽ phải tìm ra biện pháp để đếm tất cả số tiền đó, kiểm tra xem số đó đã đủ 1 tỷ chưa và phải cố gắng thuyết phục làm sao để ngân hàng chịu nhận số tiền này. Xem ra, Samsung đã tìm được cách "chơi bẩn" thích đáng để đáp lại trò "chơi bẩn" của Apple.

Tổng số đồng tiền 5 cent mà Apple sẽ nhận được từ Samsung là 20 tỉ đồng xu 5 cent.


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 2 users thanked hongvulannhi for this useful post.
ngoc tran on 9/8/2012(UTC), BiểnĐông on 9/9/2012(UTC)
hongvulannhi  
#3864 Posted : Sunday, September 9, 2012 1:17:48 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,833

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

Vì sao có cuộc trưng cầu Dân ý năm 1955 ?


Bút Xuân Trần Đình Ngọc


Tôi không muốn tranh luận nhiều nhưng tôi phải nói cho Võ văn Sáu biết rằng:-gần như toàn dân miền Nam đã chán ngán ông Bảo Đại, ngoại trừ bọn Bảy Viễn và một số đảng phái lau nhau con đẻ thực dân phong kiến, muốn lợi dụng Bảo Dai để ăn có chia phần hay chống đối ông Diệm.

Bảo Đại lúc đó tượng trưng cho một ông vua ăn chơi, háo sắc, đĩ điếm, đi chim chuột vợ người Pháp bị nó bắn què chân; chỉ có một việc là ăn rồi đi săn bắn, khg thiết gì đến việc triều chính, khg biết nhân dân đói khổ ra sao (coi vụ đói tháng 3 Ất Dậu là biết, BĐ khg hề có nửa lời với toàn dân hay lo cho dân có một chút gạo) một con người hoang đàng, vô giá trị, bất xứng với ngôi vị hoàng đế giũa lúc cao trào đòi Độc lập lên cao, BĐ thua cả một em bé nhi đồng cứu quốc.

Bà Nam Phương hoàng hậu (Nguyễn hữu thị Lan, CG, đậu Tú Tài bên Pháp lúc 19 tuổi, xinh đẹp và đức hạnh rất mực, yêu kính Bảo Đại nhưng rồi khg được bao lâu, ông hoàng hiếu sắc này bỏ vợ đi theo Mộng Điệp, một gái chơi khéo chiều đàn ông. Sau Mộng Điệp cả thảy còn 5 hay 6 bà nữa mà cô đầm Monique Baudet là chót, khi BĐ từ trần lúc 83 tuổi).

Cha BĐ, là vua Khải Định khi xưa cũng đã bị toàn dân khinh bỉ rồi, bố tôi nói những chuyện này cho tôi nghe khi tôi hơn chục tuổi (vào đoàn Thiếu nhi cứu quốc). Cái lăng Khải định nói lên tính khí người nằm trong đó. KD sang Pháp dịp Pháp có chợ phiên (Fair), người dân nói trông ông như vua của một bộ lạc Mọi.

Từ 1945, hình ảnh Bảo Đại đã bị bôi đen bởi Hồ chí Minh, Bảo Đại phải đi làm Cố vấn cho Hồ nhưng không được mấy ngày thì cũng phải trốn sang Hồng Kông để bảo toàn tính mạng. Ngay cả Phó chủ tịch là cụ Nguyễn hải Thần, BT NGoại giao Nguyễn tường Tam, BT Thanh Niên (?) Vũ hồng Khanh v.v.. nghĩa là những người khg đồng chính kiến với Hồ...tất cả phải trốn cho nhanh khg thì khó toàn mạng.-

Con thuyền miền Nam lúc đó (từ 7-1954) sóng gió ba đào, ai nhìn thấy cũng phải sợ rằng khg qua được vài con trăng là sẽ sụm. Bọn xôi thịt đảng phái toàn một thứ lăm le nhảy vào tranh phần (như bọn Caravelle), hầu hết là một bọn chó chết, như Bảy Viễn vẫn mở Kim Chung Đại thế giới có bình khang, bài bạc lấy xâu y như mafia New York để nuôi đàn em và đóng sở hụi cho quan chức có máu mặt.

Dân đã nghèo lại vào Kim Chung càng nghèo hơn. (Những Thủ tướng của Bảo Đại, tay sai thực dân phong kiến: Nguyễn văn Tâm, Trần văn Hữu ...quá thối nát và và vô chính trị đều đã có thời gian thử lửa, nhưng đều thất bại.

Chính bởi vậy cuộc "cách mạng tháng 8" và "giải phóng" của Hồ mới được chào đón như một liều thuốc hồi sinh mà khg mấy người VN khg bị hút vào). Bảy Viễn lại còn hứa với Bảo Đại sẽ chia phần khá nếu Bảo Đại truất phế ông Diệm đi để y (hay ngưới phe cánh của y) lên làm Thủ tướng.

Vì vậy BĐ làm lệnh triệu ông Ngô sang, rồi cất chức để ông bể mặt. Nhưng ông đã suy tính và nhiều người can khg cho ông đi vì đi là khg có ngày về.

Bảo Đại tốt lành gì hở Võ hữu Quyền? Bảo Đại lúc đó mới sang Pháp, đang cần tiền để sống nên bằng mọi giá thuyết phục ông Ngô sang "bàn việc".

Đứa ngu lắm thì mới sang cho BĐ mần thịt, hay giữ miết lại đó thì CP ở nhà bể. Hoà Hảo vẫn chưa phục tùng, vẫn chống đối và hùng cứ một phương cho đến mãi sau này, TT Lâm thành Nguyên (?) mới dẹp được.

Trong lúc số phận QG miền Nam như sợi chỉ mành treo chuông, người đang có được sự tín nhiệm của 99% dân miền Nam vì lòng yêu nước, thương dân, liêm khiết, đạo đức, nếu ông NGô đình Diệm không chịu làm cuộc trưng cầu Dân ý thì loạn to đến nơi và giữa lúc đó, VC tấn công khơi khơi chúng vẫn ăn vì Quân Lực ta chưa có, mọi thứ yếu kém chỉ trông vào Huê Kỳ, làm sao giữ miền Nam được.

Mà miền Nam lung lay thì dân khổ, hai chục triệu dân khổ, lại mang tiếng làm chính trị mà câu nệ, khg ngộ biến tòng quyền, khg nhìn vào phúc lợi của dân trước nhất mà chỉ nghĩ đến cái ích kỷ nhỏ nhen vì giữ tiếng trong sạch của mình! Không nắm lấy quyền Dân đang muốn trao để vỗ yên bá tánh mới chính là một kẻ ngu nhất đời, hiểu chưa Võ văn Sáu?

Nhờ vì ông Diệm lên Tổng Thống, nhân dân ăn mừng, thực sự như thế, vì biết rằng có thể an cư lạc nghiệp. miền Nam giữ được lâu dài nhưng chỉ đến ngày 1-11-1963 là chấm dứt vì:-ông TT Ngô đình Diệm quá cương với người Mỹ. Ông muốn giữ tiết tháo một TT vì QG dân tộc, giữ quốc thể toàn vẹn khg quân xâm lược nào khinh thường VN được.-Nhưng ông khg hiểu rằng, VN còn quá yếu, VN mới chia đôi, sau 9 năm chiến tranh do Hồ tuyên chiến với Pháp (mà lẽ ra khg cần có cuộc chiến tranh này, VN vẫn được Độc lập và toàn vẹn lãnh thổ từ 1949 do Sắc Lệnh của TT Pháp Vincent Auriole ký cho 3 nước Việt Mên Lào.)

Miền Nam non yếu như vậy làm sao đủ sức chống chõi với VC có Trung cộng và cả khối CS yểm trợ người (320, 000 lính Trung cộng) và các thứ súng đạn, quân dụng, thực phẩm, xe tăng, pháo binh...)

-Mỹ bật đèn xanh cho đám tướng tá giết ông Diệm. Mỹ quá ngu (thật ra chỉ có TT Nixon và CV Kissinger) và vì thế, từ đó, dâng cả Đông Dương cho Mao cho đến ngày nay thấy rõ ràng, Tàu đã đóng chốt hết cả các cao điểm, các tử huyệt, dân Tàu vào VN khg phải hộ chiếu, muốn lấy vợ, mua nhà, mua đất sao cũng được, quyền hạn hơn công dân VN rất nhiều, khg công an nào dám đụng vào một anh Tàu hạng bét. Trẻ con VN bắt đầu học Hán văn và nói tiếng Hoa, nay mai sẽ thi luôn để lấy văn bằng!

-Những tên tướng tá ngu si và phản chủ làm tay sai cho Mỹ để giết chủ tuớng, đứng đầu là 2 tên mạt tướng Dương văn Minh và Trần thiện Khiêm, nên mới có ngày thảm bại Quốc Hận 30-4-1975.

Giết anh em ông Diệm ngày 2-11-1963, khi tôi nghe radio, tôi bảo ngay với bạn bè: Miền Nam sẽ mất, không sớm thì muộn. Lòng dân là cái gì được đánh giá cao hơn hết. Đã mất lòng dân, như Bảo Đại từ 1945, như VC từ 1975...thì phe nhóm đó sẽ tàn dần.

Cuộc bầu cử thời TT Diệm cũng tương đối là Dân chủ, tự do. Sang đệ nhị Công hoà, việc bầu cử coi như là tương đối hoàn hảo mặc dù một vài nơi cũng có vụ chính quyền quận, tỉnh ủng hộ con gà nhà. Thí dụ nơi xa xôi như Pleiku (người bạn tôi đắc cử) , Quân đoàn II của tướng Ngô Dzu yểm trợ cho Trung tá Phạm xuân Ninh, CN báo Tiền tuyến ra ứng cử Dân biểu. ƯCV Phạm xuân Ninh dù được giới thiệu bởi Quân đoàn nhưng vẫn thất cử trong khi 2 nguời được dân chúng và người thiểu số biết đến vì đến với họ hàng ngày là Ngô xuân Thu và Hồ Uyển đã đắc cử.

Cũng năm đó (1971) tôi ra ứng cử DB/HNV. Dù lúc bỏ phiếu tôi đã hết tiền để mướn người coi thùng phiếu (hơn 300 thùng phiếu) điều tối quan trọng để khỏi bị ăn gian phiếu lúc đếm v.v... BS Bùi kiến T. dầu khuynh diệp, mất 87 triệu vẫn thất cử. Tôi chỉ mất 2 triệu (tô phở 6-7 đô la ở Bolsa ngày nay thì lúc đó 25 đồng VNCH.)

Điều đó chứng tỏ có công bình trong những cuộc bầu cử.

Đây là những thực tế đã xẩy ra thời đó, lúc tôi đã truởng thành và biết suy nghĩ để nói theo lương tri và sự công bình tối thiểu.

GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc






Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thao ly  
#3865 Posted : Sunday, September 9, 2012 2:07:42 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,730
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)

MỞ TAI ĐÓN NGHE LỜI CHÚA ĐỂ MỞ LÒNG CHIA SẺ TÌNH THƯƠNG


HIỆP SỐNG TIN MỪNG
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN B
Is 35,4-7a ; Gc 2,1-5 ; Mc 7,31-37


I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mc 7,31-37

(31) Đức Giê-su lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đon, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh. (32) Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giê-su, và xin Người đặt tay trên anh. (C 33) Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh ta, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. (34) Rồi người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: “Ép-pha-tha!”, nghĩa là: “Hãy mỡ ra!” (35) Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. (36) Đức Giê-su truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. (37) Họ hết sức kinh ngạc, và nói: “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: Ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được”.

2. Ý CHÍNH:

Duy chỉ có Tin Mừng Mác-cô thuật lại việc Đức Giê-su chữa lành một người bị câm điếc. Người thực hiện phép lạ này tại miền Thập Tỉnh, nơi cư dân hầu hết là dân ngoại. Người đã chữa bệnh câm điếc như sau: đặt ngón tay vào tai anh ta, bôi nước miếng vào lưỡi anh ta, ngước mắt lên trời cầu nguyện, rên lên một tiếng và nói “Ép-pha-tha!”-“Hãy mở ra!” Lập tức bệnh nhân được chữa lành: tai anh ta đã mở ra để nghe được và lưỡi anh ta đã được tháo cởi sợi dây ràng buộc để nói được rõ ràng.

3. CHÚ THÍCH:

- C 31-32: + Bỏ vùng Tia: Tia là một thành phố thuộc nước Phê-ni-xi-a, phía Bắc nước Do Thái, có bang giao với nước Do Thái ngay từ thời vua Đa-vít và Sa-lo-mon (x.1 V 9,11-12). Khi Đức Giê-su ra giảng đạo, một số người vùng Tia đã tìm đến gặp Người (x. Mc 3,8).+ Qua ngả Xi-đon: Thành Xi-đon nằm bên bờ Địa Trung Hải giữa Tia và Bây-Rút. Thời xưa thành này là thủ đô của dân Xi-đon và đã bị các ngôn sứ lên án (x. Ed 32,30). Thời Tân Ước, Đức Giê-su tỏ ra khoan dung với các thành thuộc dân ngoại này (x. Mt 11,21-22). + Đến biển hồ Ga-li-lê: Còn được gọi là Giê-nê-sa-rét hay Ti-bê-ri-át. Đây là biển hồ hình quả trám, có chiều dài 21 cây số và chiều ngang 12 cây số, mực nước thấp hơn mặt biển Địa Trung Hải, và có chỗ sâu tới 40 mét. Biển hồ này thường có sóng to gió lơn, và khá nhiều cá. + Vào miền Thập Tỉnh (gọi là Đê-ca-bô-lơ): Là vùng đất phía Đông biển hồ Ga-li-lê, gồm mười thành chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hy-lạp. Tin Mừng Nhất Lãm thường hay nhắc đến miền Thập Tỉnh này (x. Mt 4,25 ; Mc 1,28). + Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng: Hai thứ bệnh câm và điếc thường đi đôi với nhau. Chính vì điếc không nghe được âm thanh hay lời nói, nên bệnh nhân bị câm không thể nói được, chỉ phát ra một số âm thanh vô nghĩa. Người câm điếc thường bị thiệt thòi vì không có khả năng giao tiếp với tha nhân. + Xin Người đặt tay trên anh: Xin đặt tay là xin chúc lành theo phong tục Do Thái (x. St 48,14-15). Đây cũng chính là cử chỉ Đức Giê-su thường làm như: đặt tay chúc lành cho trẻ em (x. Mc 10,16), đặt tay chữa bệnh (x. Mc 6,5).

- C 33-35: + Kéo riêng ra khỏi đám đông: Cũng như khi chữa con gái ông Gia-ia mới chết được sống lại (x. Mc 5,37) hoặc khi chữa một người mù thànhh Bét-sai-đa (x. Mc 8,23). Ở đây, Người tách riêng kẻ bị câm điếc ra khỏi đám đông. Điều này chứng tỏ sự tế nhị và cảm thông đối với sự ngượng ngùng của bệnh nhân, khi anh ta phải ra đứng trước đám đông muốn xem Đức Giê-su chữa bệnh. Đàng khác, việc can thiệp của Thiên Chúa được thực hiện cách kín đáo giống như ngôn sứ Sa-mu-en được Đức Chúa sai đến nhà Gie-sê ở Be-lem bí mật xức dầu phong một người con ông này làm vua, thay thế vua Sa-un (x. 1 Sm 16,1-13) ; Ông Giê-hu cũng được xức dầu phong vương cách kín đáo như vậy (x. 2 V 9,2-6). + Đặt ngón tay vào lỗ tai anh, nhổ nước miếng bôi vào lưỡi anh. Rồi người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: “Ép-pha-tha”, nghĩa là: “Hãy mỡ ra!” ...Đức Giê-su làm hai động tác để chữa bệnh: Một là “đặt ngón tay vào tai và lấy nước miếng bôi vào lưỡi anh” (c.33) ; Hai là “ngước mắt lên trời” cầu nguyện, rên một tiếng (thở dài) và nói “Ép-pha-tha” nghĩa là “Hãy mở ra!” (c. 34). Hai động tác này mang tính bí tích và lập tức phát sinh công hiệu làm cho tai người điếc mở ra để nghe được, lưỡi bệnh nhân được tháo cởi và nói được rõ ràng. Qua phép lạ chữa lành người câm điếc, cũng như chữa người mù (x. Mc 8,22-26), Mác-cô muốn chứng minh Đức Giê-su chính là Đấng Thiên Sai. Vì Người thực hiện dấu chỉ của thời Thiên Sai đã được I-sai-a tiên báo như sau: “Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò...” (Is 35,5-6).

