Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

490 Pages«<278279280281282>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
linhphuong  
#5581 Posted : Friday, January 30, 2015 8:53:32 PM(UTC)
linhphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 2,894

Thanks: 317 times
Was thanked: 349 time(s) in 241 post(s)
Tin tổng hợp

Đức Thánh Cha tái liên đới với các tín hữu Kitô Trung Đông


UserPostedImage


Lm. Trần Đức Anh OP
1/30/2015

VATICAN. Sáng ngày 30-1-2015, ĐTC Phanxicô tái liên tiếng bày tỏ tình liên đới và kêu gọi cầu nguyện cho các tín hữu Kitô bị bách hại tại Trung Đông, nhất là tại Siria và Irak.

Ngài trình bày lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến 30 thành viên Ủy ban hỗn hợp quốc tế đối thoại thần học giữa Công Giáo và các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương nhóm họp tại Roma trong một tuần qua. ĐTC nói:
”Trong lúc này, chúng ta đặc biệt chia sẻ nỗi kinh hoàng và đau khổ vì những gì xảy ra tại Trung Đông, đặc biệt tại Irak và Siria. Tôi nhớ đến tất cả mọi người dân trong vùng, trong đó có các anh chị em Kitô chúng ta và nhiều nhóm thiểu số, đang phải chịu những hậu quả của cuộc xung đột cam go. Cùng với anh em, tôi cầu nguyện hằng ngày để sớm có một giải pháp thương thuyết, và khẩn cầu lòng từ nhân thương xót của Thiên Chúa đối với những người bị thương tổn vì thảm trạng bao la này.”

ĐTC nhấn mạnh rằng: ”Tất cả các tín hữu Kitô đều được mời gọi cộng tác với nhau trong sự chấp nhận và tín nhiệm nhau để phục vụ chính nghĩa hòa bình và công lý. Ước gì nhờ lời chuyển cầu và tấm gương của nhiều vị tử đạo và các thánh, đã can đảm làm chứng tá cho Chúa Kitô trong tất cả các Giáo Hội chúng ta, nâng đỡ và củng cố anh em cùng với các cộng đoàn của anh em”.

Trước đó trong phần đầu bài diễn văn, ĐTC nhắc đến quá trình hoạt động từ năm 2003 của Ủy ban hỗn hợp đối thoại gồm đại diện của Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất Kitô và các Giáo Hội Chính Thống Đông phương. Trong 10 năm đầu, Ủy ban đã nhìn lại quá khứ và cứu xét sự hiệp thông của các Giáo Hội với nhau trong những thế kỷ đầu tiên, và trong cuộc gặp gỡ lần này, Ủy ban đã nghiên cứu sâu rộng về bạn chất của các bí tích, nhất là bí tích Rửa Tội.

ĐTC nói: ”Tôi cầu mong công việc mà anh em đã khởi sự có thể mang lại thành quả dồi dào cho việc nghiên cứu chung về thần học và giúp chúng ta ngày càng sống tình thân hữu huynh đệ sâu xa hơn”.

Trong Ủy ban hỗn hợp đối thoại thần học này, ngoài Công Giáo còn có đại diện của 7 Giáo Hội Chính Thống Đông Phương, như Giáo Hội Copte Ai Cập, Giáo Hội Arméni Tông truyền (Arméni, Liban), Giáo Hội Chính Thống Ethiopia, Eritrea, Siro Malankara (Ấn độ).

Ngoài ra cũng có Ủy Ban hỗn hợp quốc tế đối thoại thần học giữa Giáo Hội Công Giáo và 14 Giáo Hội Chính Thống, đông đảo hơn với gần 60 thành viên (SD 30-1-2015)

Mỹ - Việt rà soát mối quan hệ đang phát triển


Elisabeth Rosen
Viết cho BBC từ Hà Nội
30 tháng 1 2015

Hai mươi năm trước, Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Vào hôm 26/1, các nhà ngoại giao đã gặp nhau tại một hội nghị ở Hà Nội để đánh giá xem hai nước đã đi được bao xa.

UserPostedImage

Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc nói Việt Nam hoan nghênh vai trò lớn hơn của Hoa Kỳ trong khu vực.


Mặc dù bầu không khí chung là lạc quan, với sự đồng thuận rằng đã có được tiến bộ trong việc thực hiện các chủ đề quan trọng như kinh tế và mậu dịch, nhiều người cũng đề cập tới các lĩnh vực có vấn đề hơn như nhân quyền.

"Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995, hai nước chúng ta đã thành công trong việc chuyển hóa từ kẻ thù thành bè bạn, và sau đó đi tới đối tác toàn diện", Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc cho biết trong hội nghị do Học viện Ngoại giao Việt Nam, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam và Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ở Washington, DC (CSIS) đồng tổ chức.

Cả hai phía đều cảm nhận được về những gì đã đạt được.

"Chúng ta đã đi qua một chặng đường rất dài về sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau," cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak nói. "Cả hai bên đều muốn mối quan hệ này được thành công."

Trong khi lối hùng biện kiểu này là phổ biến cho bất kỳ sự kiện chính trị nào, cả hai nước đều có nhiều lý do để tăng cường mối quan hệ.

Chúng tôi đang dành nhiều nguồn lực hơn cho châu Á. Nhiều người nói điều nay sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương và tôi nghĩ rằng đó là sự thật.
Michael Michalak, cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam

"Hoa Kỳ và Việt Nam chia sẻ lợi ích chính trị và an ninh đang ngày càng có điểm chung", ông Carl Thayer, một chuyên gia về Đông Nam Á tại Học viện Quốc phòng Úc cho biết. Ông dẫn chiếu tới lợi ích chung trong “việc đối phó với cách tiếp cận áp đảo của Trung Quốc trong tranh chấp ở Biển Đông bằng cách hỗ trợ giải quyết hòa bình các tranh chấp thông qua việc sử dụng luật pháp quốc tế" cùng với việc giải quyết các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như buôn ma túy, buôn bán người và nâng cao năng lực cho tìm kiếm, cứu hộ và cứu trợ thiên tai.

"Việt Nam muốn Mỹ duy trì sự cân bằng sức mạnh hiện nay", ông Thayer nói.

Trong khi đó, Việt Nam đang đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược "xoay trục về châu Á" mà Tổng thống Barack Obama và các nhà lãnh đạo khác đã nhiều lần kêu gọi kể từ năm 2011.

"Chúng tôi đang dành nhiều nguồn lực hơn cho châu Á. Nhiều người nói điều nay sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương và tôi nghĩ rằng đó là sự thật, " cựu Đại sứ Michalak nói.

Trong những năm gần đây, hai nước đã tăng cường hợp tác chính trị và an ninh đáng kể. Murray Hiebert, Phó ban Đông Nam Á từ viện CSIS, chỉ ra việc hợp tác giữa hai quân đội như "hỗ trợ và đào tạo về nhận thức chủ quyền biển theo đó sẽ giúp Việt Nam tăng cường sự hiểu biết của mình về những diễn biến ở Biển Đông" và việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương của Mỹ cho Việt Nam hồi tháng 10/2014.

UserPostedImage

Các cựu đại sứ Hoa Kỳ tham gia hội nghị này.


Theo chính sách mới này, Mỹ có thể bán thiết bị quốc phòng sát thương cho Việt Nam cho "mục đích an ninh hàng hải" – đây là bước quan trọng để chống lại thách thức ngày càng tăng trên Biển Đông. Tuy nhiên, việc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương phụ thuộc vào việc Việt Nam chứng tỏ được "tiến bộ đáng kể về nhân quyền." Mặc dù hai nước cam kết sẽ thảo luận về những vấn đề này trong thỏa thuận hợp tác toàn diện của họ vào tháng Bảy năm 2013, nhiều sự khác biệt vẫn chưa được giải quyết.

"Chúng tôi muốn thấy sự cởi mở hơn trong việc quản trị [governance]," ông Michalak nói. "Chúng tôi bàn về các chủ đề nhân quyền, nhưng trên thực tế đó là vấn đề quản trị, tính minh bạch, tham nhũng, nhà nước pháp quyền. Đó là chủ đề mà chúng ta cần nhiều cuộc thảo luận và thỏa hiệp hơn".

Sự căng thẳng giữa mục tiêu tổng thể của Việt Nam và những gì diễn ra trên thực tế như tôn trọng bất đồng chính kiến và tự do ngôn luận sẽ không được giải quyết một cách nhanh chóng. Nhưng tôi nghĩ rằng sẽ có tiến bộ.
Vikram Singh, Phó Chủ tịch Trung tâm Tiến bộ Hoa Kỳ

Vikram Singh, Phó Chủ tịch Trung tâm Tiến bộ Hoa Kỳ và cựu phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng cho khu vực Nam và Đông Nam Á, bày tỏ tin tưởng rằng Việt Nam đã có "tiến bộ" trong lĩnh này - mặc dù chậm hơn trong các lĩnh vực như mậu dịch, tức là liên quan tới đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP dự kiến đạt được trong năm nay.

"Sự căng thẳng giữa mục tiêu tổng thể của Việt Nam và những gì diễn ra trên thực tế như tôn trọng bất đồng chính kiến và tự do ngôn luận sẽ không được giải quyết một cách nhanh chóng. Nhưng tôi nghĩ rằng sẽ có tiến bộ,” ông Singh nói và dẫn chiếu tới con số các tù nhân chính trị ít hơn và "kiểu thoáng hơn" về tự do báo chí. "Tôi không nghĩ rằng Việt Nam bị lên án là mô hình Trung Quốc, nơi mà không có tự do ngôn luận và báo chí bị kiểm duyệt."

Mặc dù Việt Nam có thể không đi theo Trung Quốc trong chính sách tự do ngôn luận, người hàng xóm phương Bắc hiện là một trở ngại trong quan hệ đối ngoại. Giới lãnh đạo Việt Nam lo ngại rằng "gần Hoa Kỳ quá sẽ phải trả giá trong mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc," như ông Thayer nhận định. Tuy nhiên, trong bối cảnh bất an ngày càng tăng về việc nơi Trung Quốc sẽ mang sức mạnh tới chỗ nào, nhiều người ủng hộ chính sách gây dựng quan hệ với Hoa Kỳ.

"Việt Nam hoan nghênh vai trò lớn hơn của Hoa Kỳ trong khu vực, và chúng tôi tin rằng việc Hoa Kỳ tham gia sâu rộng vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương là có lợi cho tất cả", Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc nói.

"Có lợi" ở đây là yếu tố mấu chốt.

"Việt Nam hoan nghênh vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực miễn là nó đóng góp - trong mắt người Việt - vào hòa bình, hợp tác và phát triển," ông Thayer nói

nguồn BBC

30/01/2015 18:39

Bắc Kinh tăng tư tưởng Mác,
chống văn hóa phương Tây trong trường đại học


Cơ quan giáo dục Trung Quốc đã cam kết rằng sẽ nỗ lực hơn nữa để hạn chế việc sử dụng sách giáo khoa từ ngoại quốc tại các trường đại học, nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của ‘các giá trị phương Tây’.

UserPostedImage

Các trường đại học Trung Quốc đã được ra lệnh phải kiểm soát việc sử dụng các loại sách giáo khoa,
tài liệu tham khảo có nguồn gốc từ phương Tây. Photo Courtesy: scmp.com


Cali Today News - Được biết đây là bước phát triển mới nhất trong chiến dịch tư tưởng của Chủ tịch Tập Cận Bình với quy mô bao trùm các phương tiện truyền thông, mang internet và hiện đang được mở rộng đến các trường đại học.

Trong một cuộc họp vào hôm thứ Năm vừa qua của những người đứng đầu các trường đại học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Yuan Guiren đã kêu gọi các trường này tăng cường việc kiểm soát chặt chẽ hơn việc sử dụng sách giáo khoa nhập cảng với nội dung chứa đầy các giá trị phương Tây. Tờ Tân Hoa Xã đưa tin ông Guiren đã ‘răn đe’ các trường đại học rằng việc sử dụng sách giáo khoa phương Tây là bôi nhọ sự cai trị của Đảng Cộng sản, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội và vi phạm hiến pháp – pháp luật nhà nước Trung Quốc.

Ông Guiren còn trích dẫn một chỉ thị chung của Hội đồng nhà nước rằng người giáo viên phải giữ vững tư tưởng chính trị, pháp lý và đạo đức của mình, để tránh gây ra những ảnh hưởng xấu đối với sinh viên - học sinh.

Nhưng theo giáo sư Duy Phường, một giáo sư luật của Đại học Bắc Kinh thì cho rằng những người có tư tưởng bảo thủ luôn tìm cách nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác trong các sách giáo khoa. Giáo sư này cũng cho rằng những lời nhận xét của ông Guiren đã can thiệp không đúng vào tự do học thuật và đi ngược lại với xu hướng hiện đại. Ông đặt ra câu hỏi thách thức rằng:

“Vậy hiện nay có rất nhiều sinh viên - học sinh đang du học ở nước ngoài, hay nói đúng hơn là các nước phương Tây. Tôi muốn hỏi rằng liệu Bộ Giáo dục có lên kế hoạch để làm một cái gì đó đối với những học sinh này hay không?”

Hồi đầu tháng này, các trường đại học đã nhận được lệnh phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo huấn chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc cho các sinh viên học sinh, nhằm đảm bảo rằng những giá trị này sẽ ‘thấm nhuần vào đầu óc’ của các thế hệ trẻ. Các viện nghiên cứu cũng sẽ được đánh giá dựa trên việc sử dụng sách giáo khoa về chủ nghĩa Mác.

Giáo sư ngành báo chí của Đại học Vân Nam Guo Jianbin cho rằng nhận xét của ông Guiren đã thể hiện ý tưởng muốn kiểm soát tư tưởng xã hội của chính quyền Bắc Kinh, nhưng điều đó là hoàn toàn không thể:

“Thời gian đã biến đổi rất nhiều thứ, và chủ nghĩa Mác hay những tư tưởng của phía bảo thủ truyền bá trong các lớp học đại học có thể dễ dàng gây phản tác dụng. Bộ trưởng Gurein nên biết rõ rằng ông ta đang chỉ trích vào thứ gọi là quyền tri thức và chẳng khác nào một sự bôi nhọ.”

Linh Lan (Theo South China Morning Post)

Trung Quốc yêu cầu Mỹ ngưng gây căng thẳng ở Biển Đông


UserPostedImage

Đô đốc Robert Thomas, chỉ huy Hạm đội thứ Bảy nói rằng Mỹ hoan nghênh Nhật Bản mở rộng tuần tra trên không ở Biển Đông


VOA - 31.01.2015

Trung Quốc hôm thứ Sáu kêu gọi tất cả các nước không gây thêm căng thẳng sau khi một sĩ quan cao cấp của Hải quân Mỹ cho biết Mỹ sẽ hoan nghênh Nhật Bản mở rộng tuần tra trên không ở Biển Đông.

Trong một cuộc phỏng vấn hôm thứ Năm, Đô đốc Robert Thomas, chỉ huy Hạm đội thứ Bảy và sĩ quan hải quân hàng đầu của Mỹ ở châu Á, nói rằng Mỹ sẽ hoan nghênh những hoạt động tuần tra như vậy như một đối trọng với hạm đội tàu ngày càng đông đảo của Trung Quốc làm nhiệm vụ thúc đẩy chủ quyền của nước này trong khu vực.

“Tôi nghĩ các nước đồng minh, đối tác và bạn bè trong khu vực sẽ hướng về Nhật Bản càng lúc càng nhiều như một nước có chức năng bình ổn,” Đô đốc Robert Thomas nói với hãng tin Reuters.

Khi được hỏi về phát biểu của Đô đốc Thomas trong một cuộc họp báo thường kỳ, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh kêu gọi tất cả các nước tránh gây căng thẳng.

“Trung Quốc duy trì quan hệ láng giềng hữu hảo với các nước thành viên ASEAN. Như mọi người có thể thấy, tình hình ở Nam Hải [Biển Đông] đang ổn định. Chúng tôi có sự sẵn lòng và có khả năng cùng duy trì hòa bình và ổn định ở Nam Hải. Các nước ngoài vùng nên tôn trọng những nỗ lực của các nước trong vùng giữ gìn hòa bình và ổn định, và không làm những điều mà sẽ gây chia rẽ giữa các nước khác, và tạo nên căng thẳng,” bà Hoa nói.

Phát biểu của Đô đốc Thomas thể hiện sự ủng hộ của Ngũ Giác Đài đối với một số yếu tố quan trọng trong nỗ lực của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe muốn nước này có một vai trò quân sự tích cực hơn trong khu vực. Điều này đặc biệt hệ trọng vì các giới chức Mỹ và Nhật Bản đang thương thảo những chỉ dẫn an ninh song phương mới sẽ cho Nhật Bản vai trò lớn hơn trong liên minh giữa hai nước, 70 năm sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc.

Những cuộc tuần tra thường xuyên trên không của Nhật Bản chỉ giới hạn ở Biển Hoa Đông, nơi Nhật Bản và Trung Quốc đang tranh chấp một nhóm quần đảo. Mở rộng những chuyến bay tuần tra xuống Biển Đông gần như chắc chắn sẽ gia tăng căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba của thế giới.

Nguồn: Reuters

Tướng người Kurd thiệt mạng trong giao tranh với ISIS


Friday, January 30, 2015 6:20:05 PM

KIRKUK, Iraq (AP) - Các cuộc đụng độ với thành phần ISIS đã làm thiệt mạng một tướng chỉ huy lực lượng vũ trang người thiểu số Kurd và tám tay súng dưới quyền, ngay bên ngoài thành phố Kirkuk ở phía Bắc Iraq hôm Thứ Sáu, theo giới hữu trách.

Các cuộc tấn công ở những nơi khác đã làm thiệt mạng 27 người, với hai vụ nổ bom tại một khu chợ đông đảo người mua bán ở thủ đô Baghdad và một vụ nổ bom tự sát nhắm vào thành phần dân quân gốc giáo phái Shiite thân chính quyền, vốn đang điều hành một nút chặn bên ngoài thành phố nằm về phía Bắc thủ đô Baghdad.

Các tổn thất gần khu khai thác dầu hỏa Kirkuk là một thiệt hại nặng cho người Kurd, vốn đang phải trực tiếp đối đầu với thành phần phiến quân ISIS, hiện chiếm giữ một phần ba lãnh thổ Iraq và Syria.

Cũng trong ngày Thứ Sáu, một xe bom phát nổ bên ngoài một khách sạn bỏ trống gần bộ chỉ huy cảnh sát Kirkuk, làm hai người bị thương.

Cả lực lượng võ trang người Kurd và lực lượng an ninh của thành phố Kirkuk đã tìm cách đẩy ISIS ra khỏi nơi đây, vốn cách Baghdad chừng 290 km về phía Bắc.

Sau khi xe bom phát nổ, ba tay súng vào khách sạn và từ đây nổ súng bắn về phía trung tâm thành phố, gây ra cuộc chạm súng với lực lượng vũ trang Kurd và cảnh sát.

Một Chuẩn Tướng thuộc lực lượng Kurd, ông Shirko Fatih, và tám tay súng dưới quyền đã thiệt mạng trong cuộc giao tranh ở phía Nam thành phố vào lúc sáng sớm, sau khi ISIS tấn công các vị trí của họ, theo Chuẩn Tướng Khatab Omar.

Kirkuk là nơi sinh sống của người Ả Rập, Kurd và Turkmen, tất cả đều cho rằng họ có quyền khai thác dầu hỏa ở vùng này. Người Kurd muốn nơi đây sát nhập vào khu tự trị nằm về phía Bắc Iraq của họ, một điều gặp sự phản đối kịch liệt của người gốc Ả Rập và Turkmen.

(V.Giang)

Máy bay Nga 'không đe dọa Anh'


30 tháng 1 2015

UserPostedImage

Hai máy bay Nga Tu-95 Bear H đã ở cách biên giới Anh khoảng 25 dặm


Nga bác bỏ chỉ trích nói rằng máy bay của Nga đe dọa không phận Anh trong tuần này.

Bộ ngoại giao Anh nói các máy bay của Nga đã đến gần không phận Anh hôm thứ Tư trước khi không quân Anh đưa máy bay ra “hộ tống”.

Đại sứ Nga tại Anh tuyên bố lo ngại của London là “không thể hiểu được”. Ông này khẳng định các chuyến bay là “bình thường”.

Không quân Anh nói máy bay chiến đấu của họ đã “hộ tống” máy bay Nga suốt 12 tiếng.

Hai máy bay Nga Tu-95 Bear H đã ở cách biên giới Anh khoảng 25 dặm.

Sứ quán Nga tại London cho biết đại sứ Alexander Yakovenko đã gặp chính phủ Anh.

Tuyên bố của Nga nói các chuyến bay quân sự Nga “tuân thủ luật pháp quốc tế”.

Hồi tháng trước Ngoại trưởng Anh Philip Hammond nói Anh lo ngại tình trạng “thăm dò ngày càng quyết liệt” của máy bay Nga.

nguồn BBC

30/01/2015 10:46

Jordan và Nhật cố gắng tìm hiểu
số phận các con tin trong tay IS


Trong ngày thứ sáu 30/1 các chính phủ Nhật và Jordan đã ráo riết đi tìm hiểu số phận của các con tin của họ đang bị IS hăm dọa hành quyết, sau khi thời hạn cuối do IS đưa ra đã trôi qua.

UserPostedImage

Photo Courtesy: REUTERS/Ahmad Abdo


Cali Today News – Thủ Tướng Shinzo Abe nói: “Chúng tôi tập trung phân tích mọi tin tức, trong lúc vẫn nhờ Jordan và nhiều quốc gia khác giúp đỡ, chúng tôi nổ lực tối đa nhằm cứu mạng anh Kenji Goto”

Quân đội Jordan thì cho hay các cơ quan của Jordan làm việc liên tục để săn tin và cho hay họ vẫn còn giam giữ nữ khủng bố gốc Iraq mà IS đòi họ trả tự do, nếu không IS sẽ giết viên trung úy phi công của Jordan.

Đổng Lý Văn Phòng chính phủ Nhật Yoshihide Suga trong một cuộc họp báo chiều thứ sáu vẫn không cho báo chí biết liệu các cuộc đàm phán có bị đổ vỡ hay không.

Bế tắt xảy ra khi đại diện chính phủ Jordan yêu cầu IS đưa bằng chứng cho thấy trung uý phi công Muath al-Kasaesbeh còn sống để họ tiến hành trao trả nữ tù nhân al-Rishawi mà IS đòi. Viên phi công Jordan bị bắt vào tháng 12 khi máy bay của anh rơi ở Syria.

Đại diện Jordan cũng cho hay chính phủ xứ ông cũng cộng tác với Nhật để tìm cách giải cứu anh Goto. Đến lượt vợ của Goto lên tiếng mong hai chính phủ cố gắng cứu chồng bà, vì theo bà, đây là ‘cơ hội cuối cùng cho chồng tôi’

Trần Vũ (Reuters)

Edited by user Friday, January 30, 2015 9:17:50 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#5582 Posted : Saturday, January 31, 2015 8:36:05 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,702

Thanks: 636 times
Was thanked: 450 time(s) in 292 post(s)
Người ở lại Charlie

BÀI VIẾT CỦA NGUYỄN BẢO TUẤN CON ÚT CỐ ĐẠI TÁ NGUYỄN ĐÌNH BẢO:
TẠI SAO KHÔNG GIỮ LỜI HỨA VỚI MẸ TÔI


Cố Đại Tá NGUYỄN ĐÌNH BẢO

Trên FB tôi thấy đại đa số thường chọn hình mình hoặc hình con mình để làm avatar, ít hơn một chút thì lấy hình của người yêu, vợ hoặc chồng, hoặc một hình gì đó mà mình yêu thích. Riêng tôi thì tôi lại chọn một đối tượng khác mà hình như tôi thấy chưa một ai chọn giống như tôi: một người mà đã không giữ lời hứa với mẹ tôi. Tôi sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh đầy phong ba bão táp. Cả nhà 6 người mà chỉ có một chiếc xe đạp thay phiên nhau đi, gạo thì chạy ăn từng bữa, anh trai tôi ngày ngày cứ 5h sáng phải chạy lên Gò vấp để lấy bánh đậu xanh về đi bỏ cho các tiệm bánh rồi mới về đi học trong suốt 7 năm trời, từ năm học lớp 11 đến hết năm thứ 6 Y khoa.

Khó khăn là vậy nhưng tôi vẫn trưởng thành một cách đầy kiêu hãnh. Đôi khi nhìn lại tôi tự hỏi là điều gì đã giúp tôi mạnh mẽ mỗi khi đương đầu với những khó khăn? Và câu trả lời là do trong huyết quản tôi vẫn đang mang một dòng máu nóng trong mình và tôi đã đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ người đã cho tôi dòng máu ấy: một người mà đã không giữ lời hứa với mẹ tôi.

Tôi cũng không biết tại sao tôi và người đó chỉ gặp gỡ và tiếp xúc trong có vài chục ngày, chính xác là từ ngày 06/01/1972 đến ngày 25/03/1972, mà tôi lại luôn luôn thương mến, cảm phục, tự hào và luôn lấy người làm tấm gương soi để tôi có đủ nghị lực vượt qua mọi khó khăn. Có lẽ là do cuộc sống của người quá vĩ đại và tôi đã được thừa hưởng một phần của nó. Mặc dù khi ra đi người đã không thực hiện được một lời hứa với mẹ tôi mà cho tới bây giờ tôi vẫn hỏi: “Tại sao?”
Charlie, tên nghe quá lạ!

“Toàn thể những địa danh nơi hốc núi, đầu rừng, cuối khe suối, tận con đường, tất cả đều bốc cháy, cháy hừng hực, cháy cực độ...Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt…

Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân, cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy. Mùa Hè năm 1972- Mùa Hè máu. Mùa Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện.

Nếu không có trận chiến mùa Hè năm 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum.
Charlie, "Cải Cách," hay "C," đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Pô-Kơ và Đường 14, đông-bắc là Tân Cảnh với mười hai cây số đường chim bay, đông-nam là Kontum, thị trấn cực bắc vùng Tây Nguyên.”
(Trích trong "Mùa hè đỏ lửa" của Phan Nhật Nam)
Charlie bỗng trở thành một địa danh được nhắc nhớ từ sau 4000 quả đạn pháo tới trong một ngày, từ sau người mũ đỏ Nguyễn Đình Bảo nằm lại với Charlie.
(Trích lời giới thiệu trong CD Chiến tranh và hòa bình của Nhật Trường Trần Thiện Thanh)

Cho đến bây giờ cũng ít người biết rằng tôi chính là “đứa bé thơ” với “tấm khăn sô bơ vơ ” trong bài hát “Người ở lại Charlie” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Và tôi lớn lên cùng với ký ức về một người Cha hào hùng như vậy.
Tôi không thần tượng Cha tôi từ một bài hát viết về người, cũng không thần tượng từ một hai trận đánh trong cuộc đời binh nghiệp của người, mà tôi thần tượng Cha mình từ chính cuộc đời của Người. Trải qua biết bao thăng trầm đời binh nghiệp và cuối cùng người đã được giao làm tiểu đoàn trưởng của tiểu đoàn “Song kiếm trấn ải” (biệt danh của tiểu đoàn 11 nhảy dù), một trong những tiểu đoàn được xem là thiện chiến nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Cha tôi là một người khát máu hung tàn, mà ngược lại hoàn toàn, mọi người đều nhớ về hình ảnh Cha tôi như là một võ sĩ đạo đúng nghĩa : giỏi võ, dũng cảm và cao thượng. Thời bấy giờ có mấy ai dám đánh một sĩ quan của Mỹ, vậy mà Cha tôi đã làm điều đó khi người sĩ quan đó dám làm nhục một người lính Việt Nam (chuyện này tôi được nghe bác ruột tôi kể lại). Có tiểu đoàn nào trong quân đội mà luôn gọi Tiểu đoàn trưởng bằng tên thân mật “Anh Năm”?, nhất là trong binh chủng Nhảy dù, việc phân chia cấp bậc luôn được tôn trọng và đặt lên hàng đầu. Vậy mà trong tiểu đoàn 11 Nhảy dù, tất cả mọi người từ lính đến sĩ quan chẳng ai gọi Cha tôi là Trung tá cả, mà luôn gọi là Anh Năm, và “Anh Năm” thường hay nói với mọi người trong tiểu đoàn rằng : “Tụi mày thì chẳng biết mẹ gì, nhưng tất cả tụi mày tao đều coi là em tao hết”

“Anh Năm,

Ngoài đời Anh sống hào sảng, phóng khoáng và thật "giang hồ" với bằng hữu anh em, còn trong quân ngũ, Anh như một cây tùng ngạo nghễ giữa bão táp phong ba, Anh không nịnh cấp trên đè cấp dưới, Anh chia xẻ vinh quang buồn thảm với sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp. Anh sống hùng và đẹp như thế mà sao lúc ra đi lại quá phũ phàng!?

Tôi về lại vườn Tao Ðàn, vẫn những hoa nắng tròn tròn xuyên qua khe lá, lấp loáng trên bộ đồ hoa ngụy trang theo mỗi bước chân. Cây vẫn xanh, chim vẫn hót, ông lão làm vườn vẫn lom khom cầm kéo tỉa những chùm hoa loa kèn, những cụm hoa móng rồng và những bụi hồng đầy mầu sắc. Bên gốc cây cạnh căn lều chỉ huy của Anh hồi tháng trước khi còn đóng quân ở đây, tôi thấy có bó hồng nhung đỏ điểm vài cánh hoa loa kèn trắng.

Chống đôi nạng gỗ xuống xe, tiếng gõ khô cứng của đôi nạng trên mặt đường khiến ông lão ngẩng đầu và nhận ra tôi. Xiết chặt tay ông cụ, trong ánh mắt già nua chùng xuống nỗi tiếc thương, chòm râu bạc lưa thưa phất phơ trước gió. Ông cụ đọc báo, nghe đài phát thanh nên biết Anh đã ra đi, nên sáng nào cũng để một bó hoa tưởng nhớ và tiễn đưa Anh. Cụ mời tôi điếu thuốc Quân Tiếp Vụ, rồi ngồi xuống cạnh gốc cây, tay vuốt nhẹ trên những cánh hồng, sợi khói mỏng manh của điếu thuốc nhà binh quện trong tiếng nói:

"- Thuốc lá Ông Quan Năm cho, tôi vẫn còn đủ dùng cho đến cuối năm. Mấy chục năm nay tôi mới gặp một ông quan nói chuyện thân mật và tốt bụng với những người dân như tôi. Người tốt mà sao Ông Trời bắt đi sớm như vậy!? "
(Trích trong "Máu lửa Charlie" của Đoàn Phương Hải)

Cha tôi đã sống như thế nào mà những người ít ỏi còn sống sót trở về sau trận chiến tại đồi Charlie đều nói là họ thật hối tiếc khi không được nằm xuống cùng Cha tôi ở đó.

“Tô Phạm Liệu cảm thấy lẻ loi ở cái đại hội y sĩ có nhiều những người “mặc quần mới áo đẹp” và “ăn to nói lớn”, thích “nhảy đầm” và “xếp hàng để lên hát”... Trong cơn say, anh nói là phải chi trước kia, mười mấy năm trước kia, anh được “ở lại Charlie” với Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, với các bạn nhảy dù thì “sướng hơn nhiều.”
(Trích trong "Tô Phạm Liệu : người trở lại Charlie" của Phạm Anh Dũng)

Viên sĩ quan cố vấn Mỹ Duffy cho tới tận bây giờ vẫn còn luôn mang trong người những hoài niệm về Cha tôi và trận chiến tại Charlie. Mỗi lần tham gia các cuộc gặp gỡ của hội cựu chiến binh Việt Nam (trong đó có một số hiện đang là tướng lãnh cao cấp trong quân đội Mỹ) ông ta đều hỏi mọi người “Tụi mày có từng tham gia trận Charlie không, tụi mày có ai từng chiến đấu cạnh Colonel Bao (Trung tá Bảo) chưa? Thế thì tụi mày còn xoàng lắm. Và hàng năm cứ mỗi lần sinh nhật của mình, ông ta đều đặt một ổ bánh kem làm hình một ngọn đồi và ghi chữ Charlie lên đó. (Chuyện này do Chú Đoàn Phương Hải khi về Việt Nam năm 2011 thuật lại cho tôi nghe)

Cha tôi đã sống như thế nào để một người Mỹ phải luôn khắc trong tâm khảm những hoài niệm như vậy?
Tôi chỉ có thể kết luận một câu : “Cuộc đời của Cha thật vĩ đại”
Ngày hôm nay khi viết về Cha, tôi không biết viết gì hơn, chỉ xin dâng về hương hồn Cha một vài câu thơ nói về khí phách của Người và nơi mà Cha đã gửi lại thân xác của Người vĩnh viễn cho núi rừng Charlie. Ở đây tôi xin dùng từ "Cởi áo trần gian" vì tôi tin rằng Cha vẫn đang khoác một chiếc áo khác và vẫn đang nhìn tôi từ một nơi rất xa…

Lặng lẽ ngàn năm chẳng danh xưng
Bỗng chốc một hôm hóa lẫy lừng
Charlie gầm thét trong lửa đạn
Gọi mãi tên người nước mắt rưng
Trai thời nỗi chết tựa trên lưng
Khí phách hiên ngang bước chẳng dừng
Charlie vẫy gọi người ở lại
Cởi áo trần gian tặng núi rừng
(Kính dâng tặng hương hồn Cha)

Sinh nhật mẹ tôi ngày 11/04. Trước khi hành quân vào Charlie ngày 25/03 Cha tôi đã đặt một chiếc bánh sinh nhật cho mẹ với lời hứa là sẽ về dự sinh nhật của mẹ. Đến ngày sinh nhật mẹ đã không tổ chức mà vẫn chờ Cha về, và cho đến tận bây giờ mẹ vẫn chờ…
Tuy nhiên Cha đã thất hứa với mẹ vì ngày 12/04 Cha đã cởi áo trần gian và nằm lại vĩnh viễn với Charlie. Còn tôi, tôi chỉ biết hỏi là tại sao Cha lại không giữ lời hứa với mẹ tôi? Tại sao và tại sao…?...

Nguyễn Bảo Tuấn

Edited by user Saturday, January 31, 2015 8:36:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#5583 Posted : Saturday, January 31, 2015 8:40:39 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,702

Thanks: 636 times
Was thanked: 450 time(s) in 292 post(s)

Ngưói Anh Hùng Charlie Nguyễn Đình Bảo


Tác giả: Phan Nhật Nam
(trích tác phẩm Mùa Hè Đỏ Lửa, xuất bản tại Saigon năm 1972/73)

CHARLIE, TÊN NGHE QUÁ LẠ

Quả tình nếu không có trận chiến mùa Hè năm 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum.

Charlie, "Cải Cách," hay "C," đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Pô-Kơ và Đường 14, đông-bắc là Tân Cảnh với mười hai cây số đường chim bay, đông-nam là Kontum, thị trấn cực bắc vùng Tây Nguyên. Charlie bị bao vây bởi Căn Cứ 5, Căn Cứ 6 ở phía bắc, những mục tiêu quân sự nổi tiếng, những vị trí then chốt giữ cửa ngõ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm qua, bao nhiêu mùa hè, mùa mưa rào, báo chí hằng ngày trong và ngoài nước phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống vùng núi non, cạnh sườn cực tây địa giới nước Nam.

Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách từ mùa mưa 1971 qua đầu xuân 1972, Bắc quân vẫn không vượt qua được cửa ngõ hai căn cứ số 5, số 6, thế nên cộng quân đổi hướng tiến, lòn sâu xuống phía nam hai căn cứ trên để tiếp tục sự nghiệp "giải phóng" với mục tiêu cố định: Tân Cảnh, cắt Đường 14.

Vòng đai Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù nằm về phía trái quốc lộ có hình cánh cung bắt đầu bởi căn cứ Anh Dũng ở cực bắc đến Yankee (hay Yên Thế,) ngã lần xuống nam với Charlie, Delta, Hotel, Metro và chót hết là Bắc Ninh, phía đông Võ Định, nơi đặt bộ chỉ huy lữ đoàn. Vòng đai này có nhiệm vụ che chở phía trái đường 14, phát hiện sự di chuyển từ đông sang tây của địch xong dùng phi pháo để tiêu diệt. Đây là lý thuyết chiến thuật, quan niệm hành quân của phía Cộng Hòa đối với mục tiêu và hướng tiến của phía Cộng Sản hằng bao nhiêu năm. Nay bộ đội Bắc Việt thay đổi đường đi và quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) lập các vòng đai Nhảy Dù như Yankee, Charlie, Delta bắt đầu được đặt tên để tiếp nhận định mệnh tàn khốc trong cuộc chiến trùng trùng. Đoạn sau kể về trận đánh ở Charlie, trận đánh nhỏ của một tiểu đoàn Nhảy Ðù, nhưng điển hình cho toàn thể bi hùng cực độ về người Lính Chiến Việt Nam.

ÐẾN ÐÂY NGƯỜI GẶP NGƯỜI

Đường mòn Hồ Chí Minh (HCM) trên đất Lào khi chạy đến vùng Tam-Biên phía đông cao nguyên Boloven chia ra hai nhánh. Nhánh thứ nhất từ Chavane đâm thẳng biên giới Lào-Việt xuyên qua dãy Chu Mon Ray để nhắm vào Darkto. Nhánh thứ hai từ Bản Tasseng qua trại Lệ Khánh, và Kontum là mục tiêu cuối cùng của quan niệm chiến thuật Bắc quân: Phải chiếm giữ thị trấn cực bắc này để làm bàn đạp lần tấn công Pleiku, rồi từ đây tiến về phía đông, xuống bình nguyên tỉnh Bình Định.

Gọi nhánh thứ nhất là nhánh Bắc và nhánh thứ nhì là nhánh Nam. Trong chiến dịch Xuân-Hè 72 của Mặt Trận B3 (chiến trường Tây Nguyên), đường rẽ phía Bắc được sử dụng, từ đỉnh 1773 của núi Chu Mon Ray, con đường không thể gọi là một nhánh nhỏ của "đường mòn Hồ Chí Minh" nữa, nhưng phải gọi đó là một "bypass" của một cải lộ tuyến phẳng phiu trơn láng, chạy ngoằn ngoèo qua các cao độ, đổ xuống những thung lũng hun hút của dãy Big Mama Mountain rồi bò theo hướng đông đến đỉnh Kngok Kon Kring. Đỉnh núi này cao quá, con đường phải quẹo qua trái, đi lên cao độ 960 và tạm dừng lại. Dừng lại, vì phía đông, hướng trước mặt chỉ cách mười cây số, con sông Pô-Kơ dậy sóng. Con sông ầm đổ qua ghè đá, ào ào đi giữa rừng xanh núi đỏ. Bên kia sông, Quốc Lộ 14 chỉ khoảng trên dưới sáu cây số và đầu con đường là Tân Cảnh, mục tiêu của bao chiến dịch.Từ ngày chiến tranh "giải phóng" bùng nổ.

Đây rồi, "...nồi cơm điện National" đây! Tân Cảnh hấp dẫn ngon lành như cô gái yếu đuối hớ hênh thụ động nằm dưới thung lũng bát ngát ở đằng kia. Bộ đội ta tiến lên. Nhưng không được nữa, con đường đã bị dừng lại, và bộ đội ta dù được "tùng thiết," dù được đại pháo "dọn đường" cũng phải dừng lại, vì đỉnh 960 chính là bãi đáp C, là cứ điểm Charlie và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã xuống LZ (landing zone, tức bãi đáp trực thăng, hoặc khoảng đất trống dùng để đổ quân từ trực thăng) này từ ngày 2 tháng 4/1972. Con cháu Bác và Đảng phải ngừng lại bố trí trận địa. Nỗ lực kinh khiếp kéo dài trên năm mươi cây số đường núi, từ ngã rẽ đất Lào phải dừng lại vì chạm phải "sức người." Ở đây, người đã gặp nhau.

Vực thấp, đỉnh cao, bạt núi, xẻ đèo, những con người cuồng tín và tội nghiệp của miền Bắc đã làm được tất cả. Con đường núi của Tướng Stiwelle từ Miến Điện đến Trùng Khánh, Trung Quốc năm 1945 đã là một sự khủng khiếp. Đường xuyên sơn vạn dậm, dài thật dài, quanh co khúc khuỷu lớp lớp giữa núi rừng nhiệt đới, con đường nổi tiếng đúng như tầm vóc và giá trị của nó. Cả nước Tàu sống bám vào cái ống cứu nguy thậm thượt hun hút này.

Vào thời điểm đầu thế chiến, nước Tàu, đồng minh "tuyệt vời cần thiết" của người Mỹ dễ thương cần phải sống để chống đỡ trục Bá Linh-Đông Kinh. Con đường quả đáng tiền và đáng sợ. Nhưng đường này làm bằng máy, dưới sự yểm trợ và che chở của các "Ong Biển" hảo hạng, những người lính công binh chiến đấu hãnh diện của Mỹ quốc giàu sang hùng mạnh. Năm mươi cây số đường xuyên sơn của "bộ đội ta" thì khác hẳn. Bộ đội đào bằng tay trong đêm tối. Bộ đội lấp hố dưới tấm lưới lửa thép của B-52, trên những giải thảm tử thần dầy lềnh bom-bi CBU (cluster bomb unit). Sức người và lòng cuồng tín ghê gớm đã vượt qua giới hạn. Đấy không còn là người với thịt da biết mệt mỏi đau đớn, cũng không là người với trí óc biết nguy biến và sợ hãi. Bắc quân, khối người vô tri tội nghiệp chìm đắm trong ảo tưởng và gian nguy triền miên. Con đường sạn đạo vào đất Ba Thục tân thời được hoàn thành từng phân từng thước. Bắc quân theo đó đi về Đông.

Nhưng đến đây, ở cao độ 960, người lính Bắc Việt không tiến được nữa vì đã gặp "người." Người rất bình thường và giản dị. Người biết lo âu, sợ nguy biến. Người có ước mơ và ham muốn vụn vặt. Những người không thần thánh hóa lãnh tụ và tin tưởng Thiên Chúa cũng chỉ là bạn tâm tình. Nhưng đó cũng là những người lính đánh giặc "tới" nhất của Quân Lực Miền Nam, chỉ huy bởi những sĩ quan miệt mài trên dưới mười năm trận địa. Những sĩ quan biết đánh hơi rất chính xác khả năng và ý định của đối phương. Bắc quân dừng lại giữa đường, ảo tưởng bị công phá và tan vỡ. Họ gặp lính Nhảy Dù Việt Nam.

[xem tiếp]






hongvulannhi  
#5584 Posted : Saturday, January 31, 2015 1:29:45 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,133

Thanks: 1941 times
Was thanked: 4400 time(s) in 2742 post(s)
Phật giáo VN giữa dòng đời biến động


Nguyễn Lễ
bbcvietnamese.com
30 tháng 1 2015

UserPostedImage

Phật Đản là ngày lễ trọng của Phật giáo


Ngày xưa Đức Phật bỏ cung vàng điện ngọc, dầm mưa dãi nắng, ăn đói mặc rách suốt 49 ngày đêm thiền định dưới gốc bồ đề mới tìm ra chân lý giải thoát.

Ngày nay có những người xưng là đệ tử Phật gia nhưng hám mùi tiền, tham danh lợi, có cuộc sống đầy đủ tiện nghi không khác chi hàng quyền quý.

