Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
vl  
#1 Posted : Sunday, May 31, 2015 7:04:35 PM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 3,044

Thanks: 92 times
Was thanked: 539 time(s) in 276 post(s)
Né tránh, trì hoãn hay khiếp nhược,
không làm cho tình thế khá hơn




Những ngày này, trong lòng những người con Việt còn quan tâm đến chủ quyền, đến vận mệnh quốc gia lại sôi lên như lửa đốt trước những thông tin được đăng tải trên báo chí trong ngoài nước về việc Trung Quốc ồ ạt cải tạo đất tại các bãi đá cạn thuộc quần đảo Trường Sa mà họ đánh chiếm của Việt Nam trước kia thành những hòn đảo nhân tạo với quy mô lớn hơn gấp hàng trăm lần. Trên những hòn đảo đó Trung Quốc hối hả xây dựng các cơ sở hạ tầng, doanh trại quân đội, sân bay lớn với đường băng đủ dài để mọi loại phi cơ cất và hạ cánh…

Như các nhà phân tích, bình luận chính trị trên thế giới đã chỉ ra, không còn nghi ngờ gì nữa, mục đích của Trung Quốc trong việc cải tạo đá thành đảo này rất rõ. Một phần để "thực tế hóa" phạm vi chủ quyền của "đường lưỡi bò" mơ hồ, cực kỳ phi lý mà họ vẫn tuyên bố từ trước đến nay, mặt khác, biến những hòn đảo đó thành những căn cứ quân sự để tiến tới thực hiện tham vọng độc chiếm biển Đông.

Ngay cả các quốc gia nào từ trước đến nay còn cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc là hòa bình không phương hại gì đến ai, như những lời nói đầu môi chót lưỡi của các thế hệ cầm quyền Trung Nam Hải, có lẽ cũng phải giật mình nghĩ lại. Nhất là khi những hình ảnh, thông tin về quá trình cải tạo và mức độ quy mô của những hòn đảo nhân tạo cũng như các công trình trên đó, do phía Mỹ và các đài truyền hình quốc tế đưa ra trong những đợt tuần tra, khảo sát mới đây.

Từ chỗ không có một mảnh đất cắm dùi trên biển Đông, sau khi chiếm được Hoàng Sa của Nam Việt Nam vào năm 1974 rồi một phần quần đảo Trường Sa năm 1988, Trung Quốc đã có được bàn đạp để dấn tới. Theo thời gian, khi những nhà lãnh đạo của nước này tự cho rằng Trung Quốc nay đã đủ nội lực về sức mạnh kinh tế, quân sự, cộng với những yêu cầu cấp bách về năng lượng, về việc phải mở một con đường ra biển để đưa đất nước phát triển lên một vị trí mới, tất nhiên Trung Quốc sẽ muốn độc chiếm hay ít nhất là khai thác, kiểm soát những lợi ích to lớn mà biển Đông và con đường giao thông hàng hải to lớn này đem lại, dần dần hất chân Mỹ ra khỏi khu vực Thái Bình Dương và sắp xếp lại trật tự trong khu vực cũng như trật tự thế giới…

Tất cả những lý do đó đã dẫn đến thái độ nhất quán trước sau như một của các thế hệ lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc cho dù có thay đổi đôi chút trong phương pháp bên ngoài, khi nhẫn nhịn chờ thời, nay công khai tỏ rõ tham vọng…Đến nay thì bàn cờ trên biển Đông đã rõ ràng, Bắc Kinh, với những bước đi được tính toán rất kỹ lưỡng, với tầm nhìn xa tính trước hàng chục hàng trăm năm, đã dần đạt được tham vọng của họ nếu như các nước trong khu vực và thế giới không có hành động gì ngăn chặn.

Trong khi đó thì thái độ của các thế hệ lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam ra sao ? Họ cũng rất nhất quán, nhưng là nhất quán trong sự nhịn nhục đến hèn hạ trước Trung Cộng, và tự bộc lộ một tầm nhìn không quá lỗ mũi, nếu không thường xuyên đánh giá sai mối quan hệ giữa hai đảng thì cũng không ý thức hết mưu sâu kế độc của Trung Nam Hải.

Vì đánh giá sai mối quan hệ giữa hai đảng, vì ngu muội tin vào việc cùng ý thức hệ, cùng là "đồng chí anh em", năm 1958, Thủ tướng nhà nước cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ là Phạm Văn Đồng đã ký vào bản công hàm tai hại công nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam).

Cũng với tầm nhìn ấy, Hà Nội đã không hề lên tiếng lúc Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, lại còn cho rằng thà để Hoàng Sa cho Trung Quốc anh em giữ còn hơn nằm trong tay bọn "ngụy", và rằng Trung Quốc giữ dùm thì sau này họ sẽ trả lại cho ta chứ sao đâu.

Đến khi Trung Cộng đánh chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988 thì lúc đó không chỉ là sự hèn hạ trước kẻ xâm lược mà phải gọi thẳng là hành động phản quốc, khi ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh lệnh cho bộ đội Việt Nam "bằng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng", khiến 64 người trở thành những tấm bia thịt trước mũi súng của bọn lính Trung Quốc !

Sâu xa hơn, hành động phản quốc này vẫn là hệ quả của hai điều xuyên suốt trong mọi đường lối chính sách đối nội lẫn đối ngoại của đảng cộng sản Việt Nam : Một, luôn luôn đặt quyền lợi của đảng, thậm chí của một nhóm người trong đảng, lên trên quyền lợi tối thượng của đất nước, dân tộc. Thứ hai, thiếu một tầm nhìn xa trông rộng nói trên, nên không nhận ra hết sự nguy hiểm nếu Trung Cộng chiếm được một số đảo ở Trường Sa, từ đó tạo thành những căn cứ quân sự trong thế cài răng lược đầy nguy hiểm với Việt Nam như hiện tại, chưa kể có thể dấn tới chiếm nốt những hòn đảo còn lại.

Suốt những năm qua, Trung Cộng liên tục có những hành động ngày càng hung hăng bắt nạt các nước láng giềng nhỏ yếu hơn, nhất là Việt Nam, cộng với những hoạt động xâm lấn ngày càng công khai trên biển Đông và trong khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tàu cá Trung Quốc đi từng đoàn hàng chục, hàng trăm chiếc có các loại tàu quân sự khác nhau hỗ trợ ngang nhiên đánh bắt trong khu vực Hoàng Sa Trường Sa, trong lúc tàu cá nhỏ lẻ của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc rượt đuổi, đánh cướp, bắt cóc, đòi tiền chuộc, đánh chìm tàu, thậm chí có lúc gây thương vong cho ngư dân…

Dấn tới một bước Trung Quốc ngang ngược áp đặt lệnh đánh bắt cá hàng năm, tàu Trung Quốc va chạm và cắt đứt cáp quang tàu Việt Nam đang hoạt động khảo sát địa chấn trong vùng biển thuộc lãnh hải của mình, mới tháng 5 năm ngoái là vụ kéo dàn khoan dầu "khủng" Hải Dương-981 vào trong khu vực nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam để tiến hành các hoạt động thăm dò dầu khí. Hành động này đã vấp phải những phản ứng mạnh mẽ dẫn đến những cuộc biểu tình của người dân Việt Nam.

