Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

63 Pages<1234>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
langthang09  
#21 Posted : Tuesday, October 20, 2009 3:57:20 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,979

Thanks: 849 times
Was thanked: 1045 time(s) in 468 post(s)
Đặc sản miền Trung qua ca dao - tục ngữ

Dải đất duyên hải miền Trung nhỏ hẹp chạy dài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Mỗi địa phương đều có phong tục tập quán, thổ săn khác nhau và miếng ngon vật lạ chẳng bao giờ thiếu vắng. Bởi vậy, nhiều đặc sản từng vùng, từ món ăn bình dân cho đến các loại sơn hào hải vị được khách sành ăn chọn lựa, phẩm bình. Nhiều đặc sản đã nổi tiếng từ ngàn xưa và đã đi vào văn thơ dân gian.

Ở Thanh Hóa có:

Hà Trung mạch phạn
Ngự lĩnh kê thang (Huế)

(Cơm nếp Hà Trung
Cháo gà núi Ngự)

Hoặc ở Nghệ An xưa nay nổi tiếng với:

Cam xã Đoài
Xoài Bình Định

Hay:

Ra đi anh nhớ Nghệ An,
Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam đàn thơm tương.

"Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn" đã gợi nhớ biết bao kẻ tha hương.

Ở vùng đầu nguồn Lam Giang, còn có những đặc sản của vùng cao như :

Tiếng đồn cá mát sông Găng,
Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.

Vô đến Quảng Bình thì có các loại sơn hào hải vị, là những món "thượng thừa" trong khoa ẩm thực.

Yến sào Vinh Sơn
Cửu khổng cửa Ròn
Nam sâm Bố Trạch
Cua gạch Quảng Khê

Sò nghêu quán Hàn...
Rượu dâu Thuận Lý...

Đến Thừa Thiên - Huế, sẽ được dịp thưởng thức các loại trái cây ngọt ngào, thơm ngon:

Quýt giấy Hương Cần
Cam đường Mỹ Lợi
Vải trắng cung diên

Nhãn lồng phụng tiêu
Đào tiên Thế miếu
Thanh trà Nguyệt biếu
Dâu da làng truồi
Hạt sen hồ Trịnh...

Khi táo xứ Quảng thì được dịp thưởng thức tiếp các món:

Nem chả Hóa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam kỳ...

ở thượng nguồn Quảng Nam - Đà Nẵng còn có:

Quế sơn cam mít mấy từng
Thương bòn bon Đại lộc, nhớ rượu cần Trà mi

Trái bòn bon hay còn gọi là trái Nam trân rất quý hiếm, ngày xưa thuộc loại "tiến kinh", nay thì được nhắc nhở qua câu hò tâm tình mà ý nhị:

Trái bòn bon trong tròn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng...

Trong khi cô nàng ôm duyên ngồi đợi thì các bạn đã lặn lội vào đất Quảng Ngãi nổi tiếng với món "don", ngon nhất là "don Vạn Tượng"

Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn tượng!

Và, một đặc sản của vùng sông nước không thể bỏ qua, đó là "cá bống" sông Trà Khúc.

Em đi em nhớ quê nhà,
Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu

Còn món ngọt nổi tiếng thời có:

Mứt gừng Đức Phổ
Bánh nổ Nghĩa Hành
Đậu xanh Sơn Tịnh

Nói chung, xứ Quảng nổi tiếng là đất mía đường, các bạn sẽ được người đẹp ở đây mới đón hết sức ngọt ngào như mật:

Ai về Quảng Ngãi quê ta,
Mía ngon đường ngọt trắng ngà dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

Đến Bình Định, quê hương miền đất võ, thì có:

Gỏi chính Châu Trúc
Bánh tráng Tam quan
Nón lá Gò Găng
Nem chua chợ huyện

Và thêm món chả cá Đề gi được mọi người ca tụng:

Ai về qua cửa Đề gi,
Nghe mùi chả cá chân đi không đành

Bình Định còn là quê hương của xứ dừạ Dừa Tam quan mọc như rừng, với câu ca truyền tụng từ bao đời naỵ

Công đêm công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam quan

Từ xưa, Bình Định là xứ lắm cá mắm.

Nước mắm ngon thì không đâu bằng:

Gò Bồi có nước mắm thơm
Ai đi cũng nhớ cá tôm Gò Bồi

Nhiều nhất là cá chuồn, phải nhắn nhủ người vùng cao Tây Nguyên - nơi có nhiều măng le ngon - đem về miền biển để trao đổi, mua bán:

Ai về nhắn với nẫu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gửi lên

Từ Bình Định vượt đèo Cù Mông vào đất Phú Yên - nơi nổi tiếng có xoài ngon Đá Trắng - được nhắc nhở qua câu:

Xoài Đá Trắng
Sắn Phương lụa

Phú Yên cũng là xứ mía đường, nhiều chẳng thua gì Quảng Ngãi - nhất là vùng La Hai, Đồng Bò.

Tiếng đồn chợ Xẩm nhiều khoai,
Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

Nổi tiếng nhất phải kể đến sò huyết ở đầm Ô Loan, huyện Tuy An và cước cá Phú Câu ở thị xã Tuy Hòa, đã được thi sĩ Tản Đà ca tụng:

"Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hàn"

Vô Khánh Hòa, nơi có nhiều di tích danh lam, phảng phất những nét kiến trúc của nền văn minh Chămpa, có thành phố Nha Trang thơ mộng .... cũng có lắm hải vị sơn hào, như:

Yến sào hòn Nội
Vịt lội Ninh Hòa
Tôm hùm Bình ba (Cam Ranh)
Nai khô Thiên Khánh
Cá tràu Võ Cạnh
Sò huyết Thủy triều (Cam Ranh)

Vào đến Phan Rí, Phan Thiết là quê hương của cá mắm ngon được cả nước truyền tụng. Nhờ cà mắm nhiều mà có lắm cuộc tình duyên mặn mà và dí dỏm:

Cô kia bới tóc cánh tiên
Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi
Chẳng tin giở thử ra coi
Rau răm ở dưới cá mòi ở trên...
Hồng Hạnh
Hoàng Thy Mai Thảo  
#22 Posted : Tuesday, October 20, 2009 5:55:03 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2115 time(s) in 1487 post(s)
Lươn ngắn lại chê chạch dài Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm
Theo tác giả Vĩnh Phúc thì đúng là chai chớ không phải trai. Chai là cá chai, hay cá lưỡi trâu. Con cá này mình bẹt, có cái miệng lệch hẳn sang một bên, thuộc họ với dove sole, lemon sole trong tiếng Anh.
# s/t Net by PC/PNV
Yeu Ca Dao  
#23 Posted : Tuesday, October 20, 2009 11:58:24 PM(UTC)
Yeu Ca Dao

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 25

Đặc sản Quảng Ngãi qua ca dao - tục ngữ
(Quê Hương Tôi)

UserPostedImage

UserPostedImage

Hình ảnh này là dòng Sông Trà Khúc vào mùa hè và Ngọn Núi Ấn. Trên Ngọn Núi này có Chùa Thiên Ấn nỗi tiếng nhất ở Quảng Ngãi và có Mộ của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Trên tuyến đường này sẽ đi đến được Khu Chứng Tích Sơn Mỹ - Bãi Biển Mỹ Khê thuộc huyện Sơn Tịnh.

Chim mía Xuân Phổ
Cá Bống Sông Trà
Kẹo Gương Thu Xà
Mạch Nha Mộ Đức

Chỉ bốn câu vỏn vên 16 chữ, người bình dân đã giới thiệu được cả bốn ăn đặt sản nỗi tiếng của Quảng Ngãi, gắn nó với những địa danh tiêu biểu. Về đặc sản cá bống Sông Trà, có thể kể đến những câu ca dao khác, như:

Phải đâu chàng nói mà xiêu
Tại con cá bống tại niêu nước chè.

Nước chè lá Minh Long sắc đặc phải nói là rất ngon sau mỗi bữa cơm, nhất là bữa cơm có cá bống Sông Trà kho tiêu. Dân gian đã mượn chuyện tình duyên đôi lứa để làm cái "đòn bẩy" để bật lên sức hấp dẫn. Cũng với kiểu như vậy, với Don, một đặc sản bình dân, lại có câu:

Con gái còn son
Không bằng tô don Vạn Tường.

Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ
Cũng kiếm cho được con vợ bán don
Mai sau nó chết cũng còn cặp ui

Quảng Ngãi là xứ mía đường, nên dễ hiểu ca dao cũng đề cập đến đường mía đặc sản.

Ở đây mía ngọt đường nhiều
Tìm trai xứ Quảng mà yêu cho rồi

Nước mía trong cũng chẳng thành đường
Anh thương em thì anh biết chớ thói thường ai hay

Cùng cần biết xưa kia có nơi đặt ra lệ phạt người bẻ trộm mía để ăn, nên mới có cái hoạt cảnh khôi hài này.

Mía ngọt tận đọt
Heo béo tận lông
Cổ thời mang gông
Tay cầm lóng mía
Vừa đi vừa hít
Cái đít sưng vù

Chuyện mía lan sang chuyện đường với nhiều loại đường đặt sản như đường cát:

"Thiếp gửi cho chàng,
một cục đàng rim,
một tiềm đường cát",

Bậu về nhớ ghé Ba La,
mua cân đường phổi cho ta với mình".

Bên cạnh Mạch nha, đường phổi còn có đường phèn:

"Thơm ngon như món mạch nha,
Ngọt qua đường phổi,
thơm qua đường phèn..."

Cũng có thể kể ngoài đảo Lý Sơn còn có bánh ít lá gai nổi tiếng:

"Muốn ăn bánh ít lá gai,
lấy chống hải đảo sợ dài đường ghe.
Quế

Ở rừng thì có đặc sản quế Quảng nỗi tiếng ở Trà Bồng, song lại gắn với ý niệm xa xôi, cách trở:

"Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê,
lên non tìm quế, quế vế rừng xanh".

Quế Trà Bồng cũng vang danh không kém gì mía đường:

Ai về Quảng Ngãi
Cho tui gởi ít tiền
Mua dùm miếng quế lâu niên
Đêm về trị bệnh khỏi phiền bà con.
Don

Don là đặc sản của vùng sông Trà (Quảng Ngãi). Món này có thể ăn với bánh tráng, hoặc xào với hành xúc bánh tráng nướng; ăn kèm ớt xanh, tiêu hành rất dậy vị.


Khi có dịp qua địa phận Quảng Ngãi, ngang sông Trà Khúc và đặc biệt, qua thôn Vạn Tượng, xã Tư Bình, Sơn Tịnh... làm sao bạn không bị hút tầm mắt vào những tấm biển mộc mạc bên đường: Don.

Don họ nhuyễn thể hai mảnh, vỏ nửa đen nhạt nửa vàng lợt, hình quả trám, to bằng móng tay út người lớn, dài hơn một phân. Vỏ thường mỏng hơn các loài ốc khác, hai mảnh vỏ chụm vào nhau, ở phía trên mỏng hơn dưới bụng. Ruột don màu phổi bò, pha màu vàng và có những tua hồng bao quanh. Don nằm sâu dưới cát (khoảng 5 phân), mỗi năm chỉ nổi lên một lần, với mực nước ngập khoảng một mét. Cứ từ tháng giêng âm lịch đến cuối mùa hạ, người dân miền đông Quảng Ngãi, nơi con sông Trà đổ ra biển (cửa Đại Cổ Lũy) lại rủ nhau đi nhủi (cào, bắt) don. Thật lạ kỳ, don chỉ sinh ra nơi nước "chè hai" (nước lợ, nước cửa biển), và cũng chỉ có thôn Vạn Tượng là nhiều và ngon nhất.

Khi nhủi don về, người ta loại bỏ hết rong rêu và các loại ốc hến khác, rồi đem ngâm với nước vo gạo khoảng nửa ngày. Đun sẵn một nồi nước hâm hẩm, một ui nước thì bốn bát don vỏ, thêm một chút muối sống (muối hột). Khi nước sôi bùng lên thì dùng đũa bếp khuấy mạnh và đều cho don há miệng, nhả tất cả chất ngọt làm cho nước don có mùi vị. Gạn nước luộc để riêng, ruột don đãi sạch vỏ. Cho don và nước luộc vào đun sôi một lần nữa. Chuẩn bị các gia vị như ớt xanh, tiêu xay, tỏi, hành, rau thơm...

Khi ăn, người ta thường húp cả nước lẫn ruột, và ăn kèm bánh tráng gạo. Bánh tráng cũng có hai loại, hoặc nướng để bẻ miếng nhỏ bỏ vào ăn kèm, hoặc bánh tráng một hai nắng, xé nhỏ như sợi mì Quảng, cho một vắt nhỏ vào tô và chan nước. Một tô don chỉ có một muỗng nhỏ ruột, châm một tí nước mắm nguyên chất và rau thơm, hành lá... là có thể thưởng thức một thứ kỳ tuyệt, lạ lùng. Don ngon không phải vì cầu kỳ, đắt tiền, hay vì gắn kết với một kỷ niệm xưa... mà ngon vì thế đất, vì con nước "chè hai" đã làm cho nó ngọt lạ ngọt lùng. Ngoài ra, don còn được xào khô với hành lá xúc bánh tráng nướng, nấu canh với dưa hồng hay nấu cháo với mè...


Một chút chua chát, người dân kể chuyện tình lắt léo trắc trở do không môn đăng hộ đối mà vô hình trung lại giới thiệu được cái giá trị của đặc sản mắm nhum:

Sớm mai anh ngủ dậy
Anh súc miệng
Anh rửa mặt
Anh xách cái rựa quéo
Anh lên hòn núi Quẹo
Anh đốn cây củi còng queo
Anh than với em cha mẹ anh nghèo
Đôi đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum.
Mắm Nhum


Nhum sống ở những gành đá ven bờ biển từ Bình Định đến Quảng Ngãi. Thịt nhum có thể kho để ăn cơm, trộn trứng chưng cách thủỵ.., nhưng ngon nhất là làm mắm. Mắm nhum sền sệt, mầu đỏ đục, thơm lựng, từng là đặc sản tiến vua xưa của người dân Quảng Ngãi.

Nhum là một động vật thuộc loại nhuyễn thể, có họ hàng với trai, sò; sống ở những gành đá ven bờ biển nước ấm, lẫn trong rong rêu.

Khi nhỏ, con nhum tựa trái chôm chôm, mầu đen thẫm. Khi lớn có hình tròn dẹt, đường kính khoảng 8 - 10cm; dày 3 - 4cm. Có thể nhận ra chúng trong đám rong rêu vì thân nhum có nhiều gai, giương ra khỏi lớp vỏ để tự vệ.

Vùng biển có nhiều nhum kép kéo dài từ vĩ Phú Quốc đến Quảng Ngãi, nhiều nhất là ở các gành đá ven biển và hải đảo gần bờ từ Hoài Nhơn (Bình Định) đến Dung Quất, cù lao Lý Sơn (Quảng Ngãi). Mùa sinh sản của nhum và cũng là mùa đánh bắt chúng, bắt đầu từ tiết xuân phân và kết thúc vào tiết lập thu.

Người tìm nhum lặn theo các gành đá. Khi thấy nhum, họ dùng chiếc móc sắt giật khẽ chúng về phía mình, rồi nhặt bỏ vào bao. Cái khó là không được khua động mạnh, nếu không nhum sẽ "bắn gai" vào tay người rồi bám chặt vào vách đá.

Bắt nhum về, người ta rửa sạch rong rêu rồi dùng một thanh tre mảnh nạo thịt ra khỏi vỏ. Thịt nhum kết thành 5 hoặc 8 múi, mầu hồng phớt, có thể kho để ăn cơm, hoặc trộn vào trứng để chưng cách thủy, tráng chả. Tuy nhiên ngon nhất là đem làm mắm, món mắm nhum độc đáo, đậm đà hương vị biển. Nhum có nhiều loại, nhưng chỉ có "nhum ta" nhỏ, thịt chắc, mầu đỏ thẫm ngả sang đen mới có thể dùng làm mắm. Nhum ta sống nhiều ở ven biển Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) và một ít ở Hoài Nhơn (Bình Định) nên mắm nhum là đặc sản của cư dân hai bên mỏm biển vùng này.

Để làm mắm, người ta cho thịt nhum vào chum sành, rắc một ít muối hạt lên trên, rồi đem vùi vào bếp tro hoặc "giang" ngoài nắng từ 10 đến 15 ngày. Mắm nhum chín, sền sệt, mầu đỏ đục như mắm sò Hải Vân, thơm rưng rức. Mặn, chua, ngọt lẫn vào trong hương vị riêng của thịt nhum, tạo thành một thứ mắm đầy quyến rũ. Mắm nhum ăn với bún tươi rất ngon. Nhưng ngon nhất là chấm thịt heo ba rọi kèm rau sống cuốn bánh tráng.

Sản lượng nhum đánh bắt không nhiều, nhum ta - nguyên liệu để làm mắm - lại càng ít. Người ta làm mắm nhum chỉ để dùng trong gia đình và làm quà cho người thân, bạn bè. Lượng mắm nhum bán ra rất ít ỏi và thường chỉ dành cho khách đã đặt từ trước.


Dưới triều Nguyễn, mắm nhum là một trong những sản vật tiến vua hằng năm. Đại Nam nhất thống chí - quyển 8 (tỉnh Quảng Ngãi) mục thổ sản, chép: "Mắm nhum - sản vật ở các đảo ngoài biển, khoảng đời Minh Mạng đặt "hộ" mắm nhum 5 người, mỗi năm phải nộp 12 cân mắm..." Nghĩa Sâm (sâm miền núi Quảng Ngãi nay đã tuyệt giống) và mắm nhum là hai thổ sản ở Quảng Ngãi triều đình đặt "hộ" và bắt buộc phải cống bằng vật, không được dùng tiền để thay.

Vì lẽ này, mắm nhum còn được gọi là "mắm tiền".

Xứ Quảng cũng như các nơi khác của "Miền Trung xứ dân gầy" luôn luôn phải đối đầu với thiên tai bão lụt ít nhất cũng 5 tháng trong một năm:

Tháng bảy nước nhảy vô bờ

hoặc

Ông tha mà bà chẳng tha
Đồng kia chưa ráo đã lụt hăm ba tháng mười

(Trích đăng từ nhiều nguồn)
hongvulannhi  
#24 Posted : Wednesday, October 21, 2009 2:22:12 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,100

Thanks: 1130 times
Was thanked: 2952 time(s) in 1833 post(s)

Hôm qua chp bể mưa nguồn
Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng ?
Cá buồn cá lội tung tăng
Em buồn em biết dãi đằng cùng ai!