Đã bước chân vào chốn 'Không Môn' chắc hẳn các vị ấy đều biết câu 'vô thường', 'giả tướng'?

UserPostedImage

Cửa Thiền và vật chất không song hành


Nếu không dứt được cái tâm vọng tưởng đối với sự vật hiện tượng thì sẽ dẫn đến u sầu, đau khổ khi mọi việc không được như ý.

Có sinh tất có diệt, có thành ắt có hoại, có hợp rồi sẽ tan, các vị tu hành có nghiên cứu kinh điển đều biết rằng vạn vật, từ thân thể cho đến của cải vật chất, đều là tổng hòa các mối nhân duyên. Đủ duyên sinh thì sẽ tạo, duyên diệt đến thì sẽ tiêu.

Thành ra các vị ấy mang tiếng tu hành mà nguyên lý căn bản nhất của nhà Phật cũng không biết thì chẳng qua chỉ là lợi dụng cửa thiền cho lợi ích riêng mình mà thôi.

Suy cho cùng, tu theo Phật pháp là cả quá trình luyện tâm rèn trí - giống như thuần hóa con trâu dữ. Bước vào cửa Không, từ bi không là chưa đủ mà còn phải có trí tuệ và dũng khí nữa.

Cần trí tuệ để nhìn thấu vạn vật và có dũng khí để không bị sức hút của vật chất. Khi đó mới có thể 'tinh tấn' đi trên con đường Đức Phật đã chỉ sẵn.

Cho nên cửa Phật thích hợp với những bậc tâm chánh trí sáng, bản lĩnh hơn người và tự giác buông bỏ để đi tìm sự giải thoát như Đức Vua Trần Nhân Tông hơn là với những người vì buồn chuyện tình duyên hay vì bất đắc chí mà tìm đến cửa Thiền để trốn tránh và càng không phải là chỗ cho những người còn ham muốn tiền bạc tiện nghi và chưa thoát được vòng tục lụy.

Ít bậc chân tu?

UserPostedImage

Việt Nam có nhiều bậc chân tu hay không?


Từ ngàn xưa đến nay kẻ xuất gia thì nhiều nhưng mấy ai tu thành chánh quả?

Đại đa số chúng ta đều xoay vần trong cuộc sống hàng ngày nên không có cái nhìn vượt lên vòng sinh tử và càng không đủ sức thoát ra khỏi cuộc sống mình đã gắn chặt.

Người phát tâm tu hành thật sự là người hiểu được quy luật 'Sinh, Lão, Bệnh, Tử' của cái bàn cờ cuộc đời mà họ bị ném vào mà có vũng vẫy cách mấy cũng không thoát ra được.

Có ai sinh ra muốn mình sẽ già? Nhưng rồi ai cũng sẽ suy nhược đuối sức. Có ai muốn mình sẽ bệnh? Nhưng rồi có lúc sẽ đau đớn thể xác để rồi sức tàn lực kiệt. Có ai chịu nổi cảnh sinh ly tử biệt? Nhưng rồi cũng đến lúc phải vĩnh viễn rời xa những người thương yêu nhất mà không gì có thể níu kéo được!

Những bậc tu hành nắm rõ những điều này hơn ai hết. Từ đó họ sẽ có tâm thanh thản, bình an. Họ sẽ chẳng bận lòng có ít hay nhiều fan trên Facebook như vị trụ trì ở Hải Dương kia hay cũng chẳng quan trọng gì những lời cay nghiệt nếu mình không làm gì sai.

Và những người chân tu sẽ có tinh thần lạc quan, bình thản như mặt nước hồ trong không gợn sóng trước dòng đời biến động, giống như Mãn Giác thiền sư: "Xuân qua trăm hoa rụng - Xuân tới trăm hoa cười - Trên đầu việc đi mãi - Trước mắt già đến rồi".

Suy giảm niềm tin?

Nhưng nói gì thì nói, những vụ tai tiếng liên tục của các vị tăng ni vừa qua đã ít nhiều ảnh hưởng đến niềm tin vào đạo Phật nói chung trong công chúng.

Tuy nhiên, Đức Phật đã nói đừng tin lời Ngài mà hãy thực hành. Thực hành hiệu quả mới tin.

Đức Phật từng nói khi thành đạo: "Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành."

UserPostedImage

Vườn Lâm Tỳ Ny ở Nepal nơi Đức Phật đản sanh


Tức là Đức Phật cũng chỉ là người bình thường như mọi người nhưng là người đã tìm ra con đường giải thoát để chỉ dẫn chúng sinh và Ngài tin tưởng ai cũng có thể làm được như Ngài.

Ngài không phải bậc quyền năng, và pháp của Ngài, do đó, cũng không dựa trên những điều huyễn hoặc.

Con người đến với tôn giáo phần lớn là để tìm chỗ dựa tinh thần, nhưng với việc 'phải thực hành thì mới tin' thì các Phật tử chỉ có thể dựa vào chính bản thân mình mà thôi.

Và nếu họ làm theo mà thấy hiệu quả thì dù người khác có làm sao hoặc có nói thế nào cũng không làm cho họ hết tin được.

Do Phật giáo không dạy về chữ 'Tin' mà chỉ là phương tiện để giúp con người thoát khổ nên sức mạnh của Phật giáo nằm ở Pháp chứ không phải số lượng tín đồ. Có thêm người theo, Đức Phật cũng chẳng mạnh thêm và bớt đi tín đồ cũng không làm cho Pháp của Ngài yếu đi.

Chính vì vậy Phật giáo không có các điều luật ràng buộc tín đồ và cũng không có nhu cầu tổ chức chặt chẽ và không xem việc truyền đạo là yếu tố sống còn.

Dĩ nhiên với tính chất và tổ chức như vậy thì những ai hướng đến Phật chỉ bằng niềm tin thì niềm tin đó ít nhiều sẽ bị lung lay trước sự xuống cấp của hàng tăng chúng. Còn những ai hiểu và thực hành chánh pháp thì chẳng ảnh hưởng gì.

Không còn hưng thịnh

UserPostedImage

Phật giáo không chủ trương cúng bái hay mê tín


Ít nhất Phật giáo Việt Nam ngày nay đã không còn hưng thịnh như xưa.

Được truyền đầu tiên từ Ấn Độ, Phật giáo thời sơ khởi ở Việt Nam đã phát triển đến mức có vị cao tăng được nước Đông Ngô thời Tam Quốc bên Trung Quốc mời sang giảng đạo.

Qua đường giao lưu văn hóa, Phật giáo thâm nhập vào Việt Nam 'ngọt nhuyễn' và không xảy ra một cú sốc nào.

Đó là vì Phật giáo đã nhanh chóng hòa nhập vào văn hóa dân tộc, hòa quyện với tín ngưỡng bản địa, tập quán thờ cúng ông bà và tục thờ những người có công với nước.

Tôi từng thấy nhiều chùa chiền ở miền Bắc ngoài thờ Phật còn ban thờ tiên công, tiểu đồng, ban cô, ban cậu hay thờ những vị anh hùng dân tộc như Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo...

Từ đó, Phật giáo gắn sâu và quyện chặt vào văn hóa Việt Nam như một phần máu thịt.

Hai triều đại đỉnh cao trong lịch sử dân tộc là Lý, Trần là cũng là thời kỳ Phật giáo Việt Nam hưng thịnh nhất.

Lý Thái Tổ được dưỡng nuôi từ dưới mái chùa; Thiền sư Vạn Hạnh là bậc quốc sư tài trí vẹn toàn; Trần Thái Tông viết 'Khóa hư lục'; Trần Nhân Tông sau khi bình giặc lên Yên Tử khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm.

Ông 'Bụt' (tức Buddha) đã đi vào tiềm thức dân gian. Chùa chiền đi vào ca dao tục ngữ và thậm chí có câu nói trong Kinh Phật như ‘Hằng hà sa số’ (nhiềunhư số cát sông Hằng) đã trở thành lời ăn tiếng nói hàng ngày của dân tộc.

Đường hướng trái nhau

UserPostedImage

Chùa chiền ở Việt Nam ngoài thờ Phật còn thờ thần và các anh hùng dân tộc


Tuy nhiên, truyền thống đó của cha ông có thời đã bị tàn phá nhân danh ‘tư tưởng tiến bộ’.

Có những vùng ở Bắc Trung Bộ xóa trắng không còn một mái chùa trong khi có những ngôi chùa ở miền Bắc có hòm công đức nhưng không có nhà sư hoặc có những nhà sư mà tôi nghi ngờ không biết có thuộc câu Kinh Phật nào không.

Vài Giáo hội trong thời đại mới ngoài ‘Phật pháp – Dân tộc’ còn có thêm ‘Chủ nghĩa xã hội’.

Đành rằng chọn tôn chỉ thế nào là quyền của Giáo hội nhưng không thể đặt cạnh nhau hai đường hướng trái nhau.

Phật đâu dạy con người dùng bạo lực đấu tranh tiêu diệt người khác? Và dù giáo lý là ‘Không’ nhưng Phật dạy đừng chấp ‘Không’ và cũng không chấp ‘Có’ vì chỉ khi thoát ra được sự kiềm hãm của ‘Chấp’ con người mới đến được chân lý. Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội là ‘chuyên chính vô sản’ nên cố chấp lý thuyết của mình là duy nhất đúng.

Tôi nhớ từng nghe trên sóng phát thanh ở Việt Nam câu chuyện một 'nhà sư' kể về việc 'khoác chiến y theo Đảng đi giết giặc'.

Mặc dù bảo vệ non sông là nghĩa vụ của mỗi người dân nhưng cách tuyên truyền như vậy không những phản cảm mà còn ngụ ý rằng cho dù Trời Phật gì cũng không bằng Đảng.

Điều lạ lùng là chủ nghĩa Marx-Lenin đả phá tôn giáo nhưng các Đảng Cộng sản trên thế giới đều có xu hướng thần thánh hóa lãnh tụ để người dân tôn thờ, ướp xác đưa vào lăng giống như đền thờ và đề cao ‘bản lĩnh chính trị’, kiểu như ‘Đức tin’, để đảm bảo mọi người luôn tin tưởng tuyệt đối.

Đức tin tôn giáo

UserPostedImage

Đức Tin giúp con người sống tốt


Tuy nhiên phải hiểu rằng ngoài sự tin tưởng, ‘Đức tin’ trong các tôn giáo còn là lòng tôn kính đối với Đấng Tối cao. Lòng tôn kính đó là tình cảm hết sức thiêng liêng đáng được trân trọng.

Và khi Đức tin đó được hàng tỷ người tin theo, như Công giáo hay Hồi giáo, thì chứng tỏ nó phù hợp tình cảm con người, thể hiện những gì tốt đẹp ở con người và đem lại lợi lạc cho họ.

Đó là chưa kể những Đức tin đó đều hướng con người ta sống hiền lành, lương thiện nên có khả năng cải biến xã hội.

Để giữ đạo đức xã hội thì có những cái mà luật pháp không làm được nhưng tôn giáo lại làm được, chẳng hạn những điều cấm của Hồi giáo rất nghiêm ngặt nhưng tín đồ vẫn nhất nhất nghe theo.

Cho nên mới nói sự suy đồi đạo đức của xã hội ngày nay chắc gì không có liên hệ với việc tôn giáo suy vi sau nhiều năm bị kìm hãm hay tàn phá?

Tôi từng thấy cảnh bà cụ đầu tóc bạc phơ thành kính quỳ trước giáo đường và tôi tin rằng khi có niềm tin vào Đấng Tối cao như thế họ sẽ không thể làm điều ác.

Tôi cũng từng gặp những người Hồi giáo ở Indonesia hiền lành, nhân hậu, sống chan hòa với các tôn giáo khác.

UserPostedImage

Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đến văn hóa người Việt


Và trong Phật giáo, dù không có ‘Đức Tin’ vào Đấng Toàn năng nào nhưng trong mắt các Phật tử thì Đức Phật chính là Đấng Tối cao.

Điều đó cho thấy bản chất con người muôn đời vẫn yếu đuối và họ cần chỗ dựa tinh thần đến mức nào, nhất là trong những lúc nguy nan, khủng hoảng tinh thần nhất.

Làm chủ niềm tin

Chỗ dựa đó giúp con người vững vàng trong cuộc sống. Và khi có chỗ dựa, họ có xu hướng gắn chặt linh hồn vào đó và sẵn sàng sống chết vì nó.

Tuy nhiên, suy cho cùng, tôn giáo tồn tại trong xã hội loài người chính là để phục vụ con người.

Cái nguy ở chỗ khi linh hồn bị chiếm lĩnh thì con người có thể bị sai khiến làm gì cũng làm ngay cả đó là việc trái với lương tri – giống như những kẻ Hồi giáo cực đoan giết người vô tội không gớm tay chỉ vì tin rằng đó là ý Thượng Đế.

Cho nên, điều cần thiết là tín đồ sống theo Đức Tin nhưng đôi khi phải tỉnh táo biết làm chủ niềm tin của mình.

Về phần mình, không chỉ là chỗ dựa tinh thần, không chỉ là nguyên tắc đạo đức để sống tốt, Phật giáo còn là hệ thống triết lý về vũ trụ, nhân sinh mà Đức Phật đã truyền dạy trong hơn 40 năm thuyết pháp.

UserPostedImage

Người Hồi giáo ở Indonesia rất hiền lành


Giữa dòng đời biến động và cuộc sống đầy sức ép, hiểu quy luật vạn vật và thực hành Phật pháp giúp con người buông xả và hóa giải những năng lượng xấu như giận dữ, đố kỵ, ích kỷ để đạt cảm giác an lạc như lời Đức Phật dạy: ‘Tâm buồn khổ như con rắn dưới gầm giường’.

Hiểu Phật pháp cũng giúp con người có cái nhìn rộng lớn hơn về thế giới để hòa hợp với thế giới, chẳng hạn chữ Hiếu theo đạo Phật là hiếu với cả bảy đời, hiểu chữ ‘chúng sinh’ là tất cả đều có sự sống quý giá hay biết rằng ‘các vật hữu tình’, kể cả động vật, đều có tình cảm.

Dù tăng chúng ngày nay có chỗ suy vi, nhưng nhiều người mong rằng đó chỉ là những mảng tối nhỏ nhoi trên nền trời tươi sáng.

Edited by user Saturday, January 31, 2015 1:38:08 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

tubich  
#5585 Posted : Saturday, January 31, 2015 5:07:31 PM(UTC)
tubich

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 1,583

Thanks: 117 times
Was thanked: 195 time(s) in 151 post(s)

Ai là người có sáng kiến thực hiện Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ ?


Có nhiều tài liệu kể về các Lá Cờ được dùng như biểu tượng hay là Quốc Kỳ của nước Việt Nam từ xưa tới nay. Nhưng đặc biệt Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, được dùng làm Quốc Kỳ của Quốc Gia Việt Nam (Quốc Trưởng Bảo Đại) và của hai nển Đệ Nhất và Đệ Nhị Công Hòa thì có tài liệu nói rõ, kể tên người có sáng kiến thực hiện và tên người họa sĩ đầu tiên đã thực hiện vẽ mẩu của lá cờ đó.

UserPostedImage


Trong tập sách “Câu Chuyện của Những Cây Đại Thụ: Hồi ức của các Linh Mục Giuse Vũ Ngọc Bích, Giuse Trần Hữu Thanh, thuộcDòng Chúa Cứu Thế Việt Nam” (Lưu hành nội bộ 2003)

Người ghi chép những hồi ức này là tác giả Vũ Sinh Hiên, một cựu đệ tử DCCT. Nơi trang 82-83 của tập sách, tác giả VSH đã ghi lại lời kể cùa LM Trần Hữu Thanh về sự “ra đời” của Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ như sau:

“Cựu Hoàng Bảo Đại về chấp chánh trong lúc quân Pháp đã chiếm trọn Nam Kỳ và biến thành một quốc gia riêng với Thủ Tướng là Nguyễn Văn Xuân, có quốc kỳ riêng màu đỏ ở giữa là màu xanh, tượng trưng cho sông Cửu Long chảy giữa miền phù sa. Ở Bắc Việt, quân Pháp thành lập Ủy ban hành Chánh Bắc Bộ đứng đầu là Nguyễn Hữu Trí. Còn ở Trung phần, ông Trần Văn Lý làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Trung Bộ. Mục đích của thực dân Pháp là “chia để trị” và sẽ không có miền nào đủ mạnh để đương đầu với Pháp. Khi đó ông Trần Điền làm Trưởng Ban Thông Tin Trung Việt. Ông muốn vẽ một bức tranh cổ động chào mừng ngày về của Cựu Hoàng ở đầu cầu Trường Tiền, trước cửa khách sạn Morin, cao 2m dài 4m.

Lúc đó ông Tôn Thất Sa, giáo sư hội họa dạy ở đệ tử đang tá túc ở nhà Accueil còn các ông Trần văn Lý và Trần Điền lại tá túc ở trường Thiên Hựu do quân Pháp chiếm đóng. Ông Sa vẽ một người đi đầu đoàn biểu tình hồ hởi cầm một lá cờ, theo sau là hàng hàng lớp lớp quần chúng. Khi vẽ lá cờ, ông hỏi vẽ cờ gì đây? Không lẽ vẽ cờ Long Tinh cùa Khải Định hoặc cờ quẻ ly dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim? Quẻ Ly chỉ hướng Nam và lá cờ là nền vàng hai sọc đỏ liền hai bên và một sọc đỏ đứt đoạn ở giữa. Các ông hỏi ý kiến tôi, tôi bảo để sáng hôm sau tôi trả lời.

Tôi đưa ra lá cờ vàng ba sọc đỏ liền, ở giữa là một con rồng nối liền ba sọc đỏ này. Tôi muốn giải thích là một nòi giống da vàng, ba dòng máu đỏ Bắc Trung Nam được liên kết bằng một con rồng. Tôi hoàn toàn không nghĩ gì về Chúa Trời ba Ngôi cả. Khi đem ý kiến của tôi ra thảo luận, có nhiều ý kiến như của ông Trương Văn Huế đòi bỏ con rồng với lý do là quốc kỳ để toàn thể quốc dân tôn thờ, mà người Công Giáo thì không thể thờ con rồng được. Hơn nữa quốc kỳ phải đơn giản để dễ may. Tất cả đều đồng ý bỏ con rồng.

UserPostedImage


Tôi đưa bản vẽ mẩu lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ cho Hoàng Hậu Nam Phương xem, rồi ông Trần Văn Lý cầm đầu phái đoàn sang Hong Kong thỉnh ý kiến Cựu Hoàng Bảo Đại. Ông chấp nhận và đó là lá cờ Quốc Gia. Tóm lại, lá cờ vàng ba sọc đỏ được ông bảo Đại chấp thuận, ông Tôn Thất Sa vẽ còn ý kiến là của tôi. Hôm sau đi cùng một anh bạn, tôi hỏi anh nghĩ sao về lá cờ này, anh buông một câu: “Ôi dào! Cờ ba que!” Ý anh muốn nói ba que xỏ lá, tôi im luôn, không nhận là tác phẩm của mình nữa”.

Một người bạn của tôi, anh UĐB có hỏi tôi về Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ như sau

Tôi cũng có điều thắc mắc này: Không biết cha THT (Trần Hữu Thanh) nói rằng ngài có ý và ông TTS (Tôn Thất Sa) có công vẽ ra lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cho TQ (Tổ Quốc) từ thời Vua Bảo Đại thì có chắc chắn không. Bởi vì tôi đọc được ở đâu đó là lá cờ này có từ thời Vua Thành Thái. Anh thử check lại xem sao nhé.

UserPostedImage

Tôi đả lưu một bài trên trang Blog Đặng Chí Hùng viết về Quốc Kỳ Việt Nam của tác giả Nguyễn Đình Sài:


Tôi xin tóm tắt một vài ý chính trong bài viết có liên quan đến Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để chúng ta tiện theo dõi: Những dòng đậm nghiên là bài viết của Tiến Sĩ Nguyển Đình Sài, còn lại là của tôi.

Cảm thông tâm trạng bất mãn của nhân dân thể hiện qua những tiếp xúc với các sĩ phu ngoài hoàng thành, vua Thành Thái đã không những không thỏa mãn các đòi hỏi của chính quyền bảo hộ, mà còn trọng dụng nhiều nhân tài thanh liêm và đức độ như các ông Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, với hy vọng khôi phục và canh tân đất nước. Năm 1890, nhà vua xuống chiếu thay đổi quốc kỳ chữ Hán bằng quốc kỳ mới. Lá cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ lần đầu tiên được cấu tạo và được dùng làm quốc kỳ.

Có thể nói Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ – gọi tắt là “Cờ Vàng” – là lá “quốc kỳ” đúng nghĩa đầu tiên của dân tộc Việt, vì nó hàm chứa nguyện vọng độc lập và thống nhất của lãnh thổ Việt.

…. Lá cờ Quốc Gia đã được tồn tại suốt triều vua Thành Thái. Năm 1907, …

….. Ghi chú: Dữ kiện là Cờ Vàng hiện hữu từ 1890-1920 được tìm thấy trên website của World Statemen. Chủ website này là Ben Cahoon, một chuyên gia Mỹ, tốt nghiệp đại học University of Connecticut. Muốn biết thêm về ông, xin vào đây:http://www.worldstatesmen.org/AUTHOR.html. World Statemen là một website khổng lồ, chứa các lịch sử chính trị của hầu hết quốc gia trên thế giới, trong đó có VN. Tài liệu trong website này vô cùng phong phú, khá chính xác về các phần khác của VN, như các triều vua, các đời quan toàn quyền Pháp, v.v.., với sự đóng góp của nhiều giáo sư danh tiếng. …

…. Sau khi đối chiếu với các sử sách, bằng vào trí thức và sự chân thành của Ben Cahoon, người viết không nghĩ tác giả website đã bịa đặt ra sự kiện Cờ Vàng đã hiện hữu năm 1890-1920, cũng như Cờ Đại Nam bằng chữ Hán xoay 90 độ nghịch chiều. Hiển nhiên Cahoon đã tìm thấy trong hàng đống tài liệu hay thư khố Pháp và Mỹ hoặc các đại học, nhưng lại không trích dẫn rõ ràng tài liệu nào. Riêng cờ chữ Hán “Đại Nam” thì ông cũng không trích dẫn xuất xứ và diễn tả là gì (có lẽ vì không hiểu chữ Hán), nên lúc nhìn qua không ai hiểu được là gì. Về sau, loay hoay xoay chuyển các chữ Đại và Nam, người viết mới khám phá ra cái thâm ý của tiền nhân triều Nguyễn. Trong tinh thần tôn trọng các sách sử và các bài viết của các bậc trưởng thượng, mới đầu người viết cũng có sự nghi hoặc về dữ kiện Cờ Vàng hiện hữu từ 1890, vì không thấy sách Việt sử nào ghi lại chi tiết này. …

Trên đây là sự đối chiếu và chọn lọc của người viết để đi đến kết luận là tài liệu của World Statesmen có tính xác thực và khả tín. Tuy nhiên, nếu độc giả không thỏa mãn với tài liệu của World Statesmen thì nên trích dẫn tài liệu phản bác lại.

Tóm lại: Tác giả Nguyễn Đình Sài tìm thấy trong Website World Statemen của Ben Cahoon lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được sử dụng làm Đại Nam Quốc Kỳ (1890-1920) dưới thời Vua Thành Thái. Nhưng tác giả NĐS cũng nói rõ là Ben Cahoon không trích dẩn rõ ràng tài liệu nào cho biết lá Cờ đó được sử dụng vào thời kỳ đó. Và tác giả cũng xác nhận không thấy sách Việt sử nào ghi lại chi tiết này. … Nhưng bằng những phân tích lý luận của mình tg NĐS vẩn kết luận “Trên đây là sự đối chiếu và chọn lọc của ngườiviết để đi đến kết luận là tài liệu của World Statesmen có tính xác thực và khả tín.”

Phần tiếp theo của bài viết tác gỉa NĐS kể đến các lá cờ được dùng làm Quốc Kỳ của Việt Nam qua các thời kỳ sau Vua Thành Thái.

UserPostedImage


Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của “Việt Nam Quốc” và “Việt Nam Cộng Hòa” Tại Hà Nội, sau khi Việt Minh rút vào bưng kháng chiến chống Pháp, thì nền hành chánh của miền Bắc và Trung tạm thời rơi vào tay người Pháp. Kế đó, cựu hoàng Bảo Đại được các đảng phái cách mạng cũng như người Pháp mời ra điều khiển đất nước với tư cách “Quốc Trưởng”. Ông đòi hỏi Pháp phải công nhận cho Việt Nam được quyền độc lập và thống nhất ba miền, rồi thành lập “Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam”, cử tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng để điều hành đất nước và thương thảo với Pháp. Tiếp theo, Hội Đồng Đại Biểu Chính Phủ Nam Việt Nam của “Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc” gởi kiến nghị tán thành chính phủ trung ương, chấp nhận sự độc lập và thống nhất thật sự của ba miền. Vì thế ngày 2 tháng 6, 1948, chính phủ Nguyễn Văn Xuân công bố Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam trong liên hiệp Pháp, áp dụng cho cả ba miền Nam, Trung và Bắc Kỳ. Lá Quốc Kỳ mới cũng có nền vàng với ba sọc đỏ giống hệt như Đại Nam Quốc Kỳ trong thời khoảng 1890-1920. Nhưng đây là lần đầu tiên, Cờ Vàng được chính thức dùng cho “Quốc Gia Việt Nam”, một chế độ không còn thuộc Đế Chế của Triều Nguyễn. Bàn về xuất xứ của lá Cờ Vàng của chế độ mới, cố GS Nguyễn Ngọc Huy cho biết lá cờ này đã “do một họa sĩ nổi tiếng thời Đệ Nhị Thế Chiến là Lê Văn Đệ vẽ và đã được Cựu Hoàng Bảo Đại chọn trong nhiều mẫu cờ khác nhau được trình cho ông trong một phiên họp ở Hongkong năm 1948″. Tuy nhiên, một số tài liệu khác cho thấy không phải ngẫu nhiên mà Bảo Đại chọn lá cờ ấy, cũng không phải chỉ vì lá Cờ Vàng “đẹp và ý nghĩa”. Nguyên do chính là vì họa sĩ họ Lê đã vẽ lại một lá quốc kỳ từng hiện hữu trên quê hương từ 50 năm về trước, suốt trong thời kỳ hai vị vua ái quốc Thành Thái và Duy Tân còn tại vị. Điều này đã được giải thích tường tận ở mục “3- Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ dưới hai triều đại Kháng Pháp 1890 –1920″

Theo bài viết của TS NĐS thì Thũ Tướng Nguyển Văn Xuân 2/6/1948 đã công bố Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp.

Và Quốc kỳ này cũng có nền vàng với ba sọc đỏ giống hệt như Đại Nam Quốc Kỳ trong thời khoảng 1890-1920.

Và tiếp theo Ô NĐS còn cho biết cố GS Nguyễn Ngọc Huy cho biết lá cờ này đã “do một họa sĩ nổi tiếng thời Đệ Nhị Thế Chiến là Lê Văn Đệ vẽ và đã được Cựu Hoàng Bảo Đại chọn trong nhiều mẫu cờ khác nhau được trình cho ông trong một phiên họp ở Hongkong năm 1948″

Dựa vào bài viết của TS NĐS và hồi ức của LM Trần Hữu Thanh, cá nhân tôi có thể kết luận như thế này :
Việc tg NĐS nói rằng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã được sử dụng từ thời vua Thành Thái, theo World Statemen của Ben Cohoon không có gì “khả tín” vì không có tài liệu xuất sứ chứng minh ví dụ Chiếu Chỉ của vua Thành Thái: “Năm 1890, nhà vua xuống chiếu thay đổi quốc kỳ chữ Hán bằng quốc kỳ mới”.
Hồi ức của Cha THT nói về việc có sáng kiến về Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là vào cuối năm 1945 khi Chính Phủ Việt Minh đã thành lập, và đã vào Huế (Bộ đội VM đóng ở cung An Định, phía sau DCCT Huế) trong khi quân Pháp đã trở lại VN, và ở Huế thì chiếm đóng Trường Thiên Hựu.

Thời gian này ờ Nam Kỳ vẩn là Nam Kỳ Quốc do Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân lãnh đạo. Và Cưu Hoàng Bảo Đại vẫn còn lánh nạn ở Hong Kong.

Như vậy Ông Tôn Thất Sa là họa sĩ đầu tiên vẻ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ theo ý kiến của Cha THT, trên bức tranh cổ động dựng ở cầu Trường Tiền, trước KS Morin để chào mừng ngày Cựu Hoàng trở về VN là điều “khả tín” theo trí nhớ của Cha Thanh.
Có thể khi Quốc Gia Việt Nam trong LH Pháp được hình thành với Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng NVX thì mẫu Quốc Kỳ (Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ) đã được Họa sĩ Lê Văn Đệ “vẽ lại” rồi đệ trình cho QT Bảo Đại (theo Cố GS Nguyễn Ngọc Huy cho biết) chăng?

Tôi “tin” vào “sự thật” của trí nhớ Cha THT.

Tôi xin nói thêm về “Sáng kiến thực hiện Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ”:

- Theo bài viết của TS Nguyễn Đình Sài thì Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã được sử dụng trong thời Vua Thành Thái (1890 – 1920).
- LM THT sinh năm 1915, chịu chức LM năm 1942, và năm 1945 là giáo sư dạy tại Đệ Tử Viện DCCT Huế.. Như vậy trong suốt thời kỳ từ 1920 (lúc đó cậu THT đã 5 tuổi) đến 1945 (30 tuổi) thì ít nhất cũng đã được nghe nói đến hay là đã được nhìn thấy là cờ Vàng Ba Sọc Đỏ (đời Vua Thành Thái) rồi. Hơn nữa qua đoạn “Hồi ức” bên trên, Cha Thanh đã mô tả rất kỹ về cờ Long Tinh của vua Khải Định (kế vị vua Thành Thái) và thời vua Bảo Đại (trước 1945).
- Vậy khi nêu ý kiến về mẫu cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cho họa sĩ Tôn Thất Sa vẽ (sau CMT8 1945) sao ngài không nêu ý kiến là “dùng lại” lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thời vua Thành Thái (?)
- Hơn nữa các nhân vật đương thời với ngài lúc ấy như các ông Trần Văn Lý (Thủ Hiến Trung Kỳ), Trần Điền (TNS thời Đệ Nhị Cộng Hòa), Trương Văn Huế, Tôn Thất Sa, đều là những người có học thức cao, đã lớn tuổi ít ra bằng hoặc hơn cha Thanh mà cũng không biết rằng Cờ vàng Ba Sọc Đỏ đã có từ thời vua Thành Thái sao? Mà các ông lại đi thảo luận cùng cha Thanh để đồng ý mẫu cờ do cha Thanh đề nghị để họa sĩ TTS vẽ.
- TS Nguyễn Đình Sài có viết là không tìm thấy trong sách Lịch Sử VN nào nói về Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã được dùng trong thời vua Thành Thái, nhưng ông tin vào uy tín và sự chân thật của ông Ben Cahoon, chủ của website World Statemen – trong đó Ben Cahoon cho rằng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã là Quốc Kỳ Việt Nam từ 1890-1920 (?) – để kết luận rằng điều này “khả tín”.
- TS Nguyễn Đình Sài cũng có nêu là: “Tuy nhiên, nếu độc giả không thỏa mãn với tài liệu của World Statesmen thì nên trích dẫn tài liệu phản bác lại”.
- Vì cuốn Câu Chuyện của Những Cây Đại Thụ” là sách in giới hạn, lưu hành nội bộ trong DCCT.VN, nên không được nhiều độc giã biết.
- Quý Vị có cách nào giúp tôi chuyển bài viết này đến cho TS Nguyễn Đình Sài như là một “tài liệu phản bác lại” được không?

PHẠM XUÂN HƯƠNG
Hoàng Nam  
#5586 Posted : Saturday, January 31, 2015 8:32:57 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,612

Thanks: 744 times
Was thanked: 262 time(s) in 197 post(s)


Lời Nói Bay Đi, Văn Tự Còn Mãi


31/01/201500:00:00(Xem: 368)
Đoàn Thanh Liêm

Nhan đề của bài viết này gồm 8 chữ, đó là tôi phỏng dịch từ một câu ngạn ngữ thông dụng đã trên 2,000 năm của người La mã, nguyên văn tiếng La tinh chỉ gồm có 4 chữ như sau: “Verba volant, scripta manent”. Câu này được dịch ra tiếng Anh là: “Spoken words fly away, written words remain”.

Ở Việt nam ta, thì từ xưa dân gian vẫn nói: “Khẩu thuyết vô bằng” tức là lời nói bằng miệng không thể nào được coi là bằng chứng được. Còn về chữ viết, thì cũng có câu: “Bút sa, gà chết” – tức là văn tự với chữ ký thì đã thành một chứng cứ để mà quy trách nhiệm rõ ràng rồi.

Nhà thơ Tú Xương, thì ngay từ đầu thế kỷ XX cụ đã cảnh giác người đời qua câu văn đày tính chất trào lộng như sau:

“Văn chương đâu phải là đơn thuốc,
Chớ có khuyên xằng – chết bỏ bu”.

Ngày nay, với sự phổ biến của sách báo, của truyền thanh truyền hình và nhất là của Internet – thì thông tin và kiến thức được phơi bày truyền đạt vừa mau chóng vừa rộng rãi ở khắp nơi mọi lúc. Đó là một sự thuận lợi có khả năng giúp cho cuộc sống con người mỗi ngày thêm phong phú, tốt đẹp hơn mãi. Tuy vậy, cũng vẫn có mặt trái của nó là đối với người có dã tâm độc ác, thì lúc nào họ cũng có thể sử dụng lời nói, chữ viết để gây tai họa cho bao nhiêu người khác. Ta sẽ bàn thảo cặn kẽ về khía cạnh tiêu cực này trong các mục sau đây.

I – Thủ đọan tuyên truyền dối trá mê hoặc của những chế độ độc tài chuyên chế.

Trong thế kỷ XX, trên thế giới có hai chế độ độc tài khét tiếng đã gây ra sự thảm sát của hàng trăm triệu con người. Đó là chế độ độc tài Phát xít Đức quốc xã và chế độ độc tài Cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Cả hai chế độ này đều sử dụng thủ đọan truyên truyền dối trá, bóp méo sự thật để lừa bịp người dân – và họ đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác, nạn đói khổ, tù tội, kể cả chiến tranh bạo lực. Chuyện này sử sách với đày đủ số liệu thống kê đã được ghi lại quá sức đày đủ rồi, ta khỏi cần nhắc lại ở đây nữa.

Mà tôi chỉ muốn ghi ra một số tài liệu điển hình tiêu biểu của chiến dịch tuyên truyền do các chế độ độc tài phát động trên thế giới trong thế kỷ XX. Và sau đó, sẽ nói về chuyện ở Việt nam.

1 – Cuốn sách được coi là nguy hiểm nhất: Sách “Mein Kampf” của Hitler.

Cuốn sách này với nhan đề là “Cuộc chiến đấu của tôi” do Hitler viết vào năm 1923 và sau này khi ông ta nắm được chính quyền trong tay từ năm 1933, thì được in ra đến hàng nhiều triệu bản để phổ biến rộng rãi ở khắp nước Đức. Nội dung để đề cao tính ưu việt của dòng giống thuần chủng Aryan của dân tộc Đức và chủ trương diệt trừ người Do Thái. Tính cách khích động quá khích của cuốn sách là nguyên nhân gây ra cuộc tàn sát đến 5 triệu người Do Thái ở Âu châu và còn gây ra đại thế chiến 1939 – 1945 nữa.

Sau khi Hitler chết và nước Đức bại trận, thì cuốn sách này bị cấm lưu hành. Nhưng vào cuối năm 2015 này, thì lệnh cấm này hết hiệu lực và hiện có dư luận cho rằng cuốn sách nguy hiểm này có thể tái xuất hiện và gây ra những xáo trộn, đặc biệt là do nhóm Tân Phát Xít ở Đức và Âu châu có thể dựa vào tài liệu này để xúi bảy những hành động liều lĩnh đem lại sự nguy hại khó lường cho xã hội.

2 – Tài liệu tuyên truyền dối trá khủng khiếp của chế độ độc tài Cộng sản.

Từ khi chế độ cộng sản bị xụp đổ ở Đông Âu và sự tan rã của Liên Bang Xô Viết từ năm 1989, thì người ta đã giải mật bao nhiêu tài liệu được giấu kín suốt bao nhiêu năm đảng cộng sản nắm giữ quyền bính tại các quốc gia này. Các tài liệu được bạch hóa này đã phơi bày thật rõ ràng tính cách dối trá và tàn bạo độc ác của giới lãnh đạo sắt máu từ Lenin, Stalin, Mao trở xuống cho đến hàng trăm hàng ngàn những lãnh tụ cộng sản khác.

Chỉ cần ghi lại một tội ác động trời này, đó là vào năm 1939 Liên Xô đã toa rập với Đức quốc xã để xâm chiếm Ba Lan. Hồng quân Liên Xô bắt giữ rất nhiều sĩ quan cao cấp của Ba Lan và ra tay hạ sát trên 20,000 sĩ quan của Ba Lan vào năm 1940 tại khu vực rừng Katyn trong nội địa nước Nga. Ấy thế mà suốt bao nhiêu năm, Liên Xô lại đổ vấy cho quân đội Đức Quốc Xã đã tàn sát số sĩ quan Ba Lan đó. Mãi gần đây, vào năm 1990, thì phía nước Nga mới phải công nhận việc tàn sát đó là do lệnh của Stalin với cả bản văn có chữ ký của nhà lãnh tụ Liên Xô hồi đó nữa. Và nước Nga đã phải chính thức lên tiếng xin lỗi Ba Lan về hành động tàn ác man rợ này đã xảy ra từ 50 năm trước.

Nhân tiện, cũng nên nói qua về phong trào tự phát của nhiều nơi trong các nước thuộc Liên Xô trước đây để tìm lại tông tích của những nạn nhân bị sát hại trong các trại tù cộng sản – để con cháu các nạn nhân này biết được cha ông mình đã bị đối xử tàn tệ ra sao. Và còn để lập những bia Tưởng niệm những nạn nhân đó tại các địa phương là quê quán của họ nữa. Phong trào này có tên chung là Memorial Foundation, hiện vẫn còn họat động mặc dù bị nhóm cựu đảng viên cộng sản ở Nga tìm mọi cách ngăn cản.

II – Còn những chuyện trái khoáy lố bịch của cộng sản ở Việt nam thì sao?

Sau 70 năm cầm quyền với cuộc chiến tranh liên miên rồi đến chế độ độc tài chuyên chế tòan trị, đảng cộng sản đã và đang để lại một dấu ấn thật ảm đạm đau buồn trên đất nước ta. Bao nhiêu sách báo, văn kiện nội bộ của đảng cộng sản, v.v... đã ghi lại rõ ràng đường lối chính sách tàn bạo, dối trá của người cộng sản đối với dân tộc ta suốt từ năm 1945 tới nay. Ở đây, chỉ cần ghi ra vài tài liệu của chính nhân vật lãnh đạo chóp bu mà người cộng sản vẫn thần thánh hóa và tôn vinh là “cha già dân tộc”.

1 – Hai cuốn sách do chính Hồ Chí Minh viết mà lại ký tên khác.

Ngay trong thời kháng chiến chống Pháp vào cuối thập niên 1940, mà Hồ chí Minh đã cho xuất bản một cuốn có nhan đề là “Những mẩu chuyện về đời họat động của Hồ Chủ Tịch” với bút danh là Trần Dân Tiên.

Và vào năm 1963, thì lại cho xuất bản cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” với bút danh là T. Lan. Cả hai cuốn sách này đều nhằm đề cao tài trí và sự hy sinh của người lãnh đạo cộng sản cho sự nghiệp tranh đấu cho độc lập và chủ quyền của dân tộc Việt nam. Lại còn có cả bản dịch sang tiếng Hoa, Nga, Pháp, v.v... nữa.

Có thể nói Hồ Chí Minh là người họat động chính trị duy nhất trên thế giới mà lại đứng ra viết sách để tự ca tụng mình. Thật là điều lố bịch hết chỗ nói mà bây giờ các hậu duệ của ông ta thật khó lòng tiếp tục tôn vinh ông ta qua cái hành động kỳ quái này vậy.

2 – Bức thư Hồ Chí Minh gửi Stalin năm 1952 kèm theo bản Đề cương về Chính sách Cải Cách Ruộng Đất. (Phóng ảnh tài liệu này đã được in trong Phần Phụ Lục của cuốn chuyện có nhan đề là “Ngày Long Trời, Đêm Lở Đất” của tác giả Trần Thế Nhân được xuất bản tại hải ngọai gần đây)

Năm 1952 cũng trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, thì Hồ Chí Minh có gửi một bức thư viết bằng tiếng Nga cho đàn anh Stalin kèm theo bản Đề cương về Chính sách Cải Cách Ruộng Đất do Đảng Cộng sản Việt nam sọan thảo với sự cố vấn của lãnh tụ Trung quốc là Lưu Thiếu Kỳ. Lá thư này chủ ý đệ trình lên Stalin để xin ông ta chấp thuận duyệt y cho bản Đề cương về CCRĐ do Đảng Cộng sản Việt nam sọan thảo. Và sau đó, kể từ năm 1953, chính quyền Cộng sản Việt nam đã cho phát động cả một chiến dịch sắt máu tàn bạo theo sự chỉ đạo của các cố vấn Trung quốc khiến gây ra bao nhiêu sự chết chóc, đau thương thống khổ cho hàng bao nhiêu vạn gia đình nông dân trong khu vực miền Bắc Việt nam.

Tài liệu này chứng tỏ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt nam đã hành động hòan tòan theo sự chỉ đạo và yểm trợ của Liên Xô, Trung cộng để gây ra thảm họa cực kỳ man rợ trên đất nước ta từ bao nhiêu năm qua.

3 – Bài báo “Địa chủ ác ghê” ký tên tắt là C.B tức là Của Bác = Bác Hồ.

Cũng vào năm 1953, lúc phát động chiến dịch Cải cách Ruộng đất với việc bắn chết bà Nguyễn Thị Năm tự Cát Hanh Long, thì xuất hiện bài báo đăng trên tờ Nhân Dân có nhan đề là “Địa chủ ác ghê” với bút hiệu viết tắt là C.B. Đó là bút hiệu của Hồ Chí Minh, C.B = Của Bác, tức là của Bác Hồ. Sau này, có một số cán bộ tìm cách chạy tội cho ông Hồ bằng cách đưa ra lý giải rằng “Bác không muốn khởi đầu chiến dịch CCRĐ bằng việc xử bắn một phụ nữ. Mà đó là do áp lực của Trung quốc, v.v…” Nhưng mà bài báo ký tên C.B, thì ghi rõ những “tội ác của bà Nguyễn Thị Năm” để mà khêu gợi lòng hận thù đối với địa chủ. Vậy thì làm sao mà biện minh cho lập trường nhân ái khoan hồng của ông Hồ trong việc này được?

Trong cuốn “Đèn Cù” mới xuất bản năm 2014 của tác giả Trần Đĩnh, thì cũng có đọan ghi rằng: “Trong vụ xử bà Năm, ông Hồ lấy khăn bịt bộ râu đi, còn ông Trường Chinh thì đeo kính đen – để trà trộn vào đám đông mà theo dõi vụ xét xử đấu tố điển hình này...”

