Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
gia dich  
#1 Posted : Friday, July 11, 2003 4:00:00 PM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
1- Làng Sinh Đẽ
2- Làng Thồ Nuớc
3 - Làng Tiến Sĩ
4- Làng Tranh Đông Hô
5- Làng Chèm Gìo Chẩ
6 - Làng Ăn Mày
7 - Làng Làm Đờng
8 - Làng Dệt " Thổ Cấm "

9 - Làng Nhà Cổ

Làng Kỷ Lục Sinh Đẻ

Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có một làng chài chiếm kỷ lục về tỉ lệ sinh đẻ. Làng được hình thành 5 thập niên, 100 gia đình nhưng có đến hơn 1,100 con người. Báo Giáo Dục-Thời Đại viết về làng chài này như sau.Làng chài Nguyệt Đức (xã Vân Hà - Việt Yên - Bắc Giang) 100 hộ dân nhưng đã có tới 1125 nhân khẩu. Trung bình mỗi gia đình ở đây có 11 thành viên sống quây quần bên nhau. Theo lời của ông phó thông Nguyễn VănViệt : Làng chài Nguyệt Đức đến nay có "tuổi đời" được 50 năm. Thủa đó, làng chỉ có vẻn vẹn có 12 hộ, với gần 100 nhân khẩu. Nay, sau nửa thế kỷ đẻ vô tư, đẻ vô tội vạ, đẻ bao giờ hết trứng thì thôi, làng đã có sự "thay da, đổi thịt", dân số tăng gấp 10 lần! Phóng viên cùng ông Việt đi đò ra thăm nhà chị L. khi cả nhà đang quây quần bên bữa cơm trưa. Trên chiếc thuyền xi măng đã oải đang hiện hữu 17 con người. Con chị L, đứa lớn nhất đã ở tuổi "thèm" lấy vợ, đứa nhỏ nhất đang chập chững tập đi. Kỷ lục của chị L sẽ bị phá trong nay mai, vì làng chài Nguyệt Đức đang có xu hướng "chuyển đổi ngành nghề", từ "đánh cá sang vận tải đường thuỷ". Nói thế cho oai chứ tôm cá ngày càng khan hiếm, nên nhiều gia đình đã nhạy bén tìm hướng đi mới, bỏ nghề cá quay sang nghề chở gạch, đá, vôi, vữa thuê cho các công trình xây dựng. Làm "vận tải đường thuỷ" phải sắm thuyền lớn, phải cần nhiều lao động. Hai điều kiện trên lại phù hợp với truyền thống đẻ của làng. Dường như đã thành lệ ở làng, con trai lấy vợ, con gái lấy chồng đều ở vào cái tuổi "trăng náu, trăng tròn". Theo họ thì lấy chồng tuổi ấy có nhiều điều lợi. Thứ nhất khỏi phải đăng ký kết hôn lằng nhằng, thứ hai có nhiều thời gian để đẻ! Đến làng chài Nguyệt Đức, đừng ai sửng sốt khi thấy những đôi uyên ương mới ở tuổi 29-30 đã có 5-6 đứa con. Gia đình nào hiếm hoi nhất, biết kế hoạch nhất cũng 6-7 đứa con rồi. Ông Việt vắt óc nghĩ mãi mà chẳng tìm thấy một ai ở làng đi học chuyên nghiệp từ khi lập làng đến nay. Tốt nghiệp phổ thông trung học, làng có vài người, đếm đi đếm lại cũng chưa hết đầu ngón tay. Ở làng, số trẻ em chưa một lần đến lớp, hoặc học chưa xong cấp 1 chiếm tới 80%. "Học để làm gì! Quăng chài, thả lưới, giăng câu... không cần cái chữ." Dân Nguyệt Đức tuyên bố chắc như ván đóng thuyền. Bạn,Báo quốc nội viết tiếp: Không được chữ nghĩa khai sáng thì cứ đẻ, cứ đẻ thì cứ nghèo, cứ nghèo thì thất học, cứ thất học thì cứ đẻ... Cái vòng luẩn quẩn đã bao đời nay cứ bám lấy mỗi con thuyền của các gia đình làng chài Nguyệt Đức, làm cho đời sống của họ chẳng thể ngóc đầu lên được.


gia dich  
#2 Posted : Saturday, July 12, 2003 11:15:56 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Cả Làng Đi Thồ Nước

Chuyện đang xảy ra tại làng Châu An, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Do địa hình và yếu tố địa lý thiên nhiên, cả làng luôn phải thiếu nước. Quanh năm, cả làng phải đi thồ nước. Một phóng viên SGGP viết như sau.Làng Châu An, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) chỉ cách làng Kỳ Tại mỗi con đường đất đỏ. Nhưng bên đó nước nôi thoải mái bao nhiêu thì bên này khổ cực bấy nhiêu. Vì vậy hai làng kế bên nhau nhưng mà sao xa cách. Con gái làng Kỳ Tại thương con trai làng Châu An nhiều lắm nhưng cảm thấy ngại ngùng, sợ cảnh về làm dâu, sáng quảy thùng, chiều gánh nước. Chuyện đi tìm nguồn nước mát đã và đang là nỗi thách thức của bao thế hệ dân làng.Tháng 6, nắng chói chang trên con đường về phía biển. Trong quán nước thấp lè tè ở đầu làng Kỳ Tại, bà hàng nước biết tôi (phóng viên) về làng Châu An, nói: Chú uống thêm chén nữa đi để về đó có khi đỡ phải uống nước của bà con. Bà cho phóng viên hay, từ khi còn con nít đến giờ tuổi xế chiều, bà vẫn thấy cả làng Châu An sang bên này gánh nước. Mùa khô hạn này, nhu cầu nước cao hơn nên người đi gánh nước cũng đông hơn. KĐến đầu làng, phóng viên gặp hai em Võ Thanh Thủy và Bùi Hữu Hòa, mỗi em một xe đạp thồ 4 can nước. Thủy hồn nhiên: Làng này gánh nước quanh năm chứ đâu có phải đến kỳ khô hạn gì đâu. Đi sâu vào làng, người đi chở nước đông hơn. Người có xe Honda thì dùng thanh ngang bỏ sau yên chở 2 can nước, mỗi can 20 lít nước. Người xe đạp bỏ dàn thồ mỗi chuyến 4 can, khoảng 80 lít. Chị Nguyễn Thị Tám phe phẩy nón nói: Ở làng này thì phải chịu thôi. Mùa đông thì làng mang xô, thùng, chậu, xoong nồi ra hứng nước mưa mà uống. Quãng từ tháng giêng đến tháng 8 phải đi thồ nước về uống. Nhà chị có 8 nhân khẩu, vợ chồng phải thay phiên nhau mỗi ngày chở 2 chuyến, mỗi chuyến khoảng 80 lít nước mới đủ dùng. Thời điểm lấy nước trong ngày thường vào buổi sáng sớm hoặc giữa buổi để đỡ chen nhau. Từ tháng 5 đến tháng 8, trời nắng khô thì bất luận khuya sớm, rảnh hồi nào người ta đi lấy hồi nấy. Người đi lấy nước không ngủ được đã đành, người nhà và cả chủ giếng nước cũng chẳng ngủ được vì tiếng gàu, tiếng can thùng khua loảng xoảng. Thế nhưng cứ phải đâu đến giếng là múc được nước, bởi nhiều người cùng đến lấy nước một lúc, có khi mạch giếng chưa có nước thì phải cầm gàu đứng chờ. Nếu ở phía Bắc của làng Châu An người dân đi lấy nước bên làng Kỳ Tại, thì ở phía Nam, dân đi thồ nước bên xã Tịnh Hòa (huyện Sơn Tịnh). Chị Phạm Thị Dung nói: Tháng này còn đỡ chứ tháng sau, các giếng nước bên đó cũng cạn nên phải lấy nước giếng khoan và mỗi chuyến phải trả cho chủ giếng 1 ngàn đồng tiền điện. Ở phía bên xã Tịnh Hòa giáp với làng Châu An có đoạn mương dài đưa nước Thạch Nham về tưới cho ruộng lúa. Dù là nơi cuối kênh, nhưng khi có đợt nước Thạch Nham đổ về tưới cho ruộng đồng thì dân làng bên này lại theo đào những giếng dọc bờ kênh để lấy nước. Tuy nước có bị nhiễm mặn, nhưng có thể rửa ráy, tắm qua cũng tốt.Bạn,Cũng báo này, nước ở đây có khi quý hơn gạo. Muốn tắm giặt dân thường nhảy xuống kênh tắm nước mặn rồi mới xối lại vài gáo nước ngọt. Ngoại trừ sắm cho con cái bộ đồng phục mặc đến trường, chẳng ai nào chọn màu trắng mà may vì sợ mau bẩn. Thường ngày đã khó, nhưng còn khó hơn khi có đám cưới, giỗ chạp. Cứ nhà ai có đám cưới lại phải huy động can, xô của khoảng 10 nhà khác và nhờ họ gánh giùm.