Tiên học lễ, hậu học văn.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



Linh Phuong  
#25 Posted : Wednesday, October 21, 2009 2:54:49 PM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ Mẹ, kính Cha Cho tòn chữ hiếu mới là đạo con.
Mắt Buồn  
#26 Posted : Wednesday, October 21, 2009 5:07:18 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 2,065

Thanks: 615 times
Was thanked: 419 time(s) in 262 post(s)

Thương con cho roi cho vọt
Ghét con cho mgọt cho bùi .

Cá không ăn muối cá ươn
Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư .
hongvulannhi  
#27 Posted : Wednesday, October 21, 2009 8:18:25 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,100

Thanks: 1130 times
Was thanked: 2952 time(s) in 1833 post(s)
PHÂN TÍCH BÀI CA DAO ĐÊM QUA RA ĐỨNG BỜ AO

Đã là người Vn thì hẳn chẳng ai xa lạ gì với những câu ca dao tuy giản dị, mộc mạc mà chan chứa tình người.Đó có thể là những lời dân ca tình tứ,lắng đọng; có thể là những câu hát ru sâu nặng nghĩa tình; hoặc cũng rất có thể là những lời đối đáp trao duyên. Ca dao tựa như một viên kim cương đa diện, mà ở mõi góc cạnh của nó ta lại thấy ánh lện một mặt của tâm trạng con người, lung linh và sáng mãi.Vui có. buồn có, đợi chờ có, nhớ mong có...mọi cung bậc sắc thái tình cảm của con người đềui được diễn tả 1 cách hết sức tinh tế, chân thực, sinh động qua những lời ca dao.tooi nhớ có một bài ca dao thế này:

Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai
Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ?

Một bài ca dao thật hay, thật đẹp với ngôn từ mộc mác, chân chất mà đã lột tả hết tâm trạng của nhân vật trữ tình.Nhân vật trưx tình ở đây là một cô gái-một nàng thiếu nữ với trái tim " bồi hồi trong ngực trẻ" đang tha thiết mong nhớ ng yêu.Trong đêm đen tĩnh mịch-thời điểm của những cuộc hẹn hò đôi lứa-cũng là lúc cô gái cảm thấy lòng mình cô đơn trống trải.Vì sao ư? Vì trong khoảng thời gian của tình yêu, của hò hẹn mà lại trống vắng 1 mình, thử hỏi sao không buiồn cho được! Quá mong ng yêu, cô gái đã giãi bày tấm lòng mình với cảnh vật xung quanh.Thế nhưng " trông cá cá lặn trông sao sao mờ". Dường như cảnh vật đã vô cùng lãnh đạm với tâm trạng người thiếu nữ.Cô chẳng biết chia sẻ cùng ai và ta cảm tưởng như cũng chẳng có ai muốn chia sẻ với nàng.Tìm cá bầu bạn thì mặt nước lặng thinh, gửi tình cảm lên vì sao thì chỉ thấy một màu đen êm dịu, rộng lớn mênh mông.Nó làm cho nỗi buồn bị cô lập và càng " gặm nhấm" cói lòng hiu hắt của cô gái trẻ.Cô càng thêm cô đơn quạnh vắng với nỗi mong nhớ xot xa đang dâng trào.Và lúc này đây ta lại bắt gặp một thứ thật quen thuộc, rất " ca dao" và cũng rất " Việt Nam":
Buồn trông con nhện giăng tơ
...

Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ?

Đó chính là " buồn trông"- 1 điệp từ rất đỗi gần gũi trong ca dao.Nó là mở đầu cho những lời than thân trong ca dao xưa.Điệp từ " buồn trông " xuất hiện ở đây nhằm nhấn mạnh nỗi buồn cô đơn giữa cảnh vật của người con gái.Đó là bút pháp tả cảnh ngụ tình.Ngoại cảnh mà như tâm cảnh.Càng buồn thì càng trông vào cảnh vật, mong tìm chút vui nơi khung cảnh thơ mộng mà nào có được! Càng trông thì chỉ thấy lòng càng thêm trĩu nặng.Bởi:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?

Và liên tiếp sau đó là hai hình ảnh ẩn dụ cho tâm trạng của cô thiếu nữ: nhện giăng tơ và sao Mai. Từ những sự vật trong thiên nhiên, cô đã gửi tiếng lòng của mình-1 tiếng lòng thổn thức ngóng trông."Nhện giăng tơ" là 1 hình ảnh thật đẹp và giàu sức biểu cảm cao.Tơ nhện hay chính là sợi tơ hồng duyên phận, sợi tơ tình yêu đã se duyên cho đôi trẻ để giờ đây " trăm mối tơ vò".Chiếc màng nhện mỏng mang phải chăng như chính người con gái: yếu đuối, mong manh.Tơ nhện có độ kết dính cao, dù có đứt cũng vẫn bền chặt-liệu có là ám chỉ tình yêu?Nhện chăng tơ xong mà vẫn 1 mình, cô đơn, chờ đợi một mối tơ lòng.Tiếp đó cô gái nhìn " chênh chếch" lên ngôi sao Mai.Một ánh nhìn hơi chéo chứ không phài nhìn thẳng.Phải chăng cô gái không dám đối diện thẳng với lòng mình-rằng cô đang quá trống trải, đơn côi.Ngôi sao Mai mờ dần trong ánh bình minh như chính tâm trạng ngày một hiu quạnh, héo hon của cô gái.Cô lẻ loi quá!Tựa như ánh sao giữa bầu trời rộng lớn. Đó là sự trống trải một mình, một sự nhớ thương đén hiu hắt, 1 nỗi buồn trải ra theo cả không gian và thời gian.Từ " bờ ao" tới " bầu trời" là 1 không gian rộng lớn, nó làm cho niềm nhớ thương càng thêm mênh mang, dâng trào.Từ "đêm qua" tới " sao Mai" là sự trải dần theo thời gian, nỗi buồn ngày một lớn lên và chỉ chực trào ra trong tâm trạng thổn thức, trằn trọc suốt cả đêm dài của cô gái.

Như vậy, với những ca từ sâu lắng, mênh mang, tâm trạng của cô gái đã được bộc lộ theo nhiều cấp bậc, nhiều góc cạnh khác nhau.Đó là vẻ đẹp bín của ca dao-một vẻ đẹp tiềm tàng mà không dễ gì có được.

trích tu vatgia. com Ngày gửi: 02/12/2008 - 10:27

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



Hà Phương Hoài  
#28 Posted : Thursday, October 22, 2009 7:03:24 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,207
Location: ÚA

Thanks: 73 times
Was thanked: 52 time(s) in 35 post(s)
Dị bản Thúng Xôi Rền
Hà Phương Hoài

Lịch sử nam tiến của dân tộc ta cho ta thấy tại vùng định cư mới, dân nhập cư dù cố vẫn giữ gia sản văn hóa nguyên gốc nhưng lần lần cũng đã hài hòa với phong tục tập quán, ngôn ngữ, giọng nói của bản địa mà tạo thành một nếp sống mới. Ca Dao cũng theo họ và rồi từ từ đổi thay
theo sự suy tư hợp với phong tục và ngôn ngữ mới.
Bài Ca Dao Một Thúng Xôi Rền
Mẹ em tham thúng xôi rền (dền)
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm (lườm) mẹ hứ (nguýt) mẹ bưng ngay (xôi) vào
Bây giờ chồng thấp vợ cao Như đôi đũa lệch so sao cho bằng (vừa).

(e-cadao.com Câu số 3975 )
Đã biến dạng như Dị bản Khánh Hòa (Quả Xôi Rền):

Hai tay bưng quả xôi rền
Cha ham con heo trắng, mẹ ham tiền cảnh Hưng
Buổi xưa kia thưa thiệt xin đừng
Cha mẹ ép uổng biểu ưng kẻo già (cho rồi)
Bây giờ nghiệp báo oan gia
Nó đánh trong nhà, nó đánh ra sân
Mồ cha tám kiếp nợ trần
Đi bán trầu héo mà bưng (mua) con về
(e-cadao.com Câu số 39047 )

Xôi
Theo Từ điển bách khoa toàn thư thì XÔI là món ăn bằng gạo nếp ngâm nước, đồ chín bằng hơi nước, làm cho hạt gạo dẻo dính. Là lương thực chính của hầu khắp các cư dân nông nghiệp trồng lúa thời sơ khai ở Đông Nam Á. Về sau, cơm tẻ mới trở thành lương thực chính ở nhiều dân tộc vì lúa tẻ dễ trồng hơn và cho năng suất cao. Hiện nay, ở một số cư dân vùng núi (như Tây Bắc, dọc Trường Sơn - Tây Nguyên…) vẫn tồn tại tập quán dùng Xôi trong bữa ăn hàng ngày. Xôi thường được đồ lẫn với lạc, đỗ đen, đỗ xanh (để làm Xôi xéo, Xôi hoa cau, Xôi vò), gấc, dừa, ngô, sắn...; ở miền núi còn có Xôi nếp cẩm (loại có màu tím) thường ăn với mật ong. Ở Nam Bộ có Xôi nướng (Xôi trắng, gói lá chuối tươi nướng trên than hồng). Ở nhiều dân tộc, Xôi là thức ăn ngon dùng để đãi khách. Xôi còn là lễ vật quan trọng dùng để dâng cúng tổ tiên và thần linh.
Rền
• Dẻo đều: Xôi rền; Bánh chưng rền.
• Liên tiếp từng hồi: Sấm rền; Đi chơi rền. Chẵn rền, lẻ rền. Chẵn liền hoặc lẻ liền mấy ván xóc đĩa.

Bài ca dao “Quả Xôi Rền” đã thay đổi hầu như toàn diện dù rằng vẫn giữ được kết cấu và ý nghĩa nguyên thủy của bài “Thúng Xôi Rền” – “Cha mẹ muốn cho con mình được hạnh phúc trong đời sống hôn nhân dựa trên căn bản vật chất, tiền tài” “Mẹ em tham thúng xôi rền (dền)” (Nguyên bản)
“Hai tay bưng quả xôi rền” (Dị bản Khánh Hòa)

Bài nguyên gốc người con gái kết án ngay rằng người mẹ tham “thúng xôi rền” và: “Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.” (Nguyên bản)

Nhưng dị bản thì nhẹ nhàng hơn, vì khi thấy sự kiện xảy ra:
“Hai tay bưng quả xôi rền”. (Dị bản Khánh Hòa)

Dù nhẹ nhàng nhưng khi đi vào điểm chính thì sự trách móc cha mẹ làm lỡ duyên mình cũng gay gắt như nhau, có thể còn nặng nề hơn và đã kéo người cha vào trận:
“Cha ham con heo trắng, mẹ ham tiền cảnh Hưng” (Dị bản Khánh Hòa)

Ở bản gốc: Người con gái than dù đã cương quyết bảo mẹ đừng nhận quà lễ của người ta: “Em đã bảo mẹ rằng đừng” (Nguyên bản)

Người mẹ thấy con gái mình ương ngạnh, bà đã nổi giận, bất chấp ý kiến của con: “Mẹ hấm (lườm) mẹ hứ (nguýt) mẹ bưng ngay (xôi) vào” (Nguyên bản)

Trong khi dị bản Khánh Hòa thì nàng năn nỉ cha mẹ xin đừng nhận mâm lễ:
“Buổi xưa kia thưa thiệt xin đừng” (Dị bản Khánh Hòa)

và cha mẹ không mắng mỏ mà chỉ khuyên ngọt:
“Cha mẹ ép uổng biểu ưng kẻo già (cho rồi)”

Ở bản gốc cho ta thấy rằng sau khi về nhà chồng người con gái mới chưng hửng là đức ông chồng của mình thuộc loại người thiếu thước không cân xứng với tầm vóc của nàng. “Bây giờ chồng thấp vợ cao Như đôi đũa lệch so sao cho bằng (vừa)” (Nguyên bản)

Ở dị bản Khánh Hòa hoàn cảnh của người vợ do sự sắp đặt của cha mẹ đã trở thành quá tồi tệ, nàng phải chịu bao đòn hằn vì anh chồng thô lỗ cọc cằn.
“Bây giờ nghiệp báo oan gia
Nó đánh trong nhà, nó đánh ra sân” (Dị bản Khánh Hòa)

Nàng rơi vào hoàn cảnh đau thương nhưng không biết làm sao để thoát khỏi cho nên đã thốt lên những lời cay đắng:
“Mồ cha tám kiếp nợ trần
Đi bán trầu héo mà bưng (mua) con về” (Dị bản Khánh Hòa)

Trong thời phong kiến việc quyết định việc chung thân cho trai hay gái đều do bậc phụ huynh quyết định và tuyển chọn. Phận con cái chỉ biết cúi đầu vâng theo. Ngoài hai bài “Thúng Xôi Rền” và “Quả Xôi Rền” trên, kho tàng ca dao có rất nhiều bài tả duyên phận éo le trắc trở của người đàn bà:
Con chim bị ná,
Con cá bị câu,
Anh với em ý hợp tâm đầu,
Hai bên cha mẹ là sầu đôi ta
Đôi ta như lúa đòng đòng
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha
Đôi ta như chỉ xe ba
Cha mẹ xe ít, đôi ta xe nhiều

Dĩa nghiêng mài mực
Bút chực đề thơ,
Phụ mẫu ơi nghĩ lại cho con nhờ,
Khoan khoan hạ bút, kẻo hư tờ giấy thơm.

Trách lòng cha mẹ vụng toan, Bông búp chẳng bán để tàn ai mua

Sở dĩ đôi trai gái yêu nhau, thề nguyền sống với nhau cho đến đầu bạc răng long mà phải chịu cảnh chia lìa cũng chỉ vì Đạo Hiếu: Con cái không thể tự quyết định cho duyên phận của mình:
Phụ mẫu sơ sinh để cho phụ mẫu định
Em nỡ nào trái lịnh mẹ cha
Phụ mẫu tôi già đầu bạc như hạt đậu nhành dưa
Ơn tôi chưa đền, nghĩa tôi chưa trả
Anh bảo tôi giục ngựa, buông cương sao đành

Anh thương em còn sợ nỗi mẹ cha
Thuở nay áo mặc khó qua khỏi đầu

Đạo mẹ cha mất đà khó kiếm Nghĩa can thường chẳng hiếm chi nơi!


Dù tình đã nặng nhưng câu hỏi “liệu mẹ cha có bằng lòng hay không?” vẫn đè nặng trong tâm tư của đôi lứa:
Tàu Nam Vang chạy ngang sông Hậu
Tàu Vĩnh Thuận hay đậu Tam Bình
Đôi ta nặng nghĩa nặng tình
Biết cha với mẹ hay chuyện chúng mình ra sao? Để mong rằng cha mẹ thương tưởng mà tác thành cho!!!

Dòm lên trời đang mưa, đang chuyển
Dòm xuống biển bên đây lở, bên kia bồi.
Đôi ta thương lỡ nhau rồi Chàng than, thiếp thở, phụ mẫu ngồi sao yên

Chữ môn đăng hộ đối là điều quan tâm lớn lao giữa bậc cha mẹ cho nên ngoài việc xét đến chọn một cô dâu hay chàng rể xứng hợp, đủ điều kiện vật chất bảo đảm được hạnh phúc và sự thịnh vượng cho gia đình mới của con mình hay không, sui gia cũng không kém phần quan trọng. Nhiều trường hợp, mọi sự đều tốt đẹp duy chỉ ông sui hoặc bà sui có chút bất hòa nào đó thì chuyện hợp duyên của đôi trẻ cũng bất thành, trong văn chương Tây Âu cũng có truyện Roméo and Juliette:
Cây đa trốc gốc, thợ mộc đương cưa
Anh với em bề ngang cũng xứng, bề đứng cũng vừa
Bởi tại cha với mẹ kén lừa sui gia.

Hai đứa mình hòa, phụ mẫu không hòa, Tỉ như nước lạnh, pha trà sao ra?


Và:
Nhà giàu ngồi mát bát vàng
Nàng tham chốn ấy anh sang làm gì.
Xưa kia nói nói thề thề
Cá trê chui ống lọt về giếng khơi
Mới hay lấy vợ trên đời
Chẳng tại trời, tại không tiền nằm không.
Dù em nên vợ nên chồng
Con bế con bồng nghĩ lại duyên xưa
Trời có mây mà chẳng có mưa
Sao em lại nỡ đong đưa với tình?
Mới hay duyên nợ ba sinh
Nhà giàu cướp cả cái tình đôi ta
Anh chẳng trách mẹ trách cha Trách đời chênh lệch hóa ra thế này!

Trai gái khi đến tuổi yêu nhau dù thành hay không, ngoài trông nhờ vào người mai mối, trên phương diện tâm linh, ca dao thường nhấn mạnh đến một yếu tố đậm nét đó là Ông Tơ, Bà Nguyệt.
Theo điển tích: Ông Tơ, còn gọi là Nguyệt Lão/Bà Nguyệt: Ông lão tóc và râu bạc phơ ngồi dưới bóng trăng, tức vị thần xe duyên cho những cặp trai gái nào có căn tiền định, người ta gọi là Ông Tơ hay Bà Nguyệt.

Do sự tích ông Vi Cố trong lúc đi ngoạn cảnh vào một đêm trăng, thấy có ông lão tóc bạc phơ ngồi dưới bóng trăng, trước một tòa cổ miếu bên đường, tay ông lão cầm một quyển sổ và mớ chỉ hồng. Thấy lạ, Vi Cố hỏi thì ông lão nói :" Ta đây là Nguyệt Lão, cuốn hôn thư này dùng để ghi tên những đôi trai gái phải lấy nhau và những sợi chỉ hồng này dùng để cột họ lại thành đôi vợ chồng". Nói xong, Nguyệt Lão cho Vi Cố xem, bên trong cuốn sổ có ghi chép rất nhiều tên tuổi của những đôi trai gái, mà họ sẽ được nên duyên chồng vợ với nhau.

Sẵn dịp, Vi Cố nhờ Nguyệt Lão xem giùm căn duyên của mình, thì Nguyệt Lão cho Vi Cố biết rằng, người vợ tương lai của Vi Cố sẽ là đứa con gái của mụ ăn mày trước chợ. Tin vào lời của vị tiên tri, nên Vi Cố sợ bị nhục, bèn lấy dao ra chợ chém vào đầu đứa con gái của mụ ăn mày, làm máu chảy đầm đìa, rồi sau đó Vi Cố trốn đi mất.
Sau này Vi Cố lấy đứa con gái của một vị quan làm vợ. Khi tình cờ thấy trên đầu của người vợ mình có vết thẹo lớn, hỏi ra mới biết nàng đúng là đứa con gái của mụ ăn mày trước chợ đã bị chính Vi Cố chém vào đầu, vì bị bỏ rơi, nên đã được một vị quan mang về nuôi nấng cho đến ngày khôn lớn.