** Nói vắn tắt lại, thì giới lãnh đạo cộng sản Việt nam đã thi hành đúng theo sự chỉ đạo của Liên Xô, Trung Cộng để áp đặt chế độ độc tài chuyên chế toàn trị trên đất nước ta ngay từ năm 1945 lúc họ nắm giữ được quyền bính trong tay của mình. Và đó là căn nguyên chính yếu của mọi nỗi đau thương thống khổ tột cùng cho dân tộc Việt nam chúng ta suốt 70 năm qua.

Trong suốt 70 năm đó, giới nghiên cứu lịch sử ở nước ta đã có thể thu thập tích lũy được cả một kho tài liệu đồ sộ về những tội ác dã man tàn tệ mà đảng cộng sản đã gây ra trên quê hương ta. Đó là những tội ác mà “Trời không dung, Đất không tha”. Và đó cũng là một vết nhơ không thể nào mà tảy rửa được của tập đòan những kẻ ác nhân thất đức đang nắm quyền thống trị trên đất nước ta hiện nay vậy./

Costa Mesa California, Tháng Giêng 2015
Đoàn Thanh Liêm
hongvulannhi  
#5587 Posted : Sunday, February 1, 2015 12:32:36 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,133

Thanks: 1941 times
Was thanked: 4400 time(s) in 2742 post(s)

Quan điểm của một người vô thần: Tại sao Hồi Giáo
lại bạo động hơn Kitô Giáo


Vũ Van An
1/31/2015

Nhiều người đã viết về Hồi Giáo, kể từ ngày có Mùa Xuân Ả Rập. Nhưng ít có ai so sánh tôn giáo này với các tôn giáo khác. Robert Traciski, một bỉnh bút của tờ The Federalist, và là chủ bút của Traciski Letter, có khác. Ông là một người vô thần, không tin có Thiên Chúa, nhưng nhân biến cố Charlie Bebdo ở Paris, ông có so sánh sau đây giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo về phương diện bạo lực.

Vụ thảm sát ở tòa soạn tờ Charlie Hebdo một lần nữa khiến các chính trị gia và giới truyền thông điên đầu quanh câu hỏi có chăng một điều gì đó khá đặc biệt nơi tôn giáo đặc thù là Hồi Giáo này khiến cho các tín đồ của họ quay cuồng tìm giết người khác.

Giữa những giới lịch thiệp, khó chấp nhận việc có thể có thứ khả hữu trên. Những người này vốn cho, như tờ New York Times, rằng “Hồi Giáo, tự thân nó, không bạo động hơn các tôn giáo khác”. Điều này có điểm dễ hiểu, bởi chủ đích bài báo là muốn chứng tỏ rằng người Hồi Giáo tại Trung Đông đang sầu khổ về di sản bạo động trong tôn giáo của họ.

Đã đành, mọi tôn giáo chính đều có những thời kỳ bạo động, hay những thời kỳ trong đó, tôn giáo sống chung với bạo lực. Cả những người Phật Giáo chủ hòa cũng thế thôi. Ai cũng thấy, hiện nay, người Phật Giáo đang “lên men” cho những vụ tàn sát chống người Hồi Giáo thiểu số tại Miến Điện (và tại Sri Lanka).

Nhưng trong bối cảnh ngày nay, quả là phi lý khi đặt Hồi Giáo và Kitô Giáo ngang hàng với nhau. Nói tới Toà Trừng Giới (Inquisition) Tây Ban Nha chỉ là xác nhận điều vừa nói, chứ không bác bỏ nó: vì nếu bạn phải trở về với 300 năm trước mới tìm ra các tàn bạo, thì chính là vì ngày nay các tàn bạo ấy khó kiếm ra. Trái lại, các tội ác quần chúng vi phạm nhân danh Hồi Giáo thì rất mới và công khai được tự hào.

Là một người vô thần, tôi không hề có thần thánh trong cuộc đấu tranh này, có thể nói như thế. Tôi không cho rằng các dị biệt giữa các tôn giáo khiến tôn giáo này giá trị hơn tôn giáo kia. Nhưng như vụ tấn công Charlie Hebdo cho thấy, quả có sự dị biệt thực tế rất lớn giữa các tôn giáo này. Thực thế, luận điểm tốt nhất chống lại việc đặt Hồi Giáo và Kitô Giáo ngang hàng nhau là: không ai hành động, dù xa xôi nhất, như thể điều này đúng. Ta được tự do phê phán và xúc phạm các Kitô hữu không cần đắn đo suy nghĩ, xin cám ơn các bạn, đã tỏ ra “cool” (bình thản) như thế, nhưng nói ngược lại người Hồi Giáo thì phải có can đảm mới được. Phải can đảm hơn nhiều người duy tục tại Tây Phương có thể nghĩ tưởng.

Thành thử, người ta thấy cần đặt câu hỏi: điểm khác nhau là đâu? Nguyên nhân gốc gác của nó là gì?

Theo tôi thấy, mối nguy hiểm chính do bất cứ tôn giáo nào gây ra cho những người bất đồng và không tin hệ ở việc bác bỏ lý lẽ; sự bác bỏ này cắt đứt khả thể thảo luận và tranh luận, chỉ còn chừa chỗ cho cưỡng bức như một giải pháp thay thế mà thôi. Tôi đồng ý với Voltaire ở điểm này: “Nếu ta tin những điều phi lý, ta sẽ phạm những điều tàn bạo”. Nhưng mọi tôn giáo đều khác nhau và có những giáo thuyết khác nhau từng lên khuôn cho lịch sử của mình, và như ta sẽ thấy, điều này bao gồm nhiều quan điểm khác nhau về những vấn đề nòng cốt như là vai trò của lý lẽ và sự thuyết phục.

Tôi muốn mở đầu bằng việc thú thực rằng tôi không phải là một chuyên viên về thần học, nhất là thần học Hồi Giáo. Ấy thế nhưng, hiện có một số dị biệt lớn lao, có tài liệu đàng hoàng, giữa Kitô Giáo và Hồi Giáo, tìm thấy ngay trong các truyền thống do lịch sử của họ tạo nên và trong chính nội dung giáo thuyết thực sự của họ.

Đời sống Đức Kitô và đời sống Mohammed

Mohammed là một người chinh phục đã chiếm được quyền hành chính trị thế tục và sử dụng quyền hành này để bách hại những kẻ chống đối và để áp đặt tôn giáo của mình. Ông cũng thụ hưởng trọn vẹn bổng lộc trần thế của các bạo chúa, trong đó có việc có nhiều vợ. Trái lại, Đức Giêsu, trong căn bản, là một vị chủ hòa mà trọn mục tiêu ở đời là để mình bị tra tấn cho đến chết.

Người còn minh nhiên ngăn cấm đồ đệ không được dùng vũ lực để bảo vệ Người. Đây là chương 18 Tin Mừng Gioan: “Lúc ấy Simôn Phêrô tuốt kiếm, đâm vào viên đầy tớ của thượng tế, và cắt đứt một tai của anh ta… Đức Giêsu bèn nói với Phêrô: ‘xỏ gươm của người vào vỏ: chén đắng mà Cha Ta trao cho Ta, há Ta lại không uống hay sao?”

Điều trên không hàm ý cho rằng mọi Kitô hữu phải là người chủ hòa. Nhưng chắc một điều: nó lên cung giọng cho tôn giáo của họ. Cuộc đời của vị sáng lập một tôn giáo vốn được nêu cao cho các tín hữu làm mẫu mực giúp họ sống cuộc sống riêng của họ. Cuộc đời của Mohammed nói với người Hồi Giáo rằng họ nên mong chờ được thống trị, trong khi cuộc đời Chúa Giêsu dạy các Kitô hữu rằng họ nên mong được hy sinh và phục vụ. Điều này dẫn ta tới một khác biệt sâu xa hơn về giáo thuyết.

“Điều các con làm cho người bé nhỏ nhất trong những người này là các con làm cho Thầy”

Trong Mátthêu, chương 25, Đức Kitô cho các tín đồ hay điều gì sẽ xẩy ra vào ngày phán xét sau cùng, lúc Người phân rẽ kẻ chính trực khỏi người xấu xa.

Lúc ấy Vua nói với những người ở bên tay phải “hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, để hưởng vương quốc đã chuẩn bị sẵn cho các con từ lúc tạo nền thế giới: vì khi Ta là người đói ăn, các con đã cho ta thịt; khi Ta khát, các con đã cho Ta uống; Ta là khách lạ, các con đã đón tiếp Ta; Ta trần truồng, các con đã cho ta mặc; Ta ốm đau, các con đã thăm viếng Ta; Ta ngồi tù, các con đã đến với Ta”.

Lúc ấy những người chính trực thưa lại rằng “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho Chúa ăn đâu? Hay khát mà cho Chúa uống? Có bao giờ chúng con thấy Chúa là khách lạ mà đón tiếp Chúa hay trần truồng mà cho Chúa mặc đâu? Hay có bao giờ chúng con thấy Chúa ốm đau, ngồi tù mà tới viếng thăm Chúa đâu?”

Và Vua trả lời mà nói với họ: “Quả thực, Ta nói với các con, bao lâu các con làm điều ấy cho một người bé nhỏ nhất trong các anh em Ta đây, là các con làm cho Ta”.

Cũng thế, có một đoạn trong Bữa Tối Sau Hết, lúc các tông đồ đang cãi nhau xem ai là người lớn nhất. Đức Kitô đã can thiệp và cho họ hay kẻ lớn nhất là kẻ phục vụ người khác nhiều nhất.

Và Người nói với họ: “Các vua chúa của Dân Ngoại thi hành quyền chúa thượng trên họ; và những người thi hành quyền bính trên họ được gọi là những ân nhân của họ. Nhưng các con không nên như thế: mà kẻ lớn nhất trong các con hãy là người chót hết; kẻ là chỉ huy hãy là người phục vụ”.

Đó là ý tưởng rất sâu sắc chống lại xu hướng của phần lớn lịch sử con người. Tôi vốn là người hâm mộ thế giới Cổ Điển, nhưng những người ngoại đạo vẫn còn coi là bình thường, đúng đắn và tự nhiên khi kẻ mạnh về thể lý ra lệnh cho mọi người khác. Thucydides từng nổi tiếng khi tóm lược thứ triết lý này trong Đối Thoại Melian (Melian Dialogue): “Kẻ mạnh muốn làm gì thì làm còn kẻ yếu chịu đựng điều phải chịu đựng”. Thucydides rõ ràng chỉ trích quan điểm này, nhưng thế giới Cổ Điển không có được một giải pháp thay thế rõ rệt. Như chỗ tôi được biết, Đức Kitô là người đầu tiên nhấn mạnh rằng ngay người thấp hèn nhất, kém ý nghĩa nhất cũng có giá trị và ta sẽ bị phán xử tùy theo cách ta cư xử với họ.

Ý tưởng khác biệt ở đây không hẳn là tin vào sự tự hy sinh, Hồi Giáo, với việc nó nhấn mạnh tới vinh quang được chết trong chiến đấu, cũng có ý tưởng này cách hết sức dồi dào. Nó cũng không hẳn là ý tưởng về việc phục vụ người khác, các chế độ Cộng Sản cũng được xây dựng trên ý tưởng cho rằng cá nhân hiện hữu chỉ để phục vụ tập thể. Thực ra, nó là ý tưởng cho rằng mỗi cá nhân đều có một giá trị tối cao và thánh thiêng. Ngay Ayn Rand cũng phải thừa nhận rằng ý tưởng phát xuất từ Kitô Giáo này gây ấn tượng nơi bà hơn cả.

Hồi Giáo không hề có ý tưởng nào tương ứng. Tin tức thường xuyên kể cho ta nghe câu truyện của một imam (giáo sĩ?) tại một nơi nào đó tuyên bố rằng việc một người đàn ông đánh vợ hoàn toàn nhất quán với Hồi Giáo, và việc nổi dậy của Nhà Nước Hồi Giáo Trị tại Syria cung cấp cho ta thật nhiều điển hình của việc Hồi Giáo ủng hộ chế độ nô lệ, trong đó có cả việc bắt giam và cưỡng hiếp có hệ thống các nô lệ tình dục. Đây là một tôn giáo vẫn còn quanh quẩn nhiều trong kiểu thức “quyền của kẻ chiến thắng”, trong đó, kẻ mạnh muốn làm gì thì làm còn kẻ yếu phải chịu những gì họ phải chịu.

Một lần nữa, điều trên khiến ta phải lui trở lại thuở ban đầu. Hãy đọc câu truyện của nhà viết tiểu sử đầu tiên về Mohammed, nói về Asma bint Marwan, một thi sĩ Ả Rập ở Medinah, người từng lên tiếng phải đối cuộc nổi dậy của Mohammed. Theo truyền thuyết, ông ta hỏi các tín đồ, “ai sẽ loại con gái của Marwan khỏi ta?” (một dịch bản của Henry II sau này: “ai sẽ loại tên linh mục hay quấy rầy này khỏi ta?”). Một trong các tín đồ này tình nguyện lẻn vào nhà nàng và sát hại nàng lúc nàng đang ngủ. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra liên quan tới tính chân thực của câu truyện, nhưng nguyên sự kiện nó được nhiều người tin và tường thuật lại đủ chứng tỏ gương xấu do Mohammed tạo nên.

Chắc một điều, thái độ tàn bạo này một phần do tính lạc hậu của một số xã hội bán phong kiến mà đa số theo Hồi Giáo, trong đó, các chia rẽ bộ tộc và đẳng cấp hết sức thịnh hành. Nhưng một lần nữa, Hồi Giáo đã không làm gì nhiều để thăng tiến các xã hội này, dù họ có cả hơn một nghìn năm để làm việc đó.

Lịch sử sơ khai của Kitô Giáo và Hồi Giáo

Các Kitô hữu khởi đầu như một thiểu số bị bách hại trong một xã hội ngoại giáo đến nỗi họ cảm thấy được an ủi khi thấy mình vô quyền. Những người thấy mình lạc điệu với thế giới tội lỗi coi việc này ít nhiều là trạng thái thông thường của thế sự.

Trái lại, lịch sử sơ khai của Hồi Giáo chỉ là chiến thắng và thống trị nhiều hơn, khi quân xâm lăng Hồi Giáo tiến vào Ba Tư và khắp Bắc Phi. Đó là lý do tại sao người Hồi Giáo có khuynh hướng coi tình thế hiện đại, trong đó các tín ngưỡng và hệ thống chính trị khác giầu có hơn họ và vận dụng một sức mạnh quân sự lớn hơn họ, như một thứ sai lệch không thể dung tha được. Lịch sử này liên hệ tới một vấn đề chuyên biệt về giáo thuyết.

Nước Thiên Chúa và nước con người

Khi bạn là thiểu số bị bách hại, tự nhiên bạn sẽ nói rằng phần thưởng tối hậu và công lý toàn diện phải được tìm thấy trong một thế giới khác, vì biết rằng bạn sẽ không có được những thứ ấy nơi cái đế quốc sa đoạ là Đế Quốc Rôma này. Trong Kitô Giáo, điều này khiến tạo ra sự phân biệt giữa Nước Thiên Chúa và nước con người. Khi Philatô hỏi Người có phải là vua không, Đức Giêsu trả lời: “Nước tôi không thuộc thế gian này: nếu nước tôi thuộc thế gian này, thì các bề tôi của tôi sẽ chiến đấu để tôi khỏi bị nộp cho người Do Thái: nhưng nước tôi không thuộc thế gian này”.

Ý tưởng trên đã được khai triển rộng dài trong nền thần học Kitô Giáo và được phần lớn những người bảo thủ về tôn giáo ngày nay lấy làm lời giải thích chính cho sự thất bại của chủ nghĩa Cộng Sản và các ý đồ không tưởng khác: chúng là những ý đồ ngạo mạn, sai lạc muốn tạo một thiên đàng trên trái đất. Hoặc nếu bạn là người thích dùng những từ ngữ dài và tối tăm không cần thiết, bạn có thể nói đây là các ý đồ nhằm “nội tại hóa cánh chung” (immanentize the eschaton).

Ý tưởng ở đây là: vì con người không có khả năng đạt tới trật tự thánh thiêng tối hậu cho sự vật trần gian, nên các cố gắng trong lãnh vực này chỉ là rồ dại.

Nhưng khi đấng tiên tri của bạn là một nhà độc tài, bạn sẽ bị cám dỗ hơn để nghĩ rằng mình chỉ cần truyền lệnh là sẽ có một xã hội hoàn hảo. Bởi thế, người Hồi Giáo mới bị ám ảnh bởi việc tạo ra một Nhà Nước Hồi Giáo Trị tinh ròng, thường là với một phân bộ đặc biệt gồm những người nhiệt thành tự gọi mình như một thứ Bộ Cổ Vũ Nhân Đức và Phòng Ngừa Thói Hư, mà công việc chính là áp đặt một danh sách dài các ngăn cấm tôn giáo chen vào đời tư người ta. Nhà Nước Hồi Giáo Trị chính là nước Thiên Chúa được đem xuống trần gian, một phương thức hoàn toàn bị thần học Kitô Giáo bác bỏ.

Các vai trò khác nhau của “falsafa”

Có một di sản quan trọng khác trong lịch sử sơ khai của Kitô Giáo giữa lòng dân ngoại. Trong trường hợp này, không phải là phản ứng chống lại qui luật ngoại giáo, nhưng là tiếp nhận một phần ảnh hưởng Cổ Điển.

Kitô Giáo đã bén rễ nơi nhiều người Hy Lạp và La Mã từng tắm gội trong truyền thống triết học Cổ Điển, và việc này để lại nhiều dấu ấn. Vị giáo hoàng nay đã về hưu, Bênêđíctô XVI, người mà ngay lúc này đây tôi rất nhớ, đã dùng điều này làm điểm chính trong bài diễn văn quan trọng đọc năm 2006 tại Đại Học Regensburg, trong đó, ngài nói tới mối liên hệ giữa Kitô Giáo và Hồi Giáo. Ngài lập luận rằng “di sản Hy Lạp đã được gạn lọc một cách có phê phán đã tạo nên một phần yếu tính của đức tin Kitô Giáo” và ngài bênh vực việc “Hy Lạp hóa” Kitô Giáo về văn hóa (hellenization). Trong Kitô Giáo sơ khai, người ta đã tranh cãi nhiều về vấn đề này: Tertullian từng đặt câu hỏi: “Athens ăn nhập gì với Giêrusalem?”, và thoạt đầu, phe chống Cổ Điển đã thắng. Nhưng các tranh cãi buổi sơ khai này đã giúp Kitô Giáo dễ dàng tái hội nhập các ý niệm Cổ Điển vào cuối thời Trung Cổ và thời Phục Hưng.

Hồi Giáo đi theo một tiến độ ngược chiều. Nó cũng gặp nền khoa học và triết học Cổ Điển, mà tiếng Ả Rập gọi là “falsafa”, thời nó đi chinh phục các nước ở Địa Trung Hải, và thế giới Hồi Giáo cũng đã sản xuất ra các nhà khoa học và triết học vĩ đại từng chịu ảnh hưởng các ý tưởng của người Hy Lạp, trong đó có ibn Sina (Avicenna) tại Ba Tư và ibn Rushd (Averroes) tại Tây Ban Nha Hồi Giáo. Nhưng tới thời Trung Cổ, đúng lúc Tây Phương đang tái khám phá ra triết học Cổ Điển, thì thế giới Hồi Giáo đi khai trừ nó. Người ta thường gán lỗi này cho nhà thần học al-Ghazali, người từng tố cáo “sự thiếu mạch lạc của các triết gia”, khiến các nhà thần học Hồi Giáo bác bỏ ảnh hưởng Cổ Điển, coi nó như không đi đối với đức tin. Hậu quả là: Hồi Giáo dành rất ít chỗ cho việc thảo luận và tranh luận triết học về ý nghĩa của tôn giáo.

Một lần nữa, lịch sử trên cũng liên hệ với một vấn đề sâu xa hơn về giáo thuyết.

Thiên Chúa có hữu lý không?

Đây là vấn đề được Đức Bênêđíctô tập chú trong bài diễn văn Regensburg của ngài. Ngài đã trích dẫn một cách tán thành cuộc đối thoại trong đó một trong các hoàng đế Byzantine tranh luận với một người Hồi Giáo và lập luận rằng trong thần học Kitô Giáo, Thiên Chúa là Đấng hữu lý: Người hành động phù hợp với lý lẽ và ta có thể dùng lý lẽ mà hiểu được Người. Ngài trích dẫn một đoạn Thánh Kinh nói Thiên Chúa là “Logos”, mà trong tiếng Hy Lạp, vừa có nghĩa là “lời” vừa có nghĩa là “lý lẽ”, như trong câu nói “thế giới phát sinh từ lý lẽ” để chỉ thần trí sinh lực hóa công trình sáng thế của Thiên Chúa.

Hồi Giáo bác bỏ quan điểm này. Al-Ghazali bác bỏ luôn cả định luật nhân quả. Thiên Chúa của người Hồi Giáo không thiết lập ra các định luật trong thiên nhiên rồi để chúng tự hoạt động. Người đích thân can thiệp vào việc tạo nguyên nhân cho mọi biến cố tự nhiên bằng một hành vi ý chí trực tiếp. Do đó, al-Ghazali nhấn mạnh rằng khi một cục bông gòn được liệng vào lửa, lửa không đốt cháy cục bông gòn này. Thay vào đó, “khi lửa và bông gòn tiếp xúc với nhau, bông gòn bị Thiên Chúa đốt cháy, chứ không phải lửa”.

Nếu bạn cho rằng điều trên chỉ là lịch sử rất xưa, thời Trung Cổ, thì xin bạn hãy xét việc này: tại Pakistan, trong thập niên 1980, có một cuộc tranh cãi, trong đó, người duy Hồi Giáo nhấn mạnh rằng các sách giáo khoa về hóa học phải nói rằng khi phối hợp hydrogen và oxygen, thì lúc ấy do ý muốn của Allah, nước đã được tạo ra, hoàn toàn mượn công thức của al-Ghazali. Việc bác bỏ các định luật khoa học và lý lẽ trần tục đã được hệ thống hóa trong Hồi Giáo từ rất lâu, và những người dám bước ra ngoài thứ chính thống này tiếp tục bị trừng trị, như đã thấy trong việc Pakistan bác bỏ một trong những nhà vật lý học lỗi lạc nhất của họ.

Tất cả các điều trên có nhiều hệ luận đối với việc đương đầu với bất đồng và liệu bạn có nghĩ tôn giáo là chủ đề có thể được tranh luận hay không. Vị hoàng đế Byzantine, được Đức Bênêđíctô trích dẫn, lập luận rằng “bất cứ ai muốn dẫn người ta tới đức tin cần phải có khả năng nói hay và lý luận thích đáng, không dùng tới bạo lực và đe dọa”. Đức Bênêđíctô thêm vào câu này mấy lời sau: “câu tuyên bố dứt khoát trong luận điểm chống việc dùng bạo lực buộc người ta trở lại là: hành động không phù hợp với lý lẽ là chống lại bản tính Thiên Chúa”. Ngược lại, nếu lý lẽ tự nó lạc giáo, thì tại sao người ta lại phải chấp nhận các luận điểm và tranh luận triết học của bạn?

Luật đời và luật Sharia

Các khác biệt giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo không phải chỉ là về các luật tự nhiên. Còn có những khác biệt về luật lệ dành cho con người nữa.

Kitô Giáo có luật tôn giáo riêng, do Môsê đặt để trong Cựu Ước, dù phần lớn đã được Đức Kitô duyệt lại. Nhưng Kitô Giáo cũng có một truyền thống lâu dài sống chung với nhiều hệ thống luật đời. Việc này phát sinh từ bối cảnh La Mã, trong đó, hệ thống luật La Mã đã có từ lâu, mà Kitô Giáo không hề có ý định bãi bỏ. Theo tôi, điều này cho thấy ý nghĩa lời Đức Kitô dạy “hãy trả cho Xêda những gì của Xêda”. Bởi thế, ý tưởng coi tôn giáo là nguồn duy nhất của luật lệ không thành nề nếp trong Kitô Giáo. Hay nói chính xác hơn, tôn giáo được coi là nguồn các nguyên tắc luân lý tổng quát, nhưng người ta được thong thả tranh luận về ý nghĩa của các nguyên tắc này và diễn dịch chúng thành những luật lệ chuyên biệt.

Ngược lại, Hồi Giáo không dành chỗ cho bất cứ luật lệ nào nếu không phải là luật lệ giả thiết đã được mạc khải cho Mohammed, và đó là nguồn của không biết bao nhiêu rắc rối. Luận điểm minh nhiên của các nhà duy Hồi Giáo nhằm chống lại các chính phủ dân cử là lời than phiền cho rằng luật lệ do người ta bỏ phiếu là luật lệ do con người tạo ra, trong khi Thiên Chúa mới là đấng duy nhất có thể làm ra luật lệ. Tương tự như thế, một trong các vấn đề tranh cãi chính trong các chính phủ mới được thành lập tại khắp Trung Đông, từ Afghanistan và Iraq, cho tới Ai Cập, Tunisia và Libya, là câu hỏi liệu có nên xác định Hồi Giáo là nguồn độc nhất của luật pháp hay không. Rồi có Saudi Arabia, nơi Kinh Koran được dùng làm hiến pháp.

Nhưng điều thực đáng ta lưu ý là tính cụ thể của luật pháp Hồi Giáo. Như thường được giải thích, Sharia không phải là một bộ nguyên tắc tổng quát dành chỗ cho phán đoán cá nhân khi áp dụng chúng. Nó là một bộ các đòi hỏi và cấm đoán cực kỳ chi tiết và chuyên biệt. Đó là lý do tại sao ta thấy các giáo sĩ Hồi Giáo được yêu cầu ban hành các “fatwas” (hình phạt) trên mọi điều vụn vặt dưới bầu trời này, từ túc cầu tới những cô gái nghịch ngợm giống con trai (tomboys), Mickey Mouse; những “fatwas” này đôi khi dẫn tới những hậu quả hết sức dị thường.

Như nhà Hồi Giáo Học người Anh, Anjem Choudary, giải thích, “Hồi Giáo không nhằm hòa bình mà đúng hơn sự tùng phục các giới điều của một mình Allah mà thôi. Cho nên, người Hồi Giáo không tin các ý niệm tự do phát biểu, vì ngôn từ và hành động của họ được ấn định bởi mạc khải thần linh chứ không dựa vào ước muốn con người ta”. Hãy lưu ý tới việc nó tuyệt đối ra sao: mọi sự đều được mạc khải ấn định, rất ít chỗ được dành cho chọn lựa cá nhân. Thành thử không ngạc nhiên gì khi nó được sử dụng như một loại giấy phép để cưỡng bức vô giới hạn.

Bản chất cụ thể của luật Hồi Giáo và việc nó hạ giá phán đoán cá nhân phản ảnh một khía cạnh sâu xa hơn về sự dị biệt giữa Kitô Giáo và Hồi Giáo.

Chiến đấu với đức tin có phải là việc bình thường không?

Kitô Giáo có truyền thống một tôn giáo hướng nội, một tôn giáo chuyên thăm dò những lớp lang sâu thẳm của linh hồn, và chiến đấu với đức tin của mình. Trong Thánh Kinh và trong hiểu biết bình dân (lore) của Kitô Giáo, có một truyền thống lâu đời công khai nói tới những cuộc chiến đấu chống hoài nghi, theo nghĩa đức tin là một điều khó duy trì, đến nỗi những vụ bỏ đạo (lapses) hay hoài nghi hoặc khủng hoảng đức tin là điều dễ hiểu và dung thức được. Ông Gióp bị ngược đãi từng tranh luận với Thiên Chúa. Ngay Đức Giêsu cũng chiến đấu chống cơn cám dỗ và hoài nghi trong Vườn Diệtsimani khi Người đối diện với viễn tượng bị đóng đinh. Đó chính là lý do một mảnh “hate mail” (thư xách nhiễu) của Kitô giáo mà tôi nhận được chẳng hề có tính xách nhiễu chút nào. Họ chỉ bảo tôi rằng họ cầu nguyện cho tôi để một ngày kia tôi nhìn thấy ánh sáng.

Ngược lại, người Hồi Giáo phần đông chấp nhận lối giải thích đặc biệt theo nghĩa đen về điều người Kitô Giáo có lẽ gọi là “cứu rỗi nhờ việc làm”. Trong lối giải thích thô sơ nhất, đó là “chết vì thánh chiến và được hưởng 72 trinh nữ trên thiên đàng”. Tìm cách lên thiên đàng không hẳn liên quan tới việc sắp xếp lại linh hồn hay cố gắng nội quan được ý nghĩa lớn lao hơn của đời sống mình, mà đúng hơn là hoàn tất một bản liệt kê các hoạt động bề ngoài, là vâng theo một danh sách dài các đòi hỏi và cấm kị hoàn toàn có tính cưỡng bức.

Lịch sử tôn giáo tại Hoa Kỳ

Điểm dị biệt lớn cuối cùng giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo không phải là một điều gì sai lầm với Hồi Giáo, mà đúng hơn một điều gì chỉ diễn ra tại Tây Phương ảnh hưởng tới Kitô Giáo, đó là lịch sử tôn giáo tại Hoa Kỳ. Từ đầu, ta đã có rất nhiều giáo phái khác nhau. Nhiều giáo phái trong số này tới đây tìm tự do, thoát khỏi cảnh bách hại tại quê nhà. Thành thử từ buổi sơ khai, ít nhất từ thời Roger Williams (1603-1683), các nhà lãnh đạo tôn giáo Hoa Kỳ đã bắt tay vào việc khai triển chính sách tự do tôn giáo. Dù các ý niệm của Phong Trào Ánh Sáng gây nhiều ảnh hưởng rộng rãi tại Hoa Kỳ, các đòi hỏi tự do tôn giáo không chủ yếu phát xuất từ những phần tử phản giáo sĩ muốn loại bỏ tôn giáo. Trái lại, tự do tôn giáo thực sự đã được giảng dạy từ bục nhà thờ, đây là lý do tại sao nó đã tự nhiên được ghi vào các văn kiện lập quốc.

Dĩ nhiên, trên đây chỉ là một khía cạnh của Kitô Giáo tại Tây Phương, nhưng nó đã có một ảnh hưởng hoàn cầu đối với tôn giáo và cách nó tiếp cận với tự do.

Tôi đã đưa ra những nét chấm phá, và có những người chắc chắn sẽ trở lại với tôi bằng cách trích dẫn nhiều nhà lãnh đạo Hồi Giáo có những quan điểm tốt hơn, cũng như chắc chắn bạn sẽ gặp những Kitô hữu với những quan điểm tồi hơn nhiều.

Và dĩ nhiên, nhiều người ra tay sát hại người khác nhân danh Hồi Giáo không biết gì tới lịch sử này. Một trong các câu truyện ưa thích của tôi là câu truyện nói về các thánh chiến quân người Anh, những người đã lên đường gia nhập ISIS ở Syria sau khi mua một bản cuốn Islam for Dummies (Hồi Giáo Cho Những Anh Đần). Những chàng thanh niên này không theo dõi các cuộc tranh luận về giáo thuyết. Điều họ thâu nhận là chiều hướng tổng quát của ý nghĩa tôn giáo và phương cách thực hành nó.

Nếu bạn tổng hợp tất cả các yếu tố trên, bạn sẽ thấy bạn nhận được một hỗn chất dễ nổ bùng như thế nào từ Hồi Giáo: niềm chờ mong tôn giáo chỉ thị mọi việc, tôn giáo phải hoàn toàn thống trị ngay ở đời này, cộng với quan niệm coi tôn giáo không ủng hộ lý lẽ, không dành một tấc cho hoài nghi, tra vấn, hoặc tranh luận.

Các ý tưởng tôn giáo có thể, và thường ra, vẫn được tái phối hợp và tái giải thích một cách ít nhiều rộng lượng. Luôn luôn có sự căng thẳng giữa đức tin và lý lẽ; ý niệm phục vụ người khác có thể được sử dụng để đòi phải phục vụ nhà nước; ý niệm tội lệ và bất toàn của con người có thể được giải thích như có nghĩa: không thể áp đặt xã hội tôn giáo hoàn hảo lên trái đất, hay không thể tin tưởng trao tự do cho những con người nhân bản, nên nhà nước phải hạn chế các xung động xấu xa của ta. Chắc chắn, các nhận định mới đây của Đức GH Phanxicô về cuộc tấn công vào tờ Charlie Hebdo khiến ta thắc mắc không hiểu ngài dấn thân đến đâu với nguyên tắc tự do ngôn luận.

Nhưng điều ấy nên khiến ta càng nên lượng giá hơn nữa phương cách nhờ đó, sau nhiều thế kỷ của một lịch sử đầy tranh chấp và thường đổ máu, đức tin thịnh hành trong nền văn hóa của ta sẽ trở thành một hình thức nhân hậu và tự do hơn.

Ta hy vọng Hồi Giáo cũng sẽ như thế. Nhưng căn cứ vào lịch sử và các giáo thuyết của họ, họ vẫn còn một đường dài để đi, và tôi sợ rằng họ vẫn còn một số thế kỷ tranh chấp và đẫm máu nữa ở phía trước.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

tubich  
#5588 Posted : Sunday, February 1, 2015 7:47:50 AM(UTC)
tubich

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 1,583

Thanks: 117 times
Was thanked: 195 time(s) in 151 post(s)
Nhật tức giận vì IS 'chặt đầu' con tin


3 giờ trước

UserPostedImage

Nhật Bản tức giận trước tin con tin người nước này, nhà báo Kenji Goto bị nhóm khủng bố IS 'chặt đầu'.


Nhật Bản phản ứng giận dữ trước một cuốn băng video có vẻ cho thấy con tin người nước này, ông Kenji Goto, đã bị một chiến binh Nhà nước Hồi giáo (IS) chặt đầu.

Thủ tướng Shinzo Abe nói Nhật Bản "sẽ không nhượng bộ trước chủ nghĩa khủng bố" và rằng ông sẽ mở rộng sự ủng hộ của mình với các quốc gia đang chiến đấu chống IS.

Nhà nước Hồi giáo đã viện dẫn viện trợ của Nhật Bản như là một lý do của việc bắt con tin.

Cuốn video xuất hiện chưa đầy một tuần sau một vụ có vẻ như là một người đàn ông khác người Nhật, ông Haruna Yukawa, cũng bị 'chặt đầu'.

Ông Goto, 47 tuổi, một nhà báo được kính trọng và nổi tiếng vì từng đưa tin về sự đau khổ của thường dân trong các khu vực có chiến tranh, đã đến Syria hồi tháng 10/2014, dường như trong một nỗ lực để đảm bảo việc trả tự do cho ông Yukawa.

Nhật Bản sẽ không nhượng bộ trước chủ nghĩa khủng bố. Vụ giết người là một hành động ghê tởm và Nhật sẽ hợp tác với cộng đồng quốc tế để đưa những kẻ chịu trách nhiệm ra công lý
Thủ tướng Nhật Bản Shinto Abe

Cuốn video, trong đó có tất cả các đặc điểm nổi bật của các video tuyên truyền của IS, dù chưa được chứng thực, nhưng giới chức Nhật Bản tin rằng 'nó là thực'.

Trong đoạn video, ông Goto được nhìn thấy đang quỳ trong một bộ đồ áo liền quần màu da cam.

Một chiến binh nói tiếng Anh giọng Anh, người này được cho là đã xuất hiện trong video trước đó và được biết đến như là "Chiến binh thánh chiến John", nói với ông Abe, cáo buộc Thủ tướng Nhật Bản đã có một "quyết định liều lĩnh để tham gia vào một cuộc chiến bất khả chiến thắng".

'Hành động ghê tởm'

Ông Abe gọi vụ giết người là một "hành động ghê tởm", và nói thêm rằng Nhật Bản sẽ hợp tác với cộng đồng quốc tế để đưa những kẻ chịu trách nhiệm về vụ việc dường như là giết người đối với ông Goto, ra công lý.

Nội các Nhật Bản

Thủ tướng Shinto Abe (hai, phải sang) tuyên bố sẽ hợp tác với cộng đồng quốc tế đưa những kẻ giết người ra trước công lý.

UserPostedImage


Mẹ của nhà báo Goto, bà Junko Ishido nói bà đã 'không thể nói nên lời' trước cái chết của con trai và nói rằng Goto đã đến Syria với "thiện tâm và lòng can đảm".

"Tôi đã hy vọng Kenji sẽ sống sót trở về," người anh em của ông Junichi nói với đài truyền hình NHK của Nhật Bản.

Đã có các lên án mạnh mẽ từ Hoa Kỳ và các đồng minh khác trong cuộc chiến chống lại IS.

Tổng thống Hoa kỳ Barack Obama nói:

"Hoa Kỳ lên án các vụ giết người tàn ác của nhóm khủng bố ISIL thuộc Nhà nước Hồi giáo với công dân và nhà báo Nhật Bản Kenji Goto.

Hoa Kỳ lên án vụ giết người tàn ác của nhóm khủng bố ISIL thuộc Nhà nước Hồi giáo với công dân và nhà báo Nhật Bản Kenji Goto. Qua tin bài của mình, ông Goto đã can đảm tìm cách truyền đạt ra thế giới bên ngoài hoàn cảnh khó khăn của người dân Syria
Tổng thống Hoa Kỳ Obama

"Qua tin bài báo chí của mình, ông Goto đã can đảm tìm cách truyền đạt ra thế giới bên ngoài hoàn cảnh khó khăn của người dân Syria".

'Hiện thân cái ác'

Thủ tướng Anh David Cameron nói:

"Tôi hoàn toàn lên án những gì dường như là một vụ giết người đê hèn và kinh khủng đối với ông Kenji Goto.

"Đây là một lời nhắc nhở thêm rằng nhóm khủng bố Nhà nước Hồi giáo (Isil) là hiện thân của cái ác, bất chấp mạng sống con người".

Còn Tổng thống Pháp Francois Hollande nói rằng ông "kiên quyết lên án các vụ giết người tàn bạo đối với công dân Nhật Bản Kenji Goto do nhóm Khủng bố thuộc Nhà nước Hồi giáo Daesh (IS) gây ra.

UserPostedImage

Mẹ của nhà báo Kenji Goto nói con của bà đã đến Syria với 'thiện tâm và lòng can đảm'.


"Pháp đoàn kết với Nhật Bản trong thử thách mới này," ông Holland nói thêm.

Thủ tướng Australia ông Tony Abbot nói:

"Nếu là sự thực, thì đây sẽ là một cú sốc khủng khiếp đối với người dân Nhật Bản, một nỗi kinh hoàng không kể xiết cho gia đình, thân nhân.

"Và điều này chỉ chứng tỏ tầm quan trọng rằng tất cả các nước phải làm tất cả những gì có thể để chấm dứt và làm suy giảm giáo phái giết người vốn đã mở ra một thời kỳ đen tối mới trên nhiều khu vực ở Trung Đông ".

Tin cho hay nhiều người dân Jordan đang cầu nguyện cho tính mạng của con tin người nước này được cho là cũng đang nằm trong tay của nhóm khủng bố IS.

Trong khi đó, chính quyền Jordan cũng cam kết sẽ làm hết sức mình để đảm bảo mạng sống cho con tin này, phi công Moaz al-Kasasbeh, người đang bị IS đe dọa 'chặt đầu'.

UserPostedImage


Nguồn BBC

Edited by user Sunday, February 1, 2015 7:52:54 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thao ly  
#5589 Posted : Sunday, February 1, 2015 12:15:39 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 3,455
Woman

Thanks: 451 times
Was thanked: 373 time(s) in 272 post(s)
Cô gái trẻ dấn thân vào sứ mạng truyền thông vì người nghèo.


UserPostedImage

Cô Anna Huyền Trang, một trong số các thành viên nồng cốt của truyền thông Dòng Chúa Cứu Thế Saigon


Trà Mi-VOA
31.01.2015

Một cô gái trẻ bị mất việc, bị đuổi khỏi nhà trọ, bị cấm xuất cảnh, bị công an câu lưu, hành hung, xúc phạm nhân phẩm vì cộng tác cho một trang báo độc lập không thuộc ‘lề đảng’ nhưng vẫn bất chấp mọi hiểm nguy đe dọa để theo đuổi sứ mạng truyền thông vì người nghèo.

Em muốn nhắn gửi những người bạn không đồng quan điểm với em rằng ‘Chúng mình là người lớn. Hãy sống thế nào cho ra người lớn. Đừng để con trẻ phải gánh chịu. Đừng để con trẻ chất vấn vì đó đúng là một điều đáng nhục. Mình chính là nhân tố thay đổi xã hội, thay đổi thể chế để giúp Việt Nam trở nên tốt hơn, người dân Việt Nam được sống an nhiên hơn.

Anna Huyền Trang

Đó là câu chuyện của cô Anna Huyền Trang, một trong số các thành viên nồng cốt của truyền thông Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) ở Sài Gòn.

Trang bắt đầu làm cộng tác viên cho DCCT vào năm 2011. Sau khi công an áp lực chỗ làm đuổi việc cô, từ đầu năm ngoái, Trang đã bỏ hẳn công việc chuyên ngành kinh tế để trở thành phóng viên toàn thời gian của truyền thông DCCT, ngược xuôi khắp nơi để đưa ra ánh sáng những câu chuyện oan khuất, những tiếng nói của người dân thấp cổ bé miệng, những thông tin không được báo chí nhà nước đề cập tới.

Ngoài việc đi thu thập tin tức, phỏng vấn, viết bài cho trang web Dòng Chúa Cứu Thế, Trang còn đảm trách biên tập chương trình Cà Phê Tối, một trong sáu chương trình truyền hình của Dòng Chúa Cứu Thế, chuyên điểm tin hằng ngày và bình luận các sự kiện thời sự liên quan tới Việt Nam.

Hai trong số những lần Trang bị bắt bớ, hành hung được dư luận biết đến là lần cô vô cớ bị công an phường Cầu Kho (quận I, TPHCM) cưỡng chế về đồn hồi tháng 10/2012, bị tra tấn, bị lột quần áo để khám xét, theo tường thuật chi tiết cô công khai trên các trang mạng xã hội sau đó; và lần cô bị đánh ngay tại phi trường Tân Sơn Nhất và bị tịch thu hộ chiếu trước khi lên đường tham gia hội thảo về tự do báo chí tại Quốc hội Mỹ với tư cách là một nhà báo độc lập từ Việt Nam nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5 năm ngoái, theo lời mời của hai dân biểu liên bang Hoa Kỳ. Những hình ảnh Trang và bạn bè của cô ghi được về vụ việc này sau đó đã được phổ biến rộng rãi trên internet.

Trong môi trường kiểm duyệt chặt chẽ thông tin, không dung chấp ý kiến bất đồng, và bằng mọi cách ngăn chặn truyền thông độc lập như tại Việt Nam, tường thuật tin tức không theo lề đảng là một việc làm hết sức nguy hiểm mà những bản án liên tiếp dành cho các nhà báo-blogger tự do trong nước đã chứng minh rõ nét.

Vậy sức mạnh nào đã thôi thúc cô gái đôi mươi gầy gò, mảnh khảnh ấy dấn thân vào sứ mạng truyền thông vì những người không có tiếng nói trong xã hội?

Tạp chí Thanh Niên VOA mời quý vị và các bạn cùng tìm hiểu qua cuộc trò chuyện với Anna Huyền Trang trong chương trình hôm nay.