- C 36-37: + Không được kể chuyện đó với ai cả...: Khi chữa người câm điếc (x. Mc 7,36), chữa người phong cùi (x. Mc 1,44), phục sinh con gái ông Gia-ia (x. Mc 5.43), chữa lành người mù thành Bết-xai-đa (x. Mc 8,26)... Đức Giê-su đều truyền cho họ phải giữ im lặng. Sở dĩ Người muốn họ không được nói phép lạ đó ra vì đây là “Bí mật Thiên Sai”. Người muốn tránh cho dân Do Thái khỏi hiểu lầm về sứ mệnh Thiên Sai của Người. Sứ mệnh được Chúa Cha trao phó là lập một Nước Trời thiêng liêng vĩnh cửu, đang khi dân chúng lại trông chờ một Đấng Thiên Sai trần tục, để lãnh đạo dân nổi loạn chống lại đế quốc Rô-ma, đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi. Để thi hành sứ mệnh Thiên Sai đúng theo thánh ý Thiên Chúa, Đức Giê-su cần có thời gian rao giảng cho dân Do Thái hiểu rõ về vai trò và sứ mệnh của Người. Do đó, khi làm các phép lạ cứu nhân độ thế, Người không muốn có sự ồn ào dễ trở thành động cơ thúc đẩy phong trào Thiên Sai quá khích, làm cớ cho quân Rô-ma kéo đến đàn áp, như đã từng xảy ra trước đó. + Nhưng họ lại càng đồn ra. Họ hết sức kinh ngạc và nói: “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả”: Những người được Đức Giê-su chữa lành đã không giữ kín những ơn mà họ đã nhận được. Vì họ thật sự thán phục những việc tốt lành Đức Giê-su đã làm. Việc chữa bệnh này giống như việc tái tạo một con người mới, con người được giải thoát khỏi ách nô lệ của ma quỷ và tội lỗi... tương tự việc Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ vạn vật thuở ban đầu đã được Sách Thánh tường thuật như sau: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1,31).

HỎI: 1-Bạn biết gì về biển hồ Ga-li-lê? 2-Bệnh điếc và ngọng là bệnh gì? 3-Việc đặt tay của Đức Giê-su trên bệnh nhân điếc và ngọng có ý nghĩa thế nào? 3-Tại sao Đức Giê-su phải tách riêng bệnh nhân ra khỏi đám đông? 4-Đặt tay vào lỗ tai và bôi nước miếng vào lưỡi của người bệnh là hai động tác mang tính cách gì? 5-Qua phép lạ Đức Giê-su chữa bệnh câm điếc, Mác-cô muốn chứng minh Đức Giê-su là ai? Tại sao? 6-Những phép lạ Đức Giê-su thực hiện và đòi giữ im lặng không được nói cho người khác biết là những phép lạ nào? Tại sao phải giữ im lặng? 7-Dân chúng có giữ được im lặng không? Tại sao?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: “Ép-pha-tha”, nghĩa là: “Hãy mỡ ra!” Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng (Mc 7,34).

2. CÂU CHUYỆN: KIẾN THỨC UYÊN BÁC DO ĐÂU ?

Một ông già kia nổi tiếng là người có kiến thức rộng. Tuy trình độ văn hóa mới hết bậc phổ thông, nhưng ông lại có vốn kiến thức sâu rộng về nhiều lãnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, triết lý và thần học... Tiếng đồn về ông già có kiến thức rộng ngày càng lan đi xa và nhiều người đã đến viếng thăm ông để xin giải đáp thắc mắc và hỏi ý kiến về các vấn đề cuộc sống. Họ đã được ông tận tình giải đáp và cho ý kiến. Ngày nọ, một vị giáo sư đại học cũng đến thăm. Sau buổi đàm đạo lâu giờ, vị giáo sư kia đã hỏi ông cụ nguyên nhân khiến ông có sự hiểu biết rộng rãi và đúng đắn như vậy, đồng thời xin ông giới thiệu một số cuốn sách mà ông đã đọc. Nhưng thật bất ngờ: Ông cụ đã trả lời như sau: “Thưa ngài, thực sự tôi chẳng có thì giờ và cũng chẳng có khả năng để đọc các quyển sách cao siêu về khoa học, triết lý hay thần học... Hằng ngày tôi chỉ đọc có 3 cuốn sách mà bất cứ ai cũng có thể đọc được: Cuốn thứ nhất là những công trình lạ lùng kỳ diệu Thiên Chúa đã và đang làm nơi bản thân tôi và chung quanh tôi. Nhờ đó, tôi có dịp dâng những lời ngợi khen ca tụng Người. Cuốn sách thứ hai là những việc đã xảy ra trong cuộc đời tôi. Nhờ đó, tôi có dịp hồi tâm sám hối tội lỗi đã phạm, cảm tạ những ơn lành Chúa ban và cầu xin Người ban các ơn lành hồn xác, nhất là ban ơn cứu độ. Cuốn sách thứ ba là Lời Chúa trong Kinh Thánh. Mỗi ngày tôi luôn dành ra một thời gian vào lúc sáng sớm để đọc một đoạn Lời Chúa, rồi suy niệm và cầu xin Chúa giúp thực hành hằng ngày. Mỗi lần tham dự thánh lễ, tôi luôn để tâm lắng nghe Lời Chúa qua các bài đọc, nhất là bài giảng của vị chủ tế”.

3. SUY NIỆM:

+ Xin Chúa mở mắt tâm hồn chúng ta: Đúng như ông lão có kiến thức uyên bác trong câu chuyện trên đã nói: “Thiên Chúa đã làm biết bao việc lạ lùng chung quanh ta mà mọi người đều có thể nhìn xem, lắng nghe và suy nghĩ về những điều kỳ diệu ấy”. Nếu chúng ta không hiểu được ý Chúa là do đã không biết mở mắt để nhìn xem, mở tai để lắng nghe, mở lòng để đón nhận, mở trí khôn để khám phá và thi hành theo thánh ý Chúa.

“Ép-pha-ta”: Xin Chúa giúp mỗi người chúng con biết mở mắt tâm hồn bằng cách mở tai mở lòng, mở trí để đón nhận Lời Chúa và tích cực chia sẻ tình người với tha nhân.

+ Xin Chúa mở miệng lưỡi chúng ta: Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã chữa một người vừa ngọng (câm), vừa điếc. Người câm ngọng gặp khó khăn khi không thể diễn đạt bằng lời nói cho người khác hiểu ý mình, giống như bị một sợi dây vô hình trói buộc miệng lưỡi, làm cho họ không nói ra được điều muốn nói. Nhiều người thiếu sự tự tin, ăn nói ngọng nghịu hay đành nín thinh, vì trong quá khứ đã từng bị kẻ khác miệt thị khinh thường... Ngòai ra còn có những mối đe dọa buộc người ta phải câm nín, không dám nói ra suy nghĩ trung thực của mình.

“Ép-pha-tha”: Xin Chúa mở miệng chúng con, để sẵn sàng làm chứng cho chân lý, giới thiệu Chúa cho tha nhân, an ủi những người đau khổ do tai nạn, do bị ngược đãi bất công, hay phải chịu đựng những điều trái ý cực lòng.

+ Xin Chúa mở đôi tai chúng ta: Người điếc hoặc bị lãng tai do không nghe được những lời kẻ khác. Lắng nghe là điều tối quan trọng trong giao tiếp hằng ngày. Chúng ta thường chỉ lắng nghe điều mình muốn nghe, hoặc dù có nghe người khác nói nhưng lại chỉ hiểu theo ý rịêng chủ quan của mình. Vì thế gây ra hiểu lầm tranh cãi mất tình đoàn kết nội bộ. Nghe bằng tai chưa đủ, chúng ta còn cần nghe bằng trái tim. Chỉ khi biết nghe bằng trái tim yêu thương, chúng ta mới hiểu đúng và hiểu đủ ý nghĩa chứa đựng trong lớp vỏ ngôn từ bên ngoài.

“Ép-pha-tha”: Xin Chúa hãy mở đôi tai chúng con để lắng nghe, hiểu biết và cảm thông với những nỗi đau của tha nhân và mau mắn đáp ứng nhu cầu của họ với hết khả năng cùa mình.

+ Xin Chúa mở lòng trí chúng ta: Thế giới hôm nay đang thiếu cảm thông và đối thoại, vì quá nhiều người đang bị câm điếc tinh thần, khiến họ trở thành một hòn đảo giữa đại dương nhân lọai bao la. Bệnh câm điếc tinh thần cũng làm cho con người trở thành ích kỷ, sống khép kín vì tâm hồn hóa thành sơ cứng khi không trao tặng cho ai cái gì và cũng không muốn đón nhận của ai điều gì. Cuối cùng con người sẽ chết trong nghèo nàn về hiểu biết và tình thương.

“Ép-pha-tha”: Xin Chúa hãy mở tai mở miệng và mở lòng, để chúng con dễ dàng giao lưu với Chúa và với tha nhân, để được biến đổi nên người mới sống có tình người hơn. Nhờ đó, chúng ta sẽ làm cho gia đình, khu xóm và xã hội trở nên thiên đàng tình thương đúng theo ý Chúa muốn.

4. THẢO LUẬN: 1)Mỗi tín hữu chúng ta có thể phá bỏ bức tường ngăn cách giữa mình với tha nhân bằng những việc làm cụ thể nào? 2)Tuần này bạn sẽ làm gì để mở lòng đón nghe Lời Chúa, khám phá ra ý Chúa muốn và mau mắn xin vâng? Bạn phài mở rộng trái tim như thế nào để nghe được những tâm tư của kẻ bất hạnh và sẵn sàng đáp úng nhu cầu của họ? Bạn sẽ làm gì để những anh em lương dân mở lòng đón nhận niềm vui ơn cứu độ?

5. CẦU NGUYỆN:

LẠY CHÚA GIÊ-SU. “Ép-pha-tha!”, Xin hãy mở rộng tâm hồn con, để con trở thành tay chân cho người tàn tật, trở thành đôi mắt cho kẻ đui mù. Để con biến thành tai nghe cho những người bị điếc, trở thành miệng lưỡi cho nhưng kẻ ngọng câm. Để con trở thành tiếng kêu cho những ai bị áp bức… Lạy Chúa, xin giúp con thực thi đức ái giữa đời thường: Sẵn sàng mở hầu bao chia sẻ cơm bánh vật chất cho kẻ đói ăn, đem nước uống cho những kẻ đang khát; Để con đem thuốc men cho người ốm đau, chia sẻ áo lành cho những kẻ rách rưới, mang mền đắp cho những kẻ lạnh run, đem lại chỗ trú thân cho những kẻ không nhà… Nhất là để con chia sẻ tình thương bao dung của Chúa để tha thứ hòa giải với những kẻ đang thù ghét và làm hại con.

- X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.


LM ĐAN VINH

www.hiephoithanhmau.com
linhphuong  
#3866 Posted : Sunday, September 9, 2012 7:28:42 AM(UTC)
linhphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,395

Thanks: 327 times
Was thanked: 364 time(s) in 256 post(s)
Một người Việt Nam bị tố cáo ăn cắp mã số truyền hình


Ông Tan Minh Nguyen, chủ một công ty truyền hình ở Westminster, vừa bị một tòa án liên bang ở Santa Ana cáo buộc ăn cắp hàng trăm ngàn mã số truyền hình vệ tinh, theo tuần báo OC

UserPostedImage

Muốn coi chương trình truyền hình qua vệ tinh,
khách hàng phải có mã số mới mở được.
(Hình minh họa: Christof Koepsel/Bongarts/Getty Images)


Theo đơn kiện của công ty Dish Network, trong năm tháng trời, ông Tan Minh Nguyen, từng làm chủ một trang web có 170,000 khách hàng, không đếm xỉa gì đến tố cáo của các luật sư của công ty cũng như lệnh của Chánh Án James V. Selna chấm dứt ăn cắp mã số.

Những mã số này, theo tố cáo, được trao cho khách hàng để họ có thể coi các chương trình truyền hình phát qua vệ tinh miễn phí.

Trong phiên tòa hôm 27 Tháng Tám, ông Tan nói với Chánh Án Selna rằng ông đã nộp tất cả hồ sơ lưu trữ.

Tuy nhiên, Luật Sư Stephen M. Ferguson, đại diện công ty Dish Network, nói rằng ông “không những không làm gì mà lại còn củng cố trang web của mình”.

“Ông không thi hành lệnh của tòa,” vị luật sư được trích lời nói.

Ngoài ra, ông Tan Minh Nguyen còn tố cáo công ty Disk Network “hành hạ” ông qua một cuộc lấy lời khai kéo dài chín tiếng đồng hồ, đồng thời tạo ra hoạt động giả mạo trên trang web của ông.

Có lúc, ông Tan đau đớn nói rằng chánh án phải giúp ông chứng minh là hồ sơ trong vụ kiện là giả mạo.

“Ðó không phải là nhiệm vụ của tòa,” vị chánh án nói. “Tôi không thể là luật sư của ông được.”

Sau đó, ông Tan bình tĩnh đề nghị với chánh án là hai bên nên chịu thiệt hại “chung”.

Thế là Luật Sư Ferguson bắt đầu mất bình tĩnh. Ông nói với chánh án đây là “chiến thuật” của ông Tan và muốn tòa bắt ông bồi thường $17,000.

Chánh Án Selna, tuy vậy, vẫn chưa quyết định có phạt hoặc bỏ tù ông Tan hay không, nhưng yêu cầu ông đưa hồ sơ tài chánh cho luật sư của Dish Network để công ty này có thể nộp đơn đòi bồi thường.

“Có những vi phạm nghiêm trọng ở đây, liên quan đến việc chấp hành lệnh của tòa án,” vị chánh án nói với ông Tan, một cư dân Westminster. Ông làm nghề sửa chữa đồ điện tử, hiện không có vợ, nhưng có hai đứa con trai còn nhỏ.

Chánh Án Selna sau đó nói rằng nếu nhận thấy ông Tan không chấp hành lệnh của tòa, đương sự có thể bị xử thua.

Vụ kiện sẽ được đưa ra để tái xử vào Tháng Tám năm tới, mặc dù chưa có ngày giờ chính thức, để quyết định xem công ty Dish Network bị thiệt hại bao nhiêu.

Trong đơn kiện hồi Tháng Ba, Dish Network nói rằng trang web của ông Tan Minh Nguyen có chứa mã số bí mật để khách hàng có thể sử dụng xem truyền hình mà không phải trả tiền.

Ông Tan Minh Nguyen, sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, không thừa nhận chuyện ông làm là bất hợp pháp.
(theo Interfor)

Edited by user Sunday, September 9, 2012 7:33:48 AM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#3867 Posted : Sunday, September 9, 2012 8:34:43 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,833

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

Thiên nhiên của Kim Tuấn


Wednesday, September 05, 2012 3:20:54 PM

Viên Linh

Có một nhà thơ đến và đi cùng mưa nắng, vui và buồn cùng gió sương, cười như hoa nở, khóc như lá úa, thấy cuộc đời tươi đẹp hồn nhiên; khi yêu thì viết “Thời của trái tim hồng;” lúc lang thang trên đường phố lẻ loi vẫn thấy “dấu bụi hồng;” nhà thơ ấy sống suốt một đời với thiên nhiên, ở đâu yêu thiên nhiên đó, viết về bãi cỏ dòng sông con đường hè phố nơi đó: đó là nhà thơ Kim Tuấn (Huế, 10.1940 - Sài Gòn, 9.2003). Cho nên nhắc đến Kim Tuấn là nhắc đến không gian và thời khí xung quanh anh, đọc Kim Tuấn là đọc về bối cảnh đời anh.

UserPostedImage

Trong đám cưới thi sĩ và chị Hải Phương (đứng) ở Sài Gòn hồi thập niên 60s.
Hàng ngồi, từ trái qua là tài tử xi nê Huy Cường, nhà thơ Viên Linh, họa sĩ Ðinh Cường
và nhà thơ Kim Tuấn. Hình do anh chị Hải Phương San Jose cung cấp.


Tron bài thơ “Khi Tôi Về” nổi tiếng của anh do Phạm Duy phổ nhạc, tả người lính trở về, anh không tả ngay những người thân yêu, mà tả không gian bối cảnh cái đã:

Khi tôi về, con chim sâu nằm trong tổ ấm, dây thép gai đã hết rào quanh đồn phòng ngự, và người lính đã trở về cày đám ruộng xưa.

Là một nhà giáo từng dạy học đó đây, nơi nào cũng được anh nhắc nhở trong những vần thơ để lại, không phải bút ký du lịch mà trong cảm thức tự nhiên, không có mục đích gì ngoài điều anh quyến luyến với thiên nhiên và cuộc sống quanh mình:

Ngày anh về thăm Cù lao Phố

Chiều lửng lơ dòng sông uốn quanh
Chiều lửng lơ âm vang tiếng sóng
Chiều Biên Hòa và nỗi nhớ trong anh
Chiều Biên Hòa nhà ai cuối xóm
Lao xao hoa bưởi trắng trên cành

(Kim Tuấn, Chiều ở Biên Hòa)

Không cứ phải cư ngụ nơi đó anh mới viết về nơi đó, chỉ đi qua thôi cũng đủ để Kim Tuấn viết rồi:

Chiều qua rừng cao su / Gió lạnh và sương mù
Bụi đường xa áo đỏ / Gió quanh đèo vi vu
Chiều qua rừng cao su / Lá vàng bay trong nắng
Hoa vàng ven lối đi / Chân đồi con suối vắng

(Kim Tuấn, Tạ Tình Phương Nam, 31)

Kim Tuấn buồn đến đâu, thiên nhiên buồn đến đó, bài thơ “Kỷ Niệm” của anh đã từng bước len lỏi vào lòng người, qua nhạc phổ của Y Vân:

Từng bước từng bước thầm / hoa vông rừng tuyết trắng
Rặng thông già lặng câm / “Em yêu gì xa vắng?”