Người xưa tin rằng: chuyện duyên nợ là do Trời định, nên khi những cặp uyên ương đã trót thề nguyền yêu thương nhau, nhưng lại không được thành vợ thành chồng, là bởi Nguyệt Lão không chịu xe duyên cho:
Căn duyên ai đã phá rồi
Ông Tơ ông buộc ông Trời biểu không
Phải gặp ông Tơ hỏi sơ cho biết
Gặp bà Nguyệt gạn thiệt cho rành
Vì đâu hoa nọ lìa cành
Nợ duyên sớm hết cho đành dạ con
* Có bản khác: Căn duyên ai phá cho rồi

Bắc thang lên đến tận (lên hỏi) Trời
Bắt ông Nguyệt Lão đánh mười cẳng tay
Đánh rồi lại trói vào cây
Hỏi ông Nguyệt lão: đâu dây tơ hồng ?
Nào dây xe bắc xe đông
Nào dây xe vợ, xe chồng người ta
Ông vụng xe tôi lấy phải vợ già
Tôi thì đốt cửa, đốt nhà ông đi

Bắt ông tơ đánh sơ vài chục,
Bắt bà nguyệt nếm mấy mươi hèo,
Người ta năm bảy vợ theo Còn tôi đơn chiếc như mèo cụt đuôi!


Ngoài các sự kiện nêu trên, để bảo đảm cho hạnh phúc tương lai của con mình các cụ thường xem trọng “Bói toán”, và vì bói toán cũng làm lỡ duyên bao cặp tình yêu nhau thắm thiết:
Cọp mà vật mấy ông thầy địa
Voi mà giày mấy lão coi ngày
Trớ trêu họ khéo đặt bày, Đôi ta thương nhau thiệt, lẽ nào trời không định đôi.


Nhiều cặp bất chấp những dị biệt, khó khăn trắc trở quyết cùng nhau đi hết đoạn đường đời với nhau.
Cá lưỡi trâu dầm trong nước mắm
Qua với nàng duyên thắm mấy trăng
Cha mẹ tuy chẳng bằng lòng Nợ duyên đã gắn, chữ đồng quanh năm


Bằng không thì:
Xin người hiếu tử gắng khuyên
Kịp thời nuôi nấng cho tuyền đạo con
Kẻo khi sông cạn đá mòn Thơ ngâm nga đọc có còn thấy chi


Hoặc:
Bước xuống ruộng sâu, sầu đầy tấc dạ
Tay ôm bó mạ, nước mắt hai hàng
Ai làm trễ chuyến đò ngang Cho sông cạn nước, đôi đàng biệt ly


Hà Phương Hoài (10-2009)
langthang09  
#29 Posted : Thursday, October 22, 2009 4:35:54 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,979

Thanks: 849 times
Was thanked: 1045 time(s) in 468 post(s)
Vài cảm nghĩ về tình tự dân tộc Miền Nam và Ca Dao
Hòa Đa
Kính Tặng Má,
tặng Hồng, vợ tôi, người đã ru con bằng ca dao
.

Một trong những thiếu sót trong chương trình học ở Việt Nam từ trước đến nay là sự mất cân đối trong việc giới thiệu đến học sinh những dữ kiện về văn học theo sự phân bố về địa dư. Nói cho rõ hơn, chương trình văn ở bậc trung học nghiêng nặng về những tác giả tác phẩm ở ngoài Bắc và đã bỏ quên những sinh hoạt văn học trong Nam. Không thể chối cãi là ở trung học, chúng ta học quá nhiều về Tự Lực Văn Đoàn, về Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo... mà không hề nói gì về những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc...chẳng hạn; chúng ta học quá nhiều về Nam Phong, Đông Dương tạp chí, học Nguyễn văn Vĩnh, Phạm Quỳnh... mà không nhắc gì về Gia Định Báo, Phụ Nữ Tân Văn, Phan Khôi... Có thể nói, trong mọi lãnh vực về văn học ở chương trình trung học, miền Nam đã bị bỏ quên, khiến cho sau bao nhiêu năm, sự lãnh hội về kiến thức trong chúng ta về văn học đã bị thiếu sót.
Ca dao miền Nam cũng chịu chung số phận như thế.

Mặc dù không hề được nhắc đến ở trường học, nhưng ca dao miền Nam vẫn có sức sống của nó. Chẳng những thế nó còn được phát triển mạnh và là một sinh hoạt tiềm tàng trong cuộc sống của người bình dân, cho dù chúng ta không còn thấy những màn hò đối đáp trong công việc hàng ngày ở trên đồng ruộng, sân lúa hay trên sông rạch như tiểu thuyết đã mô tả. Nó nằm ngay trên cửa miệng người bình dân, họ đọc ra như một phản xạ tự nhiên phù hạp với hoàn cảnh đang xảy ra không chê được.

Chẳng hạn, thấy một chàng trai ở rể bị lợi dụng, miệng đời đã có câu đàm tiếu:

Công anh làm rể đốn rào
Tào lao phất ngọn, chớ nào vợ anh? (1)
Câu này làm chúng ta nghĩ ngay đến câu tương tự ở ngoài Bắc:
Công anh làm rể chương đài
Một mình ăn hết mười hai vại cà,
Giếng đâu thì dắt anh ra
Không thì anh chết với cà nhà em.
Hay để trêu chọc sự dan díu ngoài khuôn phép của gia đình và xã hội của một đôi trai gái, chúng ta đã có sẵn câu:
Mùng ba thì có trăng non,
Anh đi lên xuống có con anh bồng
Nó cũng nằm ngay trong câu hát ru con của các mẹ, các chị bình dân, những câu ca dao cứ tuần tự tuôn ra một cách tự nhiên, không gò ép, không sửa soạn, cứ hết câu này đến câu khác, ru trẻ vào giấc ngủ. Nhiều khi họ còn dùng để diễn tả, kể lể tâm trạng của họ:
- Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.
- Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi

- Giả đò mua khế bán chanh
Giả đi đòi nợ thăm anh đỡ buồn

...

Năm 1970, tôi về làm việc tại một tỉnh nhỏ ở đồng bằng Cửu Long nên có dịp tiếp xúc với người bình dân, nông dân. Sau 1975, do chính sách của chính quyền Việt Nam lúc bấy giờ, tôi lại có dịp sống hẳn ở nông thôn, gần gũi với nếp sống bình dị, làm quen với cách ứng xử, sinh hoạt của họ. Do đó xin nêu lên vài cảm nhận có tính rất chủ quan về ca dao miền Nam. Tôi không có tham vọng trình bày về ca dao miền Nam như một bài khảo cứu, công việc này xin dành cho những nhà biên khảo hay cho những công trình luận văn cao học, tiến sĩ. Cũng xin nói thêm, vì sự thuần nhất (một cách tương đối) về âm sắc trong cách nói, sự tương đồng về sinh hoạt, xin được nới rộng yếu tố địa dư miền Nam ra đến phần đất tam Phan (Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết) mà do sự phân chia hành chánh, vùng này được xếp vào Trung phần. Và cũng xin nhấn mạnh bài viết chỉ nhằm đóng góp, nêu lên một phần di sản văn hóa bị bỏ quên trong văn học sử, tuyệt nhiên không có ý phân biệt địa phương.
I. Vài nét về sự hình thành cư dân Miền Nam

Kể từ sau cuộc hôn nhân Việt -Chiêm giữa Huyền Trân Công Chúa và Chế Mân , nước Việt chúng ta có thêm hai châu Ô, châu Rí (Thế kỷ XIV, XV). Để đối kháng với thế lực thống trị từ phía Bắc, Việt Nam cần phát triển hậu cứ, lập nền tảng kinh tế để phát triển tiềm năng kháng cự với Tàu, nên đã bắt đầu chú ý đến việc phát triển về địa lý vào phương Nam. Nhưng phải chờ đến khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá (năm 1558) và tuyên xưng là Chúa Nguyễn (năm 1600), hướng phát triển vào Nam mới được phát triển một cách có qui củ để tạo thành một thế lực ngang ngửa với chúa Trịnh ở miền Bắc. Với chính sách tầm ăn dâu, người Việt cứ bành trướng dần vào Nam. Những người tiền phong là những lính thú khai hoang lập ấp, họ là những người vừa chiến đấu vừa sản xuất. Họ cũng là những lưu dân từ vùng Thanh Nghệ, tìm đến phần đất của chúa Nguyễn để sinh sống, người có tài như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Cảnh... thì được trọng dụng, người bình dân thì được đưa vào dần trong Nam theo chân các tập đoàn quân sự khai hoang lập ấp. Họ cũng là những tù, hàng binh của Trịnh do Nguyễn bắt được, đưa sâu vào Nam để dễ bề quản thúc, kiểm soát... Cũng có những cuộc tình duyên có tính chính trị nhằm mở rộng lãnh thổ như cuộc tình duyên của công chúa Ngọc Hoan (hay Ngọc Vạn?) với vua Miên Chey Chetty dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi), bà hoàng người Việt này đã mang theo nhiều người Việt vào sinh sống ở vùng đất Chân Lạp. Sang thế kỷ XVII, các di thần nhà Minh không chấp nhận Thanh Triều đã đem bộ hạ và gia quyến vào xin đầu phục Chúa Nguyễn, Chúa Hiền cũng cho vào định cư vùng Đồng Nai, Biên Hòa (Trần Thắng Tài), Mỹ Tho (Dương Ngạn Địch, TrầnThượng Xuyên) và sau đó (2) vùng đất Hà Tiên do Mạc Cửu mộ dân khai thác được dâng cho Chúa Nguyễn.

Khi Gia Long lên ngôi, một trong những chính sách quan trọng ở miền Nam là ổn định đời sống về kinh tế, miễn thuế cho cư dân thuộc vùng đã giúp nhà vua khi còn bôn đào trong thời chiến tranh với Tây Sơn. Sau Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị đã cho phát triển những đơn vị bán quân sự, cho đào kinh (3) khuyến khích việc mộ dân lập làng, tiếp tục miễn giảm thuế cho những vùng vừa khai thác nên dân số ngày càng đông . Thành phần cư dân hình thành trong vùng gồm phần đông là binh lính, di dân Việt từ Thuận-Quảng chuyên làm ruộng ít học, sau đó là người Miên, sống rải rác trong các sốc (làng Miên) trên những vùng đất cao ráo và người Hoa làm rẫy hay buôn bán, tập trung cạnh các con sông lớn, tạo thành những thị tứ thịnh vượng. Phát triển của vùng này chỉ được chú trọng vào quân sự và kinh tế, còn văn hóa chỉ phát triển có hệ thống về phía tôn giáo ở các miếu, đình, chùa.

Hơn thế kỷ sau, Pháp xâm chiếm Việt Nam, chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ, miền Nam gần như mất hẳn ảnh hưởng chính quyền trung ương, văn hóa miền Nam cũng theo trào lưu đó mà biến đổi. Nền học cũ bị bãi bỏ, cái học mới chỉ để phục vụ cho chế độ thực dân. Đại đa số người dân miền Nam thiếu học, lại mất đi nguồn bổ sung nhân lực chính là các binh lính từ các phiên trấn thuộc chính quyền trung ương, sinh hoạt văn hóa thông thường và dễ dãi của người bình dân là hát hò với nhau.

Với sự hinh thành về thành phần cư dân cho vùng đất miền Nam như thế, Sự giao lưu về văn hóa giữa ba nhóm cư dân nói trên (Việt, Miên, Hoa) nhất định phải xảy ra và vì vậy, chúng ta không thể không để ý đến tính đa văn hóa sẽ phát triển trên vùng đất này và có thể giải thích được tại sao văn hóa miền Nam không bị gò bó vào khuôn mẫu và có tính cách thuần nhất như ở miền Bắc. Người bình dân, lính thú... thiếu học, đơn giản, sống tương đối rải rác sẽ khó có thể có những sinh hoạt văn hóa dựa trên chữ viết, sân khấu... mà sinh hoạt truyền miệng, phóng khoáng hơn, dễ dãi hơn được phát tirển mạnh. Có điều nhận xét khá lý thú là âm sắc trong ngôn ngữ càng vào sâu trong Nam càng nhẹ dần, nhưng vốn từ vựng từ phía nam Hải Vân vẫn còn được duy trì thống nhất và được phát triển thêm, làm giàu thêm trong suốt chiều dài phát triển lãnh thổ về phía nam (4) . Tinh thần văn hóa ở phần đất này có những độc đáo, tự nhiên, bình dị và đôi khi đi đến sỗ sàng, trong khi tinh thần văn hóa ở phần đất thuộc Đàng Ngoài (thuộc chúa Trịnh) đã đạt đến mức tinh luyện, khuôn mẫu, nghiêm túc.

Người dân miền Nam chịu ảnh hưởng của luồng văn hóa có tính bình dân của các văn nhân theo vào với Chúa Nguyễn trong giai đoạn đầu đan kết với những luồng văn hóa của Khmer, Hoa, Pháp, cộng với điều kiện sinh hoạt dễ dàng, đất rộng người thưa, sông sâu nước chảy, tài nguyên thiên nhiên thừa thải. Họ sống bình dị, không muốn bó mình trong những khuôn mẫu có sẵn là điều dễ hiểu. Có khi do điều kiện sinh hoạt riêng rẽ (trong giai đoạn đầu tiên không phải ở làng xã nào cũng có những bậc túc nho hay người biết chữ), nên sự tùy tiện trong giải thích hay trong sinh hoạt văn hóa làm nảy sinh tính dễ dãi, uyển chuyển, sao cũng được, miễn là mọi người vui và hạnh phúc là được rồi. Hơn nữa, đối với những con người tiền phong, sau những lúc phấn đấu với thiên nhiên còn mang tính hoang dã:

Xứ đâu có xứ lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh
hay
Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um
thì trong những lúc có dịp ngồi lại với nhau như sau vụ mùa, buổi chợ, trong những dịp ma chay cưới hỏi, cất nhà... người bình dân còn có nhu cầu giải trí nào khác ngoài những dạng nói thơ, kể chuyện tiếu lâm, hát, hò....? Họ không có khả năng ngâm vịnh, sáng tác.
Ca dao miền Nam đã phát triển trong chiều hướng đó. Chính yếu tố bình dị, nghĩ sao nói vậy, mộc mạc, dễ hiểu đã làm cho ca dao miền Nam có sức sống rất mạnh, được quần chúng chấp nhận dễ dàng và do đó làm ảnh hưởng đến sự sinh hoạt và tư tưởng của quần chúng:

- Hủ qua (khổ qua) xanh, hủ qua trắng
Hủ qua mắc nắng hủ qua đèo
Thương em, thì anh làm giấy giao kèo
Lăn tay điểm chỉ mới thiệt con mèo của em
- Thấy em gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hun

thật khó tìm thấy những câu tương tự như vậy ở ca dao miền Bắc.
II.Vài tính chất có tính đặc trưng

Ca dao, ở đâu cũng vậy, là sản phẩm của quần chúng. Chúng ta không biết tác giả hay hoàn cảnh sáng tác, nhưng chúng ta biết chắc một điều: ca dao được người bình dân biết đến, sử dụng và truyền bá. Không có quần chúng, ca dao nói riêng, văn chương bình dân nói chung không thể phát triển và lưu truyền. Qua ca dao, chúng ta có thể mường tượng được nếp sinh hoạt, hoàn cảnh sống và phần nào tâm tư của người bình dân. Do vậy, tuy ca dao có những cái chung nhưng cũng có những cái riêng của vùng. Chúng ta khó có thể tưởng tượng được ca dao miền Nam lại có những câu nói về núi cao, ao cá:

- Núi cao chi lắm núi ơi,
Che khuất mặt trời, không thấy người yêu.
- Tiếc công anh đào ao nuôi cá,
Năm bảy tháng trời, người lạ tới câu.

dù trên thực tế, không phải người dân miền Nam không biết núi, biết ao.
Chúng ta thử lược qua những tính chất đặc sắc của ca dao miền Nam.
1/ Tính uyển chuyển.

Một trong những nét dễ nhận thấy là người miền Nam không chịu bó trong những khuôn mẫu có sẵn, có lẽ do cuộc sống quá được ưu đãi từ thiên nhiên hào phóng, con người cũng trở nên phóng khoáng. Từ một câu có tính nhận xét trong đời sống hàng ngày, mà chúng ta thấy ở đâu cũng đúng:

Chiều chiều quạ nói với diều
Tìm nơi đống trấu có nhiều gà con
vào đến miền Nam chúng ta nghe thấy nó biến thể thành:
Chiều chiều quạ nói với diều
Cù Lao Ông Chưởng (5) có nhiều cá tôm
Người miền Nam có thể chuyển nhóm chữ "Cù Lao Ông Chưởng" thành một nhóm chữ nào đó thích hợp với địa danh họ đang sống, họ chẳng hề bị bó buộc phải rập khuôn theo câu ca có sẵn. Vùng Ô Môn, Bình Thủy (Cần thơ) cũng có câu tương tự, chỉ đổi bốn chữ cù lao Ông Chưởng bằng bốn chữ Ô Môn Bình Thủy. Chúng ta có thể tìm thấy dạng này khắp nơi ở miền Nam, lâu dần chúng ta không còn biết câu nào là nguyên bản, câu nào là sao chép. Ở vùng Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười chúng ta có câu:
Nước chảy Láng Linh, chảy ra Vàm Cú
Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun
Nhưng vùng Trà Cú (Vĩnh Long - Vĩnh Bình), ta lại nghe:
Nước chảy sông xa, chảy qua Trà Cú
Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun
Một câu khác mà chúng ta ai cũng biết:
Nam Vang đi dễ khó về,
Trai đi có vợ, gái về có con
để chỉ Nam Vang là xứ ở xa, rất xa, đi lại không tiện, ai đi Nam Vang (nghĩa là qua Miên) làm ăn thì thường lập gia đình luôn ở bên ấy. Ở miền Nam, chúng ta nghe không thiếu gì câu hát trên, chì đổi chữ Nam Vang thành Long Xuyên, Cần Thơ, Gò Công... và nghe những câu ấy, chúng ta cảm được cái tình ấm áp của người địa phương làm cho kẻ lãng du phải dừng chân:
Tới đây thì ở lại đây,
Chừng nào bén rễ xanh cây rồi về
Thật ra. tính uyển chuyển vừa nêu không phải là một đặc thù của ca dao miền Nam, nhưng ở miền Bắc và miền Trung, những dị bản của những câu ca dao ít tìm thấy hơn ở trong Nam. Một trong những câu điển hình là câu:
Gió đưa cành trúc la đà
Hồi chuông Trấn Quốc, canh gà Thọ Xương
ở ngoài Bắc, vào đến Huế biến thành:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Cũng vì tính chất này mà ở miền Nam, chúng ta thấy ca dao thường ở dạng lục bát biến thể nhiều hơn. Số chữ trong mỗi câu hoàn toàn tùy thuộc vào cách nói, không bị gò cho đủ 6 hay 8 chữ, miễn sao diễn tả đủ ý muốn nói và có vần điệu dễ đọc, dễ nhớ. Phải chăng tính thực tiển và phóng khoáng của người dân Nam bộ đã làm cho sự uyển chuyển dễ xảy ra hơn? Nhân đây, xin nói thêm về tính uyển chuyển đó: ở trong Nam: Ai đã từng sống ở nông thôn vùng Cửu Long đều biết, khi cúng dựng nhà người nông dân miền Nam thường bày dĩa trái cây trên bàn thờ theo công thức: dừa, đu đủ, xoài; hay mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài biểu thị lòng mơ ước của họ: vừa đủ xài hay cầu vừa đủ xài, họ không bao giờ cúng chuối, dù trên bàn thờ của gia đình vào ngày Tết, cho rằng như vậy là chúi nhủi, khác với cư dân từ Nha Trang vào đến Xuân Lộc luôn có chuối trên bàn thờ, bất luận dịp nào- Đó là do cách phát âm trong Nam không phân biệt dừa và vừa, xoài và xài, chuối và chúi. Ở đồng bằng Nam Bộ người ta chỉ bày chuối trên bàn thờ Phật. Cũng do sự dễ dãi trong phát âm, không chàng trai gốc ngoài Bắc hay Trung nào, lần đầu tiên khi vào miền Nam (đặc biệt miệt vườn Cửu Long) không hết hồn khi gặp mấy cô gái ruộng tay cầm vòng hái (lưỡi hái) chấp lại kính cẩn chào xin vái thầy hay bị chới với khi cô gái vườn niềm nở mời hôm nào "quởn" ( hưởn), mời anh vô vườn em chơi. Xin nhắc lại là người miền Nam không phân biệt được âm v và âm d, gi .
2/ Tính cường điệu:

Người bình dân miền Nam nói riêng, và cả nước nói chung ít học, nhưng ở miền Nam, người bình dân lại thường ra vẻ "ta đây" hay chứng tỏ mình ngon lành, thích nói chữ như muốn chứng tỏ mình là người hay chữ, đôi khi không trúng trật vào dâu

- Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm
Bủa xua (6) ông Tham biện, chớ bạc tiền ông để ở đâu?
- Cách một khúc sông, kêu bằng cách thủy (?)
Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa (7) ...