Anna Huyền Trang: Trước khi em cộng tác với truyền thông DCCT, em đã tham gia các hoạt động xã hội trong thời gian dài bắt đầu từ năm học lớp 12, vì thời gian đó em có cơ hội tiếp xúc rất nhiều trẻ em đường phố, những người nghiện ma túy, và những người nhiễm HIV. Em cũng tham gia các hoạt động truyền thông bảo vệ sức khỏe cho họ. Điều này em được gặp lại trong sứ mạng của truyền thông DCCT, nên đã thu hút em tham gia, và em đã có nhiều dịp tiếp cận với các mảnh đời tan thương, bất hạnh do chính thể chế độc tài tạo nên.

Trà Mi: Cộng tác với truyền thông DCCT từ bấy tới nay, Trang đã rút ra cho mình những kinh nghiệm thế nào trong hoạt động truyền thông độc lập, đa chiều?

Anna Huyền Trang: Trong quá trình cộng tác, em đã nâng lên được khả năng tiếp cận các nguồn thông tin khác nhau, gặp được nhiều đối tượng khác nhau. Chẳng hạn như tụi em đến với những dân oan mất đất để tìm hiểu sự việc của họ và viết tin đúng sự thật.

Trà Mi: Làm truyền thông theo ‘lề dân’ rất nhiều khó khăn. Bạn trang bị cho mình sự chuẩn bị ứng phó về mặt tinh thần như thế nào?

Anna Huyền Trang: Phóng viên tự do gặp rất nhiều đe dọa về tính mạng. Mình biết sẽ bị tóm cổ bất cứ lúc nào, nhưng đó đúng là điều ‘thú vị’ nhất ở Việt Nam đấy chị. Em luôn chuẩn bị là công an sẽ bắt mình. Em và các bạn em cũng sẵn sàng cho điều đó.

Trà Mi: Biết có thể bị bắt bất cứ lúc nào, bạn có cách gì để tự vệ trước những rủi ro đó?

Cô Anna Huyền Trang Trang biên tập chương trình truyền hình Cà Phê Tối của DCCT, chuyên điểm tin và bình luận các sự kiện thời sự liên quan tới Việt Nam

UserPostedImage


Anna Huyền Trang: Trước khi đi tác nghiệp, mình thông báo cho những người bạn của mình biết địa điểm và thời gian. Nếu trong thời gian đó các bạn không thấy mình liên lạc thường xuyên thì biết là mình đã gặp rủi ro. Chính những người bạn của em là những người giám sát em trong quá trình em tác nghiệp.

Trà Mi: Từ lúc mới bước vào truyền thông DCCT tới nay, Trang thấy mình có gì thay đổi khác xưa, đã học hỏi được những gì?

Anna Huyền Trang: Điều thay đổi lớn nhất là em ý thức hơn vai trò của một công dân đối với đất nước, mình không thể câm lặng trước các vấn nạn của xã hội ví dụ như tham nhũng hay việc Trung Quốc xâm lấn biển đảo của Việt Nam.

Trà Mi: Có thể kể mình nghe một vài trường hợp đã kinh qua với vai trò một ký giả độc lập trong môi trường kiểm soát chặt chẽ thông tin ở Việt Nam?

Anna Huyền Trang: Cuối tháng 10/2012 sau khi đi lấy tin về phiên sơ thẩm hai nhà sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, em bị công an bắt về phường Cầu Kho. Em bị các nhân viên công quyền đánh đập, hành hung, lột đồ ra để khám xét. Cũng có vài lần bị bắt khác nhưng em không có gì là sợ cả. Họ đe dọa rất nhiều về tính mạng và gia đình mình. Họ hỏi ‘Mày là ai?’ Em nói ‘Tôi là phóng viên DCCT.’ Họ hỏi ‘Thẻ nhà báo đâu? Chúng mày là dân phản động làm gì mà có thẻ nhà báo của nhà nước.’ Từ đó, em thấy họ rất miệt thị các phóng viên tự do như tụi em và cần tác động làm sao để mọi người quan tâm nhiều hơn đến các phóng viên tự do chưa được các tổ chức xã hội bảo vệ.

Trà Mi: Bị miệt thị trong một xã hội mà mọi chuyện đều nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước rõ ràng là một bất lợi rất lớn cho các sinh hoạt hằng ngày và những giao tiếp xã hội. Những bất lợi, thiệt thòi đó đối với bản thân Trang thấy thế nào?

Anna Huyền Trang: Em không cảm thấy bị tủi thân vì họ có quyền làm điều đó với mình. Còn mình phải nghĩ khác, phải làm thế nào để giúp họ thay đổi và nhận ra được những giá trị mà các anh em dân chủ đang đấu tranh vì lợi ích của đất nước, xã hội, và con người Việt Nam chứ không phải như những gì nhà nước này rêu rao rằng là ‘phản động.’ Những người đấu tranh dân chủ nhìn thấy công việc mình làm mang lại nhiều ý nghĩa cho xã hội, cho người nghèo, mà cũng mang lại niềm vui cho mình nữa thì tại sao mình phải tủi hổ? Tại sao mình lại buồn trước những ánh mắt lạ lùng đó? Em tin một ngày nào đó những ánh mắt lạ lùng đó sẽ quý mến mình. Chỉ cách đây 1 năm, bạn bè em cũng nhìn em soi mói, xét đoán công việc của em, nhưng rồi các bạn em theo dõi công việc của em trên facebook và dần hiểu được công việc em làm. Bây giờ, chính các bạn đã ủng hộ em.

Trà Mi: Gia đình phản ứng thế nào trước những việc làm của Trang?

Anna Huyền Trang: Bố mẹ em rất lo cho em. Họ từng bị an ninh mời lên làm việc hỏi về việc em làm. Thế nhưng, bố mẹ em muốn em sống tốt, trở thành người tốt, đó là cách em báo hiếu cho bố mẹ.

Trà Mi: Nói về vui-buồn của một nhà báo tự do trong nước, Trang sẽ chia sẻ những gì?

Anna Huyền Trang: Em cảm nhận được niềm vui thật sự trong nhóm truyền thông DCCT. Mọi người rất quý mến nhau, xem nhau như một gia đình vì không biết mỗi người sẽ bị bắt lúc nào, nên quý nhau từng ngày. Tụi em chưa bao giờ cảm thấy mặc cảm hay bị bỏ rơi vì mình biết con đường mình đang đi là đúng, có ích cho xã hội. Đó là niềm vui. Lần đầu tiên bị bắt, em cũng buồn và sợ lắm vì họ đánh, họ nhục mạ. Nhưng chính lúc trong đồn công an đó mình mới nhận ra được bản chất của chế độ. Nhờ đó, giúp mình có thêm sức mạnh. Trong nhóm chúng em đã có 3 người bị bắt là Tạ Phong Tần, Paulus Lê Sơn, và Trần Minh Nhật.

Trà Mi: Trang có bao giờ nghĩ nếu không may mình bị như họ cuộc đời mình sẽ ra sao, tương lai mình sẽ như thế nào?

Anna Huyền Trang: Tụi em luôn luôn nghĩ rằng không sớm thì muộn tụi em sẽ có cơ hội được ăn bánh mì mốc. Có người đang đe dọa em điều đó mà. Tuy nhiên, cá nhân em nghĩ việc này có thể là một trải nghiệm cho đời sống tâm linh của một người Kytô hữu. Em cảm nhận được điều này trong cuốn sách của đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, người đã từng bị nhà cầm quyền cộng sản bỏ tù mà không thông qua một phiên tòa xét xử nào. Chính cuộc đời của Ngài đã tác động em rất nhiều. Em tin những việc em đang làm hiện nay là đúng.

Trà Mi: Cũng có người nói rằng truyền thông độc lập, báo chí không theo lề đảng không bao giờ đưa tin tốt hoặc nói gì hay cho nhà nước cả. Lúc nào cũng nói những điều không tốt, không hay cho nhà nước thì phải chăng đó là một sự ‘chống đối’? Phản hồi của Trang thế nào?

Anna Huyền Trang: Nhà cầm quyền luôn ra rả ‘dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra.’ Do đó, bản thân em là một công dân nước Việt Nam đang thực hiện quyền giám sát các hoạt động của nhà cầm quyền để họ làm tốt hơn, phục vụ dân tốt hơn. Nếu ai đó nghĩ em là người ‘chống đối’ hay ‘phản động’ thì chính họ đang đi ngược lại những chính sách mà nhà nước đang khuyến khích.

Trà Mi: Với các bạn trẻ ở Việt Nam không biết nhiều hoặc không mấy quan tâm đến truyền thông độc lập, Trang muốn chia sẻ điều gì với họ?

Anna Huyền Trang: Em muốn nhắn gửi những người bạn không đồng quan điểm với em rằng ‘Chúng mình là người lớn. Hãy sống thế nào cho ra người lớn. Đừng để con trẻ phải gánh chịu. Đừng để con trẻ chất vấn vì đó đúng là một điều đáng nhục. Mình chính là nhân tố thay đổi xã hội, thay đổi thể chế để giúp Việt Nam trở nên tốt hơn, người dân Việt Nam được sống an nhiên hơn.

Trà Mi: Cảm ơn Trang rất nhiều vì thời gian dành cho cuộc trao đổi hôm nay

Edited by user Sunday, February 1, 2015 12:20:30 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#5590 Posted : Sunday, February 1, 2015 7:10:03 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,612

Thanks: 744 times
Was thanked: 262 time(s) in 197 post(s)
Chung kết Super Bowl 49


Saturday, 31 January 2015 11:24
Tác Giả Trần Trí Dũng

Vượt qua đội Green Bay Packers có phần may mắn, cuối cùng đội đương kim vô địch Seattle Seahawks cũng giành quyền đại diện nhánh National Football Conference đi đánh trận Super Bowl bảo vệ ngôi vô địch. Đối thủ của họ là đội banh sừng sỏ New England Patriots--rất có thể là đội banh mạnh nhất NFL trên 1 thập niên qua.

UserPostedImage


Theo các khảo sát thể thao mới nhất, tốn kém tài chánh để dự xem trận Super Bowl năm nay không hề nhỏ. Chi phí trung bình (tiền vé, du lịch, khách sạn, ăn uống, v.v...) cho một cặp khán giả từ $7,500 đến $10,000. Tin vui là, vì nơi tổ chức là Glendale (thuộc vùng phụ cận Phoenix, tiểu bang Arizona) khá vắng vẻ yên tĩnh (khác New York City hay Los Angeles chẳng hạn), nên nhà tổ chức vẫn còn dư nhiều vé phòng khách sạn, v.v...

UserPostedImage

Sân vận động University of Phoenix tại Glendale, Arizona đã sẵn sàng cho trận Super Bowl.


Khi trận Super Bowl diễn ra, bên lề sân cũng sẽ chứng kiến một cuộc tái ngộ ít nhiều duyên nợ giữa HLV Pete Carroll của đội Seattle Seahawks và đội New England Patriots. Ông Carroll từng huấn luyện đội Patriots những năm 1997 đến 1999 trước khi bị sa thải. Sau đó, ông đi huấn luyện đội banh Đại Học University of Southern California (hay USC). Và từ 2010 đến nay ông về lại NFL nhận ghế HLV trưởng đội Seattle Seahawks. Người hâm mộ có thể chứng kiến một trận banh hấp dẫn vì HLV Carroll sẽ tung mọi chiêu thức mánh lới để thắng trận cho bằng được.

UserPostedImage

HLV Pete Carroll của Seattle Seahawks.


Năm nay, đài NBC sẽ trình chiếu trận Super Bowl. Bên ngoài sân đấu, đã có một cuộc chạy đua không kém phần căng thẳng nhằm giành chỗ quảng cáo ưng ý. Đài NBC bán mỗi 30 giây quảng cáo giá từ $4.4 triệu đến $4.5 triệu (kỷ lục năm ngoái của đài FOX là $4 triệu cho nửa phút quảng cáo. Giá trị quảng cáo của trận NFL Super Bowl quá hậu hĩnh vì mỗi 30 giây có thể được cả trăm triệu người xem trực tiếp. Cũng vì lý do này mà hiệu nước bia Budweiser, vào năm 2010, đã ký hợp đồng tài trợ Super Bowl lên trên $1 tỉ.

UserPostedImage

Khán giả của đội Seattle Seahawks. Ảnh Ted S. Warren / AP Photo


Quảng cáo Super Bowl 2015 cũng không thể thiếu nhiều cái tên quen thuộc.Hiệu Doritos mua quảng cáo năm thứ 8 liên tục. GoDaddy cũng sẽ chạy quảng cáo riêng. Đặc biệt là các hiệu kỳ cựu vẫn trung thành với Super Bowl. Hiệu xe Nissan trở lại với Super Bowl sau 18 năm. Xe hiệu BMW, sau 4 năm; và Nationwide, sau 8 năm. Quảng cáo Super Bowl quan trọng và hữu hiệu đến mức tự chúng cũng trở thành đề tài tin tức thu hút chú ý. Có thân chủ chỉ công bố chi tiết mẫu phim quảng cáo một cách công khai, trước khi diễn ra Super Bowl (như Nationwide), trong khi vài thân chủ khác chỉ úp mở vài giây ngắn ngủi (Skittles and Toyota), và vài thân chủ khác thậm chí cho chiếu phim ảnh quảng cáo công khai và toàn bộ ngay cả trước thời điểm Super Bowl (Lexus).

UserPostedImage


UserPostedImage

Quảng cáo Super Bowl của Doritos và Pepsi


Bên cạnh các tên tuổi sừng sỏ, quảng cáo Super Bowl cũng không thiếu các tên tuổi lạ như Loctite chuyên làm keo, hay như Mophie công ty chế pin điện tử và các loại hộp hay bao điện thoại. Tuy nhiên, quảng cáo Super Bowl cũng không bảo đảm thành công 100%. Năm ngoái, quảng cáo của hệ thống tiệm Radio Shack duyên dáng thông minh nên thu nhận rất nhiều chú ý - nhưng chỉ 1 năm sau, cổ phiếu của Radio Shack mất giá chưa từng thấy, còn chính Radio Shack thì sắp khai phá sản.

UserPostedImage

Các cầu thủ Seattle Seahawks đáp xuống phi trường Phoenix chuẩn bị cho Super Bowl 49. Ảnh David J. Phillip/AP


Đây là lần thứ 6 đội New England Patriots vào tranh Super Bowl (thắng 3 lần) dưới thời HLV Bill Belichick và chủ công “quarterback” Tom Brady. Nếu lần này Brady lại thắng, anh sẽ sánh ngang với Joe Montana và Terry Bradshaw trước kia như những quarterback duy nhất từng giật 4 cúp vô địch Super Bowl. Cặp New England Patriots lẫn Seattle Sounders đều đã qua những thử thách lớn trên đường vào chung kết. Ở vòng Divisional Play-Off, New England lội ngược dòng thắng Baltimore Ravens sau khi để thua trước 14 điểm. Còn Seattle trong trận NFC Conference Championship đến những phút cuối còn bị Green Bay Packers dẫn đến 16 điểm. So sánh giữa 2 chủ công Tom Brady và Russell Wilson cũng khá thú vị. Tom Brady được New England chiêu mộ ở vòng thứ 6 kỳ NFL Draft (6th round pick), trong khi Russell Wilson được Seattle chọn ở vòng 3 (3rd round pick). Kể từ Super Bowl 38, hơn 10 năm trước, chưa có trận chung kết Super Bowl mà không có ít nhất 1 quarterback được chiêu mộ ở vòng đầu tiên (1st round pick).

UserPostedImage

Tom Brady và HLV Bill Belichick của New England Patriots


Trước trận Super Bowl 1 vòng, người ta làm các cuộc thăm dò thể thao về 4 đội còn trụ lại của vòng Play-Off. Kết quả người hâm mộ của đội Seattle Seahawks tỏ ra lạc quan nhất về cơ hội của đội nhất. Thống kê vé phi cơ cũng cho thấy khán giả Seattle chuẩn bị sang Phoenix, Arizona, đông đảo nhất, nhiều hơn cả 3 đội banh còn lại. Ngay cả vợ chồng tỉ phú Bill Gates và Melinda Gates cũng sẽ góp mặt trên khán đài cổ võ đội nhà đánh Super Bowl. Hai người là bạn của chủ nhân đội Seattle Seahawks, Paul Allen, cũng từng là đồng sáng lập viên của Microsoft, nên có lẽ chẳng phải lo chạy tìm vé vào cửa. Biết đâu những điều ưu ái của khán giả đã làm... lây may mắn cho đội Seahawks. Liệu... số đỏ có tiếp tục với Seattle tại Super Bowl tuần sau hay không, ta hãy cùng chờ xem!

UserPostedImage

Chủ công Tom Brady (New England Patriots) họp báo tuần lễ tiền Super Bowl.


TTD

Edited by user Sunday, February 1, 2015 7:16:31 PM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#5591 Posted : Monday, February 2, 2015 1:28:56 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,133

Thanks: 1941 times
Was thanked: 4400 time(s) in 2742 post(s)

Giáo Hội: Bí Tích của Hi Vọng


+ GM Phêrô Nguyễn Văn Viên 1/31/2015

Giới thiệu

Sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng Nguyên Tổ của nhân loại được dựng nên tốt lành, theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26-27). Tuy nhiên, Nguyên Tổ đã bất tuân phục, lạm dụng tự do, và hậu quả là con người đã trở nên tội lỗi. Sách Sáng Thế cũng cho biết rằng sau khi Nguyên Tổ phạm tội, Thiên Chúa đã ban lời hứa cứu độ là hi vọng cho toàn thể nhân loại (St 3,15). Lời hứa cứu độ của Thiên Chúa không chỉ phục hồi con người theo hình ảnh Thiên Chúa mà còn cho họ trở nên con cái Thiên Chúa (Ga 1,12).

Hi vọng của toàn thể nhân loại trở nên hiện thực nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chính Người là điểm đến cho hi vọng của toàn thể nhân loại, cách cụ thể hơn, hi vọng của Cựu Ước và khởi đầu cho hi vọng mới, hi vọng Tân Ước. Cuộc đời của Đức Giêsu, từ nhập thể cho đến sống lại là minh chứng cho hi vọng mà Thiên Chúa đã hứa trong Sách Sáng Thế cũng như được quảng diễn trong lịch sử Cựu Ước của Dân Do Thái.

Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, cao điểm của hành trình trần thế, Đức Giêsu cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha rằng “lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành. Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai con. Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa" (Ga 17,24-26). Đức Giêsu cầu nguyện cho sự hiệp nhất giữa các môn đệ với Người, như Người hằng hiệp nhất với Đức Chúa Cha. Lời cầu nguyện của Đức Giêsu cũng là hi vọng của Người đối với các môn đệ mình và tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Hi vọng của Đức Giêsu tiếp tục được chuyển tải nhờ Giáo Hội, bí tích của Người giữa lòng thế giới. Sứ mệnh của Giáo Hội là làm cho hi vọng của Đức Giêsu được chia sẻ bởi tất cả mọi người để họ được sống hiệp nhất với nhau trên đường lữ hành về với Thiên Chúa, Nguồn và Đích của muôn loài thụ tạo.

Chủ đề ‘Giáo Hội là Bí Tích của Hi Vọng’ quá rộng lớn vì liên quan đến ba ngành thần học: Thần Học Giáo Hội (Giáo Hội Học), Thần Học Bí Tích (Bí Tích Học), Thần Học Hi Vọng. Bài viết ngắn này không nhằm mục đích đào sâu hay khai triển cách mạch lạc các khía cạnh khác nhau liên quan đến nhận định ‘Giáo Hội là Bí Tích của Hi Vọng?’, cũng không đào sâu hay khai triển tương quan giữa ba nhân đức đối thần (đức tin, đức cậy (đức hi vọng), và đức mến) trong đời sống Kitô hữu. Bài viết được trình bày theo thứ tự sau: (1) Đặc Điểm và Tính Phổ Quát của Hi Vọng, (2) Hi Vọng trong Cựu Ước, (3) Hi Vọng trong Tân Ước, và (4) Giáo Hội là Bí Tích của Hi Vọng.

1/ Đặc Điểm và Tính Phổ Quát của Hi Vọng

Để có một định nghĩa chính xác, ngắn gọn, và súc tích về hi vọng dường như nằm ngoài tầm khái quát của bất cứ người nào. Xem ra chúng ta nhận thức về tình yêu cũng như niềm tin cách dễ dàng hơn là hi vọng bởi vì tình yêu đúng nghĩa luôn ở thì hiện tại và con người có thể cảm nghiệm được. Chúng ta cũng có thể nói như vậy đối với niềm tin, có nghĩa rằng niềm tin có thể cảm nhận, có thể phân định dễ dàng hơn nhờ lý trí lành mạnh. Đối với hi vọng thì không nhất thiết phải như vậy, hi vọng luôn kèm theo ‘những gì đó’ mạo hiểm và đòi hỏi nhiều hi sinh, nhiều kiên nhẫn hơn. Tình yêu, niềm tin, và hi vọng đi cùng nhau và định nghĩa nhau, trong đó, hi vọng có thể xem là trung gian giữa tình yêu và niềm tin. Trong một số hoàn cảnh, niềm tin và hi vọng có thể ‘đổi chỗ cho nhau’, chẳng hạn, nói rằng ‘tôi tin tưởng vào Thiên Chúa’ cũng không khác lắm với nói rằng ‘tôi hi vọng vào Thiên Chúa’. Sự khó khăn của việc định nghĩa hi vọng phần vì tính phổ quát của hi vọng trong xã hội loài người, phần vì sự đa dạng về hình thức của hi vọng nơi mỗi người trong những hoàn cảnh cụ thể. Do đó, thay vì định nghĩa hi vọng, người ta thường mô tả hi vọng dựa trên kinh nghiệm sống của mình.

Chúng ta biết rằng đã là người ai cũng hi vọng, cho dù đó là hi vọng hão huyền, chẳng hạn, người giàu hi vọng được giàu thêm, người nghèo hi vọng sẽ đến lúc giàu có. Người khỏe mạnh hi vọng sức khỏe của mình được kéo dài, người đau ốm hi vọng được khỏe mạnh trở lại. Kẻ sắp chết hi vọng được nhiều người tưởng nhớ. Không có hi vọng, cuộc sống con người trở nên nhàm chán, vô nghĩa, không lối thoát. Hơn nữa, không có hi vọng, con người có thể suy nghĩ và hành động theo những cách thức tiêu cực nhất, có thể phương hại nghiêm trọng cho bản thân cũng như anh em đồng loại. Hi vọng không còn là một chọn lựa giữa các chọn lựa khác trong cuộc sống con người mà là yếu tố có tính quyết định vận mệnh con người. Hi vọng chi phối con người từ cách suy nghĩ, cách hành xử, cách thiết lập các tương quan, đến cách định vị đời sống mình trong môi trường trần thế.

Hi vọng thuộc bản tính con người. Dù ý thức hay vô thức, từ khi hình thành trong lòng mẹ tới lúc lìa đời, hi vọng luôn hiện diện trong mọi biến cố của mỗi người. Chẳng hạn, bản tính hi vọng nằm sâu trong tiềm thức của đứa trẻ và chi phối các hoạt động đứa trẻ, cho dù đứa trẻ chưa ý thức đủ về mình cũng như những tương quan khác trong môi trường xung quanh. Hi vọng làm trung gian giữa thế giới hiện tại và thế giới mai ngày. Tương lai của con người được bắt đầu ở hiện tại và hi vọng chính là động lực căn bản giúp con người làm được điều đó. Nói cách khác, ai hi vọng, người đó có tương lai và ai mang hi vọng gieo rắc, người đó sẽ thu lượm hoa thơm trái ngọt. Không có hi vọng cũng đồng nghĩa với không có tương lai. Hi vọng cho phép con người được ngẩng đầu lên khi bị ngã gục bởi sức nặng tâm hồn, thể xác, bởi bấp bênh của thế sự. Hi vọng làm cho con người luôn cảm thấy nhu cầu phải đi ra, phải gặp gỡ, phải thiết lập các mối tương quan mới để có thể thay thế hoặc siêu thăng các mối tương quan hiện tại. Ai hi vọng thì không cô đơn, ai hi vọng thì không phải sống cô độc!

Hi vọng không chỉ tồn tại trong đời sống cá nhân mà còn trong đời sống tập thể nữa với nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn, kinh nghiệm về hi vọng của gia đình, của dòng tộc, của cộng đoàn, của quốc gia, của toàn thể nhân loại. Hi vọng hiện diện trong các môi trường tôn giáo, văn hóa, xã hội, chính trị. Hi vọng vừa chi phối, vừa định dạng các hình thức tập thể này. Chẳng hạn, hi vọng đóng vai trò quyết định trong việc hình thành, phát triển, và hoạt động của một thể chế. Hi vọng đúng đắn, sẽ cho phép thể chế này được hình thành đúng tầm mức, tồn tại lâu dài, và hoạt động hiệu quả nhằm đem lại lợi ích cho những người trong đó, bằng không, thể chế này trở thành rào cản cho sự phát triển con người toàn diện.

Hi vọng vừa là căn bệnh kinh niên của tất cả mọi người, đồng thời cũng là liều thuốc bổ cho chính họ. Hi vọng là căn bệnh kinh niên theo nghĩa rằng không có hi vọng nào lại miễn nhiễm tất cả các hình thức đau khổ và hao tổn về thể chất lẫn tinh thần. Hi vọng càng nhiều, càng lâu thì đau khổ và hao tổn càng lớn, càng kéo dài. Hi vọng là liều thuốc bổ theo nghĩa rằng hi vọng là điều còn lại sau khi con người đã lao nhọc, đã vật lộn, đã cố gắng hết sức để giải quyết vấn đề mà không thể nào giải quyết được. Hi vọng là điều còn lại sau khi con người đã mất tất cả những gì mình mơ tưởng, mình sở hữu hay muốn sở hữu mà không thể đạt được.

Người ta có thể giam hãm ai đó, chứ không giam hãm được hi vọng của họ. Người ta có thể giết chết người, chứ không thể giết chết hi vọng của người đó. Hi vọng của con người là hi vọng sống. Bao lâu con người còn hi vọng, bấy lâu con người còn sống, hay ngược lại, bao lâu con người còn sống, bấy lâu con người còn hi vọng. Chúng ta có thể nói rằng người đang sống mà không hi vọng thì như người đang chết và người đang chết mà hi vọng thì như người đang sống vậy. Hi vọng là vốn quí nhất của con người trong cuộc sống. Tác giả Sách Giảng Viên nói rằng “những ai còn sống trong cõi dương gian mới có hi vọng mà thôi, vì con chó sống thì hơn con sư tử chết” (Gv 9,4). Hi vọng là chỗ dựa an toàn cho những gì bất cập hay vượt tầm kiểm soát của con người. Chẳng hạn, một chiếc thuyền tắt máy giữa phong ba bão táp. Hi vọng của những người trên thuyền là có ai đó cứu hộ hoặc tìm được một hoang đảo nào đó để có thể trú ngụ, để có thể kéo dài cuộc sống mong manh giữa biển khơi dậy sóng. Nhờ đó, họ có thể tiếp tục cuộc hành trình với nhiều hứa hẹn khác.

Hi vọng luôn được thể hiện như một lộ trình vươn xa, như một dự án dang dở, như một viễn cảnh đa màu trong đời sống mỗi người. Hi vọng là con đường còn lại sau khi các con đường khác đã bế tắc. Quả vậy, con người bị giới hạn bởi không gian, thời gian, sức khỏe, môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa, môi trường xã hội, và các yếu tố khác. Tâm hồn con người luôn khao khát và khắc khoải những gì tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, bình an hơn, hòa hợp hơn. Tuy nhiên, thực tế lắm lúc phũ phàng, không chỉ ngăn cản con người đạt được điều mình hi vọng mà còn làm cho những gì mình đang có bị biến dạng, thậm chí vượt khỏi tầm tay của mình. Trong những hoàn cảnh như vậy, con đường cuối cùng chính là con đường hi vọng, con đường mở ra những khả thể thay đổi tình thế hiện tại.

Hi vọng luôn luôn đi đôi với những thách đố trong cuộc sống. Không có những thách đố thì hi vọng kém phần giá trị. Chính những thách đố làm cho hi vọng được mạnh mẽ hơn và gột rửa hi vọng nên tinh tuyền hơn. Hi vọng luôn ẩn chứa tình yêu, trung tín, hi sinh, tin tưởng, khao khát những gì tốt đẹp ló rạng. Hơn thế nữa, chính hi vọng là nguồn cảm hứng cho những phát minh, sáng tạo, đổi mới không ngừng nghỉ của con người qua mọi thời và khắp mọi nơi. Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy rằng những phát minh sáng tạo đột biến trong lịch sử đều phát xuất từ những con người có hi vọng, hoài bão lớn lao cho gia đình nhân loại.

Chúng ta có thể nói rằng hi vọng với trương độ chỉ vươn tới sự chết và kết thúc tại đó quả thật là ‘hi vọng khốn khổ nhất’, nói đúng hơn, đó là thất vọng lớn nhất mà con người ai cũng muốn trì hoãn hay tránh càng xa càng tốt. Hi vọng vượt qua vực thẳm sự chết được xem là hi vọng lớn lao nhất của con người. Các hình thức hi vọng khác có thể được xem là dẫn xuất của hi vọng này. Chẳng hạn, hi vọng được khỏi bệnh tật hay được sống lâu là dẫn xuất điển hình của hi vọng trường sinh bất tử hay hi vọng vượt qua vực thẳm sự chết. Khi con người đặt những câu hỏi, chẳng hạn, ‘vũ trụ từ đâu mà có?’, ‘vũ trụ sẽ ra sao trong tương lai?’, ‘con người từ đâu đến?’, ‘con người đi đâu?’ cũng là khi trong lòng con người trào dâng hi vọng về hừng đông tươi mới của chính mình, của anh em đồng loại, và của thế giới thụ tạo.

Trong cuộc sống, không phải tất cả hi vọng đều giống nhau, mà có trật tự ưu tiên của nó. Những gì càng khó đạt được thì hi vọng càng cao hơn. Những gì thuộc thế giới siêu nhiên thì hi vọng càng mãnh liệt hơn. Điều này đã được Platon mô tả cách tổng quát là con người luôn mơ về thế giới linh tượng, thế giới thực, thế giới hoàn hảo, thế giới không còn chết chóc hay biến đổi thất thường. Như thế, hi vọng vào đời sống vĩnh cửu luôn mãnh liệt hơn hi vọng vào đời sống lâu dài trong thời gian, cho dù thời gian đó kéo dài vô tận, bởi vì, vô tận của thời gian (nếu có) cũng thuộc về môi trường thụ tạo, còn vĩnh cửu thuộc về môi trường của Thiên Chúa, vĩnh cửu siêu việt và bao trùm thời gian.

Hi vọng luôn được hiểu theo nghĩa năng động, hi vọng phát xuất từ quá khứ, chi phối hiện tại, và định hướng tương lai. Hi vọng đích thực luôn là một tiến trình có hướng và không bao giờ dừng lại ở một thời điểm nào đó, bao lâu tại thời điểm đó con người chưa được sự thỏa mãn toàn diện. Nói cách khác, hi vọng luôn hướng tới cánh chung, nơi sự thánh thiện, sự sống, sự thật, tình yêu trọn vẹn, nơi mà tất cả những gì con người khao khát trên trần gian được no thỏa. Rõ ràng nơi đó không thuộc môi trường thụ tạo này. Nơi đó thuộc về Thiên Chúa. Chính thánh Augustinô đã bày tỏ kinh nghiệm hi vọng của bản thân ngài khi nói “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con luôn xao xuyến cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.”

Hi vọng của con người không bao giờ dừng lại với những ai nhỏ hơn Thiên Chúa. Những gì chưa phải là sản phẩm cuối cùng của Thiên Chúa đều chưa đáp ứng được hi vọng thẳm sâu của con người. Hi vọng cho phép con người vươn cao, vươn xa tới môi trường Thiên Chúa. Hi vọng cho phép con người tiếp cận mầu nhiệm sự sống, sự sống hiện tại cũng như sự sống vĩnh hằng. Con người chỉ đạt được hi vọng trọn vẹn khi họ được hưởng kiến Thiên Chúa (beatific vision) và được sống trong Người. Thánh Irênê nói rằng “vinh quang Thiên Chúa là con người được sống và sự sống con người hệ tại ở việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa." Theo thánh Irênê, khi đó con người hoàn toàn thuộc về Chúa và ở trong Người, bởi vì khi đó, chính họ đã ở trong Nguồn và Đích của hi vọng.

Ngôn ngữ hi vọng vang lên trong hầu hết các sách Kinh Thánh, từ Cựu Ước tới Tân Ước. Chúng ta có thể nói rằng ngôn ngữ Kinh Thánh là ngôn ngữ hi vọng và các ngôn ngữ khác được xem là bổ trợ cho ngôn ngữ hi vọng. Nói cách khác, chủ đề quán xuyến của Bộ Kinh Thánh Cựu Ước từ Ngũ Thư, đến các Sách Lịch Sử, các Sách Thi Ca và Minh Triết, các Sách Ngôn Sứ là hi vọng. Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngôn ngữ hi vọng vang lên từ các ngôn sứ, từ những người cầm quyền đến những người bình dân Do Thái thời Cựu Ước.

2/ Hi Vọng trong Cựu Ước

Tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại được thể hiện qua các giao ước. Giao ước giữa Thiên Chúa với A-đam, với Nô-ê, với Áp-ra-ham, với Mô-sê, và với Đa-vít luôn được diễn tả trong bối cảnh hi vọng, bởi vì chúng luôn mở ra chân trời mới mẻ, tương lai xán lạn, viễn cảnh huy hoàng cho toàn thể nhân loại, đặc biệt cho Dân Do Thái. Nhờ những giao ước này, trong cơn bĩ cực nhất, Dân Do Thái biết hướng lòng về Thiên Chúa, Đấng Trung Tín, luôn thực hiện những gì Người đã hứa. Sự trung tín của Thiên Chúa là hi vọng cho dân Do Thái, giúp họ có thể chịu đựng những thử thách lớn nhất trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Chẳng hạn, trong cảnh bất an, lưu đày, hay bị quân thù hà hiếp, Dân Do Thái không vơi lòng hi vọng vào sự vinh thắng cuối cùng của dân tộc họ.

Hi vọng của Dân Do Thái vào Thiên Chúa được thể hiện cách cụ thể với Tổ Phụ của họ, Áp-ra-ham, ‘cha của những kẻ tin’, đồng thời, cũng là ‘cha của những kẻ hi vọng’. Lịch sử của Dân Do Thái là lịch sử của hi vọng vào quyền năng, lời hứa, và vào sự công minh của Thiên Chúa. Chính vì hi vọng đó, Áp-ra-ham sẵn sàng sát tế đứa con trai duy nhất của mình được sinh ra trong lúc tuổi già. Sự thử thách của Thiên Chúa chạm đến ngưỡng thất vọng nhất của con người, tuy nhiên, Áp-ra-ham đã vượt qua được ngưỡng đó để thực thi ý định Thiên Chúa. Dĩ nhiên, Thiên Chúa đã không để cho điều đó xảy ra, nhát dao đã không bổ xuống thân hình bé nhỏ I-xa-ác, thay vào đó là con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây (St 22,13). Sự vâng phục, niềm tin, và hi vọng của Áp-ra-ham trở thành mẫu gương cho toàn thể Dân Do Thái cùng tất cả mọi người trong lịch sử nhân loại.

Sau Áp-ra-ham, một con người khác cũng được Thiên Chúa kêu gọi và gieo hi vọng cách đặc biệt để ông dẫn dắt Dân Do Thái thoát khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, đó là Mô-sê. Thiên Chúa kêu gọi Mô-sê, cho ông biết Người là Đấng Hiện Hữu, Đấng là Thiên Chúa của tổ phụ Dân Do Thái ‘Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp’, Đấng mà Dân Do Thái kêu cầu từ đời nọ đến đời kia (Xh 3,13-15). Kinh nghiệm Xuất Hành từ Ai Cập trở về Đất Hứa là kinh nghiệm hi vọng sâu đậm đối với Dân Do Thái. Dưới sự dẫn dắt của Mô-sê, Dân Do Thái đã trải qua 40 năm trong sa mạc với nhiều thử thách trong tương quan với Thiên Chúa, trong chính nội bộ dân này, và trong tương quan với các dân khác ở Palestine. Cuối cùng thì hi vọng Đất Hứa đã được Thiên Chúa thực hiện, trong khi giấc mơ Ai Cập ‘ăn cá mà không phải trả tiền’ hay xứ sở có đầy ‘dưa gang, dưa bở, hẹ, hành, tỏi’ trôi vào dĩ vãng (Ds 11,4-6).

Chính Gia-vê là Đấng đã luôn tiếp sức và cho phép các chiến binh Do Thái trở thành những ‘tay võ nghệ cao cường’ để có thể đương đầu với các chiến binh của các dân tộc khác khi họ từ Ai Cập về Palestine. Chiến thắng của Dân Do Thái, từ chiến thắng Biển Đỏ chống lại quân của Pha-ra-ô đến các chiến thắng khác trong vùng Palestine là nhờ vào ‘cánh tay của Đấng mà họ luôn đặt hi vọng’. Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ của Dân Do Thái, vị Thiên Chúa mà họ luôn hi vọng, trước hết là vị Thiên Chúa cứu họ khỏi tay địch thù, đồng thời, cũng là vị Thiên Chúa cho họ Man-na để họ có thể sống sót trong sa mạc hoang vu hiu quạnh, không sự sống (Xh 16,1-35). Não trạng này còn kéo dài tới thời Tân Ước, chẳng hạn, khi Đức Giêsu làm cho bánh hóa ra nhiều từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá của một em bé cho hơn năm ngàn người ăn, thì dân chúng muốn tôn Người làm Vua của họ (Ga 6,1-15). Hi vọng được cứu độ, được hồi hương, được tái tạo, được cuộc sống sung túc luôn nẵm trong tâm khảm của những người Do Thái qua muôn thế hệ.

Dân Do Thái hi vọng thoát khỏi tay địch thù là một trong những chủ đề quan trọng của các sách Cựu Ước. ‘Cứu độ’ đối với Dân Do Thái thời Cựu Ước mang tính gia đình, bộ tộc, dân tộc, vương quốc hơn là cá nhân (Tv 130,7). Não trạng này còn vang vọng tới thời Tân Ước. Chẳng hạn, liên quan đến quyết định bắt và giết Đức Giêsu, các thượng tế và Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và Cai-pha đã nói rằng “các ông không hiểu gì cả, các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11,49-50). Chúng ta dễ dàng nhận ra tính tập thể trong hi vọng của Dân Do Thái trổi vượt so với các dân tộc khác sau khi Giê-ru-sa-lem bị phá hủy năm 70 AD và kéo dài mãi tới hôm nay.

Hi vọng của Dân Do Thái trong Cựu Ước mang nhiều sắc thái khác nhau tùy theo từng thời kỳ lịch sử: Trước thời Lưu Đày, trong thời Lưu Đày, biến cố Xuất Hành, về lại Đất Hứa, thiết lập vương quốc cùng những chuyển biến không ngừng thời sau đó. Ngay trong mỗi cuốn sách, chúng ta nhận thấy chủ đề hi vọng rất đa dạng, chẳng hạn, Is 1-39 so với Is 40-66. Từ thời Cựu Ước tới thời Tân Ước, hi vọng của Dân Do Thái cũng không nhất quán. Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác biệt về hi vọng của các ngôn sứ so với hi vọng của những tầng lớp khác trong xã hội Do Thái trong những thế kỷ cuối thời Cựu Ước và những thập niên đầu của Tân Ước như: Nhóm Xa-đốc, nhóm Pha-ri-sêu, nhóm Ét-xê-nô, nhóm Sa-ma-ri, nhóm Hê-rô-đê. Não trạng khác biệt giữa nhóm Xa-đốc và nhóm Pha-ri-sêu liên quan đến sự sống lại là ví dụ điển hình (Lc 20,27-40; Mt 22,23-33; Mc 12,18-27).

Hi vọng của truyền thống ngôn sứ Cựu Ước luôn mở ra chân trời mới, không chỉ dừng lại ở chiều kích chính trị, xã hội, sự hưng thịnh quốc gia, điều kiện vật chất hằng ngày, cơ sở thờ tự, hay sự trổi vượt các dân tộc xung quanh về mọi mặt (Gr 29,11). Sự cứu độ của Dân Do Thái không chỉ dừng lại ở việc ‘quân thù bị đánh bại’ mà còn hướng tới sự toàn thiện và công chính của Thiên Chúa được thể hiện trong mọi chiều kích của cuộc sống (Is 51,15). Nói cách khác, hi vọng của truyền thống ngôn sứ hướng tới thời cánh chung (dĩ nhiên, không thể hiểu theo nghĩa của Tân Ước), thời mà quyền năng của Thiên Chúa ngự trị và ơn cứu độ của Thiên Chúa được tỏ bày. Chúng ta có thể tìm được nhiều trích đoạn điển hình theo nghĩa này ở sách I-sai-a và Giê-rê-mi-a (Is 4,2-3; Gr 3,23).

Trong một số hoàn cảnh, đối với Dân Do Thái, tình thương, sự cứu độ, và sự công chính của Thiên Chúa chưa được tỏ bày là vì tội lỗi của chính họ (St 4,1-16; St 18,16-33; Is 1,10-20). Sự chậm trễ của Thiên Chúa trong việc làm cho hi vọng của họ trở nên hiện thực có nguyên do từ sự bất trung, bất tín của chính họ, đặc biệt, sự xao lãng bổn phận của họ trong việc thờ phượng hay quay lưng với Thiên Chúa để hướng về phía tà thần, hay xem thường giới răn Thiên Chúa khi đối xử với người khác. Do đó, việc thường xuyên thanh tẩy và chọn đời sống thánh thiện trên bình diện cá nhân cũng như các hình thức tập thể hay toàn bộ dân tộc Do Thái là điều tiên quyết để hi vọng được thực hiện theo đúng lộ trình (Xh 20,1-21; Tv 50).

Khi tìm hiểu và suy tư về chủ đề hi vọng trong Cựu Ước, chúng ta thấy rằng các Thánh Vịnh là nơi mà chủ đề hi vọng được tìm thấy nhiều nhất. Những lời cầu nguyện tha thiết của Dân Do Thái, cá nhân cũng như tập thể, biểu lộ lòng khát khao của họ đối với Thiên Chúa. Đối với các tác giả Thánh Vịnh, Thiên Chúa là nền tảng, là núi đá, là Đấng bênh vực kẻ bị áp bức. Người là chỗ dựa cuối cùng trong cơn tuyệt vọng, quẫn bách và là tương lai của những kẻ khốn cùng (Tv 22,1-51). Họ xác tín rằng ơn cứu độ và sự công chính của Thiên Chúa sẽ được thực hiện. Sự mong muốn được giải thoát khỏi tội và bước đi trên đường thánh thiện chỉ có thể được thực hiện khi họ có Thiên Chúa ở cùng. Được Thiên Chúa bênh đỡ họ sẽ chống lại mọi địch thù, địch thù bên trong là tội lỗi của họ và địch thù bên ngoài là những kẻ áp bức họ cách vô cớ (Tv 33,22; Tv 39,8; Tv 42,12; Tv 70,3-5; Tv 113,4-6; Tv 119,114; Tv 130,5; Tv 130,7; Tv 147,10-11).

