Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

88 Pages«<85868788>
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#1721 Posted : Tuesday, January 14, 2020 10:46:15 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
UserPostedImage

RÙA ĐỒNG THÁP MƯỜI

Đãi bạn ăn chơi món thịt rùa
Đồng bằng sông Cửu lắm lau thưa
Rùa vàng Đồng Tháp ngon danh tiếng
Rang muối xé phay sánh sao vừa

Muốn ngon lựa bắt cỡ vừa thôi
Ký rưỡi cùng hai đủ thịt rồi
To quá già dai không ngọt thịt
Bé thì ít thịt lắm xương hôi

Muối hột lấy chừng nửa ký nha
Đàn trong nồi đất trải rộng ra
Mang rùa lật ngửa nằm trên muối
Nửa muối còn kia rắc trên rùa

Đậy vung nắp kỹ bếp than hồng
Chờ muối nổ dòn thành bột xong
Gỡ thịt bày bàn cùng bánh tráng
Dưa leo chuối chát với rau răm

Chấm cùng nước mắm dấm chanh đường
Ớt tỏi bằm nhừ nổi dễ thương
Lại có thêm chai " Ông Chống Gậy "
Hay là "nước mắt của Quê hương"

Thịt rùa vừa chín rất ngon mềm
Rau cuốn đậm đà dậy sắc thêm
Lạ miệng món ngon ăn hết xẩy
Đi xa nhớ lại vẫn đâm thèm

Rùa nướng than hồng gỡ thịt ra
Tiêu đường nước mắm bột nêm pha
Củ hành dưa kiệu chanh cùng ớt
Đậu phộng rau răm trộn mặn mà

Nếm nêm vừa miệng múc ra tô
Nước mỡ dầu ăn nhớ rải vô
Giòn béo bánh phồng cùng bổ dưỡng
Suy nhược dùng xong sức hổ vồ

Thịt rắn hay rùa giỏi xé phay
Nhấp thêm ly rượu chút men cay
Ai qua Đồng Tháp không quên được
Rùa hấp , xào lăn, cháo ngọt ngay

KyGan
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1722 Posted : Wednesday, January 15, 2020 7:31:37 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,233

Thanks: 6897 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)

Triều đình Việt Nam bỏ thi chữ Hán năm 1919: Cơ hội để Quốc ngữ ''lên ngôi''?

UserPostedImage
Đăng Cổ Tùng Báo, tờ báo song ngữ Hán - Quốc ngữ, do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút (năm 1907). Trong ảnh, trang bìa chữ Hán và trang Quốc ngữ có bài ''Gái đảm''. Copy d'ecran

Trọng Thành - RFI - 15/01/2020
Năm 2019 vừa qua, trong lĩnh vực văn hóa tại Việt Nam, một hiện tượng đáng chú ý là có nhiều hoạt động xoay quanh dịp kỷ niệm 100 năm kỳ thi chữ Hán cuối cùng. Kỷ niệm 100 năm để trở lại với di sản gần 1.000 năm Nho học (1). Nhưng dịp kỷ niệm này cũng là cơ hội để soi tỏ một giai đoạn tương đối ngắn mới đây, tuy được coi là quyết định đối với sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ, song trên thực tế còn rất ít được nghiên cứu.

Khoa thi năm Kỷ Mùi (1919) là khoa thi Nho học cuối cùng ở Việt Nam. Lý do chấm dứt được vua Khải Định đưa ra trong lời phê tờ trình của bộ Học như sau: ''Trẫm nghĩ rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt'' (sách Khải Định chính yếu sơ tập) .... Quyết định bỏ thi chữ Hán năm 1919 của triều đình Việt Nam có phải là cơ hội để chữ Quốc ngữ lên ngôi?

Khoa cử Nho học chấm dứt nhường chỗ tự nhiên cho sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ, về mặt lô-gic hình thức thông thường, đó là điều dễ chấp nhận. Thế nhưng trên thực tế, sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ diễn ra như thế nào với quyết định đặt dấu chấm hết này đối với khoa cử Nho học?

Đây là chủ đề đã được thảo luận khá rộng rãi trong năm vừa qua tại Việt Nam. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ trên thực tế đã diễn ra từ sớm, trước rất nhiều so với quyết định của vua Khải Định bỏ hoàn toàn thi cử Hán học năm 1919.

1915: Hồi trống báo ''chợ văn-chương'' sắp tàn

Sau đây là nhận định của nhà ngôn ngữ học Hoàng Dũng, Hội Ngôn Ngữ Học thành phố Hồ Chí Minh, với RFI tiếng Việt: ''Tôi hoàn toàn đồng ý là đây là một cơ hội, một cái dịp để cho người ta nhìn lại. Chữ Quốc ngữ như một dòng sông, nó có khởi đầu, và trên dòng chảy của nó chúng ta cắt ra 100 năm để chúng ta kỷ niệm, thì cái đó có những lý do khách quan. (…) Tại sao lại chọn cái đạo dụ của ông Khải Định, một ông vua mà lịch sử đánh giá rất là tệ hại ? Trong lời nói đầu của ông chủ tịch Hội ngôn ngữ học thành phố Hồ Chí Minh, để mở đầu cho hội thảo ngày 21/12 vừa rồi (2), tôi cho nói như vậy là đầy đủ, ông ấy nói thế này: Ta biết rằng chữ Quốc ngữ ở miền Nam sử dụng trước, sau đó lan dần ra cả nước. Và năm 1915, ở miền Bắc đã bãi bỏ thi Hương rồi. Ông Phạm Quỳnh nói đó là ''hồi trống sau cùng đã báo từ nay chợ văn-chương không họp nữa. Ai còn gồng nặng, gánh nhẹ mà quẩy về xoay nghề khác''.

Thực ra nói như thế là đúng, vì phải đến ba năm sau, tức 1918, khi Khải Định ra đạo dụ chính thức bãi bỏ khoa cử Nho học. Và năm 1919, khoa thi Hán học cuối cùng được tổ chức ở miền Trung, thì ''thần Cử-nghiệp'' đến đấy mới chính thức chia tay. Ta biết rằng trên sân khấu có hai nhân vật, một là chữ Nho, hai là chữ Quốc ngữ. Mà nhân vật chữ Nho bị đạo diễn cho đi xuống khỏi sân khấu rồi, thì chữ Quốc ngữ trở nên một mình một ngựa. Nếu không kể tiếng Pháp''.

Hơn một thập niên cải cách

Nhà nghiên cứu Hoàng Dũng đặc biệt chú ý đến giai đoạn cải cách giáo dục, kéo dài hơn một thập niên, nhằm thay thế dần dần nền khoa cử lâu đời bằng nền giáo dục mới, với chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Một chủ đề hiện còn rất ít được nghiên cứu và gần như không được công chúng đông đảo biết đến.

Nhà nghiên cứu Hoàng Dũng: ''Không phải là cái đạo dụ chính thức của Khải Định là một cái gì đó ghi nhận công lao của Khải Định đối với văn hóa Việt Nam. Tại sao nói như vậy ? Vì vua Khải Định chẳng qua là thực hiện một chính sách của người Pháp thời đó. Sau khi người Pháp chủ trương phổ biến chữ Quốc ngữ, thì họ đã có một chương trình cải cách giáo dục trong 10 năm, do ông toàn quyền Antony Klobukowski khởi xướng, rồi đến Albert Sarraut hoàn thành, để xóa bỏ dần nhà trường Hán học, bằng cách là trong các kỳ thi Hán học (thi Hương, thi Hội, thi Đình), họ đã xen cài chữ Quốc ngữ. Rồi cho đến lúc quen dần, thì 10 năm sau họ mới chính thức bãi bỏ bằng đạo dụ của Khải Định. Tôi nói rằng, theo cách nói của người Pháp, đấy là dấu chấm trên chữ i thôi, để kết thúc về mặt kỹ thuật, một tiến trình do chính người Pháp chủ trương, chứ không phải chủ trương của ông Khải Định''.

Cho đến nay, vai trò của những người có công đầu tiên trong việc chế tác chữ Quốc ngữ, như Francisco de Pina hay Alexandre de Rhodes đang ngày càng được công nhận trong xã hội Việt Nam, bất chấp một số phản đối ồn ào mới đây chống lại việc đặt tên đường Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes tại Đà Nẵng. Tri ân công lao của những người đóng góp cho văn hóa Việt Nam, dù là người trong hay ngoài nước, là câu chuyện ngày càng trở nên một lẽ dĩ nhiên.

Tâm lý ức chế

Thế nhưng vấn đề chữ Quốc ngữ trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX dường như vẫn là một câu chuyện ít nhiều vẫn còn được coi là nhạy cảm, có lẽ do bởi gắn liền trực tiếp với giai đoạn thực dân. Và đây có thể là một trong những lý do chính tạo không khí ức chế trong tâm lý của không ít nhà nghiên cứu, giới quan tâm – nguồn gốc sâu xa của việc hầu như rất hiếm công trình nghiên cứu đáng kể nào về sự phát triển của chữ Quốc ngữ giai đoạn bản lề này. Và đây dường như cũng là một lĩnh vực không mấy thu hút các nhà nghiên cứu trẻ.

Tâm lý ức chế khá phổ biến này được nhà nghiên cứu Hồ Hải Thụy (Hà Nội) thuật lại với RFI tiếng Việt. Theo ông, các nhà nho cải cách Việt Nam đầu thế kỷ XX đã ''đành phải chấp nhận'' chữ Quốc ngữ như một chuyện đã rồi, không có cách nào khác, nếu muốn dân tộc đi lên, thì phải chấp nhận nó. Bởi vì chữ Hán tắc đường rồi, và chấp nhận chữ Quốc ngữ thì còn hơn là chấp nhận tiếng Pháp. ''Cái khôn'' của các cụ là ở chỗ ấy, nhưng là cái khôn ngoan trong tình thế bị áp đặt, trong sự đã rồi. Nhà nghiên cứu Hồ Hải Thụy cũng ghi nhận một thực tế là những người đứng đầu nhà nước quân chủ Nho giáo Việt Nam đã không tỉnh táo nghĩ đến việc mở đường cho chữ Quốc ngữ Latinh trở thành chữ viết quốc gia – trong thời kỳ còn kiểm soát toàn bộ hoặc một phần đất nước.

Áp đặt hay dung hòa?

Chữ Quốc ngữ dần dần trở thành chữ viết chính thức ở Việt Nam có phải đơn thuần do người Pháp áp đặt hay không là một chủ đề còn để ngỏ. Nhà nghiên cứu Hoàng Dũng đặc biệt chú ý đến những mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền thực dân Pháp trong việc khuyến khích hay không chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này:

''Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ít người chú ý là thực ra việc phổ biến chữ Quốc ngữ ngay cả người Pháp là một chủ trương không dễ dàng. Họ phải đấu tranh nội bộ. Tôi đưa một dẫn chứng. Etienne Aymonier, một người biết nói tiếng Khmer, biết nói tiếng Việt, rồi ông lấy vợ người Chăm. Ông là tác giả của cuốn sách ngữ pháp tiếng Chăm, từ điển Chăm – Pháp. Về mặt chính quyền, ông đã từng làm đến công sứ Bình Thuận, ông đã từng làm hiệu trưởng đầu tiên của trường Hậu Bổ. Aymonier đã hai lần công khai viết rằng: việc phổ biến chữ Quốc ngữ là nguy hiểm cho người Pháp (3). Cách tốt nhất với người Pháp là biến người Việt trở thành một người Pháp gốc Á, tức là dạy tiếng Pháp cho người Việt. Trong nội bộ họ có những cuộc tranh luận rất là gay gắt. Và cuối cùng như ta đã biết là chủ trương phổ biến chữ Quốc ngữ thắng thế. Ý kiến của Aymonier bị gạt đi. Tôi chỉ nhắc lại một chút về lịch sử như thế để thấy rằng việc phổ biến chữ Quốc ngữ ở những năm này là vấn đề không dễ dàng''.

Từ Hà Nội, nhà nghiên cứu Hồ Hải Thụy cho biết thêm là, trên thực tế, việc thừa nhận chữ Quốc ngữ có thể coi là một ''biện pháp dung hòa'' tốt nhất trong giai đoạn lịch sử này, khi chính quyền thực dân Pháp đã ra nhiều bài học kinh nghiệm từ những nơi khác, trong đó có việc thực dân Anh ở Ấn Độ, tuy thống trị tiểu lục địa này từ lâu, nhưng đã không thể áp đặt được tiếng Anh, đồng hóa được nền văn hóa Ấn Độ. Theo hướng nhìn nhận này, thì giải pháp thừa nhận chữ Quốc ngữ chính là một sự thỏa hiệp giữa quyền lực thống trị thực dân với xã hội bản địa.

Chữ Quốc ngữ là ''hồn trong nước''

Vẫn về bước ngoặt đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đặc biệt lưu ý đến sự thức tỉnh bất ngờ của giới nhà nho cấp tiến. Trong hoàn cảnh đặc biệt này, đã nhận ra trong chữ Quốc ngữ, đến từ trời Tây, một phương tiện gây lại ''hồn nước'':

''Thái độ đối với chữ Quốc ngữ của nhà nho đương nhiên là phân hóa theo nhiều xu hướng. Xu hướng những nhà nho cấp tiến, chủ trương Duy Tân, đã tìm thấy ở chữ Quốc ngữ một phương tiện hết sức là tích cực, hết sức là căn bản, trong việc gây lại cái gọi là ''hồn nước'', diễn đạt cái tinh thần dân tộc, cái bản lĩnh dân tộc, tố chất dân tộc. Họ gửi gắm vào chữ Quốc ngữ rất là nhiều.

Mặc dù, nếu khảo sát kỹ, các nhà nghiên cứu thấy rằng các nỗ lực của các nhà nho người Việt suốt nhiều thế kỷ chế tác các chữ Nôm, và phương pháp làm chữ Nôm cũng rất đáng kể, đến mức có thể ghi được những sáng tác bằng tiếng Việt, mà điển hình là Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán… Ví dụ như vần điệu của các tác phẩm thơ như thế chứng tỏ những nỗ lực cực kỳ lớn của những người đã làm ra bộ chữ Nôm, dựa trên các mẫu tự chữ Hán.

Thế nhưng, các nhà nho ở thời hiện đại, đầu thế kỷ XX trở đi, thì lại nhìn thấy trong chữ Quốc ngữ rõ hơn cái tinh thần độc lập của dân tộc mình. Theo tôi, những nhà nho Duy Tân đó đã gửi vào trong chữ Quốc ngữ một kỳ vọng cực kỳ lớn. Đằng sau nó là những giá trị hết sức quan trọng, mang tính xu hướng, giá trị về tính độc lập. Rất có thể trước đó dùng các chữ mượn các phương cách của chữ Hán, thì đến lúc này người ta nhận ra là những cái bản sắc thể hiện ở đó không thể nào rõ bằng việc viết bằng chữ cái abc''.

Vì sao Quốc ngữ bằng chữ cái Latinh vốn xa lạ, lại có thể trở nên thân thiết với người Việt đến như vậy trong nhãn quan của giới nho sĩ, trí thức Hán – Nôm đầu thế kỷ XX ? Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho biết cảm nhận của ông:

''Theo tôi, người ta nhìn thấy chữ viết Quốc ngữ ghi tiếng Việt ở dạng hoàn thiện của nó, như một cái gì đó cực kỳ gắn bó với tiếng Việt (4). Bởi vì, cũng là abc, nhưng là một dòng chữ, một câu tiếng Pháp chẳng hạn, thì nó khác, dòng chữ Bồ Đào Nha thì nó khác. Nhưng đây là từng từ một của tiếng Việt. Người ta thấy tiếng Việt hiển hiện ra trong đó. Và người ta thấy: À, đây là Việt Nam! Còn cái việc đằng sau các ký tự này là chữ Latinh chẳng hạn, thì đối với họ, điều đó trở nên không quan trọng nữa. Theo tôi, (ý nghĩa gắn bó thiết thân của chữ Quốc ngữ với người Việt) là ở chỗ đó''.

Nhiều câu hỏi để ngỏ

Đối với nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, kỷ niệm một thế kỷ chấm dứt nền khoa cử chữ Hán, tồn tại trong suốt gần 1.000 năm, đã là một cơ hội tốt để soi tỏ giai đoạn bản lề cuối thế kỷ XIX - đầu XX, khi chữ Latinh ghi âm tiếng Việt bằng nhiều ngả đường khác nhau, từng bước khẳng định, vươn lên trở thành chữ viết quốc gia. Sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ, trên thực tế, không gắn nhiều với cái mốc bỏ thi chữ Hán, với kỳ thi Hội – thi Đình cuối cùng tại Huế năm 1919.

Một số nhà nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh, để phục dựng lịch sử chữ Quốc ngữ giai đoạn này, rất cần khai thác những mảng tư liệu lớn trong đó có các loại sách dạy Quốc ngữ, chương trình giảng dạy liên quan đến Quốc ngữ, do các chủ thể khác nhau soạn thảo, từ chính quyền cho đến các tổ chức tư nhân, nội bộ Giáo hội Công Giáo…

Nhiều vấn đề mang tính lý thuyết cần được đào sâu, như quan hệ giữa chữ viết với tiếng nói, sự trưởng thành của chữ Quốc ngữ Latinh có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của bản thân tiếng Việt? Vì sao chữ Quốc ngữ Latinh lại trở nên gần gũi, gắn bó với người Việt hơn chữ Nôm truyền thống? Do dễ học, dễ đọc hay vì một lý do nào khác (4)? Cú pháp tiếng Việt đã phát triển ra sao trong giai đoạn đột biến này, trong bối cảnh tiếp xúc mạnh mẽ với tiếng Pháp (5)?

RFI xin chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu Hoàng Dũng, Hồ Hải Thụy và Lại Nguyên Ân.

Ghi chú :

1 - Tháng 8/2019, Viện Hàn Lâm Khoa Học Việt Nam tổ chức hội thảo quốc tế ''Khoa cử Nho học Việt Nam (1075 - 1919)'' là dịp thảo luận về toàn bộ tiến trình phát triển của khoa cử Nho học tại Việt Nam, các giai đoạn manh nha, phát triển, đỉnh cao, thoái trào, ảnh hưởng sâu rộng của khoa cử Nho học trong văn hóa Việt Nam, trong so sánh với các nền văn hóa sử dụng chữ Hán.

2- Hội Ngôn Ngữ Học SaiGon tổ chức một hội thảo mang tựa đề ''100 năm chữ Quốc ngữ'', cuối tháng 12/2019, quy tụ hơn 30 báo cáo, tham luận.

3 - ''Chính sách giáo dục tại Nam Kỳ cuối thế kỷ 19'', Lại Như Bằng dịch và giới thiệu, NXB Thế giới, 2018.