Chính vì tính hay phô trương không đúng chỗ, nên chúng ta đừng chờ đợi ở ca dao miền Nam những cách sử dụng đúng từ ngữ, diễn tả đúng cách, đúng chỗ. Cái mà chúng ta thường gặp ở đó là những cách nói vô nghĩa, cốt chỉ có vần, có điệu; nhất là trong các câu hò, chúng ta thấy hình như họ cố ý kéo dài câu hò, nói lan man, cốt để tranh thủ thời gian tìm ý. Họ thường ưa nói quanh co, không đi ngay vào đề tài chính, mà đôi khi lối quanh co này chẳng dính dáng gì đền việc họ muốn nói. Muốn trêu chọc một cô gái, chàng trai nói lan man:
Đầu giồng có bụi chuối
Cuối giồng có cây đa
Ngã ba đường cái có cây tơ hồng
Con gái chưa chồng, cái lòng hực hở,
Con trai chưa vợ, ruột thắt tầm canh
để cuối cùng mới nói :
Ngó lên mây trắng trời xanh,
Ưng đâu cũng vậy, ưng anh cho rồi
hay cô gái muốn từ chối nhẹ nhàng lời tỏ tình của chàng trai vì còn phải lo phụng dưỡng cha mẹ già (không chừng đó chỉ là cái cớ nêu ra để từ chối), cô không nói thẳng vào vấn đề, mà xa xôi bóng gió trước:
Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc
Gió nào độc cho bằng gió Nam Vang
Một tiếng anh than, hai hàng lụy nhỏ
Có chút mẹ già, biết bỏ ai nuôi ?
Ta thấy ngay, tính chất này khác hẳn với cách nói có tính cách khuôn mẫu ở ngoài Bắc, người dân miền Bắc thường nghiêm túc hơn, trữ tình một cách khách sáo hơn, mang ít nhiều tính nghệ thuật hơn, và thường "đi thẳng" vào vấn đề hơn:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay...
hay khen tặng vẻ đẹp của cô gái một cách kín đáo trong:
...Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay,
Đừng rửa lông mày chết cá ao anh
Kiểu nói dông dài này gặp rất thường trong ca dao miền Nam, nơi mà con người thường ồn ào chứng tỏ sự "thông thái" của mình một cách rất dễ dãi, mà cũng rất dễ thương
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ
hay:
Tàu xúp lê một, còn thương còn nhớ
Tàu xúp lê hai, còn đợi còn chờ
Tàu xúp lê ba, tàu ra biển Bắc,
Tay vịn song sắt, nước mắt ròng ròng
Thương em từ thủa mẹ bồng
Bây giờ em lớn, em lấy chồng bỏ anh!
3/ Tính trữ tình

Trữ tình vốn là một thuộc tính của tình nam nữ, cho dù ở phần nào của đất nước, người bình dân diễn tả tình cảm của mình một cách rất nhẹ nhàng, thoải mái. Quả thật, kho tàng văn chương bình dân cho ta vô vàn những câu tỏ tình bóng gió có, lộ liễu có, và rất đậm tình quê hương. Miền Nam cũng không ra khỏi thông lệ đó. Ca dao miền Nam dùng để tỏ tình có nhiều như bất cứ vùng nào của đất nước. Ta có thể đơn cử vài câu:

-Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng Nai,
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài,
Thương người xa xứ lạc loài tới đây.
-Thò tay anh ngắt ngọn ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ

- Mù u bông trắng, lá thắm, nhị (nhụy) vàng,
Anh đi khắp xứ, tới đây mới gặp nàng thiệt dễ thương

- Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh
Thương anh cũng muốn theo anh
Ngặt cha với mẹ không đành thì sao?

Cũng như các phần khác của đất nước, ca dao miền Nam thể hiện rõ nét phong cảnh, sinh hoạt, đồng ruộng màu mỡ, sông rạch của miền Nam. Đời sống tình cảm của người dân cũng trải rộng với thiên nhiên, sông nước:

-Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi
Qua khỏi chỗ này lùm bụi tối tăm.
- Cầu cao ván yếu,
Con ngựa nhỏ xíu nó kiệu tứ linh
Em đi đâu tăm tối một mình
Hay là em có tư tình với ai?

- Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát,
Xuồng câu tôm bơi sát mé nga
Thấy em cha yếu mẹ già
Muốn vô hoạn dưỡng biết là được chăng

-Mười giờ xe lửa nhỏ bỏ chợ Bến Thành,
Xúp lê kia dạo thổi, bộ hành xôn xao.

Đối với những tình cảm nhẹ nhàng khác, tình gia đình chẳng hạn, cách diễn tả ở miền Nam cũng đơn giản và thực tế hơn:

- Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon
- Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

- Sông dài cá lội biệt tăm
Phải duyên chồng vợ, mấy năm cũng chờ

khác hẳn với tính sâu sắc, nên thơ như ở miền Bắc:
Hôm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ...
...Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

hay thâm trầm như ở miền Trung.

Chồng chài, vợ lưới, con câu
Sông Ngô, bể Sở, biết đâu bến bờ?
Khi nên tay kiếm tay cờ
Không nên thì cũng chẳng nhờ cậy ai

Qua ca dao chúng ta có thể tìm thấy nhiều từ rất thông dụng ở miền Nam. Đây là nguồn tài liệu quan trọng cho những ai muốn khảo cứu về ngữ âm miền Nam:

- Nước rong (8) nước chảy tràn đồng
Tơ duyên có đó, chỉ hồng chưa xe
- Nước ròng bỏ bãi xa cừ
Mặt em có thẹo, anh trừ đôi bông
- Bậu nói với qua bậu không hái mận bẻ đào
Chớ mận đâu bậu bọc, đào nào bậu cầm tay.

- Mưa lâm thâm, ướt dầm bông sói
Bậu đi lấy chồng, sao không nói anh hay?

...
4/Tính chớt nhả, cắt cớ:

Tính phóng khoáng trong cuộc sống ở miền Nam thể hiện rất rõ nét trong ca dao miền Nam, tính chất này còn được đẩy xa hơn, trở thành chớt nhả. Hơn đâu hết, chính miền Nam là nơi người ta tìm thấy dễ dàng sự cắt cớ, sống sượng đến độ bất ngờ khiến người trong cuộc (dù có học) chưa chắc thoát ra được. Cô gái đang làm việc dưới ruộng, mình mẩy dầy bùn sình, hỏi chàng trai đang ở trên bờ:

Hai tay em cắm xuống bùn
Mình mẩy lấm hết, chớ anh hun chỗ nào?

chàng trai trả lời tỉnh bơ:

Cầu trời đổ trận mưa rào
Bùn sình trôi hết, chỗ nào anh cũng hun!

Chàng trai, muốn đặt cô gái vào tình trạng khó xử, sống sượng yêu cầu

Đôi mình mới gặp ngày nay
Cho hun một cái em Hai đừng phiền
chàng trai đắc ý, tưởng sẽ nhận được ở cô gái sự e thẹn, hay lời rủa sả hay một cái bộp tai; không dè cô gái không phải tay vừa, đốp chát liền:
Ừ, muốn hun thì hun cho liền
Đừng làm thố lộ xóm giềng cười em
trong trường hợp nếu bạn là chàng trai đó bạn làm sao? không biết bây giờ ai là người bị lúng túng, ở đây chàng trai chẳng những không lúng túng mà còn liều lĩnh sống sượng hơn, lỡ rồi đành tới luôn:
Tui hun mình dẫu có la làng
Thì tui ra đó hai đàng chịu chung
Tui hun mình dẫu có làm hung
Nhơn cùng tắc biến, tui chun xuống sàn (9)
Về tính cắt cớ, muốn đặt đối phương vào trong những tình huống khó tháo gỡ, chúng ta thường gặp trong những câu hò đố. Nếu ở ngoài Bắc những câu hát đố luôn có tính nghiêm trang, có tính "bác học" đến độ chúng ta phải đặt dấu hỏi liệu đó có phải là sản phẩm của lớp bình dân ít học? xin đơn cử:
...Chùa nào mà lại có hang
Ở đâu lắm gỗ thời chàng biết không?
Ai mà xin được túi đồng
Ở đâu lại có con sông ngân hà
Nước nào dệt gấm thêu hoa...
...Chùa Hương Tích mà lại có hang
Trên rừng lắm gỗ thời nàng biết không?
Ông Nguyễn Minh Không xin được túi đồng
Trên trời lại có con sông ngân hà
Nước Tàu dệt gấm thêu hoa...
hay những câu hát đố đẹp và hay như một bài thơ:
Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng
Đố ai quét sạch lá rừng
Để tôi khuyên gió, gió đừng rung cây...
ở miền Trung, chúng ta có câu:
Đố anh con rít mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người (10)
thì ở miền Nam, chúng ta khó tìm thấy những câu hò, câu hát đố có tính trữ tình như thế, nhưng chúng ta lại tim thây khá nhiều những câu có tính buộc thắt, khiến đối phương phải rất nhanh trí để thoát khỏi thế bí, và như chúng ta sẽ thấy, họ "thoát hiểm" rất dễ dàng và gài lại đối phương. Những câu sau đây sưu tập được từ Vĩnh Long (11)

-Thấy anh ăn học có thi
Em đây xin hỏi con chi không đầu
Sao em lại hỏi cơ cầu
Thượng cầm hạ thú, không đầu là con cua
- Thấy anh theo dõi bút nghiên
Em đây xin hỏi, trời nghiêng bên nào
Anh từng đọc sách bên Tàu
Đất nghiêng thì có, trời nào đâu nghiêng

- Thấy anh ăn học lảu thông
Em đây xin đố, khăn lông có mấy đường
Em về đếm hết cỏ vườn
Lại đây anh nói mấy đường khăn lông

- Thấy anh ăn nói có tài
Em đây xin đố cây xoài có mấy bông
Em về đếm cá dưới sông
Lại đây anh nói mấy bông cây xoài.

Những câu trên có cùng một dạng thức, điều đó chứng tỏ có thể từ một người làm ra, nhưng trong một đám cưới ở một vùng nông thôn thuộcVĩnh Long, trong đêm nhóm họ ở nhà cô dâu, chính người viết đã nghe ít nhất có hai câu đố trên, tất nhiên không thấy có câu trả lời thích đáng từ đối phương. Cũng có những câu đố mắc mỏ, không mong gì tìm được câu trả lời xác đáng:

Đố ai kiếm được
Cái vảy con cá trê vàng,
Lá gan con tép bạc
Mấy ngàn em cũng mua.

chỉ còn nước trả lời theo kiểu huề vốn:

Kiếm đâu cho được
Cái vảy con cá trê vàng,
Lá gan con tép bạc
Để nàng chịu mua?
III.Vài cảm nghĩ

Trong những phần trên, chúng ta đã lượt qua một vài đặc sắc của ca dao miền Nam. Trong khuôn khổ của bài báo, người viết không thể trình bày hết những nét đặc thù của ca dao miền Nam nói riêng cũng như những dạng văn chương truyền khẩu khác như hò, vè... nói chung. Điều đáng nói là văn hóa miền Nam chưa có chỗ đứng dúng đắn trong văn học sử của Việt Nam, cũng chưa được đề cập một cách đầy đủ trong chương trình học ngày trước (và cả ngay bây giờ). Chúng ta có thể có nhiều cách giải thích. (1) Có lẽ do người viết chương trình của bộ giáo dục trong những năm đầu chuyển tiếp từ chương trình Pháp sang chương trình Việt (và cả những vị về sau, trong các chương trình cải tổ) không có tài liệu nhiều về văn học trong Nam; hay (2) người viết chương trình không biết gì về văn học trong Nam; hay (3) người viết chương trình cho rằng văn học trong Nam quá nôm na, không có vẻ "bác học"; hay (4) đơn giản hơn hết là văn học trong Nam chưa có đủ chiều dài về thời gian để có chỗ đứng trong văn học sử... Dù vì bất cứ nguyên nhân nào, chúng ta đã không dành một chỗ đứng thích đáng cho văn học trong Nam. Chúng ta đã bỏ quên tính đại chúng trong giáo dục, phần nào, chúng ta đã tự tách rời người có học với quần chúng; và quần chúng này, tuyệt đại đa số là những người có rất ít những liên hệ văn hóa với những phần đã được dạy ở nhà trường. Làm thế nào đại đa số quần chúng ở miền Nam ấy có thể hiểu và thông cảm với những gì mà chính họ, hay con cái của họ đã nhận được từ trường, khi những điều đó không thấy được thể hiện quanh họ? - Mặc dù không thể không nói đến những đóng góp về văn học Việt Nam do những nhà văn, nhà báo tiền phong (mà hầu hết đều xuất thân từ phân nữa trên của đất nước), nhưng sự mất cân đối trong chương trình học đã làm học sinh trở thành xa lạ với môi trường họ đang sống, trở thành vong thân với chính xã hội của họ.

Ngày nay, phần nào văn chương bình dân của miền Nam đã đi vào đời sống qua các bài hát dựa vào các điệu lý, điệu hò. Nếu cách đây ít lâu, ngoại trừ lãnh vực cải lương, cổ nhạc Nam phần, ca sĩ dù người miền Nam, trình bày những bài hát về miền Nam cũng ráng tập phát âm bằng giọng Bắc, càng chuẩn càng tốt, không dám hát bằng giọng Nam sợ bị chê là quê mùa, thì bây giờ nhạc sĩ, ca sĩ (có cả người gốc ngoài Bắc) dùng hẳn giọng Nam để sáng tác, để hát, không có cái "mặc cảm" quê mùa như trước. Thử tưởng tượng Phi Nhung hát bài Lý con Sáo Bạc Liêu (Phan Ni Tấn) bằng giọng Bắc thì nó ra làm sao? Còn những bài khác nữa: Tiếng Hát Chim Đa Đa (Võ Đông Điền), Bài Tình Ca Đất phương Nam (Lư nhất Vũ - Lê Giang), Chiếc Áo Bà Ba (Trần Thiện Thanh), Còn Thương rau đắng mọc sau hè (Bắc Sơn), Điệu Buồn Phương Nam (Vũ Đức Sao Biển)... làm thế nào để ca sĩ diễn tả tính Nam bộ trong các bài hát đó bằng giọng Bắc. Cũng vậy, ngày xưa lúc ban Hợp Ca Thăng Long hát bài Tiếng Sông Cửu Long (trong trường ca Hội Trùng Dương), nghe Thái Thanh ngâm:

Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ngang sông Mỹ, có ngày gặp em
hay thì có hay, nhưng thấy nó vẫn là lạ.
Cũng nhân đây, xin nói thêm về cái thiếu hiểu biết về miền Nam, hay coi nhẹ tinh thần Nam bộ, mà các tác giả về mọi lãnh vực đã không đặt nặng việc sử dụng đúng ngôn ngữ trong Nam cho các công việc của họ. Trong Việt Nam Sử Lược, khi nói về Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh, sử gia Trần Trọng Kim chỉ dùng Nguyễn Hữu Kính, người dân miền Nam không thể nhận ra đó là vị Chưởng Cơ đã có rất nhiều công trong việc xây dựng và bảo vệ phần đất này trong giai đoạn đầu. Cũng vậy, khi Phạm Duy viết đến miền Nam (trong Con Đường Cái Quan) đã dùng:

Giả ơn cái cối cái chày
Đêm khuya giả gạo có mày có tao
Giả ơn cái nhịp cầu ao
Đêm khuya vo gạo, có tao có mày
Không ai có ý kiến gì về lãnh vực âm nhạc mà nhạc sĩ Phạm Duy đã là bậc thầy, nhưng cách dùng chữ, rõ ràng là ông vẫn còn ảnh hưởng miền Bắc nên không dùng đúng những chữ mà người miền Nam đã dùng. Nghe nó ngọng nghịu và làm giảm ít nhiều giá trị đích thực của bài hát. Người miền Nam không ai nói "giả ơn" mà nói "trả ơn" hay "cám ơn". Chúng ta cũng có thể bỏ qua vì cứ xem người "lữ khách" của Phạm Duy chỉ mới vừa vào miền Nam, chưa đổi được thói quen của mình; nhưng "cầu ao" để vo gạo thì không có. Ở miền Nam chỉ có "cầu nước, cầu nhủi", đơn giản vì miền Nam không có ao (trừ ao Bà Om của Người Miên ở Trà Vinh, một địa điểm để du ngoạn, cắm trại), miền Nam chỉ có hồ, đìa, đầm, vũng, giếng...
Chúng ta phải chấp nhận tính đơn giản mộc mạc... của miền Nam như là một đặc thù của văn chương ở vùng đất non trẻ này của đât nước, chúng ta không có mặc cảm gì về sự nôm na, chất phác của lớp người bình dân ấy. Trả lại cho văn chương và văn hóa miền Nam chỗ đứng đúng đắn trong văn học sử là việc nên làm, phải làm. Công việc đó qui mô và cần công sức của nhiều học giả, nhà nghiên cứu, của nhiều người. Bài viết này xin được là một đóng góp nhỏ cho công việc to lớn ấy.