Và bây giờ là quá trỉnh cải tạo đá thành đảo, xây dựng các đảo thành những căn cứ quân sự quy mô.

Trước tình hình ngày càng nguy hiểm như vậy, nhưng phản ứng của nhà cầm quyền Việt Nam lại rất bạc nhược, lúng túng, không rõ ràng, trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Những người phát ngôn kế tiếp nhau của Bộ ngoại giao tiếp tục đưa ra những lời phản đối suông và những tuyên bố chủ quyền lặp đi lặp lại, đôi khi cũng có một vị trong "tứ trụ triều đình" của Hà Nội tuyên bố đôi câu mạnh mẽ nhưng chẳng làm ai sợ, càng không làm cho Trung Cộng buồn quan tâm.

Hà Nội cũng có đặt mua tàu ngầm, mua vũ khí, đầu tư cho quốc phòng nhất là hải quân, nhưng so với nguồn tài chính khổng lồ và mức chi tiêu quân sự liên tục tăng hàng năm của Trung Quốc thì chẳng thấm vào đâu ; và tiếp tục dùng dằng đu dây trong mối quan hệ với hai nước lớn là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Người dân Việt Nam và cả thế giới nhìn vào không thể hiểu được nhà cầm quyền Việt Nam muốn gì, khi họ lúc thì muốn nhờ cậy sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để ngăn chặn mối nguy từ Trung Quốc nhưng lại vẫn thể hiện mối quan hệ "nồng ấm" với Bắc Kinh và không có bất cứ một hành động mạnh mẽ nào để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ lãnh thổ lãnh hải.

Những năm qua họ chẳng làm được gì bao nhiêu để ngăn chặn những hành động của Trung Cộng, bây giờ khi nhìn thấy quy mô, âm mưu…rõ như ban ngày của Trung Cộng thì họ càng không biết phải đối phó cách nào, càng cố né tránh, cố giữ quan hệ mong Trung Quốc để cho yên. Họ tự ru ngủ mình rằng Trung Quốc sẽ không đánh Việt Nam vì mối quan hệ giữa hai bên, vì Trung Quốc cũng cần Việt Nam làm phên dậu, không muốn Việt Nam ngả hẳn vào Mỹ, ngược lại Mỹ cũng cần Việt Nam.

Nhưng thực sự giữa Mỹ và Việt Nam ai cần ai hơn, khi không có Việt Nam, Mỹ cũng đã có nhiều đồng minh khác mạnh hơn, đáng tin cậy hơn trong vùng ? Còn Trung Cộng nếu muốn chiếm thêm đảo hay muốn mở một trận chiến dằn mặt các nước khác, thì có quốc gia nào thuận tiện hơn là Việt Nam ?

Bên cạnh đó, trong mối quan hệ với Trung Quốc, có một điểm yếu nữa mà người ta nhận thấy rất rõ ở đảng cộng sản Việt Nam, là trên mặt trận thông tin, tuyên truyền.

Trước đây, đảng cộng sản Việt Nam thắng được Mỹ vì rất nhiều lý do, trong đó không thể phủ nhận 2 điều mà Bắc Việt làm được lúc đó : Một, liên tục tấn công trên mặt trận tuyên truyền, tranh thủ dư luận trong nước và quốc tế, gây khó khăn cho Mỹ trong việc tiếp tục cuộc chiến. Thứ hai, truyền được lòng căm thù cho người dân lao vào chiến đấu. Bây giờ, ngược lại, Việt Nam không chỉ thua Trung Quốc về kinh tế, quốc phòng, quy mô quân sự, còn thua cả về tuyên truyền. Từ thông tin về những cuộc chiến tranh biên giới, những trận hải chiến với Trung Cộng trước đây cho đến tình hình biển Đông hiện tại.

Các thế hệ lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam cho đến tận giờ phút này vẫn xử sự như những con ngựa tự bịt mắt mình, không muốn nghe, không muốn thấy về âm mưu, những hành động, những bước đi của Trung Quốc, và cũng không muốn cho nhân dân biết. Họ tiếp tục che dấu một phần lớn thông tin với người dân, đồng thời tiếp tục sẵn sàng bỏ tù bất cứ ai mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích mối quan hệ Việt-Trung và những hành động xâm lược của Trung Quốc.

Ngay các đại biểu quốc hội cũng không bị thiếu thông tin. Dân chờ các đại biểu quốc hội có thái độ rõ ràng, dứt khoát về biền Đông nhưng chính các đại biểu Quốc hội cũng còn đang "đề nghị Chính phủ phải thường xuyên thông tin tới người dân về tình hình trên biển". ("Đại biểu Quốc hội đang nghĩ gì về tình hình biển Đông ?", Việt NamEconomy), còn đang phải đấu tranh để "QH xếp Biển Đông vào chương trình kỳ họp như một nội dung chính thức", vì "nội dung này không được chủ động đưa vào nghị trình từ đầu mà chỉ khi Đại biểu quốc hội đề nghị mới đưa vào một buổi nghe tình hình chung". ("Đại biểu khát thông tin về Biển Đông", VietnamNet)…

Đối ngoại, những hoạt động nghiên cứu, hội thảo, giải thích về chủ quyền của Việt Nam với thế giới, so với Trung Quốc là kém xa.

Nhớ lại cuộc chiến với Khơ Me Đỏ trước đây hay cuộc chiến tranh biên giới ngắn ngủi với Trung Quốc, lúc ấy, một trong những thiệt thòi mà Việt Nam phải chịu là từ việc không tuyên truyền thông tin đầy đủ, thế giới không hiểu vì sao Việt Nam đánh Cambodia và đóng quân ở đó cả chục năm, tại sao Trung Quốc và Việt Nam đánh nhau… Bây giờ có thể cái may của Việt Nam là thế giới đã nhìn ra mưu đồ, tham vọng rất lớn của Trung quốc trên biển Đông và mọi hành động nhằm tiến tới khống chế, kiểm soát biển Đông của Trung Quốc sẽ đụng chạm đến quyền lợi của nhiều nước khác nữa, kể cả Mỹ, chứ không riêng gì Việt Nam.