4 – Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hệ chữ cái abc ghi tiếng Việt, dễ hiểu, dễ học, gắn bó rõ ràng với phát âm của tiếng nói hàng ngày, người bản địa dù ít học cũng có thể dễ dàng sử dụng, trong lúc những con chữ Nôm, để hiểu được thường phải thông qua chữ Hán. Xét trên phương diện phát âm, một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến tính chất phản dân chủ tiềm tàng của chữ Hán. Các nhà nho trên thực tế, ngay từ trước Công Nguyên, đã biết cách phân tách phụ âm, phần vần và thanh điệu (kỹ thuật phiên thiết trong các sách về Vận Thư). Tuy nhiên, kiến thức này đã không được phổ biến rộng, và phát triển theo hướng trở thành công cụ ghi âm vị. Chỉ giới nhà nho mới có thể sử dụng. Sự tồn tại và hưng thịnh của chữ Hán về cơ bản gắn liền với sự độc quyền về văn hóa của tầng lớp nho sĩ. Về các xã hội Đông Á sử dụng chữ Hán, nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam, vì lý do này hay khác, đã cố tình bỏ qua việc xã hội Hàn Quốc (hay Triều Tiên), ngay từ thế kỷ XV, đã chế tác ra được hệ chữ cái phiên âm tiết (Hangul), hệ chữ vốn bị lép vế, hoặc bị cấm đoán trong suốt thời kỳ chữ Hán thống trị, nhưng đã trở thành chữ viết chính thức của người Triều Tiên, người Hàn Quốc hiện nay. Hệ chữ phiên âm Hangul của dân Hàn được giới nghiên cứu đánh giá rất cao trên phương diện ghi âm.

5 – Nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ (1922-1999), cố viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, từng nhấn mạnh đến ý nghĩa của tiếp xúc Pháp – Việt trong sự phát triển của tiếng Việt nói chung và chữ Quốc ngữ nói riêng: ''thời tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Pháp đâu có dài. Nhưng tuy ngắn mà rất quan trọng trong ý nghĩa một đổi mới. Xã hội Việt Nam vốn khép kín đã, với tiếng Pháp, mở rộng dần tầm nhìn ngôn ngữ và văn hoá sang một không gian khác lạ là Pháp và phương Tây. (…) Ảnh hưởng quan trọng của tiếng Pháp đối với tiếng Việt là về hành văn, như có thể thấy rõ trong thơ mới và trong văn xuôi mới, văn xuôi mới nghệ thuật (…) văn xuôi báo chí và văn xuôi khoa học cũng đã tiếp nhận ảnh hưởng của văn xuôi báo chí và văn xuôi khoa học Pháp. (…) Như vậy, tiếng Pháp đã có mặt trong tiếng Việt. Sự có mặt ấy vẫn còn sức sống. Mất đi đâu được! Nó đã được đưa vào trong ý thức của người Việt qua những câu thơ Việt, những câu văn xuôi Việt'' (bài ''Nhìn lại thời tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Pháp'', Tạp chí Ngôn ngữ, số 3/1997).



hongvulannhi  
#1723 Posted : Tuesday, January 21, 2020 6:38:33 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage


CHUC MUNG NAM MOI


Chuc cac ban, doc gia Tham Lang & GD,
Huong Hong An Hanh Phuc, Cat Tuong, Thinh Vuong va Suc Khoe
trong Nam Moi Canh Ty

HONG VU LAN NHI & Team LN

Edited by user Tuesday, January 21, 2020 7:02:38 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1724 Posted : Wednesday, January 29, 2020 7:07:23 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

UserPostedImage

MÂM CỖ NGÀY TẾT MIỀN BẮC

Em như thịt mỡ kho đông
Còn anh tựa đĩa cải ngồng muối chua
Yêu nhau biết nói sao vừa
Vắng nhau ngày Tết cỗ thừa mất ngon

Em như tấm bánh chưng xanh
Thì anh là đĩa dưa hành kế bên
Đôi ta mau mắn nên duyên
Trong hai thiếu một khó bền hương xuân

Công ai buôn bán tảo tần
Nếp ngon hạt đậu trắng ngần vừng rang
Thảo quả tán bột mịn màng
Chè kho thanh nhã nhẹ nhàng trà thơm

Giò lụa ngày Tết luôn luôn
Xuất hiện trong những bữa cơm gia đình
Mang theo ý nghĩa chân tình
Trong êm ngoài ấm phúc tinh đầy nhà

Cũng không thể thiếu món gà
Luộc vừa chín tới màu da mỡ hành
Thịt gà ăn với lá chanh
Lại chấm muối ớt không đành xa nhau

Lại thêm xôi gấc tươi màu
Màu đỏ gắn bó bên nhau trọn đời
Ngày tư ngày Tết đĩa xôi
Lại là xôi gấc tuyệt vời khó quên

Cỗ bàn miền Bắc có nem
Lại là nem rán ai thèm măc ai
Mắm ngon chanh tỏi đây rồi
Xa nhau có nhớ cứ đòi cuốn nem

Cỗ bàn tám dĩa mới nên
Trình bày đẹp mắt có duyên phát tài
Trên đây nhắc nhở cho ai
Làm dâu người Bắc nhớ hoài nhé ai

Peter Lý

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1725 Posted : Tuesday, February 4, 2020 5:13:38 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

UserPostedImage


MÓN ĂN NGÀY TẾT CỦA MIỀN NAM

Miền Nam miền đất rất phì nhiêu
Món ăn đa dạng hẳn là nhiều
Cỗ bàn truyền thống không hề thiếu
Thực phẩm ngon lành lại đáng yêu

Trước hết thịt kho với nước dừa
Trứ danh đến nỗi mọi người ưa
Có nhiều tên gọi tùy phong thổ
Kho tới kho lui mặn đậm vừa

Củ kiệu tôm khô thật sánh đôi
Đường pha với giấm kiệu chua rồi
Gắp phơi ra đĩa tôm trên trốc
Đường cát thêm vào nhậu chết thôi

Bánh tét miền nam rất khác thường
Có nhiều chế biến tạo thân thương
Làm nhân có thật nhiều phiên bản
Trứng muối, đậu xanh, chuối, mật đường

Ngày Tết nhớ nồi canh khổ qua
Khổ qua nhồi thịt ước mong là
Khó khăn ngày cũ sẽ qua hết
Mừng Tết yên vui đến mọi nhà

Dưa giá giản đơn có vị giòn
Ăn kèm thịt cá rất thơm ngon
Thêm vài cộng hẹ hay cà rốt
Tính mát thơm tho bổ khỏe hơn

Món ăn ngày Tết có trên mâm
Lạp xưởng khô tươi cá nạc cần
Có thể đem chiên hay bỏ nướng
Tùy theo sở thích của người thân

Dễ thương lắm lắm gái miền nam
Áo sẻ bà ba chịu khó làm
Cắt lúa nấu cơm không sợ cực
Nghe thương dễ sợ nghĩ mà ham

Peter Lý
February 2/2020
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1726 Posted : Tuesday, February 4, 2020 5:42:56 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
Cách làm thịt kho tàu ngon cơm cho cả nhà.


UserPostedImage

Nguyên liệu:

- 2 kg thịt ba rọi và sườn non

- 24 quả trứng gà và 20 quả trứng cút

- 1 l nước dừa, 1,8 l nước lọc sạch

- 3 củ hành tím, 1 tép tỏi lột vỏ, 1 trái ớt sừng bỏ hạt, 5 g đường vàng

- 130 ml nước mắm ngon

- 120 g đường thốt nốt (có thể thay thế bằng 120 g đường phèn)

- 20 g hạt nêm

- Gừng, hành tây, muối, dấm, rượu nấu, dầu ăn

Món thịt kho tàu thơm lừng, đẹp mắt.Chế biến:

UserPostedImage

- Thịt ba rọi và sườn non rửa sạch cùng với muối và rượu nấu ăn.

- Trứng gà và trứng cút cho vào nồi luộc. Lưu ý thêm vào nồi chút muối và 9 ml dấm, trứng sẽ không bị vỡ và dễ bóc vỏ hơn.

- Hành tím, tỏi, ớt sừng, đường vàng giã nhuyễn.

- Bắc nồi nước to lên bếp, thêm chút muối, dấm, 2 lát gừng, 1/4 củ hành tây đun sôi lên. Đổ thịt và sườn vào trụng sơ cho ra hết bọt bẩn. Sau khi vớt bỏ bọt bẩn xong trút thịt và sườn ra rổ xả qua nước lạnh.

- Rửa sạch từng miếng thịt dưới vòi nước ấm. Làm vậy thịt và mỡ heo sẽ thơm và nước kho thịt sẽ trong, không bị đục, sau đó đổ thịt ra rổ cho ráo nước.

Kho thịt liu riu khoảng 3 tiếng, khi chín thịt sẽ mềm và ngấm gia vị, có màu đẹp mắt.

UserPostedImage

- Dùng một cái thau to, bỏ hết thịt và hỗn hợp hành tím, tỏi, ớt sừng, đường vàng đã giã nhuyễn vào (bạn có thể cho thêm 9 ml rượu nấu vào ướp để tạo độ bóng), trộn đều hỗn hợp. Sau đó bỏ hỗn hợp vào ngăn mát tủ lạnh, ướp qua đêm cho ngấm gia vị.

- Cho một chút dầu ăn vào nồi rồi bắc lên bếp, cho thịt vào xào qua cho thịt săn lại, sau đó cho 1 l nước dừa và 1,8 l nước lọc sạch. Nêm gia vị và cho nốt trứng gà và trứng cút vào nồi.

- Mở lửa lớn cho sôi thật to, vớt sạch bọt. Sau đó vặn lửa nhỏ cho sôi liu riu, trong khoảng 3 tiếng là thịt chín.

Thịt kho tàu ăn kèm với cơm trắng và dưa muối rất hợp.
- Thịt ăn kèm với cơm trắng và dưa muối rất ngon và đưa cơm.

Bon appétit !!!
FB VietHai Tran

Edited by user Tuesday, February 4, 2020 5:45:38 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1727 Posted : Wednesday, February 12, 2020 3:03:37 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
UserPostedImage

HAPPY VALENTINE'S DAY


Hom nay ngay` le Tinh Yeu
Chuc' cac' ban huong moi dieu`khoe, vui
Va`Hanh phuc' nhat tren do*i`
Ben nhau, toc' bac da moi`, van yeu ...

HONG VU LAN NHI
2/14/2020

Edited by user Wednesday, February 12, 2020 3:04:59 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1728 Posted : Monday, February 17, 2020 2:28:29 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
Chuột trong đời sống và khoa học


Nguyễn Quý Đại


UserPostedImage

Mùa xuân lại trở về, theo phong tục từ 23 tháng chạp ông Táo về trời, những chợ hoa bắt đầu bán đủ các loại hoa nở đẹp dưới nắng hoe vàng dễ chịu. Những năm trước người Việt nước ngoài thường về Việt Nam ăn Tết, tìm lại không khí của những ngày xuân đầm ấm xa xưa, nhưng ngày nay những người lớn tuổi không còn muốn về quê, ngược lại những người giàu trong nước thì đi du lịch nước ngoài! Mùa xuân ở Việt Nam thời tiết ấm áp, nhưng Âu Châu mùa đông giá lạnh, các hồ nước đóng băng, ngoài trời tuyết phủ trắng cỏ cây. Ở Đức khó tìm thấy không khí ấm áp của Xuân. Tết đến rồi đi trong lặng lẽ.

Đón Xuân nơi xứ lạ
Cành mai giả màu vàng
Ngoài trời tuyết phủ trắng
Những giấc mơ muộn màng...

Lý Lạc Long

Mỗi năm theo Thập Nhị Đại Can tức: Tý, Sửu, Dần, Mẹo Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. chiếu theo cung Hoàng đạo, chuột là con vật đầu tiên trong 12 con giáp, chuột nhỏ bé nhưng thông minh và lém lỉnh. Năm 2019 theo Thiên can (Giáp, Ât, Bính, Đinh Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) tuổi chuột năm nay thuộc Kỷ tý. Tháng Tý là tháng 11, giờ Tý từ 23 giờ đến 1 sáng.

Đời sống tập tính của dòng họ chuột trong khoa học

Chuột sống gần với loài người gọi là chuột nhà Hausmaus/ Mus musculus. Theo tài liệu thời tiền sử từ 10.000 năm trước công nguyên (CN) chuột ở Ấn Độ từ đó đến các vùng các vùng Trung đông Ai Cập 4000 trước CN, Hy Lạp Tây Ban Nha 1000 trước CN và theo tàu buôn hay theo các cây trôi đến các lục điạ khác như Nam Mỹ, Phi châu và Úc Châu. Bởi vậy có nhiều giống được phân chia nhiều lục điạ:

Östliche Hausmaus/ Mus musculus musculus
Westliche Hausmaus/ Mus musculus domesticus
Asiatische Hausmaus/ Mus musculus bactrianus
Mandschurische Hausmaus/ Mus musculus manchu
Wagner-Hausmaus/ Mus musculus wagneri
(trích nguyên gốc tiếng Đức và Latin)

Trong khoa học chuột được chia nhiều dòng họ để dễ nghiên cứu, trong dân gian người ta gọi các loại chuột như: chuột xạ, chuột lemmut thảo nguyên, chuột nhắt, chuột cống, chuột chù, chuột đồng (hình dạng của chúng khá giống chuột nhắt nhưng thân thể chắc khỏe, đuôi ngắn và có lông, đầu hơi tròn, mắt, tai nhỏ. Có nhiều loài chuột đồng: chuột lang, chuột núi, chuột nước, chuột túi, chuột sao, chuột nhảy, chuột lùn, chuột chũi, chuột tuyết, chuột NaUy (rattus Noruegicuc). Chuột Mông cổ Mongolische/ Merionesunguiculatus có thể sống với nhiệt độ lạnh - 40 độ C nóng 50 độ C. vào mùa đông loài chuột núi chúng lo làm ổ trong hang tích trử thức ăn và ngủ, chuột gục đầu vào giữa hai đùi, cuộn tròn giữ nhiệt và tự điều hòa thân nhiệt trong cơ thể để ngủ, lúc thức chỉ cần ăn ít thức ăn đủ duy trì sự sống.

Giống Rennmaus/Gerbilinae có hàng trăm loại khác nhau ở vùng khô làm tổ trên cây, dòng họ chuột thì rất nhiều loại khác trên thế giới. Theo các thống kê có hàng tỷ con chuột sống trên trái đất nầy.

Chuột thuộc loại động vật có vú, đuôi dài 7-10 cm, mũi nhọn và lỗ tai dựng đứng, mắt không nhìn thấy xa, không phân biệt được màu sắc, bù lại chuột có khả năng cảm nhận mùi vị, thức ăn rất tốt mà không cần ngậm trong miệng, rất thính tai, do đó khi nghe một tiếng động nhỏ, chuột chạy trốn ngay, các răng cửa dài cứng bé nhọn để gặm nhấm, thân dài từ 7 đến 11 cm nặng 20-25 g, lông thường màu xám nâu, tuy nhiên cũng có loại lông trắng gọi là chuột bạch. Đời sống chính của loài chuột vào ban đêm đi tìm thức ăn, ban ngày lẩn trốn ở trong hang hay chỗ kín. Ngoài thiên nhiên chuột sống từng đàn, chuột leo trèo nhanh có thể bò ngược trên trần nhà, trên dây, nhảy vọt, chạy nhanh, bơi lội và có tài đào đất làm hang để ở, hay làm tổ trên cây, trong các bụi rậm, chuột thuộc loại ăn tạp, ăn các loại ngũ cốc, rau cỏ non, côn trùng, cua, cá ... Chuột có tính đa nghi, thường di chuyển trên đường mòn, hay men theo bờ, nghi ngờ chỗ lạ, thức ăn lạ, chuột nếm thử thức ăn trước khi ăn nhiều, chuột cũng khôn ngoan, ngậm vào đuôi nhau để qua sông, chuột ăn cắp trứng gà, phải dùng bốn chân ôm qủa trứng nằm ngửa để con khác ngậm đuôi mình khéo về hang ... Chuột cái có chửa trong vòng 3 tuần đẻ đến 10 con, lúc sinh chuột con chưa mở mắt, điếc, da trần truồng màu hồng, khoảng 10 ngày sau chuột con mọc đủ lông, 15 ngày mở mắt, nhưng còn nằm trong ổ bú sửa mẹ. Từ 21 ngày chuột con rời bỏ mẹ, tự đi tìm thức ăn, sức nặng khoảng 6 gr. Sau 6 - 8 tuần tuổi chuột cái có thể tiếp tục sinh sản. Chuột sinh sản rất mau, chuột luôn gặm nhấm để mài răng, cắn phá làm hư hại mùa màng, mỗi ngày một con chuột cống ăn hết 100gr, nếu 1 triệu con ăn như vậy thì hao tốn hàng chục tấn thực phẩm! Người miền Nam rất sợ loại chuột từ hang Pắc Pó không những ăn tạp mà còn ăn cả đất và thịt người. Theo qui luật tự nhiên về cân bằng sinh thái, nên phải có các loại khác sinh ra để trừ khử bớt chuột đó là: mèo, chim cú, qụa, rắn, diều hâu. Bởi vì những con nầy thường săn chuột làm mồi.

UserPostedImage

Các nhà khoa học cấy giống đổi gen, các giống chuột, loại chuột bạch thường dùng trong phòng thí nghiệm. Nhà khoa học Nhật Bản và Hàn Quốc còn tuyên bố tạo ra thành công động vật có vú đầu tiên mà không cần tinh trùng. Con chuột mới sinh là kết quả "giao phối" của hai con chuột cái. Việc thí nghiệm này là hoàn toàn mới lạ, vì động vật có vú không bao giờ sinh sản đơn tính như các loài ong, kiến và một số loại cá. Chúng phải thừa kế một bộ nhiễm sắc thể từ mẹ và một từ cha để phát triển bình thường. Sự ra đời của con chuột không cha là một kết qủa tốt thành công mới lạ.

Bác sĩ Manuel Serrano dùng kỹ thuật DNA để lai tạo chuột có một bản sao phụ trội các gen kèm chế khối u gọi là Ink4a/ARF. Gen này kiểm sóat việc sản xuất hai protein nhằm ngăn chận phần lớn sự phát triển các tế bào ung thư. Khi chuột này cho tiếp xúc với nhiều lọai carcinogen, chúng phát triển những khối u với tốc độ chậm hơn nhiều so với bình thừơng và sức đề kháng lại ung thư cao.

Các loại chuột nuôi làm kiểng như chuột hamsters, gerbils, chuột nhắt, và chuột lang guinea pigs. Trẻ con phải cẩn thận, chuột truyền vi trùng Streptobacillus moniliformis hay Spirillum minus khi cắn, cào hay vi trùng thấm vào nước trong đồ ăn. Từ 3 tới 10 ngày sau sẽ gây nóng, lạnh, nhức đầu đau nhức mình mẩy. Phân nửa bệnh nhân bị phong thấp nhiễm trùng, viêm màng trong tim (endocarditis), viêm màng ngoài tim (pericarditis), làm mủ, và đôi khi sinh biến chứng vào ruột và phổi. Phân guinea pigs gây bệnh thương hàn (Salmonella), hay truyền những vi trùng khác như Yersinia pseudotuberculosis, Yersinia enterocolitica, hay Trixacarus caviae.

UserPostedImage

Ở thế kỷ thứ 20 trên thế giới từng xảy ra nạn dịch hạch khủng khiếp nhất lịch sử, làm thiệt mạng hơn 20 triệu người từ Âu châu lan sang các nước Á châu và Trung đông. Chuột đã truyền bệnh đến con người hai thứ bệnh: dịch hạch (Bubinic) và phổi có nước (Pneumonia). Loài vi khuẩn Yersinia pestis hình que chiều dài từ 1 μm đến 5 μm. Đây là một loại trực khuẩn Gram âm, thuộc họ Enterobacteriaceae. Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 55°C trong vòng 30 phút, ở 1000°C trong vòng 1 phút và các thuốc sát khuẩn thường dùng.