Tài liệu Tham Khảo:

1. Việt Nam Sử Lược (Quyển II) - Trần Trọng Kim -Trung Tâm học Liệu xb 1971

2. Việt Sử Tân Biên (Quyển 3) - Phạm văn Sơn - Cơ sở xuất bản Đại Nam (in lại)

3. Đồng Bằng Sông Cửu Long hay là Văn Minh Miệt Vườn - Sơn Nam - Nhà xuất bản Xuân Thu (in lại)

4. Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam - Sơn Nam - Nhà xuất bản Xuân Thu (in lại)

5. Tiến Trình Văn Nghệ Miền Nam - Nguyễn Q. Thắng - Văn Hiến xb 1994

6. Sưu tầm Ca Dao Đồng Bằng Cửu Long - Tài liệu in roneo, trung học Tống Phước Hiệp - Vĩnh Long.

Chú thich

(1) - Trong toàn bài, những câu in nghiêng, theo thiển ý của người viết,là những câu trong miền Nam.

(2) - Năm 1708, đời Nguyễn Phúc Chu

(3) - Kinh Vĩnh Tế, Kinh Thoại Hà (Kinh Núi Sập) do Thoại Ngọc Hầu đốc xuất dân binh đào.

(4) - Trong chuyện Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) ta thấy còn rất nhiều từ không có ở ngoài Bắc, nhưng lại vẫn còn dùng trên cửa miệng của dân miền Nam như dươn (duyên), làm riết, tu hoài tu huỷ, cho xuê, hây hây, ấm cật, bậu, xinh ghê...

(5) - Tức Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh, cù lao thuộc huyện Chợ Mới - Long Xuyên, An Giang,

(6) - Phiên âm chữ "bonjour" (tiếng Pháp)

(7) - Cũng có chỗ đọc: Cúc mọc dưới sông, kêu bằng cúc thủy

Chợ Sài gòn xa, chợ Mỹ cũng xa...

không biết có loại cúc nào mà mọc dưới sông?

(8) - Nước rong: nước lớn do thủy triều cao, nước từ sông không đổ ra biển được, chảy vào rạch, đồng ruộng; khác với nước ròng do thủy triều thấp, nước từ ruộng chảy ra rạch, sông lớn.

(9) - Một dị bản khác:

Tui ôm, bậu có la làng,
thì tui ôm riết hai đàng xấu chung.
Tui ôm bậu có làm hung,
nói cùng bất quá tui chun xuống sàn
(10) - Câu này nghe được ở vùng Phan Rang Nha Trang. Không biết Cầu Ô ở đâu, nhưng chợ Dinh có thể là chợ Kinh Dinh ở Phan Rang. Cũng có người cắt nghĩa cầu Ô là cầu Ô Thước (trong chuyện Ngưu Lang Chức Nữ), chợ Dinh là chợ tại các Dinh, các Trấn ở miền Nam, nơi dân cư đông đúc.
(11) - Sưu Tầm Ca Dao Đồng Bằng Cửu Long - Tài liệu lưu hành nội bộ, in roneo do Trung Học Tống Phước Hiệp - Vĩnh Long ấn hành
Yeu Ca Dao  
#30 Posted : Thursday, October 22, 2009 9:45:40 PM(UTC)
Yeu Ca Dao

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 25

quote:
Originally posted by haphuonghoai
Dị bản Thúng Xôi Rền
Hà Phương Hoài

......................
Trai gái khi đến tuổi yêu nhau dù thành hay không, ngoài trông nhờ vào người mai mối, trên phương diện tâm linh, ca dao thường nhấn mạnh đến một yếu tố đậm nét đó là Ông Tơ, Bà Nguyệt
..............
Hà Phương Hoài (10-2009)


Yêu Ca Daokhông có khả năng viết bài xin đi cóp của người khác đem lên đây gọi là một chút góp công sức:

Đúng vậy trong kho tàng ca dao có rất nhiều bài nhắc đến Ông Tơ Bà Nguyệt nói chung là Nguyệt Lão . YCD xin đưa lên đây những câu bắt đầu bằng chữ A và B.

Ca Dao về Ông Tơ Bà Nguyệt
Ông Tơ, còn gọi là Nguyệt Lão/Bà Nguyệt: Ông lão tóc và râu bạc phơ ngồi dưới bóng trăng, tức vị thần xe duyên cho những cặp trai gái nào có căn tiền định, người ta gọi là Ông Tơ hay Bà Nguyệt.
Do sự tích ông Vi Cố trong lúc đi ngoạn cảnh vào một đêm trăng, thấy có ông lão tóc bạc phơ ngồi dưới bóng trăng, trước một tòa cổ miếu bên đường, tay ông lão cầm một quyển sổ và mớ chỉ hồng. Thấy lạ, Vi Cố hỏi thì ông lão nói :" Ta đây là Nguyệt Lão, cuốn hôn thư này dùng để ghi tên những đôi trai gái phải lấy nhau và những sợi chỉ hồng này dùng để cột họ lại thành đôi vợ chồng". Nói xong, Nguyệt Lão cho Vi Cố xem, bên trong cuốn sổ có ghi chép rất nhiều tên tuổi của những đôi trai gái, mà họ sẽ được nên duyên chồng vợ với nhau.

Sẵn dịp, Vi Cố nhờ Nguyệt Lão xem giùm căn duyên của mình, thì Nguyệt Lão cho Vi Cố biết rằng, người vợ tương lai của Vi Cố sẽ là đứa con gái của mụ ăn mày trước chợ. Tin vào lời của vị tiên tri, nên Vi Cố sợ bị nhục, bèn lấy dao ra chợ chém vào đầu đứa con gái của mụ ăn mày, làm máu chảy đầm đìa, rồi sau đó Vi Cố trốn đi mất.
Sau này Vi Cố lấy đứa con gái của một vị quan làm vợ. Khi tình cờ thấy trên đầu của người vợ mình có vết thẹo lớn, hỏi ra mới biết nàng đúng là đứa con gái của mụ ăn mày trước chợ đã bị chính Vi Cố chém vào đầu, vì bị bỏ rơi, nên đã được một vị quan mang về nuôi nấng cho đến ngày khôn lớn. (Trích: e-cadao.com)
Anh giai ngõ trạm phải hèn
Phường trên, ngõ dưới biết tên những ngày
Duyên lành chắp mối đấy đây
Tạm Thương cô Choắt một tay chẳng vừa
Sớm cùng phận đẹp duyên ưa
Ông Tơ bà Nguyệt dắt đưa nên gần.
Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29246 )

Ở đây lắm kẻ gièm pha
Nói vào thì ít nói ra thì nhiều!
Thương anh thương đủ mọi điều
Gió quanh em sẽ liệu chiều em che
Ai nói chi chàng chớ có nghe
Ông Tơ bà Nguyệt đã xe ta rồi
Dù ai khuyên đứng dỗ ngồi
Thì chàng cũng cứ đãi bôi qua lần.
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5397 )

Ai làm anh phải xa em,
Cho cây xa cội, cho đêm xa ngày.
Đêm với ngày, anh quay chỉ thắm,
Sợi thẳng, sợi đùn (chùng) nghĩ mà giận ông tơ.
Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 26378 )

Ai về Bà điểm Hốc Môn
Hỏi thăm người ấy có còn hay không
Để tôi kiếm sợi chỉ hồng
Nhờ ông Tơ bà Nguyệt kết vợ chồng đôi ta
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 133 )

Anh nghĩ rằng em có chồng rồi
Sao em chửa có đứng ngồi vân vi
Ới thầy mẹ ơi, cấm đoán em chi
Mười lăm, mười sáu sao chưa cho đi lấy chồng ?
Ới ông Trời ơi, sao ông ở bất (không) công
Duyên em đã lỡ, em trách ông Tơ hồng sao khéo trêu
Cứ đêm đêm tôi nằm tôi vuốt bụng, tôi gọi Trời
Xin ông thí bỏ cho tôi chút chồng
Tôi về làm lễ tế ông
Mổ con bò béo, ông cho tôi lấy anh chồng cho nó to
Bõ công tôi đi thuê chú lái mổ bò…
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 470 )

Ai xinh thì mặc ai xinh
Ông Tơ chỉ quyết xe mình với ta
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 176 )

Bắc thang lên đến tận (lên hỏi)
Trời Bắt ông Nguyệt Lão đánh mười cẳng tay
Đánh rồi lại trói vào cây
Hỏi ông Nguyệt lão: đâu dây tơ hồng ?
Nào dây xe bắc xe đông
Nào dây xe vợ, xe chồng người ta
Ông vụng xe tôi lấy phải vợ già
Tôi thì đốt cửa, đốt nhà ông đi
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 694 )

Anh với em gá nghĩa cang thường,
Nhờ ông tơ bà nguyệt chỉ đường xuống lên.
Xuất xứ: - Miền Nam, Sóc Trăng (Câu số 33373 )

Bắt ông Tơ đánh ba hèo Duyên người xe cả,
Phận em đói nghèo không xe
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 802 )

Bắt ông Tơ đánh sơ ít chục
Mối chỉ sậm sờ, ông ngủ gục không xe
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 803 )

Bắt ông Tơ đánh sơ vài chục
Căn nợ làm gì ngủ gục không xe
Xuất xứ: - Miền Nam, Châu Đốc (Câu số 28722 )

Bắt ông tơ đánh sơ vài chục,
Bắt bà nguyệt nếm mấy mươi hèo,
Người ta năm bảy vợ theo
Còn tôi đơn chiếc như mèo cụt đuôi!
Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 26474 )

Bắt ông Tơ mà bơ mà bớp
Bắt lấy bà Nguyệt mà cột gốc cau
Cứ xe thiên hạ đâu đâu
Bỏ hai đứa mình lựng đựng, ruột héo gan rầu thảm không
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 804 )

Bắt ông Tơ mà cho ba đấm
Bắt bà nguyệt đánh bốn mươi hèo
Duyên người ta xe buổi sớm,
Duyên em buổi chiều mới xe
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 805 )

Bực mình lên tận thiên cung
Đem ông Nguyệt Lão xuống hỏi thăm vài lời
Nỡ lòng trêu ghẹo chi tôi,
Lênh đênh bèo nổi mây trôi một thì.
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 1021 )

Bớ bạn tình nhân ơi! (2)
Thân em như cái quả xoài trên cây
Gió Đông gió Tây gió Nam gió Bắc
Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành
Một mai vô tình rụng xuống, biết vào tay ai?
Kìa khóm trúc nọ khóm mai
Ông tơ bà nguyệt se hoài chẳng thương
Một lần chờ hai lần đợi
Ba lần nhớ bốn lần thương
Anh thương em nhưng ba mẹ họ hàng chẳng thương.
Xuất xứ: - Miền Nam, Châu Đốc (Câu số 28330 )

Bớ thảm ơi! Bớ thiết ơi!
Bớ bạn nhân tình ơi !
Thân em như cái quả xoài trên cây,
Gió đông gió tây gió nam gió bắc
Gió đánh lúc la lúc lắc trên cành !
Một mai rụng xuống biết vào tay ai ?
Kìa cành trúc, nọ cành mai
Ông Tơ bà Nguyệt xe hoài chẳng thương !
Một lần chờ, Hai lần đợi, Sớm lần nhớ, Trưa lần thương
Anh thương em nhưng bác mẹ họ hàng chẳng thương !
Xuất xứ: - Miền Nam (Câu số 29808 )

Bởi ai cho thiếp xa chàng
Bởi ông Nguyệt Lão nhỡ nhàng xe dây
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 960 )

Ba năm chẳng xứng duyên hài
Nằm lăn xuống bệ lạy dài ông Tơ
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 666 )

Buồn hư rồi lại buồn hao
Liều mình tự ải ra nhào biển Đông
Sống làm cho cho vợ khổng gặp chồng
Kẻ ăn lê lựu người mong đợi chờ
Ngồi buồn trách nỗi ông Tơ
Thác theo trăng gió một giờ cho nguôi Xuất xứ: - Miền Trung, Khánh Hòa, Phú Yên (Câu số 38888 )

(Còn nữa)

YCD trích từ http://e-cadao.com/cadaosearch.asp


hongvulannhi  
#31 Posted : Friday, October 23, 2009 4:02:26 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,100

Thanks: 1130 times
Was thanked: 2952 time(s) in 1833 post(s)
CA-DAO VIỆT-NAM, VĂN-HÓA NHÂN-BẢN

"Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao."

Đạo-lý Việt-Nam, gọi là Việt Đạo, được truyền tụng từ thời thái-cổ đến nay bằng ca-dao, tục-ngữ và Kinh-Việt với những truyện dân-gian mà người ta còn gọi là Sử-thi hay Sử-ngôn. Ngày nay, muốn hiểu cho tường-tận những ca-dao tục ngữ đó, ta cần suy-luận theo người thái-cổ với những âm điệu và ngôn-ngữ xưa nay kèm những hình tượng xưa. Một trong những hình-tượng xưa nhất nằm trong Kinh-Dịch, nói cho chính xác là Việt-Dịch.

[Việt Dịch với biểu tượng Âm Dương như sau:

* 1 khuyên-tròn, nằm trên trục thẳng đứng, là Dương --------> O

* 2 khuyên-tròn, đối-xứng qua trục-Dương, là Âm --------> -------0--------0---

Trễ hơn về sau, người Hán Mông (vốn là dân du-mục) đánh chiếm lấy "Trung-Nguyên"(là lãnh thổ vùng Động Đình Hồ và phía nam sông Dương-Tử sau này) rồi nhận vơ độc quyền nền văn-minh Dịch-Lý Nông-Nghiệp của Tộc Bách-Việt (Chinese Mithology of Anthony Christie/ Library of the World’s Myths and Legends, page 5; họ cũng đã thiêu hủy Liên-Sơn Dịch và Quy-Tàng Dịch thuộc thời Hạ, Thương, Ân (các nhà Dịch Học như Thiệu Vĩ Hoa/dòng dõi Thiệu Khang Tiết; Lê Văn Quán . . . đều cho biết hiện những sách này không còn) sau khi đã đúc kết lại và sửa đổi biểu tượng Âm Dương thành "vạch-liền" và "vạch-đứt" (trong khi vẫn dựa trên Hà-Đồ và Lạc-Thư với những "nút kết-thằng", tác-phẩm của Nòi Việt () rồi gọi là Chu-Dịch (mà đành phải bỏ quên trục không-gian; mặc dầu như về cách cấu-tạo chữ viết, người Trung-Hoa luôn nói đến "ngang bằng, sổ ngay" như một câu thiệu nằm lòng. Sự thực là vì do "tiến-bộ" của dụng-cụ dùng để viết, họ không thể khoanh tròn nhỏ được nữa; vả lại khi điểm các chấm rời liền nhau thì chúng lại bị nối liền với nhau / Chinese Character by Dr. L. Wieger and Davrout)].

Muốn giải thích cho rốt ráo những Sử-ngôn xưa, ta không thể dùng biểu-hiệu Âm Dương của Chu Dịch sinh sau đẻ mụôn được, mà phải xử-dụng đến ký-hiệu Âm Dương là những "khuyên tròn"(đã xuất-hiện rất sớm trên Hà-Đồ và Lạc-Thư, và trên trống-Đồng Lạc-Việt về sau) của Việt Dịch (đầu tiên chỉ là những "chấm" tạo-hình, trên 2 lần 9 ô vuông của 2 Đồng-Bánh-Chưng-lớn 4 lạt kết lại, để hoàn-tất 36 quân Trò-chơi KIANO công-bố năm 1993) như trong trường-hợp câu ca-dao:

"Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao."

Trong câu ca-dao này, NON và NÚI là tiếng Việt, chúng có cùng nghĩa nhưng chữ thì khác; chữ Nôm gọi là SƠN, chữ Hán gọi là CẤN. Theo Việt Dịch:
* CÂY được khoác Tượng LÔI (Chấn) có hình như 1 gốc mọc lên 2 cành, hoặc hình 2 luồng điện xẹt nhau gây ra
* NÚI NON được khoác Tượng SƠN (Cấn) như hình ngôi nhà hay hang động, lànơi Người trú ngụ vào thời tiền-sử.

Xem thế, ta thấy 2 hình của LÔI và SƠN là hình lật úp (quay 180 độ) của nhau theo trục dọc: Một đằng giống hình cái bát úp xấp, một đằng giống hình cái bát lật ngửa. Cũng chính vì vậy, Tổ-Tiên ta đã để hai hình đó kề nhau mà ví von, mà so-sánh vì khi lật ngược lên thì "CÂY chẳng khác gì NÚI" (nhưng Chấn và Cấn lại là 2 hình nghịch nhau). Đây mới chính là cái thú-vị của Việt Dịch trong văn-chương chữ nghĩa.

[Chúng tôi xin mở ngoặc ở đây để nói rằng, một khi nhìn Tượng LÔI / SƠN qua Việt Dịch như nói trên, chúng ta nhận ra rõ ràng đó là hình vẽ "cái chầy" để giã; trong khi đáng buồn cho các tác-giả người Đức và Mỹ, họ đã không dám vẽ "cái chầy / PESTLE” để dãn-chứng kèm với quẻ Tượng TIỂU QUÁ theo Chu Dịch trong đề mục “History of Civilization” (đương nhiên là viết theo lời các Đại Dịch-Sư người Hán)/ Sách The I CHING or Book of Changes của Wilhelm/Baynes, Princeton University Press , seventh printing 1971, trang 334].

Hình ảnh đối chứng của CÂY và NÚI cũng đã được các nhà Dịch-Học, tiền bối của chúng ta xử-dụng trong bài thơ sau đây:

Bắc Nam đâu cũng một non sông,

Đi, ở can chi phải bận lòng. - - 0 - - - - - 0- -

Vận nước hãy còn đang Kiển, Bĩ, - - 0 - - - - - 0 - -

Làm trai chi sá ngại lao-lung. O

Gió mưa mấy độ cây không chuyển, O

Sấm sét nhiều phen núi chẳng rung. - -0- - - - - -0- -

Việc trải qua rồi, rồi mới biết, - -0- - - - - -0- -

Non sông muốn thử khách anh-hùng.

Bài thơ này do cụ Phan-Chu-Trinh làm (năm 1908, khí các cụ Võ Hữu Kiên, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tiểu La và Phan Chu Trinh đang cùng mgồi tù ở nhà lao Quảng-Nam, thì các cụ Huỳnh, cụ Phan, cụ Nguyễn phải lên đường trước vì bị đầy đi tù chung-thân tại Côn-Đảo) để nói lên tâm-sự của kẻ ở người đi. Trong bài, “gió mưa”, “sấm sét” được ví với những tra-tấn, khủng-bố của thực-dân Pháp và tay-sai; còn "cây" và "núi" được ví như chí-khí của các Cụ với một lòng vì Nước thương Nòi, không thể bị lay chuyển.