[Câu hỏi trong hai dấu ngoặc là do nhạc sĩ Y Vân thêm vào, chính ra đó là câu “Hai đứa nhiều hối tiếc,” ở đây câu của Y Vân đắc địa hơn, song hồn của bài thơ và hồn của nhà thơ, cùng hồn của thiên nhiên, đã bốc lên thân mật và đằm thắm biết nhường nào, và đó chính là tâm cảm và nhạc điệu của thi sĩ.]

Có một độc giả đã đặt ra cho Kim Tuấn vấn đề này, và anh đã trả lời thật xác đáng.

Hỏi: Thơ nếu muốn dễ đi vào lòng người, có lẽ nhờ vào âm nhạc, bằng chứng là hai bài hát phổ thơ của chú là “Anh Cho Em Mùa Xuân” và Những Bước Chân Âm Thầm.” Vậy chú nghĩ sao?” Kim Tuấn đã trả lời: “Quan niệm nhờ âm nhạc để đi vào lòng người, e không đúng. Bằng chứng là trước khi nhạc sĩ phổ thành ca khúc, thơ đã đi vào lòng người nhạc sĩ.” (Theo tạp chí Áo Trắng của SV Ðại Học Y Khoa Huế, tr. 50)

Trong các thành phố từng in dấu chân, có lẽ Pleiku là nơi nhà thơ Kim Tuấn đã nặng lòng nhiều nhất. Anh đã dạy học nơi đó, là thông dịch viên Anh ngữ cho Quân Ðoàn II ở đó, và đã tổ chức Tuần Lễ Văn Hóa Pleiku thành công rực rỡ với mỗi đêm có khoảng 2000 người tham dự tại hội trường Trung Học Tuyên Ðức và song song với Phòng Triển Lãm Tranh thường trực của ba họa sĩ Ðinh Cường, Hạ Quốc Huy và Nguyễn Thanh Hiền. Tạp chí Văn tường thuật: “Tuần Lễ Văn Hóa Pleiku được khai mạc ngày 23 và bế mạc ngày 26 tháng 7, 1973 vừa qua đã gặt hái được những thành quả rực rỡ. Ngoài giới chức văn hóa địa phương còn có sự tham dự của một số nhà văn, nhạc sĩ, học giả tiếng tăm tại thủ đô như Giáo sư Nguyễn Khắc Ngữ, Nhạc sĩ Phạm Duy, Lê Uyên và Phương, các nhà văn Mai Thảo, Duyên Anh, Du Tử Lê, Ngô Xuân Hậu, Hạ Quốc Huy, Ðinh Cường... Nhà thơ Kim Tuấn (có công tổ chức - cùng với Sở Học Chánh Pleiku) đã xuất thần khi diễn đọc bài thơ ‘Roma, Italia’ của thi sĩ Cao Tiêu và được toàn thể vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt.”

Cảm thức Kim Tuấn còn bộc lộ rộn ràng và thắm thiết với thành phố anh yêu qua những đoạn thơ sau đây:

Buổi chiều ở Pleiku những cây thông già đứng lên cùng bụi mù

Tiếng phi cơ, tiếng xe và tiếng súng
Anh còn phút nào để nói yêu em.

Buổi chiều ở Pleiku không có mặt trời
Chỉ có mưa bay trên đầu ngọn núi
Những đứa bạn về từ mặt trận xa
Những đứa bạn đi áo đường bụi đỏ
Những ngày mưa nghe bỗng lìa nhà
Những ngày mưa âm thầm nhỏ giọt
Những ngày mưa âm thầm đã qua.

Buổi chiều ở Pleiku có bữa cơm ăn vội

Có tập hợp 7 giờ
Có cấm trại, cấm quân hàng tháng...
Buổi chiều ở Pleiku có cà phê và bạn hiền...
Buổi chiều ở Pleiku có gì đâu hở em? [...]

(Viên Linh, viết để nhớ bạn cũ, mất tháng 9, năm 2003. Cảm ơn họa sĩ Ðinh Cường cho thêm tài liệu.)




Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thao ly  
#3868 Posted : Sunday, September 9, 2012 9:34:12 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,730
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)

Nụ cười cuối tuần: HÁO SẮC

http://youtu.be/UK11SEKVWHU
Mắt Buồn  
#3869 Posted : Sunday, September 9, 2012 6:06:21 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,721

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

MỘT BÓNG.

Tôi xuống phi trường O’Hare lúc nửa đêm,
Sau một chuyến đi xa về mệt mỏi,
Đám đông người đứng bên ngoài chờ đợi,
Đón người thân bằng ánh mắt, vòng tay.

Không có ai đến đón tôi đêm nay,
Nên chẳng cần vội vàng đôi chân bước,
Tôi lạnh lùng nhìn người ta nao nức,
Thấy đời mình là khoảng trống hư vô.

Không ai xách giùm tôi chiếc va ly,
Không ai nói với tôi lời tao ngộ,
Ra tới đường sao mắt mình cay thế?
Thì ra tôi đã khóc tự bao giờ !

Ánh đèn đường soi một bóng bơ vơ,
Khi tôi đứng chờ Taxi đến đón,
Thành phố gío Chicago thân thiết,
Bỗng chỉ là thành phố lạ đêm nay.

Chiếc xe lao đi trên con đường dài,
Đưa tôi trở về với căn nhà vắng,
Về thành phố Schaumburg , trời khuya lắm,
Gió Sshaumburg làm khô lạnh đôi môi..

Vâng, tôi biết là anh đã xa xôi,
Trong tình yêu không có tình thương hại,
Đường Ashling Court tôi còn ở lại,
Căn Condo trên đồi cỏ mượt mà.

Tôi mở cửa xách hành lý vào nhà,
Ánh đèn vàng lại soi tôi một bóng,
Tôi ngơ ngác tìm trong căn nhà vắng,
Tưởng như anh còn quanh quẩn đâu đây.

Anh ơi, kể từ khi mình chia tay,
Tình yêu ấy chỉ còn là kỷ niệm,
Nhưng đêm nay đi xa về. Tôi biết,
Đời vẫn buồn vì trống vắng không anh.

Nguyễn Thị Thanh Dương
hongvulannhi  
#3870 Posted : Monday, September 10, 2012 1:58:35 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,833

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

CS Khuấy Rối Little Saigon


(09/10/2012) (Xem: 511)
Vi Anh

Nhớ xưa bộ đội CS Bắc Việt và du kích CS đâu có bao nhiêu người trong xã ấp của Việt Nam Cộng Hoà. Thế mà ban đêm chúng dùng súng trường bá đỏ đầu hôm lại chỗ này bắn vài viên, nửa đêm đến chỗ kia bắn vài viên, anh em nhân dân tự vệ, dân vệ, nghĩa quân, địa phương quân phải phản ứng, mất ăn mất ngủ với CS. Còn bây giờ người Việt Quốc gia chịu không nổi CS, phải xa quê hương, rời nước nhà, tỵ nạn CS cách nửa vòng trái đất, mà CSVN đâu có buông tha. Các cộng đồng người Việt Quốc gia ở Tây Âu, Bắc Mỹ, và Úc châu của Việt Nam Hải Ngoại thường bị CSVN khuấy rối bằng các chuyến công du của những tay cầm đầu Đảng Nhà Nước CSVN và những văn công CS từ VNCS qua tuyên truyền bằng lời ca tiếng hát. Tiểu bang California là thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn CS của Việt Nam Hải ngoại là mục tiêu khuấy rối rất thường của CSVN.

Phân tích tình hình địch và bạn cho thấy kỳ này CSVN dự định khuấy rối mạnh hơn. Không bằng súng trường bá đỏ mà bằng tiểu liên AK47. Bằng lời ca tiếng hát làm suy yếu tinh thần chống cộng.

Phân tích chiến thuật của công cuộc đấu tranh chống văn hoá vận CS này, trước nhứt, đây là một cuộc chiến đấu tự vệ chánh đáng của người Việt hải ngoại. Như người Việt Nam Cộng Hoà bảo vệ xóm làng của mình trong Chiến Tranh VN, chống CS Bắc Việt xâm lược Miền Nam và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tay sai của CS Bắc Việt.

Thứ đến, người Việt ở vùng Nam California, thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn CS của Việt Nam Hải ngoại, dùng quyền lực mềm thay vì thế lực cứng mạnh. Kêu gọi đồng bào 4 KHÔNG: không hưởng ứng, không tham dự, không chạy quảng cáo, không mua bán vé buổi trình diễn. Và nều cần sẽ biểu tình mới dùng sức mạnh của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng, của quần chúng mà có.

Trong cuộc đấu tranh chánh trị Quốc Cộng này, từ hình thức đến nội dung, từ pháp lý đến sự kiện, vai trò chánh, nhân vật chủ động là tập thể, hình thức đó tạo sức mạnh tổng hợp, không qui trách cho cá nhân nào được. Quyền tẩy chay là quyền cá nhân, quyển biểu tình là quyền luật định và hiến định bảo vệ cho cá nhân và tập thể. Đây là hành động chánh trị của một tập thể người Việt tự do ở hải ngoại, công dân Mỹ hành động theo tinh thần tự do dân quyền của Tu chánh án số 1 của Hiến Pháp Mỹ.

Vì thế không thể không thắc mắc về thái độ gần như bất động của giới ca nhạc sĩ Việt hải ngoại và các cơ sở trung tâm sống bằng lời ca tiếng hát của người Việt hải ngoại.

Phải nói giới ca nhạc sĩ hải ngoại là những người bị thiệt hại nhứt, trực tiếp nhứt trước phong trào văn công, ca nhạc sĩ rầm rộ ra ngoại quốc trình diễn. Ca nhạc sĩ trong nước xin đi du lịch mà trình diễn lậu, khỏi đóng thuế, giá vé rẻ, cướp công ăn việc làm của ca nhạc sĩ hải ngoại. DVD sản xuất ở hải ngoại tốn tiền trăm ngàn Đô la, CS Hà nội cấm xuất cảng về VN bán. Nhưng CSVN nhắm mắt cho các dịch vụ sang băng lậu bán rẻ như cho trong nước.

Thêm vào đó thiết nghĩ không ai hiểu văn công CS, tuyên truyền qua văn nghệ, phân biệt văn nghệ nhân bản, dân tộc, khai phóng và văn nghệ CS tuyên truyền cho CS hơn văn nghệ sĩ hải ngoại. Thế mà buồn thay, ít ai thấy các văn nghệ sĩ Việt hải ngoại lên tiếng chống, biểu tình chống văn công CS – chớ đừng nói lập hội, phong trào chống văn công CS. Tệ hại hơn nữa cũng có một số ít người đi trình diễn chung với văn công CS.

Và không ít ca nhac, văn nghệ sĩ Việt hải ngoại viện cớ không “làm chánh trị”, đứng qua một bên, điềm nhiên toạ thị, để cho mấy ông già mà CS chụp mũ “nặng quá khứ nên quá khích” với CS, chống văn hoá vận, văn công CS.

Những người gọi là văn nghệ sĩ hải ngoại này thừa biết không có mấy quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà, “mấy ông già quá khích” chống Cộng đó đã đem gần hết cuộc đời của mình ra chiến đấu chống CS, thí dù ca nhạc sĩ gốc Việt có tài ba thiên phú như Michael Jackson cũng đừng có mong nhập cư và thành công dân Mỹ được.

Nhưng mà không sao, hồn thiêng sông núi Việt, anh linh tư sĩ Việt chống Cộng còn linh lắm và tinh thần người Việt hải ngoại tỵ nạn CS chống Cộng còn cao lắm. CS VN đi đến đâu bị biểu tình đến đó. Ớ Mỹ, ở Pháp, ở Úc, ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc Châu đâu đâu người Việt hải ngoại cũng chống Cộng.

Báo chí thế giới nhận thấy các người lãnh đạo nhà nước CSVN là những người bị đồng bào mình biểu tình chống đối nhiếu nhứt khi công du ngoại quốc. Tiêu biểu, CSVN có bang giao, giao thương với Mỹ mà cây cờ của CSVN chỉ ru rú trong sứ quán như con gián ngày trong khi quốc kỳ VN Cộng hòa không còn pháp nhân công pháp mà được hàng chục tiểu bang, hàng trăm thành phố, quận hạt thừa nhận là biểu tượng, di sản tự do dân chủ của người Việt ở Mỹ. ./.

( Vi Anh)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#3871 Posted : Monday, September 10, 2012 2:07:50 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,833

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
UserPostedImage


Neil Armstrong: Anh Hùng Nhân Loại


(09/03/2012) (Xem: 1729)

Neil Armstrong, người lên mặt trăng đầu tiên trong lịch sử Nhân Loại đã qua đời vào tuổi 82, bịnh tim mạch. Đó là một anh hùng không những của Mỹ mà của Nhân Loại do đánh giá vô tư của hầu hết nhân dân và chánh quyền cũng như truyền thông đại chúng trên thế giới. Nhưng đối với Neil Armstrong, Ông coi đó là công việc phải làm của mình với tư cách là người mê không gian từ nhỏ, một công dân Mỹ khiêm nhường, một sĩ quan Mỹ yêu nước cố gắng làm nhiệm vụ của mình. Nói hơi triết lý một chút, Neil Armstrong là một anh hùng bất đắc dĩ, ngoài ý muốn của chính Neil Armstrong, một mâu thuẩn của kiếp nhân sinh trong cõi ta bà,vạn vật vô thuờng này.

Thực vậy, dù là người lên cung Trăng đầu tiên cũng không qua khỏi số Trời được hệ thống hoá trong giáo lý của Phật Giáo: sanh, lão, bịnh, tử. Dù là một một công dân khiêm tốn, một sĩ quan Mỹ yêu nước chỉ muốn làm tròn nghĩa vụ với quốc gia dân tộc của mình lại trở thành một anh hùng lưu danh muôn thuở trong lịch sử Mỹ và lịch sử Nhân Loại khám phá không gian.

Nhận xét chính xác nhứt về một con người trong kiếp phù sinh này, có lẽ là lúc nấp quan tài đã đóng kín lại. Khi Armstrong bước chân xuống mặt Trăng, Ông nói một câu rất khiêm nhường nhưng lưu danh muôn thuở: “Đây là một bước nhỏ của con người, nhưng là một bước nhảy khổng lồ của nhân loại.” Khi Armstrong chết, gia đình và người đồng đội cùng đi chung trong khoan thuyền Eagle đáp xuống mặt trăng ngày 20 tháng Bảy năm 1969, là Buzz Aldrin nói, Neil Armstrong là «một anh hùng Mỹ ngoài ý muốn” đã phục vụ Tổ quốc với niềm tự hào, như một phi công hải quân, phi công thử nghiệm, kế đến là phi hành gia.”Neil Armstrong lúc nào cũng coi mình “công việc của mình thôi”.

Nhưng công luận chánh trực của Nhân Loại rất công bằng. Con người ăn nói khiêm cung đó phút chốc trở thành người anh hùng của Trái Đất, một biểu tượng của cuộc phiêu lưu kỳ thú khám phá và chinh phục không gian của Nhân Loại tuổi chưa bằng một phần tỷ của Thái Dương hệ trong đó có Trái Đất là quê hương Con Người và Mặt Trăng là niềm mơ ước, nguồn cảm hứng của Nhân Loại.

Bản tính khiêm nhường, Armstrong sau chuyến lên Cung Trăng trở về làm Phụ tá cho Tổng Giám đốc NASA, giáo sư cho Đại học Cincinnati rồi hồi hưu về sống ẩn dật hàng chục năm trước khi qua đời, sống trong một trang trại nhỏ ở vùng sâu của tiểu bang Ohio, né tránh máy quay phim và máy vi âm của truyền thông đại chúng Mỹ.

Dù vậy, nước Mỹ rất công bình, Nhân Loại hiểu biết biến Ông thành một anh hùng vĩ đại của Mỹ và trong lịch sử Nhân Loại.

Một chuyện vui vui đọc thấy trên báo Pháp Le Figaro. Người thợ hớt tóc cho Ông được người ngưỡng mộ Neil Armstrong trả 3000 Đô chỉ để lấy một mớ tóc của ngươi phi hành gia này cho bộ sưu tập.