Khi đề cập đến sự sống lại và sự sống vĩnh cửu, chúng ta nhận thấy rằng đối với Dân Do Thái thời Cựu Ước, điều quan trọng hơn là cuộc sống hiện tại. Sự thưởng phạt chủ yếu xảy ra cách nhãn tiền trên bình diện cá nhân cũng như tập thể hay quốc gia, và có thể xảy ra cho các thế hệ con cháu kế tiếp (Cn 10,27-28). Não trạng này còn tồn tại đến thời Tân Ước (Ga 9,1-41). Tuy nhiên, chúng ta tìm thấy đây đó những ý niệm về sự sống sau khi chết hay sự sống lại của những người đã qua đời trong văn chương khôn ngoan và ngôn sứ. Một số cá nhân được xem là được đem đi sau cuộc sống trần thế, chẳng hạn, Kha-nốc (St 5,21-24), Ê-li-a (2 V 10,1-17). Sa-mu-en là trường hợp khá điển hình về sự tỏ bày của người chết đối với người sống (1 Sm 28,3-25). Nhìn chung, niềm hi vọng vào sự sống lại được diễn tả cách tiệm tiến theo dòng lịch sử, những sách cuối cùng của bộ Cựu Ước diễn tả cách tỏ tường hơn (1 Mcb 2,61; 2 Mcb 2,18; 2 Mcb 7,11; 2 Mcb 7,13-14; 2 Mcb 12,43-45). Hi vọng vào sự sống lại và sự sống vĩnh cửu đạt tới đỉnh điểm trong biến cố Đức Kitô (the Christ Event) của Tân Ước.

3/ Hi Vọng trong Tân Ước

Sứ mệnh của Đức Giêsu trên trần gian có thể được gọi là sứ mệnh hi vọng, sứ mệnh được Sách Sáng Thế trình bày sau khi Nguyên Tổ phạm tội cũng như các sách khác của bộ Kinh Thánh Cựu Ước đào sâu và diễn tả (St 3,15; Is 7,14; Is 61,1-2). Như đã được đề cập ở trên, hi vọng là chủ đề quán xuyến lịch sử Dân Do Thái. Chủ đề này được khơi dậy bởi các tiên tri, tư tế, và các nhà lãnh đạo Dân Do Thái qua các thế hệ. Hi vọng của Dân Do Thái Cựu Ước liên quan đến việc giải phóng ‘khỏi tay địch thù’ chủ yếu theo nghĩa chính trị, xã hội, và là hình bóng cho sự giải phóng đích thực, đó là sự giải phóng khỏi tội lỗi và sự chết về mặt tâm linh. Trong nhãn quan Kinh Thánh Tân Ước, sự chết về mặt thể lý theo lẽ tự nhiên không nghiêm trọng bằng sự chết về mặt luân lý, đặc biệt sự chết vĩnh cửu, sự chết mà con người không còn mảy may chút hi vọng về sự biến đổi nào khác cho tình trạng khốn cùng của mình (Mt 25,31-46; Lc 16,19-31).

Kinh Thánh Tân Ước cho chúng ta biết rằng Đức Giêsu không chỉ là Đấng đem hi vọng cho nhân loại, mà còn là Người Tôi Tớ Đau Khổ cho hi vọng. Hơn thế nữa chính Người là Hi Vọng cho toàn thể mọi người (1 Tm 1,1). Như vậy, theo mặc khải Tân Ước, hi vọng mà toàn thể nhân loại hướng tới không phải là một ý tưởng cao siêu nào đó, một lý thuyết nào đó hay là một cái gì đó, mà chính là Đức Giêsu. Hi Vọng mà nhân loại mong đợi là một Đấng, một Nhân Vị, một Con Người, Ngôi Hai Thiên Chúa từ môi trường Thiên Chúa đến với môi trường nhân loại. Người giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4,15). Thánh Phêrô cũng có kinh nghiệm này khi khuyên dạy các tín hữu rằng “Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hi vọng của anh em” (1 Pr 3,15).

Để duy trì và củng cố hi vọng của Dân Do Thái, bằng nhiều hình thức và đường lối khác nhau, Thiên Chúa đã thông truyền ý định của Người qua các tiên tri và các bậc lãnh đạo Do Thái (Dt 1,1-4). Khi thời gian tới thời viên mãn, Thiên Chúa đã thông truyền với Dân Do Thái và toàn thể nhân loại bằng chính Con của Người. Với sứ mệnh của mình, Đức Giêsu chỉ cho nhân loại biết chính Người là Đường, Đường Hi Vọng đúng nghĩa và đầy đủ nhất. Từ cổ chí kim, từ Đức Phật (của Phật Giáo) tới Mohamed (của Hồi Giáo), từ Lão Tử (của Lão Giáo) tới Khổng Tử (của Khổng Giáo), không ai cho mình là Đường, họa chăng, họ là ngón tay chỉ Đường (Đức Phật), hoặc không biết Đường (Lão Tử và Khổng Tử), hay tiên tri của Đường (Mohamed) mà thôi. Cuộc sống, sự chết, và sự phục sinh của Đức Giêsu chỉ ra rằng Người là Đường Hi Vọng cho toàn thể nhân loại, Đường nối kết tất cả những hoài bão, khao khát, và đợi chờ của toàn thể nhân loại.

Hi vọng Đức Giêsu mang đến không loại trừ bất cứ hi vọng chân thành nào của con người trong dòng lịch sử cho dù họ là ai, thuộc chủng tộc, tôn giáo hay văn hóa nào. Hi vọng Đức Giêsu mang đến là hi vọng cho phép gắn kết các hình thức hi vọng chân thành trong dòng lịch sử nhân loại. Mặt khác, hi vọng Đức Giêsu mang đến cũng có tác dụng thanh luyện và dẫn đưa những hình thức hi vọng khác về hướng sung mãn nhất. Như thế, hi vọng đúng nghĩa bất kỳ dưới hình thức nào cũng tìm được chỗ đứng của mình trong hi vọng Đức Giêsu mang đến, bởi vì, xét cho cùng, những gì tốt lành, những gì thánh thiện, những gì cho phép con người sống xứng đáng hơn với nhân phẩm của mình đều phát xuất từ Thiên Chúa. Do đó, không có hình thức hi vọng đúng nghĩa nào lại vắng bóng Thiên Chúa.

Hi vọng Đức Giêsu mang đến không chỉ dừng lại ở chỗ thần hóa hi vọng của con người trong tương quan với Thiên Chúa mà còn các tương quan khác nữa. Chẳng hạn, hi vọng vào sự biến đổi của tất cả các thụ tạo được đặt trong bối cảnh chung với hi vọng vào sự sống lại và giải thoát của con người. Thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu thêm điều này khi nói rằng “cho đến bây giờ, muôn loài thụ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa” (Rm 8,22-23). Như vậy, chúng ta không chỉ hi vọng cho sự biến đổi bản thân mình cũng như toàn thể nhân loại, mà còn hi vọng cho sự biến đổi của những gì thuộc về Thiên Chúa trong thế giới thụ tạo hướng về sự biến đổi chung cuộc của trời mới đất mới (Kh 21,1).

Đức Giêsu cho chúng ta thấy rằng hi vọng của con người đúng nghĩa phải là hi vọng đặt nền tảng trên tình yêu. Bao lâu hi vọng chưa đặt trên nền tảng tình yêu, bấy lâu hi vọng đó còn mù quáng, còn giả tạo, và nhiễm tính hão huyền. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là ‘tình yêu nào đây?’. Trên trần gian này ai cũng có kinh nghiệm về tình yêu, tôn giáo nào cũng nói về tình yêu, vậy, đâu là tiêu chuẩn? Chính Đức Giêsu đã đưa ra câu trả lời, đó là tình yêu hi sinh, tình yêu quên mình, tình yêu phục vụ theo cách của Đức Giêsu, cách mà Người gọi đó là ‘điều răn mới’: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Người còn giải thích thêm rằng “đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,12-13). Như thế, tình yêu mà Đức Giêsu nói tới là tình yêu ngang qua thập giá, tình yêu thể hiện nơi thung lũng của sự chết, nơi sa mạc khô cằn của đau khổ, nơi hi vọng con người lịm tắt, nơi mà đối với con người mọi sự trở nên vô nghĩa.

Với Đức Giêsu, thập giá, dấu chỉ sự thất vọng tột cùng của con người lại trở thành hi vọng tột cùng của họ. Suy tư về thập giá, chúng ta càng hiểu rõ hơn lời Thiên Chúa nói trong sách tiên tri I-sai-a rằng tư tưởng của Người không phải là tư tưởng của nhân loại và đường lối của Người siêu vượt đường lối của nhân loại (Is 55,8-9). Khi đề cập đến thập giá Đức Giêsu, thánh Phaolô đã nói rằng người Do Thái tìm điềm thiêng dấu lạ, người Hi Lạp tìm sự khôn ngoan, còn thánh nhân và các môn đệ của Đức Giêsu lại rao giảng thập giá, đối với người Do Thái là ô nhục, đối với dân ngoại là điên rồ, nhưng lại là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1 Cr 1,22-25). Với thập giá, Đức Giêsu biến thất vọng thành hi vọng, biến chết thành sống, biến hận thù thành yêu thương, biến sự dữ thành sự lành, biến ghen ghét thành tha thứ, biến đau thương thành hạnh phúc. Như thế, hi vọng mà Đức Giêsu tỏ bày là hi vọng ngang qua thập giá, ngang qua hận thù, ngang qua nỗi đau khổ nhất mà con người có thể cảm nghiệm trong cõi nhân sinh. Chính Người đã mang lấy thập giá, chịu đóng đinh vào thập giá và biến thập giá thành Thánh Giá. Như thế, hi vọng của con người đúng nghĩa khi hi vọng đó được kết hợp với thập giá Đức Giêsu để được Người nâng đỡ, thanh luyện, và biến đổi.

Với biến cố thập giá, Đức Giêsu không chỉ thấy hay chạm đến ngưỡng sự chết, mà chính Người đã chết. Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá chỉ ra rằng nơi sự đau khổ tột cùng của con người cũng chính là nơi tình yêu Thiên Chúa được bày tỏ cách mãnh liệt nhất. Tận cùng của thập giá, tận cùng đau khổ, tận cùng của thất vọng, cũng chính là tận cùng của liên đới, tận cùng của tình yêu, tận cùng của hi vọng, tắt một lời, tận cùng sự thông hiệp giữa Thiên Chúa và thụ tạo mình. Qua biến cố thập giá, Thiên Chúa minh chứng điều đã được sứ thần Gáp-ri-en nói cùng Đức Ma-ri-a trong biến cố truyền tin “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37) hay nói cách khác, đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể. Như thế, khi con người cậy dựa vào Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể. Thánh Phaolô nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca rằng “thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hi vọng. Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” (1 Tx 4,13-14). Đối với thánh Phao-lô, Thiên Chúa của Đức Giêsu, Thiên Chúa mà những ai hi vọng, những ai phải vất vả, phải chiến đấu vì Người là Thiên Chúa hằng sống (1 Tm 4,10). Chính vì hi vọng này mà thánh nhân đã thốt lên “đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21).

Hình hài của hi vọng theo Tân Ước chính là sự sống lại của Đức Giêsu, khuôn mẫu cho hi vọng vào sự sống lại của muôn người. Đây chính là Tin Mừng cho toàn thể nhân loại. Hi vọng Đức Giêsu tỏ bày cho toàn thể nhân loại là hi vọng rằng tiếng nói cuối cùng của lịch sử mỗi người, tiếng nói cuối cùng của lịch sử nhân loại, tiếng nói cuối cùng của thế giới thụ tạo này không phải là tiếng nói của đau khổ, của chết chóc, của sự dữ lên ngôi, nhưng là tiếng nói của Đấng Hi Vọng, của Thần Khí Hiệp Thông, của Chúa Cha Nhân Từ. Tiếng nói đó được thánh Phaolô diễn tả cách rõ hơn, đó là tiếng nói của công chính, bình an, và hoan lạc trong Thánh Thần (Rm 14,17). Dĩ nhiên, công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần vượt qua những gì mà chúng ta có thể cảm nghiệm (Mt 5,12). Đó là lý do giải thích tại sao thánh Phaolô nói rằng “mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cr 2,9). Đó cũng là lý do giải thích tại sao thánh nhân lại nói rằng “nếu chúng ta đặt hi vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15,19).

Về mặt thực hành trên Đường Hi Vọng, Đức Giêsu cho chúng ta biết rằng con người phải từ bỏ những gì cản trở hành trình của mình. Họ không thể đồng thời, một mặt, hi vọng vào điều tốt đẹp nhất, mặt khác, lại tự mình dựng rào cản điều tốt đẹp nhất đó xảy đến (Mt 5,29-30; Mt 10,28). Chính điều mình hi vọng là động lực dẫn tới những thay đổi và mở ra những khả thể mới trong việc hoán cải. Người hi vọng chân thành đồng thời cũng là người thực hành đời sống chân thành. Sẽ là bất cập nếu không có sự hòa hợp giữa hi vọng và thực hành. Chẳng hạn, người ta không thể hi vọng vào điều tốt trong khi lại làm điều xấu. Người ta không thể một mặt hi vọng vào sự thánh thiện, mặt khác luôn đắm chìm trong thế giới của sự dữ, thế giới mà trong đó những gì xảy ra đều ngược với ý định của Thiên Chúa, ý định đem tất cả vạn vật tới viên mãn. Do đó, sự đòi hỏi của Tin Mừng Hi Vọng thật lớn lao, đến nỗi tự sức mình (là những con người tội lỗi), chúng ta không thể nào đạt tới thực tại mà chúng ta hi vọng. Tuy nhiên, Thần Khí của Đấng Hi Vọng hoạt động trong môi trường nhân loại, đặc biệt trong Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô, luôn đồng hành cùng chúng ta trong mọi biến cố của cuộc đời (Tt 3,6-7).

4/ Giáo Hội là Bí Tích của Hi Vọng

a/ Căn Tính Bí Tích Hi Vọng của Giáo Hội

Như đã được đề cập ở trên, ơn cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trong nhân loại trong bối cảnh hi vọng, hi vọng được nảy sinh từ thuở ban đầu của tạo dựng, của lịch sử nhân loại, tiếp tục trong Cựu Ước, cụ thể hóa trong Tân Ước, và diễn tiến trong Giáo Hội cho đến tận thế. Ơn cứu độ được Đức Giêsu Kitô thực hiện ‘một lần cho tất cả’ không theo nghĩa chặt của sự đóng khung về không gian, thời gian, nhưng theo nghĩa một công trình đã, đang, và sẽ hoàn thành. ‘Hình hài’ của ơn cứu độ đã được định dạng trong Biến Cố Đức Kitô, đặc biệt, khi Người sống lại. Sự định dạng này vừa có tính qui tụ vừa có tính lan tỏa. Qui tụ theo nghĩa rằng ơn cứu độ đã tới thời viên mãn trong biến cố này. Lan tỏa theo nghĩa rằng ‘thời viên mãn’ của ơn cứu độ hướng về cánh chung, khi Thiên Chúa qui tụ muôn loài muôn vật trong Người (Ep 1,10).

Để trả lời cho câu hỏi ‘tại sao Giáo Hội là Bí Tích của Hi Vọng?’, chúng ta cần tìm hiểu đôi chút về căn tính của Giáo Hội. Chúng ta biết rằng không có một định nghĩa nào diễn tả đầy đủ thực tại có tên gọi là ‘Giáo Hội’ bởi vì thực tại này vừa là công trình của Thiên Chúa, vừa là công trình của con người; vừa thánh thiện bởi bản tính, vừa ôm ấp những người tội lỗi; vừa hiện diện trong thời gian, vừa siêu vượt thời gian. Kinh Thánh, truyền thống, và giáo huấn của Giáo Hội cho phép chúng ta hiểu Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô, Đền Thờ Chúa Thánh Thần, thể chế, hiệp thông, hòa hợp, tôi tớ. Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu Giáo Hội qua những hình ảnh như cây nho, nắm bột trong men, ruộng lúa và nhiều hình ảnh khác nữa. Trong Kinh Thánh Tân Ước có khoảng 100 hình ảnh khác nhau về Giáo Hội.

Công Đồng Vatican II là Công Đồng đào sâu nhất về căn tính của Giáo Hội so với 20 công đồng chung trước đó, kể từ Công Đồng đầu tiên của Giáo Hội, Công Đồng Nicea (325 AD). Thay vì diễn tả Giáo Hội theo các mô hình trước đó, đặc biệt mô hình Giáo Hội là xã hội hoàn hảo (Societas Perfecta - Perfect Society) gắn liền với Công Đồng Tren-ti-nô (1545-1563) như là phản ứng cần thiết đối với anh em Tin Lành cũng như một số chủ nghĩa nảy sinh sau đó, chẳng hạn, chủ nghĩa lý trí, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa thế tục, Công Đồng Vatican II đã diễn tả Giáo Hội là mầu nhiệm, là bí tích. Công Đồng Vatican II minh định tính bí tích của Giáo Hội ngay trong số đầu tiên của Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium rằng “Giáo Hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại” (LG 1).

Công Đồng cũng khẳng định rằng “Thiên Chúa triệu tập tất cả những người tin kính và mong đợi Chúa Kitô, Ðấng ban ơn cứu độ và hiệp nhất, nguyên lý của sự hòa bình; Ngài thiết lập họ thành Giáo Hội để Giáo Hội trở nên bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ ấy cho toàn thể và cho mỗi người” (LG 9). Ngoài ra, Công Đồng Vatican II cũng nhấn mạnh rằng Giáo Hội là Bí Tích hoàn vũ của ơn cứu độ (LG 48). Khi diễn tả Giáo Hội như vậy, Công Đồng Vatican II muốn nhấn mạnh đến tương quan mật thiết giữa Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội. Giáo Hội được Đức Giêsu Kitô thiết lập và ủy thác tiếp tục sứ mệnh lịch sử của mình trên trần gian với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Giáo Hội hiện diện vì Đức Giêsu Kitô, Giáo Hội không hiện diện cho chính mình. Nói theo ngôn ngữ Giáo Hội học, Giáo Hội là Bí Tích của Đức Giêsu Kitô trên trần gian và chính là Thân Thể Mầu Nhiệm của Người.

Giáo Hội là Bí Tích của Đức Giêsu Kitô, mà Đức Giêsu Kitô là Hi Vọng của chúng ta (1 Tm 1,1), do đó, Giáo Hội chính là Bí Tích của Hi Vọng. Như đã được trình bày ở trên, hi vọng của Giáo Hội không phải là một ý tưởng trừu tượng, nhưng là một con người cụ thể, Đức Giêsu Kitô, Người là Hi vọng của toàn thể nhân loại cũng như thế giới thụ tạo. Hơn thế nữa, Người cũng là Thầy dạy con người về Nguồn Hi Vọng đích thực là chính Thiên Chúa, Đấng hiện thực hóa hi vọng của những người thành tâm tìm kiếm Người. Chính Đức Giêsu Kitô, nhân danh toàn thể nhân loại nói lên hi vọng chân thành của tất cả mọi người. Đồng thời, cũng chính Người thiết lập Giáo Hội và ủy thác cho các môn đệ của Người tiếp tục loan báo Tin Mừng Hi Vọng cho toàn thể thế giới thụ tạo (Mc 16,15).

Ngoại trừ là Bí Tích của Hi Vọng, Giáo Hội không có lý do hiện hữu, thông truyền, và phát triển giữa lòng nhân thế. Hi vọng trở thành máu thịt của Giáo Hội và nhờ đó, Giáo Hội được gọi là thực tại tiếp tục sự hiện diện lịch sử của Đức Giêsu Kitô trên trần gian. Do đó, người ta không thể tiếp cận Giáo Hội mà không ý thức được căn tính hi vọng của chính Giáo Hội. Về căn bản, Giáo Hội được hiểu là cộng đoàn của những người hi vọng, cộng đoàn có từ đời đời trong ý định Thiên Chúa, cộng đoàn được tiên báo trong Cựu Ước, cộng đoàn xuất hiện với Biến Cố Đức Kitô, cộng đoàn được Chúa Thánh Thần thánh hóa và tiếp tục đồng hành cùng thế giới hướng về sự sung mãn của toàn thể thế giới thụ tạo trong thời cánh chung (eschaton)

Là Bí Tích của Đức Giêsu Kitô, Đấng Hi Vọng, Giáo Hội chính là công cụ, là dấu chỉ hi vọng cho toàn thể nhân loại. Giáo Hội cho nhân loại thấy rằng hi vọng thuộc căn tính của mình và hi vọng của Giáo Hội chính là Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người. Những gì Giáo Hội hi vọng cũng là những gì Giáo Hội đã, đang, và sẽ cảm nghiệm bởi vì “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13,8). Như thế, hi vọng của Giáo Hội là hi vọng ‘rồi mà chưa’ (already and not yet), hi vọng vừa được định dạng, vừa hướng về sự hoàn thành mỹ mãn trong Nước Thiên Chúa.

Hi vọng trở thành nguyên lý cho sự hiện hữu và hoạt động của Giáo Hội giữa lòng thế giới. Đồng thời, hi vọng trở thành sức sống cho Giáo Hội lữ hành với những khó khăn, bất trắc phát xuất từ Giáo Hội xét như là một xã hội giữa lòng thế giới cũng như phát xuất từ các thực tại khác đang cùng đồng hành với Giáo Hội. Giữa cảnh trắng đen, sáng tối, và thánh thiêng trần tục lẫn lộn, khó phân biệt, Giáo Hội dõi bước theo sự hướng dẫn của Thần Khí Đức Giêsu Kitô, Chúa Thánh Thần. Như thế, Giáo Hội lệ thuộc vào Chúa Thánh Thần trong mọi hoàn cảnh của đời sống mình, bằng không, Giáo Hội là thực tại qui tụ những người cao ngạo, tiếp tục xây tháp Ba-ben của thời đại mới.

Trong Cựu Ước, nhân loại với hi vọng xây tháp Ba-ben để tiếp cận môi trường Thiên Chúa theo ý riêng mình, để thể hiện chính mình, để danh mình được cả sáng. Hậu quả là thất vọng ê chề, tháp hoàn toàn bị sụp đổ vì Thiên Chúa ‘xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất’, khiến họ không thể đồng sức đồng lòng để xây tháp đó (St 11,1-9). Tại Biến Cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chính Chúa Thánh Thần xây Tháp Hi Vọng đó chính là Giáo Hội. Chúa Thánh Thần xây tháp này là thành trì của Thiên Chúa ở trần gian dựa trên những viên đá sống động, những viên đá khiêm tốn, những viên đá hi vọng, những viên đá tín thác vào quyền năng của Thiên Chúa. Tháp Hi Vọng này tiếp tục được xây và ngày càng vươn lên giữa lòng thế giới.

Khi nói rằng Giáo Hội là Bí Tích của Hi Vọng, đồng thời, chúng ta cũng nói rằng Giáo Hội không kết thúc ở chính mình. Giáo Hội không nhằm vào chính mình, mục đích của Giáo Hội không phải là mục đích tự thân. Trái lại, Giáo Hội ý thức rằng mình là công cụ, là ngọn đèn cho phép con người nhận ra đâu là hi vọng đích thực. Vì là Bí Tích của Đức Giêsu Kitô, vì là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô, sự hiện diện của Giáo Hội cũng chính là sự hiện diện của Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, sự hiện diện của Giáo Hội luôn hướng tới sự hiện diện sung mãn của Nước Thiên Chúa trong thời cánh chung.

Đặc tính hi vọng của Giáo Hội luôn được diễn tả trong các bí tích cụ thể nhằm nuôi dưỡng đời sống của các thành phần Giáo Hội: Rửa Tội, Thêm Sức, Mình Thánh Chúa, Giải Tội, Xức Dầu Thánh, Truyền Chức Thánh, và Hôn Phối. Mỗi bí tích diễn tả đặc tính hi vọng của cộng đoàn Giáo Hội cũng như hi vọng của mỗi cá nhân khi lãnh nhận các bí tích này. Nói cách khác, tính bí tích của Giáo Hội (sacramentality of the Church) luôn in đậm dấu ấn của hi vọng, dấu ấn của một khởi đầu mới cho một tương lai tốt đẹp hơn. Hi vọng và bí tích gần nhau đến nỗi, cử hành các bí tích cũng là cử hành hi vọng. Bao lâu con người còn hi vọng cũng như sống đúng với hi vọng đó, bấy lâu hiệu quả của bí tích còn hiện diện và hoạt động trong đời sống họ.

Khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, người tín hữu hi vọng rằng nhờ bí tích này, họ sẽ được tái sinh trong sự sống mới của Chúa Ba Ngôi và được trở nên thành phần sống động trong Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô. Khi chịu Bí Tích Thêm Sức, người tín hữu hi vọng rằng họ được hưởng tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần để cùng với các thành phần khác trong Giáo Hội làm chứng cho Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng Hi Vọng của Người giữa lòng thế giới. Khi chịu Bí Tích Thánh Thể, người tín hữu hi vọng rằng họ trở nên một với Đức Giêsu Kitô và ý thức hơn về sự cần thiết của sự hiệp nhất trong Giáo Hội như muôn hạt lúa miến làm nên tấm bánh và muôn trái nho làm nên li rượu tiến dâng trên bàn thờ. Khi chịu Bí Tích Hòa Giải, người tín hữu hi vọng rằng họ được giao hòa với Thiên Chúa nhờ sự tha thứ của Người qua trung gian thừa tác viên Giáo Hội. Khi chịu Bí Tích Xức Dầu Thánh, người tín hữu hi vọng rằng họ có thêm sức mạnh để có thể vượt qua những đau khổ, thất vọng nhất của cuộc đời trong tình hiệp thông với Giáo Hội. Khi chịu Bí Tích Truyền Chức Thánh, người tín hữu hi vọng rằng họ sẽ là cánh tay nối dài của Thiên Chúa trong Giáo Hội, để trao ban tình thương của Người cho đồng loại. Khi chịu Bí Tích Hôn Phối, người tín hữu hi vọng rằng họ sẽ mãi mãi thủy chung và thương yêu nhau dựa trên khuôn mẫu ‘giới răn yêu thương mới’ của Đức Giêsu Kitô (Ga 13,34; Ga 15,12-3).

Người ta sẽ đặt câu hỏi ‘tại sao Giáo Hội được gọi là Bí Tích của Hi Vọng trong khi không ít con cái Giáo Hội lại bất xứng?’ Phải chăng con cái Giáo Hội phản ánh bản chất của Giáo Hội? Thực ra, sự thánh thiện của Giáo Hội không phải là sự qui tụ của những người thánh thiện đã được rửa tội. Giáo Hội thánh thiện bởi từ đời đời, Thiên Chúa Cha đã tiền định cho sự hiện diện của Giáo Hội. Giáo Hội thánh thiện bởi vì Giáo Hội được Đức Giêsu Kitô thiết lập. Giáo Hội thánh thiện bởi Giáo Hội được Chúa Thánh Thần thánh hóa. Giáo Hội thánh thiện bởi vì các bí tích của Giáo Hội là các bí tích thánh. Giáo Hội thánh thiện bởi vì mục đích của Giáo Hội là Vương Quốc Thiên Chúa, là Vương Quốc Thánh. Nói cách ngắn gọn hơn, các yếu tố làm cho Giáo Hội hiện hữu và hoạt động, cũng như phương tiện và mục đích của Giáo Hội là thánh.

Sự thánh thiện của Giáo Hội không lệ thuộc trực tiếp vào sự thánh thiện của con cái Giáo Hội. Sự thánh thiện của con cái Giáo Hội là sự thánh thiện tham dự, còn sự thánh thiện của Giáo Hội là sự thánh thiện bởi bản tính. Như thế, tội lỗi và bất xứng của con cái Giáo Hội không làm vong bản hay triệt tiêu bản tính thánh thiện của Giáo Hội. Con cái Giáo Hội, hay bất cứ ai khác đều phải không ngừng sám hối để ngày càng thánh thiện hơn. Như đã được đề cập ở trên, từ nguyên thủy, con người là hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26-27), con người thánh thiện. Tuy nhiên, con người trở nên tội lỗi vì Tội Nguyên Tổ, tội của các hình thức tập thể, và tội cá nhân mỗi người.

Cách nào đó, chúng ta có thể nói rằng sự thánh thiện của Giáo Hội là sự thánh thiện của những ai ý thức rằng mình tội lỗi, đồng thời, cũng ý thức rằng tự bản thân, mình không thể làm cho mình trở nên thánh thiện, rằng mình cần sự yêu thương, tha thứ của Thiên Chúa. Sự thánh thiện của Giáo Hội là sự thánh thiện của những ai ý thức rằng chỉ Thiên Chúa là Đấng Thánh Thiện và là Nguồn mọi sự thánh thiện. Thánh Gioan Tông Đồ khẳng định “nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1 Ga 1,8). Lời khẳng định của thánh Gioan không chỉ nhằm đến con cái Giáo Hội theo nghĩa chặt (những người đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội) mà thôi mà còn cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Bằng ngôn ngữ hi vọng, chúng ta có thể nói rằng người tội lỗi, người khiếm khuyết đồng thời cũng là người hi vọng. Người cho rằng mình không có tội, không tham gia vào môi trường tội lỗi, hay không có kinh nghiệm về môi trường này cũng là người không bao giờ hi vọng, hay nói đúng hơn, chẳng phải là người nữa!

Trên bình diện lịch sử, sự thánh thiện của Giáo Hội còn là sự thánh thiện nảy nở cho đến khi đạt tới sự sung mãn trong thời cánh chung, khi Thiên Chúa qui tụ muôn loài muôn vật trong Đức Kitô. Câu cuối cùng trong Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Mathêu là “dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20). Đây là lời hứa của Đức Giêsu Kitô và là hi vọng của các tông đồ Đức Giêsu Kitô qua các thế hệ. Câu hỏi đặt ra là bằng cách nào Đức Giêsu Kitô có thể ở với các môn đệ của mình cho đến tận thế. Câu trả lời đó là Đức Giêsu Kitô tiếp tục hiện diện và hoạt động trong và qua Giáo Hội mà chính Người thiết lập. Người vẫn tiếp tục hiện diện trong Giáo Hội vì Giáo Hội là Bí Tích của Người, là Thân Thể Mầu Nhiệm của Người. Đặc biệt, Người hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể để trở nên của ăn thiêng nuôi sống các chi thể của người, là các tín hữu. Khi lĩnh nhận Của Ăn Hi Vọng này, người tín hữu nhận lấy Đức Giêsu Kitô, nhận lấy Giáo Hội mà mình là thành phần.

Giáo Hội được ủy thác làm cho hi vọng mà mình lãnh nhận chiếu soi mọi người trong gia đình nhân loại, đặc biệt, chiếu soi những người chán chường thất vọng, những người không tìm được ý nghĩa cho cuộc sống mình hoặc những người đang hi vọng vào những gì phù phiếm, chóng qua, trần tục. Khi thi hành sứ mệnh của mình, Giáo Hội cho tất cả mọi người biết rằng Giáo Hội chính là ngón tay chỉ về Đấng là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống của tất cả những ai đang thành tâm tìm kiếm Người với hi vọng chân thành. Điều này đã được thánh Phaolô diễn tả: “Hội Thánh [Giáo Hội] là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1,23). Là Bí Tích của Hi Vọng, Giáo Hội Giáo Hội thâm tín rằng “lúc muôn loài đã quy phục Đức Kitô, thì chính Người, vì là Con, cũng sẽ quy phục Đấng bắt muôn loài phải quy phục Người; và như vậy, Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28).

b/ Sứ Mệnh Hi Vọng của Giáo Hội

Hi vọng vừa là món quà Thiên Chúa ban cho Giáo Hội, vừa là tác vụ mà Giáo Hội cần thực thi trong sứ mệnh của mình trên đường lữ hành cùng toàn thể nhân loại. Món quà hi vọng của Giáo Hội vừa có hình dạng nhờ Biến Cố Đức Kitô (the Christ Event), vừa đang lớn lên theo dòng lịch sử (Mt 13,31-32; Mc 4,30-32; Lc 13,20-21). Do đó, Giáo Hội cũng như tất cả những ai tham dự vào đời sống Giáo Hội vừa trân quí món quà này, vừa khao khát đợi chờ đến khi món quà này đạt tới tầm mức sung mãn trong đời sống vĩnh cửu mai sau.

Theo Công Đồng Vatican II, “số phận mai sau của nhân loại nằm trong tay những người có khả năng trao cho hậu thế những lý do để sống và để hi vọng” (GS 31). Ý thức rằng Giáo Hội cùng song hành với thế giới và cho thế giới, trong ngôn ngữ hi vọng, câu đầu tiên của Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới ngày nay Gaudium et Spes (Vui Mừng và Hi Vọng) nhấn mạnh rằng “vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (GS 1). Giáo Hội là cộng đoàn những người được tháp nhập vào Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô nhờ Bí Tích Rửa Tội, đồng thời, Giáo Hội cũng là cộng đoàn đồng hành cùng toàn thể nhân loại. Do đó, Giáo Hội không thể lãng quên chiều kích nhân loại của mình, cũng như sự liên đới với tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.

Cũng theo Công Đồng Vatican II, “hi vọng vào đời sống mai sau không làm giảm tầm quan trọng những bổn phận ở trần gian này mà trái lại còn thêm những động lực mới giúp hoàn tất những bổn phận ấy” (GS 21). Giáo Hội sẽ không làm trọn bổn phận của mình là Bí Tích của Hi Vọng, khi Giáo Hội không quan tâm đến những khổ đau của biết bao người vì bất công, vì phân biệt đối xử, vì phẩm giá bị chà đạp, và muôn hình thức bất hòa hợp khác. Sứ mệnh hi vọng của Giáo Hội không chỉ là sứ mệnh phần hồn mà còn sứ mệnh phần xác nữa, bởi vì, Đức Giêsu Kitô (mà Giáo Hội là Bí Tích của Người) luôn quan tâm đến mọi chiều kích của đời sống con người. Do đó, khi Giáo Hội loan báo Tin Mừng Hi Vọng cho tất cả mọi người, đồng thời, Giáo Hội cùng chung tay xoa dịu những thương đau của con người trong xã hội.

Là Bí Tích của Hi Vọng, tiếng nói của Giáo Hội là tiếng nói ngôn sứ về hi vọng, đồng thời, Giáo Hội thi hành vai trò nhân chứng hi vọng trong môi trường nhân loại. Giáo Hội diễn tả sự thật rằng Đức Giêsu Kitô là tâm điểm hội tụ hi vọng của lịch sử nhân loại. Người tiếp tục là tâm điểm hội tụ của những gì thiện hảo mà nhân loại hằng mong ước. Cũng chính Người là điểm hẹn của lịch sử, khi Thiên Chúa qui tụ muôn vật muôn loài trong Người. Giáo Hội luôn dõi theo Đức Giêsu Kitô, Đấng hôm qua, hôm nay, và mãi mãi là khởi đầu, là trung tâm, và là đích đến của toàn thể mọi người.

Để diễn tả căn tính, đời sống, và sứ mệnh hi vọng của mình, Giáo Hội ý thức rằng mình phải đi ra, phải hi sinh, phải bầm dập giữa lòng thế giới. Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô nói trong Tông Huấn Niềm Vui của Tin Mừng Evangelii Gaudium (2013) rằng “tôi lặp lại điều tôi thường nói với các linh mục và giáo dân ở Buenos Aires [Argentina]: Tôi muốn một Giáo Hội bầm dập, đau thương, và dơ bẩn bởi lăn lộn ngoài đường phố, hơn là Giáo Hội ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn Giáo Hội chú ý đến vai trò trung tâm của mình và kết thúc bởi bị mắc kẹt trong mạng lưới những nỗi ám ảnh và thủ tục.” Thế là rõ, vừa loan báo Tin Mừng Hi Vọng, vừa không ngừng ý thức những bất cập của mình là hai thì không thể thiếu được trong sứ mệnh Giáo Hội. Như đã được đề cập ở trên, là thực tại lữ hành trong dòng lịch sử, các thành phần của Giáo Hội bao gồm những người tội lỗi. Những chướng ngại và rào cản hi vọng đích thực phát xuất từ con cái Giáo Hội vẫn còn đó và đồng hành cùng Giáo Hội cho đến tận thế. Do vậy, sứ mệnh loan báo Tin Mừng Hi Vọng của Giáo Hội đồng hành cùng sứ mệnh thanh tẩy, đổi mới, và tái cấu trúc chính Giáo Hội theo chương trình của Thiên Chúa.

Như đã được đề cập ở trên, giữa lòng thế giới, Giáo Hội luôn thâm tín rằng sẽ không có hi vọng đích thực nếu hi vọng đó không có chỗ đứng trong Tin Mừng Hi Vọng mà Giáo Hội lãnh nhận và có sứ mệnh loan truyền. Tin Mừng này không xa lạ với bất cứ môi trường nhân loại lành mạnh nào. Hơn nữa, Tin Mừng này không chỉ có khả năng thâm nhập tất cả các môi trường trong xã hội loài người, mà còn có khả năng tích hợp các hình thức hi vọng lành mạnh trong các môi trường đó. Hơn nữa, Tin Mừng này có khả năng biến cải và thanh tẩy các hình thức hi vọng trong các môi trường đó. Giáo Hội ý thức rằng bao lâu Tin Mừng Hi Vọng chưa thành lẽ sống của Giáo Hội cũng như lẽ sống của tất cả mọi người, bấy lâu sứ mệnh của Giáo Hội vẫn còn tiếp diễn.

Một trong những khủng hoảng của nhân loại hôm nay là khủng hoảng hi vọng (the crisis of hope) khi mà con người không biết đặt hi vọng vào đâu cho đúng giữa thị trường muôn màu sắc hi vọng và ai cũng có có thể chọn cho mình hình thức hi vọng theo sở thích. Xem ra khủng hoảng hi vọng là nguyên cớ cho những đau thương trong xã hội loài người, trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Càng ngày nhân loại càng ý thức hơn rằng thực thể có tên gọi ‘con người’ xem ra phức tạp hơn là những gì mà con người có thể mô tả hoặc cân đong đo đếm. Hi vọng của con người luôn dồi dào và thâm sâu hơn là những gì mà thế giới thụ tạo hứa hẹn và có thể cung cấp hay ban tặng.

Việc Giáo Hội đóng góp phần mình để biến đổi xã hội dựa trên các giá trị của Tin Mừng Hi Vọng luôn cần thiết. Những hiện tượng tiêu cực trong xã hội hiện đại nảy sinh từ sự thất vọng hay hi vọng hão huyền đang có xu hướng gia tăng, phát xuất từ chủ nghĩa tôn giáo quá khích, chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa tiêu thụ, cùng nhiều hình thức chủ nghĩa khác. Thêm vào đó, thực tế cũng cho thấy rằng không ít người lại đặt trọn hi vọng vào khoa học, vào kỹ thuật, vào máy móc. Để góp phần cải thiện tình trạng xã hội, Giáo Hội cần phải dấn thân hơn trong việc loan báo Tin Mừng Hi Vọng cho các giai tầng xã hội, nhằm giải phóng con người khỏi hình thức nô lệ mới, ‘nô lệ hi vọng’.

Giáo Hội có sứ mệnh giải phóng tất cả nạn nhân của nô lệ hi vọng, bằng không, chính họ là những nhân tố gây xáo trộn và bất trắc trong xã hội loài người. Tuy nhiên, như đã được đề cập ở trên, trong nhãn quan Tin Mừng Hi Vọng, sự giải phóng đích thực phải là sự giải phóng con người khỏi xiềng xích tội lỗi và những dẫn xuất của tội lỗi. Những hình thức giải phóng khác, nếu có, phải nằm trong lộ trình của sự giải phóng này, bằng không, những hình thức giải phóng khác trở nên vô nghĩa. Sự giải phóng đích thực mà Đức Giêsu Kitô, Đấng Hi Vọng thực hiện cho toàn thể nhân loại là sự giải phóng hướng tới Nguồn và Đích của hi vọng khi mà thiện, ác, tốt, xấu được phân biệt rạch ròi, lúa và cỏ lùng không còn lẫn lộn.

Giữa muôn vàn hình thức hi vọng giữa lòng thế giới, sứ mệnh của Giáo Hội không phải là cổ vũ tất cả các hình thức hi vọng, nhưng là cổ vũ những hình thức hi vọng nào ẩn chứa ánh sáng hi vọng cao cả mà Giáo Hội được ủy thác tiếp nhận, sống, và loan báo. Nghĩa là những hình thức hi vọng nào sau khi được gột rửa bởi Hi Vọng mà Giáo Hội là Bí Tích sẽ giúp con người sống xứng đáng hơn với phẩm giá của mình ở đời này và dẫn họ tới Nguồn cũng là Đích của hi vọng vĩnh cửu. Để thực hiện được sứ mệnh này, Giáo Hội cần phải phân định đâu là những dấu chỉ cho phép Giáo Hội tích hợp những hình thức hi vọng giúp con người sống những giá trị của Nước Thiên Chúa ngay trên cõi đời này và hướng họ về Quê Trời Vĩnh Cửu.

Giáo Hội luôn trở về Nguồn để kín múc sức sống hi vọng cho chính mình, đồng thời, Giáo Hội cũng luôn dõi theo những biến chuyển trong đời sống xã hội, nơi Giáo Hội hiện diện và hoạt động, để giới thiệu và trao ban hi vọng đích thực cho tất cả mọi người. Là thực tại lữ hành, Giáo Hội không ngừng đọc những dấu chỉ của Chúa trong môi trường nhân loại và hành động theo những dấu chỉ đó. Giữa lòng thế giới, Giáo Hội ý thức mình là men hi vọng, là muối hi vọng, và là ánh sáng hi vọng cho muôn người. Là Bí Tích của Hi Vọng giữa lòng thế giới đầy phong ba bão táp và bóng đêm của sự dữ, Giáo Hội có sứ mệnh trao ban cho toàn thể nhân loại chân trời hi vọng, nơi đó ánh sáng phục sinh của Đức Giêsu Kitô không ngừng chiếu tỏa.

Kết luận

Hi vọng là thực tại chung của tất cả mọi người trong thế giới đa dạng về văn hóa, tôn giáo, màu da, thể chế, ngôn ngữ. Chính hi vọng làm cho con người phân biệt với vạn vật trong thế giới thụ tạo, đồng thời, là yếu tố quyết định tương lai và vận mệnh của mỗi người. Hi vọng luôn ở trạng thái động, trạng thái vươn lên, vươn xa hơn những gì đóng khung theo khuôn mẫu nào đó. Hi vọng bền lâu và có khả năng tương thích với tất cả các môi trường sống của con người, đồng thời, cho phép con người vượt qua tất cả các biên giới của thế giới thụ tạo và cho phép con người gặp gỡ Thiên Chúa đang khi họ hành trình trong môi trường thụ tạo.

Sự xem xét, lượng định, và đánh giá trên đây cho chúng ta thấy rằng hi vọng thuộc bản chất mặc khải Kitô Giáo. Hi vọng là ngôn ngữ của các Sách Kinh Thánh, từ cuốn Sách đầu tiên của bộ Kinh Thánh, Sách Sáng Thế, đến cuốn cuối cùng, Sách Khải Huyền. Hi vọng của Dân Do Thái, Dân Riêng của Thiên Chúa trong Cựu Ước quan tâm nhiều đến chiều kích xã hội hơn là chiều kích tâm linh. Hi vọng này được xem là hình bóng của Dân Thiên Chúa trong Tân Ước, Dân được Đức Giêsu Kitô thiết lập, nuôi dưỡng, và hướng dẫn. Biến Cố Đức Kitô khơi mào niềm hi vọng chân thực và sâu xa nhất của con người, niềm hi vọng vào cuộc sống vĩnh cửu. Đức Giêsu Kitô cho tất cả mọi người biết rằng Thiên Chúa là Nguồn và là Đích của hi vọng nhân loại và Người không chỉ là Đấng mang hi vọng tới cho nhân loại mà chính Người là Hi Vọng.