gia dich  
#3 Posted : Saturday, July 12, 2003 11:31:41 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
LÀNG TIẾN SĨ (ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG)
(06/13/03 ) Từ quốc lộ 5 Hà Nội đi Hải Phòng, lần lượt qua các thị trấn Bần Yên Nhân, Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên rồi vượt ranh giới sang tỉnh Hải Dương, xuyên qua huyện Cẩm Giàng để đến tỉnh lị. Dọc theo con đường ấy, trong địa phận Hải Dương về phía Nam có con sông Đình Đào chảy vòng ra hướng đông rồi quặt xuống nam, phân ra một vùng đất có bốn mặt sông. Đó là huyện Đường An thuộc phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, gồm 10 tổng chia ra 66 làng, trong đó có làng Mộ Trạch thuộc tổng Thì Cử. Ngày nay, thôn Mộ Trạch thuộc xã Tân Hồng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Theo Đại Nam nhất thống chí, vào đời Hùng Vương, đất Mộ Trạch thuộc bộ Thang Tuyền; đời Tấn thuộc Tượng Quận; đời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Đến đời Đường Hội Xương có Vũ Hồn sang làm Thứ sử Giao Châu, tinh thông khoa địa lý, thấy cuộc đất vùng này rất tốt, bèn lập nghiệp luôn và dặn con cháu phải giữ làng này làm nguyên quán thì đời đời sẽ tiến phát về đường khoa bảng. Bèn đặt tên huyện là Đường An, làng là Khả Mộ, sau đổi là Lạp Trạch, sau nữa lại ghép thành Mộ Trạch, tên nôm là làng Chằm và giữ mãi hai tên ấy cho đến ngày nay. Vũ Hồn cho rằng cả vùng Hải Dương là một đại cuộc, huyện Đường An là huyệt trường và làng Mộ Trạch là huyệt kết.
Lịch sử đã chứng minh cả vùng này rất phát về văn, có nhiều dòng họ được truyền tụng là thế khoa như họ Vũ, họ Lê, họ Nhử..., ca dao còn lưu lại:
Bút nghiên, đèn sách, văn phòng
Hồng Châu, Nam Sách nhiều dòng thi thơ.
Hồng Châu, Nam Sách đều là phủ thuộc trấn Hải Dương (1). Tên đất Hồng Châu có từ xa xưa, đến đời Trần chia làm hai châu Thượng Hồng và Hạ Hồng. Từ đời Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận (1460 - 1469) đổi hai châu này thành hai phủ. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi tên Thượng Hồng thành phủ Bình Giang lãnh ba huyện Cẩm Giàng, Đường An và Đường Hào. Năm Tự Đức thứ 5 (1852) lãnh thêm huyện Thanh Miện, nâng phủ này gồm bốn huyện.
Nếu tính riêng huyện Đường An từ năm 1075 đến năm 1919 đã thấy 23 trên 66 làng có người đậu đại khoa với 85 vị, vượt hẳn các huyện lân cận. Căn cứ vào Các nhà khoa bảng Việt Nam của Ngô Đức Thọ và các tài liệu khác (2) có thể tổng kết như sau:
Làng Ngọc Cục: 5 Tiến sĩ, 2 Hoàng giáp.
Làng Hoạch Trạch: 3 Tiến sĩ, 1 Bảng nhãn và 1 Hoàng giáp. Tuy số người đậu ít hơn làng Ngọc Cục nhưng vị thứ cao hơn nên vẫn được coi “Hoạch Trạch khí tàng, anh hùng xuất thế”.
Làng Hòa Đường:3 Tiến sĩ, 1 Hoàng giáp.
Làng Thì Cử: 2 Tiến sĩ, 1 Bảng nhãn.
Làng Đan Luân: 2 Tiến sĩ, 1 Thám hoa.
Các làng Đào Xá, Tuy Lai mỗi làng có 1 Hoàng giáp và 2 Tiến sĩ.
Làng Lỗi Dương:2 Hoàng giáp.
Các làng Hương Giản, Nhử Xá mỗi làng có 1 Hoàng giáp và 1 Tiến sĩ.
Các làng Đình Tổ, Tông Thanh mỗi làng có 2 Tiến sĩ.
Làng An Đê: 1 Thám hoa
Làng Châu Khê:1 Hoàng giáp
Các làng Bì Đổ, Lôi Khê, Mỹ Thự, Phù Vân, Phúc Khê, Triều Đông, Tuấn Kiệt: mỗi làng có 1 Tiến sĩ.
Ngoài ra còn có hai vị Tiến sĩ thời Lê Thánh Tông người huyện Đường An nhưng không rõ tên làng. Đó là Đỗ Chính Lạc đậu khoa Ất Mùi (1475) và Vũ Nguyên Trinh đậu khoa Tân Sửu (1481).
Nhưng so với làng Mộ Trạch thì các thành tích trên chưa thấm vào đâu, vì Mộ Trạch có đến 35 vị đại khoa gồm 1 Trạng nguyên, 11 Hoàng giáp và 22 Tiến sĩ, đạt kỷ lục là 41, 18% toàn huyện. Tiếng tăm khoa bảng Mộ Trạch tức làng Chằm, đời đời đã khẳng định qua câu phương ngôn:
Thóc làng Nhử, chữ làng Chằm.
Có thể nói đây là lò đúc Tiến sĩ, tiếng đồn lan rộng sang Trung Hoa, người Tàu gọi làng này là Tiến Sĩ Sào, tức là ổ Tiến sĩ của nước Nam.
Căn cứ vào các tài liệu trên, tính từ khoa Nho học đầu tiên của nước ta có tên là khoa Tuyển Minh kinh Bác học cập Nho học Tam trường, gọi tắt là khoa Minh kinh Bác học mở vào tháng 2 năm Ất Mão (1075) niên hiệu Thái Ninh thứ 4 đời Lý Nhân Tông, đến khoa thi Hội cuối cùng vào năm Mậu Ngọ (1919) Khải Định thứ 3 đời Nguyễn Hoằng Tông thì làng Mộ Trạch đã cống hiến cho đất nước một danh sách Tiến sĩ sau đây:
1. Vũ Đức Lâm: Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân (gọi tắt là Tiến sĩ) khoa Mậu Thìn (1448), niên hiệu Thái Hòa thứ 6 đời Lê Nhân Tông. Ông là vị Tiến sĩ đầu tiên của làng Mộ Trạch và cả huyện Đường An, làm quan đến Thượng thư.
2. Vũ Hữu (1444 - 1530) tự Ước Trai, đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (tức Hoàng giáp) lúc 20 tuổi, khoa Quý Mùi (1463), niên hiệu Quang Thuận thứ 4 đời Lê Thánh Tông. Ông nổi tiếng thanh liêm, làm quan đến chức Thượng thư trải 5 bộ, tước Tùng Dương hầu (có sách chép là Dương Tùng hầu). Ông viết Lập thành toán pháp chỉ dẫn cách đo ruộng đất, xây nhà cửa và thành lũy. Có thể nói Vũ Hữu và Lương Thế Vinh (sinh năm 1441, tác giả quyển Đại thành toán pháp) là hai nhà toán học đầu tiên của nước ta. Thời ấy, thành Thăng Long xây dựng từ niên hiệu Thuận Thiên thứ 1 (1010) đời Lý Thái Tổ, lâu ngày các cửa thành đổ nát, Lê Thánh Tông giao cho Vũ Hữu tính toán vật liệu cần dùng vào việc trùng tu thành quách. Ông đã áp dụng hình học vào việc chiết tính, đưa ra con số chính xác vật liệu xây dựng, nhất là gạch không dư không thiếu một viên, được vua khen là Thần toán và ban thưởng 100 mẫu ruộng.
3. Vũ Ứng Khang đậu Hoàng giáp khoa Nhâm Thìn (1472), niên hiệu Hồng Đức thứ 3 đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Hộ khoa Đô cấp sự trung.
4. Vũ Quỳnh (1453 - 1497) tự Thư Phác, Viên Ôn; hiệu Đốc Trai, Yến Xương. Ông đậu Hoàng giáp lúc 26 tuổi, khoa Mậu Tuất (1478), niên hiệu Hồng Đức thứ 9 đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ, bộ Công, bộ Binh. Là một sử gia, năm 1510 ông vâng mệnh Lê Tương Dực soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo, gọi tắt là Việt giám thông khảo, gồm 26 quyển, chia thành Ngoại kỷ chép từ Hồng Bàng đến hết nhà Ngô, Bản kỷ từ Đinh Tiên Hoàng đến đầu thời Lê Thái Tổ. Theo Phan Huy Chú, bộ sách này được Lê Nại đánh giá là quy mô và đúng với kinh, trúng với sử. Ông còn hiệu đính và đề tựa (1492) sách Lĩnh Nam chính quái và soạn Tố cầm tập, Phan Huy Chú khen là lời thơ thanh thoát. Hiện còn ba bài thơ của ông được chép trong Hoàng Việt thi tuyển do Bùi Huy Bích (1744 - 1818) sưu tầm và biên soạn.
5. Vũ Đôn: cháu của Vũ Hữu, đậu Hoàng giáp khoa Đinh Mùi (1487) niên hiệu Hồng Đức thứ 18, đời Lê Thánh Tông.
6. Vũ Tụ (1466 - ?) 28 tuổi đậu Hoàng giáp khoa Quý Sửu (1493) niên hiệu Hồng Đức thứ 24 đời Lê Thánh Tông. Theo Lịch triều hiến chương (Nhân vật chí, bản dịch, trang 372) Vũ Tụ người làng Mộ Trạch, làm quan đến chức Tả thị lang bộ Hình. Lúc bấy giờ vua Lê Thánh Tông muốn thử lòng các quan, mật sai người cải trang làm thường dân đem lụa đến biếu, các quan đều nhận cả, chỉ có ông là cự tuyệt. Người biếu cố nài nỉ:
- Tập tục lễ vật bây giờ đã thành thói quen, chút lễ mọn này có đáng là bao, không thể hại đến đức liêm, xin ngài chớ nỡ từ chối.
Ông nghiêm nét mặt nói:
- Người đời đục cả, chỉ mình ta trong. Nay mày lại tìm lời ngon ngọt xúi ta đánh mất tiết tháo ư? Nói xong, ông đuổi ra.
Sự việc trình lên, vua khen ông là người tiết tháo, ban cho hai chữ “Liêm Tiết” gắn trên cổ áo mỗi khi vào chầu.
7. Vũ Thuận Trinh (1464 - ?), đậu Hoàng giáp lúc 36 tuổi khoa Kỷ Mùi (1499), niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 đời Lê Hiến Tông.
8. Vũ Cán (1475 - ?) tự Tùng Hiên, đậu Hoàng giáp năm 28 tuổi khoa Nhâm Tuất (1502), niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 đời Lê Hiến Tông. Ông là cháu ngoại của Tiến Sĩ Nhử Mậu Tổ và là con của Hoàng giáp Vũ Quỳnh, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ, năm Canh Ngọ (1510) đi sứ Trung Quốc. Tác phẩm có Tùng Hiên thi tập (5 quyển) và Tùng Hiên văn tập (12 quyển) gồm đủ thể loại: ký, thuyết linh, luận, truyện, biện ... bàn về sử, địa, sinh hoạt xã hội. Ông còn sưu tập các bài tứ lục thành quyển Tứ lục bị lãm và làm thơ xướng họa với Trạng Trình.
9. Lê Nại (1479 - ?): Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) năm 27 tuổi, khoa Ất Sửu (1505) niên hiệu Đoan Khánh thứ 1 đời Lê Uy Mục. Ông là con rể của Hoàng giáp Vũ Quỳnh và cháu nội của danh thần Lê Cảnh Tuân đã tuẫn quốc dưới thời Minh thuộc. Ông có tiếng hay chữ, thi Hương, thi Đình đều đỗ đầu, làm quan tới chức Hữu thị lang bộ Hộ.
10. Lê Tư đậu Hoàng giáp khoa Tân Mùi (1511), niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 đời Lê Tương Dực, làm quan tới chức Đoán sự. Ông là bào đệ của Trạng nguyên Lê Nại.
11. Vũ Lân Chỉ đậu Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1520), niên hiệu Quang Thuận thứ 5 đời Lê Chiêu Tông, làm quan đến chức Công khoa Đô cấp sự trung.
12. Lê Quang Bí (1504 - ?) tự Thuần Phu, hiệu Hối Trai. Đậu Hoàng giáp lúc 23 tuổi khoa Bính Tuất (1526), niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 đời Lê Cung Hoàng. Ông là con trai trưởng của Trạng nguyên Lê Nại, cháu bốn đời của danh thần Lê Cảnh Tuân và cháu ngoại của Hoàng giáp Vũ Quỳnh. Năm Mậu Thân (1548) ông vâng mệnh Mạc Phúc Nguyên cầm đầu sứ bộ sang Tàu, bị vua Minh Thế Tông bắt giam vào ngục ở Nam Ninh suốt 19 năm, đến năm Đinh Mão (1567) mới được tha về. Mạc Mậu Hợp đón ông rất trọng vọng, khen là công thần tiết nghĩa, ví ông như Tô Vũ đời Hán đi sứ Hung Nô, cũng bị đày suốt 19 năm mới được trở về nước. Làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, truy tặng tước Tô quận công. Tác phẩm để lại có Tư hương vận lục, gồm nhiều bài thơ vịnh sử và danh nhân.