Chuột truyền bệnh do loại bọ chét Xenopsylla cheopis sống ký sinh trên chuột. Những trung tâm thí nghiệm, các nhà khoa học dùng chuột nhiều hơn thỏ hay cừu, nên hàng triệu con chuột được thí nghiệm tìm ra nhiều kết quả hữu ích cho Y học. Năm 1894 bác sĩ Alexandre Émile Jean Yersin người Pháp gốc Thụy sĩ (sinh năm 1863- †1943 tại Nha Trang) là nhà vi khuẩn học khám phá ra vi khuẩn Yersinia pestis. Yersin cũng là nhà thám hiểm khám phá cao nguyên Lâm Viên và tìm con đường bộ từ miền Trung sang Campuchia và Lào, ông là người thành lập trường Y Đông Dương (sau nầy là Đại học Y khoa Hà Nội) và làm hiệu trưởng đầu tiên của trường nầy. Bệnh dịch hạch xảy ra tại Hồng Kông năm 1894. Yersin là thành viên của "trường phái Pasteur". Ông Shibasaburo Kitasato北里 柴三郎 (1894- †1934), một nhà vi khuẩn học người Nhật học trường đại học Y khoa Tokyo, từng làm việc cùng Dr. Robert Koch ở Đức (1885- †1891), năm 1890 ông cùng Emil von Behring cấy được vi trùng bệnh phong đòn gánh. Ông cũng giúp tìm ra chất kháng độc tố cho bệnh bạch hầu và bệnh than (tiếng Anh: anthrax). Ông cũng tham gia nghiên cứu tìm vi khuẩn gây bệnh dịch hạch. Tuy nhiên chính Yersin là người đã tìm vi khuẩn Yersinia pestis gây ra bệnh. Vi khuẩn này lúc đầu được gọi là Pasteurella pestis, và sau đó được đặt lại tên theo tên của Yersin. Nhờ nhà bác học Yersin chế huyết thanh chữa trị bệnh dịch hạch (1).

Một nhóm nghiên cứu của trường đại học ở Washington, đại học St Louis, sau khi nghiên cứu thấy rằng chuột đực phát các tiếng kêu siêu âm khi ngửi được nước tiểu của chuột cái và cặp chuột đến với nhau để giao phối. Các nhà khoa học từ lâu biết rằng chuột có khả năng phát ra các tiếng siêu âm ở một tần số mà tai con người không thể nghe được, tuy nhiên hai nhà nghiên cứu thuộc trường đại học này Tim Holy và Zhongsheng Guo, chứng minh có thể thâu âm thanh đó để nghe được.

Chuột Gambia dò mìn

UserPostedImage

Nhiều thập niên trước tổ chức phi lợi nhuận Apopo (Antipersoonsmijnen Ontmijnende Productontwikkeling/ Entwicklung von Produkten zur Landminenräumung) của vương quốc Bỉ nhờ các nhà Khoa học với sự trợ giúp của Universität Antwerpen (Hòa Lan) thí nghiệm và huấn luyện chuột Cricetomys gọi là chuột khổng lồ Châu phi Gambia-Riesenhamsterratte (Cricetomys gambianus) Loài chuột này hoạt động về đêm, có thể dài tới 92 cm (cả đuôi) có con to lớn nặng tới 3- 4 kg, tương đương với một con mèo nhà, có con chiếc răng cửa dài gần 3 cm. Chúng có thể sinh sản rất nhanh (khoảng 50 con/năm) và chuột con được 5 tháng tuổi có thể sinh đẻ. Loài chuột này ăn tạp, cả thực và động vật, chúng có thể sống thọ từ 7-8 năm. Khi huấn luyện cho ăn thực phẩm như: mối, ốc, ngũ cốc, đậu phộng, bắp chuối và trái bơ. Tổ chức này đã tạo ra một chương trình nhân giống và trung tâm đào tạo ở Tanzania huấn luyện những chú chuột đi dò mìn, thị lực của chúng rất kém nhưng khứu giác rất nhạy bén. Chúng có có thể ngửi được mùi của thuốc nổ TNT với trọng lượng tối thiểu 29 gram. Giúp các quốc gia trải qua chiến tranh, đầu tiên là Mozambique, Angol, và Kampuchia nhờ loại chuột nầy tìm mìn thời Khmer đỏ bỏ lại, chuột Gambia nhạy bén, làm việc rất trật tự hai con chuột Gambia, trong vòng 1 giờ có thể dò hết một bãi mìn có bán kính rộng tới 200m², rất hiệu quả. Chuột Cricetomys còn được đào tạo để phát hiện bệnh lao TBC/Tuberkulose

Các loại cây và trái mang tên chuột

UserPostedImage

Trong sách thuốc có nhắc đến 2 loại cây thuốc: cây chóc chuột / Typhonium triobatum schott và cây sầu đâu cứt chuột/ Brucea Javanica. Mỗi cây đều có chứa những tính chất dược thảo riêng để trị bệnh... Loại dưa chuột còn gọi là: hoàng qua, thích qua, ngũ qua... Vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt chỉ khát, lợi thủy tiêu thũng, thanh hỏa giải độc, thường được dùng để dưỡng da, làm sáng da và phòng chống vết nhăn. Cách dùng: đơn giản nhất là dùng dưa chuột rửa sạch, giã nát, ép lấy nước, xoa lên da mặt nhiều lần trong ngày, cũng có thể thái thành những lát mỏng rồi dán lên mặt

Chuột trong chuyện cổ tích văn học dân gian

Theo chuyện cổ tích, chuột là con vật linh thiêng ở trên thiên đường, Nhà Trời giao cho nó giữ chià khoá trông coi kho lúa. Nhận nhiệm vụ có chià khoá mở kho rủ nhau vào ăn hết lúa, Trời biết giận quá đuổi chuột xuống hạ giới để trừng phạt vì thói quen lười biếng tiếp tục lén vào kho của nhân gian ăn hết lúa, nên người ta phải than:

Chuột kia xưa ở nơi nào?
Bây giờ ăn lúa nhà tao thế nầy!

Việc trong nhà ông Táo (gồm có 2 ông một bà) chứng kiến và chia xẻ đời sống hàng ngày với gia chủ. Ngày 23 tháng Chạp hàng năm Táo quân thường về Trời để tâu chuyện nhân gian, không quên tâu chuyện Chuột nhà trời xuống hạ giới ăn lúa phá hại đủ thứ, người ta phải làm bẩy chế thuốc diệt chuột cũng không ngăn ngừa hết được sự sinh sản của loài chuột. Xin Thượng Đế bắt chúng nó trở lại.

Thượng đế phán: "không được, chúng vô kỷ luật ta đã đày xuống hạ giới tính nào vẫn tật đó, ta không thể cho nó trở lại Thiên đình thơ mộng nầy. Ta có một cách giúp nhân gian là cho loài mèo xuống hạ giới, để mèo bắt chuột, còn khi nào nó không muốn bắt chuột thì nó kêu "ngau, ngau" chuột cũng sợ bỏ chạy.

Mèo sống thư thả trên thiên đình, nhưng bị Táo quân tâu trình chuyện chuột ở hạ giới, nên mèo phải xuống giúp nhân gian. Đời sống nhân gian bận rộn cực nhọc, mèo ngồi nghĩ lại lấy làm giận Táo quân, nên thỉnh thoảng vào đống tro bếp để phóng uế. Vấn nạn ngày nay ở Việt Nam có nhiều nơi ăn thịt mèo, đánh chén, cũng như ăn các loại rắn. Nếu một ngày nào đó hết mèo, rắn? Thì rất tai hại đối với loài chuột phá hại mùa màng! bởi chuột có tuổi thọ trung bình là hai năm rưỡi

Trong thi ca bình dân thường nhắc đến chuột, tranh đám cưới chuột, các truyện cổ tích hay hấp dẫn như: truyện Trinh thử, Mèo lừa chuột, Con cóc và con chuột.

Chuột kêu chút chít trong rương
Anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay
Chuột kêu chút chít trong vò
Lòng em có muốn thì bò qua đây

Hay

Con mèo trèo lên cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo
Chuột chù chê khỉ rằng hôi,
Khỉ lại trả lời: cả họ mầy thơm
chuột chê xó bếp chẳng ăn
Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre.

Ngày xưa ở Việt Nam chưa cấm đốt pháo vào những dip xuân, thường từ sau ngày 23 tháng chạp đưa ông Táo về trời, chúng ta đã nghe tiếng pháo chuột đì đẹt nổ rang

Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om sòm trên vách bức tranh gà

Hay

Tết về nhớ bánh chưng xanh
Nhớ tràng pháo chuột, nhớ tranh lợn gà

Bàng Bá Lân

Giờ lâu tràng pháo chuột
Đì đẹt nổ tren hè phố

Đoàn Văn Cừ

Đời sống ở thôn quê nơi chưa có điện phải dùng đèn dầu lửa có tim, để cháy sáng ngọn đèn cháy có bông đỏ, ban đêm có những con đơm đớm nếu bay vào nhà, cũng như chuột rúc .. người bình dân cho đó là điềm may

Thứ nhất đơm đớm vào nhà
Thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn

Thế giới Điện toán tạo ra có con chuột để điều khiển Computer, ngoài ra còn nhiều cụm từ nói đến chuột, nhưng ẩn ý khác nhau: chuột sa hủ gạo, lủi như chuột, ướt như chuột lột, len lét như chuột ngày, đầu voi đuôi chuột, cháy nhà bày mặt chuộtt, miệng nhọn như mõm chuột, hôi như chuột chù, chuột gặm chân mèo, tóc đuôi chuột, pháo chuột, đầu voi đôi chuột, nhí nhắt như chuột nhắt, mèo chuột, cháy nhà mới ra mặt chuột, mắt thó ló như mắt chuột, lù đù như chuột chù phải khói, chuột hang Pắc pó, hội đồng chuột...

Từ Hi Thái hậu (Cixi 1835 - †1908 /慈禧太后) (2) với đời sống xa hoa ăn uống cầu kỳ, nên người đầu bếp phải biến chế nhiều thức ăn bổ khoẻ cho Thái hậu như: bắt chuột trắng trên núi Ngự Hằng về nuôi lúc mới đẻ con, họ đem nuôi trong lồng kính cho ăn toàn sâm thượng hảo hạng và uống nước suối, đến khi đẻ ra con thì lấy những con đó nuôi riêng cũng theo cách thức đó để sinh ra một lớp chuột mới, nhưng lớp chuột mới này vẫn chưa dùng được. Cứ nuôi như thế đến đời thứ ba, thế hệ chuột nầy là "thập toàn đại bổ", người ta lấy những con vừa đẻ còn đỏ hồng nên gọi là "chuột bao tử/ pinkie mouse" ăn như thế tức là ăn tất cả cái tinh hoa có tính chất cải lão hoàn đồng, cường dương bổ thận. Dù Thái hậu đã ăn các loại chuột đó, cũng như mỗi ngày đầu bếp nấu 500 nón ăn khác nhau, nhưng bà đã không vượt qua qui luật của tạo hóa.

Ngày nay ở Trung hoa trong giới bình dân tại tỉnh Quảng Đông /Guangdong (廣東省), người ta thường ăn thịt chuột. Mặc dầu cơ quan Phòng Ngừa Dịch tại Shenzhen đã cảnh báo rằng chuột tuyệt đối không thích hợp để ăn, bởi vì chúng mang nhiều thứ vi trùng và ký sinh trùng, mà vẫn thấy bán ở nhà hàng tại Shenzhen. Một thông tín viên của Jinbao ở Shenzhen đã đến chợ Hubei tại Dongmen còn thấy người ta vẫn bán chuột, vì nhiều người thích ăn chúng. Riêng người Việt ở các tỉnh đồng bằng sông Cữu Long, thường ăn các loại chuột đồng/Microtus vì loại chuột nầy chỉ ăn lúa, ốc cua ngoài đồng, mập sạch thịt thơm ngon, khác với chuột ở thành phố vì dơ bẩn ở hang cống nhiểm bệnh, những dân tộc thiểu số cũng đi săn chuột vào ban đêm khi chuột ăn trái cây trên núi. Trung Hoa, Đại Hàn, Việt Nam đều có bán loại rượu ngâm những chuột con còn đỏ hồng. Các loại rượu như vậy không được phép bán ở các quốc gia Tây phương tiến bộ. Chắc chắn chúng ta cũng không thể nào uống các loại rượu đó, sống đâu quen đó uống ly rượu vang đỏ hay ly beer, thưởng thức một chút hương vị rượu tạo xúc tác cho những buổi chuyện trò thêm phần hứng khởi.

Chuột rút (Krampus), hay vọp bẻ, là cảm giác đau gây ra bởi sự co rút, thường là co cơ. Chuột rút có thể xảy ra với những vận động viên thể thao hoạt động với cường độ cao, mất nước và khoáng chất do ra mồ hôi nhiều, Chuột rút chân lúc ngủ đêm là sự co cơ có thể xảy ra ở cơ bắp chân, cơ bàn chân trong lúc ngủ hay nằm nghỉ. Triệu chứng có thể là cẳng chân duỗi đơ với các ngón chân quắp xuống. Chuột rút kiểu này có thể xảy thoáng qua trong vài giây hoặc vài phút và sự đau kéo dài một lúc sau đó. Chuột rút kiểu này hay xảy ra với người lớn tuổi, nhưng cũng có thể xảy ra với bất cứ ai. Có thể lý do là thiếu một số khoáng chất như: Magnesium, thiếu nước hoặc nằm bất động lâu quá. bệnh giãn tĩnh mạch hoặc xơ vữa mạch máu. Theo kinh nghiệm nếu bị chuột rút chân trái đưa tay phải lên, hoặc ngược lai sẽ hết.

UserPostedImage

Về phim hoạt họa của Walt Disney (1901-1966) với hàng trăm nhân vật do ông dựng nên. Trong số đó, có khá nhiều chó, mèo. Riêng chú chuột láu lỉnh Mickey dễ thương này được tạo ra năm 1928 bởi họa sĩ Ub Iwerks và ông Walt Disney lồng tiếng. Hãng phim Walt Disney ấn định ngày sinh của chú chuột này là ngày 18 tháng 11, thời điểm tung ra (năm 1928) bộ phim Steamboat Willie ở New Yorker. Sau sự thành công đó các phim ra đời. Mickey and the Beanstalk-Mickey’s Christmas Carol.Micky, Donald & Goofy im Märchenland. Walt Disney lồng tiếng cho Mickey từ năm 1928 đến 1946, sau đó chuyên gia hiệu ứng âm thanh James G. MacDonald đảm nhiệm vai trò này. Hiện nay, giọng nói của Mickey được thể hiện bởi Wayne Allwine. Disneyland không thể vắng bóng chú chuột dễ thương chào đón quan khách.

Mèo chuột nếu theo nghiã đen của người Việt chúng ta ám chỉ người đàn ông lập gia đình mà có thêm bồ bịch. Nhưng trong phim hoạt hoạ nổi tiếng mèo là Tom chuột là Jerry phim rất hấp dẫn chinh phục khán giả của mọi lứa tuổi. Phim nhiều tập Tom and Jerry do Cty MGM sản xuất tại Hollywood từ năm 1940 đến 1967 được 161 phim hoạt hoạ chiếu trên Tivi cũng như ở Kino được nhận giải Oscar, do hai đạo diễn William Hanna và Joseph Barbera được người ta gọi là "the king of Tom and Jerry". Năm 2000, tạp chí TIME công bố Tom and Jerry là một trong những show truyền hình hay nhất mọi thời đại.

Cuối năm 2007 phim hoạt họa Animationsfilm: Ratatouille/Le Festin/ Ratte mit Geschmack. Tác giả Bard Bird cũng là đạo diễn, người lồng tiếng cho Remy là Patton Oswalt, nhưng chuyển sang tiếng Đức là Axel Malzacher (3). Phim chiếu trong 6 tuần lễ hơn 5 triệu trẻ em và người lớn đến xem. Vai chính là chú chuột Remy có bộ lông màu xanh rất dễ thương trong chuyến phiêu lưu Paris. Remy luôn mơ ước trở thành đầu bếp giỏi và sành điệu các món ăn ngon. Khác với cha và anh của Remy chỉ quan niệm là ăn cho đầy bụng. Remy phân biệt được mùi vị nên biết được thức ăn nào có thuốc độc. Trong một lần Remy tìm kiếm cây rau nghệ tây và một loại nấm quý hiếm cho công thức món ăn đặc biệt, Remy làm phiền người trong bếp nên nhiều lần bị truy đuổi. Từ đó chạy trốn sang Paris. Đến nhà hàng Auguste Gusteau danh tiếng ở kinh thành ánh sáng. Remy làm thân với chàng Linguini phụ bếp rửa chén bát cho nhà hàng, có một lần được sự giúp đỡ của Remy chàng Linguini phải sửa lại món soup chính anh làm hư, món ăn đã trở thành ngon tuyệt vời, hương vị làm cho thực khách yêu thích. Remy giúp Linguini trở thành đầu bếp chính hàng đầu ở Paris. Nhưng Remy vẫn là chú chuột không thể trở thành người đầu bếp danh tiếng, nhưng đã học được những bài học quý giá về tình bạn, về gia đình, không có sự chọn lưạ nào khác hơn là trở về với chính mình.

Những năm Tý các công ty ra đời thành công

Công ty Honda (本田) thành lập ngày 24 tháng 9 năm 1948 (Mậu Tý) là chế tạo xe rất thành công là nhà sản xuất lớn của Nhật Bản với số lượng hơn 14 triệu chiếc mỗi năm.

Công ty Sharp (シャープ株式会) sản xuất điện tử thành lập năm 1912 (Nhâm Tý)

Năm Kỷ Hợi vừa qua xảy ra nhiều chuyện vui buồn trong đời sống. Theo dư luận con heo nái ở quê nhà sinh ra các nữ hoàng Mít, nữ hoàng Dép, nữ hoàng Lon và nữ hoàng Lu. đã làm trò cười ra nước mắt! Sinh các ông bà bộ trưởng, chủ tịch, phó chủ tịch quốc hội CSVN tiếp tục khuấy động dư luận vì những ý kiến "vô tiền khoáng hậu". được lan truyền rộng rải trên Fb những lời bình luận, tôi trích lại những "lời hay ý đẹp của năm heo" để độc giả đọc tìm hiểu thêm sự thật.

Trong bài diễn văn nhậm chức T.T John F. Kennedy ngày 20/01/1961 phát biểu: "Đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho bạn mà hãy hỏi: Bạn có thể làm được gì cho tổ quốc." (Ask not what your country can do for you - ask what you can do for your country). Thì ngày nay bà Chủ tịch áo dài cũng bắt chước phát biểu na ná như vậy với tính cách trịch thượng và kiêu ngạo "... đã làm gì cho đất nước". Bà trả lời dùm với quốc dân tại sao phái đoàn Quốc hội của bà sang Hàn Quốc thì có 9 người trốn ở lại? Bà phó chủ tịch thì phê phán: "...tình yêu ở các nước tiên tiến là tình yêu robot" các bà ấy khoe khoang, khoác lác cũng như Chuột chù lại có xạ hương/.