Nhưng nếu Trung Quốc chỉ đụng đến Việt Nam thôi, như chiếm thêm vài cái đảo, thì chưa chắc đã có ai giúp Việt Nam.

Khi tai họa sắp tới, nếu cứ trì hoãn, không thẳng thắn đối diện với sự thật thì tai họa có vì thế mà tự biến mất không ?

Hỏi tức là đã trả lời. Né tránh không làm cho sự thật biến mất. Trì hoãn thời gian chỉ làm cho sự việc càng khó đối phó hơn. Chỉ có con đường đối mặt với sự thật, thay đổi thể chế, thay đổi đường lối chính sách ngoại giao, từ bỏ mối quan hệ bất tương xứng với Trung Quốc đồng thời kết bạn, tìm đồng minh khác mới mong thoát ra khỏi mối nguy từ Trung Quốc mà thôi.

Và đối với người dân thì phài tích cực nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, làm sống dậy niềm tự hào dân tộc, khát vọng bảo vệ chủ quyền, bảo vệ đất nước trước mọi âm mưu xâm lược chứ không phài tìm mọi cách kìm hãm lòng yêu nước, khuyến khích thái độ bàng quan vô cảm với tình hình chính trị, sử dụng bạo lực và sự ngu dân làm yếu hèn, làm bạc nhược đi tinh thần của nhân dân, như cách mà nhà cầm quyền Việt Nam đã làm lâu nay.

Không chỉ nhà cầm quyền mà từ chính mỗi người dân. Đất nước này, giang sơn này không phải riêng của đảng cộng sản để họ cứ tiếp tục toàn quyền định đoạt từ con đường đi đến số phận của Việt Nam như họ đã làm suốt bảy thập kỷ qua và đã đưa Việt Nam đến tình thế khó khăn mọi mặt ngày hôm nay.

Đất nước là của chung mọi con dân Việt. Hơn 90 triệu người dân Việt trong và ngoài nước phải là sức ép buộc nhà cầm quyền thay đổi, và nếu một khi nhà cầm quyền vẫn không chịu sửa đổi, tiếp tục dẫn dắt dân tộc Việt Nam trượt sâu vào hố thẳm mất nước, diệt vong, đồng thời là vật cản chính trên con đường "thoát Trung" của dân tộc Việt Nam, thì người Việt Nam sẽ phải đứng lên giành lại quyền quyết định vận mệnh đất nước trước khi quá muộn.

Song Chi
Theo RFA, 30/05/2015 (songchi's blog)

Edited by user Tuesday, June 2, 2015 5:31:11 PM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#2 Posted : Monday, June 1, 2015 9:50:28 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 3,044

Thanks: 92 times
Was thanked: 539 time(s) in 276 post(s)
Tại sao Trung Cộng dại dột?
.Ngô Nhân Dụng
(nguoi-viet.com)



Vụ phi cơ thám thính P8-A Poseidon của Mỹ bay qua các hòn đảo Trường Sa mà Trung Cộng đang chiếm của nước ta khiến nhiều người đặt câu hỏi: Khi lập các “đảo nhân tạo” để xây dựng căn cứ quân sự, hải đăng, và phi trường, Cộng Sản Trung Quốc khôn hay dại?

Từ năm 2002 Trung Cộng đã thỏa thuận với các nước Ðông Nam Á là không thay đổi “nguyên trạng” trên các hòn đảo tranh chấp. Ðắp các đảo nhân tạo không những làm trái thỏa thuận này mà còn vi phạm luật pháp quốc tế. Trung Cộng được lợi gì khi thay đổi nguyên trạng?

Về mặt quân sự, mấy phi trường và căn cứ mới chỉ có chút giá trị nếu Trung Cộng đánh nhau với Việt Nam. Nhưng tất cả đều là những căn cứ cố định, phơi bày giữa biển chứ không giống những đoàn quân chui rúc trong rừng; cho nên có thể bị hỏa tiễn Mỹ xóa tan ngay trong một cuộc đụng độ giữa Trung Cộng với Philippines hay Nhật Bản, là những nước được hiệp ước an ninh với Mỹ bảo vệ.

Về mặt kinh tế, Trung Cộng không cần phải có các căn cứ quân sự mới làm gì. Ðường tiếp tế dầu khí và nguyên liệu cho kinh tế Trung Quốc chưa bao giờ bị de dọa bằng vũ lực; mà nếu bị đe dọa thì các căn cứ mới cũng không không ngăn cản được ai. Từ mấy chục năm nay Trung Cộng vẫn muốn chiếm các mỏ dầu khí trong vùng; các nước khác vẫn phản đối; tình trạng giằng co này sẽ còn kéo dài trong mấy chục năm nữa. Thế cân bằng quân sự của Trung Cộng không mạnh hơn nhờ mấy phi trường mới vội vàng xây lên và sức mạnh pháp lý cũng vậy. Phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Trung Cộng, Dương Vũ Quân, mới nói rằng họ lập các căn cứ mới trên đảo để giúp cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ môi trường và cứu nạn trên biển. Không ai tin rằng họ chỉ nghĩ đến việc phước thiện như vậy.

Cho nên, Trung Cộng không được lợi gì khi hấp tấp xây dựng các căn cứ mới trên các hải đảo của nước ta, như đảo Gạc Ma, đảo Chữ Thập. Ngược lại, họ tự gây ra nhiều điều bất lợi.

Tạo cơ hội cho phi cơ thám thính Mỹ biểu diễn bay qua các phi trường mới xây là một bất lợi. Khi Trung Cộng bắn các tàu đánh cá người Việt Nam, hay khi đem giàn khoan tới cắm trong hải phận nước ta, chính quyền Mỹ không làm gì để phản đối cả. Ðáng lẽ Bắc Kinh nên tiếp tục khuyến khích chính quyền Mỹ cứ đứng xa mà nhìn như vậy. Một tay cường hào đang lén lút chiếm đất của hàng xóm thì tốt nhất không nên để cho cả làng, cả nước chú ý đến việc mình làm. Gây sự khiến có người lên tiếng cảnh cáo, là dại. Trâng tráo nói các hòn đảo mới chiếm là của mình, rồi bị bác bỏ, càng dại nữa. Người nào đã nói lời bác bỏ đó, họ sẽ không thể ngoảnh mặt làm ngơ nếu tên cường hào ăn hiếp lối xóm hung bạo hơn. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo dẫn lời Bành Quang Khiêm, giáo sư Học Viện Quân Sự, đả kích Mỹ “từ ngàn dặm bay tới trước cổng nhà, khiến Trung Quốc bắt buộc phải tự vệ!” Nhưng cả thế giới không ai tin luận điệu vừa ăn cướp vừa la làng đó.