Đức Giêsu Kitô đã thiết lập Giáo Hội để Giáo Hội tiếp tục sự hiện diện của Người trên trần gian. Căn tính, đời sống, và sứ mệnh của Giáo Hội được thêu dệt bằng những sợi chỉ hi vọng kết tinh từ việc Thiên Chúa tự bày tỏ mình cho nhân loại trong dòng lịch sử, đặc biệt, trong Cựu Ước của Dân Do Thái và trong Tân Ước, với Biến Cố Đức Kitô. Theo ngôn ngữ Giáo Hội học, chính Giáo Hội là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô và các thành phần của Giáo Hội là chi thể sống động trong Thân Thể đó. Giáo Hội chính là Bí Tích của Đức Giêsu Kitô, Đấng Hi Vọng, do đó, Giáo Hội cũng là Bí Tích của Hi Vọng. Giáo Hội hiện diện trên trần gian là dấu chỉ và khí cụ của Đấng Hi Vọng. Giáo Hội cho toàn thể nhân loại biết rằng chính Giáo Hội đang là ‘ngón tay chỉ đường’ cho tất cả mọi người biết đâu là hi vọng đích thực.

Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng Hi Vọng của Người đáp ứng những hoài bão và mong đợi sâu xa nhất của nhân loại. Đức Giêsu lịch sử không còn hiện diện trên trần gian này nữa. Tuy nhiên, Người vẫn hiện diện trong lịch sử nhân loại bằng nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt, trong lịch sử của Giáo Hội mà Người thiết lập. Như vậy, tính lịch sử của Biến Cố Đức Kitô vẫn còn tiếp diễn nhằm làm cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại biết rằng “chỉ có một thân thể, một Thần Khí,… một niềm hi vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4,4-6). Là Bí Tích của Hi Vọng, Giáo Hội không ngừng loan báo và làm chứng cho Đức Giêsu Kitô, Đấng Hi Vọng và cho Tin Mừng Hi Vọng của Người giữa lòng nhân thế, ngõ hầu tất cả mọi người trong gia đình nhân loại nhận ra đâu là hi vọng định hướng cuộc sống của họ trên cõi đời này, đồng thời, giúp họ vững tiến về Nguồn và Đích của hi vọng là Thiên Chúa Ba Ngôi hằng hữu và hằng sống.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thao ly  
#5592 Posted : Monday, February 2, 2015 9:28:36 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 3,455
Woman

Thanks: 451 times
Was thanked: 373 time(s) in 272 post(s)

ĐGM Kontum: Nền giáo dục VN coi trọng chữ mà xem thường nghĩa


UserPostedImage


Micae Hoàng Đức Oanh


VRNs (02.02.2015) – Kontum – Ngày 31.01 vừa qua, Giáo phận Kontum đã tổ chức Ngày Nhà Giáo Công Giáo nhân dịp Hội thánh mừng lễ thánh Gioan Bosco, bổn mạng các nhà giáo dục.

Trong bức thư gởi đến toàn thể giáo sư, giảng viên và giáo viên trong giáo phận, Đức cha Micael Hoàng Đức Oanh, Giám mục Kontum đã nói ngay đến hình ảnh của hai người trẻ vừa qua tuổi 17 đang được cả thế giới quan tâm là Malala Yousafzai và Joshua Wong, những người trong độ tuổi học sinh của quý thầy cô. Cả hai em này đã chọn lựa phần thiệt về mình để đạt được sự công bằng cho các trẻ em gái (Malala), và việc đúng và cần thì phải làm chứ không đùn đẩy cho người sau (Joshua).

Trong văn thư, Vị mục tử của giáo phận Kontum cũng nhắc lại bản chất của nền giáo dục vô thần xem trọng chữ, mà xem thường nghĩa dẫn đến giá trị con người không còn là mục tiêu phát triển.

Trong bối cảnh đó, nhà giáo Công giáo cần phải làm gì dưới hướng dẫn của Thông điệp Niềm Vui Tin Mừng.


UserPostedImage

UserPostedImage


Hoàng Nam  
#5593 Posted : Monday, February 2, 2015 4:46:28 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,612

Thanks: 744 times
Was thanked: 262 time(s) in 197 post(s)
Thảm họa gì trong tương lai?


2 tháng 2 2015

UserPostedImage

Blade Runner


Các phim khoa học viễn tưởng có thể có những cảnh báo cho chúng ta – làm sao con đường của chúng ta đến một thế giới tương lai hoàn hảo lại tiềm tàng những hiểm họa. Quentin Cooper xem lại các bộ phim Hollywood để rút ra những bài học cho chúng ta.

Tránh người máy hay trí tuệ nhân tạo

Các sinh vật nhân tạo có bề ngoài và hoạt động giống như con người sẽ là rắc rối lớn. Một số người máy được tạo ra làm phần tử xấu, chẳng hạn như Terminator (Kẻ hủy diệt) không ngừng đuổi theo con người hay Ash trong Alien không có tính người nên luôn phản bội. Một số người máy khác có thể trở thành xấu xa như vậy do máy móc bị lỗi hay do nổi loạn như tay súng trong Westworld bắt đầu biết bắn giết.

Ngay cả khi chúng ta tước bỏ cơ thể chúng và khả năng di chuyển của chúng thì một thực thể có tri giác vẫn có thể là mối đe dọa. Trước hết, các máy tính có thể áp chế toàn bộ xã hội, chẳng hạn như chúng mô phỏng thực tế để chế ngự toàn bộ nhân loại như trong The Matrix Trilogy. Thứ hai, chúng có thể có hành động tàn sát như Red Queen trong Resident Evil vốn có nhiệm vụ bảo vệ nhân loại. Thứ ba, chúng có thể khiến chúng ta bị rối loạn cảm xúc như bộ máy có tri giác trong Her. Nếu có đủ thời gian, máy móc có thể nghĩ ra cách tự tiến hóa thành người để chúng có thể làm được tất cả mọi thứ ở trên.

Một chủ đề thường thấy trong các bộ phim là các máy móc được tạo ra để bảo vệ chúng ta cuối cùng có một nhận định không phải hoàn toàn vô lý rằng mối đe dọa lớn nhất là con người. Chẳng hạn như trong phim Colossus: The Forbidden Project các siêu máy tính quốc phòng Nga và Mỹ đã hợp sức để chiếm lĩnh thế giới.

Một lần nữa, chúng ta lại có nỗi sợ rằng những gì chúng ta tạo ra sẽ chống lại chúng ta – phản ánh sự thiếu lòng tin giữa khoa học và các khoa học gia vốn có từ tác phẩm Frankenstein của Mary Shelley.

Máy móc cùng vũ khí là thảm họa

UserPostedImage

Ash trong Alien


Dù hình dáng chúng có là gì đi nữa, có một quy tắc chung là cái gì thông minh nhân tạo thì thật sự không hay, nếu nó được trang bị vũ khí nữa thì đó sẽ là thảm họa và nếu nó có vũ khí hạt nhân nữa thì đó sẽ là ngày tận thế.

Từ Chiến tranh Lạnh trở đi, phim ảnh thường cho chúng ta thấy hiểm họa của chiến tranh hạt nhân toàn diện (nổi tiếng nhất là vào cuối phim Planet of the Apes) và các vụ thử hạt nhân (quái vật sống dậy trong Godzilla). Trong nhiều bộ phim, nhân loại sẽ đối mặt nguy hiểm nếu vũ khí hạt nhân do máy móc kiểm soát.

Thông điệp dành cho chúng ta là thế giới phi hạt nhân là tin tốt và vũ khí không nằm trong tay bất cứ thứ gì có trí tuệ nhân tạo thậm chí còn là tin tốt hơn.

Cấm nhân bản người

UserPostedImage

The Matrix


Kịch bản lạc quan nhất là con người lâm vào thế khó xử về đạo đức khi có những người được nuôi lớn chỉ để lấy nội tạng hay làm lao động rẻ mạt (Never Let Me Go, The Island, Moon); kịch bản tệ nhất là chúng ta tạo ra một đạo quân đông đảo và phát động một cuộc chiến khắp dải Ngân hà (Star War 2, Attack of the Clones).

Giữa hai kịch bản đó có thể có khả năng gien di truyền sẽ quyết định số phận chúng ta giống như hệ thống giai cấp do gien quyết định như trong Gattaca, kiểm soát ADN để tạo ra những siêu nhân chống lại chúng ta (Star Trek 2, Wrath of Khan và Into Darkness) và sự kết hợp đáng sợ giữa con người và các sinh vật khác (Alien: Resurrection, The Fly). Đó là còn chưa nói đến các virus, cây cỏ và động vật biến đổi gien.

Chỉ đến gần đây chúng ta mới tương đối quan ngại về việc điều khiển gien di truyền bởi vì chúng ta chỉ mới có khả năng này gần đây. Khoa học luôn đi vào những chỗ chúng ta chưa biết và những gì chưa biết đều luôn đáng sợ.

Kiểm soát nhà nước hay bị nó kiểm soát

UserPostedImage

Terminator


Khả năng dự đoán của phim khoa học viễn tưởng là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhưng nó rất giỏi trong việc khai phá cuộc sống hiện tại một cách trần trụi.

Do đó, cuộc sống tương lai thể hiện trên màn ảnh là sự thể hiện những gì đang xảy ra ở nơi chúng ta đang sống. Cho dù chính trị có đa dạng thì thông điệp không thay đổi là cảnh báo về các nhà lãnh đạo và các chính quyền quá hùng mạnh.

Phim Captain America: The Winter Soldier nói về các cơ quan chính quyền đối phó với mối đe dọa khủng bố bằng cách tăng cường giám sát và sự hiện diện quân sự lớn hơn bao giờ hết. Một lời thoại trong phim này nói rằng cách làm như vậy có rủi ro là súng sẽ chĩa vào bất cứ ai và xem đó là sự bảo vệ.

Tức là chúng ta sẽ mất tự do dưới danh nghĩa bảo vệ tự do.

Nhiều phim, ví dụ như Brazil hay Fahrenheit 451 được lấy bối cảnh dưới các chế độ đàn áp. Một số chế độ thậm chí còn chuyên chế hơn khi kiểm soát người dân bằng cách chia họ ra (chẳng hạn như nhà ổ chuột cho quần chúng còn các trạm không gian cho tầng lớp tinh hoa trong Elysium).

Cảnh giác các tập đoàn lớn

UserPostedImage

District 9


Ngoại trừ các tập đoàn như Wayne Enterprises trong Batman hay Stark Enterprises trong Iron Man, bất cứ công ty lớn nào trong các phim viễn tưởng đều là kẻ xấu. Các tập đoàn càng lớn chừng nào thì chúng nguy hiểm chừng đó.

Đặc biệt tàn bạo là tập đoàn Omni Consumer Products trong phim Robocop kiểm soát mọi khía cạnh của cuộc sống từ các mặt hàng cơ bản cho đến chính quyền.

Tất cả những bộ phim bom tấn này đều do những hãng phim lớn nằm trong tay những tập đoàn đa quốc gia sản xuất. Do đó, có khi nào họ muốn nói với chúng ta về bản chất của các đại công ty?

Một thế giới – hãy bảo vệ nó

UserPostedImage

Avatar


Các phim khoa học viễn tưởng thường mô tả nhân loại mở rộng cuộc sống ra khắp vũ trụ. Đó có thể là cách con người cuối cùng sẽ tồn tại – cướp bóc tài nguyên của các hành tinh khác như việc kiếm mỏ titan ở Mặt Trăng của Sao Mộc trong phim Outland hay đánh nhau với người xanh để giành giật tài nguyên như trong Avatar.

Nhưng cho đến khi khả năng đó xảy ra thì chúng ta phải chấm dứt gây hại cho Trái đất nếu không hãy nghĩ đến cảnh ngộ của chúng ta sau này. Các nhân tố gây hại cho Trái đất có thể là thảm họa hạt nhân, biến đổi khí hậu (The Day After Tomorrow, Waterworld), ô nhiễm quá mức (WALL-E) hay cạn tài nguyên (như trong Mad Max, mọi người nổi điên vì thiếu dầu). Tuy nhiên bài học thì lúc nào cũng vậy: con người hãy thay đổi nếu không sẽ đối mặt với tận thế.

Cảnh giác bầu trời

UserPostedImage

Earth and Flying saucers


Mặc dù ở đây không có lỗi lầm gì của con người, các tai họa từ trên trời sẽ tìm đến chúng ta. Do đó nếu chúng ta cảnh giác chúng ta ít nhất có thể chuẩn bị tốt hơn. Đó có thể là cuộc xâm lược toàn diện của người ngoài hành tinh (Independence Day, Mars Attacks), hoặc một kẻ xấu ngoài hành tinh kiếm chuyện ở Trái đất (The Thing, Cloverfield, Super 8).

Mặc dù không có lý do để lo sợ về sự hung hăng của người ngoài hành tinh nhưng có khả năng là chúng ta sẽ va chạm với vật thể gì đấy ngoài vũ trụ. Đó có thể là một thiên thạch (Meteor) hay sao chổi (Deep Impact). Như một lời thoại trong phim ‘The Thing from Another World’, hãy cảnh giác bầu trời.

Nói không với siêu anh hùng

Khả năng là rất ít nhưng nếu có ai đó ăn mặc dị thường với các năng lực hay máy móc siêu phàm ngỏ ý giúp đỡ nhân loại trong tương lai thì có vẻ như là một điều tốt? Câu trả lời là không. Họ có ý định tốt, nhưng mỗi anh hùng hành động đều có một ác nhân tương ứng. Các chuyên gia thảm họa đã ước tính thiệt hại đối với Manhattan trong phim ‘The Avengers’ có thể mất đến 160 tỷ đô la Mỹ. Do đó, có cần phải cảm ơn Superman, Thor, X-Men, Fantastic Four không? Không!

Ở yên trên Trái đất

UserPostedImage

The Avengers


Có lẽ tất cả các cuộc thám hiểu không gian đều không tốt cho chúng ta. Đừng đưa con người đến các hành tinh có nghĩa sẽ không có cảnh họ gặp cảnh kinh hoàng (Alien, Event Horizon), hay đưa về những sinh vật ghê tởm (Alien: Resurrection, Lifeforce) hay khiến cho Trái đất bị để ý và bị người ngoài hành tinh tấn công (Starship Troopers, Apollo 18).

Các chuyến du hành không người lái cũng nguy hiểm tương tự khi nó nhiễm các vi sinh vật ngoài hành tinh (gây ra bệnh tật chết chóc như trong The Andromeda Strain hay biến thành những sinh vật kỳ quái như trong Monsters).

Bản tiếng Anh bài này đã được đăng trên BBC Future.

Nguồn BBC

Edited by user Monday, February 2, 2015 4:54:58 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#5594 Posted : Monday, February 2, 2015 8:28:08 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,702

Thanks: 636 times
Was thanked: 450 time(s) in 292 post(s)

Giọt Máu Rơi Của Người Lính Chết Trẻ


Tác giả: Phùng Annie Kim


Với 14 bài viết trong năm, trong đó có bài "Chú Lính Mỹ" tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà là một nhà giáo, định cư tại Mỹ theo diện HO năm 1991, hiện là cư dân Westminster, California. Bài viết mới nhất của Phùng Annie Kim là câu chuyện hơn 40 năm sau của chiếc trực thăng U-H1 bị bắn rơi trong cuộc hành quân Hạ Lào năm 1971. Sự việc, khung cảnh chuyện kể là có thật nhưng danh tính nhân vật trong truyện do tác giả hư cấu.

* * *

1.
Bà Tư nằm trăn trở hoài trên chiếc giường nệm thấp. Chăn êm nệm ấm, thân thể mát mẻ, thoải mái mà bà vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Với cái tuổi tám mươi này, đôi khi bà hay quên những chuyện lặt vặt vừa mới xảy ra như ăn rồi mà nhất định bảo chưa ăn, chưa uống thuốc mà quyết liệt không chịu uống nữa, chưa đi tắm mà bảo vừa tắm xong.Thế mà sáng nay, có một chuyện bà không quên. Quyền, con trai bà cho biết Sơn, thằng cháu nội bên Minnesota gọi phone về báo tin sẽ về Cali thăm bà vào dịp lễ Giáng sinh.

Cả ngày nay, bà nôn nóng, cứ đi ra rồi lại đi vào. Bà cầm quyển lịch trong tay đếm từng ngày. Còn hơn một tháng nữa. Sao mà lâu quá! Bà bảo Quyền và Quyên phải dọn cái này, dẹp cái kia, sửa soạn nhà cửa để đón thằng nhỏ.

Nói đến bộ nhớ và sức khỏe của bà cụ tuổi ngoài tám mươi như bà Tư kể cũng hiếm. Chuyện quá khứ, bà nhớ vanh vách các chuyện gia đình xa xưa thời ông cố bà sơ nào hay những kỷ niệm thuở hàn vi ở Việt nam. Nếu có bà con nào đến chơi gợi nhắc chuyện xưa, bà kể lan man hàng giờ không dứt và không sót chi tiết nào. Bà thuộc kinh Phật làu làu. Tiền để dành đi cúng chùa, bà đếm chính xác và biết sắp xếp thành từng loại. Bà dặn cô con gái may cái túi lớn phía trước trong áo lót, bà cất tiền và gài kỹ bằng nút bấm.Việc di chuyển, bà đi lại chậm chạp nhưng vững vàng không cần đến cây gậy. Ban đêm, bà không cần đánh thức các con, tự đi restroom trong căn phòng lớn gần giường ngủ của bà. Bà ăn chay, tập hít thở, đi bộ đều đặn với Quyền mỗi ngày trong khu townhouse. Bà còn xỏ kim được bằng sợi chỉ trắng. Tai bà còn nghe rõ người khác chuyện trò. Mỗi đêm, bà chỉ chợp mắt vài tiếng đồng hồ. Thì giờ của bà hầu hết là những thời công phu sớm tối trước bàn thờ Phật. Bà tọa thiền, tụng kinh, thì thầm cầu nguyện dưới ngọn đèn vàng trong căn phòng ngủ chung quanh trang trí toàn là hình, tượng Phật.

Hơn mười năm nay, nhà bà là một cái chùa nhỏ thanh tịnh và yên tĩnh. Bà xuống tóc, tịnh tu tại gia, sống an lạc, mặc các bộ quần áo màu nâu hoặc màu lam. Các con gọi bà bằng "Cô Diệu" thay vì gọi bằng "Má".

Trong bốn cái cửa "sinh, lão, bệnh, tử" của cuộc đời ai cũng phải trải qua, bà Tư đã vượt qua cái cửa thứ hai và thứ ba một cách nhẹ nhàng. Ai hỏi bà về tuổi già và bệnh tật, bà nói bà chẳng có bệnh gì ngoài bệnh của người già nghĩa là sức khỏe bà một ngày một yếu đi như ngọn đèn dầu, hết dầu thì đèn tắt.

Còn cái cửa "tử" cuối cùng? Bà đang chuẩn bị đấy thôi. Ngoài tám mươi rồi, bà Tư không mong kéo dài tuổi thọ thêm nữa. Ai hỏi cụ bà sợ chết không, bà lắc đầu nói chỉ sợ bệnh nằm liệt giường khổ cho cái thân già và cho con cháu. Trước đây, bà thường nói với các con bà chuẩn bị sẵn cho chuyến đi cuối đời nhưng từ khi gặp lại thằng cháu nội sau bốn mươi năm trăn trở vì nó, bà như được hồi sinh. Bà vui nên càng ngày trông bà càng khỏe ra. Bà yêu đời và ham sống. Vợ chồng thằng Quyền lấy nhau bốn mươi năm không có con, thằng cháu nội đích tôn lưu lạc này như cục vàng quý đối với bà, mang đến tuổi già của bà cả một mùa xuân.

Trong đêm khuya, bà Tư nằm nhớ lại cuộc đời khổ cực của bà trong sáu mươi năm từ lúc lấy ông Tư là hạ sĩ quan nghèo cục Quân nhu thuộc bộ Tổng Tham mưu, lương lậu không đủ nuôi bốn đứa con ăn học, cả nhà sống nhờ vào lò bún thủ công của bà. Bà thức khuya dậy sớm làm bún. Ông Tư và các con bà chia phiên nhau vừa đi học, đi làm, vừa chạy Honda bỏ mối bún ở chợ và các quán ăn ở Sài gòn. Thời chiến tranh leo thang, luật tổng động viên ra đời, Quyền bị đổi ra vùng một chiến thuật ngành quân vận. Quang, đứa con trai thứ hai theo anh ra Đà nẵng nộp đơn vào sư đoàn một không quân phục vụ ngành an ninh và phòng thủ phi trường. Đêm đêm, bà mẹ già chỉ biết cầu nguyện cho hai đứa con đi lính xa nhà thoát khỏi cảnh bom đạn trong cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt.

Được tin trong một chuyến vận chuyển vũ khí, đoàn xe của Quyền rơi vào ổ phục kích của Việt cộng. Quyền bị gẫy nát một chân, được xếp vào loại tàn phế và được giải ngũ. Bà vui mừng vì Quyền vừa thoát được bàn tay tử thần, được chuyển vào Sài gòn cũng là lúc một nỗi lo khác lại đến. Quang tình nguyện chuyển sang ngành tác chiến, trở thành xạ thủ trực thăng của phi đoàn 213. Thời gian này, Quang yêu Phượng, cô y tá nổi tiếng là người đẹp của bệnh viện Đà nẵng. Mối tình này đã đơm hoa kết trái đó là thằng Sơn, cháu nội của bà Tư bây giờ.

Sáng ngày mười tháng hai năm một chín bảy mốt, trong một phi vụ tại Hạ Lào, gia đình bà được tin chiếc trực thăng U-H1 bị bắn rơi, Quang và phi hành đoàn tổng cộng mười một người đều tử trận, không thể tìm được xác..

Tin con trai tử nạn một cách thảm khốc, sau đó là nhận giấy báo tử chính thức và tiền tử tuất của Quang, lòng bà mẹ thương con vẫn thầm nuôi niềm hy vọng. Biết đâu chừng thằng Quang còn sống sót và sẽ trở về. Quang là một thằng lanh lợi và thông minh. Biết đâu chừng nó nhảy dù ra khỏi máy bay trước khi máy bay trúng đạn, bốc cháy. Biết đâu chừng nó còn sống và bị bắt làm tù binh tại Lào hoặc bị đưa ra ngoài Bắc. Biết đâu chừng nó chỉ bị thương ở đầu và mất trí nhớ nên sống lang bạt, không tìm được đường về với gia đình. Bà đi tìm người giúp bà câu trả lời. Bà đi xem bói. Ông thầy bói quả quyết thằng Quang còn sống. Số nó đào hoa nếu lấy vợ sớm sẽ có cháu cho bà ẵm bồng. Bà sống, chờ đợi, tin tưởng và hy vọng mỏi mòn với ba chữ "biết đâu chừng"...

Sau khi mất nước, bà Tư nghe tin đồn có nhiều tù binh Việt Nam Cộng Hòa được chính phủ Hà nội thả về theo quy ước quốc tế về việc trao đổi tù binh. Quyền nói với bà Tư làm gì có chuyện thả tù binh trong khi hàng trăm ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, các viên chức chế độ cũ gọi chung là "ngụy quân", "ngụy quyền" bị kẹt lại, phải ra trình diện và bị giam giữ ở các trại tập trung để "học tập cải tạo". Quyền may mắn là hạ sĩ quan đã giải ngũ nên không nằm trong số đó. Nếu không, bà Tư lại phải lê lết trong các khu rừng để thăm nuôi thằng con tù.

Tin đứa con tử trận chưa làm ráo nước mắt bà mẹ thì hai năm sau ông Tư mất vì tai biến mạch máu não. Thằng Quốc, con trai thứ ba học hành và lớn lên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vừa tốt nghiệp trung học. Năm một chín bảy tám, mặc dù có hai anh đi lính và tử trận dưới chế độ "Mỹ ngụy", nhà nước Cộng sản vẫn bắt con "ngụy" không đủ tiêu chuẩn vào đại học được "ưu tiên" thi hành nghĩa vụ quân sự ở chiến trường Campuchia. Bà khóc hết nước mắt. Bà tính đường lui, trở về quê ở Gò công cho thằng Quốc trốn nghĩa vụ. Nào ngờ mạng lưới công an ở các xã, huyện còn dầy đặc hơn thành phố. Bà bị công an địa phương bắt giam trong trại tù cải tạo lao động thời hạn hai năm vì tội không thi hành luật pháp và cố tình bao che cho tội phạm.

Nếu bị ở tù để cho thằng con không phải đi lính, bà Tư sẵn sàng hy sinh cái mạng già để cứu con. Nào ngờ bọn chúng, một mặt bắt giam bà đi lao động, một mặt ruồng bắt Quốc và làm áp lực để Quốc ra trình diện. Thời đó, cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước Cộng sản Việt nam và Campuchia được sự hậu thuẫn của Trung Quốc càng ngày càng ác liệt. Thằng nhỏ mười tám tuổi vừa tốt nghiệp trung học, không biết gì về súng ống trận mạc, không biết gì về chiến tranh, không có chút lý tưởng gì về tổ quốc, niềm mơ ước duy nhất của nó là được vào đại học thất bại, bà mẹ đang ở tù, Quốc chấp nhận trình diện, lên đường ra trận để bà mẹ già được tha về sớm.

Một năm sau, Long, người đồng đội của Quốc bị thương về phép, kể lại cho gia đình bà Tư về cái chết của Quốc. Trong một chuyến vượt sông Mekong qua ngả Neak Luang phía bắc tỉnh Kompong Cham, chưa kịp tiến vào Phnom Penh, trước khi được tiếp viện, sư đoàn 7 của Quốc đã đụng độ một trận lớn với quân Kmer Đỏ. Toàn bộ sư đoàn bị tiêu diệt chỉ còn sống sót một người là Long. Thi thể Quốc và cả sư đoàn được chôn cất ở nghĩa trang liệt sĩ Tây Ninh. Ít lâu sau, giấy báo tử gửi về. Cuối năm giấy chứng nhận là gia đình liệt sĩ đến tay bà. Bà Tư được ủy ban nhân dân truy tặng là "mẹ chiến sĩ", "mẹ anh hùng".

Hàng năm, vào những ngày lễ thương binh liệt sĩ, cán bộ của ủy ban nhân dân đến thăm hỏi, tặng quà và khen thưởng những gia đình liệt sĩ như bà. Bà treo cái khung gỗ có lộng tờ giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ hình cờ đỏ sao vàng trên tường. Ít hôm sau, bà lấy xuống, cất vào ngăn tủ. Cứ như thế cho đến ngày bà qua Mỹ.

Cuộc đời bà Tư là một chuỗi dài những giọt nước mắt vì mất mát. Bà chỉ là một bà mẹ Việt nam bình thường, nghèo khổ, ít học. Bà không biết gì về các từ ngữ chính trị dao to búa lớn như lý tưởng, tổ quốc, ý thức hệ, cộng sản, tư bản, cộng hòa xã hội chủ nghĩa, độc lập, tự do, hạnh phúc, liệt sĩ, anh hùng, hy sinh... Bà chỉ là một bà mẹ thương con, một nạn nhân chịu nhiều nỗi đau thương trong chiến tranh. Chiến tranh đã làm một đứa con bà bị tàn phế, tật nguyền. Chiến tranh cướp mất hai đứa con bà, một đứa gửi nắm xương tàn trên chiến trường Hạ Lào xa xôi còn một đứa được vinh danh là liệt sĩ.

Trước khi đi Mỹ, Long đưa gia đình bà đã đến nghĩa trang liệt sĩ ở Tây Ninh thăm mộ Quốc. Cơn mưa làm cho con đường đi vào nghĩa trang lầy lội, ướt át. Mộ Quốc và năm người đồng đội nằm ngay gần lối đi, xây quanh nhau thành một vòng tròn, chính giữa là một bồn hoa. Trước cái chết, mọi người đều bình đẳng. Hàng ngàn những ngôi mộ thấp, mộ bia màu trắng, xây cùng một kiểu. Dòng chữ màu vàng khắc trên mộ bia "Nơi an nghỉ của liệt sĩ Trần Hưng Quốc, hai mươi tuổi, sinh ngày hai mươi tháng ba năm một chín năm mươi tám, hy sinh tại chiến trường Campuchia".

Năm một ngàn chín trăm tám mươi chín, Quyền may mắn được gia đình bên vợ bảo lãnh qua Mỹ. Năm năm sau, Quyền bảo lãnh cho bà Tư và Quyên. Quyền muốn bốc mộ Quốc đem tro cốt qua Mỹ nhưng bà Tư lắc đầu:

-Thôi con ơi, thằng Quốc đã nằm xuống nơi mảnh đất Tây Ninh này. Hãy để nó yên nghỉ ở quê hương với đồng đội của nó. Không mang tro cốt nó theo nhưng nó vẫn gần Cô trong những câu kinh tiếng kệ hàng ngày.

Rồi bà ngậm ngùi:

- Cô chỉ còn một nỗi ray rứt về số phận thằng Quang ở Hạ Lào. Không một dấu tích gì về chiếc máy bay trực thăng bị bắn rớt thì làm sao biết được. Không chừng nó còn sống, không chừng gì đắp cho nó một nấm mộ.

2.
Sau một tai nạn xe hơi, chân bên trái bị bó bột làm Phượng đi lại khó khăn phải dùng cây nạng gỗ. Mỗi ngày có một cô "care giver" đến chăm sóc sức khỏe cho Phượng, giúp Phượng ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp nhà cửa. Một cô khác đến làm vật lý trị liệu cho cái chân bên phải đã hồi phục dần. Căn nhà bây giờ vắng vẻ chỉ có hai mẹ con. Chị Phương đã dọn về Cali từ lâu. Bà mẹ Phượng mất đã năm năm. Ông Daniel mất năm ngoái. Thằng Sơn ly dị vợ, về ở với Phượng. Nó bận bịu suốt ngày trong bệnh viện. Năm ngoái, lễ Thankgivings hai mẹ con về thăm bà Tư. Năm nay, chân đau, không về được, Phượng nhắc con nhớ lấy phép nghỉ về Cali thăm bà nội vào dịp lễ Giáng sinh. Bà nội già yếu rồi. Bà sống không còn bao nhiêu năm nữa.

Từ ngày tìm được tông tích của người cha quá cố, thằng Sơn gắn bó với gia đình bên nội. Vào những ngày nghỉ, Sơn gọi về thăm bà nội, hai bà cháu nói chuyện rất lâu, có khi cả tiếng đồng hồ. Nó nói tiếng Việt giỏi nhờ sống gần bà ngoại từ bé.

Phượng hồi tưởng lại bốn mươi năm trôi qua, ngày đó cả hai đều rất trẻ. Phượng hơn Quang hai tuổi, là y tá ở bệnh viện Đà nẵng, gặp Quang trong một buổi tiệc của sư đoàn hai không quân tổ chức tại câu lạc bộ trong phi trường. Trai tài gái sắc gặp nhau. Quang vừa đẹp trai lại tài hoa, biết chơi đàn guitar, hát rất hay những bản nhạc về lính của nhạc sĩ Nhật Trường. Hai đứa dự định sẽ làm một cái đám cưới đơn giản. Quang sẽ lấy thời gian nghỉ phép đưa Phượng vào Sài Gòn ra mắt gia đình Quang. Thời gian đó Quang bận đi học khóa bắn súng và trở thành người xạ thủ gan lì và dũng mãnh của không đoàn 41, phi đòan 213. Những cuộc hẹn hò ở bến sông Hàn, những cuộc đi chơi xa ở đồi Bà Nà, chùa Non Nước, bảo tàng Chàm ở Mỹ Sơn...đưa đến kết quả là Phượng có thai.

Phượng chưa kịp báo tin mừng cho Quang thì một hôm, người bạn trong phi đoàn của Quang đến cho hay cuộc hành quân 719 Lam Sơn tại Hạ Lào ngày mười tháng hai năm một ngàn chín trăm bảy mốt, chiếc trực thăng U-H1 Huey bị bắn rơi. Tất cả những người có mặt trong chuyến bay gồm hai vị sĩ quan cấp tá, hai phi công, ba phóng viên Mỹ, một phóng viên Nhật, một phóng viên người Việt, hai nhân viên phi hành đoàn trong đó có trung sĩ thiện xạ Trần Vinh Quang, tất cả mười một người đều tử trận.

Tin đến như một cú sét đánh. Đất trời như nổ tung trước mắt Phượng. Phượng chỉ biết khóc và khóc. Phượng ôm cái bụng bầu ba tháng. Không có một tờ hôn thú. Không có một liên hệ hay tin tức gì liên quan với gia đình Quang ở Sài gòn. Quang chết thật bất ngờ. Quang chết ở lứa tuổi đôi mươi. Quang chết không để lại một dấu tích gì ngay cả một hạt bụi. Phượng chỉ còn giữ lại những kỷ niệm đẹp của một thời yêu nhau còn lưu lại trong ký ức và qua những bức hình hẹn hò xưa cũ.

Có lúc đau khổ và tuyệt vọng quá, Phượng nghĩ mình không còn sức để giữ cái thai, "giọt máu rơi của người lính chết trẻ". Quang đi qua cuộc đời Phượng như một cơn gió thoảng. Có lúc Phượng muốn chết theo Quang nhưng nghĩ đến một sinh vật bé nhỏ đang lớn dần từng ngày trong bụng mình, Phượng không có quyền từ chối trách nhiệm làm mẹ với nó. Có lúc Phượng muốn bỏ cái thai vì dư luận xã hội, vì tương lai của người mẹ trẻ nhưng đứa bé kia có tội tình gì. Nó là mật ngọt của hương vị tình yêu đã đơm hoa kết trái. Phượng phải sống để thay Quang bù đắp cho đứa trẻ mồ côi mất tình thương cha. Phượng phải sống, sống để nuôi con, vì con.

Phương làm đơn xin nghỉ việc, ở nhà nghỉ ngơi, dưỡng thai chờ đến ngày sinh nở. Kinh tế gia đình trông mong vào cửa hàng bán thực phẩm lấy từ các PX Mỹ của chị Phương. Chuyện sinh nở và chăm sóc bé đã có bà ngoại. Thằng Sơn ra đời trong sự thương yêu, đùm bọc của mẹ, bà ngoại và dì Phương. Sơn khỏe mạnh, dễ nuôi, càng lớn nó càng giống Quang. Phượng đặt tên nó là Trần Mỹ Sơn, tên vùng đất lịch sử của người Chàm, một thắng cảnh du lịch ở Đà Nẵng, kỷ niệm một chuyến du lịch ba ngày phép với Quang và cũng là nơi thằng Sơn tượng hình trong bụng Phượng.

Thằng Sơn lẩm chẩm biết đi cũng là lúc Phượng phải gửi con cho bà ngoại để đi làm phụ với chị Phương nuôi thằng Sơn. Với vốn liếng sinh ngữ khá và nghề y tá trước đây, Phượng được người quen giới thiệu vào làm tại bệnh viện Hải Quân Mỹ chuyên chữa cho các thương binh Mỹ từ chiến trường chuyển về.

Những ngày đầu tiên chứng kiến những chiếc trực thăng đậu ở sân trước bệnh viện, những nhân viên tải thương vội vã chuyển những chiếc cáng phủ lá cờ Mỹ từ trên trực thăng xuống, những người lính Mỹ giơ tay chào vĩnh biệt, Phượng không cầm được nước mắt. Phượng khóc cho ai, Phượng hay cho những người vợ, những ông bố, bà mẹ ở bên kia bờ đại dương một ngày nào đó sẽ nhận những chiếc quan tài phủ lá cờ Mỹ?

Còn Quang, người chồng chưa cưới của Phượng, có "hạt bụi nào..." hay chiếc "...hòm gỗ cài hoa" nào cho anh?

Phượng quen dần với công việc của người y tá lúc nào cũng bận rộn và căng thẳng trong bệnh viện. Là một y tá giỏi, siêng năng, chịu khó học hỏi, Phượng có thêm những đức tính cần thiết đó là sự ân cần, kiên nhẫn và dịu dàng với bệnh nhân. Phượng được bác sĩ Daniel trưởng khoa mổ đặc biệt lưu ý và chấp thuận cho Phượng là y tá phụ trong ê kíp mổ của ông. Có những ca mổ kéo dài đến khuya hoặc những ca trực đêm, Phượng có dịp kể cho ông nghe về cuộc đời bất hạnh của mình. Phượng biết thêm về đời tư của vị bác sĩ ít nói này. Ông lớn hơn Phượng mười hai tuổi, là bác sĩ giỏi trong ngành hải quân, vợ và đứa con gái chết vì tai nạn xe hơi, ông tình nguyện sang Việt nam công tác. Sang năm ông sẽ về Mỹ vì hết hợp đồng. Với chính sách "Việt nam hóa chiến tranh" và Hiệp Định Paris sắp ký kết, người Mỹ đang chuẩn bị rút dần về nước.

Vào một đêm trực chỉ có vài người y tá, Daniel cùng có mặt, Phượng đã suýt bật khóc vì cảm động trước lời cầu hôn bất ngờ của Daniel. Vị bác sĩ này thố lộ đã để ý đến cô y tá người Việt nam xinh đẹp và hiền hòa này trong những ca mổ. Ông tình cờ chứng kiến hình ảnh Phượng chăm sóc những người thương binh làm ông xúc động. Ông nói không phải chỉ là hoàn thành công việc mà thôi, Phượng đến với các bệnh nhân bằng tất cả trái tim của mình. Cô chia sẻ nỗi đau đớn về thể xác và tinh thần của họ trong từng mũi kim nhẹ nhàng, từng viên thuốc khó uống, từng lời nói an ủi dịu dàng, từng cử chỉ vỗ về, dỗ dành. Những người thương binh Mỹ trong bệnh viện Hải Quân này đều quý mến cô y tá người Việt có cái tên Mỹ Sophie dễ thương này. Họ chưa hiểu hết cảnh đời của Phượng. Chồng Phượng cũng là lính. Cô thương những người lính như thương Quang, thương bản thân và thương cuộc đời bất hạnh của mình.

Phượng chấp nhận lời cầu hôn của Daniel với một điều kiện Daniel bảo lãnh bà mẹ, chị Phương và bé Sơn cùng sang Mỹ. Căn nhà lớn năm phòng ở đường North Smith, Minnesota là tổ ấm của gia đình Phượng. Chị Phương vừa đi học vừa đi làm một thời gian, sau đó chị dọn về Cali mở một tiệm ăn với người yêu cũ. Phượng đi học lại. Bà mẹ ở nhà nội trợ trông nom nhà cửa, chăm sóc Sơn. Daniel làm việc ở United Hospital gần nhà. Bé Sơn càng lớn càng quấn quít Daniel. Suốt ngày Sơn đeo theo ông bố dượng vui tính. Daniel rất thương thằng con nuôi học giỏi và lễ phép. Theo gương học tập và chỉ dạy của ông bố dượng, Sơn học ngành y, sau này trở thành bác sĩ Shawn Tran chuyên khoa mổ tim ở St John s Hospital. Bốn mươi năm trôi qua, cái chết thảm khốc của Quang và niềm đau nỗi khổ của Phượng dần dần phôi pha theo thời gian nhờ vào tình yêu, sự bao dung và lòng tử tế của người chồng Mỹ tốt bụng đã cưu mang gia đình Phượng, mang đến cho Phượng một cuộc sống mới, êm đềm và hạnh phúc.

Một ngày, Phượng nhận được cú phone bất ngờ của chị Phương. Bên kia đầu dây, giọng chị lanh lảnh:

- Phượng ơi, tao nói chuyện này mầy bình tĩnh nghe đừng có xỉu nghen. Tao vừa đọc báo. Có người viết về cái chết của thằng Quang chồng mày hồi xửa hồi xưa. Có tấm hình thằng Quang chụp hồi còn trẻ. Mày tin không, má thằng Quang còn sống. Gia đình thằng Quang qua Mỹ ở khu Việt nam gần tiệm của tao. Bài báo kể người ta đào được xác chiếc máy bay rớt và hốt cốt mang về để ở viện bảo tàng nào đó trên Washington D. C.Chuyện dài dòng lắm. Tao ra bưu điện gửi cho mầy bài báo này liền. Overnight mai mầy nhận được. Bình tĩnh nghen mậy. Chuyện đâu còn đó. Khoan nói cho thằng Sơn biết. Mầy đọc báo xong rồi mình tính.

Suốt đêm qua Phượng mất ngủ, mong cho trời mau sáng để nhận thư tốc hành của bưu điện. Người đưa thư trao bì thư hình con én màu xanh và yêu cầu Phượng ký tên.Tay Phượng run run khi cầm cây viết.Cầm tờ báo trong tay, Phượng lật tới, lật lui, tìm mãi mới thấy cột báo. Tấm hình Quang hồi hai mươi tuổi, nét mặt đẹp trai, nghiêm nghị, ánh mắt buồn xa xôi, oai vệ trong bộ treillis, túi áo trái có in tên "Quang" màu trắng. Bài báo viết chi tiết về chuyến bay bị bắn rơi ở Hạ Lào, về bà mẹ chồng Phượng chưa hề gặp mặt và một chi tiết quan trọng là viện bảo tàng Newseum ở Washington D. C hiện nay đang lưu trữ hài cốt của những người tử nạn.

Phượng nói với Shawn Phượng về Cali thăm dì Phương. Hai chị em đến tòa soạn gặp người phóng viên và xin địa chỉ nhà má Quang. Cuộc gặp gỡ đầu tiên, cả nhà bà Tư nhìn Phượng với cặp mắt tò mò, xa lạ và nghi ngờ. Bà Tư, vợ chồng Quyền và Quyên không tin có chuyện một người phụ nữ, hơn bốn mươi năm đến gia đình bà tự nhận là vợ của Quang. Họ không tin Quang có một đứa con trai ngoài bốn mươi tuổi. Họ không tin bốn mươi năm trôi qua trên đất nước Mỹ này lại có cuộc gặp gỡ ly kỳ ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Khi Phượng đem tất cả hình ảnh của Quang và Phượng chụp hồi còn trẻ ở Đà nẵng, hình thằng Sơn hồi còn nhỏ cho đến khi tốt nghiệp ra trường đậu bằng bác sĩ, nhất là tấm hình Quyền cung cấp cho người phóng viên đăng trên báo so với tấm hình ố vàng Phượng cầm trong tay là một, bà Tư bật khóc nức nở như một đứa trẻ. Xúc động, mừng vui, hạnh phúc dâng trào trong lòng bà mẹ già vào cuối đời. Từ đó, Phượng thường xuyên gọi điện thoại về Cali thăm bà. Tháng sau, Phượng dẫn Shawn về giới thiệu thằng cháu đích tôn của dòng họ Trần. Năm ngoái hai mẹ con về Cali. Năm nay, thằng Shawn về một mình thăm bà nội

3.
Sau đây là lời kể chuyện của nhân vật chính Trần Mỹ Sơn.

Tôi tên là Shawn Tran. Daddy đặt tên "Shawn" có nghĩa là "God is gracious ". Daddy nói tôi là ân sủng của Chúa mang đến cho Daddy. "Shawn" nghe giống như tên "Sơn", Trần Mỹ Sơn. Ngoại nói "Mỹ" có nghĩa là đẹp, "Sơn"có nghĩa là ngọn núi. Tên tôi là một ngọn núi đẹp. Mẹ nói Daddy chỉ là cha nuôi, cha ruột của tôi mất từ khi tôi còn trong bụng mẹ. Daddy đưa mẹ, bà ngoại, dì Phương và tôi qua Mỹ. Họ nuôi tôi khôn lớn. Tôi theo học nghề bác sĩ mổ tim của Daddy. Cả nhà ai cũng muốn tôi học nghề này để sau này chữa tim cho mọi người.