Trong ca-dao và thơ, CÂY và NÚI được đối nhau về bằng trắc đã đành, 2 Tượng của chúng còn đối nhau chan chát vì chúng là hình lật ngửa của nhau nữa (một đằng là “bát úp”, một đằng là "bát ngửa"), mà chúng ta đã thấy rõ qua biểu-tượng bằng Việt Dịch như ở trên.

Ta hiểu và thấy rõ ràng NÚI có khối chóp đặc 3 chiều; về CÂY thì khi nhìn phần phía ngọn, ta cũng thấy có hình NÚI, vậy thì làm gì có “đối” thật sự! Tiền nhân đã muốn ta nhìn thấy "đối qua Dịch Tượng".

Thường khi nói đến “cây” là người ta muốn nói đến chiều cao (bởi vì nói đến cây là nói đến “trèo", "trèo cao té nặng" v.v.) Đơn-giản-hóa đi, cây được vẽ bằng 1 đoạn thẳng đứng, có cành và tàn lá như chóp núi (cây thông là loại cây chịu rét rất giỏi là một thí-dụ) (h..

Để suy bì với NÚI, Tổ-Tiên ta đã nghĩ đến chuyện chụm ngọn 3 cây lại với nhau

(ngọn giao nhau và gốc choãi ra ở 3 hướng) hầu tạo được một hình khối tam-giác 3 chiều rất khó bị lật chuyển, tương-tự như núi (h.2).

Khi so sánh CÂY với NÚI thì đúng là các Cụ đứng ở gần cây, và núi thì ở xa xa, hướng sau cây. Cây gần hơn nên ta thấy cây cao hơn núi, lớn hơn núi (chẳng khác nào khi ta đưa ngón tay chỉ mặt-trăng, di chuyển ngón tay càng gần mắt hơn thì có lúc thấy "ngón tay ta lớn hơn mặt Trăng vậy" vậy. Phải nói là phương-pháp nhận-xét tỉ-giảo của Tổ-Tiên ta vào thời xua cũng đã tinh-tế lắm! mà vì chưa có chữ viết nên chỉ truyền-khẩu lại.

Nhìn hình 2 và 3 ta thấy: Khi để 3 cây chụm lại với nhau, ta tạo được môt hình trái núi. Lúc cây ở gần, núi ở xa thì núi chẳng khác nào như một "hòn"(hòn non bộ) mà thôi. Chắc hẳn thời-gian xuất-hiện câu ca-dao này là thời-gian Tổ-Tiên ta biết dùng Tượng của Việt Dịch, và vào lúc đó mới chỉ có Việt Dịch thôi (Thời-gian hoàn-thành Việt Dịch phải là thời-gian ngay sau khi 2 bảng Hà-Đồ và Lạc-Thư xuất-hiện, với những chấm-tròn đen và trắng). Hồi đó các Ngài sống ở vùng Trung-nguyên nông-nghiệp, chỉ có đồi mà không có núi, khong như dân du-mục Hán Mông sống trên vùng cao-nguyên có núi cao và chuyên nghề săn bắn. Phải chăng câu ca-dao là một bài học đơn-giản nhưng chính yếu, nói lên nét giáo-dục từ thời Hùng-Vương dựng nước; cũng là sự chống-đối giữa văn-minh nông-nghiệp và nhóm người sống bằng du-mục săn bắn.

Thực sự khi truyền-tụng câu ca-dao này, Tổ-Tiên ta muốn nói nhiều về nghĩa bóng của nó, chẳng khác nào câu hát "Đèo cao thì mặc đèo cao, lòng ta quyết-chí còn cao hơn đèo!" hoặc "Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông!"v . v . Hầu hết là những câu ca-dao tục-ngữ nhằm đề cao những giá-trị Nhân-Bản Việt Nam, đầy tính giáo-dục cao-cả, nhắc-nhở con cháu đoàn-kết vượt khó-khăn. Ba cây “chụm” lại mới có hình quả núi , chớ 3 cây nối lại thì tuyệt-nhiên không phải. Ba cây chụm lại là một biểu-tượng "vững như núi", nhất là khi 3 ngọn cây lại được cột lại với nhau. Ta còn thấy 3 cây chụm lại (cây dễ kiếm và rẻ tiền nhất là cây tre) như giàn treo gầu sòng, tát nước từ vũng thấp lên ruộng cao ở những miền quê thuộc Văn-Lang Bách-Việt xưa.

Chỉ với Tượng của Việt Dịch, chúng ta mới tìm thấy những hình ảnh đích-thực diễn-tả được đầy-đủ lý nghĩa của Văn-Hóa Dân-Tộc. Thế mới biết, muốn hiểu rõ di-sản Văn-Hóa của Tổ-Tiên mà ta từng nghe nói "năm ngàn năm văn-hiến”, ít nhất chúng ta phải có tấm-lòng Việt và tâm-tư Việt trước đã; Tâm-tư Việt dầy đặc trong Việt Dịch và Việt Đạo. Không như những kẻ “cá-nhân chủ nghĩa”, may mắn được sống tạm ổn để “nuôi thân” (làm nô-tài) là đã vội thỏa-mãn, không biết rằng đa số đồng-bào ta vẫn còn bị khinh chê (mà ngay mình cũng vậy) nên ta vẫn rất cần quảng-bá Văn-Hóa Việt Nam với các cộng-đồng bạn để cùng tôn-trọng nhau. Khi người Việt-Nam được tôn-trọng chung như vậy, sự làm việc của chúng ta mới được chú-ý và do đó dễ đem lại hiệu-quả hơn. Lại có kẻ, vì cá-nhân mình tạm thất-bại, đã bất-mãn với tiền-nhân, để buông lời rẻ rúng những biểu-tượng văn-hóa cố-hữu, như Chùa-Một-Cột chẳng hạn; có kẻ viết "Không thể cứu dù có là Thánh. . . ." (lại nêu hẳn tên riêng ra), mới đáng trách. Kẻ khác, tự nhận mình là "văn sĩ”, lại trắng trợn sủa đổi cả những sự-tích thần-kỳ làm nên lịch-sử hào-hùng của Dân-Tộc; họ đã không hiểu nổi Gậy-Thần 9 đốt có 2 đầu Sinh Tử (một bộ mặt mới của “cửu cung bát-quái” mà có lẽ họ quen thấy nhưng không nhận ra được) lại bịa ra là Gậy-Thần 3 đốt .v .v . Thậm-chí có ngừơi, đã không hiểu nổi những nhân-thoại trong Cổ-Sử lại dám đề-nghị lấy Việt-lịch từ khi có Thành Cổ-Loa thôi; họ không hiểu gì về ẩn-dụ "Thần Kim Qui" cả. Để đến nỗi có kẻ muối mặt viết “Tổ-Quốc Ăn-năn”; họ chẳng hiểu gì hai chữ Tổ-Quốc, họ cho rằng là L’état (tiếng Pháp) hay Government (tiếng Mỹ) chăng? ( Chỉ những “Đại Trượng Phu” mới biết coi nhẹ mình, mở lối cho đại khối đồng-bào, đại đa-số trầm lặng nơi đáy-tầng Dân-Tộc vẫn bị thế-giới hiểu lầm. Có những nước cho rằng dân ta là dân Tầu, nước ta là một quận huyện của Tầu, Văn-hóa ta là vay mượn của Tầu .v . v . Những dân-tộc khác đó đâu biết rằng chỉ duy-nhất dân Việt ta thờ cúng Tổ-Tiên bằng Đồng Bánh-Chưng-lớn buộc bằng 4 lạt, (9 ô vuông/ Magic Square 3) và Cây Mía (dựng cạnh bàn-thờ) tượng-trưng Gậy-Thần 9 đốt (mà người bình-dân, ngay cả tại Bùi-Chu Phát-Diệm tỉnh Nam-Định, thường gọi là "Gậy Ông-Vải").

Để tạm kết-thúc, chúng tôi xin nhắc lời của một nhà giáo-dục, cũng là nhà nghiên-cứu Trống-Đồng Lạc-Việt, Giáo-Sư Tiến-Sĩ Dương–Thiệu-Tống: "Hãy nên có một tâm-tư Việt khi nói về Văn-Hóa Việt", bởi vì Văn-Hóa Việt là Văn-Hóa Nhân-Bản.

Nguyên-Thái Nguyễn Văn-Thắng
Who’s Who of American Inventors
Viện KIANO Văn-Hóa Việt
3/ 1998, Việt lịch 4877

( Vài điều cập-nhật-hóa vào năm 2001.
trích từ http://e-cadao.com/cadaosearch.asp
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



Hà Phương Hoài  
#32 Posted : Friday, October 23, 2009 7:27:02 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,207
Location: ÚA

Thanks: 73 times
Was thanked: 52 time(s) in 35 post(s)

Hôm trước tôi có đưa bài ca dao: "Em tưởng nước giếng sâu
Em nối sợi gầu dài
Ai ngờ nước giếng cạn Em tiếc hoài sợi dây..."


Hôm nay xin cống hiến quý vị một bài "Tréo cẳng ngổng":
Tưởng giếng sâu qua nối sợ dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô.


qua bài Tiểu Luận của HỒ TĨNH TÂM (Vĩnh Long):
VỀ MỘT BÀI CA DAO NAM BỘ

Xưa nay ta vẫn quen với câu: "Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài", nay bỗng nhiên lại được nghe một câu hết sức "trái khoáy" ("Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt"). Lối nhập đề ngay từ đầu đã gây được sự chú ý, bởi vì nó quá lạ tai. Ngộ thật! Dây cụt thì làm sao mà đo được giếng sâu?
Tưởng giếng sâu qua nối sợ dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô.


Bài ca dao này tôi được biết do nhà văn Lê Đình Bích đọc cho nghe.
Về phần Lê Đình Bích, anh nói rằng anh sưu tầm được từ một lão nông ở Bạc Liêu. Mới nghe xong tôi đã thích liền. Rõ là một bài ca dao ngồ ngộ, được thể hiện như là một truyện ngắn cực ngắn. Nhân vật là một chàng trai (có thể lắm), có tính cách cũng rất ngồ ngộ.
Xưa nay ta vẫn quen với câu: "Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài", nay bỗng nhiên lại được nghe một câu hết sức "trái khoáy" ("Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt"). Lối nhập đề ngay từ đầu đã gây được sự chú ý, bởi vì nó quá lạ tai. Ngộ thật! Dây cụt thì làm sao mà đo được giếng sâu? Rõ là có sự cố ý tinh nghịch gì đây. Mà cũng có thể là anh chàng đã biết, bởi vậy chàng mới bày đặt ra cách nói ngộ kỳ đời (dây cụt mà còn hụt thì giếng ấy là giếng gì?).

Tiếp tục lung khởi nội dung, câu hai viết tiếp: "Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây". Đương nhiên quá đi rồi còn gì. Đã là dây cụt thì còn nhằm nhò gì mà đo với chẳng đo. Nó khác hẳn với câu ta đã biết: "Ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây". So sánh hai câu này với nhau, ta lại thấy lấp lánh cái ngồ ngộ rất cố tình của lối kể, lối dẫn chuyện.
Sang tới câu ba thì cốt truyện bộc lộ đã quá rõ. "Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy", câu này đã dẫn ra thêm một nhân vật nữa. Cái cô Hai nào đó chắc cũng phải có nét gì đó ngồ ngộ mới khiến nhân vật chính của chúng ta bộc lộ quyết tâm làm vậy. Câu chuyển này thực ra không chuyển hẳn về ý nhưng rõ ràng nó vẫn tạo ra sức chuyển rất mạnh cho bài ca dao, giúp ta thấy ràng ràng tính cách "ăn sóng nói gió" của một anh chàng hạ bạc lặn lội đường xa đến tìm gặp người đẹp và quyết "yêu" cho bằng được người đẹp.

Câu thứ tư dùng kết thúc câu chuyện cũng hết sức bất ngờ. Câu này phải đọc ngắt ra làm hai mới thấm hết cái độc đáo, cái thần khí đầy sắc sảo của bài ca dao. "Qua chèo ghe ra biển/ đợi nước đầy qua chèo vô". Ở trên là câu thề độc, cho nên đọc vế đầu của câu dưới, hẳn sẽ khiến ta liên tưởng tới cái chết, cái kết cục bi thương của một cuộc tình đơn phương bốc lửa. Không yêu được "cô Hai mầy" thì qua chèo ghe ra biển qua ùm xuống chết cho "cô Hai mầy" coi. Ấy vậy mà không!.. Ngu gì qua chết lãng òm cơ chứ! "Đợi nước đầy qua chèo vô". Lối kết thúc này xui tôi nhớ một bài Tanka Nhật Bản:
Sông Hô Nô Xê nước rất nông
Lội ra giữa dòng vẫn không ướt váy
Hỏi một người cũng nông như vậy Làm sao tôi có thể yêu sâu?


Cái cô Hai nào đó trong bài ca dao của chúng ta có "nông" không nhỉ? Anh chàng kể chuyện cho chúng ta nghe, hẳn đã nếm mùi kiểu như "con cáo với chùm nho" của La Phông Ten rồi là cái chắc. Dùng dây cụt thì không làm sao đo được giếng mà biết sâu hay cạn. Cứ theo cốt truyện mà suy, thì nhân vật của chúng ta hẳn đã bị hạ đo ván tới thấm mùi, nên mới biến được chuyện riêng của mình thành một truyện cực ngắn, hay tới mức độc đáo làm vậy.
Ở Nam Bộ có một câu rất hay: "Nói vậy mà không phải vậy". Bài ca dao là một câu chuyện thuộc loại "nói vậy mà không phải vậy". Hệ thống ngôn ngữ dùng kể chuyện rất thống nhất, bố cục chặt chẽ, kết cấu bất ngờ, cho ta thấy rõ một bản lĩnh sáng tạo văn bản rất tài hoa. Mới nghe, ta tưởng như nhân vật trong bài ca dao chỉ kể chuyện để giỡn chơi tưng tửng cho vui lúc trà dư tửu hậu, nhưng càng đọc ta càng thấy lấp lánh một khía cạnh rất thật trong đời: với tình yêu thì không thể đùa giỡn được. Đùa giỡn thì không thể thành tình yêu, nhưng lỡ không thành được tình yêu thì cũng phải vui lên mà sống chứ. Vậy là thoắt một cái, anh chàng phải lòng cái cô Hai đa tình nào đó, bỗng trở nên sâu sắc lạ đời.
Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tớ đây mà không cưới được cô Hai mầy Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô.


HỒ TĨNH TÂM (Vĩnh Long)
langthang09  
#33 Posted : Friday, October 23, 2009 7:21:10 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,979

Thanks: 849 times
Was thanked: 1045 time(s) in 468 post(s)

Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa.
Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than

***

Ngày ngày em đứng em trông
Trông non non ngất trông sông sông dài.
Trông mây mây kéo ngang trời
Trông trăng trăng khuyết trông người người xa.

***

Một đàn cò trắng bay quanh
Cho loan nhớ phượng, cho mình nhớ ta.
Mình nhớ ta như cà nhớ muối
Ta nhớ mình như Cuội nhớ trăng.
Mình về mình nhớ ta chăng ?
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
Yeu Ca Dao  
#34 Posted : Friday, October 23, 2009 10:23:41 PM(UTC)
Yeu Ca Dao

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 25


YCD xin tiếp thêm Ca Dao Ông Tơ Bà Nguyệt từ C-E

Căn duyên ai đã phá rồi
Ông Tơ ông buộc ông Trời biểu không
Phải gặp ông Tơ hỏi sơ cho biết
Gặp bà Nguyệt gạn thiệt cho rành
Vì đâu hoa nọ lìa cành
Nợ duyên sớm hết cho đành dạ con
* Có bản khác: Căn duyên ai phá cho rồi
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 19859 )

Căn duyên này phá cho rồi,
Ông tơ biểu buộc, ông trời biểu không,
Phải gặp ông tơ hỏi sơ cho biết,
Gặp bà nguyệt hỏi thiệt cho rành,
Vì đâu hoa nọ lìa cành,
Nợ duyên sớm dứt, cho đành dạ em.
Xuất xứ: - Miền Nam, Kiên Giang (Câu số 33856 )

Chỉ tơ tàu nhuộm màu cánh kiến,
Đôi ta xui khiến vì bởi ông tơ,
Anh thương em, nay đợi mai chờ,
Không thương, ai ở dật dờ chi đây.
Xuất xứ: - Miền Nam, Đồng Tháp (Câu số 34073 )

Cẳng bước tới sum vầy hai họ
Tai nghe anh có vợ rồi, cẳng nọ em thối lui
Em không trách ông Tơ
Không phiền bà Nguyệt
Trách phận mình sao thiệt long đong
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 19850 )

Chăn đơn nửa đắp (gối chiếc) nửa hòng
Cạn sông lở núi ta đừng quên nhau
Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn xôi đỏ dạ sầu đăm chiêu
Biết rằng thuốc dấu hay bùa yêu
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa
Làm cho quên mẹ quên cha
Làm cho quên cửa quên nhà
Làm cho quên cả đường ra lối vào
Làm cho quên cá dưới ao
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời
Đất Bụt mà ném chim trời
Ông Tơ Bà Nguyệt xe dây nhợ nửa vời ra đâu
Cho nên cá chẳng bén câu
Lược chẳng bén dầu, chỉ chẳng bén kim
Thương nhau nên phải đi tìm
Nhớ nhau một lúc như chim lạc đàn
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 19867 )

Chợ Sài Gòn còn đương buôn bán,(*)
Chợ Vĩnh Long lập quán cầu hiền,
Gặp ông tơ, lột nón xá liền,
Biểu chỉ giùm chỗ khác, chỗ có chồng rồi sao ổng lại xe.
* Dị bản: Chợ Sài Gòn ham mua, ham bán
Xuất xứ: - Miền Nam, Vĩnh Long (Câu số 34274 )

Chợ Sài Gòn nằm chơi nghỉ khỏe,
Cầu Thầy Sãi gió mát lạnh sương,
Biểu ông tơ se sợi chỉ hường,
Cột tay em lại mà dẫn đường xuống lên.
Xuất xứ: - Miền Nam, (Câu số 34276 )

Chiều nay tôi lên ông tham biện,
Tôi kiện căn, kiện nợ, kiện vợ, kiện chồng,
Tôi kiện ông tơ hồng, tôi kiện bà nguyệt lão,
Se dây rồi sao tháo lộn trở ra.
Xuất xứ: - Miền Nam, Cần Thơ, (Câu số 34171 )