Mối bất lợi thứ hai là Trung Cộng đã khiến các nước trong vùng bị đặt trong tình trạng báo động. Họ phải liên kết với nhau chặt chẽ hơn. Philippines, Việt Nam, Nhật Bản và Australia. Càng có nhu cầu được cái dù quân sự Mỹ che chở. Sau khi Trung Cộng xây các căn cứ mới, những cuộc tập trận chung được tổ chức nhiều hơn, nhiều mặt hoạt động rộng hơn, so với trước năm 2014. Mỹ chính thức mời Nhật cùng bảo vệ vùng biển Ðông Nam Á. Phi cơ P-3C của không lực Nhật Bản đã bay tới Ðà Nẵng lần thứ hai, sau khi Trung Cộng xây các căn cứ mới.

Tóm lại, trong việc Trung Cộng xây thêm căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo, lợi bất cập hại. Có phải giới lãnh đạo Bắc Kinh đã hành động dại dột hay không?

Phải giả thiết rằng họ không dại dột. Họ đầy đủ thông tin và đủ trí thông minh, nếu không hơn thì cũng không kém gì chúng ta. Họ phải biết những hành động gây sự mới này chẳng được lợi bao nhiêu trong khi gây nhiều hậu quả bất lợi.

Cho nên chỉ có thể giải thích những hành động “dại dột” của Trung Cộng nếu công nhận họ có những mục tiêu đặc biệt mà người ngoài không thấy.

Việc xây dựng các căn cứ quân vừa qua của Trung Cộng có thể nhắm một mục tiêu nhỏ hơn các suy nghĩ của mọi người. Họ chỉ nhắm vào một nước Việt Nam. Họ chấp nhận những phản ứng bất lợi từ nước Mỹ và Philippines, Nhật Bản, trong một thời gian ngắn. Sau khi mục tiêu nhắm riêng vào Việt Nam đã đạt được, Bắc Kinh vẫn có thể sẽ tỏ thái độ hòa hoãn, gây thiện cảm với các nước này bằng cách khác, để xóa bỏ những phản ứng xấu họ mới gây ra. Bắc Kinh chỉ cần ngưng các lời lẽ hiếu chiến đối với Tokyo và Manilla trong nửa năm thì cả chính quyền Mỹ cũng được thoa dịu, coi như Trung Cộng đã lùi bước.

Nhưng riêng với Việt Nam thì khác. Trung Cộng đã củng cố những hòn đảo chiếm được của nước ta ở Hoàng Sa và Trường Sa. Họ muốn tình trạng đó càng ngày càng được phơi bày trước thế giới một cách rõ ràng, cụ thể, hiển nhiên hơn. Họ muốn đặt dân tộc Việt Nam trước một “sự đã rồi” rõ ràng, chặt chẽ, hơn, khó tháo gỡ hơn. Trung Cộng sẽ phân trần với cả thế giới rằng họ không có ý khiêu khích Mỹ hay Nhật, không muốn “thay đổi nguyên trạng” trong cả vùng Ðông Nam Á,” liên can đến các nước khác. Họ sẽ chứng tỏ với mọi người rằng họ chỉ muốn “củng cố nguyên trạng” tại các hòn đảo đã cướp được của Việt Nam, trong viễn tượng một tương lai lâu dài và không thể đảo ngược lại.

Ðể biện minh cho hành động này, Trung Cộng chỉ cần trưng ra một lần nữa những thứ như bức công hàm của Phạm Văn Ðồng năm 1958, các sách giáo khoa và bản đồ do Cộng Sản Việt Nam ấn hành từng công nhận các quần đảo trên thuộc chủ quyền của Bắc Kinh. Khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam không dám có một hành động nào mạnh hơn những lời phản đối chiếu lệ như trước đây, thì tình trạng “ván đã đóng thuyền” càng ngày càng khó đảo ngược. Nước Việt Nam sẽ tiếp tục bị cô lập. Các nước khác sẽ không có lý do nào, và cũng chẳng có quyền lợi nào, để phản đối mối quan hệ bang giao giữa Trung Cộng với Việt Nam, trong khi hai Ðảng Cộng Sản vẫn song ca bài Bốn Tốt và 16 Chữ Vàng. Cuối cùng, việc xây dựng các căn cứ và phi trường mới chỉ xác nhận cụ thể hành động bán đứt Hoàng Sa và Trường Sa của Ðảng Cộng Sản Việt Nam mà thôi.

Tiến trình chứng tỏ “ván đã đóng thuyền” này đã được tiến hành từ năm 1974 đến nay. Câu hỏi còn lại là tại sao giới lãnh đạo Bắc Kinh lại thực hiện các công trình mới một cách gấp rút trong thời gian chưa đầy một năm qua? Tại sao họ không tiếp tục đi từng bước nhỏ như trong bốn chục năm vẫn làm, qua những việc thành lập quận Tam Sa; việc đánh, giết các ngư dân người Việt; đưa giàn khoan lớn vào hải phận Việt Nam; hoặc lâu lâu ban hành các lệnh cấm tàu đánh cá Việt Nam hoạt động?

Chỉ có một lý do, là Bắc Kinh lo ngại Việt Nam sẽ thay đổi; và thay đổi nhanh chóng trước khi họ hoàn tất các biện pháp củng cố cần thiết. Xây dựng các căn cứ quân sự mới là một việc cụ thể, cần thiết để xác nhận chủ quyền của Trung Cộng.

Nhưng Trung Cộng có lo ngại chính Việt Cộng sẽ thay đổi hay không? Ðiều này khó xảy ra. Ðạo quân tình báo Trung Cộng vẫn nắm chắc Ðảng Cộng Sản Việt Nam trong tay. Giới lãnh đạo Việt Cộng vẫn tiếp tục để cho Trung Cộng thao túng về kinh tế, chính trị, ngoại giao, không một cá nhân nào trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Cộng đủ sức thay đổi.

Cho nên, mối lo thực của Trung Cộng là cả chế độ Cộng Sản Việt Nam sẽ tan rã và sụp đổ trước khi Trung Cộng củng cố vững chắc việc mua đứt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tình báo của Bắc Kinh cũng biết chế độ Cộng Sản Việt Nam đang mong manh. Bất cứ một chính quyền mới nào ở Việt Nam mà không thuộc Ðảng Cộng Sản cũng có thể thay đổi quan điểm đối ngoại. Ðặc biệt là trong mối bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, một chính quyền không Cộng Sản có thể xóa bỏ trên danh nghĩa tất cả các cam kết đối với Trung Cộng, trong đó có lá thư của Phạm Văn Ðồng. Khi đó, tất cả công trình của Ðảng Cộng Sản Trung Hoa thực hiện ở Biển Ðông sẽ bị thế giới nhìn bằng con mắt khác.