Bà Bộ trưởng "giết người" vì không kiểm soát thuốc giả, kém "chất lượng" ", đã đề nghị đổi Đại học Y Dược Sài Gòn thành Đại học Sức khỏe, giống như "Chuột chù nếm dấm". Ông Bộ trưởng Thông tin - Truyền thông (TTTT), khẳng định: Việt Nam có thể làm những thứ thế giới chưa từng làm... Lời nói không đi đôi với việc làm giống như "đầu voi, đuôi chuột"

UserPostedImage

Nhìn lại lịch sử Sài Gòn hơn 300 năm bị đổi tên. Sau đó Đại học Văn khoa ngắn gọn, súc tích bị đổi thành Đại học Khoa học xã hội - Nhân văn dài thượt, đọc méo miệng. Bộ Canh nông đổi thành Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn. Bộ Giáo dục đổi thành Bộ Giáo dục - Đào tạo. Bộ trưởng "vô giáo dục" tuyên bố niên học 2019 -2020 dạy người... niên khoá trước năm heo ông dạy heo? Ngày khai giảng ông dự tiệc linh đình, trong khi các trường tiểu học ở vùng xa không có bàn ghế cho học sinh! Các kỳ thi thì thi gian lận nâng điểm! rồi nạn mua bằng, bằng giả, bằng dỏm... mua bằng để làm lớn ngồi mát ăn bát vàng! Hồ Ngọc Đại người sáng chế ra cách dạy trẻ con đọc chữ bằng những ô tròn, vuông, tam giác, ngớ ngẫn qúa nên Thủ tướng phải học đánh vần "Cờ Lờ Mờ Vờ. Ngu sỹ Bùi Hiền muốn thay đổi chữ quốc ngữ vốn có lịch sử từ thế kỷ thứ 17, cả trăm năm đóng góp cho văn học Việt Nam phát triển phong phú. Có phải ông từng học bên Tàu làm tay sai cho giặc muốn phá sự trong sáng của tiếng Việt? ông đổi cách viết tiếng Việt phiên âm thành Tiếq Việt, "em ôm chặc anh" phải viết là "em ôm cặk an"...

Hệ thống giáo dục xuống cấp vì chú trọng "hồng hơn chuyên", còn phải học môn chính trị lỗi thời không thực dụng...Sinh viên tốt nghiệp trình độ thấp kém không có việc làm. Đại học Việt Nam không được xếp thứ hạng với trường đại học thế giới "cháy nhà, ra mặt chuột" nhưng ông bộ trưởng vẫn ù lì không từ chức mà ngậm miệng ăn tiền.

Bộ trưởng Giao thông -Vận tải đổi trạm thu phí BOT thành trạm thu giá. Thế kỷ 21 rồi mà các ý tưởng trên không có gì mới lạ cũng giống như từng đổi bệnh viện Từ Dũ thành xưởng đẻ. Một quốc gia thiếu lãnh đạo tài đức, yêu nước thương dân, không biết trọng dụng nhân tài thì nhiều người cũng chẳng làm nên trò trống gì giống như "chuột bầy làm chẳng nên hang". Sự đổi mới tư duy của các cán bộ CSVN trở thành ngu tưởng, suy nghĩ, việc làm thua con heo. Hy vọng năm Kỷ Tý có nhiều đổi thay tiến bộ hơn, nếu từ bỏ được chế độ thối nát độc tài tham nhũng...Phải trả tự do cho những tù nhân lương tâm.

Năm cũ đủ thứ thiên tai, bão lụt vì phá rừng, thời tiết thay đổi môi trường ô nhiễm. Nhiều người yêu nước biểu tình chống luật đặc khu, chống Tàu bị nhà cầm quyền CS kết án tù nặng nề! trong lúc bọn giặc Tàu muốn chiếm vùng biển Tư Chính /Vanguard bank trong vùng đ(a)̣c quyền kinh tế của Việt Nam! Theo Công ước Luật biển năm 1982, Công luận phản đối thúc giục nhà cầm quyền Việt Nam phải đưa Trung Cộng ra tòa quốc tế giống như Philippines năm 2013 đã kiện và có phán quyết năm 2016 công nhận Philippines đúng theo luật UNCLOC. Nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn im lặng và bưng bít tin tức về sự kiện biển đảo. Ngày 28/9 Bộ trưởng ngoại giao đọc diễn văn tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (UNGA) ở New York đưa vấn đề căng thẳng ở vùng biển Tư Chính do Trung Cộng xâm lấn trái với luật pháp quốc tế, nhưng ông chết nhát tránh né không dám gọi tên Trung cộng là kẻ đang cướp biển đảo của VN! nhà cầm quyền CSVN nhu nhược, hèn nhát thần phục trước kẻ thù, thật đáng buồn cho dân tộc VN.

Việc chống ngoại xâm để giữ nước, là trách nhiệm bổn phận của người Việt Nam, không thể tin tưởng nhờ nước khác lo cho mình. Cộng Đồng Người Việt khắp nơi trên thế giới biểu tình chống giặc Tàu trong những tháng cuối năm 2019 thì trong nước bị đàn áp không thể biểu tình chống Tàu như những năm trước! Nếu tiếp tục để mất biển thì chúng ta có tội với Tiền nhân đã bỏ xương máu để dựng nước và giữ nước. Giới trẻ trong nước tôi mong các bạn: bớt ăn nhậu, bớt ăn chơi, bớt vô cảm và thờ ơ với đất nước. Nên nhìn về tinh thần tuổi trẻ HongKong họ đã làm cho thế giới ngưỡng mộ và đồng hành.

Những ngày cuối năm, người Việt thường lo sửa soạn bàn Thờ để đón Xuân, người Tây phương không có tục lệ thờ cúng, nên không có bàn thờ tổ tiên trong nhà như người Việt. Thế hệ con cháu ở hải ngoại ảnh hưởng đời sống Tây phương, mong trong tương lai vẫn tiếp tục duy trì được cái Tết cổ truyền, gìn giữ được Văn hoá cội nguồn của dân tộc Việt. Nhìn về đời sống Văn hóa, Đạo đức, Tình người trong nước bị băng hoại rất trầm trọng!

Xuân đến rồi đi, mái tóc thêm bạc màu, đời người già nua theo năm tháng. Nhìn lại hơn 44 năm người Việt tỵ nạn sống xa quê hương, chưa hẹn được ngày về, để sống những ngày trên quê hương yêu dấu, thật sự có tự do dân chủ, dân trí phát triển đất nước phú cường.

Nguyễn Quý Đại

1/ Yersin là người đầu tiên chứng minh rằng trực khuẩn hiện diện ở chuột bệnh và người bệnh là một, nhờ đó ông đã giải thích được phương thức truyền bệnh. Cũng trong năm ấy, khám phá này được cộng tác viên Émile Duclaux gửi đến Viện Hàn lâm Khoa học Pháp trong bài báo nhan đề La Peste Bubonique de Hong-Kong (Bệnh dịch hạch ở Hồng Kông).
Từ năm 1895 đến 1897, Yersin nghiên cứu thêm về bệnh dịch hạch. Năm 1895 ông trở lại Viện Pasteur ở Paris và cùng với Émile Roux, Albert Calmette và Armand Borrel đã điều chế ra huyết thanh chống bệnh dịch hạch đầu tiên. Cùng năm đó, ông trở về Đông Dương và lập một phòng thí nghiệm nhỏ tại Nha Trang để sản xuất huyết thanh, (năm 1905 viện này trở thành một chi nhánh của Viện Pasteur). Năm 1896, ông thành lập trại chăn nuôi Suối Dầu, nuôi ngựa để sản xuất huyết thanh.

Phim tài liệu về nhà bác hoc Yersin

https://www.youtube.com/watch?v=L46T5-of1-c

Tài liệu tham khảo

Thành thật cảm ơn và mạn phép các tác giả trích một số tài liệu
Cũng như hình cho bài viết nầy

2/ Die Kaiserinwitwe Cixi

3/ Der Spiegel số 47/ 2007-12-05

The Public Library of Science Biology

Tự điển Y Dược

Tiere Dieser Welt Tác giả Martin Walters & Jinnny Johson

Phim Tom and Jerry

https://bit.ly/2kERoDl

https://www.youtube.com/watch?v=zYwpZ4sndu0

https://www.youtube.com/watch?v=kRs59FauqkI

https://www.youtube.com/watch?v=wy2DgqL1P7s

Hãng Honda ở Mỹ

Năm 1982, Honda là nhà sản xuất ôtô Nhật Bản đầu tiên xây dựng nhà máy sản xuất xe hơi ở Mỹ, bắt đầu với nhà máy sản xuất xe Accord ở Marysville. Đến nay, hãng đã có bốn nhà máy sản xuất xe ở Ohio: 2 ở Marysville (nhà máy tự động Marysville và nhà máy sản xuất xe gắn máy Marysville), Anna, và Đông Liberty. Hãng còn có các nhà máy ở Lincoln, Alabama (Honda Manufacturing of Alabama), và Timmonsville, Nam Carolina, và gần đây (2006) Honda đã mở một nhà máy mới ở Tallapoosa, Georgia. Honda mở rộng thêm sau khi có thị phần ở Marysville, Ohio, và cơ sở nghiên cứu và phát triển ở Raymond, Ohio. Bộ phận quản lý của Honda Bắc Mỹ đặt ở Torrance, California. Honda Canada và các xe Civic bán cho Mỹ có nhà máy sản xuất ở Alliston, Ontario từ năm 1985. Ngày 27 tháng 6 năm 2006, Honda thông báo đang mở thêm mộ cơ sở sản xuất ở Bắc Mỹ, đặt ở Greensburg, Indiana

Honda VietNam

Được thành lập vào năm 1996, công ty Honda Việt Nam là công ty liên doanh giữa 3 đơn vị: Công ty Honda Motor (Nhật Bản), Công ty Asian Honda Motor (Thái Lan), Tổng Công ty Máy Động Lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam với 2 ngành sản phẩm chính: xe gắn máy và xe ô tô. Sau hơn 20 năm có mặt tại Việt Nam, Honda Việt Nam đã không ngừng phát triển và trở thành một trong những đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất xe gắn máy và ô tô uy tín tại thị trường Việt Nam. Theo số liệu công bố của Honda Việt Nam, năm tài chính 2019, tổng dung lượng thị trường xe máy trong nước đạt 3,37 triệu xe, tăng 2,7% so với năm trước. Trong đó, Honda Việt Nam bán ra 2,56 triệu xe, tăng 7,6%, chiếm thị phần 76,8%.

Edited by user Monday, February 17, 2020 2:39:48 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1729 Posted : Monday, February 17, 2020 2:56:31 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

RẮN TRONG ĐỜI SỐNG và KHOA HỌC


Nguyễn Quý Đại


Rắn và con người

UserPostedImage

Từ thời tiền sử loài rắn sinh ra gắn liền với đời sống con người. Theo sách Khải Huyền trong Kinh Thánh thì Adam và Eve là người Nam, Nữ đầu tiên thủy tổ loài người do Chúa trời tạo ra ở Vườn Điạ Đàng và dạy rằng: “Hết mọi cây trong vườn chúng con có quyền ăn, trừ cây biết lành biết dữ ở giữa vườn, nếu ăn vào chúng con sẽ chết.”. là cây Đời Sống (Tree of Life). Con rắn “quỷ quyệt hơn mọi con thú trên cánh đồng.” gian ngoan cám dỗ Eva rằng: “Ăn trái đó không chết đâu, trái lại mắt bà sẽ mở ra và trở nên giống như Chúa.” Eva không cưỡng lại được sự cám dỗ hái rồi đưa cho Adam cùng ăn. Lập tức mắt họ mở ra và thấy mình trần truồng, và họ bị trục xuất khỏi Vườn Điạ Đàng xuống thế gian. Thiên Chúa xót xa khi nhìn con cái mình đi vào con đường tội lỗi và đau khổ, “Thiên Chúa làm cho Adam và Eve những chiếc áo bằng da và mặc cho họ”(St 3,21), và tìm mọi cách ngăn chặn tội ác để giúp con người khỏi khổ đau, câu chuyện Adam và Eve là nền tảng của học thuyết Thiên chúa giáo: “Tội lỗi đến với thế giới qua con người và chết qua tội lỗi, và vì thế cái chết xảy đến với tất cả loài người bởi con người là tội lỗi..“ Chúa cũng trừng phạt con rắn “phải đi bằng bụng, và phải ăn bụi trong suốt những ngày của cuộc đời rắn”. Bởi vậy rắn được coi là tượng trưng cho tội ác và hiểm độc, thù dai, rắn cũng là biểu hiệu cho Satan. Hình tượng con rắn trong dân gian thường tượng trưng cho hạng người xấu, tiểu nhân, giả dối cần phải tránh xa như: „hang hùm nọc rắn“, hay hạng người như „Sư hổ mang“, „khẩu Phật tâm xà“ là lời như của Phật nhưng tâm là của quỷ, hay „đánh rắn phải đập đầu“ vì để sống nó sẽ trả thù .

UserPostedImage

Theo truyền thuyết rắn là sinh vật được nhiều quốc gia trên thế giới sùng kính coi rắn như là thần linh dưới nhiều hình thức khác nhau, là một hình tượng tín ngưỡng vô cùng phức tạp. Nhiều huyền thoại hấp dẫn như rắn sống lâu năm sẽ biến thành nàng tiên đẹp kiều diễm… rắn cho ngọc quý. Một số bộ tộc Phi châu, Úc châu, Á châu …..còn tục thờ cúng rắn họ cho rằng rắn có khả năng thay da, sống trường sinh bất lão. Cổ tích Việt nam cũng nhắc đến sự trường sinh của rắn qua câu chuyện “rắn già rắn lột da sống đời“. (các nhà Sinh vật học nghiên cứu rắn có thể sống tới 50 năm), ở Việt Nam ngày nay nhiều nơi còn mê tín dị đoan thờ lạy rắn. Người Ai Cập thời xa xưa cho rằng rắn là thần hộ mạng tượng trưng cho sự khôn ngoan, thiêng liêng cho nguồn năng lượng và sự sáng tạo, sự tái sinh, bất tử, vĩnh cửu cho các vì vua chúa. Còn lại dấu tích hàng nghìn năm về trước, trên các vương miện của các vua Ai Cập đều có chạm hình rắn bằng vàng hay bằng ngọc còn lưu giữ trong các viện bảo tàng (cấm chụp hình).Trong chuyến du lịch Ai cập cuối năm 2012 tôi chụp hình trên bức tường cao của đền thờ ở kim tự tháp bậc thang Djoser xây dựng từ năm 2650 trước công nguyên, còn những con Cobra, cũng như đền thờ thần Horus ở Edfu trên cổng có hình hai con rắn.

Chùa ở Campuchia có hình là một con rắn chín đầu gọi là thần rắn Naga. Nhìn chung theo các tài liệu thì rắn làm ảnh hưởng đời sống văn hóa của nhân loại bằng nhiều hình thức và sự biểu hiện khác nhau. Nó mang những ý nghĩa biểu tượng nhất định cho văn hóa, tín ngưỡng, tập tục, lối sống theo bản sắc của một dân tộc.

Đời sống rắn trong thiên nhiên

Theo tác phẩm Tiere und Lebensräume hiện nay trên thế giới có hơn 2600 loại rắn. Trải qua quá trình thay đổi của thiên nhiên, một số loài rắn có những đặc tính riêng biệt của mình, rắn có chiều dài ngắn, lớn nhỏ khác nhau nhưng có đặc điểm chung là có thể cuộn tròn. Số đốt xương sống và xương sườn của loài rắn có khoảng 160 tới hơn 400 đốt. Rắn là một loài động vật máu lạnh, bò sát, cùng lớp với thằn lằn, tắc kè nhưng rắn không có chân mà di chuyển bằng cách trườn bò. Loài rắn thuộc chi Caenophidia, số vảy bụng và hàng vảy lưng của nó tương ứng với số đốt xương sống. Một số rắn đặc biệt có khả năng lướt nhanh, hầu hết là thuộc chi Chrysopelea nhờ cấu trúc khớp xương lưng của rắn mềm mại và dẻo dai, di chuyển trên cây rắn có thể “bay” hơn 15 mét để sang cây khác, nhờ cách uốn mình trong không khí, rắn có những loại có nọc độc, và không có nọc độc.

Những con rắn độc sử dụng nước bọt, nọc độc tiết qua những chiếc răng, nọc độc từ miệng rắn có thể làm tê liệt và giết chết con mồi. Nọc độc là độc tố tác hại qua đường máu đến thần kinh. Có đến 450 loài rắn độc trên thế giới, trong đó có 250 loài có nọc độc giết người. Toàn thân rắn được bao bọc lớp da có vảy cứng không tăng trưởng tương ứng theo sự trưởng thành của thân thể rắn, bởi vậy mỗi năm rắn phải lột da để lớn theo chu kỳ và loại bỏ ký sinh trùng. Phần nhỏ ở cuối đuôi rắn không thể thay đổi nên khi rắn lớn lên làm thắt chặt, thì rắn tự cắt đứt đường máu đưa tới khúc đuôi và từ từ nó sẽ rụng đi. Da rắn có vảy như cái chân để trườn bò khi di chuyển, thân dài và nhỏ của nó uốn thành hình chữ S. Khi bò các vảy trườn theo lồi ra và rắn dùng đầu nhọn của các chiếc vảy để trèo lên những đám cỏ hoặc mô đất gồ ghề.

Thông thường rắn ăn thịt những loài chuột, ếch, nhái, chim… nhưng rắn lục chỉ ăn sâu bọ, loài rắn hổ Kobra thường ăn đồng loại. Xương hàm dưới của rắn rất linh động, hai hàm của nó không gắn liền cố định mà được nối thẳng vào sọ, cho phép chúng mở rộng miệng để nuốt trọn con mồi dù cho con mồi có lớn hơn nhiều so với đường kính thân rắn, nhờ có hệ xương hàm nhiều khớp và dây chằng đàn hồi nên rắn có thể há miệng rất to. Rắn nuốt sống con mồi nén xương sống lại giống như chiếc đàn xếp để con mồi trôi xuống. Mi mắt rắn trong suốt và thường xuyên đóng kín, được gọi là vảy mắt.

Loài rắn không có vành ngoài tai, cho nên thính giác của chúng tương đối kém. vì mắt của chúng sinh ra ở hai bên đầu, nên nhìn cũng bị hạn chế, thính giác và thị giác có khuyết điểm thì khứu giác của chúng trở thành cơ quan cảm giác quan trọng nhất. Khứu giác của loài rắn do khu cảm giác ở phần dưới miệng và khoang mũi họp thành. Khi bò rắn dùng cái lưỡi có chẻ nhánh của mình thò ra thụt vào để kiếm mồi. Ngoài ra có một số loài rắn còn phát triển một số cơ quan cảm giác đặc biệt, chẳng hạn như có nhiều loài rắn có những lỗ nhỏ nằm giữa mắt và lỗ mũi, những lỗ nhỏ ấy rất nhạy cảm. Đó là cơ quan cảm nhiệt của rắn. Trong những lỗ nhỏ ấy có một lớp màng mỏng nối liền với thần kinh ở bộ óc rất nhạy với nhiệt độ phát ra từ các loài động vật có máu nóng. Dù rắn mù mắt hay chúng đang ở trong bóng tối nó cũng có thể phát hiện ra những con mồi ở cách xa khoảng nửa mét. Những cơ quan cảm giác nhạy cảm này đối với loài rắn là điều kiện quan trọng để sinh tồn. Ngoài tác dụng dùng để săn mồi và tránh kẻ thù, là phương tiện con đực tìm con cái giao phối. Rắn không thể điều chỉnh sinh lý như các loài động vật máu nóng như loài có vú và chim, dù nhiệt độ bên ngoài thay đổi rắn vẫn giữ nhiệt độ trong cơ thể. Những vùng khí hậu lạnh như Châu Âu loài rắn phải ngủ trong hang suốt mùa đông như con gấu, khí hậu miền nhiệt đới thích hợp cho các loài rắn sinh sống, ở Việt Nam có đầy đủ các loại: rắn lục đầu đen, rắn lục đầu đỏ, rắn lục, rắn cạp nia, rắn cạp nong, rắn đòn cân, rắn độc, rắn gió, rắn giun, rắn khô mộc, rắn lai, rắn lục, hoa cải, rắn lục núi, rắn lục sừng, rắn lửa, rắn mai gầm, rắn nước, rắn sọc đốm đỏ, rắn sọc khoanh, rắn vú nàng, rắn xe điếu rắn đẹn bụng vàng, rắn đẹn cơm, rắn đẹn đuôi gai, rắn đẹn khoanh, rắn đẹn mỏ, rắn đẹn mõm, rắn đẹn vết, rắn đẹn sọc dưa, rắn hổ lửa, rắn hổ mang, rắn hổ mang chúa, rắn hổ trâu …Ngoài ra người ta còn thấy rắn ở trong rừng rậm vùng cao nguyên trên đầu có mào, có sừng. (hình các loài rắn trông ghê sợ tôi không lấy vào bài).