Vô ích, Armstrong không thể coi mình, không thể tránh tiếng thơm anh hùng. Vĩnh biệt Armstrong trên cõi đời này, Tổng thống Mỹ là TT Obama đã ra thông cáo báo chí xác quyết “Neil [Armstrong] là trong những đại anh hùng Mỹ, không những trong thời đại hiện tại, mà trong tất cả mọi thời đại.” “Khi Ông và đồng đội trên phi thuyền Apollo 11 đáp xuống Mặt Trăng năm 1969, những vị này mang theo kỳ vọng của nguyên quốc gia này.” “Ngày nay, tinh thần khám phá của Neil tiếp tục đánh động tất cả mọi người nam cũng như nữ cống hiến cuộc đời cho việc tìm hiểu điều chưa biết, là những người làm cho chúng ta đi cao hơn, xa hơn.”

Và ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hoà dù bận trăm công ngàn việc tranh cử, là Mitt Romney cũng xác quyết “Mặt Trăng đang khóc người con đầu lòng ở trái đất của mình”. Và Ông nói tiếp Neil Armstrong «ngày nay có chỗ trong đền thờ anh hùng. Với lòng dũng cảm không thể đo lường hết được và tình yêu không biên giới của Ông đối với đất nước, Ông đã đi đến đó nơi mà không người nào trước đó đến được”. May mắn trước khi Armstrong qua đời vài tuần, Ô Romney có ghé thăm gặp, và nói chuyện với Armstrong. Ô Romney kể lại. “Lòng đam mê [của Armstrong] đối với không gian, vũ trụ và sự dâng hiến của Ông đối với nước Mỹ đầy cảm hứng cho tôi suốt đời.”

Thủ Tướng Pháp Jean-Marc Ayrault nói, “Neil Armstrong đã mở đường cho một giai đoạn mới chinh phục không gian bởi con người”. Bộ Trưởng ngành cao học và nghiên cứu của Pháp là Geneviève Fioraso, vinh danh Neil Armstrong “Vào thời điểm tiến trình không gian Pháp cộng tác với NASA, đưa chuyên môn phục vụ một cuộc phiêu lưu mới cho khoa học với phi thuyền tự hành Curiosity trên Sao Hoả, tôi xin vinh danh và tưởng niệm con người vĩ đại đó.”

Để kết thúc bài này, liên quan đến số kiếp con người ngắn ngủi trong bối cảnh liên đới của các thế hệ và trên đà tiến hoá lâu dài của Nhân Loại, xin trích dẫn câu sấm giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hoà Hảo khuyên người đời: “Kẻ chết đã yên rồi một kiếp. Người sồng còn tái tiếp noi gương.”

Edited by user Monday, September 10, 2012 2:15:00 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thao ly  
#3872 Posted : Monday, September 10, 2012 7:17:19 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,730
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)

Người Biết Sống


Thích Thái Hòa


Sống lâu và sống đẹp thì ai cũng thích, nhưng làm thế nào để có được cuộc sống ấy?
Muốn sống lâu và sống đẹp, ta cần thực tập hết lòng một trong những điều sau đây:

- Giữ tâm bình thản, trước những biến động của cuộc sống.
- Đừng khởi tâm sân hận đối với những gì bất như ý xảy ra với mình.
- Đừng khởi tâm tham đắm đối với những gì của mình và không phải của mình.
- Đừng khởi tâm não hại người và vật.
- Sống hết lòng và chân thật, mặc chuyện đời dối trá.
- Sống tỉnh táo, không đua đòi, mặc chuyện đời chen lấn say mê.
- Ăn uống có tiết độ, nhai nhuyễn và nhất là đừng sử dụng những thực phẩm có hóa chất và đua đòi theo cảm giác.
- Phải biết thực tập thiền hành mỗi ngày. Thiền hành là đi với tâm thư thả tĩnh lặng; đi không nghĩ điểm đến và đi hết lòng trong mỗi bước chân.
- Thực tập mỉm cuời với những bông hoa và trẻ thơ mỗi ngày.
- Đừng nghe và nói những câu chuyện vô ích.
- Hãy nỗ lực làm với những gì mà mình nghĩ là đúng nhất, để tránh tâm ân hận và giữ tâm thoải mái trong khi làm.
- Thực tập mỉm cười với những gì vui buồn của quá khứ, khi chúng hiện về trong tâm ta hay trong khi ta ngồi một mình tĩnh lặng.
- Đừng so sánh mình với người hay gia đình mình với gia đình người hay quốc gia nầy với quốc gia khác, vì sao? Vì nhân duyên nghiệp báo giữa đời nầy không ai giống ai, không gia đình nào giống gia đình nào,
không xứ sở nào giống xứ ở nào, nên ta không cần phải so sánh, khiến tâm ta sinh ra mặc cảm hay đua đòi mệt mỏi, mà chỉ cần nghĩ tới những gì tốt đẹp và nỗ lực thực hiện để cái đẹp do ta nghĩ đó, trở thành hiện thực trong đời sống của ta, dưới nhiều hình thức sống động khác nhau.
- Đừng để ý đến chuyện xấu của người khác, vì người ấy không phải là mình, nhưng khi nghĩ đến điều xấu của người khác, thì điều xấu trong tâm mình có cơ hội khởi lên, làm cho tâm mình vẩn đục và làm cho nét
mặt của mình mất đi thánh thiện tươi vui.
- Ta phải biết thực tập lắng nghe và học hỏi. Học hỏi từ cuộc sống và lắng nghe những biến đổi từ các cảm thọ và từ những chủng tử vận hành trong tâm thức, trong từng nhịp thở có ý thức của mình, để có khả năng biết rằng, những gì ta không muốn người khác làm cho mình, thì mình cũng đừng bao giờ làm cho người khác.
- Đời người không phải là một trăm năm, mà chỉ tồn tại trong từng hơi thở, nên ta phải sống đẹp, sống hết lòng và thảnh thơi trong từng hơi thở của ta, để mỗi hơi thở của ta đều có khả năng đưa ta đi đến đời sống cao thượng. Một đời người được xem là lãng phí, là vì họ lãng phí ngay trong từng hơi thở của chính họ.
- Ta phải biết nuôi dưỡng ý thức sống cùng và sống với, nếu không có ý thức nầy, ta sẽ bị cảm giác cô đơn đánh lừa và ta sẽ bị chết đói ở trong cảm giác ấy.
- Ta đừng khởi tâm tranh giành với bất cứ ai ở trên cõi đời nầy, vì ở trên đời nầy không có ai là số một cả và chẳng có ai là quan trọng cả. Số một và quan trọng chỉ là những ảo giác do ngã tưởng biến hiện.
- Ta phải thực tập để nhìn thấy tính chất vô thường của vạn hữu, nên ta biết ở giữa đời không có ai xấu và tốt một cách quá đáng, vì mọi sự xấu tốt ở trên đời đều tự thay đổi khi có cơ duyên, khiến cho đời sống của ta không rơi vào cạm bẫy của sự hy vọng hay thất vọng quá đáng.
- Ta thực tập để tự biết khả năng và giới hạn của mình trong lúc tiếp xử với mọi người và muôn vật, để khỏi rơi vào những lầm lỗi đáng tiếc, khiến về sau dẫn sinh tâm ân hận.
- Ta phải thực tập hạnh đầu tư những gì tốt đẹp vào tâm thức ta và vào trong cuộc sống của ta, đó là hạnh đầu tư có ý nghĩa và lâu dài nhất.
- Ta phải biết đầu tư và kinh doanh những gì tốt đẹp trong tâm thức ta, khiến nguồn vốn ấy phát triển lớn mạnh ra trong đời sống của ta, trước khi ta bắt tay kinh doanh bất cứ lãnh vực lợi nhuận nào trong xã hội.
- Ta hãy thực tập nghĩ đến những gì tốt đẹp mỗi ngày khi mặt trời lên và sau khi mặt trời xuống núi.
- Mỗi ngày ta phải biết dành một giờ để thực tập làm những việc khó làm, nhằm nuôi dưỡng những ý chí và nghị lực trong ta. Chính ý chí và nghị lực giúp ta vượt qua những khó khăn và thành công trong cuộc
sống.
- Đừng tự phong thánh cho bản thân mình và cũng đừng để ai phong thánh mình, mà phải biết tạo điều kiện cho những hạt giống thánh trong tâm mình biểu hiện, ngay trong hành động của chính mình mỗi ngày đối với cuộc sống và hãy giúp cho những hạt giống thánh nơi người khác cùng sinh khởi.
- Đừng nói nhiều về đạo đức hay từ bi, mà hãy sống từ bi và đạo đức ngay trong những hành động của chính mình đối với mọi người và muôn vật.
- Cuộc sống lâu dài và đẹp nhất là cuộc sống được nuôi dưỡng bởi tình yêu giản dị.

Thích Thái Hòa
Hoàng Nam  
#3873 Posted : Monday, September 10, 2012 9:17:09 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,138

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)
Nụ cười đầu tuần

Hãy tả cảnh buổi sáng sớm”.


Monday, September 10, 2012 10:29 AM

Cô giáo ra một đầu đầu bài tập làm văn miệng tại lớp: “Hãy tả cảnh buổi sáng sớm”.
Cả lớp yên lặng nghĩ bài. Sau 30 phút, Tí đã nhanh nhẩu xung phong đứng lên:
- Thưa cô! Em xin phát biểu.
- Nào! Mời em Tí!
- Thưa cô! Buổi sáng sớm mai, bố bắt em ra ngoài sân tập thể dục. Em nhìn thấy ông mặt trời hiện ra. Em thấy một con gà trống đuổi theo một con gà mái.
- Thế rồi thì sao? – cô giáo hỏi
- Thế rồi thì con gà trống bắt con gà mái cõng nó đi chơi!
- Thôi ngay!
- Em cũng bảo thôi nhưng nó vẫn không thôi.
- Im ngay!
- Em cũng bảo im nó cũng không im ngay, đã thế con trống lại còn gáy: ò ó o o o…
và con mái thì cứ … cúc cù cu cu…


Trên Net

Edited by user Monday, September 10, 2012 9:18:24 AM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#3874 Posted : Monday, September 10, 2012 10:32:12 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,833

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Mỹ, Trung Thêm Căng Thẳng


(09/08/2012)
Tác giả : Vi Anh

Trong chuyến công du Á châu Thái bình Dưong 10 ngày, Ngoại Trưởng Hillary Clinton có ý muốn xoa dịu với TC; nhưng lực bất tòng tâm, tình hình đã xô đẩy Mỹ và Trung Cộng thêm căng thẳng, đến đổi cuộc hội kiến giữa ông Tập Cận Bình với bà Hillary Clinton vào giờ chót phải hủy bỏ.

Tin Reuters, dù ngủ nghỉ sau một chuyến bay đêm dài từ Trung Cộng đến Đông Timor; dù phu quân là Cựu TT Bill Clinton dùng tất cả hào quang và hùng biện ca ngợi và giới thiệu TT Obama làm ứng cử viên tổng thống của đảng trước Đại Hội Toàn Quốc; dù Bà có lý do vắng mặt qua lời tuyên bố với báo chí, “đây là đại hội đầu tôi vắng mặt trong nhiều, nhiều năm. Nhiều thập niên, bộ trưởng ngoại giao không phải tham dự các đại hội chánh trị ví bản chất không đảng phái của chánh sách ngoại giao của chúng ta. Tôi nghĩ đó là một qui tắc. Đó là một điểu tôi chắc chắn chấp nhận”; dù nhấm nháp ly cà phê sáng nóng thơm tho; Bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng còn cảm thấy dư vị đắng cay và lạnh nhạt cuộc tiếp xúc với các giới chức ở Bắc Kinh.

Trong phòng gặp gỡ, Bộ Trưởng Ngoại Giao TC lạnh lùng như giá băng Bắc cực, và bên ngoài công luận báo chí của Đảng Nhà Nước TC tấn công Bà bằng “đại pháo”. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì gay gắt bác bỏ tính hợp pháp của những tuyên bố đòi chủ quyền ở Biển Đông, và thẳng thừng chỉ trích Hoa Kỳ về việc can dự vào nội bộ của Syria, qua việc ủng hộ các đối thủ của Tổng thống Bashar al-Assad.

Báo chí của TC, bán chánh thức hay chánh thức của Đảng Nhà Nước TC đều nhứt tề, dùng lời lẽ dao to búa lớn mạnh bạo phản đối cái gọi là sự can thiệp của Mỹ và khích động tinh thần quốc gia cực đoan của TQ, bài Mỹ một cách công khai. Tờ China Daily chỉ mặt đặt tên chánh phủ Obama «đang tìm cách gây hấn». Tờ Hoàn Cầu Thời Báo tố cáo trong bản tiếng Anh «Bà Hillary đang làm gia tăng sự nghi kỵ lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Quốc», và lớn giọng kẻ cả: «Mỹ ngày càng thiếu phương tiện để có thể thống trị và cản trở Trung Quốc».

Nên khi đến Đông Timor, Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố với các phóng viên, Washington sẽ không lùi bước trước các bất đồng với Trung Quốc về Syria và Biển Đông, việc Hoa Kỳ và Trung Quốc không luôn luôn đồng ý với nhau, không phải là điều bí mật.

Ngoại Trưởng Mỹ công du Á châu giữa lúc tình hình tranh chấp biển đảo của các nước rất căng thẳng. Mỹ chuyển trục quân sự sang Á châu Thái Bình Dương giữa lúc TC tăng cường bành trướng, tạo nhiều tranh chấp biển đảo đối với các nước, chẳng những ở Đông Nam Á châu Thái Bình Dương như vói VN, Phi Luật Tân và ở Đông Bắc Á Thái bình Dương như Nhựt nữa. Mà Phi là nước Mỹ có hiệp ước an ninh hỗ tương và Nhựt là nước có hiệp ước Mỹ phải bảo vệ về quốc phòng.

Tháp tùng Ngoại Trưởng Hillary trong chuyến công du này người ta thấy có Hải Quân Đô Đốc Samuel Locklear, tư lệnh quân đội Mỹ trong vùng chiến thuật này của Mỹ. Điều đó nói lên sự hiện diện quân sự và sự can dự sâu sắc của Mỹ vào vùng Á châu Thái bình Dương mà Mỹ đã lơ là từ sau Chiến Tranh VN, khiến TC tự tung tự tác, một mình một chợ.

Một viên chức trong phái đòan của Ngoại Trưởng Hillary có tiết lộ, khẳng định với báo New York Times của Mỹ, rằng mục đích chính của chuyến công du này là nhằm xoa dịu căng thẳng đối với vấn đề tranh chấp biển đảo. Thế nhưng thực tế tình hình diễn ra hoàn toàn khác đối với TC, một siêu cường vừa trổi dậy gây sóng gió ở Á châu Thái Bình Dương khiến Mỹ phải thay đổi chiến lược toàn cầu, chuyển trục quân sự về Á châu và cô lập TC trong hiệp ước TPP, thương mại xuyên Thái Bình Dương mà không có TC.

Trước chuyến công du Á châu Thái Bình Dương, phát ngôn viên của bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố Hoa Kỳ xem quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư này thuộc phạm vi của hiệp ước liên minh quân sự Nhật-Mỹ.

Còn báo Wall Street Journal của Mỹ tiết lộ thông tin Mỹ sẽ đặt lá chắn tên lửa tại Á châu, đặt một trạm radar báo động tiền tiến ở miền nam Nhật Bản để phòng thủ trước những đe dọa đến từ Bắc Hàn CS và TC.

Trước khi đến TC, Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã đến Indonesia và khẳng định việc Mỹ ủng hộ giải quyết tranh chấp lãnh hải qua đàm phán đa phương. Bà tuyên bố kêu gọi và ủng hộ việc các nước thành viên Asean nên đoàn kết lại thành một khối để đàm phán với Bắc Kinh về một bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Lập trường này trái ngược với TC, lần đầu khi Ngoại Trường tuyên bố lập trường này, Ngoại Trưởng TC bỏ phòng họp phản đối ra ngoài trong một cuộc họp diễn đàn an ninh Á châu. Và bây giờ Ông thẳng thừng chống lại quan điểm ấy khi Bà Hillary viếng TC.

Cho nên chuyến công du của Ngoại Trưởng Mỹ làm TC tức tối và tình hình ngoại giao giữa Washington và Bắc Kinh căng thẳng thêm. Như trường họp đảo Đông Timor, đây là lần đầu tiên Ngoại Trưởng Mỹ viếng thăm trong vòng 10 năm từ khi đảo này độc lập tách ra khỏi Nam Dương. Cũng như đảo Cook, Ngoại trưởng Clinton ghé thăm, TC giận bầm gan tím ruột vì TC từ lâu đã phóng tài hoá thu nhân tâm như đối với Miên ở gần VN; TC đã cho đảo Cook cho vay gần như không lời và không điều kiện số tiến lớn là 600 triệu đô la. Nên TC lên án những chuyến viếng thăm này của Mỹ là hiếu chiến, là khuấy rối một vùng lâu nay rất yên tĩnh.