13.Nhử Mậu Tổ: Tiến sĩ khoa Bính Thân (1526) niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 đời Lê Cung Hoàng, làm quan với họ Mạc đến chức Lễ bộ Tả thị lang. Hoàng giáp Vũ Quỳnh là con rể, Hoàng giáp Vũ Cán là cháu ngoại của ông.
14. Vũ Tĩnh (1525 - ?): 38 tuổi đậu Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1562), niên hiệu Quang Bảo thứ 9 đời Mạc Phúc Nguyên. Được cử đi sứ nhà Minh, làm quan đến chức Tả thị lang, khi mất được truy tặng Thượng thư.
15. Vũ Đường (1528 - 1592), đậu Tiến sĩ lúc 38 tuổi, khoa Ất Sửu (1565), niên hiệu Thuần Phúc thứ 4 đời Mạc Mậu Hợp, làm quan tới chức Lễ bộ Hữu thị lang.
16. Vũ Bạt Tụy (1602 - ?) đậu Đình nguyên và lãnh học vị Hoàng giáp lúc 33 tuổi, khoa Giáp Tuất (1634) niên hiệu Đức Long thứ 6 đời Lê Thần Tông, làm quan tới chức Lại khoa Đô cấp sự trung.
17. Vũ Lương (1606 - 1676) đậu Tiến sĩ lúc 38 tuổi, khoa Giáp Mùi (1643), niên hiệu Phúc Thái thứ 1 đời Lê Chân Tông, làm quan tới chức Hình bộ Hữu thị lang, là cháu nhiều đời của Hoàng giáp Vũ Hữu.
18. Vũ Trác Oánh (1635 - ?), năm 22 tuổi đậu Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656), niên hiệu Thịnh Đức thứ 4 đời Lê Thần Tông, làm quan tới chức Tham chính, tước Nam.
19. Vũ Đăng Long (1635 - ?) cũng đậu Tiến sĩ lúc 22 tuổi, cùng năm với Vũ Trác Oánh, làm quan đến chức Giám sát.
20. Vũ Công Lượng (1624 - ?), đậu Tiến sĩ năm 33 tuổi, cùng khoa với hai người trên, làm quan đến chức Hình khoa Đô cấp sự trung.
21. Vũ Cầu Hối (1618 - ?), đậu Tiến sĩ lúc 42 tuổi khoa Kỷ Hợi (1659), niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông, làm quan đến chức Tham chính. Ông là em út của Hoàng giáp Vũ Bạt Tụy.
22. Vũ Bật Hài (1629 - ?), năm 31 tuổi đậu Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1659), niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông. Năm 1673, đi sứ sang triều Thanh Thánh Tổ, làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang, có tác phẩm Vũ tộc khoa hoạn phả. Ông là cháu của Hoàng giáp Vũ Bạt Tụy và Hoàng giáp Vũ Cầu Hối.
23. Vũ Công Đạo (1629 - 1714), đậu Tiến sĩ lúc 31 tuổi, khoa Kỷ Hợi (1659), niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông. Là một Ngự sử cương trực, hạch tội lộng thần nhưng không được vua chúa nghe theo, ông đập đầu vào cột giữa triều để tỏ khí tiết. Làm quan đến chức Thượng thư bộ Công, xin về trí sĩ mở trường dạy học, có tiếng dạy giỏi đào tạo nhiều nhân tài như Bảng nhãn Phạm Quang Trạch, Thám hoa Vũ Thạnh và Hội nguyên Tiến sĩ Nguyễn Danh Dự. Ông là anh của Tiến sĩ Vũ Công Lượng. Thơ ông hiện còn 3 bài chép trong Toàn Việt thi lục.
24. Lê Công Triều (1630 - ?), đậu Tiến sĩ lúc 30 tuổi, khoa Kỷ Hợi (1659) niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông, làm quan đến chức Tham chính. Ông thuộc dòng dõi của Hoàng giáp Lê Quang Bí, Trạng nguyên Lê Nại, Hoàng giáp Lê Tư.
25. Vũ Duy Đoán (1621 - 1684), đậu Hương nguyên, Hội nguyên, lãnh học vị Tiến sĩ lúc 21 tuổi khoa Giáp Thìn (1664), niên hiệu Cảnh Trị thứ 2 đời Lê Huyền Tông. Làm quan tới chức Công bộ Thượng thư. Vì nói thẳng, trái ý chúa Trịnh Tạc nên bị bãi chức. Về quê mở trường dạy học và sáng tác. Là con của Hoàng giáp Vũ Bạt Tụy, cháu của Tiến sĩ Vũ Cầu Hối và em họ của Tiến sĩ Vũ Bật Hài. Ông lấy hiệu Quế Am, nổi tiếng văn chương, tác phầm có: Kim gián lục (khuyên Chúa Trịnh lúc ông còn tại chức), các bài phú như Phạm Lãi du Ngũ hồ, Hàn Tín điếu thành hạ, Dị văn ký, Mộ Trạch thôn phong cảnh và Nông gia khảo lịch. Người đời khen : “Trước đời Trung Hưng có Vịnh Kiều Hầu (tức Hoàng Sĩ Khải, người Bắc Ninh), sau đời Trung Hưng có Đường Xuyên Tử (tức Vũ Duy Đoán.)
26. Vũ Công Bình (1640 - ?) đậu Tiến sĩ lúc 25 tuổi khoa Giáp Thìn (1664), niên hiệu Cảnh Trị thứ 3 đời Lê Huyền Tông, làm quan đến chức Hiến sứ.
27. Vũ Đình Lâm (1640 - 1707), đậu Hoàng giáp năm 31 tuổi khoa Canh Tuất (1670), niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 đời Lê Huyền Tông, làm quan đến Lễ khoa Đô cấp sự trung. Ông là con của Tiến sĩ Vũ Lương, dòng dõi của Hoàng giáp Vũ Hữu.
28. Vũ Duy Khuông (1644 - ?) tự là Bách Am, đậu Tiến sĩ năm 27 tuổi khoa Canh Tuất (1670), niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 đời Lê Huyền Tông, làm quan đến Lễ khoa Đô cấp sự trung. Ông là cháu nội Hoàng giáp Vũ Bạt Tụy và con của Tiến sĩ Vũ Duy Đoán. Tác phẩm lưu lại là 8 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.
29. Vũ Đình Thiều (1658 - 1727), đậu Tiến sĩ lúc 23 tuổi khoa Canh Thân (1680), niên hiệu Vĩnh Trị thứ 5 đời Lê Huy Tông, làm quan đến chức Công bộ Cấp sự trung. Ông là cháu nội Tiến sĩ Vũ Lượng, cháu họ của Hoàng Giáp Vũ Đình Lâm.
30.Vũ Trọng Trình (1639 - ?) đậu Tiến sĩ khoa Sĩ vọng lúc 47 tuổi năm Ất Sửu (1685), niên hiệu Chính Hòa thứ 6 đời Lê Hy Tông, làm quan đến chức Hiến sát.
31. Nguyễn Thường Thịnh ( 1676 - ?), đậu Tiến sĩ năm 28 tuổi khoa Quý Mùi (1703), niên hiệu Chính Hòa thứ 24 đời Lê Hy Tông, làm quan đến chức Cấp sự trung.
32. Vũ Đình Ân (1680 - 1747), đậu Tiến sĩ lúc 33 tuổi khoa Nhâm Thìn (1712), niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 8 đời Lê Dụ Tông. Ông được giao trọng trách xác định các cột mốc biên giới với nhà Thanh. Chức vụ sau cùng là Lễ bộ Thượng thư, khi mất được tặng hàm Thái Bảo. Ông là con Tiến sĩ Vũ Đình Thiều, dòng dõi Hoàng giáp Vũ Hữu và Tiến sĩ Vũ Lương.
33. Vũ Huyên (1670 - ?) thi Hương đậu Giải nguyên, 43 tuổi đậu Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1712), niên hiệu Vĩnh Trị thứ 8 đời Lê Dụ Tông. Làm quan đến chức Đông các hiệu thư. Thuộc dòng dõi Hoàng giáp Vũ Đôn, nguyên quán làng Mộ Trạch, trú quán làng Đan Luân cùng huyện. Ông có tiếng về thi văn và xuất chúng về môn cờ tướng.
Tương truyền sứ nhà Thanh sang nước ta quen thói hống hách, lại tự phụ giỏi cờ, thách đấu với vua nước ta. Vua theo kế của Vũ Huyên, hẹn với sứ giả đấu cờ tại sân rồng vào đầu giờ ngọ, mỗi bên chỉ để một tên lính cầm lọng đứng hầu. Vũ Huyên giả làm tên lính đứng hầu nhà vua, trên tàn lọng xoi một lỗ rất nhỏ đủ cho tia nắng xuyên qua làm hiệu, lựa lúc chiếu vào các quân cờ để mách nước cho vua. Nhờ kế ấy, vua nước ta thắng ba ván liên tiếp, sứ Tàu rất khâm phục và không dám hống hách nữa. Nhờ công lao ấy, ông được vua ban cho danh hiệu “Đấu kỳ Trạng nguyên” và trong dân gian còn có câu ca dao truyền tụng:
Trạng cờ Mộ Trạch càng ghê
Sứ Yên thua cuộc rút xe về thành.
34. Vũ Phương Đề (1698 - ?) đậu Tiến sĩ năm 39 tuổi khoa Bính Thìn (1736), niên hiệu Vĩnh Hựu 2 đời Lê Ý Tông, làm quan đến Đông các Học sĩ, dòng dõi Vũ Hữu. Ông là tác giả Công dư tiệp ký (1775) gồm 43 truyện ghi chép các chuyện mắt thấy tai nghe, chia làm 12 mục: Thế gia, danh thần, danh nho, tiết nghĩa, chí khí, báo ác, tiết phụ, ca nữ, thần quái, âm phần, danh thắng, thú loại.
35. Vũ Huy Đỉnh (1730 - 1789) tự Ôn Kỳ, hiệu Di Hiên, đậu Tiến sĩ lúc 25 tuổi khoa Giáp Tuất (1754), niên hiệu Cảnh Hưng 15 đời Lê Hiển Tông. Ông có tài về văn thơ, chính trị và ngoại giao. Năm 1772 đi sứ nhà Thanh, làm quan đến Lễ bộ Hữu thị lang, tước Hồng Trạch hầu.
Tác phẩm của ông gồm: Bách đài tập, Hoa trình tạp thi, Kỷ thắng tập, Nam trung tập, Quang thương tiền tập, Sơn Tây tập, Trình tuyết tập, Thanh Hóa tiền hậu tập, Tùng vịnh tập, Tuyên Quang tập.
Trong số 35 vị đại khoa của làng Mộ Trạch, họ Vũ chiếm đa số tuyệt đối với 9 Hoàng giáp và 20 Tiến sĩ. Trong lúc họ Lê có 1 Trạng nguyên, 2 Hoàng giáp và 1 Tiến sĩ.
Cùng lập nghiệp tại một làng có huyệt chính của cuộc đất phát văn, nhưng họ Vũ hầu như trọn hưởng cái tinh hoa của vùng đất, tương truyền vì có ngôi mộ tổ được táng treo ngay trong làng. Con cháu họ Vũ đã bốc hài cốt vị tổ vào một cái quách nhỏ bằng sành, khằn kín kỹ lưỡng rồi treo lơ lửng dưới một cành đa cổ thụ, dùng rễ đa bó chung quanh. Chùm rễ này ăn sâu xuống đất, lớn dần thành một thân cây khổng lồ ôm chặt hài cốt ở giữa.
Thành tích khoa bảng huy hoàng nhất của làng Mộ Trạch nói chung và họ Vũ nói riêng là khoa Bính Thân (1656) niên hiệu Thịnh Đức 4 đời Lê Thần Tông có 3 vị tân khoa Tiến sĩ là Vũ Trác Oánh, Vũ Đăng Long và Vũ Công Lượng. Tiếp đến khoa Kỷ Hợi (1659) niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông, Mộ Trạch lại một lần nữa chiếm kỷ lục. Khoa ấy cả nước lấy đậu đại khoa 20 vị thì riêng làng Mộ Trạch đã có 4 Tiến sĩ: Vũ Cầu Hối, Vũ Bật Hài, Vũ Công Đạo và Lê Công Triều.
Mộ Trạch còn có Trạng vật Vũ Phong, em ruột Hoàng giáp Vũ Hữu. Ông tướng ngũ đoản, có biệt tài về đô vật, đã quật ngã các đô lực sĩ hộ vệ vua Lê Thánh Tông trong một cuộc thử sức, lại có tiếng chính trực và tháo vát, được vua tin dùng, cho làm Chỉ huy sứ Cẩm y thị vệ. Có lần ông được sung vào sứ bộ sang nhà Minh biểu diễn tài đô vật. Ông đã thắng các tay đô vật nổi tiếng của Tàu, đem lại vẻ vang cho dân tộc, khiến vua Minh Hiến Tông phải khen ngợi, gọi ông là “Lý Tôn Hiến An Nam”, ý sánh ông với danh tướng họ Lý đời Đường Hy Tông, cũng vóc người nhỏ bé nhưng giỏi võ và sức mạnh phi thường, có công dẹp yên loạn Hoàng Sào. Người đương thời tôn xưng Võ Phong là Trạng Vật. Còn Hoàng giáp Lê Quang Bí liệt ông vào các nhân vật lịch sử và có thơ vịnh:
Ngũ đoản tằng xưng tướng mạo kỳ,
Tang bồng hồ thỉ hảo nam nhi.
Nhất môn bá trọng quang tiên nghiệp
Thiên tải minh lương kết chủ tri
Ứng biến đạt tài thi hữu chính,
Xứng bình lịnh dữ bá vu thì.
Tử tôn vinh thịnh đoan phi ngẫu,
Chủng đức cao dao thị ngã si (sư).
Bản dịch trong Tự điển Nhân vật lịch sử Việt Nam:
Tướng xem ngũ đoản thật phi thường
Hồ thỉ làm trai chí bốn phương
Nếp cũ thêm tươi hàng bá trọng,
Ngàn xưa được gặp chúa minh lương.
Khen tay chính trị tài thông biến,
Giữ mực công minh tiếng chẳng thường.
Con cháu vinh hoa âu cũng bởi,
Ai trồng cây đức để làm gương.