Tóm lại, Trung Cộng không dại dột. Họ chỉ lo xa, tính kỹ, “tiên hạ thủ vi cường” khi lo dân Việt Nam có thể thay đổi cuộc cờ, không biết lúc nào!

Edited by user Monday, June 1, 2015 9:51:03 AM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#3 Posted : Tuesday, June 2, 2015 5:32:58 PM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 3,044

Thanks: 92 times
Was thanked: 539 time(s) in 276 post(s)
Mỹ sẽ dùng chiêu người Hán trị người Hán,
làm Trung Quốc đau đầu





Bàn cờ Châu Á Thái Bình Dương mà Mỹ dàn xếp thực hiện đang dần dần được định hình. Về chiến lược, nó là một vành đai bao gồm một loạt các quốc gia đồng minh và không đồng minh đang có xung đột hoặc quan tâm đến sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Mục tiêu của vành đai này là kiềm chế một sự hung hăng về quân sự của Bắc Kinh trong khu vực. Nhưng về cơ bản nó vẫn chỉ là một chiến lược mang tính kiềm chế, nền an ninh của Trung Quốc sẽ không bị đe dọa nếu như nước này không vượt ra ngoài khuôn khổ. Nhưng có vẻ như tất cả đã quên mất một quân cờ quan trọng khác trên bàn cờ Châu Á Thái Bình Dương, một quân cờ không trói buộc nó vào mục tiêu kiềm chế Trung Quốc như các nước khác, đó là Đài Loan (vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc nhưng Bắc Kinh chưa giành được quyền kiểm soát).

Việc xác định được vai trò của Đài Loan trong bàn cờ Châu Á Thái Bình Dương trong tương lai là một việc không dễ thực hiện. Trong hệ thống vành đai chiến lược vây quanh Trung Quốc mà Mỹ đang xây dựng để ngăn cản sự mở rộng ảnh hưởng về quân sự quốc phòng của Bắc Kinh, thì Đài Loan không có mặt.

Gần như hòn đảo này sẽ không tham gia vào bất cứ một liên minh quân sự chính trị nào với mục tiêu chống lại Trung Quốc, kể cả khi liên minh đó do đích thân đồng minh quan trọng nhất của Đài Loan là Mỹ thành lập. Đó là vì vấn đề của Đài Loan với Trung Quốc hoàn toàn khác hẳn các nước khác trong khu vực. Các nước trong khu vực như Nhật Bản, Philippines lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc có thể đe dọa những lợi ích cốt lõi của mình, và cần thiết phải hợp tác để đối phó với sự hung hăng của Bắc Kinh.

Còn Đài Loan thì lại khác, vấn đề giữa Đài Loan và Trung Quốc không đơn giản là tranh chấp một vài hòn đảo hay một vài đường ranh giới trên biển, mà đó là vấn đề hợp nhất giữa hai vùng lãnh thổ là Đài Loan và đại lục.

Do bản chất mối quan hệ đặc biệt như vậy, nên Đài Loan gần như không thể tham gia vào bất cứ liên minh hay hệ thống nào trong khu vực có mục đích đối trọng với Trung Quốc. Việc Đài Loan tham gia bất cứ một liên minh hay hệ thống nào trong khu vực có mục đích đối trọng với Trung Quốc, cũng đồng nghĩa với việc mục đích của liên minh đó có thể sẽ chuyển thành việc giúp Đài Loan chiếm lại đại lục để thống nhất Trung Quốc.

Vì thế, trong chiến lược Châu Á Thái Bình Dương mà Mỹ đang xây dựng, Đài Loan gần như không có vai trò gì. Nhưng nếu nghĩ rằng gánh nặng trên vai Bắc Kinh vì thế sẽ giảm đi một phần, thì đó lại là một sai lầm. Vì điều quan trọng là, ở thời điểm hiện tại, Đài Loan là thế lực duy nhất có thể thực hiện các động thái quân sự vào lãnh thổ Trung Quốc.

Điều này bắt nguồn từ khát vọng của những nhà lãnh đạo đầu tiên của Đài Loan sau khi tàn dư của Quốc dân Đảng chạy ra hòn đảo này vào năm 1949. Tưởng Giới Thạch, nhà lãnh đạo đầu tiên của Đài Loan sau khi bại trận dưới tay Mao Trạch Đông, chưa bao giờ quên mục tiêu tái chiếm lại Trung Hoa lục địa. Khát vọng này tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ lãnh đạo kế cận của Đài Loan, mà điển hình là Tưởng Kinh Quốc - con trai của Tưởng Giới Thạch - người giữ chức tổng thống Đài Loan sau đó.

Dù mục tiêu này bắt đầu giảm dần sự ưu tiên từ phía Đài Bắc sau khi những người Đài Loan bản địa lên nắm quyền, thì nó cũng chưa bao giờ tỏ ra bị hoàn toàn lãng quên. Khác với các quốc gia láng giềng, Trung Quốc luôn coi Đài Loan là một phần lãnh thổ của mình, và cho dù các nhà dân túy Đài Bắc có nuôi ý định đưa Đài Loan trở thành một quốc gia độc lập hoàn toàn tách khỏi Trung Quốc, thì Bắc Kinh cũng sẽ không bao giờ chấp nhận. Nguy cơ bị đe dọa về quân sự sẽ luôn ở trên vai Đài Loan, và buộc hòn đảo này phải có những biện pháp phòng ngừa, và một trong số đó là tái chiếm lục địa.

Chính vì lý do này, nên khi Mỹ bắt đầu xoay trục về Châu Á Thái Bình Dương, thì Đài Loan là đối tượng đề phòng được đặt lên hàng đầu đối với Bắc Kinh. Trong sách trắng về chiến lược quân sự của Trung Quốc được công bố vào thứ Tư vừa qua, Đài Loan được coi là nguy cơ số một đối với quân giải phóng Trung Quốc. Kịch bản chiến tranh nổ ra ở eo biển Đài Loan được coi là vấn đề ưu tiên số một đối với quốc phòng Trung Quốc. Vì nếu như Mỹ và các đồng minh gần như không thể tấn công lãnh thổ Trung Quốc, thì Đài Loan lại hoàn toàn có thể.