Có đêm ra đứng đàng tây
Trông lên lại thấy bóng mây tà ta
Có đêm ra đứng vườn hoa
Trông lên lại thấy sao tà xanh xanh
Có đêm thơ thẩn một mình
Ở đây thức đã năm canh rõ ràng
Có đêm tạc đá ghi vàng
Ngày nào em chả nhớ chàng chàng ơi
Thương chàng thương lắm chàng ơi
Miệng nhớ chàng nói, nhớ lời chàng than
Nhớ chàng như nhớ lạng vàng
Khát khao vì nết mơ màng vì duyên
Nhớ chàng như bút nhớ nghiêng
Như mực nhớ giấy như thuyền nhớ sông
Nhớ chàng như vợ nhớ chồng
Như chim nhớ tổ như rồng nhớ mây
Nhớ chàng ra ngẩn vào ngây
Sư ông nhớ Bụt mõ rày nhớ chuông
Nhớ chàng vì nợ vì duyên
Vì ông Tơ Nguyệt đã khuyên lấy chàng
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 19868 )

Con chim manh manh nhảy quanh bụi ớt, rớt xuống bụi riềng
Thương sao thấy mặt thương liền
Cũng như ông tơ bà nguyệt nối duyên mình thuở xưa
Xuất xứ: - Miền Nam, Châu Đốc (Câu số 28385 )

Công anh dò theo vực thẳm, bãi lầy
Kết duyên không đặng, kén hoài ông tơ.
Xuất xứ: - Miền Nam, Đồng Tháp (Câu số 32079 )

Đầu làng có con chim xanh (2)
Ăn no tắm mát đậu cành dâu gia
Đường về bên ấy bao xa
Mượn mình làm mối cho ta một người
Một người mười tám đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình.
Ai xinh thì mặc ai xinh Ông tơ chỉ quyết xe mình với ta
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 2220 )

Đất bụt mà ném chim trời (2)
Ông Tơ Bà Nguyệt xe giây nhợ nửa vời ra đâu
Cho nên cá chẳng bén câu
Lược chẳng bén đầu, chỉ chẳng bén kim
Thương nhau nên phải đi tìm
Nhớ nhau từng lúc như chim lạc đàn
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 12482 )

Đu đủ bên Tàu trong xanh ngoài trắng,
Đu đủ nước Nam trong trắng ngoài xanh,
Chừng nào Ngã Bảy xây thành,
Vái ông tơ năm ba chầu hát,
Ba Rinh thời xe lửa chạy anh mới đành bỏ em.
Xuất xứ: - Miền Nam, (Câu số 35092 )

Em đi hái dâu lá dâu xanh xanh
Nuôi tằm dệt áo dâng anh chờ ngày
Trúc mai có đó có đây
Có tay Nguyệt Lão buộc dây tơ hồng
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 2650 )

Em đang giấc mộng hoàng lương
Ông Tơ Hồng thức dậy có khách văn chương tới nhà
* Hoàng Lương: Giấc mộng kê vàng - Tích Lữ đời Đương đến quán trọ chờ chủ quán nấu cháo kê nằm ngủ thiếp thấy mình đỗ dạt, có vợ sinh con và làm quan ở Nam Kha, khi tỉnh dậy nồi kê vẫn chưa chín. Ngụ ý: đời người ngắn ngủi như một giấc mơ.
Xuất xứ: - Miền Trung, Nghệ An (Câu số 31575 )

Em vái ông tơ vài ve rượu thiệt,
Cầu bà nguyệt năm bảy con gà,
Xui cho đôi lứa hiệp hòa,
Sau em trả lễ đặng mà đáp ơn.
Xuất xứ: - Miền Nam, (Câu số 35293 )

Trích từ http://e-cadao.com/cadaomain.asp

ycd
hongvulannhi  
#35 Posted : Saturday, October 24, 2009 2:09:05 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,100

Thanks: 1130 times
Was thanked: 2952 time(s) in 1833 post(s)
Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



langthang09  
#36 Posted : Saturday, October 24, 2009 4:16:04 AM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,979

Thanks: 849 times
Was thanked: 1045 time(s) in 468 post(s)

Dò sông dò bể dễ dò,
Nào ai lấy thước mà đo lòng người.
Lòng người thăm thẳm mù khơi,
Không bờ, không bến biết đâu mà dò
Đường không đi sao biết
Chuông không đánh sao kêu

***

Đã sinh ra kiếp hay chơi,
Thì trời lại đọa vào nơi không tiền.

***

Đấng trượng phu đừng thủ mới đáng,
Đấng anh hùng đừng oán mới hay
Yeu Ca Dao  
#37 Posted : Saturday, October 24, 2009 5:03:49 AM(UTC)
Yeu Ca Dao

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 25

quote:
Originally posted by hongvulannhi
Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.






Hôm YCD có đọc một bài của Lan Nhi trên "Lá Thư Màu Tím" với tâm trạng hồn nhiên là mấy chi em ra bờ ao để vui đùa và bắt ốc luộc ăn, dù rằng rất sợ đỉa. Hôm nay Lan Nhi lại ra bờ ao với tâm trạng buồn, nhớ một một người nào đó:
Nhớ ai, ai nhớ, để
"....Nhớ ai sao mờ"

YCD xin trưng 2 bài tiểu luận liên quan đến "Ra đứng bờ ao"

Bài một nguyên thủy nói lên tâm trạng mông lung của bất cứ ai trong cõi thương cõi nhớ.

Bài hai là tâm trạng của người chinh phụ hay là của một cô dâu mới, vì hoàn cảnh đặc biệt phải xa chồng trên ba năm trường coi như là một dị bản của bài nguyên gốc:
Đêm Qua Ra Đứng Bờ Ao

Đã là người Vn thì hẳn chẳng ai xa lạ gì với những câu ca dao tuy giản dị, mộc mạc mà chan chứa tình người. Đó có thể là những lời dân ca tình tứ,lắng đọng; có thể là những câu hát ru sâu nặng nghĩa tình; hoặc cũng rất có thể là những lời đối đáp trao duyên. Ca dao tựa như một viên kim cương đa diện, mà ở mõi góc cạnh của nó ta lại thấy ánh lên một mặt của tâm trạng con người, lung linh và sáng mãi. Vui có, buồn có, đợi chờ có, nhớ mong có... mọi cung bậc sắc thái tình cảm của con người đều được diễn tả một cách hết sức tinh tế, chân thực, sinh động qua những lời ca dao. Tôi nhớ có một bài ca dao thế này:
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ?


Một bài ca dao thật hay, thật đẹp với ngôn từ mộc mạc, chân chất mà đã lột tả hết tâm trạng của nhân vật trữ tình.Nhân vật trữ tình ở đây là một cô gái- một nàng thiếu nữ với trái tim " bồi hồi trong ngực trẻ" đang tha thiết mong nhớ người yêu. Trong đêm đen tĩnh mịch-thời điểm của những cuộc hẹn hò đôi lứa - cũng là lúc cô gái cảm thấy lòng mình cô đơn trống trải. Vì sao ư? Vì trong khoảng thời gian của tình yêu, của hò hẹn mà lại trống vắng một mình, thử hỏi sao không buồn cho được! Quá mong người yêu, cô gái đã giãi bày tấm lòng mình với cảnh vật xung quanh. Thế nhưng "
trông cá cá lặn trông sao sao mờ".

Dường như cảnh vật đã vô cùng lãnh đạm với tâm trạng người thiếu nữ. Cô chẳng biết chia sẻ cùng ai và ta cảm tưởng như cũng chẳng có ai muốn chia sẻ với nàng. Tìm cá bầu bạn thì mặt nước lặng thinh, gửi tình cảm lên vì sao thì chỉ thấy một màu đen êm dịu, rộng lớn mênh mông. Nó làm cho nỗi buồn bị cô lập và càng " gặm nhấm" cõi lòng hiu hắt của cô gái trẻ. Cô càng thêm cô đơn quạnh vắng với nỗi mong nhớ xot xa đang dâng trào. Và lúc này đây ta lại bắt gặp một thứ thật quen thuộc, rất " ca dao" và cũng rất " Việt Nam":
Buồn trông con nhện giăng tơ
... Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ?


Đó chính là " buồn trông" - một điệp từ rất đỗi gần gũi trong ca dao. Nó là mở đầu cho những lời than thân trong ca dao xưa.Điệp từ " buồn trông " xuất hiện ở đây nhằm nhấn mạnh nỗi buồn cô đơn giữa cảnh vật của người con gái. Đó là bút pháp tả cảnh ngụ tình. Ngoại cảnh mà như tâm cảnh. Càng buồn thì càng trông vào cảnh vật, mong tìm chút vui nơi khung cảnh thơ mộng mà nào có được! Càng trông thì chỉ thấy lòng càng thêm trĩu nặng.

Bởi:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Và liên tiếp sau đó là hai hình ảnh ẩn dụ cho tâm trạng của cô thiếu nữ: nhện giăng tơ và sao Mai. Từ những sự vật trong thiên nhiên, cô đã gửi tiếng lòng của mình-1 tiếng lòng thổn thức ngóng trông."Nhện giăng tơ" là 1 hình ảnh thật đẹp và giàu sức biểu cảm cao. Tơ nhện hay chính là sợi tơ hồng duyên phận, sợi tơ tình yêu đã se duyên cho đôi trẻ để giờ đây " trăm mối tơ vò".Chiếc màng nhện mỏng mang phải chăng như chính người con gái: yếu đuối, mong manh. Tơ nhện có độ kết dính cao, dù có đứt cũng vẫn bền chặt-liệu có là ám chỉ tình yêu? Nhện chăng tơ xong mà vẫn 1 mình, cô đơn, chờ đợi một mối tơ lòng. Tiếp đó cô gái nhìn " chênh chếch" lên ngôi sao Mai. Một ánh nhìn hơi chéo chứ không phài nhìn thẳng. Phải chăng cô gái không dám đối diện thẳng với lòng mình-rằng cô đang quá trống trải, đơn côi. Ngôi sao Mai mờ dần trong ánh bình minh như chính tâm trạng ngày một hiu quạnh, héo hon của cô gái. Cô lẻ loi quá! Tựa như ánh sao giữa bầu trời rộng lớn. Đó là sự trống trải một mình, một sự nhớ thương đén hiu hắt, một nỗi buồn trải ra theo cả không gian và thời gian. Từ " bờ ao" tới " bầu trời" là một không gian rộng lớn, nó làm cho niềm nhớ thương càng thêm mênh mang, dâng trào. Từ "đêm qua" tới " sao Mai" là sự trải dần theo thời gian, nỗi buồn ngày một lớn lên và chỉ chực trào ra trong tâm trạng thổn thức, trằn trọc suốt cả đêm dài của cô gái.

Như vậy, với những ca từ sâu lắng, mênh mang, tâm trạng của cô gái đã được bộc lộ theo nhiều cấp bậc, nhiều góc cạnh khác nhau. Đó là vẻ đẹp bín của ca dao-một vẻ đẹp tiềm tàng mà không dễ gì có được.

Khuyết Danh


Bài Ca Dao "Đêm Qua Ra Đứng Bờ Ao" (hay "Buồn Trông") và Nỗi Lòng Chinh Phụ
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá: cá lặn, trông sao: sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?
Buồn trông chênh chếch sao mai.
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng giải ngân hà,
Mối sầu tinh đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn. Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.


Bài Buồn Trông được truyền khẩu trong nhân gian từ lâu. Có thể trước cả Chinh Phụ Ngâm của ông Đặng Trần Côn ( không rõ năm sinh, thọ 40 tuổi ) và dịch giả bà Đoàn Thị Điểm ( 1705- 748 ) vì căn cứ vào tiếng Việt qua cấu trúc chữ nôm và ngữ âm học, lịch sử của bài ca dao.
Nhận xét bài Buồn Trông, giáo sư Phạm Văn Diêu viết:
Đây là môt bài ca dao rất quen thuộc mô tả môt niềm nhớ mong thấm thía. Dưới ngòi bút nhẹ nhàng của thi nhân không tên tuổi, nỗi buồn nhớ nghi ngút kia . Hình ảnh nỗi buồn ấy thấy trong bóng cá mất tăm, bóng sao xa mờ, bóng nhện bâng khuâng trong đường tơ dang dở. Hình ảnh nỗi buồn ấy càng thấy trong bóng sao mai chênh chếch nghiêng xế, trong giải ngân hà lạnh nhạt buồn mơ như môt tấm nhung rời rạc u trầm.’’

Nhưng đọc kỹ bài thơ, chúng ta không những buồn mà còn thương xót cái hoàn cảnh cô đơn của nàng dâu trẻ phải xa chồng. Nàng lựa lúc đêm khuya, đợi cho mọi người ngủ hết, mới lẳng lặng ra đứng bờ ao với hy vọng nhìn đàn cá bơi lôi cho vui mắt, nhưng đêm khuya, mặt ao lạnh, cá đã lặn sâu từ lâu. Buồn quá! Nàng ngước mắt nhìn những vì sao trên trời và chợt nghĩ đến người yêu đang nơi quan ải xa xăm. Nàng khóc. Qua làn nước mắt, những vì sao sáng trở nên mờ dần :
“Đêm qua ra đứng bờ ao “ “Trông cá: cá lặn, trông sao: sao mờ.

Người chinh phụ trẻ trong Chinh Phụ Ngâm có cùng môt nỗi buồn xa chồng:
“Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai? “Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.
Những cô dâu mới cưới thời đó, chẳng bao giờ dám “ ngỏ “ nỗi vui buồn với người trong gia đình chồng:
“ Làm dâu khổ lắm con ơi, “ Vui chẳng dám cười, cực chẳng dám than.

Chính vì vui chẳng dám cười, cực chẳng dám than mà những cô dâu trẻ phải lựa đêm khuya để giãi bầy tâm sự.
Người chinh phụ cũng nhìn sao trời ( thiên chương ), cũng nghĩ đến chồng mà lòng thẫn thờ như người mất trí:
Sửa xiêm, dạo bước tiền đường, Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ.

Bờ ao vắng, bên cạnh cô dâu trẻ, chỉ có môt con nhện đang âm thầm chăng tơ. Nhìn cái lưới chưa dệt xong, nàng lại nghĩ đến mối tình dang dở của mình mà chạnh lòng. Hay là nhện cũng đang chờ đợi người yêu?
“ Buồn trông con nhện chăng tơ. “ Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?

Người thiếu phụ trẻ đứng ở bờ ao từ đêm tới lúc lúc sao mai chênh chếch nghĩa là lúc trời gần sáng. Môt lần nữa nàng lại khóc. Những giọt nước mắt lại làm lu mờ ngôi sao mai buổi sáng:
“ Buồn trông chênh chếch sao mai, “Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

Trong giải Ngân hà có vô lượng tinh tú và nếu tin tưởng mỗi người có môt ngôi sao hô mạng; thì nàng tin chắc người chồng yêu kính của mình là ngôi Tinh Đẩu, môt vì sao sáng nhất của chùm Đại Hùng. Đã ba năm rồi, hằng đêm ngắm vì sao bản mệnh để cầu nguyện cho chàng sớm về xum họp:
“ Đêm đêm tưởng giải ngân hà, “ Mối sầu tinh đẩu đã ba năm tròn.

Người chinh phụ cũng nhìn giải ngân hà, có lúc không cầm được nước mắt: “ bóng ngân hà khi mờ khi tỏ “. Bà tin rằng chàng là ngôi sao Khuê ở trên trời. (Sao Khuê là môt trong 28 vì sao, thập nhị bát tú ) :
“ Bóng ngân hà khi mờ khi tỏ. “ Đô khuê triền buổi có buổi không.

Người thiếu phụ trẻ xa người thương đã 3 năm, nhưng nàng tự hứa với lòng là dù xa cách bao lâu đi nữa, nàng vẫn giữ môt lòng chung thủy:
“ Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn.

Đến câu chót, tác giả vô danh nhắc tới địa danh “Tào khê “mà hầu hết những người nghiên cứu Phật giáo đều biết ; Tào khê hay khe Tào là cái khe suối nhỏ, phía đông huyện Thúc Giang tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa nơi Lục tổ Huệ Năng tĩnh tu .
Nguyễn Trãi trong “ Quốc Âm Thi Tập “ cũng nhắc tới nơi đây:
“ Tào khê rửa ngàn tầm suối. “ Sạch chẳng còn môt chút phàm.


Như vậy câu “ Tào khê nước chảy lòng còn trơ trơ “ nói lên tấm lòng trong sạch của nàng như dòng Tào khê.

Bài ca dao Buồn Trông và Khúc Ngâm Chinh Phụ được truyền tụng trải qua bao thế kỷ như môt tấm gương trong sáng và lòng chung thủy tuyệt vời của người đàn bà Việt./.

Nguyễn Mộng Khôi


Hà Phương Hoài  
#38 Posted : Saturday, October 24, 2009 8:20:04 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,207
Location: ÚA

Thanks: 73 times
Was thanked: 52 time(s) in 35 post(s)
quote:
Originally posted by Yeu Ca Dao
quote:
Originally posted by hongvulannhi
Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.






Hôm YCD có đọc một bài của Lan Nhi trên "Lá Thư Màu Tím" với tâm trạng hồn nhiên là mấy chi em ra bờ ao để vui đùa và bắt ốc luộc ăn, dù rằng rất sợ đỉa. Hôm nay Lan Nhi lại ra bờ ao với tâm trạng buồn, nhớ một một người nào đó:
Nhớ ai, ai nhớ, để
"....Nhớ ai sao mờ"

YCD xin trưng 2 bài tiểu luận liên quan đến "Ra đứng bờ ao"

Bài một nguyên thủy nói lên tâm trạng mông lung của bất cứ ai trong cõi thương cõi nhớ.

Bài hai là tâm trạng của người chinh phụ hay là của một cô dâu mới, vì hoàn cảnh đặc biệt phải xa chồng trên ba năm trường coi như là một dị bản của bài nguyên gốc:
Đêm Qua Ra Đứng Bờ Ao

Đã là người Vn thì hẳn chẳng ai xa lạ gì với những câu ca dao tuy giản dị, mộc mạc mà chan chứa tình người. Đó có thể là những lời dân ca tình tứ,lắng đọng; có thể là những câu hát ru sâu nặng nghĩa tình; hoặc cũng rất có thể là những lời đối đáp trao duyên. Ca dao tựa như một viên kim cương đa diện, mà ở mõi góc cạnh của nó ta lại thấy ánh lên một mặt của tâm trạng con người, lung linh và sáng mãi. Vui có, buồn có, đợi chờ có, nhớ mong có... mọi cung bậc sắc thái tình cảm của con người đều được diễn tả một cách hết sức tinh tế, chân thực, sinh động qua những lời ca dao. Tôi nhớ có một bài ca dao thế này:
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ?