Mộ Trạch còn đóng góp cho triều đại Lê sơ một vị tướng can trường, trung hậu. Đó là Vũ Dự, cùng họ hàng với Hoàng giáp Vũ Hữu. Theo Đại Nam nhất thống chí, Vũ Dự cùng với Cương quốc công Nguyễn Xí lật đổ Nghi Dân, dẹp xong bọn phản loạn Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng, Lê Đắc Minh; rồi tôn Bình Nguyên Vương Tư Thành lên ngôi vua, lập ra một triều đại cực thịnh trong lịch sử nước ta. Ông được vua Lê Thánh Tông phong làm Minh Nghĩa công thần, Tả Phủ Đô đốc, tước Tri Lê bá.
Mộ Trạch cũng sản sinh một danh thần tuy không xuất thân từ hàng khoa bảng mà vẫn được nể trọng. Đó là Vũ Duy Chí (1604 - 1678). Theo Lịch triều hiến chương (Nhân vật chí, bản dịch, trang 277) nhờ ân đức của người mẹ trả lụa cho người bỏ quên mà năm anh em ông đều rạng danh với đời. Vũ Tự Khoái (con trưởng) là công thần đời chúa Trịnh Tráng (1623 -1657), Vũ Bạt Tụy (con thứ) đậu Hoàng giáp, Vũ Đức Chí là công thần dưới thời chúa Trịnh Tạc (1657 - 1682), Vũ Phương Trượng làm đến Thượng thư, tước Quận công, Vũ Cầu Hối (con út) đậu Tiến sĩ.
Khoảng niên hiệu Cảnh Trị đời Lê Huyền Tông (1663 - 1671) Vũ Duy Chí được thăng Lễ bộ Thượng thư, tước Phương quận công. Khi làm Tể tướng, trong triều có người chê ông xuất thân từ chân lại, Dương vương Trịnh Tạc đã đem các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa như Tiêu Hà, Tào Tham (đời Hán Cao Tổ), Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối (đời Đường Thái Tông) cũng từng làm lại để biện hộ cho ông. Tuy được nhà Chúa tin dùng, ông vẫn giữ lòng ngay thẳng, tôn trọng lẽ phải và trung hậu khiến Chúa rất nể trọng.
Nhân ngày Nguyên Đán, Chúa truyền các quan văn võ sau khi chầu Vua thì vẫn giữ nguyên phẩm phục sang phủ lạy mừng Chúa. Ông bèn nói ngay: “Nhà Chúa từ xưa tới nay vẫn một niềm tôn phù hoàng gia. Vậy lễ ngày hôm nay chỉ nên mặc áo thanh cát, không nên dùng triều phục, sợ trái với lệ cũ.” Chúa cho là phải và bỏ việc ấy. Tận tụy với việc nước đến năm 73 tuổi (1676) ông mới về hưu, được gia thăng Lại bộ Thượng thư, Quốc lão Thiếu phó. Chúa tặng ông lá cờ có thêu câu đối:
Nhất đại tông thần Tiêu tướng quốc;
Lưỡng triều nguyên lão Triệu Hàn vương.
Bản dịch Lịch triều hiến chương loại chí:
Làm quan đầu triều một đời, như tướng quốc Tiêu Hà
Trải làm nguyên lão hai triều, như Hàn vương Triệu Phổ.
Ông mất năm Mậu Ngọ (1678) thọ 75 tuổi. Được truy tặng Thái phó.
Mộ Trạch còn cống hiến cho đất nước một nhà ngoại giao tài ba Vũ Huy Tấn (1749 - 1800). Ông là con của Tiến sĩ Vũ Huy Đỉnh, đậu Giải nguyên khoa Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hưng 29 đời Lê Hiển Tông, được bổ làm Thị nội ở viện Hàn lâm. Khi vua Quang Trung ra Bắc, ông theo giúp, làm quan đến Công bộ Thượng thư. Hai lần được cử đi sứ sang Tàu, ông tỏ ra là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp và có khí phách, bảo toàn được danh dự quốc gia. Trong lần đi sứ cùng giả vương Phạm Công Trị, quan nhà Thanh gọi đoàn sứ giả ta là “di quan”, ông đã khẳng khái phản đối đúng nguyên tắc bình đẳng ngoại giao, khiến họ phải nể trọng. Vì thế Vũ Huy Tấn và Phan Huy Ích được đặc cách đến gần vua Càn Long (Thanh Cao Tông) và chính tay nhà vua rót rượu mời; một sự kiện hiếm có đối với sứ giả các nước. Ngoài sở trường về ngoại giao, ông còn sáng tác nhiều thơ văn đề cao lòng tự hào dân tộc, với bút hiệu Nhất Thủy, ông có tác phẩm Hoa nguyên tùy bộ tập.
Nhưng trên hết, Mộ Trạch là đất địa linh nhân kiệt, cống hiến cho tổ quốc những con người kiên trung. Chí sĩ Lê Cảnh Tuân, thân phụ của tướng Lê Thiếu Dĩnh trong hàng ngũ chống Minh của Bình Định Vương, là nội tổ Trạng nguyên Lê Nại và Hoàng giáp Lê Tư, là tằng tổ của Hoàng giáp Lê Quang Bí. Theo Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Cảnh Tuân đậu cử nhân khoảng niên hiệu Xương Phù (1377 - 1388) đời Trần Phế Đế; còn theo Đại Nam nhất thống chí thì ông đậu Thái học sinh đời Trần. Dù với học vị nào, ông vẫn là người khai khoa của làng Mộ Trạch. Khi quân Minh sang chiếm nước ta, ông viết Vạn ngôn thư (bức thư vạn chữ) khuyên người bạn cũ là Bùi Bá Kỳ đang làm Tham nghị cho giặc, nên đòi họ giữ lời hứa lập lại nhà Trần. Bức thư có đoạn: “Nhà Minh đã sắc phong cho Ngài (Bùi Bá Kỳ) theo quân họ sang đánh, chờ bắt được nhà Hồ, chọn lập con cháu họ Trần, gia thêm tước để giúp nước. Thế mà nay chỉ thấy họ lập ty Bố chánh, phong Ngài tước cao, còn nhà Trần thì chỉ cho người quét dọn miếu thờ. Vậy nếu Ngài có thể lại tâu lên, xét lời nói của các quan lại, kỳ lại bày tỏ việc con cháu họ Trần chưa tuyệt, để họ tuyên chiếu khác sắc phong cho họ Trần. Đấy là thượng sách. Không thể thì Ngài xin thôi chức, chỉ xin làm viên quan coi miếu nhà Trần, đấy là trung sách. Còn nếu Ngài nhận chức quan cao, ăn lộc nhiều, thì là hạ sách vậy. Như Ngài theo thượng sách, thì tôi xin làm các vị nhân sâm, cam thảo, chỉ xác, trần bì sung vào giỏ thuốc để cho Ngài dùng. Theo trung sách thì tôi xin bưng khay chén đi lại trong miếu cũng để ngài sai bảo. Còn nếu theo hạ sách thì tôi sẽ đi cày ruộng nơi tịch mịch, nhàn hạ, để cho trọn những năm sống thừa mà thôi.”
Sau đó Bùi Bá Kỳ bị một tội khác, quân Minh xét nhà thấy có Vạn ngôn thư, ra lệnh tầm nã ông. Lê Cảnh Tuân phải cải dạng đổi tên đi trốn. Nhưng năm 1411 quân Minh lập Giao Châu học hiệu tại Thăng Long ông giả làm khách ra kinh đô nhận chức dạy học để có dịp kết nạp sĩ phu ngầm việc cứu nước. Bởi tiếng tăm ông nhiều người biết nên các con ông hết sức khuyên can nhưng ông quả quyết; “Nhà ta đời đời ăn lộc. Một bức thư vạn ngôn đã bị tiết lộ, không thành. Nay ta hết lòng báo ơn nước, dù chết còn vinh, ta có sợ gì!”
Can ngăn không được, người con trưởng là Lê Thái Diên phải theo cha hầu hạ phòng việc bất rắc. Quả nhiên ông bị bắt giải về Yên Kinh cùng với người con. Vua Minh Thánh Tổ hỏi:
- Mày khuyên Bá Kỳ âm mưu làm phản, vì sao vậy?
Lê Cảnh Tuân khẳng khái đáp:
- Người Nam thì mong nước Nam còn. Chó của ông Trích thì cắn người không phải chủ nó. Hỏi làm gì!
Vua Minh giận lắm, ra lệnh giam cha con ông vào ngục tối ở Kim Lăng. Ngày Tết nhớ về cố hương, Lê Cảnh Tuân gửi nỗi lòng mình trong bài Nguyên Nhật (Ngày đầu năm), Bùi Huy Bích (1744 - 1818) sưu tầm, chép vào Hoàng Việt thi tuyển:
Lữ quán khách nhưng tại
Khứ niên xuân phục lai
Quy kỳ hà nhật thị,
Lão tận cố hương mai.
Đinh Văn Chấp dịch (Nam Phong tạp chí, 1927):
Đất khách ngày bao trải
Trời xuân năm thứ hai
Kỳ về còn chưa định,
Quê cũ đã chồi mai.
Nhưng ngày về không còn! Năm năm sau, ông và người con trưởng chết trong ngục tối.
Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú đã trân trọng xếp ông vào 7 người bề tôi tiết nghĩa đời Trần, và Đại Nam nhất thống chí thì liệt ông vào 13 nhân vật lịch sử nổi tiếng của tỉnh Hải Dương dưới thời Trần.
*
Tóm lại, Mộ Trạch chỉ là một làng quê nhỏ bé nhưng có cả một đội ngũ nhân tài đồ sộ tầm cỡ quốc gia.
Ngày xưa, Lê Thiếu Dĩnh tự là Tử Kỳ theo Lê Thái Tổ khởi nghĩa, làm đến Thiêm tri Viện sự, để lại tập thơ Tiết Trai được Phan Huy Chú khen là giản dị, cổ kính. Trong đó có bài Trạch thôn cố viên, tả làng Mộ Trạch khi làng này chưa xuất hiện những vị khoa giáp và nhân tài:
Mỗ khâu mỗ thủy cựu hương lư,
Tiên trủng quy lai bái tảo sơ
Tang tử niên thâm do ốc nhược,
Tùng thu thụ lão dĩ sâm như...
Bản dịch Hoàng Việt thi tuyển:
Khe kia cồn nọ, cảnh hương quê
Viếng mộ cha ông mới trở về
Tang tử năm xưa còn tốt đẹp
Tùng thu gốc lão vẫn sum sê...
Với cảnh sắc ấy, Mộ Trạch đã là chiếc nôi nuôi dưỡng nhân tài Việt Nam suốt thời đại nhà Lê (1428- 1788). Có điều đáng suy ngẫm, từ năm 1822 đến năm 1919 nhà Nguyễn mở 39 khoa tiến sĩ (không kể khoa Ất Dậu 1885, chưa kịp truyền lô thì kinh đô thất thủ), lấy đậu 558 lượt người, gồm 292 trúng cách Chính bảng và 266 trúng cách Phó bảng. Thế nhưng, làng Mộ Trạch không một ai đỗ đại khoa và cả huyện Đường An chỉ có Vũ Đức Khuê người xã Hoa Đường đậu Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân.
Vấn đề đặt ra, Mộ Trạch có mãi còn là đất phát văn? Và bây giờ, nhân tài Mộ Trạch nơi đâu?
ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG
CHÚ THÍCH
(1) Năm Tân Mão (1831) Minh Mạng thứ 12, đổi trấn thành tỉnh, từ ấy trấn Hải Dương gọi là tỉnh Hải Dương.
(2) Các sách tham khảo:
- Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, nxb Văn Học, Hà Nội 1993.
- Quốc triều khoa bảng lục của Cao Xuân Dục, người dịch Lê Mạnh Liêu, nxb Văn Học, 2001.
- Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam; nhóm biên soạn Bùi Hạnh Cẩn, Minh nghĩa, Việt Anh, nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2002.
-Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, nhóm Đỗ Mộng Khương dịch, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1992.
- Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Phạm Trọng Điềm dịch, nxb Thuận Hóa, Huế 1992.
- Việt Nam Danh nhân từ điển của Nguyễn Huyền Anh, nhà sách Khai Trí tái bản và phát hành, Sài Gòn 1972.
- Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, nxb Khoa học Xã hội, Sài Gòn 1992.
- Thành ngữ điển tích Danh nhân từ điển của Trịnh Vân Thanh, Sài Gòn 1966, Đại Nam tái bản tại California.
- Từ điển Văn học của nhóm biên tập Đỗ Đức Hiếu, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1883.
- Văn hóa Việt Nam tổng hợp, Trần Độ chủ biên, Hà Nội 1989.
- Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Ngô Đức Thọ, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993.
- Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Dương Thị The và Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1981. - Văn học từ điển của Thanh Tùng, Khai Trí phát hành, Sài Gòn 1973; Xuân Thu tái bản, California 1990.