Trở lại VN, trong lịch trình công du Á châu Thái Bình Dương của Ngoại Trưởng người ta không thấy Việt Nam. Đỡ cho CSVN không bị “văng miểng”. Nhưng liệu VN có thoát được cảnh trâu bò húc nhau ruồi muổi chết hay không. Người dân Việt nhứt là người dân Việt thời Việt Nam Cộng Hoà không khỏi nhớ và lo sau khi nghe lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Mỹ rằng “Nam Thái Bình Dương quá đủ chỗ cho Hoa kỳ và Trung Quốc”. Lo kiểu hai nước lớn giải quyết vấn đề Biển Đông trên đầu trên cổ nước VN, như Ngoại Trưởng Kissinger và TT Nixon “hy sinh” VN Cộng Hoà khi bắt tay được với TC. Còn Đảng CS cầm quyền thì lo không thể đi đu dây nữa, tránh cái cảnh đi vời Mỹ thì mất đảng, đi với TC thì mất đất. Còn nội lực dân tộc trong việc bảo vệ giang sơn gấm vóc thì bị CS Hà nội kềm chế vì sợ quan thầy TC và không tin dân.

Chưa chi mà đã có lời ra tiếng vào rồi của những học giả hay học thiệt khó mà biết dường đang vẽ đường cho hươu chạy rồi. Hugh White, giảng dạy tại Đại học Quốc gia Úc, chuyên gia Úc đã viết thành sách «The China Choice: Why America Should Share Power- Lựa chọn Trung Quốc: Tại sao Mỹ phải chia sẻ quyền lực ». Theo học giả hay học thiệt này thì để duy trì hòa bình ở khu vực Đông Nam Á, Mỹ và Trung Quốc cần chia sẻ quyền lực với nhau, Hoa Kỳ cần nhường lại cho Bắc Kinh phần thuộc Đông Dương cũ./.

Edited by user Monday, September 10, 2012 10:33:05 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thao ly  
#3875 Posted : Monday, September 10, 2012 1:19:06 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,730
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)
Chàng sinh viên người Việt gây xôn xao tại X Factor


Jason Việt Tiến có màn chào hỏi và trình diễn đầy cảm xúc tại cuộc thi tìm kiếm âm nhạc Anh.

Cậu sinh viên 18 tuổi đang du học tại Anh, Jason Việt Tiến, mới đây đã gây sốt tại cuộc thi âm nhạc có tầm cỡ thế giới, X Factor. Xuất hiện trong tập 2 của cuộc thi, Việt Tiến gây chú ý bởi màn giao lưu rất dễ thương với ban giám khảo, đặc biệt tình yêu cuồng nhiệt của cậu dành cho nữ giám khảo xinh đẹp Tulisa Contostavlos.

Tự tin bước ra sân khấu, Việt Tiến ôm theo một bông hồng để dành tặng riêng cho Tulisa. Cậu chia sẻ với ánh mắt luôn hướng về nữ ca sĩ khả ái: "Xin chào Tulisa, chị thật tuyệt vời và xinh đẹp. Tôi yêu chị bằng cả trái tim!". Chàng trai người Việt đã khiến Tulisa ngất ngây vui sướng và cô đã dành tặng cậu nụ hôn ngọt ngào lên má. Đặc biệt, anh chàng đã phát âm sai tên Tulisa thành Tulisha khiến tất cả khán giả cười nghiêng ngả. Hai vị giám khảo Gary Barlow cùng Louis đã rất nhiệt tình hướng dẫn để Việt Tiến chỉnh lại phát âm. Dù không nói chuẩn nhưng anh chàng đã khuấy động cả khán phòng với phần trò chuyện hài hước, dí dỏm.

Việt Tiến tặng hoa và bày tỏ tình cảm dành cho nữ giám khảo Tulisa.

Sau đó, Jason Việt Tiến tự tin thể hiện ca khúc I Have Nothing của diva bạc mệnh Whitney Houston. Giọng của cậu không thực sự xuất sắc nhưng đã chinh phục giám khảo và khán giả bởi cách trình bày rất cảm xúc và đã truyền hứng khởi tới tất cả mọi người. Tulisa đứng lên vẫy tay cổ vũ và rất nhiều khán giả cũng đứng dậy ủng hộ.

Sau màn trình diễn, chàng trai người Việt được Tulisa đánh giá cao: "Jason, tôi nghĩ chúng tôi đã tìm ra một nhân tố trẻ mới. Bạn hát rất hay và tôi yêu bạn. Tôi yêu phần trình diễn của bạn. Bạn muốn có tình yêu của tôi, bạn đã làm được điều đó".

Chàng trai người Việt nhận được nụ hôn từ vị giám khảo xinh đẹp.

Giám khảo Geri Halliwell cũng khen ngợi: "Cậu làm tốt hơn những gì tôi có thể nghĩ khi cậu xuất hiện. Đây không phải là bài hát dễ dàng gì để có thể hát tốt". Giám khảo Louis Walsh nhận xét: "Có thể không phải là hoàn hảo nhưng màn trình diễn thực sự rất thú vị và sống động. Đó là lý do tại sao tất cả khán giả ở đây cổ vũ bạn và tôi cũng muốn nghe thêm nữa". Jason Việt Tiến nhận được sự đồng ý của cả 4 giám khảo và thẳng tiến vào vòng trong.

Jason Việt Tiến, sinh năm 1993, sang Anh du học ngành Marketing, PR tại Đại học Birmingham City được hơn 2 năm. Khi còn ở Việt Nam, Jason từng là tham dự cuộc thi Tiếng ca học đường 2009 và lọt vào top 6 miền Bắc. Cậu cũng đã lọt vào chung kết cuộc thi PNJ SLiver Star và là Quán quân cuộc thi Birmingham's City Got Talent 2012 tại Anh.

Clip Jason Việt Tiến tại cuộc thi X Factor

http://youtu.be/2-HBzI_5Sos

H.V

Edited by user Monday, September 10, 2012 1:23:31 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#3876 Posted : Monday, September 10, 2012 3:30:41 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,138

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

Chống tham nhũng: Làm sao cho hiệu quả?


Nguyễn Hưng Quốc

10.09.2012

Gần đây, ở Việt Nam báo chí lại làm ồn về phong trào chống tham nhũng.

Thật ra, đó cũng là chuyện... thường ngày ở huyện. Lâu nay vẫn thế. Lâu lâu đảng và chính quyền Việt Nam lại phát động các chiến dịch chống tham nhũng, và nói chung, lần nào họ cũng thành công về…cơ bản; để sau đó, họ lại có dịp tung ra chiến dịch khác và lại có dịp báo cáo là đã thành công, nếu không về “cơ bản” thì cũng “bước đầu”.

Tuy nhiên, lần này thì tiếng ồn về việc chống tham nhũng coi bộ lớn hơn những lần trước. Thứ nhất, nó ồn ở sự kiện Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng và chống tham nhũng trực thuộc Bộ chính trị (nhưng người ta lại không giải thích gì về sự tồn tại của một Ban chỉ đạo cùng tên đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 10 năm 2005, trong đó ghi rõ Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng là do Thủ tướng cầm đầu! Nếu có sự hoán chuyển về cơ quan cầm đầu thì trên nguyên tắc, nó phải được Quốc Hội thông quan, nhưng Quốc Hội, đến nay, hoàn toàn không bàn gì đến chuyện ấy). Thứ hai, nó càng ồn hơn do các vụ bắt bớ các quan chức cao cấp trong ngành ngân hàng với lý do lạm dụng công quỹ và làm việc sai nguyên tắc tài chính. Thứ ba, rải rác trên báo chí, người ta cho đăng tải một số bài liên quan đến việc phòng chống tham nhũng ở…những nơi khác.

Ví dụ, về việc chính phủ Thái Lan kêu gọi dân chúng tham gia chống tham nhũng. Chống bằng cách nào? Bằng cách tích cực tố cáo tham nhũng với chính phủ. Để giúp việc tố cáo ấy được nhanh chóng và hiệu quả, chính phủ Thái Lan chủ trương (a) thành lập các dường dây nóng; (b) đặt các thùng thư ở các nơi công cộng; và (c) lập các trang mạng để mọi người đều có thể gửi đơn tố cáo thẳng đến văn phòng Thủ tướng. Cần chú ý: về các biện pháp chống tham nhũng ở Thái Lan, các phóng viên chỉ tường thuật chứ không ai dám đề nghị là nên được áp dụng ở Việt Nam. Còn chính quyền Việt Nam thì im lặng.

Thật ra, không ai bảo đảm hai biện pháp phòng và chống tham nhũng ở Việt Nam và ở Thái Lan đều có hiệu quả hoặc biện pháp nào tốt hơn biện pháp nào. Việt Nam thì chọn biện pháp phòng và chống từ trên xuống. Cái gọi là “trên” ấy, thoạt đầu nằm trong tay Thủ tướng; sau, có vẻ như người ta muốn nâng cấp lên Bộ chính trị, cao hơn phủ Thủ tướng. Ở Thái Lan, người ta chọn biện pháp từ dưới lên: chính dân chúng, những người thấp cổ bé miệng, đóng vai trò chủ đạo trong việc tố cáo, qua đó, một mặt, vạch trần; mặt khác, ngăn chận tham nhũng.

Cả hai biện pháp ấy đều bất cập.

Sự bất cập của biện pháp trên thì đã rõ: người ta vừa đá bóng vừa thổi còi. Ở Việt Nam, lâu nay nhiều người đã nói nhiều đến sự giàu có một cách bất bình thường của gia đình Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Sự giàu có ấy đến từ đâu? Chắc chắn không phải từ lương hay bất cứ một nguồn thu nhập hợp pháp và chính đáng nào cả. Mà không phải chỉ có Nguyễn Tấn Dũng. Hầu như người nào trong nhóm lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và chính phủ cũng đều cực kỳ giàu có. Hiện tượng tương tự cũng từng được thấy ở Trung Quốc qua vụ án Bạc Hy Lai. Bây giờ, giao cho những người như thế nhiệm vụ chính trong việc phòng và chống tham nhũng, làm sao có tin cậy được? Cuối cùng, như cái điều mọi người đã từng nhìn thấy trong suốt nhiều năm qua: chỉ có những cán bộ nho nhỏ, cấp phường hay cấp xã, là bị bắt về tội tham nhũng. Còn những cán bộ cao cấp, ngay cả khi bị các công ty và chính phủ ngoại quốc nêu đích danh về việc nhận hối lộ, người ta cũng tảng lờ với lý do “để tìm thêm chứng cứ”. “Chứng cứ” ấy không bao giờ có; thậm chí, việc tìm kiếm cũng không bao giờ thực sự bắt đầu.

Việc tố cáo tham nhũng từ dưới lên, cũng vậy, cũng chỉ thành công với điều kiện: chính phủ, ở những cấp cao nhất, phải trong sạch. Bởi, nếu đơn tố cáo đến văn phòng Thủ tướng, nhưng văn phòng Thủ tướng lại bao che cho những con cá mập lớn nhất thì sao? Thì, không những việc tố cáo không có kết quả gì mà người tố cáo có thể mang họa, có khi đến mất mạng không chừng.

Cả hai biện pháp phòng chống tham nhũng nêu trên, muốn có hiệu quả, cần thêm biện pháp thứ ba: theo chiều ngang, với sự tham gia của Quốc Hội, của tư pháp, của xã hội dân sự và của các cơ quan truyền thông. Các tổ chức này không những đóng vai trò phát hiện và tố cáo tham nhũng mà còn theo dõi việc chống tham nhũng của chính phủ và bảo vệ những người tố cáo tham nhũng.

Tuy nhiên, tất cả các tổ chức này chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh của họ với một điều kiện: độc lập. Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Bởi, không độc lập, họ sẽ chẳng làm được gì cả, ngoài việc vâng lệnh những kẻ có chức quyền, nghĩa là, thành thực mà nói, những người tham nhũng nhất.

Ở Việt Nam, ai cũng biết, tất cả các tổ chức trên đều nằm hết trong tay của đảng. Vậy thì, một, ai sẽ tố cáo tham nhũng; hai, ai sẽ bảo vệ những người tố cáo ấy, nếu có; ba, ai sẽ kiểm tra việc xử lý các vụ tham nhũng? Câu trả lời đã rõ ràng: Không có ai cả.

Không thể không nghĩ đến vụ án nhà báo Hoàng Khương (Nguyễn Văn Khương) vừa mới xảy ra. Là phóng viên báo Tuổi Trẻ, Hoàng Khương viết loạt bài phóng sự về nạn tham nhũng của công an. Để có tài liệu và chứng cứ, ông tham gia vào một vụ hối lộ 15 triệu đồng (750 đô la) cho cảnh sát giao thông. Sau đó, ông viết bài đăng trên báo Tuổi Trẻ. Nhưng bài viết ấy lại trở thành chứng cứ để công an bắt ông về tội hối lộ. Đầu năm 2012, ông bị bắt. Trong phiên tòa diễn ra trong hai ngày 6 và 7 tháng 9, ông bị kết án 4 năm tù giam. Trong khi đó, hai công an nhận tiền hối lộ của ông chỉ bị 5 năm tù.

Nhân vụ án Hoàng Khương, nhà báo Minh Diện nhớ lại một việc liên quan đến bản thân ông cách đây 14 năm: Năm 1998, ông có bằng chứng cho thấy Ngân hàng Việt Hoa cấu kết với Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp Long An tham nhũng hàng trăm tỉ đồng và gần 90 triệu đô la Mỹ. Ông muốn xác minh các tài liệu ấy nên đến trụ sở Ngân hàng Việt Hoa, xin gặp Ban giám đốc. Không ai tiếp ông cả. Nhưng ngay sau đó, một cán bộ cao cấp trong Ủy ban an ninh của Quốc Hội liên lạc với ông và yêu cầu ông từ bỏ ý định điều tra vụ tham nhũng ấy. Chưa hết. Mấy ngày sau, Đào Duy Quát, Phó Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương kịch liệt lên án ông trong buổi giao ban hàng tuần của báo giới. Rồi tổng biên tập báo Tiền Phong, nơi Minh Diện đang làm việc, khiển trách ông và yêu cầu ông ngưng ngay mọi việc điều tra. Trước những áp lực nặng nề từ trên xuống dưới như vậy, nhà báo Minh Diện không những không thể tiếp tục điều tra vụ tham nhũng mà còn bị “treo bút”.

Từ kinh nghiệm của hai nhà báo Hoàng Khương và Minh Diện, ai còn dám chống tham nhũng nữa?

Và cũng từ đấy, người ta có thể tiên đoán ngay kết quả của các chiến dịch phòng và chống tham nhũng với những Ban này Ban nọ mà giới lãnh đạo Việt Nam đã hoặc đang thành lập.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Mắt Buồn  
#3877 Posted : Monday, September 10, 2012 4:37:46 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,721

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Chờ Em Tháng Bảy Mùa Mơ

Em về tháng bảy mùa mơ
Tình tôi chín mọng đợi chờ bóng em
Cắn vào chua ngọt môi mềm
Nụ cười răng khễnh càng thêm ấm nồng

Mơ không xanh vỏ đỏ lòng
Như là dưa hấu đỏ trong xanh ngoài
Trái mơ ưng ửng vàng thôi
Như môi chung thủy mọng lời tình yêu

Như mây quấn quít bên chiều
Mơ tôi em nhớ cắn nhiều đó nghen
Mơ về Đà Lạt sương mềm
Quán khuya góc phố khát thèm tay ôm

Mình tôi ôm cái lạnh run
Tóc em có cột dây thun tình vào ?
Một mình ngồi hát nghêu ngao
"Tương Tư Đà Lạt" cồn cào nhớ thương

Lần theo dốc vắng bên đường
Bóng ai thấp hoáng mù sương đi về
Trái mơ tình cắn đam mê
Thương làn tóc xõa hương thề chấm vai

Hồ Xuân Hương sóng u hoài
Thác Prenn cứ mãi đổ dài tương tư
Lá vàng rơi rụng bao thu
Thông reo lời gió đồi ngơ ngẩn đồi...

Đợi em vàng chín trái mơ
Tình tôi chếnh choáng bao giờ thôi say

Trầm Vân
langthang09  
#3878 Posted : Monday, September 10, 2012 6:23:25 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
UserPostedImage


Sài Gòn Ơi ! Nỗi Nhớ Khôn Nguôi


Tôi sinh ra tại Hà Nội, cố đô của ngàn năm văn hiến, nhưng lại lớn lên ở Sài gòn, thành phố đã một thời được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông. Hà nội với đường Cổ Ngư êm đềm và thơ mộng, với Hồ Gươm hai bờ liễu rủ, ảo mờ trong màn sương những sáng mùa đông, tuy có để lại trong tôi ít nhiều xao xuyến nhưng nỗi nhớ chỉ bàng bạc như khói sương, ẩn khuất đâu đó như những bóng hình trong huyền thoại.