Tính đến thời điểm hiện tại, Liên Hợp Quốc vẫn chưa hoàn toàn chấp nhận Đài Loan như một quốc gia độc lập, và vẫn coi đó là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Vì thế, khả năng một sự thống nhất được thực hiện là điều có thể xảy ra, dù nó được thực hiện bởi Bắc Kinh hay Đài Bắc đi chăng nữa. Nói cách khác, khả năng Đài Loan thực hiện một cuộc chiến để thống nhất là một cánh cửa đang được để ngỏ và thế giới chấp nhận điều này.

Xét về thực lực quân sự giữa Trung Quốc và Đài Loan, gần như Đài Loan không có cơ hội để chống lại Trung Quốc trong một cuộc chiến theo kiểu một chọi một. Nhưng trong bối cảnh hàng loạt các quốc gia lân cận đang tăng cường tiềm lực quốc phòng mạnh mẽ thì cục diện sẽ lại khác hẳn. Việc những cường quốc như Nhật Bản hay Ấn Độ đang tăng cường tiềm lực quân sự đáng kể sẽ buộc Trung Quốc phải dàn trải lực lượng hơn để đối phó với áp lực đến từ các cường quốc này, đồng nghĩa với việc những đề phòng cần thiết đối với Đài Loan sẽ giảm đi đáng kể.

Ở thời điểm hiện tại, Châu Á Thái Bình Dương đang thực sự là một trại lính được vũ trang ở quy mô khổng lồ, và không ai dám khẳng định điều gì có thể xảy ra và điều gì không thể xảy ra ở khu vực này trong tương lai. Người Trung Quốc dĩ nhiên lại càng không, nhất là khi cái ngòi nổ Đài Loan luôn ở ngay bên cạnh.

.Nhàn Đàm (theo The Diplomat)

Theo Một Thế Giới, 01/06/2015
vl  
#4 Posted : Tuesday, June 2, 2015 7:24:18 PM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 3,044

Thanks: 92 times
Was thanked: 539 time(s) in 276 post(s)
Kế hoạch phục sinh Đại Hán Quốc của Tập Cận Bình


Ngày 26-5, Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện Trung Cộng công bố Sách Trắng về chiến lược quân sự, nêu rõ hải quân nước này sẽ tiếp tục tổ chức và thực hiện các cuộc tuần tra, sẵn sàng chiến đấu thường kỳ cũng như duy trì hiện diện quân sự ở biển Đông. Sách Trắng Quốc phòng của Bắc Kinh đã gây ra phản ứng lo ngại từ nhiều nước, nhất là trong bối cảnh thế giới đang chăm chú theo dõi việc Trung Cộng ngang nhiên xây dựng các căn cứ quân sự trái phép trên các quần đảo không thuộc chủ quyền Trung Cộng. Các chuyên gia chính trị đánh giá việc công bố chiến lược quân sự chỉ là sự tái khẳng định tham vọng bá quyền của một cường quốc trỗi dậy muốn hiên thực hóa kế hoạch "phục sinh Đại Hán Quốc" mà Tập Cận Bình (Xi Jinping) đã phác họa khi đảm nhận vai trò Tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc cách đây hơn hai năm (2013):

- Xây vạn lý trường thành trên biển.

-Thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Á Châu (Asian Infratructure Invesment Bank- AIIB).

- Thiếp lập Con đường tơ lụa mới gồm hai phần: Vành đai (Hành lang) kinh tế trên bộ và Con đường tơ lụa trên biển.

Tập Cận Bình (TCB) hiện là nhân vật lãnh đạo quốc gia tối cao, giữ các chức vụ then chốt trong guồng máy đảng và nhà nước như chủ tịch nhà nước, Tổng tư lệnh quân đội, chủ tịch Quân ủy trung ương, chủ tịch hội đồng an ninh quốc gia... Với tư cách chủ tịch hôi đồng an ninh quốc gia, TCB chỉ đạo một chính sách đối ngoại, theo hướng quốc gia chủ nghĩa: - Trung Cộng không nhượng bộ Nhật, và các quốc gia láng giềng trong các cuộc tranh chấp hải đảo. - TCB ra lệnh quân đội phải sẵn sàng chiến đấu và phải chiến thắng. So với người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao), TCB là người bảo thủ, giáo điều, không chấp nhận đổi mới chính trị và dân chủ hóa đất nước..


Xây vạn lý trường thành mới trên biển

Mỗi năm vào dịp Tết Nguyên Đán, Tập Cận Bình (TCB) ngồi trước bức hình Vạn Lý Trường Thành đọc thông điệp năm mới. Vạn Lý Trường Thành được bạo chúa Tần Thủy Hoàng (250 TCN-210TCN) xây dựng sau khi thống nhất Trung nguyên để một mặt xác định lãnh thổ và mặt khác đề phòng Hung Nô xâm phạm. Nhưng nay biểu tương lịch sử này đối với TCB mang ý nghĩa khác. TCB không muốn Trung cộng an phận tự cô lập. Tập muốn bành trường lãnh thổ, lãnh hải và bằng mọi giá phải đưa Trung cộng lên hàng siêu cường. Cộng đảng Trung quốc cho rằng thời gian giữa hai hội nghị không liên kết ở Bandung (1955-2015) đã có nhiều thay đổi. Trước kia siêu cường Mỹ và Liên xô ngự trị thế giới, nay đã được thay thế bằng Mỹ và Trung cộng. Bây giờ cuộc tranh dành quyền lực giữa hai siêu cường này không còn nằm trong lãnh vực ý hệ Đông-Tây, kinh tế giàu nghèo Nam-Bắc, mà là cạnh tranh ảnh hưởng giữa lực cũ (Mỹ) muốn duy trì vị thế và cường quốc đang lên (Trung cộng) trở thành siêu cường mới.

Dưới mắt TCB, Nga xô dù bị mất địa vị siêu cường vì thất bại trong lãnh vực kinh tế, nhưng vẫn còn là một cường quốc quân sự. Nên Trung cộng muốn trở thành siêu cường không chỉ phát triển kinh tế mà còn tăng cường vũ trang và phát triển quốc phòng, đặc biệt phải hiện đại hóa hải quân và không quân để có thể triển khai tác chiến ở bất kỳ khu vực nào trên các Đại Dương. Biển Đông mang ý nghĩa chiến lược quan trọng sẽ được xây dựng và phát triển thành khu vực đặt dưới sư kiểm soát của Trung Cộng.

Theo Tân Hoa Xã (Xinhua), Sách Trắng Quốc phòng “Chiến lược quân sự Trung Quốc” có nội dung chủ yếu đề cập đến xây dựng lực lượng quân sự, nhấn mạnh phương châm chủ động phòng vệ và tăng cường hợp tác an ninh quốc tế. Trong đó, đáng chú ý là Hải quân Trung Quốc sẽ chuyển đổi trọng tâm từ “phòng vệ ngoài khơi” sang kết hợp giữa “phòng vệ ngoài khơi” và “bảo vệ trên các đại dương” để đối phó “mối đe dọa đối với quyền và lợi ích hàng hải của Trung Quốc”...