Một bài ca dao thật hay, thật đẹp với ngôn từ mộc mạc, chân chất mà đã lột tả hết tâm trạng của nhân vật trữ tình.Nhân vật trữ tình ở đây là một cô gái- một nàng thiếu nữ với trái tim " bồi hồi trong ngực trẻ" đang tha thiết mong nhớ người yêu. Trong đêm đen tĩnh mịch-thời điểm của những cuộc hẹn hò đôi lứa - cũng là lúc cô gái cảm thấy lòng mình cô đơn trống trải. Vì sao ư? Vì trong khoảng thời gian của tình yêu, của hò hẹn mà lại trống vắng một mình, thử hỏi sao không buồn cho được! Quá mong người yêu, cô gái đã giãi bày tấm lòng mình với cảnh vật xung quanh. Thế nhưng "
trông cá cá lặn trông sao sao mờ".

Dường như cảnh vật đã vô cùng lãnh đạm với tâm trạng người thiếu nữ. Cô chẳng biết chia sẻ cùng ai và ta cảm tưởng như cũng chẳng có ai muốn chia sẻ với nàng. Tìm cá bầu bạn thì mặt nước lặng thinh, gửi tình cảm lên vì sao thì chỉ thấy một màu đen êm dịu, rộng lớn mênh mông. Nó làm cho nỗi buồn bị cô lập và càng " gặm nhấm" cõi lòng hiu hắt của cô gái trẻ. Cô càng thêm cô đơn quạnh vắng với nỗi mong nhớ xot xa đang dâng trào. Và lúc này đây ta lại bắt gặp một thứ thật quen thuộc, rất " ca dao" và cũng rất " Việt Nam":
Buồn trông con nhện giăng tơ
... Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ?


Đó chính là " buồn trông" - một điệp từ rất đỗi gần gũi trong ca dao. Nó là mở đầu cho những lời than thân trong ca dao xưa.Điệp từ " buồn trông " xuất hiện ở đây nhằm nhấn mạnh nỗi buồn cô đơn giữa cảnh vật của người con gái. Đó là bút pháp tả cảnh ngụ tình. Ngoại cảnh mà như tâm cảnh. Càng buồn thì càng trông vào cảnh vật, mong tìm chút vui nơi khung cảnh thơ mộng mà nào có được! Càng trông thì chỉ thấy lòng càng thêm trĩu nặng.

Bởi:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Và liên tiếp sau đó là hai hình ảnh ẩn dụ cho tâm trạng của cô thiếu nữ: nhện giăng tơ và sao Mai. Từ những sự vật trong thiên nhiên, cô đã gửi tiếng lòng của mình-1 tiếng lòng thổn thức ngóng trông."Nhện giăng tơ" là 1 hình ảnh thật đẹp và giàu sức biểu cảm cao. Tơ nhện hay chính là sợi tơ hồng duyên phận, sợi tơ tình yêu đã se duyên cho đôi trẻ để giờ đây " trăm mối tơ vò".Chiếc màng nhện mỏng mang phải chăng như chính người con gái: yếu đuối, mong manh. Tơ nhện có độ kết dính cao, dù có đứt cũng vẫn bền chặt-liệu có là ám chỉ tình yêu? Nhện chăng tơ xong mà vẫn 1 mình, cô đơn, chờ đợi một mối tơ lòng. Tiếp đó cô gái nhìn " chênh chếch" lên ngôi sao Mai. Một ánh nhìn hơi chéo chứ không phài nhìn thẳng. Phải chăng cô gái không dám đối diện thẳng với lòng mình-rằng cô đang quá trống trải, đơn côi. Ngôi sao Mai mờ dần trong ánh bình minh như chính tâm trạng ngày một hiu quạnh, héo hon của cô gái. Cô lẻ loi quá! Tựa như ánh sao giữa bầu trời rộng lớn. Đó là sự trống trải một mình, một sự nhớ thương đén hiu hắt, một nỗi buồn trải ra theo cả không gian và thời gian. Từ " bờ ao" tới " bầu trời" là một không gian rộng lớn, nó làm cho niềm nhớ thương càng thêm mênh mang, dâng trào. Từ "đêm qua" tới " sao Mai" là sự trải dần theo thời gian, nỗi buồn ngày một lớn lên và chỉ chực trào ra trong tâm trạng thổn thức, trằn trọc suốt cả đêm dài của cô gái.

Như vậy, với những ca từ sâu lắng, mênh mang, tâm trạng của cô gái đã được bộc lộ theo nhiều cấp bậc, nhiều góc cạnh khác nhau. Đó là vẻ đẹp bín của ca dao-một vẻ đẹp tiềm tàng mà không dễ gì có được.

Khuyết Danh


Bài Ca Dao "Đêm Qua Ra Đứng Bờ Ao" (hay "Buồn Trông") và Nỗi Lòng Chinh Phụ
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá: cá lặn, trông sao: sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?
Buồn trông chênh chếch sao mai.
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng giải ngân hà,
Mối sầu tinh đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn. Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.


Bài Buồn Trông được truyền khẩu trong nhân gian từ lâu. Có thể trước cả Chinh Phụ Ngâm của ông Đặng Trần Côn ( không rõ năm sinh, thọ 40 tuổi ) và dịch giả bà Đoàn Thị Điểm ( 1705- 748 ) vì căn cứ vào tiếng Việt qua cấu trúc chữ nôm và ngữ âm học, lịch sử của bài ca dao.
Nhận xét bài Buồn Trông, giáo sư Phạm Văn Diêu viết:
Đây là môt bài ca dao rất quen thuộc mô tả môt niềm nhớ mong thấm thía. Dưới ngòi bút nhẹ nhàng của thi nhân không tên tuổi, nỗi buồn nhớ nghi ngút kia . Hình ảnh nỗi buồn ấy thấy trong bóng cá mất tăm, bóng sao xa mờ, bóng nhện bâng khuâng trong đường tơ dang dở. Hình ảnh nỗi buồn ấy càng thấy trong bóng sao mai chênh chếch nghiêng xế, trong giải ngân hà lạnh nhạt buồn mơ như môt tấm nhung rời rạc u trầm.’’

Nhưng đọc kỹ bài thơ, chúng ta không những buồn mà còn thương xót cái hoàn cảnh cô đơn của nàng dâu trẻ phải xa chồng. Nàng lựa lúc đêm khuya, đợi cho mọi người ngủ hết, mới lẳng lặng ra đứng bờ ao với hy vọng nhìn đàn cá bơi lôi cho vui mắt, nhưng đêm khuya, mặt ao lạnh, cá đã lặn sâu từ lâu. Buồn quá! Nàng ngước mắt nhìn những vì sao trên trời và chợt nghĩ đến người yêu đang nơi quan ải xa xăm. Nàng khóc. Qua làn nước mắt, những vì sao sáng trở nên mờ dần :
“Đêm qua ra đứng bờ ao “ “Trông cá: cá lặn, trông sao: sao mờ.

Người chinh phụ trẻ trong Chinh Phụ Ngâm có cùng môt nỗi buồn xa chồng:
“Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai? “Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.
Những cô dâu mới cưới thời đó, chẳng bao giờ dám “ ngỏ “ nỗi vui buồn với người trong gia đình chồng:
“ Làm dâu khổ lắm con ơi, “ Vui chẳng dám cười, cực chẳng dám than.

Chính vì vui chẳng dám cười, cực chẳng dám than mà những cô dâu trẻ phải lựa đêm khuya để giãi bầy tâm sự.
Người chinh phụ cũng nhìn sao trời ( thiên chương ), cũng nghĩ đến chồng mà lòng thẫn thờ như người mất trí:
Sửa xiêm, dạo bước tiền đường, Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ.

Bờ ao vắng, bên cạnh cô dâu trẻ, chỉ có môt con nhện đang âm thầm chăng tơ. Nhìn cái lưới chưa dệt xong, nàng lại nghĩ đến mối tình dang dở của mình mà chạnh lòng. Hay là nhện cũng đang chờ đợi người yêu?
“ Buồn trông con nhện chăng tơ. “ Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?

Người thiếu phụ trẻ đứng ở bờ ao từ đêm tới lúc lúc sao mai chênh chếch nghĩa là lúc trời gần sáng. Môt lần nữa nàng lại khóc. Những giọt nước mắt lại làm lu mờ ngôi sao mai buổi sáng:
“ Buồn trông chênh chếch sao mai, “Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

Trong giải Ngân hà có vô lượng tinh tú và nếu tin tưởng mỗi người có môt ngôi sao hô mạng; thì nàng tin chắc người chồng yêu kính của mình là ngôi Tinh Đẩu, môt vì sao sáng nhất của chùm Đại Hùng. Đã ba năm rồi, hằng đêm ngắm vì sao bản mệnh để cầu nguyện cho chàng sớm về xum họp:
“ Đêm đêm tưởng giải ngân hà, “ Mối sầu tinh đẩu đã ba năm tròn.

Người chinh phụ cũng nhìn giải ngân hà, có lúc không cầm được nước mắt: “ bóng ngân hà khi mờ khi tỏ “. Bà tin rằng chàng là ngôi sao Khuê ở trên trời. (Sao Khuê là môt trong 28 vì sao, thập nhị bát tú ) :
“ Bóng ngân hà khi mờ khi tỏ. “ Đô khuê triền buổi có buổi không.

Người thiếu phụ trẻ xa người thương đã 3 năm, nhưng nàng tự hứa với lòng là dù xa cách bao lâu đi nữa, nàng vẫn giữ môt lòng chung thủy:
“ Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn.

Đến câu chót, tác giả vô danh nhắc tới địa danh “Tào khê “mà hầu hết những người nghiên cứu Phật giáo đều biết ; Tào khê hay khe Tào là cái khe suối nhỏ, phía đông huyện Thúc Giang tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa nơi Lục tổ Huệ Năng tĩnh tu .
Nguyễn Trãi trong “ Quốc Âm Thi Tập “ cũng nhắc tới nơi đây:
“ Tào khê rửa ngàn tầm suối. “ Sạch chẳng còn môt chút phàm.


Như vậy câu “ Tào khê nước chảy lòng còn trơ trơ “ nói lên tấm lòng trong sạch của nàng như dòng Tào khê.

Bài ca dao Buồn Trông và Khúc Ngâm Chinh Phụ được truyền tụng trải qua bao thế kỷ như môt tấm gương trong sáng và lòng chung thủy tuyệt vời của người đàn bà Việt./.

Nguyễn Mộng Khôi





Cám ơn Yeu Ca Dao đã đóng góp những bài rất hay và hữu ích mong YCD thường xuyên đến với Tục Ngữ Ca Dao Và Quê Hương, xứng với cái tên của anh Yêu Ca Dao
hph
hongvulannhi  
#39 Posted : Saturday, October 24, 2009 10:20:42 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,100

Thanks: 1130 times
Was thanked: 2952 time(s) in 1833 post(s)
VÌ SAO TÔI YÊU TỤC NGỮ CA DAO

Vì sao tôi yêu tục ngữ ca dao, đó chính là điều mà hôm nay tôi muốn nói đến lòng biết ơn sâu xa của tôi đối với Mẹ hiền, người đã ru vào đời tôi những câu ru ngọt ngào, đầy tình tự quê hương... từ thuở nằm nôi, và sẽ còn mãi mãi cho tôi biết yêu những câu lục bát dễ thương, đẹp như dòng sông nước chảy lững lờ, hay như buổi chiều khi nắng nhạt nhoà trên những vòm cây nơi thôn làng...

Tôi yêu miền quê, yêu tiếng chày giã gạo vào đêm trăng, yêu tiếng sáo diều vi vu trên bầu trời đầy mây vào buổi chiều, và yêu tiếng ru hờ à ơi với tiếng võng kẽo kẹt, trong buổi trưa nồng gió hạ, có tiếng gà gáy trưa im buồn...

Tôi yêu tiếng ru của mẹ, khi nằm chờ giấc ngủ, được gối đầu trên cánh tay mẹ, và quàng tay ôm khuôn mặt mẹ, như muốn níu xuống thật thấp, để nghe rõ ràng lời ru êm:

À a à ơi,

Cái ngủ mày ngủ (í a) cho lâu
Mẹ mày đi cấy (í a) ruộng sâu chua về
Bắt được con diếc, con trê
Đem về làm thịt cho cái (í a) ngủ ăn
Cái ngủ ăn chẳng hết
Để dành đến tết (í a) mồng năm...

và giọng mẹ ngọt ngào ru tiếp, một tay khi xoa đầu tóc tôi, khi xoa lưng vì sợ cơn nóng hè oi ả, " rôm " sẽ làm ngứa lưng..

À i à ơi,

Con mèo mày trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột (í a) đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa
Mua mắm muo muối (í a) giỗ cha chú mèo...

hoặc :

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm, (í a) tối dồn việc (i à) quan
Chém tre đẫn gỗ (í a) trên ngàn
Hữu thân hữu khổ (í a) phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những tre cùng nứa (í a) lấy ai bạn ( i à ) cùng...

Tiếng ru êm ái ngọt ngào đó của mẹ đã làm cho đôi mắt tôi khép lại và chìm dần trong giấc mộng trẻ thơ :

Hôm qua tát nưóc ( ía a)đầu đình
Để quên chiếc áo (ía )trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để ( í a)làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa (à )khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô ấy ( í a)về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi vó
Một con lợn béo, (í a)một vò rượu (à) tăm
Giúp em đôi chiếu ẹm nằm
Đôi chăn em đắp, (í a)(à )đôi trằm em (à)đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới (í a)lại đèo buồng (à )cau ...

Mỗi tối, mẹ ru hoài những lời ca dao tình tự ấy đã thấm nhuần vào trí hồn tôi lúc nào không hay.

Cho nên, sau này, khi tôi đã 5, 7 tuổi, biết chơi búp bế, tôi cũng đã ru búp bế ngủ bằng những bài ru mà tôi đã thuộc nằm lòng từ mẹ.

Tôi chỉ còn nhớ mang máng khi chiến tranh Pháp - Việt Minh bùng nổ vào tháng 8 năm 1945, gia đình tôi đã chạy xuống Vĩnh Hồ, cách Hà Nội khoảng mấy chục cây số. Gia đình tôi đông anh em, tới 11 người, lại còn cộng thêm gia đình ông anh thứ hai là Lê Huy Giáp đã lập gia đình và chị Giáp lúc ấy đang có bầu gần ngày sinh nở, cho nên Thày mẹ tôi đã phải thuê một căn nhà khá lớn.

Tôi vẫn còn nhớ, đó là căn nhà trong một khu biệt thự lớn, có cổng sắt to, và căn nhà gia đình tôi thuê là căn nhà đã bỏ hoang, nhưng rất nhiều phòng và rộng rãi.

Và cháu Minh Phú đã mở mắt chào đời tại Vĩnh Hồ, vào ngày mồng 1 tháng 9 năm 1945.

Tôi hay thơ thẩn ngoài vườn sạu trong khu đất trống bỏ hoang cách nhà cũng khá xa. Tôi thích ngồi trên những tảng đá bị cỏ hoang phủ đầy, và nhẩm học những câu ca dao mà mẹ tôi đã bắt học thuộc lòng.

Bây giờ, không còn là những bài hát ru nữa, mà là những câu dạy đời, khuyên nhủ về đạo đức về tình người:

Chẳng hạn:

- Bầu ơi thuơng lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

- Ở sao cho vừa lòng ngườí
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.

- Chẳng tham ruộng cả ao liền
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

- Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng.

- Sông sâu còn có kẻ dò
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

Học thuộc lòng mấy câu tục ngữ ca dao thì dễ thôi, cái mà tôi sợ nhất là mẹ bắt học thuộc lòng bài kinh thật dài với tựa đề " Dọn Mình Chết ". Chao ôi, ở cái tuổi chưa đủ lớn, mà lại đã phải nghĩ đến ngày nào đó, mình ra đi, thì nản đời biết chừng nào. Ấy vậy mà tôi cũng đã phải học thuộc, và còn nhớ như in đến bây giờ.

Tuy nhiên, vì từ thuở ấu thơ, mẹ đã gieo vào lòng tôi những câu thơ lục bát, cho nên khi có trí khôn, tôi đã yêu những vần thơ lục bát. Và điển hình là yêu những câu thơ chân chất tình người, những vần thơ của nhà thơ chân quê Nguyễn Bính:

Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương,
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa
Cậy em, em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Hôm nay xác pháo đầy đường
Ngày mai xác pháo còn vương khắp làng
Chuyến này chị bước sang nagng
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây.
Ruợu nồng em uống cho say
Vui cùng chị một vài giây cuối cùng
( Rồi đây sóng gió ngang sông
Đầy thuyền hận chị lo không tới bờ )...

( Lỡ Bước Sang Ngang )

Chỉ với 10 tuổi đầu, tôi đã mê thơ Nguyễn Bính, và thuộc lòng bài thơ Lỡ Bước Sang Ngang, dù chẳng ai bắt học thuộc lòng cả.

Và, hình ảnh miền quê, với sông, núi, với con thuyền lơ lửng trên sông, với khóm tre đong đưa theo gió, và những vần thơ lục bát, đã tạo nên một Hồng Vũ Lan Nhi với tâm hồn thơ mộng, lãng mạn tuyệt vời!

Nhắc đến mẹ, lòng tôi bao giờ cũng xót thương, bởi vì tôi luôn là kẻ làm mẹ buồn nhiều hơn vui.

Mẹ muốn tôi học giỏi, thì tôi lại ham chơi hơn học.
Mẹ muốn dạy tôi cách nấu nướng, những món đặc nhà quê, như kho thịt, kho cá bằng nồi đất v..v... Nhưng tôi lại chỉ thích là kẻ chạy bàn trong những ngày giỗ chạp, để phần các chị lớn lo nấu cỗ. Mẹ đã cho tôi đi học nấu cỗ với bà Lộc, nhưng tôi lại thưa cùng mẹ :

- Nếu số con giầu có, con đã có tiền nuôi xẩm, lo gì phải nấu. Nếu số con nghèo, làm gì có tiền để mua gà, mua nấm, để mà nấu.

Biết con gái lười, mẹ cũng đành cười:

- Vụng chèo nhưng lại khéo chống.

Năm tháng qua đi trong vui, buồn, sướng, khổ. Giờ đây, viết về ca dao tục ngữ, nhắc đến mẹ, để thấy lòng con hãnh diện về mẹ đến thế nào!

Mẹ ơi!
HONG VU LAN NHI


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



Linh Phuong  
#40 Posted : Saturday, October 24, 2009 3:04:45 PM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
_________

Ai về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
__________

Anh về đếm hết sao trời
Em đây kết tóc ở đời với anh
__________

Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay cao
___________

Anh lấy được em bỏ công ao ước
Em lấy được anh thoả dạ ước ao
___________

Anh ơi anh ở lại nhà
Thôi đừng vui thú nguyệt hoa chơi bời
Còn tiền kẻ rước, người mời
Hết tiền, chẳng thấy một người nào ưa
___________

Anh ơi em chẳng lấy đâu
Anh đừng cạo mặt, nhổ râu tốn tiền ____________
Users browsing this topic
Guest
63 Pages<1234>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.