Sau chuyến đi Cali thăm dì Phương, mẹ kể rằng mẹ đã gặp gia đình bà nội ở Cali qua một tờ báo Việt ngữ. Trong chương trình POW (prisoners of war) và MIA (missing in action) tìm hài cốt của những người Mỹ mất tích thời chiến tranh Việt nam, họ đã tìm được những dấu tích về cái chết của ba tôi. Hiện nay, chúng được lưu giữ ở Viện Bảo Tàng Newseum ở Washington D.C. Mẹ đọc bài báo cho tôi nghe. Dù mẹ chưa nói, qua ánh mắt của mẹ, tôi hiểu rằng tôi phải đi một chuyến về Cali với mẹ, đến thăm bà nội, người đàn bà đã khóc nhiều về cái chết của ba tôi.

Từ Cali về, tôi tìm đọc những tài liệu về POW, MIA, những bài viết của các ký giả trong chuyến đào bới tìm dấu tích của chiếc trực thăng lâm nạn, về chiến tranh, cuộc hành quân Lam sơn nhất là về buổi lễ tưởng niệm và vinh danh những người bị mất tích tổ chức ngày mười tháng tám năm hai ngàn mười ở viện Bảo Tàng Newseum.

Bài viết của ký giả Richard Pyle viết về buổi lễ và những người tham dự. Họ là ai? Là những người mẹ, những người vợ, những đứa con đến từ Việt nam, Canada xa xôi, tay cầm những tấm "plaque", đầm đìa những giọt nước mắt khi ban tổ chức nhắc đến tên tuổi và vinh danh những người thân của họ đã hy sinh. Xạ thủ Trần Vinh Quang không được nhắc đến. Gia đình bà nội, mẹ tôi và tôi không được mời đến. Ban tổ chức buổi tưởng niệm này đâu biết rằng sau bốn mươi năm, gia đình trung sĩ xạ thủ Trần Vinh Quang đang sống ở nước Mỹ? Và tôi, đứa con rơi của xạ thủ Trần Vinh Quang là một công dân Mỹ, tìm được tông tích của bà nội và ba tôi năm ngoái trong một bài báo Việt ngữ ở cộng đồng người Việt ?

Sau khi thăm bà nội ở Cali, tôi đã đến thăm Viện Bảo Tàng Newseum ở Washington D. C. Trong chuyến bay bị bắn rơi ở Hạ Lào, có ba người ký giả Mỹ và một người Nhật. Tôi đã đọc thấy tên tuổi và hình ảnh họ được gắn trên bức tường kính gọi là "Journalists Memorial Wall 1971 Vietnam War". Viện bảo tàng này là nơi lưu giữ những chứng tích và vinh danh những ký giả Mỹ và những ký giả quốc tế đã hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ. Điều gì đã khiến họ lao vào cái nghề nguy hiểm này? Sự đam mê nghề nghiệp, sự khao khát muốn ghi nhận những tin tức mới, nóng hổi nhất, trung thực nhất. Họ muốn những có "big shot" là những tấm hình ý nghĩa, độc đáo, đầy ấn tượng về sự tàn khốc của chiến tranh gửi đến những người ở sau mặt trận. Viện bảo tàng Newseum đã làm công việc đầy tính nhân đạo khi vinh danh những người chiến sĩ không mang súng gan dạ và thầm lặng này.

Nhắc đến bà nội, tôi mê những câu chuyện bà kể về ba tôi. Bà có tài kể chuyện sống động, chi tiết và hấp dẫn. Tôi không ngờ bà nhớ nhiều kỷ niệm về ba tôi đến thế. Hình như trong ba người con trai, ba tôi là đứa con cứng đầu và làm cho bà khóc nhiều nhất nhưng cũng là đứa con bà thương nhất. Ba tình nguyện chuyển ngành an ninh sang học bắn súng để ra tác chiến ngoài mặt trận đối với bà là một sự chọn lựa kinh khủng và ngu xuẩn làm bà đau lòng. Bà không muốn mất con.

Điều gì khiến ba tôi chọn lựa giữa công việc an ninh nhàn nhã ở hậu phương với đời lính gian khổ đầy hiểm nguy ngoài mặt trận? Lý tưởng? Tổ quốc ? Hay cả hai? Lần đầu tiên đi với mẹ về Cali gặp bà nội, bà đã cho tôi nguồn cảm hứng muốn tìm hiểu về ba,về cái chết của ba, về cuộc chiến tranh trên quê hương mà bấy lâu nay tôi hững hờ, quên lãng. Tôi lớn lên ở xứ Mỹ. Tôi không có quá khứ. Tương lai của tôi là những dự tính và ước mơ.

Tôi sinh ra tại Đà nẵng, vùng đất của quê ngoại, trên bản đồ quân sự thuộc vùng một chiến thuật. Cuộc chiến bắt đầu từ năm một chín năm mươi lăm đến một chín bảy lăm. Năm một chín bảy mốt là năm ba tôi mất, lúc đó tôi còn trong bụng mẹ được ba tháng tuổi. Thật là trễ tràng làm sao! Hơn bốn mươi năm trôi qua, bây giờ tôi mới có dịp tìm hiểu về chiến tranh ở đất nước tôi và biết đây là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai thế lực, hai chủ nghĩa tư bản và cộng sản kéo dài hai mươi năm. Ở miền nam, Mỹ và phe Đồng Minh ủng hộ chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Bên kia dòng sông Bến Hải, Liện Xô và Trung quốc ủng hộ hai phe, tuy hai mà là một: Cộng sản Bắc Việt và tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Trải qua nhiều giai đoạn, cuộc chiến tranh này có những cái tên như là "chiến tranh đặc biệt" (1960-1965) "chiến tranh cục bộ" (1965-1968) "Việt nam hóa chiến tranh" (1969-1972). Ngày ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm là ngày cuộc chiến tranh chấm dứt. Toàn bộ miền Nam rơi vào tay Cộng sản.

"Việt nam hóa chiến tranh" có thể hiểu đây là cuộc chiến của người Việt nam.Có người nói người Mỹ đã bỏ rơi miền Nam và đồng minh. Họ rút lui, không chủ động tham gia cuộc chiến bằng nhân sự. Họ chỉ viện trợ vũ khí. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải tự lực chiến đấu. Theo lời mẹ kể, với lý tưởng chiến đấu quyết bảo vệ miền Nam và lòng yêu nước chân thành, ba tôi tình nguyện lao vào cuộc chiến đầy hiểm nguy này và biết rằng sự ra đi không hẹn ngày về.

Vào thời điểm đó, Cộng sản miền Bắc và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chuyển mục tiêu sang chiến trường Lào và Cam puchia, xây dựng căn cứ địa làm bàn đạp tấn công miền Nam. Cuộc hành quân Lam Sơn 719 bắt đầu vào ngày tám tháng hai năm một chín bảy mốt. Hai ngày sau, chiếc máy bay trực thăng H- U1 Huey không phải là trực thăng chiến đấu hay trực thăng võ trang có bọc thép tốt và chống đạn xe tăng. Đây chỉ là loại trực thăng vận tải vỏ thép mỏng, võ trang yếu, chở các phóng viên và các cấp chỉ huy đi thị sát chiến trường. Trong chuyến bay có mười một người, ba tôi là tay súng giỏi nhưng bất ngờ lọt vào mạng lưới phòng không mạnh và dầy đặc của địch, lại thêm sương mù, chiếc trực thăng trúng đạn và bốc cháy.

Năm 1992, những người trong chương trình POW và MIA có nhiệm vụ tìm kiếm những người Mỹ mất tích đã đến Hạ Lào nơi chiếc trực thăng rớt. Năm 1994, họ tiếp tục công việc đào bới. Cùng với một số tin tức được cung cấp từ những bạn đồng đội trong không đoàn 41, phi đoàn 213 còn sống ở Mỹ, họ đã định vị đúng tọa độ và đã tìm được những mảnh kính của máy chụp hình, đồng hồ và những mảnh thép vỡ của máy bay. Họ đã sàng lọc những khúc xương cốt lẫn lộn với đất đá và đem về lưu trữ tại Viện Bảo Tàng. Xương cốt này không phải của một ai mà là của mười một người hy sinh trong đó có ba tôi. Nó không thuộc về cá nhân hay gia đình nào, nó thuộc về lịch sử của nước Mỹ.

Món quà tôi mang về cho bà nội lần này là những hình ảnh của Viện Bảo Tàng Newseum. Tôi sẽ nói với bà nội ba tôi đã được an nghỉ ở một ngôi nhà gần nhà của Tổng Thống Mỹ. Ngôi nhà ấy vĩ đại, có mười tầng lầu, mười lăm rạp chiếu bóng, mười bốn hành lang và hàng ngày có hàng chục ngàn người đến đây thăm viếng. Bà nội hãy yên lòng. Con trai cứng đầu của bà được an nghỉ ở một trong những nơi danh dự nhất của nước Mỹ. Còn một điều nữa, bà nội hãy tin rằng với tất cả chứng cứ về liên hệ huyết thống và hình ảnh, với sự công bằng và trung thực, tôi sẽ làm đủ mọi cách để Viện Bảo Tàng Newseum cần phải có một buổi lễ tưởng niệm cho ba tôi. Người cuối cùng phải là người đặc biệt. "The last but not the least". Bà nội hãy giữ sức khỏe để một ngày không xa, gia đình bà nội, mẹ và tôi sẽ đếnViện Bảo Tàng Newseum tham dự buổi lễ vinh danh trung sĩ Trần Vinh Quang. Nỗi đau khổ của bà nội và mẹ sau bốn mươi năm phải được đền bù xứng đáng trong lịch sử nước Mỹ.

Tôi sẽ nói với cậu Quyền lần này tôi muốn cậu dẫn tôi đến thăm một địa danh lịch sử ở khu Little Saigon nơi có cộng đồng người Việt sinh sống đó là tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ "Vietnam War Memorial" ở Westminster. Hai người lính Mỹ, Việt cầm súng đứng bên nhau bên cạnh hai lá cờ Việt, Mỹ vẫn là hình ảnh đẹp, oai hùng và ý nghĩa. Trong tâm tôi sẽ không dấy lên chút tình cảm căm hận nào.Trái lại, đầy sự ngưỡng mộ và biết ơn. Người lính Việt Nam Cộng Hòa đó cũng chính là hình ảnh của ba tôi ngày xưa. Ba tôi chiến đấu vì lá cờ vàng cũng như những người lính Mỹ đã chiến đấu vì nền độc lập, tự do của nước Mỹ và cho nhân loại trong khối tự do.

Năm nay tôi đã bốn mươi ba tuổi. Đã hơn nửa đời người. Không quá muộn màng cho tôi khi tôi tìm về với cội nguồn của gia đình, quê hương và dân tộc mà trước đây tôi như một người xa lạ. Tôi muốn cám ơn bà nội, cậu mợ Quyền, dì Quyên những thân tộc đã nối lại sợi dây huyết thống thiêng liêng của dòng họ Trần. Tôi cảm nhận được tình thương quá bao la và đặc biệt bà dành cho ba tôi và đứa cháu nội này. Một ngày nào đó bà sẽ từ giã cõi đời. Tôi biết chắc một điều bà sẽ ra đi thanh thản, bình yên vì theo lời di chúc của bà, tôi sẽ thay ba tôi ôm chiếc hình của bà trong ngày tang lễ.

Tôi muốn cám ơn bà ngoại, mẹ tôi và dì Phương đã chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ tôi từ tấm bé cho đến khi tôi trưởng thành. Những chai sữa ngọt đầu đời là những ngày dì Phương dãi dầu mưa nắng ngoài chợ trời đem về cho tôi.Tôi nói và đọc được tiếng Việt là nhờ những buổi hai bà cháu cùng ngồi rù rì học với nhau ngoài vườn và từ những câu chuyện cổ tích tôi nghe hoài không chán. Và mẹ tôi, người mẹ tuyệt vời, tôi không có lời lẽ nào hơn để ca ngợi bà. Bà đã mạnh mẽ đứng lên vượt lên trên nổi khổ đau giữ lại cho tôi hình hài này.

Từ trong đáy lòng, tôi chân thành cám ơn Daddy Daniel, cha nuôi người Mỹ của tôi. Ông là cây cổ thụ cho gia đình tôi nương dựa bốn mươi năm qua. Danh vọng, địa vị, tiền bạc, hạnh phúc, tình thương tôi có được ngày hôm nay phát xuất từ tấm lòng nhân hậu và bao dung của ông.

Cuối cùng là những lời xin lỗi muộn màng của tôi với Ba.

Hơn bốn mươi năm qua, trong tâm tưởng, tôi đã quên tôi còn một người cha.Tôi không giữ chút kỷ niệm gì trong ký ức về ông vì ông đã ra đi trước khi tôi cất tiếng khóc chào đời.Thật là kỳ diệu khi gặp lại bà nội. Bà là chiếc cầu nối vững vàng, là bàn tay nắm dịu dàng và ấm áp dẫn tôi đến với Ba, là chất keo dính ngọt ngào làm cho hình ảnh Ba như sống dậy trong lòng tôi.Giờ đây, nhắm mắt lại, tôi có thể hình dung hình ảnh ông hiện ra rõ ràng, thân thiết, gần gũi và đầy tình yêu thương.

Tôi rất hãnh diện về Ba tôi, người lính Việt Nam Cộng Hòa, anh dũng, kiêu hùng đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ miền Nam. Lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công ơn ông và những người đồng đội. Ông mãi mãi là hình ảnh đẹp nhất trong lòng tôi, giọt máu rơi của ông, người lính chết trẻ.

Phùng Annie Kim
hongvulannhi  
#5595 Posted : Tuesday, February 3, 2015 1:27:06 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,133

Thanks: 1941 times
Was thanked: 4400 time(s) in 2742 post(s)

Đức Thánh Cha chủ sự thánh lễ nhân Ngày Đời Sống Thánh Hiến


UserPostedImage


Lm. Trần Đức Anh OP
2/2/2015

VATICAN. Chiều ngày 2-2-2015, Lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh và cũng là Ngày Thế giới về đời sống thánh hiến lần thứ 19, ĐTC đã chủ sự thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô. Ngài đề cao sự tuân phục tu luật như con đường để đạt tới sự khôn ngoan.

Đồng tế với ĐTC có ĐHY João Aviz de Braz, Tổng Trưởng Bộ các dòng tu, Đức TGM Tổng thư ký José Rodríguez Carballo, OFM, các chức sắc của Bộ này, một số các cha Bề trên Tổng quyền, và các LM dòng, trước sự hiện diện của hàng ngàn tu sĩ nam nữ và giáo dân.

Mở đầu buổi lễ có nghi thức làm phép nến và đi rước tiến lên bàn thờ, do 50 tu sĩ nam nữ, đại diện cho các hình thái khác nhau của đời sống Thánh Hiến, đảm trách.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng thánh lễ, ĐTC nhắn nhủ những người thánh hiến hãy đạt tới sự khôn ngoan qua sự tuân phục và tuân giữ tu luật. Ngài nhận xét rằng: ”Tin mừng của ngày lễ hôm nay 5 lần nhấn mạnh đến sự tuân phục của Mẹ Maria và Thánh Giuse đối với 'Lề luật của Chúa' (Xc Lc 2,22.23.24.27.39). Chúa Giêsu không đến để làm theo ý riêng, nhưng là theo ý Chúa Cha, và đây là 'lương thực' của Ngài như chính Ngài đã nói (Xc Ga 4,34). Vì thế ai theo Chúa Giêsu thì cũng tiến bước trên con đường vâng phục, như bắt chước ”sự hạ cố” của Chúa, hạ mình và đón nhận ý Chúa Cha làm ý mình, đến độ tự hủy và hạ nhục chính mình (Xc Pl 2,7-8). Đối với một tu sĩ, tiến bước chính là hạ mình trong việc phục vụ. Một hành trình giống như con đường của Chúa Giêsu, Đấng “không giữ cho mình đặc ân như Thiên Chúa” (Pl 2,6). Hạ mình trở nên đầy tớ để phục vụ”.

ĐTC nhận xét rằng con đường ấy có hình thức là tu luật, thấm đượm đoàn sủng của vị sáng lập. Đối với mọi người, qui luật không thể thay thế được chính là Tin Mừng, là sự hạ mình của Chúa Kitô, nhưng Chúa Thánh Linh, trong tinh thần sáng tạo vô biên, cũng diễn tả điều ấy qua nhiều tu luật của đời sống thánh hiến, và tất cả các tu luật ấy đều nảy sinh từ sự bước theo Chúa Kitô, từ con đường hạ mình phục vụ”.

ĐTC xác quyết rằng qua ”luật” ấy, những người thánh hiến có thể đạt được sự khôn ngoan, đây không phải là một khả năng trừu tượng, nhưng là công trình và là hồng ân của Chúa Thánh Linh, và dấu chỉ tỏ tường của điều này chính là niềm vui. Đúng vậy, niềm vui của tu sĩ là kết quả của con đường hạ mình như Chúa Giêsu.. Và khi chúng ta buồn sầu, thì chúng ta hãy tự hỏi xem chúng ta có đang sống chiều kích hạ mình hay không”.

ĐTC nhắc đến tấm gương của hai cụ già, Simeon và Anna, là những người ngoan ngoãn đối với Chúa Thánh Linh (Tin Mừng nhắc điều này 4 lần), được Chúa hướng dẫn và linh hoạt. Chúa đã cho họ sự khôn ngoan qua hành trình dài của cuộc sống trên con đường tuân phục lề luật, một sự tuân phục một đàng hạ nhục và hủy diệt, nhưng đàng khác đó là sự tuân phục giữ gìn và bảo đảm hy vọng, và giờ đây đầy tính sáng tạo vì đầy Thánh Linh..
Áp dụng những điều trên đây vào thực trạng của các dòng tu, ĐTC nhắc đến sự thích ứng tu luật với thời đại và khẳng định rằng: ”sự canh tân đích thực chính là một công trình của đức khôn ngoan, được hun đúc trong tinh thần ngoan ngoãn và vâng phục”.

”Tăng cường và đổi mới đời sống thánh hiến diễn ra qua lòng yêu mến nồng nhiệt hơn đối với tu luật, và qua khả năng chiêm ngưỡng và lắng nghe những người cao niên trong hội dòng. Như thế ”kho tàng”, đoàn sủng của mỗi gia đình dòng tu được bảo tồn nhờ sự tuân phục và khôn ngoan. Và qua con đường ấy, chúng ta được gìn giữ, tránh được tính trạng sống đời thánh hiến của chúng ta một cách 'tùy hứng' và thiếu cụ thể, như thể đó là một thứ tri thức, biến thành một sự ”chế nhạo” đời tu, trong đó người ta sống theo Chúa mà không từ bỏ, cầu nguyện mà không có sự gặp gỡ, sống huynh đệ không có hiệp thông, vâng phục mà không tín thác, bác ái không có chiều kích siêu việt”. (SD 2-2-2015)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#5596 Posted : Tuesday, February 3, 2015 7:37:57 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,133

Thanks: 1941 times
Was thanked: 4400 time(s) in 2742 post(s)
Cuộc đời khốn khó của Marx ở London


Nguyễn Giang
bbcvietnamese.com

5 giờ trước

UserPostedImage

Tượng Marx được đặt vào nghĩa địa Highgate năm 1956


Nhân có một người bạn sang thăm London chụp lại hình Bảo tàng Anh Quốc với dấu tích ông tổ của chủ nghĩa cộng sản Karl Marx tôi mới nhớ ra rằng vẫn có người Việt Nam quan tâm đến ông.

Cũng để các bạn khác biết thêm về cuộc sống khốn khó ở Anh của nhà sáng lập ra Tuyên ngôn Cộng sản, tôi viết ra đây những chuyện đã biết và tìm lại chút tài liệu về thời Marx ở London.

Hồi sang Anh năm 1999, tôi ở trọ nhà Rafael, một anh bạn Ba Lan tại khu Camden, nằm về phía Bắc của trung tâm London.

Vì cùng học khoa luật Đại học Tổng hợp Warsava và cùng quan tâm lịch sử, anh bạn tôi nói ông Marx cũng từng sống ở Camden và rủ tôi đi xem mộ ông tại nghĩa trang Highgate.

Từ đó, tôi bỏ công tìm hiểu và biết rằng ở London còn có 'Tuyến đường của Marx' (Karl Marx The Walking Tour).

Nếu đến London, lấy khu Westminster có Tháp đồng hồ Big Ben và Quảng trường Trafalgar làm trung tâm thì bạn chỉ đi bộ là đến phố Tàu tức Chinatown.

Ngay rìa khu này, Dean Street, Soho là nơi Marx từng trú ngụ hồi mới sang Anh.

Soho nay vẫn là một nơi ăn chơi 'phóng túng' nhất London và gần đây có thêm mấy quán bán phở hay món ăn Việt Nam.

Nhưng khi đó, đây là khu nghèo, nổi tiếng với các nhà hát, tiệm ăn bình dân, các quán đèn đỏ và vào năm 1854 bệnh dịch tả nổ ra ở ngay Broad Street làm hơn 600 người chết.

Mãi sang thế kỷ 20, chính quyền Anh mới cho người Hoa dọn từ Limehouse, gần khu Đảo Chó (Isle of Dogs) ở Đông London về đây xây Chinatown, ít nhiều tạo ra không khí làm ăn nhộn nhịp.

Bước trở lại phía Đông tới khu Covent Garden trên các con đường vẫn thoảng mùi vịt quay hoặc bánh bao bán tới nửa đêm với giá chỉ 2 bảng, bạn tới phố Long Acre là nơi có St Martin’s Hall, chỗ Marx từng diễn thuyết cho Hội Ái hữu Công nhân Quốc tế hồi thế kỷ 19.

Vòng lại phía Tây Bắc chỉ mất thêm 10 phút đi bộ kể cả khi đi chậm, bạn tới British Museum có phòng đọc Reading Room là nơi Marx hàng ngày đến ngồi nghiên cứu.

UserPostedImage

Khu Camden, phía Bắc London là nơi Marx sống trong nhiều năm


Đây cũng là nơi ông ‘tỵ nạn’ lúc trời đông vì ở nhà không có sưởi và viết ra các tác phẩm nổi tiếng.

Từ khi này, đi lên phía Bắc không xa là Công viên Regent Park rất rộng và ngay mạn Bắc của công viên, trên bờ khu kênh đào chính là Camden, nơi Marx cũng từng sống ở nhà số 41 Regents Park Road.

Đi lên phía trạm xe điện ngầm Chalk Farm, tới số 1 Modena Villas rồi 44 Maitland Park Road và số 9 Grafton Terrace (nay là số 36), bạn đã qua tất cả các địa chỉ ông Marx đã từng sống tại London.

Từ đó, bạn có thể lên xe bus hoặc xuống xe điện ngầm (Tube) ở Kentish Town vẫn tiếp tục về hướng Bắc tới ga Archway (gần hơn ga Highgate) đi bộ vào nghĩa địa Highgate, nơi có mộ và bức tượng Marx.

Đi theo ‘con đường của Marx’ (www.Marxwalks.com) mà chỉ nhìn thấy Marx thì quả là một thiếu sót lớn.

Lần đến nghĩa trang Highgate, Rafael chỉ cho tôi thấy ngay đối diện mộ ông Marx là nhiều hàng bia mộ của các quân nhân Ba Lan phải lưu lại Anh sau Thế Chiến 2 vì tổ quốc của họ bị Liên Xô chiếm và nhiều người ngây thơ trở về đã bị chế độ mới đầy đọa.

Cũng trong tinh thần nhìn lịch sử phải công bằng với mọi bên như vậy, tôi muốn mô tả lại cho các bạn cuộc sống của ông Marx như một người lưu vong rất đáng thương, được nhiều người cưu mang.

Ông cũng không hề làm gì nguy hiểm vì chỉ viết sách, có đi biểu tình ở Hyde Park và diễn thuyết bằng tiếng Đức cho kiều dân Đức vì không giỏi tiếng Anh chứ không phải ‘khủng bố’.

Sống mòn ở London

Sang Anh năm 1849 vì bị đuổi khỏi Pháp và bị Đức coi là mối đe dọa, Marx sống trong cảnh nghèo khó như hàng nghìn hàng vạn trí thức nhập cư vào đảo quốc từ châu Âu.

London luôn là nơi cởi mở hơn các thủ đô bên lục địa và đã từng đón người Pháp, Do Thái, Nga, Ba Lan, Trung Đông, chạy loạn qua nhiều thế kỷ nên có thêm một cây bút từ Đức cũng chẳng sao cả.

Trên thực tế, tác phẩm quan trọng nhất về mặt cách mạng của ông là Tuyên ngôn Cộng sản thì đã ra mắt ở Brussels năm 1848 và Anh Quốc chỉ là nơi ông làm báo, soạn cuốn Das Kapital về kinh tế học.

Tôi nghĩ cuộc sống khốn khó tại Anh hẳn đã có tác động đến cái nhìn phê phán của Marx về chủ nghĩa tư bản.
Bảo tàng Anh Quốc từng có phòng đọc sách là nơi Marx đến nghiên cứu

UserPostedImage


Khi sang Anh, Marx còn khá trẻ, mới chỉ ngoài 30 tuổi, nhà đông con lại có vợ quý tộc Đức, Jenny thuộc dòng von Westphalen, không biết lao động, buôn bán gì, cả hai không biết một câu tiếng Anh

Bản thân ông lại làm một nghề ít tiền là viết báo (cho tờ New York Daily Tribune) nên cuộc sống ở Anh khổ tới mức trong bảy con thì chết bốn, chỉ có ba người sống đến tuổi thành niên.

Một số nhà nghiên cứu còn tin rằng rạn nứt trong phong trào cánh tả châu Âu còn đến từ sự thù ghét của Marx với Ferdinand Lassalle (1825-1864), một lãnh tụ cách mạng Đức khi ông này sang London tiêu pha xả láng.

Các tài liệu để lại cho thấy Marx đã phải viết thư xin vay Lassalle khoản tiền 30 bảng Anh vì thiếu tiền quá.

Marx cũng viết cho bạn thân Friedrich Engels, phỉ báng Lassalle (sinh ở Breslau, nay là Wroclaw, Ba Lan) với lời lẽ phân biệt chủng tộc rằng ‘y hẳn phải là mọi đen’ dù ông kia cũng gốc Do Thái như Marx.

Nhưng viết về Marx không thể không kể đến tình bạn tuyệt vời của Engels thì quả không được.

Trong khi Marx sống trong túng quẫn triền miên ở London thì Engels, vốn được thừa kế nhà máy tại Manchester, trung tâm công nghiệp Anh khi đó, đã làm nghề ông chủ tư bản bóc lột công nhân.

Không chỉ như vậy, Engels còn quan hệ cùng lúc với hai chị em Lizzy và Mary Burns theo một cuốn sách gần đây nêu lại.

Nhưng Engels không quên ông bạn gốc từ Đức sang Anh cùng mình.

Sau khi bán nhà máy ở Manchester được 12 nghìn bảng Anh (bằng tiền triệu hiện nay), ông giúp bạn chuyển từ địa chỉ khốn khổ ở mấy căn phòng thuê tại Dean Street, nơi ba con của Karl Marx và Jenny chết, sang căn nhà khác ở 36 Grafton Terrace.

Có nguồn nói vợ chồng Marx rời khỏi Dean Street là nhờ tiền thừa kế mẹ Jenny để lại nhưng điều chắc chắn là Engels đã giúp họ nhiều về tài chính và còn đứng ra giúp in ấn các tác phẩm của Jenny viết bằng tiếng Đức về kịch Shakespeare và các sách của Marx.

Tiền thuê nhà khi đó ở Grafton Terrace chỉ có 65 bảng Anh một năm và với gia đình Marx, đây là sự đổi đời.

Họ có thể ra picnic ở các công viên vùng Bắc London và có nhà riêng để đón khách.

Nhưng bản thân Engels mới thật sự là sống giàu. Biệt thự ở 122 Regent’s Park Road gần công viên lớn bậc nhất London, và tới nay vẫn cũng là khu của các dinh thự, đại sứ quán.
Marx đã sống những ngày đen tối nhất ở khu Soho bên cạnh chỗ nay là Chinatown

UserPostedImage


Điều thú vị và cũng là nghịch lý là Engels đã dùng tiền từ các thương vụ tư bản để bỏ tiền ra nghiên cứu phong trào công nhân.

Và tuy phê phán cay nghiệt chủ nghĩa tư bản, Marx cũng cố gắng kiếm tiền bằng cách chơi cổ phiếu.

Trong một lá thư gửi về Đức cho Lion Philips, ông vui mừng khoe đã ‘đầu cơ’ thành công trên thị trường chứng khoán và kiếm được 400 bảng Anh, một khoản khá to vào thời đó.

Chết vô tổ quốc

Cuộc đời Marx kết thúc tại số 44 Maitland Park Road, nơi vợ ông qua đời trước ông, vào ngày 2/12 năm 1881.

Khi đó, Marx đã trải qua nhiều năm bị bệnh gan, bệnh phổi và yếu tới mức bác sỹ cấm ông không được đưa tang vợ vào ngày mùa đông lạnh giá.

Lúc chết (14/3/1883), Karl Marx bị coi là ‘vô tổ quốc’.

Thực ra, các biến động lớn ở đang diễn ra khắp nơi: Nga hoàng bị ám sát, đế quốc Ottoman bắt đầu rối loạn, Pháp đánh Việt Nam, Anh đưa quân đến Sudan, Đức chiếm thuộc địa ở châu Phi...nên không ai để ý đến một ông già di dân qua đời tại London.

Trong đám tang chỉ có các con gái, hai con rể người Pháp, một số bạn bè là đảng viên cộng sản tham dự.

Engels đọc lời điếu trang trọng, gọi Marx là “một trong những nhà tư tưởng lớn nhất thời đại”.

Ông được chôn cạnh mộ của vợ và chỉ mãi về sau này hài cốt mới được đưa về chỗ hiện nay trong nghĩa địa Highgate .

Friedrich Engels quyết định không cho xây tượng Marx.

UserPostedImage

Marx và con gái trong một bộ phim về cuộc đời ông


Nhưng trái với ý nguyện của người bạn thân nhất đời Karl Marx, Đảng Cộng sản Anh sau đã cho đặt bức tượng ông bằng đồng của Lawrence Bradshaw vào chỗ hiện nay năm 1956.

Nhiều tượng khác của ông được xây trên khắp thế giới.

Nhưng đó là chuyện về những người thích dựng tượng ông cho mục tiêu của họ mà tôi không tin họ hiểu được tâm trạng của ông lúc sống và lúc chết ở London.

Ở Anh ngày nay, người ta coi ông là một triết gia mà các ý tưởng về tương lai bị biến hóa gây ra những hậu quả khủng khiếp nhưng Anh vẫn coi trọng sự phê phán của ông với kinh tế tư bản chủ nghĩa .

Nói ngắn gọn thì ông sai hoàn toàn về chủ nghĩa cộng sản tuy vẫn có điểm đúng về chủ nghĩa tư bản.

Nhưng tôi nghĩ chính cuộc đời ông tôi mới là bài học đáng nhớ nhất.

Cái nôi của chủ nghĩa tư bản dù sao cũng đã bao dung ông, thậm chí còn cho dựng tượng tôn kính ông trong khi chính ông lại chẳng làm được gì cho chính mình và gia đình.

Con gái sinh ra tại Anh của Karl và Jenny Marx là Eleanor (1855-1898) cũng là một ví dụ khác về cuộc đời sống vì lý tưởng nhưng kết thúc bất hạnh.

Eleanor 'Tussy' Marx yêu đảng viên Marxist người Anh, Edward Aveling và sống với ông ta bằng một tình yêu cùng tình đồng chí.

Khi phát hiện ra Aveling phản bội bà và bí mật cưới một nữ diễn viên, Eleanor đã tự sát chết bằng thuốc độc khi mới 43 tuổi .

Tuy thế, đến năm 2014 vừa rồi Rachel Holmes ra sách về bà, ghi nhận tài năng và công lao của Eleanor Marx cho phong trào nữ quyền Anh.

Một cây bút nữ khác, Mary Gabriel gần đây cũng ra sách về Jenny (Love and Capital: Karl and Jenny Marx and the Birth of a Revolution), viết rằng cuộc đời chìm nổi nhưng kiêu hãnh của bà đã có tác động lớn đến suy nghĩ của Marx về xã hội.

Ân nhân, người bạn, người đồng chí của Marx là Engels sau đó cũng qua đời ở London và được đưa xuống một nhà thiêu ở Woking để hỏa táng.

Một nhóm bạn, những di dân và cũng là những tên tuổi trong ‘làng trí thức cánh tả châu Âu’ gồm cả Eduard Bernstein và Karl Kautsky là những người cuối cùng đưa tiễn Engels.

Họ đã đi tàu từ ga Waterloo tới Eastbourne, quận Sussex, chèo thuyền ra biển trải tro xuống nước, hướng về phía Đông là quê hương Engels ở lục địa châu Âu.

UserPostedImage

Friedrich Engels và một tác phẩm nghệ thuật 'râu của ông'


Karl Kautsky (sinh tại Prague, nay là CH Czech), một trí thức Marxist đứng đắn, sau đi vào sử sách của các nước cộng sản như 'tên phản bội ' vì Lenin đã dùng lời lẽ nanh nọc chửi rủa ông bởi vì ông nói đấu tranh nghị trường sẽ tốt cho công nhân hơn là nổi dậy.

Phong trào cánh tả và cộng sản như thế ngay từ những thập niên đầu đã chia rẽ, hiềm khích nhau khủng khiếp, báo hiệu những bão tố chia rẽ, sát phạt và triệt hạ nhau bằng máu về sau này ở nhiều xứ sở.

London là nơi ghi nhớ tất cả những chuyện vui buồn đó quanh cuộc đời Marx và gia đình, bạn bè của ông và một số chuyện về sau.

Bài đã đăng trên trang Facebook của BBC Tiếng Việt. Các bạn xem thêm các bài về Karl Marx.

Edited by user Tuesday, February 3, 2015 7:45:34 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

tubich  
#5597 Posted : Tuesday, February 3, 2015 6:15:13 PM(UTC)
tubich

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 1,583

Thanks: 117 times
Was thanked: 195 time(s) in 151 post(s)


Nước Pháp và Hồi Giáo: Qua Vụ Charlie Hebdo


03/02/201500:00:00(Xem: 351)
Trần Bình Nam
Share on facebook

Trích tuần báo THE WEEK số ngày 30/1/2015

Sau vụ al Qaeda khủng bố bắn chết 12 người tại tòa báo Charlie Hebdo ở Paris ngày 7/1/2015 một câu hỏi được đặt ra cho người Hồi giáo ôn hòa sinh đẻ ở Pháp: Có thể vừa làm một người Pháp vừa một người Hồi giáo ngoan đạo không?

Luật của Pháp không cho nhà nước làm thống kê chính thức về chủng tộc và tôn giáo. Nhưng theo ước lượng hiện có 5 triệu người Hồi giáo ở Pháp, chiếm chừng 7.5% dân số và là cộng đồng người Hồi giáo đông nhất tại Âu châu chỉ thua số người theo Thiên chúa giáo La Mã. Giữa người Pháp và người Hồi giáo có một chút ngờ vực lẫn nhau rất khó diễn tả. Mặc dù chỉ có 27% người Pháp (trong khi 63% người Ý và 46% người Tây Ban Nha) không ưa người Hồi giáo, nhưng 74% người Pháp nghĩ rằng người Hồi giáo không thích hợp với lối sống dân sự của xã hội Pháp. Theo nhận xét của ông Soeren Kern thuộc Viện Gatestone Institute, người Hồi giáo không hội nhập vào xã hội Pháp. Họ sống như những người không quốc tịch.

Hầu hết người A Rập theo Hồi giáo đến từ các thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi. 1,5 triệu người gốc Algeria, 1 triệu gốc Morocco và 400.000 gốc Tunisia. Pháp cho phép họ nhập cư cuối thập niên 1940 sau Thế chiến 2 để giải quyết việc thiếu hụt nhân công. Trong hai thập niên 1950 và 1960 các nước này độc lập, và Pháp giữ quan hệ với các thuộc địa cũ bằng cách áp dụng luật di cư dễ dàng cho người Hồi giáo muốn sang làm việc tại Pháp. Tuy nhiên chỉ là nhu cầu. Người Pháp không mở rộng bàn tay đón người Hồi giáo vì tình thương, và người Hồi giáo qua nhiều thập niên bị thống trị cũng nhìn người Pháp với đôi mắt thiếu thiện cảm.

Người Hồi giáo sống trong những chung cư ở ngoại ô (người Pháp gọi là banlieue) các thành phố lớn như Paris, Lyon, Marseille, và các khu ngoại ô này dần dần trở thành những ghettos của người A Rập.

Tại các khu ngoại ô nạn thất nghiệp cao gấp đôi chỉ số thất nghiệp toàn quốc (20% so với 10%), trong đó lớp tuổi từ 15 đến 24 thất nghiệp đến 40%. Toàn quốc có 751 khu vực của người A Rập được xem là khu “tế nhị”. Tại các khu này cảnh sát nhiều khi bỏ lơ không đến điều tra các vụ đâm chém nhau vì thiếu an toàn. Không khí căng thẳng giữa cảnh sát và người A Rập thỉnh thoảng biến thành bạo động. Mùa thu năm 2005 do một xích mích với cảnh sát, người A Rập bạo động tại nhiều khu ngoại ô kéo dài trong mấy tuần lễ,đốt cháy 10.000 chiếc xe, làm hư hỏng hàng trăm công ốc và mất 230 triệu mỹ kim công quỹ để dọn dẹp. Từ đó đến nay chính phủ Pháp chi tiêu 55 tỉ mỹ kim để cải tiến các khu ngoại ô lụp xụp này, nhưng người A Rập vẫn cho chính phủ chỉ làm lấy lệ chứ không quan tâm thật sự đến đời sống của họ. Theo cái nhìn chung, người A Rập cho rằng người Pháp muốn duy tri các khu ngoại ô để tách biệt cộng đồng người A- Rập ra khỏi cộng đồng người Pháp.

Tại sao người A Rập cảm thấy bị cách biệt? Đây là kết quả xấu của một nguyên tắc tốt. Vào thế kỷ thứ 19, Công giáo La Mã tại Pháp ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt của xã hội và chính quyền. Cho nên nước Pháp áp dụng nguyên tắc tách biệt tôn giáo ra ngoài sinh hoạt chính quyền, tòa án và trường học (người Pháp gọi là lạcisation). Nhưng người A Rập cho rằng nguyên tắc “tách biệt” được đặc biệt áp dụng để chia cắt họ với xã hội và là một hình thức kỳ thị đạo Hồi. Theo nguyên tắc “tách biệt”, năm 2004 quốc hội Pháp ban hành luật cấm học sinh che mặt và mang các biểu tượng tôn giáo trong lớp học (kể cả thánh gíá) và người Hồi giáo cho là kỳ thị. Năm 2011 Pháp là nước đầu tiên tại Âu châu cấm phụ nữ trùm kín thân mình và mặt mũi ngoài đường phố vì lý do an ninh.

Nhiều người cho rằng, người Pháp quá tự hào về đất nước và văn hóa của mình nên khó chấp nhận người Hồi giáo. Nhà văn Nadir Dendoune sinh ra lớn lên ở Pháp và có ngoại hình chẳng khác gì một người Pháp khác, nói ông không cảm thấy thỏai mái khi người Pháp nào cũng giới thiệu ông là một công dân Pháp gốc Algeria. Ông than phiền: “cứ như thế làm sao tôi cảm thấy tôi là một người Pháp như mọi người Pháp khác được?”

Một kết quả nghiên cứu của đại học Stanford (ở California) năm 2011 cho thấy hai người gốc A Rập có trình độ giống nhau, một người theo Công giáo, một người theo đạo Hồi khi nộp đơn xin việc thì người theo Công giáo thường được gọi phỏng vấn cao gấp 2.5 lần người theo đạo Hồi. Đảng National Front (Đảng Mặt Trận Quốc Gia) cực hữu do bà Marine Le Pen lãnh đạo kỳ thị người Hồi giáo một cách công khai vẫn được phiếu ủng hộ của dân Pháp. Bà Marine Le Pen nói dân A Rập tại Pháp càng ngày càng đông là một hiện tượng xâm lăng nước Pháp như Đức quốc xã. Theo thăm dò bà Marine Le Pen đang dẫn đầu trong các ứng cử viên tổng thống năm 2017.

Số người Hồi giáo tham gia phong trào khủng bố chống Tây phương ở Pháp không nhiều, nhưng là một đe dọa không nhỏ. al Qaeda tuyển mộ các tay khủng bố tại các khu ngoại ô, và nhất là tại các nhà tù. 60% tù nhân là người Hồi giáo. Cho đến nay có khoảng 1.200 người Pháp Hồi giáo đang chiến đấu trong hàng ngũ ISIS tại Syria, đông nhất trong số các nước Âu châu. Và hiện nay Pháp phải đương đầu với các cuộc khủng bố trong nước mà vụ đánh toà báo Charlie Hebdo là một khởi đầu.

Phản ứng của người Hồi giáo ở Pháp đối với vụ Charlie Hebdo là một điều đáng quan tâm. Mặc dù đa số người Hồi giáo chống bạo động, nhưng rất ít người Hồi giáo vỗ ngực theo phong trào “Je suis Charlie” lên án khủng bố. Họ xem việc tờ báo trào phúng vẽ hình châm biếm gíao chủ của họ là một hình thức làm nhục họ. Mohamad Binakdan nhân viên của sở vận chuyển công cọng nói: “Chúng tôi nghèo, chúng tôi thất nghiệp, chúng tôi còn gì ngoài tôn giáo? Và làm sao chúng tôi cười với các bức tranh biếm họa đó được!”