UserPostedImage

Rắn có đủ các màu sắc, sinh sống ở hầu hết các môi trường trong thiên nhiên. Từ trên núi cao đến sông sâu biển rộng, từ sa mạc nóng cháy đến rừng rậm, trên cây hay dưới đất, dù không có chân nhưng bò rất nhanh mà không gây ra tiếng động. Rắn có thể di chuyển nhiều tư thế bò ngang, thẳng, nửa dưới đất nửa thẳng đứng… Phần lớn rắn đẻ trứng và rời bỏ trứng của chúng sau khi đẻ; tuy nhiên một số loài giữ trứng trong cơ thể đến khi trứng nở. Gần đây khoa học xác định được một số loài rắn đẻ con là một điều khác thường trong giới bò sát. Mỗi năm rắn hổ mang chỉ giao hợp một lần với thời gian từ 20-34 giờ, từ tháng 4 hay tháng 5 và đẻ trứng tháng 6 và tháng 7 mỗi con đẻ 6-7 trứng, riêng rắn chúa đẻ 20-30 trứng, thời gian nở con từ 50-57 ngày, rắn mới nở có thể cắn chết người.

Các loài rắn lớn trong họ Boidae là trăn gồm có: trăn cộc, trăn đất, trăn gấm, trăn gió v.v. loài trăn săn các động vật máu nóng bằng cách cắn, ngậm con mồi và dùng thân mình quấn con mồi cho đến chết rồi nuốt vào từ từ. Răng trăn cong vào trong nhưng nhờ cấu tạo của xương hàm mở rộng nên có thể nuốt được những con mồi lớn. Trăn có hai phân họ lớn: Boinae và Erycinae. Các loài trăn lớn (mãng xà) thuộc họ Pythonidae. Ban ngày ngủ ban đêm đi kiếm ăn, thích nơi ấm áp để ngủ qua mùa đông. Các mùa khác trăn kiếm ăn và sinh sản. Trăn là loài ưa môi trường nước, do đó di chuyển dưới nước rất nhanh, chậm chạp trên cạn. Là loài bò sát khổng lồ, nên thức ăn là những con thú to lớn như heo rừng, nai, hươu, báo, bò, trâu rừng loại nhỏ chúng cũng quấn chết và nuốt chửng, loài trăn mắt lưới Đông Nam Á, được coi là họ trăn lớn nhất thế giới bò sát, chiều dài 15m, thân to (đường kính) tới 85cm và nặng 447kg. Hiện nay ở Việt Nam trên Thất sơn, rừng U Minh người ta còn phát hiện nhiều loài trăn lớn, thường bị thợ rừng săn bắt. Theo luật của tạo hóa có sinh có diệt, nên rắn cũng bị loại chồn cũng như những con rết lớn ăn thịt, rắn con mới sinh thì bị con chim bìm bịp ăn (phim tài liệu trên Tivi).

Truyền thuyết rắn báo oán

Một hôm cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh cho học trò phát cỏ trong vườn để làm chỗ dạy học. Đến đêm, ông nằm mơ thấy một người đàn bà dẫn bầy con dại tới xin thư thả ít hôm, vì bận con mọn nên chưa kịp dọn nhà. Đến khi học trò của ông phát cỏ, đập chết một bầy rắn con, lúc đó ông mới hiểu ra ý nghĩa giấc mơ…Đêm đó lúc ông đọc sách thì có con rắn bò trên xà nhà nhỏ một giọt máu thấm vào chữ “tộc-họ” qua ba lớp giấy, ứng với việc gia tộc ông sẽ bị hại đến ba họ. Ngày sau con rắn mẹ hóa ra bà Nguyễn Thị Lộ để làm hại ba đời nhà ông. Đến đời Nguyễn, trong Lịch triều hiến chương loại chí lại có thêm chi tiết: Con rắn thành tinh ngầm mang thù oán, mới đầu thai thành Thị Lộ.

Rắn trong thi ca.

Mỗi lần xuân về chúng ta nhớ lại chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu 1789 vua Quang Trung đánh bại quân Thanh, bởi vì vua Lê Chiêu Thống vị vua thứ 16 và cuối cùng của nhà Lê Trung Hưng, (trị vì 1786-1789). Lê Chiêu Thống sang cầu viện nhà Thanh đem quân sang giúp với hy vọng trở lại ngai vàng. Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22. 12. 1788). Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Vì lý do vua Lê đã bỏ nước và rước giặc về, để có danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung. Chỉ 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn thần tốc đánh bại quân Thanh ở trận Ngọc Hồi Đống Đa. Mồng 5 Tết quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị dẫn tàn quân bỏ chạy cùng Lê Chiêu Thống sang Tàu. Việc rước quân Thanh vào Đại Việt[1] của Lê Chiêu Thống bị lịch sử kết tội bán nước là „cõng rắn cắn gà nhà“. CSVN ngày nay cuối đầu dâng biển đảo cho Trung cộng, người dân yêu nước biểu tình chống Tàu chiếm biển đảo của Việt Nam thì bị đảng CS ra lệnh đàn áp, đánh đập kết án tù vô lương tâm. Nên bị người Việt trong và ngoài nước nguyền rủa là „hèn với giặc ác với dân“ hay cùng hành động „cõng rắn cắn gà nhà“ cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện viết về con rắn Cộng sản.

Con rắn đỏ vô cùng hung hiểm
Nó sinh ra lớn lên nhờ súc siểm
Nhả nọc hận thù, phờ phỉnh công phu
Khéo léo đầu cơ lòng ái quốc đui mù

Lạy lục Tàu Nga không hề điếm nhục
Đủ hơi sức nó hiện hình phản phúc
Ngóc đầu, phì rít bất nhân
Cắn cổ lê dân, quăng quật mộ phàn

Phá đạo, phá đời uống khô sông núi.

Thi hào Nguyễn Du diễn tả tâm trạng của nàng Kiều trong cuộc đời lưu lạc, phải đối đầu với bao cảnh đời ngang trái phủ phàng, nguy hiểm như loài hổ, rắn:

Thân ta, ta phải lo âu
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn nầy
Ví chăng chấp cánh cao bay
Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa
Phận bèo bao quản nước sa
Lênh đênh đầu nưã cũng là lênh đênh.

Rắn với ngành Y khoa

UserPostedImage

Hippocrate (470-366 B.C.) là người sáng lập ra nền Y khoa hiện đại được xem là thầy thuốc vĩ đại nhất. Ông cũng soạn thảo “Lời thề Đạo đức Y khoa” hay gọi là “Lời thề Hippocrates”. Lời thề thiêng liêng này được các bác sĩ trang trọng đọc trước khi bắt đầu hành nghề Y. Hippocrates được xem là vị tổ của ngành Y học Tây phương. Ngoài ra còn có biểu tượng của ngành Y khi thì thấy hai con rắn hay một con rắn quấn quanh cây gậy, hay cái chén có con rắn. Theo thần thoại Hy lạp về Hermes và Asklepios[2] có nhiều giải thích khác nhau về rắn, tôi sưu tầm và tóm lược những điểm chính.

a/ Chiếc gậy của Hermes: theo truyền thuyết Apollo trao đổi với Hermes, người anh em khác cha, một chiếc đũa bằng vàng. Hermes sử dụng nó để tách riêng hai con rắn, nhưng những con rắn cuộn lại theo chiều ngược…biểu tượng của thần Hermes tượng trưng bởi cây gậy có nhánh nguyệt quế hoặc cành ô liu. Sau đó, các nhánh được quấn quanh cây gậy để tạo ra hình hai con rắn quấn lại với nhau, nó có hai cánh, tượng trưng cho vận tốc của Hermes sứ giả của các vị thiên thần (những con rắn đại diện cho lửa và nước, đất và cảnh trời), đó là biểu tượng của hòa bình do các thiên sứ mang lại. Một giải thích khác nhấn mạnh đến sự cặp đôi của các con rắn và biểu tượng của khả năng sinh sản. Con rắn quấn quanh cây gậy, tượng trưng cho cây sự sống, có ý nghĩa là sự kiêu ngạo bị chinh phục và khuất phục, nọc độc của nó biến thành thuốc điều trị.

Theo một số tài liệu khác thì phù hiệu „cây gậy và con rắn“ được xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào khoảng thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, là hình cây gậy có hai con rắn bện quanh, trên đầu gậy có một đôi cánh. Theo thuyết này thì kể rằng Hermes là con trai của thần Jupiter và nữ thần Maia, dùng cây gậy thần của mình để ném vào giữa hai con rắn đang cắn nhau “một mất một còn” sau đó chúng thôi cắn và cùng quấn quanh cây gậy thần đó.

b/ Thần thoại về Asklepios: ông ta nhìn thấy một con rắn tiến về phía mình, ông hướng cây gậy của mình về phía nó. Con rắn tự cuộn lại, Asklepios đập cây gậy xuống đất giết chết nó. Con rắn thứ hai đột nhiên xuất hiện ngậm loại dược thảo bỏ vào miệng con rắn đã chết và con rắn này được cứu sống, nhờ vậy ông phát hiện đặc tính của các loại thảo dược đó. Con rắn còn là một biểu tượng của cuộc sống và sinh lực bởi vì nó có đặc tính thay đổi da, có thể lấy lại thời thanh xuân. Con rắn bò sát đất, có nghĩa là nó biết tất cả những bí mật và các đặc tính y dược của các loại thảo mộc, hoặc những bí ẩn sự chết. Asklepios chỉ dấu cho bệnh nhân những liệu pháp sử dụng các loại thảo mộc để trị lành bịnh, giúp vô số người thoát những cơn bịnh hiểm nghèo. Để tỏ lòng biết ơn người đã cứu nhân độ thế thời đế chế La mã các đền thờ được lập nên để vinh danh Asklepios và từ đó cây gậy Asklepios được gắn liền với ngành y.

Việc tôn thờ Asklepios sau đó lan rộng ra khắp nước Hy lạp, đến Châu Á, và Ai Cập, đến cả thần dân trung thành với Alexandre Đại đế. Asklepios là người ngoại quốc đầu tiên được thừa nhận ở La mã. Di tích Asklepios được tìm thấy liên quan đến ngành Y trong cuốn giáo khoa Y khoa của thầy thuốc nổi tiếng người Ả rập Avicenna vào năm 1544, có in hình Asklepios ở trang bìa. Rồi từ đó phù hiệu của Asklepios được sử dụng là biểu tượng của ngành Y ở nhiều nơi, từ Châu Âu (Hiệp hội Y khoa Hoàng gia Anh) sau đó phổ biến đến các quốc gia trên thế giới. Ở Ai cập cổ đại các mẫu rắn được dùng trong các kiểu viết chữ tượng hình. Trung quốc và cả Việt Nam xem rắn là một loại thuốc trị được nhiều chứng bệnh. Nhật cũng tìm thấy vết tích rắn vẽ trong các ngôi mộ cổ v..v.. Cây gậy là biểu tượng của bác sĩ khắp nơi trên thế giới cứu nhân độ thế. Nói chung sự liên quan giữa rắn với ngành Y là gần gũi hơn cả, tinh thần Asklepios trong thực hành Y khoa có thể đáp lại lòng mong mỏi của bệnh nhân, cây gậy tượng trưng cho cây sự sống, tính thận trọng trong ngành Y Dược là sự cống hiến cho nhân loại.

Cái chén của Hygeia

UserPostedImage

Hygiea nữ thần Sức khoẻ (God of Health) cầm cái chén với con rắn cuốn quanh tay, trong vị thế giống như rắn sắp sửa thả lưỡi vào chén. Chữ “hygiene” bắt nguồn từ chữ Hygeia, dần dần biểu tượng chỉ có cái chén và con rắn trở nên quen thuộc và được mang tên là “Chén Hygeia”. Nhiều người coi cái chén của Hygeia và con rắn như biểu tượng sự sống tiêu biểu là chén thuốc nước và con rắn tượng trưng khả năng làm lành bệnh. Chén Hygeia làm biểu tượng cho những nhà chế thuốc ở Italy từ năm 1222. Năm 1922 người Ý dùng nó trong dịp lễ mừng kỷ niệm 700 năm thành lập Đại học Padua, là trường đại học hàng đầu của Ý nổi bật lâu đời ở Châu Âu. Năm 1796 chén Hygeia chính thức sử dụng làm biểu tượng cho ngành Dược. Tại Đức từ năm 1951 Fritz Ruppercht Mathieu phát hoạ phù hiệu cho nhà thuốc Tây chữ A nghiã là „Apotheke là nhà thuốc“ màu đỏ có hình cái chén và con rắn.

Rắn trong ngành Y học Tây phương

Nọc rắn khác biệt rõ rệt từ loài này sang loài kia, nhưng chúng đều có một điểm chung là mỗi loại đều là những hợp chất phức tạp, được tạo thành từ hàng nghìn protein và enzyme khác nhau. Phần lớn các loài rắn độc được chia làm 3 họ: Colubridae, Elapidae hoặc Viperidae, nọc độc phóng ra từ tuyến nước bọt chia làm 3 nhóm chính: cytotoxins, neurotoxins và hemotoxins. Rắn cắn chết người mỗi năm, nhưng nọc độc chết người của nó tiềm tàng khả năng cứu chữa cho các bệnh của con người (dược liệu trị huyết áp phổ biến, dùng để chữa các khối máu nghẽn, nghiên cứu đến những chứng bệnh như động kinh có nhiều hoạt động điện não, chữa trị các cơn đau hoặc giúp người bị nghiện cai thuốc, bệnh Alzheimer, chữa thấp khớp, đau nhức, làm giảm đau cho bệnh ung thư…) nọc độc của loài rắn chứa một loại protein làm giảm đau mạnh tương đương như morphine. Rắn Mamba đen là một trong những loài rắn nguy hiểm nhất trên thế giới, sống ở Phi châu thuộc phiá Nam sa mạc Sahara dài 2,5 m đến 4,5 m, bò nhanh 24 km/h. Mỗi lần cắn phun ra 400 mg nọc độc. Chỉ cần 15-20 mg đủ làm con người chết trong một thời gian rất ngắn.

Các nhà nghiên cứu Pháp trình bày trên tạp chí Anh, “Natur/Thiên nhiên“ thí nghiệm thành công nọc độc rắn Mamba đen (Schwazen Manba/ Dendroaspis polylepis polylepis) làm giảm đau như Morphine không bị phản ứng, “Khi tiến hành thí nghiệm trên loài chuột, nọc độc cho thấy khả năng giảm đau mạnh tương đương với morphine nhưng lại không gây ra nhiều tác dụng phụ”. Cách lấy nọc rắn dùng ngón tay cái và ngón trỏ bóp nhẹ vào mang tai rắn kích thích tuyến nọc độc nằm dưới da của mỗi bên mang tai, nọc rắn theo rãnh của răng chảy ra dụng cụ lấy nọc, nọc là chất lỏng không màu trong suốt, qua tiến trình làm khô giữ được tác dụng như nọc rắn tươi là nguồn cung cấp thuốc quan trọng để bào chế thuốc… lấy nọc rắn vào mùa hè, mỗi tháng một lần một con lấy được trung bình 0,25 ml, nhưng còn tùy thuộc vào những loại rắn lớn thì nhiều hơn.

Rắn trong ngành Đông Y

Việt Nam có các trại nuôi rắn được phát triển, nổi tiếng như trại rắn Vĩnh Sơn (Phú Thọ), trại rắn Đồng tâm (Tiền Giang). Một số loài rắn thường dùng làm thuốc: Rắn hổ mang là chúa tể của loài rắn. Rắn hổ mang còn có tên gọi là hổ lửa, hổ phì, tên khoa học là Naja Naja, thuộc họ rắn hổ (Elapidae). Rắn cạp nong (rắn mai gầm) (Bungarus fasciatus Schneider) Rắn cạp nia (rắn mai gầm bạc) (Bungarus candidus L. Rắn ráo (Ptyas mucosus), họ Rắn nước (Colubridae). Các loài rắn biển (đẻn đai xanh, đẻn đốm, đẻn khoang,…) thuộc chi Hydrophis, họ Rắn biển (Hydrophiae).

Thịt rắn (bỏ nội tạng): chứa protein, acid amin. Thường dùng dưới dạng rượu thuốc gồm 1 bộ 3 con gọi là tam xà (1 hổ mang, 1 cạp nong, 1 rắn ráo), hoặc bộ 5 con gọi là ngũ xà (1 hổ mang, 1 cạp nong, 1 cạp nia, 2 rắn ráo). hay làm thành thuốc viên chữa đau nhức khớp xương, tê bại, nhọt độc.

Nọc rắn: rất độc do có các enzym và protein độc. Thường dùng dưới dạng thuốc tiêm, thuốc mỡ chữa tê thấp, giảm đau cho bệnh nhân ung thư, hạn chế phát triển khối u.

Mật rắn: chứa các loại acid mật, chữa thấp khớp, đau lưng, sốt kinh giảm ở trẻ em, ho, hen suyễn, sát khuẩn vết thương. Dùng dưới dạng rượu thuốc hay sirô.

Xác rắn: chữa động kinh, co giật ở trẻ em, đau cổ họng, ghẻ lở. Dùng 6-12g một ngày, dạng thuốc sắc hay sao vàng tán bột uống, ngâm cồn bôi ngoài.

Rượu rắn có công dụng trị các chứng tê liệt, đau nhức, phong thấp, bồi bổ sức khoẻ, ăn uống chậm tiêu. Rượu rắn Phụng Hiệp là thổ sản địa phương, Họ làm theo ba cách như ngâm rắn tươi, rắn khô và bột rắn, phải là rắn sống mổ bụng từ ức tới hậu môn, bỏ hết chỉ giữ lại mỡ và mật vì đây là hai vị thuốc.. Nhiều nơi không ngâm rượu nguyên con rắn thì nấu cao rắn… theo „tập đòan Tuệ Linh“ quảng cáo.

Tại Việt Nam người ta đồn và quảng cáo: sừng tê giác, ngà voi, tay và mật gấu, rượu rắn, hổ cốt …đều là “thần dược“ chữa được bá bệnh, cường dương bổ thận “ông uống bà khen“. Phải cẩn thận đừng vội tin, quảng cáo làm tiền không trách nhiệm. “khỏe đâu không thấy, chỉ thấy rước họa mà thôi” tốn kém tiền bạc. Bởi vì các nhà khoa học Tây phương chưa chứng minh được kết qủa các loại „thần dược„ của người Việt Nam. Theo Tây y bệnh nhân chữa trị theo phương pháp khoa học, Bác sĩ định bệnh cho uống thuốc chữa hết bệnh, còn theo ngành Đông y dùng thuốc Bắc chỉ có tác dụng điều trị hỗ trợ. Có trường hợp từng xảy ra, người ở Đức về Việt Nam mua rượu rắn uống phải giã từ cuộc chơi. Bác sĩ khám nghiệm tử thi cho biết là ngộ độc. Người Tây phương họ không ăn uống như ở Việt Nam, nhưng người nào cũng khoẻ mạnh tuổi thọ thường trên 80. Nếu bị đau nhức cơ thể, tứ chi nên tập thể dục, đi Fitness sẽ khỏe, không có rượu nào chữa trị hết bệnh.