Ngoài việc đặt ra vùng nhận dạng phòng không (ADIZ), Trung Cộng trong thời gian qua không ngừng ra sức bồi lấp các bãi đá, xây dựng cơ sở hạ tầng ở biển Đông để biến khu vực "đường lưỡi bò chín đoạn" có diện tích trên 2 triệu cây số vuông thành một thành trì quân sự có khả năng bảo vệ lợi ích của Trung Cộng đối với các nguồn tài nguyên trên biển và trong lòng đai dương mà Trung cộng dựa theo một tấm bản đồ có từ thập niên 1940 tự cho là có chủ quyền.





Trong trường, học sinh được giáo huấn: "Lịch sử thế kỷ quốc nhục của chủng tộc Trung Quốc luôn luôn nhắc nhở chúng ta rằng các giống dân ngoại quốc xâm chiếm chúng ta bằng đường biển. Kinh nghiệm không ngừng buộc chúng ta phải nhớ: chiến hạm xuất hiện từ Thái Bình Dương: tổ quốc chúng ta chưa thống nhất toàn vẹn; cuộc tranh đấu về chủ quyền trên Trường Sa, Diaoyo (Điếu ngư) và biên giới Ấn-Trung vẫn còn tiếp diễn... ta phải xây dựng một hải quân hùng hậu để thu hồi toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ những quyền và đặc quyền về lãnh hải của ta". Tập Cận Bình cũng đã tuyên bố tương tự khi Trung cộng ngang nhiên cắm dàn khoan HD 981 trong vùng biển Hoàng Sa: "Chính sự yếu kém của quốc gia trong quá khứ đã giúp những kẻ ngoại xâm phá vỡ phòng thủ biên giới trên bộ và trên biển của Trung Quốc hàng trăm lần, đẩy đất nước Trung Quốc đến tận cùng của tai họa" (Bangkok Post 30.06.2014).

Sách Trắng về chiến lược quân sự còn đưa ra cảnh báo trước những đe dọa về quyền và lợi ích mà Trung cộng phải đối mặt sự hiện diện của Mỹ ở Á Châu cũng như sự gia tăng vũ trang của Nhật là những thách đố an ninh lớn nhất đối với Trung quốc nhưng "Trung Quốc sẽ không bao giờ tấn công, trừ khi bị tấn công sẽ phản công".

Việc thay đổi chính sách đối ngoại (chuyển trục sang châu Á-Thái bình dương) và đưa tàu chiến, máy bay quân sự vào biển Đông cho thấy Hoa Thịnh Đốn đang tìm cách kiềm chế sự trỗi dậy của Bắc Kinh và bản thân Mỹ cũng muốn "hiện diện mạnh mẽ hơn trong khu vực.”

Thành lập ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Á Châu (AIIB)

Trong chiến lược lôi kéo đồng minh tranh dành ảnh hưởng trên thế giới, Trung cộng đã khởi xướng thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Á Châu (AIIB) với vốn thành lập 100 tỷ Mỹ kim trong đó Trung Quốc đóng góp 40%, Ấn Độ đóng góp 10%, các nước châu Á khác đóng góp 25%, 25% còn lại sẽ do các nước châu Âu đóng góp. AIIB được kỳ vọng sẽ chính thức được thành lập với trụ sở tại Bắc kinh và bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2015.

Đến nay đã có 57 nước tham gia. Đáng chú ý là trong danh sách này, bên cạnh sự góp mặt của nhiều nước châu Á như Trung Cộng, Ấn Độ, Hàn Quốc, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân… còn có 6 nước châu Âu gồm Anh, Ý, Đức, Pháp, Lục xâm Bảo và Thụy Sĩ., Gia Nã Đại cũng đang xem xét khả năng gia nhập AIIB. Như vậy, trong nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G-7) chỉ còn Mỹ và Nhật Bản đứng ngoài cánh cửa của AIIB.

Sự ra đời của AIIB xuất phát từ nhu cầu thực tế khi châu Á là khu vực có dân số lớn nhất thế giới-chiếm 60% nhu cầu về vốn để phát triển hạ tầng., AIIB có tính chất khu vực, có thể phát huy vai trò hỗ trợ bằng việc đáp ứng các yêu cầu đầu tư ở châu Á, thúc đẩy sự phát triển khu vực châu Á không chỉ giúp nhiều người thoát nghèo, mà còn có thể làm gia tăng tầng lớp trung lưu ở khu vực này, tạo ra thị trường tiêu thụ cực lớn cho nền kinh tế khác bên ngoài châu lục. Mỹ lo ngại việc AIIB vận hành tốt sẽ là cơ hội để Bắc Kinh đầu tư cho cơ sở hạ tầng, làm đòn bẩy nâng cao tầm ảnh hưởng của quốc gia này trong khu vực, đe dọa tới vị thế của Mỹ. Vì vậy, Mỹ khuyến cáo các nước đồng minh nên thận trọng trước việc tham gia AIIB, song lời khuyên này trên thực tế đã bị bỏ ngoài tai.

Sự thành lập AIIB là một thế cờ Trung cộng đẩy Mỹ ra ngoài cũng như thoát được chủ trương cô lập Trung cộng qua Hiệp đinh đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Dự kiến mô hình hợp tác trong các dự án phát triển hạ tầng cơ sở có thể mở rộng qua các châu khác như Nam Mỹ, Phi Châu.

Thiết lập Con đường tơ lụa

Theo Reuters, chiến lược Con đường tơ lụa được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế Trung Cộng đang chịu nhiều tầng áp lực, do nhu cầu trong nước thiếu động lực và nhu cầu quốc tế suy giảm. Vì vậy, một trong những mục tiêu của chiến lược này được cho là nhằm giải quyết nhu cầu xuất khẩu của nền công nghiệp Trung Cộng.

Trung Cộng sẵn sàng dùng hàng chục tỷ Mỹ kim thúc đẩy chiến lược Con đường tơ lụa mới. Trong chuyến công du Hồi quốc (Pakistan) của Tập Cận Bình vào ngày 20.04.2015, Bắc Kinh đồng ý đầu tư 46 tỷ USD vào các dự án năng lượng và cơ sở hạ tầng tại nước này.

Trung tâm của các dự án là mạng lưới đường sắt và đường bộ do Trung Cộng xây dựng, nối liền Khu tự trị Tân Cương với cảng Gwadar trên biển Arab thuộc Pakistan. Trước chuyến thăm, Bộ Ngoại giao Trung Cộng cho hay đây là các dự án đầu tiên được phê duyệt của chiến lược Con đường tơ lụa mới.