gia dich  
#4 Posted : Thursday, July 24, 2003 2:46:41 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát có nghề làm tranh.

Ðông Hồ, một cái tên làng quen thuộc xinh xắn nằm bên bờ sông Ðuống thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã từ lâu đi vào cuộc sống tinh thần của mỗi người dân Việt Nam bằng những bức tranh dân gian nổi tiếng, đậm đà sắc thái dân tộc.


Tranh làng Ðông Hồ không phải vẽ theo cảm hứng nghệ thuật mà người dùng ta dùng ván để in. Ðể có những bản khắc đạt đến trình độ tinh xảo phải có người vẽ mẫu. Những người vẽ mẫu và bản khắc ván đòi hỏi họ phải có lòng yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đặc biệt phải có trình độ kỹ thuật cao. Công đoạn in tranh có lẽ không khó lắm bởi lẽ ai cũng có thể phết màu lên ván rồi in.

Giấy dùng in tranh là loại giấy gió mịn mặt. Trước khi in, giấy được bồi điệp làm nền, chất điệp óng ánh lấy từ vỏ con sò, con hến đã tạo nên chất liệu riêng biệt của tranh dân gian Ðông Hồ.

Sau khi in thành tranh, kể cả cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia có sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên. Các màu đã hoà quyện in tranh thường lấy từ chất liệu thiên nhiên : màu đen người ta phải đốt lá tre rồi lấy than của nó ; màu xanh lấy từ vỏ và lá tràm , màu vàng lấy từ hoa hòe , màu đỏ thắm lấy từ thân, rễ cây vang, màu sơn lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp...Những năm gần đây có một số người khi in tranh đã từng dùng một số màu và hoá chất hiện đại, như thế sản phẩm có tăng nhưng chất liệu màu của tranh không tươi màu sắc nét như tranh làm truyền thống. Ðã thế, chỉ trong một thời gian ngắn màu sắc bị phai nhạt.

Tranh dân gian Ðông Hồ không áp dụng chặt chẽ về cơ thể học, các nguyên tắc về ánh sáng hay luật xa gần của tranh hiện đại. Những nghệ sĩ sáng tác tranh dân gian mang nhiều tính ước lệ trong bố cục, trong cách miêu tả về màu sắc. Tất cả đều sử dụng lối vẽ đơn tuyến bình đồ để thể hiện, do đó xem tranh dân gian ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét ngây ngô đơn giản nhưng hợp lý hợp tình.

Không chỉ có người Hà Nội và dân một số tỉnh thành trong nước sành điệu, yêu thích tranh dân gian Tết Ðông Hồ về tham quan tìm hiểu và chọn mua, mà không ít du khách, những người trong lĩnh vực hội hoạ, mỹ thuật của nước ngoài cũng đến để nghiên cứu về nghệ thuật tranh dân gian nổi tiếng của làng Hồ.
Ðã có một thời gian tranh dân gian Ðông Hồ bị lãng quên nên nghề làm tranh mai một ít nhiều. Không ít hộ bỏ làm tranh chuyển sang làm đồ vàng mã. Những vài năm năm trở lại đây người Ðông Hồ lại hoan hỉ trở lại với nghề tranh nhiều hơn bởi người dân của ta đã lại nhận ra vẻ đẹp trong sự mộc mạc giản dị của tranh Ðông Hồ là không thể thiếu được trong cuộc sống thường nhật, nhất là ngày Tết.





gia dich  
#5 Posted : Thursday, July 24, 2003 3:06:57 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Làng Gìo Chả
Từ trung tâm thủ đô, qua cửa ô Yên Phụ và ngược đê sông Hồng qua các làng hoa truyền thống Quảng Bá, Nhật Tân, Phú Thượng... tới cầu Thăng Long và đi thêm 1 km nữa ta sẽ bắt gặp một làng quê cổ kính ngay sát bến phà Chèm - nơi mà thi sĩ Huy Cận đã xuất thần tuyệt tác Tràng Giang của mình từ hơn nửa thế kỷ trước, đó là làng Chèm thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

Từ xa xưa, làng Chèm đã nổi tiếng với nghề truyền thống làm giò chả. Cùng với nem làng Vẽ, giò chả làng Chèm đã đi vào ca dao tục ngữ địa phương mà dân trong vùng không dễ gì quên được hai câu đặc trưng:

Ai về làng Vẽ mua nem
Qua Chèm giò chả mua em làm quà.

Vâng, hai làng cùng ở một xã và cùng nổi tiếng với những món ngon riêng biệt. Theo như một số sử sách ghi lại và lời kể của những bậc cao niên trong làng thì nghề làm giò chả bắt đầu ở đây từ thế kỷ thứ 10. Người truyền nghề cho dân làng là một đầu bếp Trung Quốc tên là Lý A Trang. Về sau do mến mộ dân làng nên Lý A Trang đã ở lại đây lấy vợ và sống đến hết đời.

Quanh thủ đô Hà Nội cũng như nhiều làng quê trên đất bắc không thiếu gì những làng quê làm giò chả ngon như làng Lỗ Khê ở Hà Tây; làng An Tô ở Hà Nam... nhưng ngon đặc biệt và nổi tiếng hơn cả vẫn là giò chả làng Chèm. Để gây được tiếng vang lớn cũng như hợp khẩu vị sành điệu của người dân thủ đô cũng như trong vùng thì việc làm giò chả ở đây đều phải tuân thủ theo những quy luật, công thức cơ bản trong khâu chế biến chả giò, cách lựa chọn thịt để làm, cộng với những bí quyết cũng là yếu tố quan trọng.

Cách chế biến giò khá cầu kỳ phức tạp. Đầu tiên, người ta lựa chọn những loại thịt nạc vai, nạc thăn của con lợn. Thịt phải nạc hoàn toàn và không có mỡ (đối với giò lụa). Người làng Chèm khi đi mua thịt về làm giò lụa thì không chỉ mua loại nạc ngon mà họ kén mua loại thịt của con lợn đen và giống ỉ chân ngắn. Loại thịt của những con lợn này chắc, thơm thịt và khi làm giò chả lại ít hao. Mặc dù công nghệ xay giờ đã phổ biến ở đây từ lâu, song qua một thời gian người ta phát hiện ra là ăn không ngon như giò giã tay và vì thế mà người dân lại quay về với cách chế biến giò truyền thống đó là giã tay. Mặc dù giã tay rất vất vả nhưng ai nấy đều chung thủy bởi họ làm nghề vì danh tiếng của làng. Theo như mấy người ở đây kể thì sản xuất được 20 kg giò hai người phải làm việc cật lực trong nửa ngày. Họ giã suốt mà không biết mệt. Hai tay họ giã rất nhịp nhàng. Giò giã phải thật nhuyễn, độ nhuyễn như bột thì giò mới mịn, mới ngon. Trước khi giã giò, thịt được ướp tiêu và nước mắm loại ngon và sau 20 phút mới mang vào giã. Nếu muốn để giò có chút hương vị, người ta có thể ướp thêm cùng thịt như: hương quế, hương thảo mộc. Ngoài ra, giò còn phải pha với bột gạo. Nếu pha quá nhiều, giò sẽ giảm chất lượng, ít hay không pha thì giò cũng sẽ không ngon mà người làm lại lỗ.

Hiện tại cả làng Chèm có khoảng 30 hộ làm giò chả. Hầu như nhà nào cũng làm giò lụa, chả và giò bò. Nhưng nhiều hơn cả là giò lụa và chả quế.

Sản phẩm làng Chèm không chỉ bán ở chợ Vẽ, các chợ trong vùng mà không ít nhà hàng ở nội thành Hà Nội vẫn thường xuyên đặt hàng ở đây. Rất nhiều đám cưới ở các huyện ngoại thành mà trong mâm cỗ có một món không thể thiếu được đó là chả, giò của làng Chèm. Vì thế làng Chèm luôn được mọi người tới đặt hàng thường xuyên.

Cũng như rất nhiều nghề truyền thống thì nghề làm giò chả ở làng Chèm, người dân cũng chỉ coi giải quyết công ăn việc làm và lưu giữ nghề là chính, chứ thu nhập không cao. Theo như anh Lê Văn Đang chủ nhân của một cơ sở sản xuất giò chả cỡ lớn ở đây thì làm ra 10 kg giò lụa thành phẩm thì chỉ được lời 50 - 70 nghìn đồng. Đấy chưa kể công sức làm ra rất lớn. Không phải một người mà cả hộ gia đình mới làm ra nổi ngần ấy sản phẩm trong gần một ngày. Trung bình một ngày một hộ làm khoảng 20 - 30 kg giò chả các loại. Những hộ có cơ sở đặt hàng thường xuyên thì cỡ 50 - 70 kg.
Chèm - một làng nghề truyền thống ở ven đô từ xa xưa đã đi vào bộ nhớ của những người sành điệu, những món ăn ngon của Hà Nội. Hy vọng, người dân sẽ không để làng nghề này mai một, mà họ gìn giữ và phát triển mạnh mẽ hơn nữa để làm phong phú hơn những làng nghề truyền thống ở thủ đô.

gia dich  
#6 Posted : Thursday, July 24, 2003 3:15:07 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Làng Ăn Mày
Làng Đồn Điền (Quảng Thái, Quảng Xương, Thanh Hoá) nằm chênh vênh bên bờ biển đầy gió, cát và phi lao. Người ta biết đến làng Đồn Điền nghèo nàn, lam lũ này vì những lời... đồn thổi. Làng nào trên dải đất hình chữ S này cũng có một huyền thoại, nhưng ít có huyền thoại nào kỳ bí như chuyện ''ông tổ nghề cái bang'' của Đồn Điền. Không biết từ bao đời nay, những đồn thổi về một ''làng ăn mày'' cứ tồn tại trong nhân gian và người dân làng Đồn Điền cứ âm thầm sống chung với huyền thoại, mang trong mình ''dòng máu ăn mày'' mà người đời gán cho.

Chúng tôi về Quảng Thái vào những ngày đầu hè. Làng Đồn Điền nằm chênh vênh bên bờ biển Quảng Thái không biết đã tự bao đời nay. Gió, cát, nghèo, đói cứ bám riết lấy cư dân Đồn Điền như một định mệnh. Những ngư dân oằn mình sống bên sự dữ dội của của biển khơi và vô vàn những chuyện về ''ông tổ cái bang''.

Từ ''huyền thoại'' đến ''đồn thổi''

Ông Tô Hoài Trương, một trong những phụ lão già nhất trong làng Đồn Điền, từng hợp tác với một số nhà khoa học nghiên cứu về ''chuyện làng ăn mày'' Đồn Điền lặng lẽ kể về làng mình...

Theo sắc phong của làng, địa danh làng Đồn Điền bây giờ xa xưa là một bãi đất hoang vu. Vào thời vua Lê Thánh Tông, chính sách ''ngự binh ư nông'' được áp dụng ở mảnh đất đứng chân làng Đồn Điền bây giờ. Khoảng nửa sau thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông cho lập sở đồn điền tại mảnh đất duyên hải này với mục đích đưa binh lính về vừa trấn giữ bờ biển vừa làm nông nghiệp lấy lương thực. Nơi đây ngày xưa là đại bản doanh của chánh sứ Tô Chính Đạo và hai phó chánh sứ Uông Ngọc Châu và Trịnh Hoành Vân. Binh lính của Sở đồn điền sinh nhai và lập nghiệp luôn tại đây thành làng Đồn Điền.

Một lần, khi Tết Nguyên đán đã cận kề, Chánh sứ Tô Chính Đạo và hai cộng sự phải dẫn quân đi đánh giặc Chiêm Thành. Chiến thắng trở về, ba vị tướng đã tổ chức khao quân và cho nhân dân Đồn Điền ăn Tết lại vào tháng 2. Tập tục ăn tết lại có lẽ được giữ lại để nhớ ơn những người đã có công lập ấp và giữ nước. Ông Trương nhìn xa xăm về phía đền thờ Thành Hoàng làng Đồn Điền rồi nói khẽ: ''Lịch sử như thế, có sách hẳn hoi mà thiên hạ họ bịa thành chuyện làng Đồn Điền bỏ tết đi ăn mày rồi sau Tết, kiếm được mới ăn lại, buồn quá về chuyện đồn thổi... !''.

Chuyện đồn thổi về làng Đồn Điền do bận đi ăn xin nên thường tổ chức ăn Tết vào tháng 2 âm lịch cứ ngày một phát tán trong nhân gian từ đó đến bây giờ. Ông Trương khẳng định, chuyện ăn Tết vào tháng 2 chỉ xuất phát vào một lý do duy nhất là theo truyền thống của làng từ thời xa xưa, thậm chí người Đồn Điền còn ăn Tết to hơn cả Tết chính. Phong tục này đã gắn chặt vào tâm thức của người dân từ khi nào ngay chính những phụ lão như ông Trương cũng không thể giải thích được.

Chúng tôi đi ''thăm'' mộ ''ông tổ cái bang''. Đền Đồn Điền nằm lặng lẽ bên con đường liên xã, trong một rặng cây xanh um đầu làng. Mảnh đất đền Đồn Điền tọa lạc được coi là đẹp và có thế. Huyền thoại về ngôi mộ ''ông tổ cái bang'' được thêu dệt khá hấp dẫn...