Với Sài gòn thì khác. Sài gòn với tôi là tất cả. Mảnh đất này là nơi ôm giữ gần trọn cuộc đời tôi, từ khi tôi tập tành làm thiếu nữ, biết soi dung nhan mình trong tấm kính xinh xinh, đến khi rời xa thì đầu đã pha hai màu tóc. Sài gòn, nơi chôn dấu tất cả các kỷ niệm tôi, sung sướng lẫn khổ đau của một kiếp làm người.

Năm 1954, gia đình tôi theo đoàn người di cư bỏ miền Bắc, giắt dìu nhau đặt chân lên mảnh đất miền Nam với bao nhiêu lạ lẫm thuở ban đầu. Từ đồng bạc giấy xé đôi để thành hai tờ năm cắc đến trái cóc giầm tẻ hoa xanh xanh vàng vàng, cắn vào giòn tan vị chua chua ngọt ngọt nhớ đời.. Bản chất người dân miền Nam chân chất và thành thật, thân thiện và xởi lởi, khiến những người bỏ xứ ra đi như chúng tôi cảm thấy thật ấm lòng.

Dần dà theo năm tháng, Sài gòn, thủ đô cuả miền Nam tự do trở thành thành phố đẹp đẽ và sung túc nhất nhì vùng đông nam châu Á. Thành phố với sức sống ào ạt, hầu như không lúc nào im tiếng động. Mới 3,4 giờ sáng, người ta đã bị đánh thức dậy bởi tiếng nổ inh tai cuả những chiếc xe ba bánh hay những chiếc xích lô máy chất đầy rau quả đưa về các chợ. Tiếng xe ngựa lóc cóc trên mặt đường nhựa chở những người buôn thúng bán bưng bắt đầu cho một ngày mới. Trong các xóm nhỏ vang vang tiếng trẻ con rao báo, tiếng hàng quà rong, nào xôi, nào cháo, nào bánh, nào rau, ôi thôi không thiếu một loại hàng nào.. Sài gòn đầy dẫy những quán cóc ở đầu mỗi hẻm nhỏ, sáng tinh mơ đã sực nức mùi cà phê thơm ngát. Nơi đây là chỗ gặp gỡ đầu ngày cuả giới bình dân, xích lô, ba gác hoặc công nhân các hãng xưởng, cầu đường... Phì phèo điếu thuốc, nhâm nhi ly nước đen ngòm, chút vị ngọt pha đầy vị đắng mà thiếu nó thì sẽ ra ngẩn vào ngơ như thiếu người tình..

Sài gòn với tôi còn là một thời aó trắng Trưng Vương, đầy ắp kỷ niệm ngọt bùi với phấn trắng bảng đen, với bạn bè chia nhau những niềm vui tuổi ngọc, những mộng ước thanh xuân. Con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm với hai hàng cây cao bóng mát, những lá me xinh xinh rơi đầy trên vai áo, rắc kín mặt đường vào lúc chớm thu. Quanh quẩn đâu đó, hình ảnh những anh chàng tình si, đôi mắt ngẩn ngơ tìm kiếm trong đàn thiên nga vừa vỡ tổ, hình bóng nàng thơ mà chàng đang ấp ủ :

Em tan trường về,
Đường mưa nho nhỏ
Chim non dấu mỏ
Trong cội hoa vàng...

( Ngày xưa Hoàng Thị- Phạm Thiên Thư )

Trong cặp của mỗi cô nàng Trưng Vương, có một ngăn kín đáo nhất, là nơi cất giữ những tờ giấy pelure mỏng tanh màu hồng phấn, màu xanh phơn phớt da trời chép chi chít những bài thơ tình học trò cuả Nguyên Sa, những bài thơ đầy hấp lực với những nàng con gái vừa đến tuổi mộng mơ, biết thẹn thùng dấu mặt khi vô tình chạm vào ánh mắt của ai kia đang đăm đắm hướng về mình:

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
ôi thay mực cho vừa màu áo tím...

( Màu kỷ niệm )

Không có anh nhỡ một mai em chết
Thượng đế hỏi anh sao mắt em buồn ?
Sao tay gầy ? Sao đôi mắt héo non ?
Anh sẽ phải cúi đầu đi vào địa ngục...

( Cần thiết )

(Ôi bạn bè ta, những người đã chia xớt với ta cả một thời hoa mộng, nay đã tan tác nơi đâu ? Ai còn, ai mất?)

Nhớ đến Sài gòn, người ta không thể không nhớ đến chợ hoa Nguyễn Huệ mỗi độ xuân về. Mai, đào, hồng, cúc, thuỷ tiên, mãn đình hồng... thôi thì trăm nghìn thứ hoa, trăm nghìn màu sắc, muôn hồng ngàn tía khoe sắc khoe hương. Nam thanh nữ tú, ông già bà trẻ, chen vai thích cánh nhau trên con lộ rộng nhất nhì thành phố. Lòng người vui theo cái vui cuả mọi người, rộn rã theo cái rộn rã của phố phường ngày giáp Tết.

Sài gòn còn là những đêm Giáng sinh ngập tràn giòng người trên khắp các con đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Tự do... dẫn về nhà thờ Đức Bà. Người ta đi lễ thì ít mà đi ngắm nhau thì nhiều. Ở đó có bao nhiêu cặp tình nhân tay trong tay, mắt trong mắt. Đêm cuả gặp gỡ, đêm cuả hẹn hò. Đêm như chảy hội, đêm như thác lũ...

Ta đi bên nhau dấu tình trong đôi mắt
Dấu lời hẹn hò trong mỗi bước chân êm...

Sài gòn còn là những cơn mưa đầu mùa hạ. Trời đang nắng chang chang, nắng như
đổ lửa, nắng rát thịt da.., bỗng đâu cơn mưa ập đến. Mưa ào ạt, mưa tới tấp, mưa như trút nước.. rồi tạnh rất mau.

Anh còn nhớ không anh, chiếc xích lô chở đôi ta đi dưới trời mưa tầm tã. Lời thầm thì ngọt ngào hơn khúc hát tình ca. Mưa ơi cứ dài thêm đi nhé cho tim ta thơm đủ một vườn hồng...

Sài gòn ơi, một thời ta mới lớn
Mỗi con đường đều ngát hương ngọc lan
Mỗi hàng cây đều có tổ chim non
Ríu rít hót bài ngợi ca hạnh phúc...

Tình yêu lớn theo năm tháng và những đứa con bé bỏng lần lượt chào đời.

Tôi giắt con đi giữa lòng Sài gòn êm ả. Đây Givral với những ly kem mát lạnh, món giải khát không thể thiếu mỗi lần dạo phố cho các cô cậu bé con . Đây nhà sách Khai Trí, với vô vàn sách truyện mà mẹ thường say mê đọc cọp thời còn là nữ sinh. Đây quán cà phê La Pagode, nơi không hẹn mà thường xuyên có mặt Bố với các bạn bè.

Biết bao nhiêu tên gọi của Sàigòn thân yêu đã đi qua trí nhớ non nớt cuả tuổi thơ các con tôi...

Đêm về trên bánh xe qua
Nhớ tôi Xa Lộ, nhớ nhà Hàng Xanh
Nhớ em kim chỉ khứu tình
Trưa ngoan lớp học, chiều lành khóm tre
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giảng, lá hè Tự Do...

(Đêm nhớ trăng Sài Gòn - Du Tử Lê )

Tháng 3/1975, hàng ngày tin tức chiến sự từ xa đưa về toàn là tin xấu. Pleiku mất, Đà Nẵng mất, rồi Nha Trang cũng chẳng còn... Từ miền Trung xa xôi, miền Tây trù phú, người người lũ lượt kéo về, Saì gòn trở thành một thành phố cực kỳ rối loạn. Rối loạn từ ngoài đường phố đến trong lòng mọi người. Nhìn đâu cũng thấy những khuôn mặt hốc hác, lo âu, những đôi mắt thất thần, những đôi môi khô héo, gặp nhau chỉ hỏi một câu duy nhất " ở hay đi ? ".

- Mà đi thì đi đâu chứ ? Và đi bằng cách nào ?

Đầu tháng 4/75 những biến động chính trị ở miền Nam càng ngày càng dồn dập và anh, dẫu đang là luật sư cuả văn phòng Phụ tá về luật pháp Phủ Tổng Thống lại bị chính ông Tổng thống ra lệnh bắt giữ. Em cuống cuồng như con chim mắc bẫy, dãy giụa trong tuyệt vọng, nào biết đâu số phận đang an bài cho mình những tháng năm nghiệt ngã, khốn cùng...
Bất ngờ trưa ngày 27/4 anh được thả về, đúng vào những giây phút cuối cùng khi Sài gòn đang giãy chết. 29/4, giắt díu nhau, chúng ta tìm đường chạy trốn nhưng mọi ngả đường đều là tuyệt lộ!

Trưa 30/4/75, lệnh đầu hàng cuả Dương Văn Minh như tiếng đạn pháo kích phá toang lồng ngực người dân Sàigòn. Nỗi bàng hoàng làm thân thể tôi dường như mất hết gân cốt...

Cơn bão lốc đã hoàn toàn ngự trị thành phố. Rực khắp nơi chỉ thấy một màu cờ:

Tôi bước đi,
Không thấy phố,
Không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ

(Trần Dần)

Mỗi sáng tiếng loa phóng thanh vang lên chát chúa lời người xướng ngôn viên, toàn là một giọng điệu tuyên truyền xảo trá và bịp bợm, ca tụng cái xác ướp đã bao năm, ca tụng cái chiến thắng đầy máu xương và hận thù. Những bài hát hoàn toàn lạ lẫm : " Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng..." Đại thắng ư ? Thành phố của ta – Thành phố có người lãnh đạo vừa lên tiếng đầu hàng, đang thảm thương như người mẹ tuyệt vọng ôm lũ con mình đầy thương tích trong vòng tay run rẩy mà lau đi những giọt lệ bi ai - mỉa mai thay cho hai từ " đại thắng "!

Thành phố cuả anh
Nhục nhằn duyên cưỡng ép
Cay đắng phận rau răm
Tim lay lắt chập chờn nỗi đợi
Mòn mỏi nén nhang khuya....

( Giã biệt - Tô Thuỳ Yên )

Tiếp theo là hàng loạt thanh trừng dành cho kẻ bại trận.

Trước hết là lệnh tập trung toàn bộ sĩ quan và công chức chế độ miền Nam.

Không chút nghi ngờ, anh bảo :
-Em đừng xếp nhiều quần áo cho anh, chỉ đi có 10 ngày thôi mà...

Chỉ 10 ngày thôi ư ? Chính phủ cách mạng sao mà khoan dung, độ lượng thế nhỉ ?

Thương thay cho cái ngu ngơ cuả dân miền Nam và cái gian manh, xảo quyệt cuả lũ hình người dạ thú.

10 ngày đã trở thành 10 năm hay hơn nữa, nào ai học được chữ ngờ!

Các trại tù mọc khắp từ Nam ra Bắc để giam giữ những người bại trận. Bao nhiêu người đã ngã xuống trước họng súng cuả cai tù ? Và bao nhiêu người đã vùi thây nơi thâm sơn cùng cốc vì nhục hình, trốn trại, đói khát, bệnh tật?...

Không bị nhốt trong các ngục mang tên Hàm Tân, Thanh Hoá, Nam Hà, Xuân Phước v..v... nhưng người dân Sài gòn và cả miền Nam cũng sống trong một trại tù khác, khổng lồ hơn và nghẹt thở với đủ các đợt trả thù: đổi tiền, đốt sách, đánh tư sản, đuổi đi kinh tế mới, giam giữ...v..v...

Kẻ chiến thắng đóng các cửa ngõ với thế giới bên ngoài, ôm cái vinh quang thấm đầy máu và nước mắt để hát hò, để xưng tụng...trong khi gạo và thực phẩm do chính sách hợp tác xã ngu đần đã cạn kiệt. Kết quả là sau năm 1977 từ Bắc vào Nam, ruộng đồng bát ngát như thế mà thóc gạo thì chẳng còn, người dân phải ăn khoai mì khoai lang hà độc, ăn bo bo, thứ thực phẩm chỉ dành để nuôi ngựa!!

Tội nghiệp con bé út 3,4 tuổi của tôi. Trông thấy bát bo bo là nó vừa cười méo xệch cái miệng thật xinh, vừa giả bộ xoa xoa cái bụng lép kẹp mà nói : " Mẹ ơi, con no rồi ", để đừng phải nhai cái bát bo bo đến trẹo quai hàm ! Bữa tối sang nhất là có chút cơm với 3 phần gạo hẩm và 1 phần sạn, những cục sạn nếu nhặt không kỹ sẽ vỡ răng như chơi !

Đó là những năm tháng Sài gòn chìm trong bể khổ. Quanh mình, từ xóm giềng đến trường lớp, con mắt nào cũng là con mắt của soi mói, dò xét. Mỗi lời nói ra dường như có cái máy thâu âm vô hình lắp đặt ở đâu đó sẵn sàng ghi lại. Sai sót ư ? Nhẹ nhất là kiểm thảo trước tổ dân phố hay ngoài đồn công an, không thì đi kinh tế mới, còn nếu bị ghép vào tội phản động thì tù đầy chẳng hẹn ngày về...

Ôi Sài gòn thân yêu, còn đâu hình ảnh cuả Hòn ngọc Viễn Đông vui tươi, phồn thịnh ngày nào. Sài gòn đang héo khô như hoa cỏ mùa nắng hạn. Sài gòn đang quằn quại như người thiếu phụ trong giờ vượt cạn mà kẻ phụ tình đã cao chạy xa bay...

Ở đây, địa ngục chín từng sâu,
Cả giống nòi câm lặng gục đầu,
Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt,
Chng xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau.

Mùa hạn – ( Tô Thuỳ Yên )

Làm thân cô giáo như tôi, sớm chiều phải túc trực tại trường sở để học tập đường lối chính sách mới, để được dạy dỗ rằng mình là vợ một tên lính " nguỵ ", kẻ tội đồ cuả dân tộc ! Cuộc sống là những ngày nối tiếp ngày tràn ngập lo lắng và sợ hãi. Đêm đêm trên đường đến lớp dạy bổ túc văn hoá tại trường Lê Quý Đôn, khi chiếc xe đạp lọc xọc chạy ngang qua câu lạc bổ thể thao (cercle sportif ) trên đường Hồng Thập Tự, trái tim tôi dường như bị mũi dao đâm trúng. Trời có mưa không mà mặt tôi nhạt nhoà..." Anh ơi anh đâu rồi... " ? Hình như mới hôm qua hay hôm kia thôi,
chiều đến, sau giờ tan sở, chồng tôi còn về đón mấy mẹ con đến câu lạc bộ này cho các con bơi lội, chơi đùa...

Thôi giấc mơ đời đã vội tan!

Sài gòn còn chứng kiến biết bao cảnh chia lìa vì những cuộc trốn chạy trên những chiếc bè mỏng manh như chiếc lá giữa mặt bể mênh mông trùng trùng sóng dữ hay những cuộc vượt rừng một sống mười chết giữa cạm bẫy cuả súng đạn, rắn độc, bọ cạp và lạc đường ... Hình ảnh hai anh tôi quỳ lạy mẹ và ôm tôi từ biệt trước khi ra đi là những kỷ niệm đau đớn tận cùng, dẫu đã cố chôn vùi để quên đi nhưng mỗi năm cứ gần đến tháng tư oan khuất hay tháng 7 giỗ kỵ , nước mắt tôi tự nhiên chứa chan không sao cầm giữ được. Đứa cháu trai 16 tuổi, đứa con trai duy nhất cuả anh cả tôi đang giam thân trong trại tù đã do chính tay tôi giắt cháu ra khu chợ cũ Sài gòn để xuống tàu ở bến Bạch Đằng trong cái ngày oan nghiệt đó. Trước lúc chia ly, cháu nắm chặt bàn tay tôi, đôi mắt trong sáng đầy tin yêu nhắn lại " Cô ơi, bố về cô nói giùm con yêu bố. Con đi, sẽ lo cho cả nhà " ! Chuyến tàu định mệnh đó mang theo 10 người thân yêu cuả tôi ra đi và đi mãi vào trong lòng biển thẳm.

" Khôi ơi, cô xin lỗi con, lời nhắn cuả con cô đã vĩnh viễn chôn vùi vì không dám khơi dậy trong lòng bố con vết thương mãi mãi chẳng lành ! "

Đêm đêm tôi thường mất ngủ vì những toan tính lúc nào cũng ngập ngụa trong đầu. Làm sao với cái thân thể còm cõi, cô đơn này, tôi có thể gánh vác nổi một gia đình 6 con còn thơ dại, chồng mòn mỏi trong ngục tù đói khát ốm đau, mẹ già liệt nửa thân mình kèm với những cơn đau tim vật vã xác thân kể từ sau ngày hai anh và các cháu ra đi mà biệt vô âm tín ? Làm sao để các con tôi đừng biết rằng ngày mai mẹ chúng không còn đồng xu trong túi, sẽ sẵn sàng bỏ học để lao ra chợ đời phụ mẹ kiếm sống với cái tuổi lên 10, 12, 13 ? Những câu hỏi cứ chằng chịt ám ảnh tâm trí tôi mà không có lời giải đáp. Tôi xụm xuống như một bà già tàn tạ. Hình như tôi không còn nước mắt để khóc cho thân phận mình mà trong cõi lòng lúc nào cũng chỉ đầy ắp sự lo lắng và nỗi sợ hãi tận cùng...