Chiến lược Con đường tơ lụa mới được công bố lần đầu năm 2013, gồm hai cấu phần là Vành đai kinh tế (trên bộ) và Con đường tơ lụa (trên biển). Chiến lược này nhằm nối ba lục địa Á-Âu-Phi, với một đầu là trung tâm kinh tế Đông Á, một đầu châu Âu - cả hai đều rất phát triển, và các quốc gia nằm giữa có tiềm lực phát triển lớn.

"Vành đai" sẽ giúp nối liền các trọng điểm kinh tế Đông Á, Tây Á và Nam Á. "Con đường" sẽ nối liền hệ thống cảng biển của Trung Quốc và Đông Nam Á, qua Ấn Độ Dương và có thể vươn sang tới Địa Trung Hải..



Ngoài ra, Trung Công còn ký kết hợp tác với Thái Lan xây kênh đào Pananma Châu Á ở miền nam Thái, nhằm rút ngắn hải trình của tầu bè Trung Cộng từ Trung Đông về Quảng Châu. Đây là bước tiếp theo trong chính sách mở rộng vành đai kinh tế Con đường tơ lụa trên biển của Trung Cộng.



Theo đề xuất thỏa thuận, kênh đào hai chiều sâu 25 m, dài 102 km, rộng 400 m. Việc xây dựng sẽ hoàn tất trong 10 năm, với chi phí 28 tỷ Mỹ kim. Kra Isthmus được ví như kênh đào Panama của châu Á... Khi kênh đào Kra Isthmus dài hơn 100 km đi vào hoạt động, thuyền bè, đặc biệt là tàu chở dầu Trung Quốc từ Trung Đông xuất phát từ biển Andman ở Ấn Độ Dương, có thể trực tiếp đi vào vịnh Thái Lan, tiết kiệm 1.200 km đường biển, so với tuyến đường hiện tại phải vòng qua eo biển Malacca.

Eo biển Malacca là tuyến hàng hải đặc biệt quan trọng đối với nguồn cung cấp dầu cho Trung Quốc. 80% dầu nhập khẩu vào Trung Quốc từ Trung Đông và châu Phi phải đi qua vùng này, nơi nạn cướp biển hoành hành.

Kênh đào có ý nghĩa chính trị và chiến lược quan trọng đối với Trung Quốc. Dự án không chỉ giúp tăng cường khu vực tự do thương mại giữa Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), mà còn giảm sự phụ thuộc của nước này vào khu vực eo biển Malacca, một khi Mỹ có thể phong tỏa tuyến đường biển qua eo biển Malacca, cắt đứt nguồn cung cấp dầu cho Trung Cộng.

Các nhà phân tích chiến lược nhận xét Con đường tơ lụa là con bài đối trọng của chiến lược chuyển trục sang châu Á- Thái Bình Dương của Mỹ. Qua Con đường tơ lụa mới, Trung Cộng tăng cường ràng buộc lợi ích với các nước châu Á, từ đó cạnh tranh với Mỹ, nâng tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực.

Thái độ của Cộng sản Việt Nam trước kế hoạch của Tập Cận Bình

Việc Trung cộng ngang nhiên bồi đắp đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam và đang hiện thực hóa "đường lưỡi bò" phi pháp trong kế hoạch Tập Cận Bình hầu chiếm trọn biển Đông đã tạo ra bất bình trong dư luận quốc tế. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter kêu gọi Trung Cộng "ngừng ngay lập tức và vĩnh viễn" các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo trên Biển Đông. Ông nhấn mạnh cách hành xử của Trung Cộng trong khu vực hiện nay "vượt ra ngoài" các chuẩn mực quốc tế. Chủ tịch Hội đồng châu Âu (EC) Donald Tusk cho rằng, các hoạt động xây dựng của Trung Quốc trên biển Đông sẽ làm phức tạp nỗ lực giải quyết tranh chấp. Ông Donald Tusk khẳng định lập trường của EU là các bên liên quan phải kiềm chế việc đe dọa hay sử dụng vũ lực, đồng thời nhấn mạnh phải tìm một giải pháp mang tính hòa bình. Washington Post cho rằng thái độ cứng rắn của Mỹ và các quốc gia châu Á trong việc đoàn kết chống lại các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc sẽ khiến Bắc Kinh chùn bước.

Riêng Việt Nam là nước bị Trung Cộng lấn chiếm nhiều đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lại có phản ứng yếu ớt, nhu nhược. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố (theo báo Nhân Dân ngày 21/5/2015): "Chúng tôi mong các nước liên quan đóng góp có trách nhiệm tích cực, duy trì hòa binh an ninh hàng hải, hàng không trong vùng Biển Đông". Viên chức này tránh cả việc nêu tên của Trung Cộng là nước đã gây ra cuộc khủng hoảng.

Giáo sư Carl Thayer chuyên gia về Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc nhận xét thái độ của Cộng sản Việt Nam là đang đi nước đôi: Một mặt, Việt Nam không muốn dính líu trực tiếp vào căng thẳng với Trung Cộng, nhưng một mặt muốn khuyến khích Hoa Kỳ can dự.

Trên phương diện đối ngoại đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam vẩn kiên trì chính sách ba không: Không liên minh quân sự; không cho lập căn cứ quân sự ở Việt Nam và không liên minh chống lại bất kỳ nước nào. Chính sách này đã trói buộc quốc gia không tìm được đồng minh tin cậy để cùng chống sự khống chế của Trung Cộng. Về mặt đối nội, Cộng sản áp dụng một chính sách ba không khác: Không chấp nhận đa nguyên dân chủ, không chấp nhận đối lập, không chấp nhận chính đảng nào ngoài đảng CS. Hậu quả đã làm giảm đi nội lực đoàn kết dân tộc.

Hiện nay Việt Nam đang đứng trước thách thức và mối đe dọa vô cùng to lớn về chủ quyền quốc gia. Trung Cộng ngày càng ngạo mạn, bất chấp luật lệ quốc tế gia tăng tiềm lực quân sự, mở rộng các căn cứ quân sự tại Biển Đông. Một mình Việt Nam không thể tự bảo vệ chủ quyền quốc gia cho chính mình và Đảng cộng sản không thể phát huy sức mạnh của dân tộc nếu không sớm dẹp bỏ các chính sách ba không có hại cho đất nước về mọi mặt.

03/06/2015


Vũ Ngọc Yên
danlambaovn.blogspot.com

Edited by user Tuesday, June 2, 2015 7:26:25 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.