Đó là vào một ngày rất xa xưa, khi người dân Đồn Điền bốc mộ thành hoàng đã bốc nhầm phải mộ một người ăn mày xấu số. Cả làng chưa biết làm sao thì có mấy phụ lão bảo phải mời thấy phù thuỷ nổi tiếng trong vùng đến xem lại long mạch và ''chỉ lối'' cho cả làng. Đứng trước ngôi mộ đã được đào lên, thầy phù thuỷ chậm rãi phán: ''Để linh hồn người ăn mày được bình yên, từ nay trở đi, cứ sáng mùng một Tết Nguyên đán hàng năm, từ hào lý, điền chủ cho đến dân đen trong làng phải đóng cửa đi ăn mày xứ người !''. Và ''huyền thoại'' cả làng đi ăn mày bắt đầu từ đó, được truyền trong nhân gian, bay bổng cùng với trí tưởng tượng của người đời và... lại trở về với chính người dân Đồn Điền. Nhưng khi ''huyền thoại về ông tổ nghề cái bang'' quay trở lại mảnh đất cơ hàn này thì nó đã quá ''to'' và không khỏi làm ''đau lòng'' người dân.

''Huyền thoại'' nối ''huyền thoại'. Đồn thổi chồng chất đồn thổi. Trẻ con làng Đồn Điền lớn lên đi học bị coi là ''dân ăn mày''. Người Quảng Thái đi lập nghiệp ở tứ xứ cũng bị quy là ''người xã ăn mày''. Huyền thoại và đồn thổi ác nghiệt cứ đè nặng lên ý chí vươn lên của người dân một nắng hai sương Đồn Điền. Nhưng chưa hết, các cụ già Đồn Điền đã quá quen với cảnh ngừi ở đâu đâu đến tìm hiểu về ''ông tổ cái bang'' nên không từ chối bất cứ một điều gì chúng tôi ''giả vờ ngờ ngệch'' hỏi...

Từ chuyện đào nhầm phải mộ người ăn mày ở làng Đồn Điền, người đời lại dựng nên chuyện ông tổ cái bang. Và cho đến khi chúng tôi đặt chân đến trước cửa đền Đồn Điền, cố gạt ra khỏi đầu tư tưởng về một ''ngôi mộ'' to và đẹp của ''ông tổ cái bang'' mà nhân gian dựng nên nhưng không được. Đền Đồn Điền nằm linh thiêng giữa vi vút gió từ biển thổi vào. ''Ông tổ cái bang'' là ai? Đền thờ ''vua ăn mày'' ở đây ư? Ngôi mộ, chiếc gậy và chiếc bị của người ăn mày xa xưa kia đâu? ''Huyền thoại'' nổi tiếng cả nước vẻn vẹn thu mình trong chiếc đền nhỏ này ư ? Và sau khi tìm hiểu, chúng tôi xin được kể tiếp dòng huyền thoại đậm chất... bịa đặt này. Đó là việc người dân làng Đồn Điền sau mỗi chuyến đi ăn xin về thì phải mang các đồ xin được ra đền Đồn Điền làm lễ tế. Tương truyền, đền Đồn Điền ngoài thờ linh hồn ''ông tổ cái bang'' còn thờ cả một chiếc gậy và chiếc bị, những dụng cụ ''vật bất ly thân'' của nghề ăn mày. Huyền thoại cho rằng, ''nghề ăn mày'' ở Quảng Thái nói chung và làng Đồn Điền nói riêng bắt đầu từ đó.

''Ăn mày là ta... !''

Như bao làng quê biển khác trên dải đất Việt này, người dân làng Đồn Điền nói riêng và Quảng Thái nói chung cũng suốt đời nặng nợ bám biển. Họ chào đời giữa những con sóng dữ dội và tồn tại nhọc nhằn bên sự lặng lẽ của biển khơi. Ngư dân Đồn Điền lấy biển là nhà, lấy sóng là bạn. Trẻ con Đồn Điền mới sinh ra mồm miệng đã mặn chát vị cát biển, da dẻ rám nắng và tâm hồn tràn đầy tình yêu biển cả. Làng Đồn Điền sinh tồn êm ả sát mép biển Quảng Thái nhưng những huyền thoại và đồn thổi vu vơ của nhân gian len lỏi về tận đây khiến cho làng nhiều phen chao đảo.

Trước đây, người dân Quảng Thái gắn chặt với cây lúa, dệt cói xuất khẩu và chài lưới. Dần dần đất chật người đông, ruộng đã ít lại chỉ làm được một vụ, nghề chài lưới thì chỉ là đánh bắt ven bờ, mỗi ngư dân một ngày làm lụng hùng hục cũng chỉ được vài chục ngàn. Còn nghề dệt cói xuất khẩu, Quảng Thái có thời điểm rất ''huy hoàng'' nhưng từ khi Đông Âu tan rã, hàng cói xuất khẩu không còn thị trường, Quảng Thái lao đao đi tìm cách làm ăn mới. Rồi trận bão kinh hoàng cách đây chục năm ''đến thăm'' Thanh Hoá, người dân Quảng Thái đang khốn đốn vì nghèo đói, mất mùa, lại tiếp tục oằn mình trong nỗi đau thiên tai. Và như thiên hạ đúc kết ''đói thì đầu gối phải bò'', người dân Quảng Thái bắt đầu lác đác rủ nhau rời quê hương lang thang đi làm ''cái bang'' kiếm sống.

Lúc đầu chỉ là một vài người bỏ làng ra đi, sau thấy ''nghề'' này ''làm ăn'' được, nhiều người trong làng cũng nối gót nhau ra đi. Tuy nhiên, có một điều mà thiên hạ ít biết về chuyện ra đi của người dân Quảng Thái. Đó là không phải họ ra đi chỉ để ăn xin, mà nhiều người gom góp tiền làm ăn nơi xứ người, khi kiếm được nhiều tiền, họ về quê xây nhà và sắm sửa, thế là ''đồn thổi'' về chuyện dân Quảng Thái đi ăn mày xây nhà lầu, sắm đồ xịn... bắt đầu lan truyền trong nhân gian. Mải miết làm ăn, những người dân Quảng Thái ''làm ăn chân chính'' ở xứ người cũng không để ý đến chuyện đồn thổi ''ác nghiệt'' kia. Nhưng cái đói nghèo vẫn cứ bám riết lấy người dân chân lấm tay bùn, người dân bắt đầu đua nhau ra đi ''làm ăn xa''. Những cánh đồng khô cằn Quảng Thái lại thêm phần hoang hoá vì thiếu dấu chân người nông dân. Những khung dệt cói nằm trơ trọi trong góc bếp. Những buổi chiều đẹp ngư dân chia cá sau mỗi mẻ lưới bắt đầu thưa dần trên bờ biển Quảng Thái.

Rong ruổi theo những lời đồn thổi, chúng tôi về Quảng Thái và đối diện với ''sự thực khách quan''. Chủ tịch xã Cao Tiến Việt khẳng định: ''Có chuyện dân Quảng Thái bỏ quê hương đi ăn xin nhưng có ít, thiên hạ thêu dệt lên nhiều. Cái nghèo, cái khổ kéo họ đi đấy mà!''. Già làng, nhân chứng sống Tô Hoài Trương thật thà: ''Không biết xã nói như thế nào với các anh nhưng tôi phải nói rằng đó là sự thực. Đã có một thời vì nghèo đói mà người dân nơi đây đua nhau đi ăn xin. Nhưng chuyện đi hành khất về quê xây nhà là không có !''.

Để minh chứng cho những gì mình viết trong bài về một chuyện người dân Quảng Thái đi ăn mày nhiều, chúng tôi xin trích dẫn một số tư liệu trong chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan của một tổ chức quốc tế có tiêu đề ''Tha phương cầu thực mang tính cộng đồng ở xã Quảng Thái - thực trạng, nguyên nhân và giải pháp khắc phục''. Nghiên cứu này ghi rõ: ''Trong số 400 hộ ở Quảng Thái có 249 hộ có người ăn xin chuyên nghiệp. Năm 1995 có 571 lượt, năm 1998 có 167 lượt người đi ăn xin''. Các nhà nghiên cứu thì gọi chuyện dân Quảng Thái đi ăn xin là ''hiện tượng Quảng Thái''. Còn thiên hạ, chỉ ít người nhìn dân ăn mày bằng con mắt xót thương, còn lại đa số nhìn dân ăn mày bằng con mắt từ trên xuống xen lẫn bất ngờ. Đó là một sự thực! ''Ăn mày nguyên chất'' thời nay được mấy người?

Để bạn đọc được hiểu rõ hơn về chuyện ''ăn mày là ai?'', chúng tôi xin kể nên câu chuyện nhỏ trong lúc chờ ôtô tại Bến xe Giáp Bát (Hà Nội) để về Thanh Hoá. Đó là một bà già dắt theo một đứa bé mon men lại chỗ chúng tôi ăn xin. Bà cụ nói quê ở xã Quảng Thái (Quảng Xương) vì nghèo đói nên phải bỏ làng bỏ xã đi cầu xin của bố thí thiên hạ. Chúng tôi hỏi những thông tin về xã Quảng Thái, bà cụ không biết và quan trọng nhất là giọng nói của bà cụ lại đặc sệt giọng... Thái Bình. Trở lại câu chuyện giữa chúng tôi với Chủ tịch xã Quảng Thái Cao Tiến Việt, vị chủ tịch trẻ tuổi bức xúc: ''Cái khổ nhất trong chuyện này là nhiều người ở tỉnh khác, khi đi xin ăn đều bảo quê Quảng Thái. Họ lấy cái danh xã ăn mày mà thiên hạ đặt cho chúng tôi để làm kế sinh nhai''. Ông Việt bảo rằng cái khổ về chuyện làng ăn mày chưa dứt thì cái khổ về thông tin của một số tờ báo ''ngồi ở Hà Nội viết về Quảng Thái'' lại đến. Người dân Quảng Thái biết nhiều đến hai bài báo của báo T ở TP.HCM... và báo G của một cơ quan dân số... viết hoàn toàn sai sự thực về Quảng Thái. Nào là ''có lớp dạy ăn mày'', trẻ con cả xã bỏ học gần hết để đi ăn mày, đi ăn mày về xây nhà ba tầng...

Chúng tôi có dịp tiếp xúc nhiều với người Quảng Thái lập nghiệp xa quê, thấy hình như ai ai cũng đau đáu một điều ''Ăn mày là ai?''. Và đôi khi, câu hỏi này cứ xoáy vào tâm thức chúng tôi khi đặt chân đến mảnh đất dãi dầu ven biển này. Người xưa từng bảo: ''Ăn mày là ai? Ăn mày là ta, đói cơm rách áo hoá ra ăn mày''. Các cụ già làng Đồn Điền cũng bảo như vậy, nhiều nghiên cứu về ''làng ăn mày'' Đồn Điền cũng nói như vậy. Và chúng tôi cũng chỉ biết sau khi đã tìm hiểu, đã thấy và đã nghe, không có huyền thoại, không có đồn thổi về ăn mày. Câu chuyện ''vua ăn mày'', ''ông tổ cái bang'', ''làng ăn mày'' hay câu chuyện ngôi đền thờ thần ăn mày kèm cây gậy và cái bị, ngôi mộ người ăn mày ở làng Đồn Điền chỉ là miệng lưỡi của một số ''hậu sinh khả... ố'' lười biếng tạo dựng nên khi ''đói cơm rách áo'' mà thôi.