Người Hồi giáo tại Pháp cho rằng có những nguyên tắc áp dụng cho họ nhưng không áp dụng cho người khác. Và điều này rõ nhất trong lĩnh vực “tự do ngôn luận”. Trong khi hàng triệu người có quyền xuống đường bày tỏ sự đồng ý và ủng hộ tờ báo trào phúng Charlie Hebdo đăng những bức hình biếm họa làm đa số người Hồi giáo bực tức, thì cảnh sát Pháp đang điều tra khoảng 100 người bày tỏ (trong ý nghĩ chứ không phải bằng hành động) sự đồng ý với các hành động khủng bố. Nhà trào phúng Dieudonné Mbala Mbala bị cảnh sát bắt khi viết trên Facebook của ông “Tôi cảm thấy tôi giống như Charlie Coulibaly”. Coulibaly là tên khủng bố Amedy Coulibaly đã bắn chết 4 người trong chợ Kosher của người Do Thái 2 ngày sau vụ Charlie Hebdo. Nhiều người A- Rập khác cho rằng thật mâu thuẫn khi vẽ hình Giáo chủ Hồi Giáo đang đi đại tiện hay đang làm tình thì không phạm luật trong khi tuyên bố rằng Holocaust (vụ người Đức tàn sát 6 triệu người Do Thái trong thế chiến 2) chỉ là chuyện bày đặt là phạm luật. Luật sư trong ngành truyền thông Mathieu Davy giải thích sự khác biệt: “Tôi có quyền chỉ trích một ý kiến, một quan niệm hay một tôn giáo, nhưng tôi không có quyền đánh người khác và xúi dục sự căm thù”. Đa số người Hồi giáo cho rằng luật sư Mathieu Davy mâu thuẫn khi tìm cách phân biệt hai phạm trù thực chất không có gì khác nhau!

Trần Bình Nam
31/1/2015
linhphuong  
#5598 Posted : Tuesday, February 3, 2015 10:48:34 PM(UTC)
linhphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 2,894

Thanks: 317 times
Was thanked: 349 time(s) in 241 post(s)
Tin tổng hợp

Sứ thần Tòa Thánh tại Venezuala bị mưu sát,
4 nhà thờ bị tấn công


Nguyễn Việt Nam
2/1/2015

Bốn nhà thờ Công Giáo bị trúng bom xăng và thậm chí Sứ thần Tòa Thánh, là Đức Tổng Giám Mục Aldo Giordano, đang ở thăm thành phố Mérida, đã là mục tiêu của các cuộc tấn công.

Sự việc xảy ra vào lúc bình minh sáng 31 tháng Giêng theo báo cáo của cha Luis Sánchez, linh mục giáo xứ El Llano, trong khu vực quận El Llano ở Merida.

Thông tấn xã Fides của Bộ Truyền Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc cũng đã nhận được báo cáo của Villca Fernández, thuộc phong trào Hiệp Thông và Giải Phóng Venezuela, người đã lên án "các cuộc tấn công là ghê tởm và hèn nhát" chống lại Giáo Hội

"Các cuộc tấn công này cố gắng gieo rắc nỗi kinh hoàng và sợ hãi trong dân chúng Mérida. Một cuộc tấn công chống lại một nơi thờ phượng là một cuộc tấn công vào quyền tự do tôn giáo và chống lại các di sản lịch sử của Mérida ".

Đại học Movement, thông qua các mạng xã hội, đã ngay lập tức kêu gọi một buổi cầu nguyện trước nhà thờ El Llano để bày tỏ sự ủng hộ đối với Tòa Thánh và lên án các hành vi bạo lực.

Đức Tổng Giám Mục Aldo Giordano được báo cáo là bình an vô sự.

Số nữ tu đã giảm mạnh trong một thập niên vừa qua,
trong khi số nam tu gần như không đổi


UserPostedImage


Đặng Tự Do
2/2/2015

Lúc 5:25 chiều thứ Hai 2 tháng 2, Đức Thánh Cha sẽ chủ sự thánh lễ Ngày Thế Giới Đời Sống Thánh Hiến tại Đền Thờ Thánh Phêrô.

Trong dịp này, Văn Phòng Thống Kê Trung Ương của Tòa Thánh đã đưa ra những con số thống kê cho thấy số nữ tu đã giảm mạnh trong một thập niên vừa qua, trong khi số nam tu gần như không đổi.

Năm 2002, toàn Giáo Hội có 782,932 nữ tu. Đến năm 2013 chỉ còn 693,575 chị, tức là giảm mất 89,357 chị hay 11.4%. Cái chết là nguyên nhân chính cho sự sụt giảm này.

Năm 2002, toàn Giáo Hội có 192,552 nam tu sĩ. Đến năm 2013, còn 190,267, tức là giảm mất 2,285 vị hay 1.18%.

Các dòng tu nam có đông thành viên nhất là Dòng Tên với 17,287 vị, tiếp đến là dòng Salêdiêng Don Bosco với 15,573 vị và dòng Anh Em Hèn Mọn với 14,123 bị.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã dành riêng năm nay là năm cầu nguyện cho đời sống thánh hiến, và khích lệ các Kitô hữu tái khám phá giá trị của đời sống thánh hiến. Ngài nói đó là thời gian để đổi mới và để cho thế giới thấy sức mạnh của tình huynh đệ.

Hôm 7 tháng 11 năm 2014, Đức Thánh Cha nói:

"Đời sống thánh hiến có thể giúp các Giáo Hội và toàn xã hội bằng cách đưa ra những chứng của tình huynh đệ, cho thế giới thấy rằng chúng ta có thể sống với nhau như anh em trong sự đa dạng".

03/02/2015 16:56

Nước Pháp không bình yên sau vụ Charlie Hebdo:
thêm 3 cảnh sát bị đâm


Có 3 quân nhân Pháp đã bị tấn công bằng dao khi đang đi tuần tra chống khủng bố bên ngoài một trung tâm văn hóa của người Do Thái ở thành phố nghỉ mát nổi tiếng Nice thuộc miền nam nước Pháp hôm thứ ba 3/2.

UserPostedImage

An ninh được tăng cường sau khi 3 cảnh sát bị đâm. Photo Courtesy:Reuters


Cali Today News – Một nghi can đã vung dao tấn công họ. Hai người bị thương nhẹ, một người bị đâm trúng má còn người kia bị vết cắt vào cánh tay. Hung thủ mang theo hai con dao để hành sự đã bị bắt, nhưng hai đồng phạm khác thì tẩu thoát được.

Được biết trung tâm văn hóa Do Thái này còn là địa điểm của một hội đoàn Do Thái, đài Radio Shalom và tổ chức Ái Hữu Pháp-Do Thái. Cũng có tin một đồng bọn đã bị bắt cùng với hung thủ.

Thị Trưởng Nice là ông Christian Estrosi đã khen ngợi lực lượng cảnh sát đã phản ứng nhanh nhẹn và yêu cầu Paris phải cho tăng cường thêm lực lượng an ninh cho thành phố Nice.

Hiện cuộc điều tra nguyên nhân cuộc tấn công đã bắt đầu. Cũng có tin là có 8 nghi can khác bị bắt trong ngày thứ ba ở Pháp vì bị tình nghi tuyển mộ các tay súng lên đường đi Syria và Iraq.

Marcel Autier, một đại diện cảnh sát khu vực địa phương ở Nice, cho báo chí hay: “Có vẻ đây là hành động có mưu tính trước, bọn chúng ra tay rất mạnh bạo. Hung thủ chính khoảng 30 tuổi, là cư dân Paris và có khá nhiều thành tích bất hảo trong hồ sơ cảnh sát”

Đào Nguyên (Reuters)

Phi công bị ISIS thiêu sống, Jordan sẽ xử tử tù nhân trả thù


Tuesday, February 03, 2015 4:23:37 PM

AMMAN, Jordan (AFP) - Các giới chức chính phủ Jordan cho hay sẽ xử tử sáu tù nhân có liên hệ với thành phần khủng bố quá khích vào ngày Thứ Tư, kể cả một phụ nữ đánh bom tự sát gốc Iraq, để trả thù cho một phi công Jordan bị ISIS thiêu chết.

UserPostedImage

Bà mẹ cầm hình phi công Maaz al-Kassasbeh, bị coi là đã bị ISIS thiêu cháy. (Hình: Khalil Mazraawi/AFP/Getty Images)


“Án tử hình đối với Sajida al-Rishawi sẽ được thi hành vào lúc rạng đông ngày Thứ Tư,” theo một giới chức an ninh Jordan hôm Thứ Ba.

Rishawi, một nữ khủng bố từng tham dự cuộc đánh bom tự sát ở Amman năm 2005 nhưng thoát chết vì quả bom không nổ, đã bị lãnh án tử hình nhưng bản án chưa được thi hành từ đó đến nay. Phía ISIS đề nghị trao đổi một phi công Jordan bị họ bắt giữ, Trung Úy Maaz al-Kassasbeh, để đổi lấy phụ nữ này. Tuy nhiên, ISIS không hề đưa ra được chứng cớ nào cho thấy

Trung Úy al-Kassasbeh còn sống và một đoạn video vừa được phổ biến nói rằng ông ta đã bị thiêu sống khoảng gần một tháng trước đây.

“Án tử hình sẽ được thi hành với một nhóm thánh chiến, khởi sự với Rishawi, cũng như thành viên al-Qaeda ở Iraq là Ziad Karbuli cùng một số người khác từng tấn công Jordan,” theo nguồn tin trên.

“Phản ứng của Jordan sẽ rất dữ dội,” theo lời bộ trưởng Thông Tin Jordan, ông Mohammed Momani, cho hay trên đài truyền hình trước đó, trong khi các giới chức chính phủ và quân đội thề sẽ trả thù cho cái chết của người phi công.

“Bất cứ ai nghi ngờ sự đoàn kết của người dân Jordan sẽ bị cho thấy là sai lầm,” theo lời ông Momani.

“Người phi công này không thuộc vào một bộ tộc nào hay một nhóm nào, anh là con trai của tất cả người dân Jordan, một lòng đoàn kết với nhau,” ông nói.

Ðài truyền hình nhà nước Jordan cũng cho hay Vua Abdullah II sẽ rút ngắn chuyến viếng thăm Washington và sẽ trở về nước sau khi có tin người phi công bị giết.

Vua Abdullah II đã thảo luận với Ngoại Trưởng John Kerry tại Washington hôm Thứ Ba trước khi họp với Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện Mỹ.

Jordan, một trong các đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Trung Ðông, hiện đang tham gia liên quân do Mỹ chỉ huy để mở các cuộc không tập nhắm vào ISIS ở Syria.

(V.Giang)

Bầu giám sát viên Quận Cam - Lou Correa yêu cầu tái kiểm phiếu


Tuesday, February 03, 2015 6:53:40 PM

SANTA ANA, California (NV) - Ông Lou Correa, người chỉ thua ông Andrew Ðỗ 43 phiếu trong cuộc bầu cử chức giám sát viên Ðịa Hạt 1 hôm 27 Tháng Giêng, đã chính thức yêu cầu Cơ Quan Bầu Cử Orange County tái kiểm phiếu, theo một lá thư gởi ra hôm Thứ Hai, 2 Tháng Hai.

UserPostedImage

Cựu thượng nghị sĩ tiểu bang California, ông Lou Correa. (Hình: Lou Correa cung cấp)


Trong một thông cáo báo chí gởi đến nhật báo Người Việt, ông Lou Correa viết: “Sáng Thứ Hai vừa qua, tôi đã gửi một bức thư tới ông Neal Kelley chính thức yêu cầu kiểm lại phiếu của cuộc bầu cử đặc biệt ngày 27 Tháng Giêng cho Ðịa Hạt 1. Như quý vị đã biết, kết quả cuối cùng của Cơ Quan Bầu Cử Orange County vào đêm Thứ Sáu tuyên bố ứng cử viên Andrew Ðỗ là người thắng cuộc với 43 phiếu cách biệt trong tổng số hơn 48,600 phiếu bầu - một sự khác biệt dưới 1/10 của 1%.”

Tuy yêu cầu tái kiểm phiếu, ông Correa giải thích rằng ông không nghĩ kết quả sẽ thay đổi, và chỉ muốn bảo đảm tính trung thực của cuộc bầu cử.

“Tôi không nhất thiết nghĩ rằng việc kiểm lại phiếu này sẽ thay đổi kết quả của cuộc bầu cử. Nếu có những phiếu đã được nạp vào một cách bất hợp lệ và đã được tính do sai lầm, thì việc kiểm lại phiếu vẫn không thể 'hủy bỏ' và loại chúng ra khỏi kết quả. Ngược lại, việc kiểm lại phiếu cũng không dẫn đến việc thêm bất kỳ phiếu nào vốn đã bị loại bỏ lúc đầu vì sai lầm,” ông Correa viết.

Ông viết thêm: “Thay vào đó, mục đích chính của cuộc tái kiểm phiếu là để cho phép cho ban vận động của tôi - và cho công chúng nói chung - có được sự bảo đảm rằng cuộc bầu cử đã được tiến hành một cách công bằng và hợp pháp: bất cứ ai được quyền bỏ phiếu đã có thể bỏ phiếu, và chỉ những người được quyền bỏ phiếu mới bỏ phiếu.”

“Ban vận động tranh cử của tôi đã nhận được một số báo cáo trong tuần qua là có những người không thực sự sống ở Ðịa Hạt 1 nhưng đã ghi danh bầu cử và bỏ phiếu trong cuộc bầu cử này. Chúng tôi cũng đã nhận được báo cáo về những bất thường trong việc thu thập các phiếu bầu khiếm diện, với chiến dịch thu gom (và thậm chí trả tiền) cho các lá phiếu rồi gửi về văn phòng bầu cử hoặc đem đến các thùng phiếu. Cá nhân tôi không biết báo cáo này có đúng sự thật hay không, nhưng tôi có bổn phận với những người ủng hộ tôi, và vì sự trong sạch của cuộc bầu cử, phải làm bất cứ điều gì có thể làm để bảo đảm rằng kết quả của cuộc bầu cử này - cũng như các cuộc bầu cử trong tương lai khác của Orange County - không bị ô nhiễm hoặc bị ảnh hưởng bởi các hành vi bất hợp pháp,” vị cựu thượng nghị sĩ tiểu bang California viết tiếp.

“Một cuộc tái kiểm phiếu sẽ cho phép ban vận động của tôi và tất cả các bên liên quan khác trong cuộc bầu cử đặc biệt ngày 27 Tháng Giêng xem xét lại các lá phiếu và hồ sơ liên quan để bảo đảm rằng luật bầu cử đã được tuân thủ,” thông cáo được viết tiếp.

“Tuần qua, ban vận động của tôi và của ông Andrew Ðỗ đã có cơ hội quan sát và theo dõi quá trình kiểm phiếu của văn phòng bầu cử trên các lá phiếu tạm thời và một số lá phiếu bầu bằng thư nhận được trong hoặc sau ngày bầu cử. Trong quá trình xem xét đó, chúng tôi thấy một số vấn đề: lá phiếu tạm thời được tính dù không có chữ ký của cử tri; một số cử tri đã cố bỏ phiếu hơn một lần; và một số cử tri tự xác nhận rằng mình vừa dọn vào Ðịa Hạt 1 ngay trước cuộc bầu cử mà không thực sự ghi danh bầu cử tại địa chỉ mới. Việc kiểm lại phiếu này sẽ cho phép chúng tôi điều tra và xác định tầm mức của các sự bất thường này, để phân tích xem nó có thể đã ảnh hưởng đến kết quả của cuộc bầu cử hay không, và để quyết định xem có cần phải hành động gì thêm dưới hình thức một hành động tư pháp hoặc một cuộc điều tra của biện lý,” ông Correa viết tiếp.

Ðoạn cuối của thông cáo báo chí viết:

“Tôi hy vọng rằng ban vận động của ông Ðỗ cũng sẽ hợp tác và tham gia cùng tôi trong việc kiểm phiếu lại và dùng nó như một cơ hội để đảm bảo với chúng tôi cũng tất cả các cư dân của Quận Cam rằng cuộc bầu cử Giám Sát Viên Ðịa Hạt I này đã được tổ chức và tiến hành một cách công bằng, tuân thủ đầy đủ các luật bầu cử.”

Vào sáng Thứ Ba, 3 Tháng Hai, tân Giám Sát Viên Andrew Ðỗ đã tuyên thệ nhậm chức tại một buổi lễ được tổ chức long trọng tại Old Orange County Courthouse, Santa Ana, trước sự chứng kiến của một số dân cử tiểu bang, toàn bộ Hội Ðồng Giám Sát Orange County, gia đình ông, và nhiều cư dân Orange County.

Ông Andrew Ðỗ được nhật báo The Orange County Register trích lời nói ông không quan tâm về việc tái kiểm phiếu.

Trong khi đó, ông Neal Kelley được nhật báo The Los Angeles Times trích lời cho biết cuộc tái kiểm phiếu có thể bắt đầu vào Thứ Hai tuần tới, với chi phí $2,400/ngày.

(Ð.D.)

Câu chuyện một người lính


Saturday, January 31, 2015 2:02:40 PM
Lê Phan

Người lính trong câu chuyện được ghi lại trên một blog của Thông Tấn Xã Reuters là Thiếu Úy Alexey Chaban của Lữ Đoàn Thiết Giáp 17 của quân đội Ukraine. Như ông tự nhận với phóng viên của Reuters, ông chỉ là một người bình thường. Nhưng có lẽ chính sự bình thường đó của ông đã khiến ông trở thành một người hùng.

Hành động phi thường của ông không những chỉ là đã tha cho một chỉ huy của một chiến xa Nga. Điều còn đặc biệt hơn nữa là hôm cuối tuần trước, ông gửi lên Internet một bức thư cho bà mẹ của viên sĩ quan Nga mà ông đã tha mạng.

Chaban viết bức thư nổi tiếng của mình hôm tối Thứ Bảy, 24 tháng 1. Bức thư là để gửi đến bà mẹ của người sĩ quan Nga đã sống sót khi xe tăng của ông ta bị trúng đạn. Cùng sống sót với ông có xạ thủ và tài xế. Chuyện đó xảy ra vào hôm 22 tháng 1. Ông kể lại cho phóng viên Reuters là vụ đụng độ xảy ra ở ngôi làng Sanzharivka, phía Bắc của một tiền đồn của Ukraine tên là Debaltseve.

“Khi họ ra khỏi được cái xe tăng đã bị hư hỏng, chúng tôi chỉ cần nhấn một cái nút trên xe tăng của chúng tôi và tất cả những gì còn lại của họ sẽ chỉ là một ký ức cho thế giới tội lỗi của chúng ta,” ông viết. “Chúng tôi không giết họ. Chúng tôi để cho họ đi.”

Ông giải thích với bà mẹ là người Ukraine có rất nhiều vấn đề - tham nhũng, tội ác, nghèo đói, thất nghiệp - và đuổi cựu Tổng Thống Viktor Yanukovych ra khỏi chức vụ hồi tháng 2 là để có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Trong bức thư ông đã trấn an bà mẹ kẻ thù là người Ukraine không phải là phát xít ăn thịt trẻ con hay là hiếp dâm những cụ về hưu tật nguyền, mà chỉ là một dân tộc bình thường, yêu chuộng hòa bình và yêu đất nước của mình và con cái của họ. “Hãy bảo con bà là sinh sống bằng cách từ chối cuộc sống của người khác là điều không tốt. Hy vọng anh ta trở về nhà và tìm công việc khác. Cầu cho anh ta được sống an bình và đừng gây tội lỗi cho linh hồn của mình.”

Ông nhờ những người sử dụng Facebook hãy chuyển lá thư cho người mẹ của viên sĩ quan đó, vì ông người Nga đã để quên lại trong xe tăng cái điện thoại với một SIM card của Nga. Chaban đã gửi thêm một tấm hình tìm thấy được từ cái phone đó, cho thấy một người đàn ông trung niên ngồi trên một cái xe tăng trong bộ đồ trận đội một cái nón màu đen của thiết giáp Nga. Ông cũng tìm thấy ba số điện thoại và một địa chỉ, có lẽ là của mẹ viên sĩ quan này.

Các phóng viên Nga nói là họ xác nhận ba số điện thoại đó là điện thoại địa phương, hai cái hết tiền còn người phụ nữ trả lời ở số thứ ba, một người tên là Marina, nói là có thấy trang của Chaban trên Facebook nhưng không nhận ra người trong tấm hình. Khi các phóng viên Nga tìm đến địa chỉ thì họ gặp một cụ hưu trí nói là không biết người trong tấm hình và không có thân nhân nào đang chiến đấu ở Ukraine cả. Các nhà báo Nga đồn đoán là có thể Chaban đã lầm, hay đó là một sự bịa đặt.

Phóng viên của Reuters cũng thử gọi ba số đó và Marina đã trả lời là không biết tại sao số điện thoại của mình lại lên Internet. Cô còn bảo là đã nhận được nhiều cú điện thoại từ Ukraine, Moldova, và ngay cả Đức và Tây Ban Nha. Cô hoàn toàn bác bỏ nói là không có người Nga nào chiến đấu ở Ukraine, nhưng từ chối không cho biết họ chỉ có mỗi cái tên Marina.

Khi nhà báo nói chuyện với Chaban, ông ta có nhắc đến sự nghi ngờ về câu chuyện của Chaban do các nhà báo Nga đưa ra, Chaban bảo có thể chủ nhân của các số điện thoại đó đã bị khuyến cáo bởi nhà chức trách Nga.

Khi Reuters tò mò hỏi ông tại sao không bắt mấy người Nga làm tù binh. Ông giải thích là ông và các bạn đồng đội đang lâm trận, mắc kẹt trong xe tăng. Ông giải thích, “Chúng tôi có thể bắn họ hay là thả cho họ đi. Chúng tôi không thể bắt tù binh. Chuyện đó không thực tế.” Ông cũng bảo ông là một người sùng đạo nhưng tôn giáo không phải là lý do ông tha mạng cho kẻ thù. Ông đưa ra một giải thích giản dị hơn nhiều: “Tôi không thể nói vào lúc đó tôi nghĩ đến Thượng đế. Nhưng làm sao có thể giết người không có vũ khí?” Ông cũng công nhận là có thể sẽ hành động khác nếu đã bị mất một chiến hữu trong năm tháng ông ra chiến trường. Ông kết luận, “Tôi không tiếc điều đã làm. Tại sao chúng tôi phải giết họ? Tôi không nghĩ là ba anh chàng đó sẽ trở lại chiến trường nữa.”

Cái chiến xa T64-BV của ba người Nga đã không bị hư hại nặng lắm. Những chuyên gia xem xét số hiệu nói là nó được đặt căn cứ ở Crimea, mà Nga đã sát nhập hồi tháng 3. Sau khi sửa chữa, Chaban và các bạn đồng đội của ông đang sử dụng nó.

Chaban kể là những hình ảnh và text message ông tìm thấy từ cái phone của viên sĩ quan làm ông mất ăn mất ngủ. Sau cùng, ông tìm cách giải tỏa bằng cách gửi một lá thư cho người mẹ của người chiến sĩ Nga đó.

Hồi xưa, khi các binh sĩ có thì giờ rảnh họ ngồi xuống viết thơ, viết nhật ký để gửi về cho gia đình. Ngày nay họ chỉ hy vọng có được signal để post lên Facebook. Trang Facebook của Chaban, viết bằng tiếng Nga, toàn là những câu chuyện về chiến trường và phê bình các dụng cụ. Theo ông, kiếng nhìn ban đêm của Belarus tốt hơn là kiếng của Mỹ.

Chaban đồng ý với nhà báo là kỹ thuật mới, đặc biệt là smartphones và các hệ thống liên lạc xã hội đã tạo nên những cơ hội không thể tưởng tượng được để liên lạc với thế giới bên ngoài. Ông nói chuyện với bà vợ Svetlana ngày hai lần. Ông bảo, “Đối với gia đình nó dễ hơn,” ngẫm nghĩ một chút ông thêm, “Hay có thể nó khó hơn.”

Gia nhập lực lượng trừ bị từ hồi còn sinh viên ở trường kỹ sư mỏ, ông bố có bốn con này đã nhập ngũ vào tháng 7 khi thấy các lực lượng thân Nga ở hai vùng Donetsk và Luhansk ngày càng hung hăng. Chaban rời bỏ trang trại 250-acre của ông để đi huấn luyện quân sự một tháng trước khi được gửi ra để canh gác đường ngưng bắn mong manh này.

Cũng như nhiều ngàn các chiến binh khác, Chaban vác theo cái smartphone của mình. Điều nực cười là các chiến sĩ Nga cũng vậy. Những post có địa chỉ geo-tagged cho thấy quả là quân đội Nga có mặt ở Ukraine hồi mùa hè năm nay mặc dù Điện Kremlin chối nói không dính líu gì đến Ukraine.

Trong khi những người lính như Chaban đang lâm chiến, càng ngày người ta càng thấy cái nguy của những gì ông Putin đang tạo ra ở Ukraine. Cách đây năm tháng, khi thấy rõ là quân đội của nhóm thân Nga ở Ukraine không thể nào chống cự lại nổi quân đội Ukraine, ông Putin đã xua quân Nga vào để chặn sự thảm bại của phe thân Nga ở vùng Donbas. Quả là Ukraine không chọi nổi với Nga. Ukraine đã phải ngưng mọi điều đình mậu dịch với Liên Hiệp Âu Châu và Quốc Hội Ukraine ra luật cho quyền tự trị rộng rãi cho những phần của vùng Donbas dưới quyền chỉ huy của phe ly khai. Các cuộc thảo luận để cho Ukraine tham gia Nato bị đình chỉ. Hoa Kỳ bị cắt ra khỏi các cuộc thương thảo giữa Nga, Ukraine và Âu Châu. Mục tiêu của ông Putin, tạo nên mọt vùng ly khai bên trong Ukraine có vẻ đã đạt được.

Khổ một nỗi như The Economist chỉ ra, vì Nga chưa bao giờ nhận tham chiến, họ không thể nói là đã chiến thắng và hơn thế họ không thể áp đặt kiểm soát qua việc duy trì quân đội tại chỗ. Một khi quân đội Nga rút khỏi Ukraine, chiến thắng của ông Putin bắt đầu lung lay. Phe ly khai từ chối buông súng và Tổng Thống Petro Poroshenko của Ukraine cũng không chịu chấp nhận bại trận. Cho đến nay Ukraine từ chối công nhận Donetsk và Luhansk hay từ bỏ ước mơ tham gia Nato.

Trong khi đó giá dầu thô giảm cộng với áp lực của Tây phương đã ngày càng làm cho ông Putin ở vào thế kẹt. Khi các lãnh tụ Âu Châu hủy bỏ cuộc họp thượng đỉnh dự trù ở Astana, ông Putin bèn phản ứng. Phe ly khai với sự hỗ trợ của Nga tái tục cuộc tấn công vào phi trường Donetsk, vốn trở thành biểu tượng của sự kháng cự của Ukraine. Lãnh tụ của phe ly khai Alexander Zakharchenko cũng tấn công hải cảng Mariupol. Một loạt hỏa tiễn đi sai mục tiêu rớt vào một khu nhà dân, làm cho 30 thường dân thiệt mạng. Ngay khi tin này loan ra, ông Zakharchenko, hẳn là với sự cố vấn của Nga, đổi giọng, đổ cho là Ukraine đã gây sự trước.

Ông Putin lần này còn đi hơn thế nữa. Một loạt hình ảnh những người bí mật nói tiếng Anh mặc quân phục Ukraine và hình ảnh các sĩ quan Hoa Kỳ ở Kiev, được đưa lên truyền hình. Bản tin truyền hình khẳng định, “Sau mỗi lần quân đội Hoa Kỳ thăm viếng, cuộc chiến ở Ukraine lại tái tục.”

Một phần sự gia tăng tuyên truyền chống Tây phương phản ảnh tình hình kinh tế ngày càng suy đồi. Như tờ Economist chỉ ra, ông Putin nâng cấp cuộc chiến ở Ukraine lên là một cuộc chiến Nga-Nato đúng ngày mà công ty thẩm định khả tín Standard & Poor's hạ mức tín dụng của Nga xuống hàng “junk.” Giá dầu xuống đẩy đồng rouble xuống và làm giá cả mọi sự gia tăng, làm dân chúng cằn nhằn. Tuy nhà nước né dùng chữ khủng hoảng nhưng họ bắt đầu các biện pháp chống khủng hoảng. Chả trách các lãnh tụ đối lập như ông Alexei Navalny đang đòi biểu tình chống khủng hoảng. Ông Boris Nemtsov, một chính trị gia cấp tiến còn nói huỵch toẹt hơn, “Putin là khủng hoảng và chiến tranh. Không có Putin- không có khủng khoảng và không có chiến tranh.”

Nhưng chính vì đang ở trong thế kẹt nên ông Putin bây giờ hết sức nguy hiểm. Ông vẫn cương quyết duy trì ước mơ giữ Ukraine là vùng trái độn với Âu Châu và do đó Ukraine phải nằm trong vùng ảnh hưởng của ông. Việc chiếm Crimea và cuộc chiến Ukraine đã có một lúc giúp ông Putin củng cố quyền lực trong nước. Nhưng với nền kinh tế ngày một suy đồi, ông nay không thể bỏ rơi đông Ukraine vì như vậy sẽ bị chứng tỏ là yếu thế.

Chỉ tội cho những người lính bất đắc dĩ như Chaban. Tâm sự qua điện thoại với người phóng viên của Reuters ông bảo, “Tôi hy vọng họ cho tôi về nhà vào tháng 3 này. Tôi mệt quá rồi.” Ông thêm là phải về nhà để trồng cho kịp vụ mùa nếu muốn có kế sinh nhai cho gia đình năm nay

03/02/2015 17:00

Phụ nữ Việt bị bắt ở Trung Quốc với 1.45 kí lô cocaine


Chiều thứ ba 3/2 có tin là một phụ nữ Việt Nam đã bị bắt ở phi trường quốc tế Pudong International Airport trong tháng giêng sau khi bị phát giác mang đến 1.45 kí lô cocaine đưa lậu vào Trung Quốc.

UserPostedImage

Hình Minh Họa. Photo Courtesy:CFP


Cali Today News - Các nhân viên Quan Thuế của Thượng Hải cho biết đây là một sản phụ đang mang thai được 8 tháng, đã đến đây vào ngày 22 tháng giêng từ một chuyến bay từ Nam Vang, Cambodia.

Nhưng thay vì đi vào lối dành cho người ngoại quốc có passport ở phi trường Pudong, sản phụ Việt Nam lại cố gắng đi qua phi trường theo ngã của người dân có quốc tịch Trung Quốc.

Các nhân viên Quan Thuế Trung Quốc bắt đầu nghi ngờ và bảo với bà này là họ muốn xem xét hành lý của bà ta. Máy quang tuyến X-Ray cho thấy có 2 gói bột màu trắng được che dấu bên trong hành lý, sau đó mới biết chất bột màu trắng chính là bạch phiến.

Sau cuộc thẩm tra ban đầu, sản phụ thú nhận là kẻ thừa hành mang ma túy vào Trung Quốc cho một đường dây băng đảng. Các viên chức Trung Quốc vẫn đang điều tra vụ này.

Cùng lúc cũng có tin một tòa án ở Việt Nam ở tỉnh Hòa Bình đã kết án tử hình 8 thành viên của một băng đảng và 5 thành viên khác án tù chung thân. Ngoài ra còn có 17 bị can khác bị các mức án từ 6 dến 20 năm tù giam.

Trước khi bị khám phá và bị bắt vào năm 2011, đường dây này đã đưa lậu vào VN đến 200 kí lô heroin. Vào tháng 1 năm 2014, VN cũng đã kết án tử hình 30 nghi can vì đã mang đến 2 tấn heroin vào VN, được xem là vụ án ma túy lớn nhất từ trước đến nay.

Trường Giang (Shangai Daily, NewsAsia)

03/02/2015 18:58

Houston: Nổ súng ở nhà hàng Việt


Theo thông tin từ văn phòng luật, Tony Yet đang ăn tối với bạn bè cũ ở nhà hàng Miền Tây Quán thì có vụ xô xát xảy ra giữa các thực khách. Ông Yet, mặc dù không phải đang làm nhiệm vụ, nhưng đã giải tán hai người này, và hộ tống họ ra bên ngoài.

UserPostedImage

Photo Courtesy:abc13


Dân Việt Houston - Tony Yet, điều tra viên thuộc văn phòng luật Vince Ryan, quận Harris đã nổ súng bắn chết một người đàn ông có vũ khí vào tối khuya chủ nhật vừa rồi. Vụ việc xảy ra ở nhà hàng Việt, có tên là Miền Tây Quán.

Theo thông tin từ văn phòng luật, Tony Yet đang ăn tối với bạn bè cũ ở nhà hàng Miền Tây Quán thì có vụ xô xát xảy ra giữa các thực khách. Ông Yet, mặc dù không phải đang làm nhiệm vụ, nhưng đã giải tán hai người này, và hộ tống họ ra bên ngoài.

Một lúc sau, một trong hai người đàn ông cầm vũ khí quay trở lại Miền Tây Quán. Các nhà chức trách cho biết, gã này từ bãi đậu xe bắn thẳng vào nhà hàng. Đó là lúc ông Yet bắn trả. Can phạm trúng đạn chết. Ông Yet và tất cả mọi người có mặt trong nhà hàng lúc đó không hề hấn gì.

Vụ việc xảy ra lúc 10h30 tối Chủ nhật, tuy nhiên các nhân viên điều tra đã làm việc 10 tiếng liên tục tại hiện trường.

Công việc chính của các điều tra viên thuộc văn phòng Luật Vince Ryan quận Harris là các vấn đề dân sự, và trách nhiệm chính của văn phòng là cung cấp điều tra nhiều vấn đề pháp lý khác nhau. Nhân viên điều tra được mang theo vũ khí, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa rõ Tonny Yet dùng súng công hay súng cá nhân bắn trả. Được biết ông làm việc ở văn phòng Vince Ryan được khoảng ba năm.

Hương Giang

Edited by user Tuesday, February 3, 2015 11:15:35 PM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#5599 Posted : Wednesday, February 4, 2015 2:26:35 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,133

Thanks: 1941 times
Was thanked: 4400 time(s) in 2742 post(s)

Tòa Thánh suy nghĩ về vai trò phụ nữ
trong Giáo Hội và văn hóa


Vũ Van An
2/2/2015

Các chức vụ nào được đề xuất cho phụ nữ trong Giáo Hội? Ta có bao giờ tự hỏi loại phụ nữ nào cần thiết cho Giáo Hội ngày nay chưa? Đâu là các đặc điểm của việc phụ nữ hiện diện trong các xã hội và các nền văn hóa khác nhau?

Các câu hỏi trên và nhiều câu hỏi khác sẽ được đem ra bàn tại Hội Nghị Toàn Thể của Hội Đồng Giáo Hoàng Về Văn Hóa, được tổ chức tại Rôma trong các ngày 4-7 tháng Hai này.

Tham dự việc giới thiệu hội nghị này tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh vào thứ Hai hôm nay, có Đức HY Gianfranco Ravasi, chủ tịch Hội Đồng; Anna Mara Tarantola, chủ RAI [Truyền Thánh và Truyền Hình Ý]; Monica Maggioni, giám đốc RAI News 24 và Nancy Brilli, nữ tài tử.

Theo lời trình bày của các nhân vật trên, hội nghị sẽ được chia thành 4 phiên họp, trong đó, các chủ đề sau đây sẽ được bàn tới “Giữa Bình Đẳng và Dị Biệt: Đi Tìm Quân Bằng”, “Đại Lượng như Qui Luật Tượng Trưng”, “Thân Xác Phụ Nữ: Giữa Văn Hóa và Sinh Học” và “Phụ Nữ và Tôn Giáo: Chạy Trốn hay Các Hình Thức Tham Dự Mới Vào Đời Sống Giáo Hội”.

Tham dự Hội Nghị sẽ là các Thành Viên và Tham Vấn Viên của HĐGH Về Văn Hóa và các viên chức khác do Đức GH chỉ định.

Muốn theo dõi biến cố này trên Các Mạng Xã Hội, người sử dụng có thể tìm kiếm tại #lifeofwomen. Tòa Thánh cũng dự định tổ chức một biến cố công cộng tại Kịch Trường Á Căn Đình ở Rôma. Sẽ có 50 phút chiếu video, phỏng vấn ngắn, các tài liệu đọc và âm nhạc sống.

Đức HY Ravasi cung cấp một số tài liệu để đọc về hội nghị. Ngài cho hay “kiểu nói ‘văn hóa phụ nữ’ không nhằm phân chia họ khỏi nam giới. Thay vào đó, nó diễn tả ý thức cho rằng có một lối nhìn thế giới và nhìn mọi sự quanh ta, nhìn đời và nhìn kinh nghiệm, rất đặc trưng đối với phụ nữ”. Mặt khác, ngài công bố rằng Cơ Quan của ngài có dự định sẽ thiết lập một bộ phận thường trực để tham khảo về phụ nữ.

Anna Maria Tarantola nói thêm rằng hội nghị này sẽ cố gắng suy nghĩ về vai trò phụ nữ trong thế giới hiện nay và trong Giáo Hội, cũng như về các đóng góp của phụ nữ theo các chuyên biệt và các khả năng riêng của họ.

Bà cho hay: “Nhiều cuộc nghiên cứu hiện nay nhấn mạnh rằng phụ nữ có nhiều khả năng quản trị cuộc khủng hoảng hơn”. Bà cũng cho hay: “cố gắng hướng tới bình đẳng không có nghĩa là thừa nhận các khuôn mẫu”. Do đó, bà quả quyết rằng phụ nữ có các đặc điểm làm họ dị biệt, dù là trong sự bình đẳng như những con người nhân bản.

Một vấn đề khác sẽ được đề cập trong Hội Nghị và được buổi họp báo nhắc đến là việc giải phẫu thẩm mỹ, được tài liệu chuẩn bị gọi là “việc che xương thịt” (burka of the flesh). Tài liệu này đặt câu hỏi: “Bảo toàn tự do chọn lựa của mỗi người, há ta không đang mang cái ách văn hóa phải làm khuôn mẫu độc nhất nữ giới đó hay sao? Ta có bao giờ nghĩ rằng phụ nữ bị lạm dụng trong quảng cáo và trong truyền thông đại chúng không?”

Về phương diện này, Đức HY Ravasi kêu gọi chú ý tới “chiều kích thoái hóa” của việc đua đòi một hình ảnh.

Một tuần lễ lớn dành cho phụ nữ

Trên bình diện chính sách, Đức Phanxicô từng loại bỏ khả thể phụ nữ làm linh mục, nhưng nhiều lần ngài kêu gọi phải chú ý nhiều hơn tới tiếng nói của phụ nữ và phải dành cho họ các vai trò có chất lượng hơn trong Giáo Hội.

Tuần tới sẽ là tuần để người ta thấy ngài nghiêm túc ra sao trong chủ trương trên. Vì tuần tới, như trên đã nói, Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa sẽ họp hội nghị toàn thể để chuyên bàn về phụ nữ. Tham vọng của hội nghị khá rộng, bàn đến nhiều vấn đề khác nhau, trong đó, có vấn đề bạo lực tính dục và căn tính khác biệt của phụ nữ và liệu việc giải phẫu thẩm mỹ có phải là một hình thức “gây hấn” chống lại phụ nữ không?

Trong cuộc phỏng vấn của tờ Crux hồi tháng Giêng vừa qua, Đức HY Ravasi cho hay một trong các tham vấn viên phụ nữ cộng tác vào việc soạn thảo tài liệu chuẩn bị gọi việc giải phẫu thẩm mỹ là “burka của phụ nữ Tây Phương” tức hình thức được xã hội thừa nhận nhằm che dấu khuôn mặt thực sự của họ.

Tài liệu tập chú nhiều vào các vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội. Nó cho rằng mặc dù nhiều lời nói văn vẻ hoa mỹ đã gióng lên về tầm quan trọng của phụ nữ, nhưng cho tới nay, chúng rất ít tác động lên cơ cấu Giáo Hội. Đã đành, ý niệm linh mục nữ giới bị chính thức bác bỏ, nhưng người ta cũng im lặng đáng ngại về các cơ hội lãnh đạo khác.

Tài liệu đặt câu hỏi: “tại sao, với sự hiện diện lớn lao của họ, phụ nữ vẫn gây ít tác động lên các cơ cấu của Giáo Hội? Trong chính sách thực hành mục vụ, tại sao ta chỉ dành cho phụ nữ những trách vụ của một dự án khá cứng ngắc, kết quả của những dư thừa ý thức hệ và có tính truyền thống?”

Tài liệu thừa nhận rằng phụ nữ thường nắm giữ những chức vụ quản trị thượng tầng trong những tầng lớp xã hội khác, nhưng lại không năm giữ được vai trò có tính quyết định tương ứng trong Giáo Hội.

Tài liệu viết rằng “Nếu, như Đức GH Phanxicô nói, phụ nữ có một vai trò quan trọng trong Kitô Giáo, thì vai trò này phải tìm được một đối tác cả trong đời sống Giáo Hội nữa”.

Người ta sẽ chờ xem liệu Hội Nghị có đưa ra được khuyến cáo nào cụ thể, chuyên biệt hay không, và liệu Đức Phanxicô có chấp nhận nó hay không.

Điều đáng lưu ý là sự hiện diện của nữ tài tử Nancy Brilli tại cuộc họp báo của HĐGH về Văn Hóa. Cô vốn xuất hiện trong cuốn video thực hiện cho Hội Nghị nhằm mời gọi nữ giới khắp thế giới gửi sứ điệp của họ về Hội Nghị.

Người Ý biết rõ về cô, nhưng người nước khác ít biết về cô. Nên người ta phỏng đoán cô được chọn không hẳn vì tư cách minh tinh, mà như một mẫu mực của nữ tính.

Tuy nhiên lối diễn xuất có tính chất mồi chài (vampish) của cô khiến nhiều phụ nữ không chấp nhận. Nhiều giám mục chỉ trích nặng nề cho rằng nó “không xứng đáng với một sáng kiến của Giáo Hội”. Chính vì thế, theo Catholic World News, trong cuộc họp báo nói trên, Đức HY Ravasi tỏ ra hối tiếc về việc này và đã quyết định cho thu hồi cuốn video, ít nhất là ấn bản tiếng Anh.

Theo Inés San Martín của tạp chí Crux, trong cuộc họp báo nói trên, nữ tài tử Brilli nhìn nhận rằng khó có thể loại bỏ được sự thiệt hại do cuốn video gây ra, vì “một khi bạn đã cho nó lên liên mạng, thì nó cứ ở đó, bạn không thể mang xuống được nữa”.

Ngoài vấn đề trên, các nhà bình luận phần lớn khen nội dung tài liệu chuẩn bị, nó mở ra nhiều lãnh vực để tranh luận cởi mở và xây dựng. Nhất là nhận định kết thúc của tài liệu, khi nhấn mạnh rằng: “Một mục tiêu thực tiễn có thể là việc mở cánh cửa Giáo Hội cho phụ nữ để họ cung hiến phần đóng góp của họ theo các kỹ năng, và cả sự mẫn cảm, trực giác, lòng say mê, tận tụy của họ để hợp tác và tích nhập trọn vẹn với các đối tác nam giới”.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#5600 Posted : Wednesday, February 4, 2015 10:02:42 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,702

Thanks: 636 times
Was thanked: 450 time(s) in 292 post(s)
Máy trải gạch


Thursday, 29 January 2015 13:27

Nghe bảo bên Việt Nam sửa lại đoạn đường 100 mét mất hết một năm trời thì tại Hà Lan, máy trải gạch cho đường phố có thể lót gạch đến 400 mét chỉ trong một ngày. Máy trải gạch tự động có tên Tiger Stone của Hà Lan được chế tạo vài năm qua và đã được sử dụng thịnh hành tại nhiều quốc gia Châu Âu, nơi nhiều đường phố vốn được trải gạch đẹp mắt thay vì tráng nhựa đường hay đổ xi măng. Chỉ cần vài ba nhân công, Tiger Stone có thể trải gạch y như trải thảm.


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

Edited by user Wednesday, February 4, 2015 10:06:47 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest (6)
490 Pages«<278279280281282>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.