Năm 1992 gia đình tôi rời Việt Nam đi định cư tại Mỹ. Tôi bỏ lại sau lưng nắm tro xương cuả Mẹ, bỏ lại người anh ruột độc nhất còn lại trên thế gian này, bỏ lại thành phố Sài gòn mà mỗi cành cây, ngọn cỏ, mỗi con đường, khu phố, căn nhà... còn âm vang, còn réo gọi trong tôi những kỷ niệm thiết tha cuả gần 40 năm gắn bó...

Khi chiếc phi cơ rời khỏi phi trường Tân sơn Nhất, bay vút lên trời cao, lòng tôi bỗng vỡ vụn những cảm giác xót sa, mất mát !

Sài gòn ơi tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi,
Những giọt lệ ôi sầu đắng...

(Vĩnh biệt Sài gòn - Nam Lộc )

Những tháng năm dài nhớ quê hương...

DƯƠNG VÂN ĐÌNH


Edited by user Monday, September 10, 2012 6:24:57 PM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#3879 Posted : Monday, September 10, 2012 10:42:04 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,833

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

Breaking News - Tin nóng hổi


Nguyễn thanh Phượng con gái Nguyễn tấn Dũng , công du nước ngoài sau vụ đỗ bễ tài chánh của Trầm Bê , phe cánh Ng. tấn Dũng ,nay trở cờ , ra đầu thú và hợp tác với Cơ quan An ninh điều tra trong vụ án Bầu Kiên .Phượng trước đó đã dàn xếp xin " Ly hôn " với chồng là Henry Hoàng , 1 Việt kiều - Hoa kỳ . Có thể đây là âm mưu tẩu tán tài sản gia đình Nguyễn tấn Dũng thông qua người con rễ Henry Hoàng , theo dư luân quốc nội .

NB : Cũng nên nói thêm , cha của Henry Hoàng là Nguyễn bá Ban , vừa qua cũng đã Ly thân với V-1 , gần 7 bó , hiện ở Virginia ,là mẹ ruột của Henry Hoàng ..để được chăm sóc bởi 1 cô chân dài trẻ đẹp , hiện cả 2 đang sống vui vẻ tại Hà nội nơi Ng bá Ban là Giám đốc 1 Công ty Viễn liên hùn hạp với sui gia và các đại gian đỏ khác có máu mặt tại thủ đô Ha noi . Đúng là cha nào , con nấy ! Giàu đỗi bạn , sang đỗi vợ . Chúng ta cũng đoán được tấn tuồng 2 gia đình này sẽ kết thúc như thế nào ? ...chắc phải là trong con bài " triệt buộc " . CS vốn là Vô thần , nên chắc chắn là Vô cảm ! Hãy chờ xem vậy ! wait and see . Không lâu đâu quý vị !

THỜI SỰ NÓNG HỔI VIET NAM


Tin nội bộ của Ban nội chính TW, Trầm Bê, tên trùm tài chính trong phe cánh của TT Nguyễn Tấn Dũng đã trở cờ khi ra đầu thú và hợp tác với cơ quan an ninh điều tra trong vụ án bầu Kiên, hiện nay Trầm Bê đang được công an Việt Nam bảo vệ nghiêm ngặt.

Trầm Bê là kẻ đã ra tay thâu tóm Ngân hàng Sacombank với sự giúp sức của Nguyễn Thanh Phượng và bầu Kiên. Trong phi vụ này bầu Kiên và Phượng đã nhận khoảng 1 700 tỷ đồng hoa hồng từ Trầm Bê.
Vụ thâu tóm xem như là vi phạm luật chơi trong thế giới ngầm của các phe nhóm MAFIA tại Việt Nam.
Được biết hiện nay cố vấn cho bầu Kiên là ông Trần Xuân Giá, nguyên là bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư thời của ông Phan Văn Khải đã sang Hoa Kỳ công tác, nhưng có thể đây là sự tránh mặt và “chạy làng” (tương tự như vụ Dương Chí Dũng), theo gia đình ông Giá thì không biết khi nào ông Giá sẽ trờ về Việt Nam.

Như vậy trong vụ án bầu Kiên đã thêm ông Hải – TGĐ Ngân hàng ACB bị bắt và Trầm Bê đang bị quản thúc.
Phượng (con gái của NT Dũng) thì đang công du ở nước ngoài sau khi dàn xếp ly hôn với người chồng là một Việt kiều quốc tịch Hoa Kỳ, có thể đây là một âm mưu tẩu tán tài sản của gia đình Nguyễn Tấn Dũng thông qua người con rể.

Đồng bào Việt Nam ở các nước hãy cảnh giác, đây là lúc bọn quan chức cộng sản và cánh hẩu tháo chạy, tài sản quốc gia mà chúng cướp được sẽ đi cùng với chúng, nếu đồng bào phát hiện ra chúng thì báo ngay cho chính quyền sở tại.

Những tên trùm MAFIA khác như Nguyễn Thanh Bình, Thống đốc Ngân hàng; Nguyễn Văn Hưởng, cố vấn cho Nguyễn Tấn Dũng; Lê Hồng Anh, Bí thư TW đảng CSVN,…đang trù tính bỏ chạy thoát thân.
Hiện nay, trước nhà của các tên MAFIA này đều có mật vụ đang canh gác nghiêm ngặt của cả hai phía, phe bảo vệ chúng và phe sẳn sàng tóm cổ chúng.

Trong thời gian ngắn, nếu Nguyễn Tấn Dũng công du về phía Nam và đặc biệt là vùng châu thổ sông Cửu Long thì đó là tín hiệu cho cuộc chiến đấu đá nội bộ công khai bắt đầu với sự yểm trợ quân sự của các phe phái.

Còn nhiều màn hay lắm, đây mới là màn đầu.
Luận ( Melbourne )

2) Điễm mặt con gái đại gian đỏ :
Nguyễn thanh Phượng
Tài năng hay Bất chính?

Thông tin được bọc quá kín nên trên khắp mọi phương tiện đều rất ít số liệu chính thức liên quan đến tổng giá trị tài sản của nhóm tổ chức, Công ty có Nguyễn Thanh Phượng tham gia nói chung và tài sản của bản thân Nguyễn Thanh Phượng nói riêng.
Tuy nhiên, quý vị hãy cùng tôi phân tích thử một vài thông tin ít ỏi đó để mỗi người tự có cái nhận định cho riêng mình

1- Về tổng tài sản của các Công ty Bản Việt:

- Ngân hàng Bản Việt có số vốn điều lệ là 3.000 tỷ đồng. Tài sản thực tế có thể lớn hơn nhiều so với vốn điều lệ.
- Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Bản Việt (Viet Capital Asset Management) với vốn điều lệ ban đầu 150 tỷ đồng, trong đó Nguyễn Thanh Phượng nắm giữ đến hơn 43% cổ phần của công ty. Tuy nhiên, theo số liệu 2008, tài sản niêm yết của VCF 800 tỷ đồng, VCHF 500 tỷ đồng. Nhưng đến 2012, với thông tin tổng hợp về các cổ phiếu mà Công ty này đang nắm giữ thì tổng tài sản ước tính gần 3000 tỷ đồng.
- Công ty chứng khoán Bản Việt của Nguyễn Thanh Phượng đã leo từ vị trí thứ tám trong nửa đầu năm 2011 lên vị trí thứ tư nửa cuối năm trong số 10 công ty chứng khoán dẫn đầu về thị phần môi giới giao dịch trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.. Theo số liệu báo cáo tài chính năm 2011, tổng tài sản của Công ty này là 2.417,6 tỷ đồng.
- Công ty bất động sản Bản Việt: chưa có số liệu.
Với các số liệu sơ bộ trên, có thể ước tính tổng tài sản 4 Công ty Bản Việt mà Nguyễn Thanh Phương đang làm Chủ tịch Hội Đồng Quản trị là khoảng trên 10.000 tỷ đồng. Trong đó, theo các báo cáo, nhóm lãnh đạo nắm tỷ lệ vốn khoảng trên 45%, đặc biệt với Công ty Quỹ Bản Việt, Nguyễn Thanh Phượng đã nắm giữ hơn 43%

Từ các số liệu trên, ước tính Nguyễn Thanh Phượng nắm giữ quân hơn 10% cổ phần của các Công ty, nghĩa là có tổng tài sản lớn hơn 1.000 tỷ đồng. Ở tuổi trên 30, tất nhiên cũng có nhiều Đại gia điều hành kinh doanh với giá trị tài sản nghìn tỷ đồng, nhưng phần lớn là ở trường hợp có xuất thân từ gia đình Đại gia nên có sự đầu tư ban đầu từ gia đình. Vậy Nguyễn Thanh Phượng có ở trường hợp này hay không?

2- Về xuất thân và tiểu sử của Nguyễn Thanh Phượng:

Thông tin về quá trình hoạt động kinh doanh của Nguyễn Thanh Phượng trên các phương tiện thông tin rất khiêm tốn, chỉ có được theo phần Tóm tắt rất ngắn gọn tiểu sử Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty Quản lý Quỹ Bản Việt Nguyễn Thanh Phượng trong các Website liên quan, cụ thể:
“Bà Nguyễn Thanh Phượng sinh ngày 20/3/1980 tại Kiên Giang, tốt nghiệp Cử nhân ngành Tài chính – Ngân hàng ở Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) và đã hoàn tất chương trình Thạc sĩ chuyên nghành Quản trị tài chính của Trường Đại học Quốc Gia Geneva, Thụy Sĩ. Hiện bà Phượng là nghiên cứu sinh chương trình đào tạo Tiến sĩ tại Trường Kinh doanh, Học Viện Công nghệ châu Á.

Bà Nguyễn Thanh Phượng là một trong những sáng lập viên và là Chủ tịch Hội đồng quản trị của VCSC. Bà đồng thời là sáng lập viên và cũng là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty Quản lý Quỹ Bản Việt.
Trước đây, bà từng làm Giám đốc đầu tư của quỹ Vietnam Holding, một quỹ đầu tư niêm yết trên thị trường chứng khoán London. Ngoài ra, bà Phượng từng giữ vị trí Phó Giám đốc tài chính của Công ty Liên doanh Holcim (Việt Nam), một tập đoàn đa quốc gia Thụy Sĩ”.

Theo thông tin trên, điểm xuất phát vào vị trí quản lý đầu tiên của Nguyễn Thanh Phượng là Phó Giám đốc tài chính của Công ty Liên doanh Holcim (Việt Nam), một tập đoàn đa quốc gia Thụy Sĩ. Với những người chưa nắm rõ, vị trí này nghe rất “kêu” nhưng thực tế, tập đoàn đa quốc gia Thụy Sĩ này chỉ chuyên về xây dựng mà nổi bật là công nghiệp Xi măng chứ không chủ lực về tài chính, tiền tệ. Tập đoàn này thành lập Công ty Liên doanh Holcim (Việt Nam) vào những năm đầu của thập kỷ 90 chỉ đơn thuần với 1 dây chuyền sản xuất xi măng gồm 2 cơ sở: nhà máy sản xuất chính ở huyện Hà Tiên, Kiên Giang và công đoạn thành phẩm ở Cát Lái, TP Hồ Chí Minh. Cũng trong thời điểm này, ông Nguyễn Tấn Dũng đang trong giai đoạn đầu tiến thân trên con đường chính trị, chuyển từ Bí Thư huyện Hà Tiên lên Tỉnh Ủy Kiên Giang.

Điều này lý giải việc Nguyễn Thanh Phượng vào Công ty Holcim sau khi mới ra trường (khoảng 2004- 2005) có cơ sở từ mối quan hệ giữa ông Nguyễn Tấn Dũng và Công ty Holcim trong thời kỳ này. Theo thông tin tìm hiểu lại, vào thời kỳ này, gia đình Nguyễn Tấn Dũng chỉ đơn thuần về hoạt động chính trị, chưa có nét nổi bật nào về hoạt động kinh doanh hay chút dư luận nào về “gia đình đại gia”. Tôi dẫn chứng điều này để nhấn mạnh về xuất thân của Nguyễn Thanh Phượng trong sự nghiệp kinh doanh là không có nền tảng ban đầu.

Theo thông tin về tuổi đời và học vấn, tạm xem là Nguyễn Thanh Phượng khởi nghiệp là cán bộ thuộc Công ty Holcim từ năm 2004 hoặc 2005. Cũng lưu ý rằng, ở thời điểm này, chức danh Phó Giám đốc Tài chính không có gì nổi bật vì các chức danh Giám đốc và Phó giám đốc các phần hành khác của Công ty này cũng do những người Việt Nam có học vấn, kinh nghiệm và xuất thân rất bình thường đảm nhiệm.
Vậy thì từ đâu và dựa trên nền tảng nào mà sau vài năm, Nguyễn Thanh Phượng liên tục sáng lập và tham gia các công ty, cho đến bây giờ đã là chủ tịch Hội đồng quản trị của 4 Công ty với tổng tài sản trên 10.000 tỷ đồng?!?

3- Tiêu chuẩn nào để được đảm nhận chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị của các Công ty?

Với những ai đã am hiểu về điều lệ và nguyên tắc điều hành hoạt động của một công ty cổ phần thì đều có thể hiểu, chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị là rất quan trọng và cần được xem xét giao cho một người đạt tiêu chuẩn:
- Hoặc là một trong số những cổ đông lớn nhất của Công ty.
- Hoặc là một lãnh đạo có tài năng, kinh nghiệm.
- Và trong trường hợp của Nguyễn Thanh Phượng, có thể ngoại lệ một tiêu chuẩn nữa là ảnh hưởng của quyền lực từ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Câu trả lời là gì?
- Nếu là một cổ đông lớn của Công ty thì với giả định ở phần trên, giá trị tài sản của Nguyễn Thanh Phượng từ đâu mà có? Tài sản xuất phát là bao nhiêu? Lợi nhuận, mức tăng trưởng nguồn vốn là bao nhiêu %/năm để sau 7 năm đã có được tài sản trên 1000 tỷ đồng?

Cần lưu ý rằng, các ngành nghề kinh doanh chính của Nguyễn Thanh Phượng là những ngành nghề có tỷ lệ lợi nhuận giới hạn chứ không phải là đột biến như một số ngành nghề siêu lợi nhuận khác.

Vậy Nguyễn Thanh Phượng đã làm gì để có siêu lợi nhuận hay có ai đã thường xuyên rót tiền cho Nguyễn Thanh Phượng? Là ông chồng “Đại gia” hay ông bố Thủ tướng lương mười mấy triệu/tháng?
Lưu ý rằng, Nguyễn Thanh Phượng chỉ mới kết hôn từ năm 2008 khi đã nổi tiếng, là đại diện cho nữ doanh nhân trẻ Việt Nam tham dự Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ toàn cầu tại Hà Nội (tức là chỉ sau một, hai năm bước chân ra khỏi cương vị “làm thuê” cho Công ty Vietnam Holding Asset Management.)

- Nếu là một doanh nhân tài năng thì sự xác nhận chỉ có thể có từ giới doanh nhân Việt Nam. Vậy có đọc giả nào đã được đọc thông tin gì của giới này ca ngợi về tài năng xuất chúng của Nguyễn Thanh Phương như là một “thần đồng”, một “hiện tượng” chưa? Hay chỉ là một vài bài viết của các phóng viên báo chí quảng bá ở góc độ con gái ông Thủ tướng với những dấu hỏi bỏ lửng đầy ẩn ý?

Và nếu thật sự là tài năng xuất chúng trong ngành tài chính, tiền tệ như vậy sao không nêu gương điển hình, sao không bảo Thống đốc Nguyễn Văn Bình học hỏi để điều hành, tránh cho ngành tài chính ngân hàng của Việt Nam thoát khỏi rối loạn và nợ xấu như hiện nay?

Henry Hoàng ( đeo kính) chồng Ng. thanh Phượng ,
con trai Nguyễn bá Ban ( cà-vạt màu hồng góc trái )
( xem ghi chú thêm về Henry Hoàng là ai ở phần dưới )
<ATT00001>
Ở độ tuổi ngoài 30, bà Phượng đã đứng ngang hàng cùng các doanh nhân hàng đầu Việt Nam

- Còn nếu các chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị của các công ty trên có được là nhờ ảnh hưởng quyền lực từ ông bố thì sao?