Về Quảng Thái thấy hiện nay có tới trên 30 dòng họ, người dân giải thích là do ngày xưa binh lính của ông Chánh sứ Tô Chính Đạo đến lập đồn điền, sinh con đẻ cái nhiều mà thành. Ngôi đền mà huyền thoại kia cho rằng thờ thần ăn mày chính là ngôi đền Đồn Điền đang thờ thành hoàng làng, ba ông tướng có công diệt giặc và khai hoang lập ấp.
Chúng tôi rời Quảng Thái mà vẫn vẳng bên tai lời than của người dân chân chính suốt đời chân lấm tay bùn và gắn đời với biển: ''Cũng có nhiều huyền thoại ác nghiệt lắm...!''.



gia dich  
#7 Posted : Thursday, July 24, 2003 3:25:53 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Làng Làm Đồng
Làm quan Đô úy triều Lý, Nguyễn Công Truyền (sinh năm 989 tại làng Đại Bái, Gia Bình, Bắc Ninh) được phong là Điện Tiền Tướng Quân. Sau khi phụ thân mất, cụ Truyền từ quan về làng dạy dân nghề gò, đúc đồng - cái nghề quý mang hưng thịnh và danh tiếng cho làng Đại Bái suốt gần 1.000 năm qua. Ngày cụ tạ thế (29/9 năm Canh Tý 1060) đã là ngày cả làng dâng hương lễ Cụ tổ làng đồng hàng năm. Người Đại Bái tự hào có nghề quý kết tinh trong bàn tay "đồng vàng" mà người vùng khác muốn học theo không được. Làng Đại Bái tự hào có một cái Tết riêng là ngày giỗ Cụ tổ, cả làng ăn uống linh đình hơn cả Tết Nguyên đán, cháu con xa lắc muôn nơi vẫn tìm về góp giỗ.
Trong số 1.500 hộ ở Đại Bái với gần 6.000 nhân khẩu ngày nay có non nửa số hộ còn đeo đuổi một phần nghề đồng. Ngót một thiên niên kỷ đi qua, người làng Đại Bái không chỉ tài tình luyện đúc những nồi đồng, trống đồng nổi tiếng mà từ cái thời xa xưa cụ kỵ ấy, cụ Truyền đã chia Đại Bái ra bốn xóm truyền thống làm nghề đồng mang nét riêng: xóm Giữa làm siêu; xóm Ngoài làm nồi; xóm Xôn làm thau; xóm Tây làm mâm, chiêng, kèn, trống. Trong kháng chiến chống Pháp, dân Đại Bái phải di tản tứ xứ vẫn mang theo nghề đồng lập kế làm giầu. Từ Nam chí Bắc, dấu son khắc tên làng trên mỗi đồ đồng tỏa sáng khắp nơi. Khách thập phương sau này vì kính nể chất lượng "độc nhất vô nhị" mà quyết một lần tìm đến thăm làng đồng.
Cuối năm 2000, một triệu phú người Pháp (cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam) quyết trở lại đất Việt để đến làng Đại Bái tìm nghệ nhân tài hoa nào đó làm ra chiếc nhẫn bạc có con rồng được khắc tinh xảo mà ông này mua ở Bắc Ninh năm 1952. Chỉ có người làng Đại Bái mới làm được chiếc nhẫn có con rồng ấy. Bao người Pháp hỏi mua lại chiếc nhẫn của nhà triệu phú với giá hàng chục ngàn đô la nhưng ông không bán. Và cuối cùng ông này cũng tìm được tác giả của "độc" nọ là nghệ nhân tên Phấn (nay đã mất). Con trai cụ Phấn (ông Lâm 68 tuổi, nay sống ở Hà Nội) cũng là "siêu nghệ nhân" đồ mỹ nghệ Đại Bái. Ông từng mang dụng cụ đồ nghề đi dự hội thảo Quốc tế về nghệ nhân ở Nhật, Thái, Pháp... Không dưới vài lần, bàn tay được "phù phép" của ông thoắt lẹ biểu diễn trực tiếp những đường chạm tạo hình con rồng vàng trên chiếc đỉnh đồng trước bao con mắt quan khách khiến các nghệ nhân bè bạn quốc tế phải trầm trồ khâm phục tinh hoa của người Việt.
Nhưng, cái nguy cơ Đại Bái mất đi mấy nghệ nhân tài hoa (còn 3 người nay đã già: ông Lục, ông Đích, ông Uyển) đang đến từng ngày. Thời buổi đồ đồng gia dụng không được "ưu dụng" như xưa, khiến nhiều xưởng đồng trong làng phải "đổi món" quay sang làm đồ thờ (đỉnh, chuông, lư, hạc...) nhưng đâu dễ bán của này. Lớp thanh niên trẻ dù muốn cũng khó theo học nghề. Nhiều hộ, nhiều người bỏ nghề đồng mà đi làm thuê (phụ xây, gánh đất, đến làng nghề khác...) cho sinh nhai qua buổi. Cái khối óc và bàn tay của họ buộc phải nói lời chia xa bao tiếc nuối cái nghề quý được cha ông để lại, tôi không chắc họ phải tạm biệt hay vĩnh biệt cái nghề đồng tinh tuý này khi mà đoàn người đi bán sức vẫn kéo dài dài mỗi sáng ra khỏi làng Đại Bái...
Mấy chốc, hậu sinh phá một nét xưa...?

Ao làng Đại Bái đang dần bị lấn chiếm
Q. (sinh 1975) là đứa con gái xinh đẹp được cưng chiều hết mực của lão U (một nghệ nhân giàu có trong làng) đâm hư từ độ tuổi dậy thì. Học chưa xong cấp 2, Q đã kẹp tiền của bố đi bụi theo đám con trai lêu lổng mất dạy. Lão U mải lo kiếm tiền, hối lại đã không kịp che cái hiệu nghệ nhân có một vết ố do con gái đổ đốn bôi vào. Hơn 3 năm, Q lang dạt ăn chơi chốn Hà thành để rồi vạ thân phải gã chồng nghiện ngập. Thằng chồng (chỉ kém bố vợ dăm tuổi) cũng đốn mạt ấy mang theo đứa con duy nhất của Q đi đâu mất. Q lại đi hoang, hút hít. Lão U cất công tìm được cái thân tàn dại của Q về nhốt chặt trên lầu hai căn nhà đẹp tựa biệt thự ở làng Đại Bái cả 6 tháng trời. Cho Q đi cai nghiện cũng bằng thừa bởi thân gái ấy không thuộc về Q nữa, nó là của ma tuý sai khiến. Q bị công an Gia Bình bắt quả tang khi trong túi quần nhét mấy chục "tép" mang bán cho trai làng.
Nhà tay thợ đúc tên Mười nọ lại khác. Một vợ ba con, đang chí thú làm ăn bằng nghề đồng đang buổi khốn khó bỗng họa ma tuý rước vào thân sau một lần "cà kê" với mấy thằng lơ xe. Mười khuân sạch đồ đồng trong nhà ném vào cơn mê thuốc. Đồ nghề cũng được Mười "đội nón mê" tiễn sạch. Nay còn gật gù trong trại cai của Bắc Ninh, chẳng biết anh ta nhớ vợ thương con phỏng có là muộn khi cái tuổi 40 đã chớm?
Bãi đất rộng mênh mang như sân vận động ở đầu làng Đại Bái dành để quy tụ làng nghề cứ bị bỏ hoang mãi. Sở CN hứa hoàn tất gọn "Khu CN Làng đồng" về đây mà thành hứa hão. Đêm đêm, đám nghiện ngập cứ tìm ra bãi đất mà "phê cho mát". Tên Tâm "gò" (thợ gò đồng được tiếng khéo tay) chán gò từ lâu, nay cả gan tổ chức mấy em "choai choai" chích choác ma túy. Một chiến sỹ công an huyện cho tôi hay, Tâm không phải kẻ cuối cùng rủ rê thanh niên làng ra bãi này "nằm mát" sau khi hắn bị tóm.
Có lẽ, trong mấy chục kẻ nghiện còn vật vờ, ẩn hiện lén lút sau luỹ tre làng Đại Bái, Nguyễn Văn Tiến (sinh 1974) là số ít thanh niên không tái nghiện sau đợt cai quyết liệt với sự trợ giúp của Công an huyện và người thân. Nghe tiếng búa nhíp Tiến gõ đều đều trên quai nồi đồng vàng choé trong xưởng nhà, tôi hiểu anh vui đến nhường nào sau khi cưới được cô vợ từng "bỏ của chạy người" hồi nhác thấy bóng anh "Tiến nghiện".
Ngón trộm cắp vặt ở Làng đồng này khiến người ta không thảng thốt la lên nữa bởi là "chuyện thường ngày ngoài ngõ". Lặt vặt thì mấy thanh phôi, đáng tiền hơn là cả trống đồng nhiều triệu, tất cả đều có cánh chực bay theo con nghiện ra ngõ!
Trò cờ bạc thì quanh năm rôm rả, nhất là dịp hè hội, giỗ lễ. Gã xe ôm đầu làng thấy tôi rộng tay dúi cho đôi chục ngàn trả công chạy lòng vòng mấy ngõ cứ tưởng tôi dân Thứa (thị trấn Thứa, huyện Lương Tài bên cạnh) sang Làng đồng chơi bạc: "Bác chắc gặt đậm? Nhà lão T hay oánh to nhỉ". Trò chuyện tôi mới hay, cờ bạc ở Đại Bái tựa cơm bữa, "đội hình xếp mâm" già trẻ, gái trai đủ lứa. Nhà nọ có ông chồng thua bạc, cô vợ cắp nón ra ngõ kêu vay để "tiếp tế" cho phu quân đang hồi cay cú. Chiếu nhỏ gom bét cũng vài trăm, chiếu to vơ vội được vài triệu! Tiền nhà quê góp "đan quạt mua vui" như thế, ai bảo nhỏ?
Thời cực thịnh, hơn 500 hộ dân Đại Bái ra Hà Nội mua nhà, lập nghiệp (nay số hộ này vẫn bám nghề thành công). Mối giao lưu anh em, họ hàng với quê cũ khiến cho đám trai gái hư hỏng làng Đại Bái có cớ "đi về vài hôm" ra chốn Hà Thành phồn hoa để chơi bời thỏa thích. Nghiện ngập theo chân họ về làng là thế, trong đó có cả AIDS (một trường hợp nay vẫn còn sống). Về đây tôi mới hay, dân số ''xóm liều" Thanh Nhàn có nhiều con nghiện người Đại Bái.
Rác em em quăng, nước anh anh thải !