Sau năm 1975 thì đời sống tại quê nhà có thể ảnh hưởng Tàu nên về vấn đề ăn uống „hỗn tạp“ hơn, phần lớn quan trọng ăn uống chỉ để cường dương bổ thận… Sài Gòn có nhiều quán nhậu, đặc sản thịt rắn, uống máu, nuốt mật sống của rắn. Các loài rắn bị săn bắt để ăn thịt hay ngâm rượu, có nhiều loại sắp bị tuyệt chủng, không còn rắn để bắt chuột, gây thêm nạn chuột sinh sản nhiều phá hoại ngũ cốc …Ấn Độ từ năm 1972 có luật cấm bắt rắn, dù những người bắt rắn huấn luyện múa theo điệu sáo để mua vui, nếu người nào vi phạm bị phạt tù.

Năm 2013 là năm Quý Tỵ ngày 10.2.2013 cầm tinh con rắn hy vọng đời sống của rắn phải được bảo vệ vì loài rắn phục vụ cho khoa học, điều chế thuốc từ nọc rắn để chữa bệnh, giúp con người có thể kéo dài tuổi thọ.

Nguyễn Quý Đại

www.hoamunich.wordpress.com

Tài liệu tham khảo

Tiere und Lebensräume (Bertelsmann Lexikon Institut)

National Geographic Deutschland

Trang Wikipedia, hình nguồn trên Internet và của tác giả

Tuần báo Stern số 42/2012

[1] Đại Việt (大越) là quốc hiệu của nước Việt Nam tồn tại từ năm 1054 đến năm 1804. Vua Gia Long đổi tên nước thành Việt Nam, quốc hiệu Đại Việt chấm dứt hoàn toàn.

Edited by user Monday, February 17, 2020 3:10:38 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1730 Posted : Tuesday, February 18, 2020 11:06:59 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
UserPostedImage


Tự làm chao bằng đậu hũ nước muối, dầu và ớt.


Vật liệu làm chao

1. Đậu hũ trắng
2.Muối hột
3. Ớt bột
4.Rượu
5. Dầu ăn

Cách làm:

1.Bắt nồi nước muối, luộc nguyên miếng đậu hũ, đến khi nước vừa sôi, vớt đậu hũ ra, để cho ráo.

2.Bắt chảo rang muối và ớt bột

3. Đậu hũ cắt từng miếng nhỏ, lăn đ.hũ trong muối, ớt bột.

4. Cho đậu hũ lăn qua muối ớt này vào nồi có khăn vải đậy kín, chờ 3 ngày cho lên men.

5.Sau khi đậu hũ lên men cho vào lọ thủy tinh, pha chén nước sôi + rượu nếp hay rượu trái cây cũng được + thêm muối ớt và dầu ăn.

6. Đậy nắp kín chờ 15 ngày. Chao càng để lâu càng thấm ngon.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1731 Posted : Tuesday, February 18, 2020 11:35:49 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

THƯƠNG QUÁ LỤC TỈNH


Hồi đó, Sài Gòn đâu có bự mà dân đông nghẹt nín thở như bây giờ ,dân cứ ra vô qua lợi bán buôn ,rồi xong việc ai về nhà nấy.

Thời Pháp qua Sài Gòn chỉ là nơi công chức làm việc, chiều thành phố buồn hiu vì người tản về các vùng xung quanh hết ráo.

Dân Nam Kỳ sống ở lục tỉnh và Sài Gòn chỉ là nơi tập trung công việc ,bán buôn ,hành chánh

Thời đó là thời của lục tỉnh Nam Kỳ hay lục tỉnh Nam Việt

Ra vô Sài Gòn và về lục tỉnh à ? Đã có xe đò lục tỉnh,có đường lục tỉnh, có cầu tàu lục tỉnh và đường xe lửa duy nhứt của lục tỉnh Sài Gòn – Mỹ Tho.

Đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho đã đưa chưn bao nhiêu những chàng trai, cô gái quê từ lục tỉnh ra vô Sài Gòn, đưa các ông đốc phủ, ông chủ quận, thầy thông, thầy ký ,điền chủ, thầy cai tổng, ông hội đồng thênh thang đi mua sắm, về soái phủ Nam Kỳ mần việc với quan Tây, xong thì về nhà liền.

Nếu hỏi về nơi chôn nhau cắt rún của các “thầy” đó thì ai cũng nói là lục tỉnh quê tui .Lục tỉnh không phải thị thiềng, đô thành, lục tỉnh là xứ quê, xứ ếch nhái, ểnh ương kêu rân trời mỗi khi mưa, xứ đèn ngọn tỏ ngọn lu, xứ ruộng dây cò bay thẳng cánh, xứ đờn ca lao xao những điệu tài tử xốn xang lòng dạ những kẻ tha phương.

Cái câu :’Tui dân lục tỉnh” là một câu tự hào

“Thấy cô nhỏ thó lại có hường nhan
Chưn mày lan con mắt lộ …
Đất Lục Tỉnh này ai ngộ bằng cô”

Chàng trai coi mòi đã mếch cô gái có nét duyên ngồ ngộ đó rồi đó đa, chàng tương tư lén nàng :

“Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng
Đến đây trời khiến đem lòng thương em
Nhớ em tưởng bóng ngày đêm
Nhớ răng em trắng má em đỏ hồng
Nhớ em vắng vẻ cô phòng
Một mình vò võ đêm đông lạnh lùng
Nhớ em lụy nhỏ ròng ròng
Xe duyên chửa đặng đau lòng trời ơi
Chỉ còn đêm nữa mà thôi
Giã từ em ở lại, anh hồi cố hương”

Cô gái thiệt khéo ăn nói,cô đáp lại cũng hết sức lục tỉnh :

“Tới đây:
Em lạ tổng, lạ xã,
Lạ chủ, lạ cả ,rồi em cũng lạ làng
Tứ bề em lạ hết
Mà riêng có một mình chàng em quen!”

Lục tỉnh là đất mở, đất mời, đất này không bao giờ đuổi ai –nhứt là với những người có lòng, biết yêu xứ như yêu chính bản thân mình.

Đất lục tỉnh là đất dân chủ, tự do, biết vị nhơn tâm ,hễ ai theo luật chơi thì cứ ở lại.

"Rồng chầu ngoài Huế
Ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong sao cứ chảy hoài
Thương người xa xứ lạc loài tới đây
Tới đây thì ở lại đây
Khi nào bén rễ xanh cây thì về"

( St )

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1732 Posted : Friday, February 28, 2020 9:19:15 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

HÌNH ẢNH PHẬT QUAN ÂM TRONG THI CA VIỆT NAM


Từ bi là một trong những đặc điểm tiêu biểu của đạo Phật. Trong sự gắn bó với đời sống của dân tộc Việt Nam cũng như với thi ca, một phần tính chất từ bi của đạo Phật đã được hình tượng hóa với hình ảnh Đức Phật Quan Âm, cụ thể hơn là Phật Bà Quan Âm.

Bài viết này, xin giới thiệu hình ảnh Phật Bà Quan Âm trong thi ca Việt Nam.

Chúng ta đều biết, Đức Bồ Tát Quan Thế Âm đã được nói đến trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phổ Môn, đó là một nam nhân; trong khi hình ảnh được thờ phụng nơi chùa chiền Việt Nam, được truyền tụng trong dân gian và thể hiện qua thi ca, lại là một Phật Bà. Về điểm này, Nguyễn Lang viết:

Bồ Tát Quan Thế Âm được mô tả trong phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa là một nam nhân. Sang Tây Tạng, Trung Hoa và Việt Nam, Quan Thế Âm biến thành nữ nhân thân, trong lúc đó Phật tử các nước này vẫn tụng đọc kinh Pháp Hoa mà không thấy có sự mâu thuẫn. Lý do là kinh Pháp Hoa có nói: "Nếu cần hiện ra thân gì mà cứu độ thì Quan Âm hiện ra thân đó, như thân quốc vương, thân tể tướng, thân nhi đồng, thân phụ nữ...". Cho nên bất cứ ở đâu xuất hiện một con người với lòng từ bi rộng lớn, là ở đó người ta cho là Đức Quan Âm hiện thân. Danh từ Quan Thế Âm (Avalokitesvara) có nghĩa là người lắng nghe tiếng kêu của cuộc đời; lắng nghe để tìm tới mà cứu giúp..." (VNPGSLT, Nhà xb VH, H, 1992, tr 99).

Vậy hình ảnh Phật Bà Quan Âm đã thể hiện trong thi ca Việt Nam như thế nào?

- Ca dao Việt Nam có câu:

"Cha già là Phật Thích Ca
Mẹ già như thể Phật Bà Quan Âm
Nhớ ngày xá tội vọng nhân
Lên chùa lễ Phật, đền ơn sinh thành"

- Hình ảnh Phật Bà Quan Âm cũng được tác giả Truyện Phan Trần nhắc đến, qua hình dạng ni cô Diệu Thường-tức Phan Kiều Liên sau khi vào chùa tu - với cái nhìn của Phan Tất Chánh:

"Thẩn thơ trước dãy hành lang
Vin cành biếc, hái hoa vàng, làm thinh
Xa xa phảng phất dạng hình
Đức Quan Âm đã giáng sinh bao giờ..."

(Truyện Phan Trần, câu 389-392, theo bản của sách VNTVHT của Dương Quảng Hàm, bản in 1968, tr.18)

- Trong tác phẩm "Sơ kính tân trang", Phạm Thái (1777-1814) đã hai lần nhắc tới hình ảnh Phật Quan Âm:

"Tu hành nhờ Đức Thế Tôn
Ắt say sưa đạo lại buồn bồng duyên
Lọ là khấn vái tiên thiên
Cậy Quan Âm với Mục Liên xót tình..."

(SKTTr, câu 1141-1142, sđd, tr 135)

- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) qua tác phẩm Lục Vân Tiên, cũng hai lần giới thiệu Phật Bà Quan Âm:

"Quan Âm thường đứng thảo ngay
Bèn đem nàng lại bỏ rày vườn hoa
Dặn rằng nàng hỡi Nguyệt Nga
Tìm nơi nương náo cho qua tháng ngày
Đôi ba năm nữa gần đây
Vợ chồng sao cũng sum vầy một nơi..."

(Truyện Lục Vân Tiên, câu 1523-1528, theo bản trong sách NĐC toàn tập, T1, Nhà xb ĐH và THCN, H 1980, tr.153).

Đó là đoạn nói Kiều Nguyệt Nga, trên đường đi cống Hồ đã nhảy biển trầm mình cho tròn tiết nghĩa với người bạn tình cũ, được sóng thần đẩy vào nơi bãi và được Phật Bà Quan Âm xót thương đem nàng đến nơi chốn cao ráo, sạch sẽ...Sau này khi bỏ trốn khỏi nhà cha con Bùi Kiệm, Nguyệt Nga trong cảnh đêm tối tăm mờ mịt, đã gặp được bà lão cưu mang, thì chính bà lão ấy cũng đã được Phật Quan Âm mách bảo trước:

"Người ngay trời Phật cũng vưng
Lão bà chống gậy trong rừng bước ra
Hỏi rằng nàng phải Nguyệt Nga
Khá tua gắng gượng về nhà cùng ta
Khi khuya nằm thấy Phật Bà
Người đà mách bảo nên già đến đây..."

(Truyện LVT, câu 1651-1656, sđd, tr 159).

-Nếu ngược về với không khí Thiền học đời Trần (1225 - 1400), chúng ta cũng sẽ gặp hình ảnh Đức Phật Quan Âm.

Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230- 1291), trong bài thơ "Lui về (Thối cư), đã viết:

"Thẹn bao mình đục sinh thời đục
Nhờ chút lòng yên gặp nước yên
Đêm mộng Quan Âm vào cỏ nội
Sông thu trong vắt dáng sương huyền".

(Trúc Thiên dịch, Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, ĐH Vạn Hạnh xb, S, 1969, tr 167).

Đối với vua Trần Nhân Tông, tức Trúc Lâm đệ nhất Tổ (1258-1308), hình ảnh Phật Quan Âm còn có thể tạo nên sức khơi gợi lớn giúp kẻ tu hành đạt đạo. Trong buổi tham vấn Thiền học tại chùa Sùng Nghiêm, một vị Tăng hỏi: "Bậc tu hành lớn còn có thể rơi vào vòng tròn nhân quả nữa chăng?"

Điều Ngự đã đáp bằng bốn câu kệ:

"Miệng tợ huyết hồng phun Phật, Tổ
Răng như gươm bén đốn thiền lâm
Sáng kia chết xuống A Tỳ ngục
Vội niệm Nam mô Quan Thế Âm".

(Dẫn theo Nguyễn Lang, VNPGSL, t1, Nhà xb Lá Bối, S, 1974, tr 321)

- Chùa Diên Hựu còn gọi là Liên Hoa đài hay Nhất Trụ tự (chùa Một Cột) được xây dựng vào năm 1049 đời vua Lý Thái Tông (1028-1054) với hình ảnh một đóa hoa sen mọc từ dưới nước lên. Cuối thế kỷ XVIII, danh sĩ Trần Bá Lãm đã có bài thơ, không chỉ là ca ngợi cảnh đẹp mà còn ngợi ca tính chất linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm:

"Xóm hoa trong thành, chùa trong xóm
Danh là Diên Hựu, Lý triều xây
Trong cung hòa hợp mộng hoàn tử
Bồ Tát Quan Âm mới linh thay"

(Nguyễn Đăng Thục dịch, Phật giáo Việt Nam, Nhà xb Mặt Đất, S, 1974, tr 79)

Tính chất linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm còn gắn liền với những sinh hoạt bình thường của người dân Việt Nam và cũng được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhà thơ của chùa Hương, nhắc đến:

"...Mẹ bảo đường còn lâu
Cứ vừa đi vừa cầu
Quan Thế Âm Bồ Tát
Là tha hồ đi mau..."

(Bài Chùa Hương, dẫn theo Thi ca VN hiện đại, Khai Trí xb, S, 1968, tr 238).

-Trong văn chương chữ Nôm, hai tác phẩm trường thiên viết về sự hóa thân của Phật Bà Quan Âm được truyền tụng khá sâu rộng trong dân gian Việt Nam là Quan Âm Nam Hải và Quan Âm Thị Kính.

* Quan Âm Nam Hải gồm 1426 câu thơ lục bát, giới thiệu về quá trình dốc chí tu Phật của công chúa Diệu Thiện-được gọi là Bà Chúa Ba-con gái út của vua Trang Vương với nơi chốn tu hành và đắc đạo là chùa Hương Tích:

"Đức Phật mới chỉ đường tu
Rằng có một chùa tại Hương Tích sơn
Gần biển Nam Việt thanh nhàn
Sang tu chốn ấy sẽ toan viên thành ..."

(Dẫn theo Nguyễn Lang, VNPGSL, 72, sđd, tr 102).

* Quan Âm Thị Kính gồm 788 câu thơ lục bát, lời thơ chải chuốt, bác học hơn. Tác giả hẳn là một người am hiểu cả Nho, Phật, viết về cuộc đời Thị Kính với đức tính Nhẫn nhục và Từ bi-hiếu sinh, nhờ đấy mà bà đã đắc đạo. Nhà văn Vũ Khắc Khoan đã có những nhận xét rất xác đáng về nội dung tư tưởng của tác phẩm:

"Tư tưởng Phật giáo lại càng tỏ rõ khi Thị Kính cam chịu tiếng oan, vì lòng từ bi, vì đức hiếu sinh, hy sinh cuộc sống của mình để nuôi đứa bé sơ sinh của Thị Mầu. Nỗi oan mưu sát chồng đã đưa Thị Kính đến con đường giải thoát, nỗi oan quyến rũ Thị Mầu không làm cho nàng nản chí trên con đường giải thoát; nhưng chính lòng từ bi, đức hiếu sinh, chính hành động tích cực nuôi con Thị Mầu mới thực sự đưa nàng lên cõi giải thoát.

Trên hành trình vượt sông mê để cập bến giác, tinh thần Phật giáo đã là một ngọn hải đăng soi sáng bước chân Thị Kính. Để Thị Kính trở thành Tiểu Kính Tâm, để tiểu Kinh Tâm trở thành Đức Phật Quan Âm ". (Lời giới thiệu của sách "Vở chèo Quan Âm Thị Kính, Nhà xb Đào Tấn, S, 1966, tr 14).

Hình ảnh Quan Âm Thị Kính còn bước sang lãnh vực sân khấu chèo, với nhiều kịch bản chèo được lưu hành khá rộng rãi trong dân gian. Bản in "Vở chèo Quan Âm Thị Kính" do Nhà xb Đào Tấn ấn hành năm 1966 do Vũ Khắc Khoan giới thiệu, là bản in được hình thành do sự góp trí nhớ của nhiều nghệ sĩ ngành chèo và một số bạn hữu vốn hâm mộ bộ môn này. Chèo Quan Âm Thị Kính là một trong số ít vở chèo cổ nổi tiếng .

Tóm lại, từ ca dao đến thơ, từ thơ đến Nôm, kịch bản chèo, hình ảnh Đức Phật Quan Âm gắn bó đậm đà với văn học nghệ thuật Việt Nam vậy.

Đào Nguyên
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1733 Posted : Saturday, February 29, 2020 2:08:55 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
UserPostedImage


Cách làm bánh xèo chiên giòn


Bé Dâu Tây
công thức bởi Bé Dâu Tây

Bánh xèo là một món ăn khá quen thuộc với rất nhiều người. Khi ăn có vị béo, mềm của bột bánh xèo kết hợp với trứng, tôm, thịt... rất ngon và lôi cuốn. Cách làm bánh xèo thường được ăn kèm với xà lách chấm nước mắm chua ngọt thì khỏi chê.

Nguyên liệu làm bánh xèo chiên giòn

Phần ăn

- Bột bánh xèo 1 Gói
(1kg)
- Bột chiên giòn 1 Gói
- Thịt ba chỉ 300 Gr
- Trứng vịt 4 Quả
- Nước cốt dừa 1 Lon
- Hành lá 100 Gr
- Xà lách 200 Gr
- Giá đỗ 100 Gr
- Củ cải trắng 100 Gr
- Cà rốt <sup>1</sup>/<sub>2</sub> Củ
- Muối <sup>1</sup>/<sub>2</sub> Muỗng cà phê
- Dầu ăn 1 Chén
- Nước mắm 2 Muỗng canh
- Đường trắng 1 Muỗng canh
- Nước cốt chanh 1 Muỗng canh

Thêm 1 ít: Rau thơm các loại, giấm.

Cách làm bánh xèo chiên giòn

chuẩn bị 15m
Thực hiện 30m

Chuẩn bị

Bước 1

Thịt ba chỉ rửa sạch, cắt miếng nhỏ, mỏng vừa ăn. Hành lá rửa sạch, cắt nhỏ.

Bước 2

Giá đỗ, ớt, xà lách rửa sạch, để ra rổ cho ráo nước. Rau thơm các loại rửa sạch.