Với tiêu chuẩn này thì đọc giả tự suy luận nhé, xem có phải được hiểu theo cái cụm từ “tham nhũng chính trị” đã từng được nhắc đến không?. Hay thậm chí là bao gồm cả ảnh hưởng quyền lực và rót vốn?
Có lẽ chỉ phân tích và dẫn chứng như thế cũng đủ để quý vị hình dung và tự có kết luận là như thế nào. Còn nếu muốn có kết luận chắc chắn và chính xác hơn thì hãy đợi đến khi nào (vài năm hay vài chục năm sau) Quốc hội thông qua các Nghị định sửa đổi Luật về minh bạch tài sản hay giám sát cả gia đình quan chức đã nhé!

Với ai thì không biết, nhưng với suy nghĩ tôi, không cần phải chờ có chứng cứ cụ thể, chỉ cần nhìn vào tấm gương này thì dù là một Đảng viên, một quan chức hay những người thân có vùng vẫy, tung hoành trong làm ăn kinh tế cũng không cần phải e ngại, mang tiếng là tham nhũng hay lợi dụng quyền lực để gây ảnh hưởng, bảo kê cho người thân làm kinh tế, là vi phạm những điều Đảng viên không được làm. “Thượng bất chính thì hạ tất loạn”, đơn giản là thế thôi!

Theo Blog Thuỳ Linh

***

chú :
Henry Hoàng , con trai đầu của Nguyễn bá Ban , cựu học sinh Võ Tánh Nhatrang . Ban là con Ông Nguyễn bá Phương , Trưởng ty Khí tương Nhatrang , cháu ruột Ô Nguyễn bá Mậu ,hiệu trưởng Trường Văn hóa Nhatrang - Ng. bá Ban xuất thân là :
Kỷ sư Công chánh Phú thọ Saigon 1965 , phục vụ tại Ty Phát triễn đô thị Đà Nẳng cho tới 1975 . Định cư tị nạn tại Fairfax , Virginia Hoa kỳ từ 75 đến nay. Henry học xuất sắc,. có MBA lúc 22 tuổi . Gặp Thanh Phượng trước 2005 khi y thị từ Thụy sĩ qua Mỹ học thêm MBA ở PA..

Hiện nay đang kinh doanh tại Hà nội nghành Viễn liên , là Tỷ phú ( đô la ) thỉnh thoảng mới qua
trỡ lại Mỹ , đôi lúc đi đi về về lo các dịch vụ làm ăn hàng trăm triệu đô xuất phát lợi nhuận từ VN
Hoa kỳ là sân sau , bải đáp an toàn của 2 gia đình sui gia Nguyễn tấn Dũng & Nguyễn bá Ban .
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#3880 Posted : Tuesday, September 11, 2012 5:05:55 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,833

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

Loạn bút về Thanh Nam


Posted: 11/09/2012
Nguyễn Văn Sâm

UserPostedImage

Thanh Nam (1931-1985)


Nhà văn Thanh Nam hoàn tất hành trình trên con đường văn nghệ hơn ba mươi năm trời. Thời đủ xây dựng một số công trình và tiếng tăm trong văn giới và độc giả. Trong ba mươi năm nhập cuộc với ông chỉ có văn nghệ. Những hoạt động khác đều trở nên thứ yếu. Văn nghệ là cuộc sống, là cuộc đời của Thanh Nam. Văn nghệ, khu rừng ông đến, thưởng thức, trồng thêm cây và cất nhà ở đó, khác với một số đông ghé qua, thoáng qua một cái nhìn rồi trở về nhà riêng, lâu lâu trở lại để có mặt nhưng sự ràng buộc thật lỏng lẻo…

Trong nhịp sáng tác Thanh Nam từ từ đi, không vội vàng, không chểnh mảng, tác phẩm xuất hiện không ào ạt, nhưng gần như năm nào cũng có. Con đường viết riêng, không thắc mắc khó khăn (Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Thị Hoàng…) cũng không lè tè dễ dãi (Ngọc Linh, An Khê, Lê Xuyên). Thái độ trung dung của ông – hay nhu cầu đề ra của các chủ báo khiến Thanh Nam không vượt lên được trên số ít oi những cây viết nổi bật của giai đoạn Việt Nam Cộng Hòa.

Nói chung ông không có tác phẩm lớn làm đổi bước đi của lịch sử văn học hay đánh dấu một đoạn đường đặc biệt nào đó trong tiến trình văn chương Việt. Ông chỉ để lại một vài vết tích nhỏ trên con sông văn chương Việt bát ngát mà ai từng đi dọc dòng sông đó cũng đều nhận ra ngay. Đó không là những thác cao, những cù lao lớn, những hòn dài, những mảng đất bao la chẻ sông ra làm hai, làm ba, làm chín. Đó chỉ là vài mũi đất, cái voi, cái vịnh, nhưng nó có và người ta nhận ngay ra những doi vịnh Thanh Nam.

Tôi không muốn đặt vấn đề địa vị nhà văn cao thấp ở đây. Sự đánh giá bất kỳ nhà văn nào cũng đều không tránh khỏi được sự chủ quan và trong tình trạng đặc biệt của viết lách hải ngoại, sự xếp đặt vị trí này nọ là chuyện khôi hài. Điều quan trọng là tác giả có đóng góp hay không vào kho tàng văn chương Việt. Với thời gian, mỗi người một vài tác phẩm, dân tộc chúng ta có nền văn học riêng. Chiếu trên, chiếu dưới, đỉnh cao, ngọn núi chỉ là những lời trơ trẽn, chỉ có giá trị rao hàng. Vì vậy tôi chỉ muốn nhân dịp này phóng bút nói những điều thật chủ quan về Thanh Nam.

Cách đây một phần tư thế kỷ, trong một bài viết cho tờ báo sinh viên của trường, tờ Văn Khoa (hay Đối Thoại?) do con ông chủ nhà sách Việt Hương, anh Phạm Trường Thiên chủ trương, viết về tình hình văn chương Việt Nam trong năm 1961 tôi có nhắc đến sự thành công của Thanh Nam trong “ Buồn Ga Nhỏ” sau khi nhận xét rằng “Người Viễn Khách Thứ Mười” của Nghiêm Xuân Hồng cũng xuất hiện năm đó là tác phẩm trội nhất trong năm.

Với tôi lúc đó Buồn Ga Nhỏ đặc biệt đã nói lên được một tâm trạng, một mối tình. Tâm trạng thiếu phụ chấp nhận đời mình đứng lại như một sân ga. Người đến, người đi, tàu dừng, tàu chạy, riêng mình ở lại chờ sự tàn phá của thời gian, không ai buồn chú ý. Vì sao? – Hoàn cảnh. Một người chồng già, tầm thường, vô học, không có một điểm nhỏ điều kiện nào để vươn lên. Tâm trạng đó lại đau đớn hơn, lại được làm cho sắc nét hơn khi người xưa trở lại hé cho thấy một mối tình, một sự tiếc rẻ. Văn trong truyện thật đơn sơ, sự kiện mô tả thật giản dị nhưng hình ảnh đã tạo được xúc động trong tôi lúc đó, đến giờ đọc lại vẫn còn cảm giác, ấn tượng tương tợ.

Tôi ưa đặt vấn đề phía sau của tác phẩm? Tôi muốn truyện ngắn phải chuyên chở một nội dung? Tôi để lòng mình trôi theo thân phận của nhân vật? Không rõ. Chỉ biết Buồn Ga Nhỏ đã đem đến cho tôi trạng thái lâng lâng, cái lâng lâng kéo dài hơn hai mươi lăm năm và chắc chắn sẽ còn kéo dài nữa sau này nếu có dịp đọc lại.

Về sau Vai Phụ cũng gảy vào cung bậc đó trong tôi. Thân phận kẻ không tên bất hạnh trong cuộc đời, sẵn sàng đem tấm lòng mình, tài năng mình dàn trải ra cho người đời nhưng không ai nhận, người đời chỉ đi theo những bóng đèn sáng đã được chấp nhận, ngoảnh mặt lại với những tài năng mới mà vì hoàn cảnh chưa có khả năng phát huy. Truyện viết ra từ năm 1959 nhưng sau này tôi mới được đọc và tự hỏi nếu trước đây được đọc, tôi có chăng sự xúc cảm đó về số phận của “ con người bất hạng cô đơn ”, một con người luôn luôn đứng trong bóng tối, luôn luôn giữ “ Vai Phụ ”?

Thanh Nam chỉ đến với tôi bằng hai truyện ngắn đó (Nhiều nhà văn khác cũng ảnh hưởng lên tâm hồn tôi bằng một vài truyện ngắn mà thôi. Bình Nguyên Lộc: Lò Chén Chòm Sao, Nhốt Gió, Ba Con Cáo, Rừng Mắm; Hồ Hữu Tường: Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp; Thạch Lam: Sợi Tóc. Phạm Duy Tốn: Câu Chuyện Một Tối Tân Hôn…Nhiều người chỉ là một câu ngắn: Thanh Tịnh: Ngày Khai Trường…) Hai truyện, quá ít nhưng đủ để tôi thấy Thanh Nam có đủ khả năng đặt vấn đề thân phận con người bị lọt vào trong hoàn cảnh hẩm hiu. Các truyện dài của Thanh Nam trái lại qua lòng tôi không để lại dấu vết, đi qua như những bữa cơm bình thường hằng ngày, về sau có nhớ cũng không thể nói cảm nghĩ mình bữa đó.

Có lẽ vì văn trong truyện dài của Thanh Nam, kỹ thuật dựng truyện của ông và không khí trong truyện tương tợ với bạn bè ông lúc đó: Văn Quang, Hoàng Hải Thủy…(và cả Viên Linh?)

Tôi chỉ nhớ Thanh Nam có vài bài thơ rải rác đó đây. Những bài thơ tình, đủ để gọi là thi sĩ nhưng chưa vượt lên được trên đỉnh cao nghệ thuật, với những bản sắc riêng như Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Vũ Hoàng Chương, hay đặc biệt như Trần Dạ Từ, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư.

Trong dịp ra mắt tập thơ của Thanh Nam (do Mai Thảo đại diện) cùng với tập truyện Tan Theo Ngày Nắng Vội của Du Tử Lê ở Houston hai năm trước đây, được mời phát biểu trước độc giả, tôi đã nói đại khái Đất Khách là tâm trạng của chúng ta, những người ly hương suốt đời hoài vọng về khung trời cũ, suốt đời cảm nhận chúng ta đã đánh mất quê hương. Ở xứ người thành công hay thất bại một cảm thức đau đớn cũng luôn dày xéo hồn ta, nhắc nhở rằng ta đang ở ngoài quê hương, ở trọ, sống nhờ, ghé chơi, và ước mong được trở về quê cũ, một quê cũ nghìn trùng xa mà trong sâu thảm của tâm thức, ta lờ mờ thấy rằng khó đạt…

Thanh Nam với bài thơ thôi, với vài hình ảnh thật gợi xúc động đã giúp ta kéo dài thời gian trở về ngày cũ, đem không gian nghìn trùng của quê nhà về cho ta nơi Đất Khách. Ông sống với quá khứ, với Saigon, ông phủ nhận thời gian và không gian bây giờ , ông diễn tả hộ ta tâm sự tư cố hương , ông trình bày với đời hoài cảm vọng minh nguyệt giùm cho thế hệ ly hương thứ nhất bằng những từ ngữ chững chạc, đứng đắn, với một thái độ thật trầm tĩnh, nghiêm túc, rất phù hợp với thơ.

Những ngày đánh vật với bệnh trạng ở Seattle, Thanh Nam vẫn thiết tha cùng văn nghệ như thuở nào. Ông viết hồi ký. Ông kể những kỷ niệm về nhà văn kháng chiến chống Pháp của giai đoạn 45-50, ông nói về Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh… Hình như ông đã lờ mờ muốn đặt vấn đề đem đến một sự công bằng cho những nhà văn không may viết và sống trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt về chính trị và văn học này. Ở phạm vi bài này tôi không thể đi sâu vào vấn đề đó. Đại khái các nhà văn kháng chiến chống Pháp đã bị người CS loại ra khỏi các cuốn sách viết về văn học đấu tranh mà họ gọi là văn học cách mạng Việt Nam vì những người nầy không được chỉ thị khi viết mà tự động viết từ một ý thức tự phát. Trong khi đó sách vở miền Nam cũng rất ít nói đến, do sự thiếu thốn tài liệu và ngại ngùng những hiểu lầm. Trong suốt hai chục năm của nền Cộng Hòa, chúng ta chỉ có mấy cuốn của Thế Phong và tôi, Nguyễn Văn Sâm. Qua thời gian vấn đề tài liệu càng trầm trọng hơn và nếu tình trạng này kéo dài, vài mươi năm nữa chắc sẽ không ai biết gì về những người đã đánh Pháp bằng ngòi bút, bằng suy luận, bằng tư tưởng như Hồ Hữu Tường, Thẩm Thệ Hà (đã mất), Sơn Khanh, Thê Húc (hiện ở một tiểu bang miền Bắc), Nguyễn Đạt Thịnh (ở Hawaii). Đặng Thị Thanh Phương (tức nhà văn nữ Thanh Phương ở Pháp) và bọn CS sẽ mặc tình nói rằng lúc đó chỉ có những nhà văn CS mới dám đặt vấn đề chống thực dân Pháp, chỉ có nhà văn CS mới yêu nước!

Sẵn đây cũng nên nói thêm để chứng tỏ sự trầm trọng của vấn đề tài liệu.

1. Bài phỏng vấn nhà văn Xuân Vũ của Nguyễn Mộng Giác đăng trên Văn Học số 4 ngày 5/86, Xuân Vũ có câu “Vũ Anh Khanh của Nửa Bồ Xương Khô, Trắc Bá Diệp và những bài thơ nổi tiếng khác…” Thật ra Vũ Anh Khanh không có viết bài thơ nào tên Trắc Bá Diệp, Nửa Bồ Xương Khô là tên truyện dài trong đó, ở quyển 2, Vũ Anh Khanh đã vụng về tuyên truyền cho chế độ CS – Sau này ông đã trả cái giá sai lầm của mình bằng cái chết khi toan vượt sông Bến Hải vào năm 1957 – và Cây Ná Trắc (không phải Trắc Bá Diệp ) là tên tập truyện ngắn ca tụng sự Kháng chiến không có một chút hơi hướm nào của CS trong đó. Cũng nên nhắc lại Vũ Anh Khanh đã cống hiến cho chúng ta bài thơ Tha La (đã được phổ nhạc từ lâu) nổi tiếng như Màu Tím Hoa Sim hay Đôi Mắt Người Sơn Tây ở Bắc cùng giai đoạn.

2. Báo Làng Văn số tháng 5/86 trong bài phỏng vấn Cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc, tức nhà văn Sơn Khanh ngươi phỏng vấn cho biết Sơn Khanh có viết cuốn Toàn Binh (1950). Thật ra Tàn Binh (không phải Toàn Binh ) là một cuốn tiểu thuyết rất khá của Sơn Khanh diễn tả tâm trạng của một người vì hoàn cảnh, bỏ chiến đấu trở về thành nhưng không lúc nào nguôi được mặc cảm đã không làm tròn bổn phận với tổ quốc…

Trở về chuyện Thanh Nam, điều làm tôi chú ý và suy nghĩ, đó là tình thương vô bờ của đa số bạn văn đối với ông. Khi ông nằm xuống, rất nhiều người viết về ông, về tình bạn, về kỷ niệm, về lòng mến tiếc. Mới đây bài của Phan Lạc Tiếp cũng rất xúc động, mấy câu thơ của Vĩnh Lộc (Quãng đường tri kỷ thoáng qua. Trạm buồn ga nhỏ còn ta ngậm ngùi) cũng rất…ngậm ngùi. Tại sao? Không hẳn vì Thanh Nam đã cầm bút. Hồng Liên Lê Xuân Giáo mới mất, Xuân Hiến đã từ trần sao không được một sự bày tỏ thân tình rộng rãi như vậy?

Phải chăng nhờ một thứ tình bằng hữu tốt đẹp như Thanh Nam đối với bạn bè văn giới? Phải chăng vì tư cách của ông trong suốt cuộc đời? Phải chăng vì tính phóng khoáng của nhà thơ , khi đánh canh bạc đời?

Chỉ có thể giải thích và đưa ra lời đáp từ các thân hữu của Thanh Nam, kẻ viết bài này rất tiếc trong suốt đời mình chưa bao giờ được hân hạnh gặp ông. Đó là một sự thiệt thòi, một điều quá uổng bởi vì được gặp, được tiếp chuyện với nhà văn mà tác phẩm của họ đã tạo được ấn tượng sâu đậm trong lòng mình lúc còn trẻ là một điều rất đáng thú vị.

Biết đâu được sự gặp gỡ đó tôi đã có thể thêm vào bài loạn bút này vài dật sử về ông để đỡ nhạt.

Nguyễn văn Sâm
(Vài tháng sau ngày Thanh Nam từ trần)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (3)
197 Pages«<192193194195196>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.