Những thợ đồng làng Đại Bái
Khi hàng trăm hộ chuyển sang nghề nhôm sắt đáp ứng nhu cầu gia dụng và xây dựng trong làng, ngoài xã, nước trở nên quan trọng để tráng khay, rửa khung, cọ máy, làm mát... Trong tiếng máy cán réo rát, tiếng búa nện chát tai, khói bụi loang khét, người đi giữa "phố làng" Đại Bái mới cảm nhận một nỗi lo cho môi trường sống nơi đây. Cái xưởng hổ lốn (đồng, sắt) "tầm tầm" nhà ông Đ mà "tắm" mỗi ngày ba chục khối nước (phải là nước... tạm sạch!) rồi "hồn nhiên" tống tháo ra ven đường cho nó "tự chảy về chỗ trũng" thì quả nhiên mấy ao nước trong làng cầm cự "tự chứa, tự ngấm, tự bốc hơi" nay cứ đen sì, cá tôm "mình sắt ruột đồng" cũng không sống nổi.
Dân Đại Bái từ lâu không dùng nước giếng khơi không phải họ lắm tiền xài giếng khoan cho oách. Giếng nước truyền thống dân ta thường dùng nay ở Đại Bái lấp gần hết bởi cái gầu nước múc lên đục ngầu có váng khè khè kia ai dám xài! Nay, nước giếng khoan hút từ lòng đất sâu cũng đục "nhờ nhờ" lại "có nhiều loại a-xít" (theo chị Sen, nhân viên Trạm y tế xã) rất có thể là một trong những nguyên nhân tăng cao con số phụ nữ bị sảy thai hàng năm (16 trường hợp năm 2002). Số cụ cao niên đến tuổi 90 là chuyện "xưa nay hiếm" ở làng Đại Bái. Chị Sen còn cho tôi hay, bệnh đau mắt hột, mắt đỏ, ghẻ lở "quen thuộc với dân ở đây lắm". Ngoài ra, bệnh nghề nghiệp như ho hen, lao phổi do hít phải khí đồng, khói thiếc đã khiến bao người Đại Bái chết trẻ...
Tai mắt tôi muốn ù đi, không phân biệt rõ tiếng chuông đồng hay tiếng thép va từ xưởng nào dọc suốt đường làng bụi mù đầy rác ấy. Đầu óc còn mải xót trong tiếng chuông đồng Đại Bái, chân tôi quàng phải quai gánh của chị hàng rau giữa chợ làng. Chợ cứ ngả ra la liệt dọc "phố làng" những chuối, mướp, lẫn áo quần trẻ con, giấy rác cũng la liệt phứa ra. Mấy cô hàng bánh đậu còn thản nhiên bày hàng rồi ghếch chân tán gẫu với nhau ngay trên khoảnh bệ bia tôn vinh làng đồng gần chợ. Nhịp sống "cơm hàng cháo chợ" phục vụ thợ thuyền vốn cùng điệu với rác thải, vậy mà ở Đại Bái không có đội vệ sinh đường sá, khiến rác rưởi cứ tràn ven ao, rãnh cống, đốc nhà cho ruồi nhặng nhan nhản vo ve vui với đám trẻ con nô đùa thân thiết lắm!!!
Tiền vào túi ông ! Nghề nào cho ta ?
Phết nụ cười hoa hút mắt kẻ lữ khách tò mò là tôi - thằng nhà báo quèn diễn vai thăm mua đồ đồng, cô gái (làng này sao nhiều con gái xinh thế!) dáng chừng thạo duyên chào mời cứ dịu dàng: "Hiệu nhà em đủ món vừa rẻ, vừa bền lại đẹp hoa văn, bộ đỉnh này 8 trăm, lư kia 4 trăm... anh không nắm giá, vào hiệu khác dính lừa mấy triệu..!" Sau hồi nấn ná "ngắm người, ngắm đồ", tôi tha thẩn sang hiệu gần bên. Tay thợ tên Hiền đang mải miết những nét chạm tuyệt đẹp trên bộ lư hương cũng ngừng tay đón khách. Biết ông "khách sộp" là nhà báo, Hiền không giấu diếm: "Tôi muốn bỏ nghề, hàng ế lắm, có dễ mấy ngày chẳng ma nào hỏi mua. Bộ đỉnh này tiền triệu nhưng công xá, vật liệu đã choán vốn rồi, không bán tháo được. Làm thợ mỹ nghệ như tôi phải học cả chục năm có dư, mà nay làng chỉ còn dăm sáu người như thế. Tay nghề cứng trụ lại còn khó, dạng mèng mèng chỉ còn nước kiếm nghề khác. Làm ruộng cũng hết lối vì đất có được là bao. Tôi đang hướng con trai đi học lái xe hòng có cơ "biến" mà sống. Dân buôn đồ đồng thì lại khác, họ có tài kiếm được mối khắp nơi, bán hàng lại "vô giá" nên thu lời kếch sù. Tôi chỉ mong Nhà nước sớm hoàn thành dự án Làng đồng như họ nói năm nào để đầu ra có nơi tiêu ổn định. Tôi nghe nói ở miền Nam, bộ đỉnh này người ta "chém" mấy triệu, cái chiêng kia 5 trăm ngàn mà thành 3 triệu đấy, tôi e làng nghề bị mất, có cách nào giữ nó không anh nhà báo?". Tôi...
Chiều đến, tôi lang thang dạt vào HTX Hợp Thành (nhà nghệ nhân Uyển) toạ lạc giữa làng. Ông Uyển cho sản xuất khoá xe máy kiểu "Việt-Tiệp" là chủ yếu. Trong tay ông có sáu bảy chục công nhân. Ông cho tôi biết, xưởng nhà ông luôn sẵn sàng đáp ứng bất kỳ loại mặt hàng đồ đồng, thép nào nếu có thể... bắt chước! Cỡ "đàn em sắt thép" như ông Uyển ở Đại Bái đang tăng lên ở làng Đại Bái chứ không phải số tay thợ nghề đồng truyền thống tăng lên.
Không có lãnh đạo nào của tỉnh Bắc Ninh, tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống nhất miền Bắc nước ta, trả lời cho câu hỏi của anh Hiền và nhiều người Đại Bái khác.
Ngàn năm sau, có nhiều người khóc Cụ Tổ Làng Đồng... Bắc Ninh, những ngày cuối tháng Ba


gia dich  
#8 Posted : Thursday, July 24, 2003 3:37:04 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Làng dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Chăm

Du khách thập phương về Ninh Thuận nếu không ghé thăm làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp (xã Phước Dân, huyện Ninh Phớc) của người Chăm thì quả là thiếu sót. Bởi đó là ngôi làng dệt cổ truyền duy nhất còn lại của ngời Chăm tại Ninh Thuận. Điều đặc biệt của làng dệt cổ truyền này là hầu hết những người thợ dệt đều là thanh niên. Con gái thì ngồi khung kéo sợi, khung cửi, con trai thì cắt, may thành sản phẩm. "95% thanh niên ở làng này vẫn gắn bó với cái nghề truyền thống có từ 300 năm nay của cha ông để lại" - đó là lời khẳng định của ông phó thôn Hà Minh Thiệu. Đó cũng là lý do mà từ năm 1991 làng được gọi là "Làng văn hóa Thanh niên Mỹ Nghiệp" và được dựng bảng tên rất lớn trước cổng làng. "Cứ mỗi lần đi đâu về, khi bước vào cổng làng, thấy trên cổng mang dòng chữ đó, tụi mình lấy làm tự hào lắm", đó là tâm sự của bạn Phú Nữ Nhi (18 tuổi) và của các thanh niên trong thôn.
Trước đây, ở Ninh Thuận còn có làng dệt thổ cẩm Hữu Đức (huyện Ninh Phước) và một số làng khác. Nhưng trước cơn lốc đô thị hóa và nền kinh tế thị trường các làng dệt này hầu như đã bị xóa sổ. Làng Mỹ Nghiệp là nơi duy nhất còn giữ được nghề truyền thống này. Mặc dù ngôi làng chỉ cách con đường quốc lộ 1A khoảng 2km, tiện nghi sinh hoạt đã trở nên khá hiện đại, người dân có thể làm thêm nghề này hoặc nghề khác, nhưng tất cả đều có chung tấm lòng với nghề truyền thống lâu đời của cha ông. Nghề truyền nghề, thế hệ trước dạy cho thế hệ sau, với tất cả tâm huyết. Qua hàng trăm năm, đường nét hoa văn; kỹ thuật kéo sợi, đan, dệt độc đáo... của người Chăm vẫn còn nguyên vẹn và ngày càng phong phú. Có được như vậy là nhờ sự cố gắng để "giữ" nghề của bao thế hệ người Chăm, và hôm nay là của các bạn trẻ.
La Thị Thuyền là sinh viên Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận sắp ra trường, mặc dù ngoài việc học, phụ giúp việc đồng áng với gia đình, Thuyền vẫn không quên "bổn phận" của mình là một cô thôn nữ của làng quê. "Đã là thôn nữ của làng này thì phải biết dệt thổ cẩm. Mình được mẹ và các cô, các chị dạy làm các công đoạn để dệt ra tấm thảm từ nhỏ. Đến 14 tuổi, mình chính thức tự tay dệt được một tấm thảm hoàn chỉnh" - Thuyền cho biết. Nghĩa là trước khi làm cô giáo đứng trên bục giảng, Thuyền đã là một thợ dệt lành nghề". cô bé La Thị Mỹ Thu mới 16 tuổi đời nhưng đã thành thạo nghề được sáu năm. Thu giải thích với tôi rằng: "Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, em chỉ học hết cấp một. Bố mẹ đã xác định cho em theo nghề dệt thủ công này suốt đời nên em theo nghề từ nhỏ". Hiện Thu có thể kết được tất cả các loại hoa văn trước khi dệt, theo yêu cầu của khách hàng. Cũng như La Thu, cô bé Châu Thị Thu cũng phải rời mái trường từ nhỏ, và trở thành một "cô thợ cả" khi mới 11 tuổi đầu. Nay ở tuổi 17, với tay nghề vững vàng, tự tay Thu có thể kết được tất cả khoảng 60 loại hoa văn mà các cô, các chị trong làng làm được.
Nhưng thiết kế, cắt, may thành các vật dụng, trang sức, áo quần,... bằng thổ cẩm lại là nghề của các chàng trai nơi đây. Hầu như thanh niên ở đây ngoài giờ làm nông, họ đều tập trung thành từng nhóm năm bảy người, tại nhà riêng hay tại các cơ sở để thiết kế, tạo hình dáng, sau đó cắt, ráp thành những sản phẩm tùy theo yêu cầu của thị trường. Tuy công việc vất vả, thu nhập thấp, nếu ra ngoài làm những nghề khác thì có thể khá giả hơn, nhưng nghề của người xưa để lại dường như đã trở thành cái "nghiệp" của thanh niên trong làng. Vì vậy tất cả các bạn ở đây đều cảm thấy phải có trách nhiệm với những gì cha ông đã gầy dựng. Họ không chỉ biết trân trọng, giữ gìn và phát huy một nét đẹp của quê hương mà cũng là cách để các bạn xóa đi những khoảng thời gian nhàn rỗi, tránh xa những thói hư tật xấu mà không ít thanh niên ở các vùng nông thôn đang gặp phải. Đây đúng là "làng văn hóa" thứ thiệt. Khi chúng tôi đến làng khoảng 2 giờ chiều, không hề thấy một bóng dáng thanh niên nào la cà quán xá. Làng không hề có một quán nhậu hay một điểm tụ tập chơi bời nào. Hỏi ra thì mới biết tất cả họ (các anh) đang cùng với các cô, các chị tập trung tại gần mời cơ sở dệt may thủ công lớn, nhỏ trong làng để cắt, may thổ cẩm. Mãi đến năm giờ chiều họ mới bắt đầu "giải lao" bằng cách tập trung trước trụ sở thôn (cũng là chợ thôn) chơi bóng đá, bóng chuyền. Ông Hà Minh Thiệu tự hào nói với chúng tôi rằng: "Thanh niên ở làng này là vậy đó. Làm ra làm, chơi ra chơi!". Bằng tấm lòng, bàn tay, khối óc sáng tạo của mình, các bạn trẻ ở làng thổ cẩm Mỹ Nghiệp không chỉ giữ gìn được nghề truyền thống quý giá, mà các bạn còn có công trong việc đa các sản phẩm truyền thống đó đi khắp đất nước ta và nhiều nước khác ở khắp năm châu.


gia dich  
#9 Posted : Thursday, July 24, 2003 3:53:10 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Làng Nhà cổ Phước Tích

Ngôi nhà rường cổ 150 tuổi.
Ngôi làng nằm bên sông Ô Lâu thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế, độc đáo với những ngôi nhà cổ có gần 200 năm tuổi, với cây thị hơn 1.000 tuổi. Phước Tích cũng nổi tiếng về những khu vườn cổ nhiều loại hoa quý.

Rất ít làng còn giữ được gốc tích rõ ràng như Phước Tích. Căn cứ vào tộc phổ các dòng họ, có thể khẳng định làng được thành lập năm 1470, nổi tiếng với nghề làm gốm từng được các vương triều đặt dân làng làm đồ dùng trong cung.

Theo khảo sát bước đầu của Hội Kiến trúc sư Việt Nam, làng hiện có 27 ngôi nhà rường còn khá nguyên vẹn. Trong đó có 12 nhà thuộc loại có giá trị đặc biệt (loại1), 11 nhà có giá trị (loại 2), 4 nhà ít giá trị (loại 3). Những ngôi nhà ấy nằm theo những chòm xóm mà các nhà chỉ ngăn cách bởi các hàng chè tàu xanh. Chỉ riêng xóm Đình dài khoảng 200 m, đã có đến 10 nhà rường, trong đó nhà ông Lương Thanh Thu “trẻ” nhất cũng đã 100 năm tuổi, còn cái nhà “cổ” nhất 180 năm tuổi, do bà Hồ Thị Thanh Nga đang gìn giữ. Trong các ngôi nhà cổ ấy, các vì kèo, xuyên, trách... đều được chạm trổ cực kỳ tinh tế.

Một trong những đặc điểm của ngôi làng cổ này là sự tham gia của các khu vườn. Ở đây không kém gì những khu vườn của Huế, thậm chí tuổi đời còn vượt xa. Ở Phước Tích, người dân rất tự hào về cây thị có đến 1.000 năm tuổi đang sống cùng dân làng. Nó có chu vi đến bốn, năm sải tay người lớn. Người dân cho biết, từ khi lập làng (cách đây 533 năm), cây thị này đã có và cao lớn lắm rồi. Vì là vườn kiểu Huế nên người ta trồng rất nhiều loại cây khác nhau, cho đủ mùa nào thức ấy. Có điều bên cạnh các loại cây thông thường là các loại cây khá lạ so với các khu vườn Huế như: bồ quân, trần bì, cây bẹ (dùng để ăn trầu)... Những chủ vườn sống nhờ hoa lợi quanh năm, song cây cho thu nhập chính là cây vả. Điều thú vị là các khu nhà vườn ở Phước Tích đều ưa trồng hoa, và có rất nhiều loại hoa quý đã mọc ở đây như hoàng lan, ngọc lan, hàm tiếu... Những loài hoa ấy nở một cách đài trang, quý phái, thanh sạch như chính phong cách, bản lĩnh của người làng.
Làng có gần 300 người nhưng chỉ có 15-20 đứa trẻ, thanh niên cũng rất ít, còn người già thì chiếm đến 80%. Chính vì vậy mà trong làng lúc nào cũng có vẻ cổ kính, thâm trầm.


Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.