Bước 3

Củ cải trắng, cà rốt gọt vỏ, rửa sạch, bào thành sợi. Ngâm củ cải trắng, cà rốt với nước pha 1/2 muỗng cà phê muối, 2 muỗng canh giấm, dùng tay bóp thật chặt để nước trong củ cải và cà rốt ra hết.

Thực hiện

Bước 1

Trứng vịt đập ra chén, để riêng. Sau đó, trộn 1kg bột bánh xèo với 1 lít nước. Tiếp tục cho lần lượt trứng vịt, nước cốt dừa, bột nghệ vào tô bột bánh xèo đã chuẩn bị sẵn, khuấy đều.

Bạn có thể mua bột bánh xèo tại các cửa hàng tạp hóa hoặc siêu thị. Trong gói bột bánh xèo luôn có sẵn gói bột nghệ vàng, cứ chia đều theo tỉ lệ bột bạn muốn làm.

Bánh xèo chiên giòn Bánh xèo chiên giòn Bánh xèo chiên giòn Bánh xèo chiên giòn Bánh xèo chiên giòn

Bước 2

Tiếp theo, cho bột chiên giòn vào cùng, khuấy đều hỗn hợp cho hòa quyện vào nhau rồi cho tiếp hành lá vào như hình bên.

Bước 3

Làm nóng chảo, múc khoảng 2 muỗng canh dầu ăn vào. Cho vài lát thịt, vài con tôm vào xào chín, kho tôm thịt vừa chín tới múc 1.5 muôi canh bột bánh cho vào. Cầm chảo xoay cho bột trải đều khắp mặt chảo. Cho 1 nhúm giá nhỏ vào, đậy nắp, và chờ bột chín.

Bánh xèo chiên giòn Bánh xèo chiên giòn Bánh xèo chiên giòn Bánh xèo chiên giòn Bánh xèo chiên giòn

Bước 4

Khi bánh chín vàng một mặt, dùng xẻng gấp bánh làm đôi, chờ thêm 2-3 phút cho bánh chín hẳn, vớt ra đĩa ngay. Làm lần lượt cho đến khi hết bột.

Bước 5

Pha nước mắm: Hòa tan 2 muỗng canh nước mắm với đường trắng, ớt cắt nhỏ, nước cốt chanh và 2 muỗng canh nước lọc. Thêm củ cải trắng, cà rốt bào sợi vào, khuấy đều.

Bước 6

Cuối cùng chỉ việc cho bánh xèo ra đĩa, ăn kèm rau xà lách, rau thơm các loại và chấm nước mắm chua ngọt. Hãy làm thử món bánh này để gia đình quây quần bên nhau nhé!

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1734 Posted : Sunday, March 1, 2020 9:41:40 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

Áo Dài Trong Thơ và Nhạc


Lê Hữu


"Tâm tư khép, mở đôi tà áo..."
("Tự tình dưới hoa", Đinh Hùng)

Chiều nào áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn ràng nhớ người...

Giọng hát dìu dặt và trầm ấm của Duy Trác cất lên đâu đó trong một chiều cuối thu gợi nhớ hình ảnh và nơi chốn thân quen trước "cổng trường áo tím" những chiều tan học. Áo tím túa ra như đàn bướm, áo tím thướt tha dọc theo những lối đi dưới lá trên lề đường Phan Thanh Giản, trên những đường phố Sài Gòn ngập nắng. Những tà áo nhẹ bay trong gió từ lâu lắm đã đi vào thi ca, đã làm rung động lòng người và là nguồn cảm hứng vô tận của những người làm thơ, viết nhạc. Tà áo nên thơ ấy, dưới đôi mắt ngắm nhìn của người nghệ sĩ, là bức tranh sinh động với nhiều đường nét, nhiều dáng vẻ, thể hiện qua từng lời thơ ý nhạc:

Dưới mắt Phạm Đình Chương là "áo bay mở, khép nghìn tâm sự..." (Mộng Dưới Hoa)
Dưới mắt Vũ Thành là "áo dài bay ngờm ngợp cả khung trời..." (Mùa Kỷ Niệm)
Dưới mắt Hoàng Dương là "áo mầu tung gió chơi vơi..." (Hướng Về Hà Nội)
Dưới mắt Trịnh Công Sơn là "áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều..." (Tình Nhớ)

Những vạt áo dài, từ lâu lắm, đã lất phất trong những trang thơ tiền chiến. Từ "đôi tà áo lụa bay trong nắng…" (Áo Lụa, Bàng Bá Lân) đến:

"Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài...." (Áo Trắng, Huy Cận).

Áo dài cũng len cả vào những câu lục bát trữ tình của Nguyễn Bính:

"Hồn anh như bông cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em" (Bông Cỏ May)

Và len cả vào dòng thơ hào hùng mà lãng mạn của Quang Dũng:

"Em đi áo mỏng buông hờn tủi
dòng lệ thơ ngây có dạt dào" (Đôi Bờ)

Áo dài còn là giấc mơ thanh bình của những làng quê hiền hòa trong tình ca quê hương của Phạm Duy:

"Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong tiếng cười..." (Quê Nghèo)

Kỷ niệm êm đềm về một tà áo, một đôi mắt huyền được Tô Vũ ghi lại bằng nét nhạc lâng lâng:

"Em đến thăm anh, người em gái, tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh..." (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

"Ta ước mơ một chiều thêu nắng..." Nỗi "ước mơ" của chàng nhạc sĩ họ Tô ấy được vẽ lại trong thơ Trần Dạ Từ. Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm:

"Môi cười vết máu chưa se
cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền
Anh nằm nghe bước em lên
ngoài song lá động, trên thềm áo bay" (Khi Nàng Đến)

Áo bay làm nhớ nhung, như nỗi nhớ da diết một mầu áo, một đôi môi thắm trong nhạc Từ Công Phụng:

"Chiều nay nhớ em rồi, và nhớ áo em đẹp trời thơ, môi tràn đầy ước mơ..." (Bây Giờ Tháng Mấy)

Áo bay làm ngơ ngẩn, như chàng Huy Cận thuở mới lớn, trước cổng trường nữ sinh:

"Một hôm trận gió tình yêu lại,
đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư" (Học Sinh)

Áo bay làm thẫn thờ, như chàng thi sĩ đa tình Nguyễn Tất Nhiên, dõi mắt nhìn theo mãi một tà áo vu quy:

"Đò qua sông chuyến đầu ngày,
người qua sông mặc áo dài buông eo" (Chuyến Đò Cửu Long)

"Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong" (1)

Áo trắng trinh nguyên tuổi học trò, áo trắng của "một thời áo trắng", từng làm ngất ngây trái tim bao chàng trai, để đêm đêm trong giấc ngủ chập chờn còn trông thấy "áo ai bay trắng cả giấc mơ". Áo trắng như dòng suối mát trong thơ Huy Cận:

"Dịu dàng áo trắng trong như suối,
tỏa phát đôi hồn cánh mộng bay" (Áo Trắng)

Áo trắng như lụa trắng trong thơ Hoàng Anh Tuấn:

"Áo em lụa trắng sông Hương
qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào" (Về Chân Trời Tím)

Hay trong thơ Kim Tuấn:

"Em về tà áo lụa
bay ngập ngừng trong anh" (Thu ở Xa Người)

Hay trong thơ Nguyên Sa:
[/b]

"Mây cao, gót nhỏ, mây vào gót,
áo lụa trăng mềm bay xuống thơ" (Tám Phố Saigon)

"Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng
thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng" (Áo Lụa Hà Đông)

Áo trắng như gió, như mây, để "nhà thơ của tình yêu" phải bâng khuâng:

"Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi, một phần mây?
Hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay?" (Tương Tư)

Áo trắng của nhà thơ còn là dải sương mù lướt thướt trên bến sông Seine giữa kinh thành hoa lệ Paris, gợi nhớ một vạt áo dài ở chốn xa quê nhà:

"Anh về giữa một dòng sông trắng
là áo sương mù hay áo em" (Paris Có Gì Lạ Không Em?)

Áo trắng của Hoàng Thi Thơ là bướm trắng, là hoa trắng, là mây trắng…

"Ngày nào em đến áo em mầu trinh, áo xinh là xinh, áo em trong trời buồn, là gió, là bướm, là hoa, là mây chiều tà..." (Hình Ảnh Người Em Không Đợi)

Áo trắng một màu trắng thanh khiết trong nhạc Nguyễn Vũ:

"Áo trắng em bay như cánh thiên thần…" (Bài Thánh Ca Buồn)

Áo trắng nhẹ bay trong chiều giáo đường trong nhạc Lê Trọng Nguyễn:

"Tà áo trinh nguyên tung bay, nụ cười thân ái..." (Chiều Bên Giáo Đường)

Áo trắng một màu trắng xóa làm hoa cả mắt nhà thơ Hàn Mặc Tử:

"Áo em trắng quá nhìn không ra" (Đây Thôn Vĩ Dạ)

Áo trắng như đôi cánh trắng trên sân trường kỷ niệm trong thơ Luân Hoán:

"Tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn
trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh" (Trong Sân Trường Bữa Ấy)

Mỗi người đều cần có một mái trường để luyến tiếc, để nhớ về.... Nhớ về ngôi trường cũ là nhớ về những người thầy người bạn, là nhớ về những lớp học những sân chơi và những năm tháng tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ.

"Áo mầu tung gió chơi vơi"

Áo bay như bướm lượn, áo bay như đàn bướm trong khu vườn mùa xuân. Áo bay nhiều quá, để chàng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm... thơ:

"Hôm nay sao áo bay nhiều thế! Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe mầu..." (Tà Áo Cưới)

Áo mầu của Phạm Duy lất phất trong gió chiều như lòng người... phất phơ:

"Xin cho em một chiếc áo mầu, cho em đi nhẹ trong nắng chiều. Một chiều nhiều người theo, ở ngoài đường trên phố, và lòng người như áo phất phơ..." (Tuổi Ngọc)

Nhớ về một mầu áo là nhớ về những đường phố quen tên, nhớ áo ai bay trong chiều trên những con đường ngập xác lá vàng, như nỗi nhớ ngút ngàn của Trịnh Công Sơn:

"Nhớ Sài Gòn những chiều lộng gió, lá hát như mưa suốt con đường đi, có mặt đường vàng hoa như gấm, có không gian mầu áo bay lên..." (Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên)

Những tà áo muôn mầu muôn vẻ vẫn khoe sắc thắm trong những trang thơ và nhạc. Áo vàng trong thơ Nguyên Sa có khi là bông cúc vàng:

"Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc" (Tuổi Mười Ba)

Có khi là nắng thu vàng:

"Có phải mùa xuân sắp sửa về
hay là gió lạnh lúc đêm khuya?
hay là em chọn sai mầu áo
để nắng thu vàng giữa lối đi?" (Tương Tư)

Áo vàng như cánh mai vàng trong nhạc Trần Thiện Thanh. Người lính trẻ thấy sắc hoa rừng, mơ về một sắc áo:

"Những hôm vừa xong phiên gác chiều ven rừng kín hoa mai vàng, chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ..." (Đồn Vắng Chiều Xuân)

Người lính chiến trong nhạc Phạm Đình Chương cũng bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo, một đôi mắt người xưa:

"Ngày hành quân, anh đi về cánh rừng thưa
thấy sắc hoa tươi nên mơ mầu áo năm xưa
Kỷ niệm đầu len len trở về tâm tư
có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ..." (Màu Kỷ Niệm)

Tà áo màu xác pháo để lại nỗi buồn lắng đọng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:

"Người qua sông mặc áo hường
Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều" (Chuyến Đò Cửu Long)

Áo mầu tím, mầu của "định mệnh", của mộng mơ, nhớ nhung và chia cách. Chuyện tình "ngàn thu áo tím" của cô bé trót yêu màu tím, được Hoàng Trọng, "nhạc sĩ của mầu tím", kể lại:

"Ngày xưa xa xôi em rất yêu mầu tím... Chiều xuống áo tím thường thướt tha, bước trên đường thắm hoa, ngắm mây trời lướt xa..."

Rồi khi vừa biết yêu là khi chia tay với mầu tím, chia tay với tình đầu:

"Ngàn thu mưa rơi trên áo em mầu tím,
ngàn thu đau thương vương áo em mầu tím..."
(Ngàn Thu Áo Tím)

Cũng một mầu áo tím, một chân trời tím trong thơ Kim Tuấn:

"Áo nàng bay lên tím ngát trời chiều" (Phố Xưa)

Trong mắt Vũ Thành, "nhà thơ của mầu tím", khi mùa thu buông áo xuống một phương trời, mầu mây tím trông như mầu áo người mình yêu để lòng chàng gợn lên nỗi buồn trăn trở:

"Áo em tím cả phương này
anh nghe thành phố đêm nay trở buồn" (Áo Tím)

Vạt áo dài mầu tím hoa sim, trong thơ Phạm Thiên Thư, chỉ là thoáng lay động, vừa ngập ngừng e ấp vừa nao nức gọi mời:

"Áo em vạt tím ngàn sim
nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
gặp đây giả bộ hững hờ khói bay" (Động Hoa Vàng)

Rồi áo tím qua cầu, mang theo cả mùa thu, để lại nỗi trống vắng mênh mang trong lòng nhà thơ Trang Châu:

"Thế giới của anh không có chân trời
không có mùa xuân lấy đâu hoa bướm
không có bàn tay cho bàn tay hò hẹn
áo tím qua cầu nên cũng hết mùa thu" (Thế Giới Của Anh)

Có những gặp gỡ rất tình cờ, bất chợt, như gặp gỡ một tà áo tím, cũng đủ để lòng chàng nhạc sĩ Hoàng Nguyên mãi vấn vương theo mầu áo:

"Một chiều lang thang bên dòng sông Hương,
tôi gặp một tà áo tím, nhẹ thấp thoáng trong nắng vương...
Rồi lòng bâng khuâng theo mầu áo ấy,
mầu áo tím hôm nào..."
(Tà Áo Tím)

"Nhạc sĩ của mầu xanh và mùa thu", danh hiệu ấy có lẽ thuộc về hai chàng Đoàn Chuẩn–Từ Linh chứ không ai khác hơn:

Với bao tà áo xanh đây mùa thu..."
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)

Câu hát nghe như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát mùa thu, bát ngát màu xanh. Trong những dòng kẻ nhạc của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy vẫn luôn luôn thấp thoáng một "tà áo xanh" và một "màu xanh ái ân":

"Tà áo xanh nào về với giấc mơ.
Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu..." (Thu Quyến Rũ)

"Trót", như một định mệnh, buộc chặt người viết câu hát với mầu xanh kia.

"Hẹn một ngày nao khi mầu xanh lên tà áo..." (Cánh Hoa Duyên Kiếp)

Nghe như câu hẹn ước, như lời thề nguyền sắt son...

"Khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh..." (Tà Áo Xanh)

Còn lời dặn dò nào ân cần, thiết tha hơn thế nữa...
Nhớ về một mầu áo là "nhớ những giây phút êm đềm, nắng loang trên sân trường một chiều nào..." (2). Màu áo xanh trong thơ Nguyên Sa là màu cây cỏ xanh tươi trên sân trường phượng vĩ:

"Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường" (Tuổi Mười Ba)

Màu áo xanh trong nhạc Y Vũ gợi nhớ một mái tóc, một tà áo thấm đẫm nước mưa:

"Chiều xưa mưa rơi âm thầm,
để thấm ướt chiếc áo xanh,
và đẫm ướt mái tóc em..." (Tôi Đưa Em Sang Sông)

Tà áo mầu xanh thắm của một "tiếng hát học trò" gieo vào lòng nhạc sĩ Nguyễn Hiền bao "niềm thương nhớ đầy vơi":

"Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ.
Tà áo em xanh, mầu mắt ngây thơ..."
(Tiếng Hát Học Trò)

Thiếu nữ vừa biết yêu trong nhạc Trần Thiện Thanh cũng bồi hồi khoác vào người chiếc áo mầu xanh da trời trong lần hò hẹn đầu tiên:

"Biết anh thích mầu trời, em đã bồi hồi chọn mầu áo xanh..." (Bảy Ngày Đợi Mong)

Tà áo dài trong nhạc Nguyễn Văn Đông có màu xanh của rừng thông Đà Lạt một mùa nào Giáng Sinh:

"Tà áo năm xưa xanh màu thông Dalat…" (Màu Xanh Noel)

Áo xanh mộng mị còn bay cả vào trong thơ "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng:

"Biển dâu sực tỉnh giang hà
còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh" (Áo Xanh)

Áo xanh mộng mị của một thời quên lãng trong thơ Đinh Hùng:

"Trong vườn quên lãng áo ai xanh..." (Dạ Hội)

Làm sao kể hết được hình ảnh tà áo dài mềm mại và dịu dàng, thướt tha và duyên dáng trong những dòng thơ dòng nhạc, như mầu "áo mơ phai" trong thơ Nguyễn Đình Toàn, như "áo mầu rêu đá" trong thơ Nhất Tuấn, như "áo đỏ như son môi, áo vàng như gấm dệt" trong thơ Trần Mộng Tú, như "áo tím ngày xưa đi lấy chồng" trong thơ Kiên Giang, như "áo tím trên cầu Trường Tiền" trong nhạc Văn Phụng, như "áo mầu xanh tha thướt đi lễ đêm" trong nhạc Tuấn Lê, như "thuyền ai thấp thoáng muôn tà áo tung bay" trong nhạc Y Vân.... Và còn rất nhiều, rất nhiều... những vạt áo dài lộng gió trong thơ và nhạc. Tà áo dài mềm mại đã nhẹ nhàng êm ái đến với cuộc đời, nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng người...

Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, dù ở chốn quê nhà gần gũi, hay ở một góc trời xa thẳm, chiếc áo dài cũng mang theo bầu trời quê hương, cũng mang về mùa xuân ấm áp trong lòng người Việt tha hương. Chiếc áo dài còn là biểu tượng thân quen để người Việt nhận ra nhau trên bước đường lưu lạc trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người. Thấy một vạt áo dài, thấy quê hương xa xăm mà gần gũi.

Qua bao mùa tang thương dâu bể, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, chiếc áo dài truyền thống, chiếc áo dài duyên dáng và trữ tình của người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn luôn là hình ảnh khó phai mờ và còn ở lại mãi trong lòng người.

(1) Áo Trắng, thơ Huy Cận
(2) Từ Giã Thơ Ngây, nhạc Nguyễn Hiền

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1735 Posted : Wednesday, March 4, 2020 3:13:20 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
UserPostedImage

Chuyện “thề nguyền” qua câu hò của mẹ


Trần Hạ Tháp

Thứ tư, 04/03/2020

Lời thề trước miếu sau đình
Trai vong ơn, trai mắc… Gái bạc tình, gái mang…

Những câu hò bên bốn tao nôi và lời ru tha thiết canh trường. Hò giã gạo thức trắng đêm thanh, tiếng chày khuya rộn rã cơ hồ còn văng vẳng đâu đây. Mẹ… Dù người đã khuất núi. Và đứa bé nằm nôi, đầu xanh nay điểm bạc, vang bóng ấy vẫn chưa thôi đồng vọng giữa hồn con…

Tại sao phải thề nguyền khi chỉ là “khẩu thuyết vô bằng”? Phải chăng kẻ đem mối chân tình trao gửi, có khi sẽ ôm hận nghìn thu. Lời nói gió bay. Thề nguyền như nắng sớm mưa trưa, như đường đi xuôi ngược hai chiều…

“Mật ngọt chết ruồi” mẹ cẩn trọng khi đem chua – ngọt – nhỏ – to từ quả cây vườn vào ngụ ngôn giao tế:

Ra đi mẹ có dặn lòng…
Chanh chua mua lấy, ngọt bồng chớ ham

Gặp gỡ, cảm xúc, vấn vương và đi đến thề nguyền để cùng nhất tâm gắn bó.Trình tự ấy thông thường giúp khẳng định được niềm tin.Và rồi sẽ chẳng có gì đáng nói, khi không ai phải lỗi đạo cùng ai:

Cho dù đá nát vàng phai
Còn lời nguyền cũ đừng ai lỗi thề

Song cũng có thể rất dễ dàng thành nạn nhân của bội tín, vong thề. Là lúc tính thiêng liêng thề nguyền bị cố tình quên lãng để mưu toan điều phi nghĩa, bất nhân.

Phản bội quá khứ khi đã qua rồi thời khốn khổ, hàn vi. Lúc cao sang, ai bỏ mặc ai nghẹn ngào nơi lối cũ đường quê:

Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng

Hào quang thành tựu ngoài đời không soi sáng vùng tối sau lưng còn để lại… Thành tựu vẫn thiếu đi nhân cách. Đâu là đạo nghĩa căn bản nhất một con người? Nói làm gì vinh quanh và đức cao, vọng trọng:

Ra đi để mẹ ở nhà
Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng?
Thì thôi thệ hải, minh sơn… (1)
Để chàng hiển đạt ngựa xanh, lọng vàng

Và vì thế, rất có thể lời thâm tình nhất cũng trở thành vô nghĩa. Lời thề nguyền nào? Ai nhắc nhủ cùng ai:

Ra đi ngó trước, ngó sau
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng
Nhớ lời thề cũ còn không?
Gối nghiêng chàng sửa, thiếp bưng chén trà

Cho đến thời bùng nổ thông tin nầy, thề nguyền không phải chỉ là sản phẩm đặc trưng riêng giới bình dân, ít học. Vâng, một thủ tục vốn mang nặng hình thức, ít nhiều dựa vào thần-quyền-tâm-lý. Dựa vào niềm tin về một sức mạnh siêu nhiên, vô hình… cầm chịch – làm chứng – cho những người trong cuộc. Họ hy vọng thế lực kia đủ khả năng trói buộc, giúp đôi bên không trở thành – nạn nhân hoặc tác nhân – bội tín:

Giả như ai một dạ hai lòng…
Hai bên vai vát có Thần long hộ trì (2)

Nhưng lời nói, dù trịnh trọng đến đâu cũng chỉ là lời nói. Mục đích của thề nguyền không dừng lại ở đây mà chờ đợi hành vi thể hiện được lời thề. Chứng nghiệm chúng – việc đầu môi chót lưỡi – hiển nhiên phải kinh qua thời gian và xác quyết sau cùng. Lắm lúc, xác quyết ấy chỉ còn là hiện thân đầy cay đắng…

Nhồng – loài chim quý khi đã lột lưỡi luyện âm, nói được tiếng người. Ngôn-ngữ-con-vật tuy líu lo nhưng chả có tâm tình.Song mĩa mai thay, con vật ấy không bội tín, nuốt lời như miệng lưỡi của người ta:

Nói rồi lột lưỡi như không…
Phải chi lột lưỡi như nhồng mà hay

Những giá trị ngàn vàng một đời người – tuổi trẻ, trinh tiết, tình yêu và hoài bão – vì thế một đi không trở lại. Bài học đau thương khi vỡ lẽ, chẳng ích gì cho kinh nghiệm tự thân. Chỉ một lần, đủ để mất đi tất cả. Sai lầm trả giá bằng tiêu vong những gì không thể nào tìm lại. Đã lỡ tin vào những hứa hẹn huy hoàng, lời thở than tuyệt vọng:

Cầm vàng mà lội sang sông
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

Danh vọng, tiền tài, quyền thế? Vì cá nhân hay đạo nghĩa nhân quần? Cái gì đích thực khiến bội tín, vong thề. Câu hỏi cũ trong tiềm thức nhân loại. Hỏi không để tìm ra giải đáp nhưng để đồng cảm với nỗi đau chưa bao giờ chấm dứt:

Cầu mô cao cho bằng cầu danh vọng
Nghĩa mô trọng cho bằng nghĩa phu thê
Từ khi chàng lỗi câu thề
Tham giàu, phụ khó bỏ bề gia nương

Kẻ bạc nghĩa, vô tâm là thế nhưng lòng mẹ vẫn vô bờ. Rộng lượng ấy tìm nơi đâu? Giữa cuộc đời đầy nghiệt ngã đa đoan:

Mẹ già răng rụng tóc sương
Hái cau mồng một, thắp hương vái trời…

Vẫn có người may mắn? – hay thực ra tinh vi hơn – nhìn rõ trước bản chất ẩn sau những cảm xúc kịch bản đầy thoa mị tâm hồn:

Đã nghề khóc mướn, cười thuê
Tin chi lời bậu câu thề trăm năm…

Vỡ mộng. Và vì thế, nhắc nhủ nhau bao nhiêu lời thấm thía:

Hoạ hổ hoạ bì, nan hoạ cốt (3)
Tri nhân tri diện, bất tri tâm (4)
May mô may chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát, tưởng Cao Ly sâm bên Tàu

Đấy là bi-hài-kịch của bội tín, vong thề. Cự tuyệt, tất nhiên khi ẩn ý lợi dụng của kẻ đội lốt chính nhân đã tới hồi lộ diện:

Thôi thôi buông áo em ra
Mặt trời đã lặn, đường qua bụi bờ…

Tính lãng mạn của thề nguyền – với kẻ giả đạo đức – là phương tiện tốt để nguỵ trang nhằm lung lạc những tâm hồn đa cảm. Mặt khác, đấy là thứ xiềng xích với ai đem chìa khoá con tim trao nhầm kẻ dối gian, quỷ quyệt:

Câu thề trót đã cùng ai…
Khốn lui lỡ tới, luỵ dài đêm thâu (5)
Xui chi bạc phước má đào
Hoa lài cắm bãi phân trâu giữa đường

Thề nguyền… Tuyên thệ dựa vào bất cứ ai, bất cứ thế lực nào dù hữu thể hoặc vô hình, thế quyền hay tín ngưỡng… Cuối cùng, đích thực chỉ thu gọn trước lương tâm mỗi con người trong cuộc:

Vàng mười chẳng sợ lửa hui
Việc chi thề thốt chú với tui răng hè?
Lương tâm mô mà rứa với tê…
Việc đời ai biết có khi hè, khi đông…?

Lương tâm được nhận biết – rõ ràng nhất – qua thời gian và hành vi chân thực. Lương tâm dị ứng với những ngôn từ đầy mỹ lệ, hoa hoè. Vâng, đã là lương-tâm-thật, không bao giờ tự ca ngợi mình, tự vinh-danh-bản-ngã:

Tốt gỗ hơn tốt sơn son
Vàng lưng, bạc bọc không sờn dạ em
Thưa với chàng, thỏa ý thuyền quyên…
Sá chi quân tử nhà phên vách, vách bùn
Giả như ai lợi khẩu thề nguyền
Non mòn hay biển cạn, mắc chi em giao lời…

Khôn và dại. Một đời người, qua bao lần tự vấn? Chưa hẳn ai đã dừng lại để đúc kết sau cùng mà không cần ngẫm suy, thay đổi:

Khôn mô khôn sánh bằng khôn-đạo-nghĩa
Dại mô dại cho bằng dại-mua-danh
Mai chiều khi bạc đầu xanh
Ngẫm câu thề thốt đã mấy lần tin ai?
Khi bảo rằng:
Đi cho biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ, biết ngày nào khôn?

Cái khôn trong biết bao khoa học tự nhiên và nhân văn xã hội.Vâng, nhưng cái khôn-đạo-nghĩa con người cần tìm học ở nơi đâu?

“Ở nhà với mẹ” là hạnh phúc cho những ai – dù khôn ngoan, lớn tuổi đến đâu – cứ vẫn thấy luôn dại khờ, bé bỏng. Và vì thế, câu tự hỏi “biết ngày nào khôn” như một cách nói khác đi, để tỏ niềm vui vẫn còn trong vòng tay của mẹ.

Ôi, những câu hò. Có cần đâu những triết lý cao xa? Suốt đời người xuôi ngược giữa hai đầu khôn dại, giữa văn minh và sách vở bộn bề… Tại sao lòng ai còn bâng khuâng, khắc khoải.

Bài-học-đời trải qua, chưa bao giờ là đủ – vẫn tiếp tục – để đứa con mãi mãi bất ngờ về đạo nghĩa còn mênh mông trong câu hò của mẹ.

Trần Hạ Tháp
Thành nội – Huế, 09/2008

Đăng lại từ tạp chí Chim Việt Cành Nam (Chimviet.free.fr)

Chú thích:

(1) Thệ hải, minh sơn: Thề nguyền có biển cả, núi non làm chứng
(2) Thần long (hộ pháp): Các vị thần bảo vệ chánh pháp nhà Phật
(3) Hoạ hổ hoạ bì, nan hoạ cốt: Vẽ cọp vẽ da, khó vẽ xương
(4) Tri nhân tri diện, bất tri tâm: Biết người biết mặt, chẳng biết tâm

(5) Lụy: Nước mắt – âm bình dân xưa của “Lệ”

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1736 Posted : Saturday, March 7, 2020 1:27:48 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

UserPostedImage

BÁNH FLAN

Tôi ít khi làm bánh
Nhưng lại rất thích ăn
Có người giờ chỉ mánh
Về cách làm bánh flan

Công thức cho tám cái
Mỗi cái chừng sáu Ounce
Phải dùng lượng đúng đấy
Chớ có phỏng chừng bao

Một lon sữa ông thọ
Đổ hết sữa ra ngoài
Rồi dùng cái lon đó
Để đong lường khỏi sai

Sữa không đường tươi đấy
Lon rưỡi nước sôi già
Dùng cái lon không ấy
Với năm cái trứng gà

Đó nguyên liệu của bánh
Phiên bản Caramel
Bốn muỗng đường cát trắng
Muỗng cà phê hòa theo

Tùy ngọt nhiều hay nhạt
Hoặc thích đắng hay vừa
Mà cho thêm đường cát
Thêm cà phê chả thừa

Đường hòa tan trong nước
Bếp lửa nhỏ riu riu
Khuấy nhanh sệt là được
Đổ ra chén chia đều

Nước khuấy chung cùng sữa
Đập luôn những trứng gà
Quậy nhanh tay thêm nữa
Cho tới khi tan ra

Sau cùng thì cho sữa
Sữa này là sữa tươi
Lại quậy đều lần nữa
Hòa tan cả mới thôi

Dùng nồi chưng cách thủy
Hấp tám chén một lần
Hay chia đôi tùy ý
Chầm chậm mà chắc ăn

Khi chúng ta hấp bánh
Nhớ mở lắp thường xuyên
Nước trên vung phải tránh
Rớt xuống bánh rỗ liền

Hấp xong dùng dao nhỏ
Luồn lách rạch quanh viền
Rồi úp ngược ra đĩa
Bánh tròn thật có duyên

Caramel tuôn đổ
Từ trên đỉnh tràn ra
Thành những con suối nhỏ
Nếu khéo trông như hoa

Peter Lý
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1737 Posted : Saturday, March 7, 2020 6:54:47 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
Happy Women's Day

Chúc mừng ngày 8 tháng 3
Niềm vui hạnh phúc, chị em ta an nhàn
Không phải nước rót, cơm mang
An ngon mặc đẹp, mặc chàng hầu lo.

HONG VU LAN NHI


UserPostedImage
UserPostedImage

Edited by user Saturday, March 7, 2020 7:38:13 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#1738 Posted : Thursday, March 12, 2020 3:22:45 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,290

Thanks: 668 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

NÊN LÀM NHỮNG GÌ ĐỂ CHĂM SÓC NGƯỜI BỊ NHIỄM TẠI NHÀ


Hôm nay, CDC (Centers for Disease Control and Prevention) đã chính thức công bố rằng Hoa Kỳ phải sẵn sàng đối phó với đại dịch coronavirus, tôi xin chia sẻ một bài viết hữu ích của Dr. ThùyTrang Nguyễn dưới đây.

Dr. ThùyTrang là một chuyên gia virus người Mỹ gốc Việt. BS viết về những gì bạn cần phải làm sớm trong giai đoạn đầu để giữ an toàn trước đại dịch coronavirus

Hôm qua Thùy Trang đã nói rất rõ và hôm nay báo chí mới đưa tin. Thùy Trang nói trước vì đã nhận thấy Covid-19 (năm 2019) và Covid-19 (năm 2020) có khác nhau. Có thể do nó tự biến đổi (mutation) - hoặc là con thứ 2 xuất hiện!

Con 2019 có đặc tính giống HIV nhưng con 2020 lại có đặc tính giữa HIV và thêm đuôi Ebola là con virus dữ dằn hơn nữa.

Con 2020 là loại khủng vì nó lây nhanh và có khả năng như HIV là chặn một số kháng thể đánh giặc của mình như lymphocyte T-Cell - con 2020 vừa chặn kháng thể, vừa đánh vào yếu huyệt tế bào macrophages (đặc tính của Ebola) làm cho người nhiễm phát nhiệt trong người quá nóng, gây hư hại các cơ quan quan trọng trong người mình.

Trong 103 đoạn gene của Covid-19 đã đột biến tại 149 vị trí. Đây là con Covid-20 (tên mình đặt) rất nguy hiểm hơn con Covid-19 như đã nói người bị nhiễm sẽ nóng sốt nhiệt độ cao gây hư não, phổi và thận gan...

Trường hợp không có khả năng tới BV thì xin nhớ những điều sau đây:

- Mỗi nhà mua dùm một cái thau đựng nước lạnh và nhiều khăn loại trung.

- Chanh tươi cần luôn luôn có sẵn.

- Dụng cụ đo nhiệt - mua loại bắn laser vào đầu rất rẻ hoặc que thủy ngân nếu có.

Ngoài 3 thứ cần nêu trên thì luôn có sẵn nước uống cho bệnh nhân - rất cần thiết - chỉ uống nước và rau quả, đừng uống sô đa hay bia, rượu. Cần thêm thuốc ho và Tylenol.

Khi người bệnh bị mệt mỏi (rất mệt), khàn cổ vì ho (cổ rất đau) thì là lúc thân nhiệt bắt đầu tăng cao. Đưa bệnh nhân tới chỗ nằm thật thoáng. Cho uống ngay 1 ly nước lạnh (không cần đá)

Gia đình người thân chú ý và làm thật nhanh (nhớ luôn đeo khẩu trang), lấy khăn nhún vào nước lạnh xếp lại đắp ngay lên đầu - cắt chanh làm đôi xoa hai bên cổ, hai bên hông và ngực. Lấy khăn lau người cho lạnh mát.

Cơn nóng sẽ tồn tại khoảng 30 phút mỗi lần, đừng nản lòng, hãy cố gắng thay khăn lạnh trong mỗi 5 phút - thay khoảng 6 lần là cơn sốt sẽ qua - nhưng sẽ trở lại thường xuyên trong 3 ngày lên cơn.

Đặc tính con 2020 là gây nóng nhanh trong vòng 3 ngày nhưng tới ngày thứ 4 là giảm dần.

Chú ý: Luôn nhớ là nếu không đắp khăn lạnh kịp thời, cơn nóng có thể làm nát lá phổi và hư não (Ở TQ đã xảy ra tình trạng này vì người bệnh không có người nhà đắp khăn lạnh và lau người trong lúc sốt lên cơn)

Dr. ThùyTrang Nguyễn

hongvulannhi  
#1739 Posted : Saturday, March 14, 2020 11:01:46 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

BÁNH Ổ MẶN Nam Bộ( Bánh đúc mặn Miền Tây)


CÁCH LÀM:

BỘT:

300gr bột gạo
100gr bột năng
600gr nc cốt dừa
500-550 gr nước

1M canh dầu

3/4 m cà phê muối
1 m cà phê đường

Mix cho bột thật mịn, để bột nghỉ 30’-60’.Bắt xững, khuôn đợi nc sôi đổ 1/3 bột hấp khoảng 12’, tiếp tục 2 lần 1/3 nữa. Lần sau cùng hấp lâu hơn, lấy que tre xăm thử thấy khô là đã chín.Đợi khi hết nóng thì trút bánh ra được.

*Nếu dùng khuôn silicon thì khỏi phải thoa dầu

NHÂN:

Xào tôm, thịt băm(gà hoặc heo) với củ hành, tỏi cho thơm, nêm với nc mắm, bột nêm, tiêu kế bỏ thêm nấm mèo,nấm hương, củ sắn,cà rốt cắt nhỏ.

NUỚC MẮM

NUỚC MẮM an với bánh đúc nên pha loãng mới ngon để ....húp :(du di thêm bớt tuỳ theo y thích riêng của mỗi nhà) nhưng tiêu chuẩn thì mặn chua ngọt điều hoà.....:

2 phần Nc Mắm
2 phần 1/2 đường-4 phần đường(tuỳ theo khẩu vị mỗi nhà)
7,8 phần Nước

Chanh tuỳ theo muốn chua nhiều hay ít, tỏi, ớt.

Sophie Hongmai


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1740 Posted : Saturday, March 14, 2020 11:35:23 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,311

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

BO` KHO


UserPostedImage

CÁCH LÀM:

Nấu bò kho nên chọn bắp bò, nạm bò, gân bò thì rất ngon. Sau khi rửa sạch với dấm, muối, trụng sơ qua trong nước sôi và cắt bỏ những bầy nhầy mỡ.

Rửa lại với rượu và gừng để khử mùi tanh của bò. Thái thịt miếng vừa ăn. Ướp thịt với muối tiêu,hành tỏi, gừng,sả giã nhuyễn, gia vị bò kho ít nhất 1hr. Nếu để qua đêm thì càng tốt. Sau đó phi hành tỏi, sả, gừng cho thơm, kế cho thịt vào xào lửa lớn cho săn thịt, cho gia vị rút ngấm vào thịt, cho tiếp gia vị bò kho, tomato paste, tí tương ớt sriracha vào. Kế đổ Coco Rico hoặc nước dừa tươi vào, thả thêm vài tép sả, lá thơm, ít lát gừng, vài cánh hồi, ít miếng quế, thêm tí nước cho ngập thịt.

Nấu lửa Medium, hớt cạn bọt, hạ lửa nhỏ riu riu khoảng 2 hrs-3hrs (tuỳ theo thịt nhiều,ít), nêm nếm lại với muối, đuờng. Khi thịt chín, thả củ cải trắng, cà rốt vào. Canh thịt mềm thì tắt lửa. Khi dọn ăn thì rắc thêm tiêu,hành củ thái mõng, rau quế, ngò gai.

Bò kho có thể ăn với bánh mì, hủ tíu, mì.

*** Nếu ăn với bmì thì nên pha thêm tí bột bắp+ nước cho nc sốt hơi sền sệt. Chấm với muối tiêu, chanh hoặc muối ớt chanh.

*** GÂN BÒ luộc trong nồi áp suất khoảng20,30 ‘. Để nguội cắt ra miếng vừa ăn, xào với hành tỏi, muối tiêu, gia vị bò kho, rượu thơm mai quế lộ.

Khi thịt bò bắp, nạm bò gần chín thì thả gân bò vào kho tiếp. Canh sao cho gân bò đừng mềm quá, ăn còn sần sật mới ngon.

Chúc cả nhà có một nồi bò kho thật ngon

Sophie Hongmai

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest
88 Pages«<85868788>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.