Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
gia dich  
#1 Posted : Wednesday, January 15, 2003 4:00:00 PM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
地 靈 人 傑



UserPostedImage QUẢNG NAM
Lịch Sử, Thiên Nhiên, Nhân Văn, Chính Trị

Cố Dân Biểu Lê Ðình Duyên



QUẢNG là rộng rãi, NAM là phương Nam, đối diện phương Bắc. Vậy QUẢNG NAM nghĩa là mở rộng về phương Nam. Ðịa danh Quảng-Nam biểu-dương một chiến-lược quyết-định vô cùng quan yếu của dân tộc Việt-Nam

Quảng-Nam phản ảnh trung thực tiến trình lịch sử Nam tiến không ngừng suốt mấy mươi thế kỷ, phát xuất từ Ðộng Ðình hồ, phía nam sông Dương-Tử cho đến ngày nay, của dân-tộc Việt-Nam đâ phát triển, tiến hóa và sinh tồn, hầu góp mặt xứng đáng và chính danh cùng những dân tộc anh em vùng Ðông Nam Á nói riêng và những dân tộc bạn bè trên hoàn vũ nói chung.


A. Từ Ðạo QUẢNG NAM đến Tỉnh QUẢNG NAM (1301-1831)

Thoạt tiên, năm 1306, theo lời giao ước gã Công Chúa Huyền Trân của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông (năm 1301) trong dịp viếng thăm hữu nghị Việt Nam Vua ChiêmThành là Chế Mân dâng hai châu : châu Ô và châu Rí làm sính lễ để xin cưới Công Chúa Huyền Trân.

Năm 1307, sau nghi lễ tiễn đưa Công Chúa Huyền Trân về Chiêm Quốc,Vua Trần Nhân Tông tiếp thu hai châu Ô và Rí, di dân khẩn hoang và đổi tên là Thuận Châu (bắc Hải Vân quan) và Hóa Châu (nam Hải Vân quan). Dân Chiêm Thành bỏ đất lui về phíi Nam.

Năm 1402, sau khi tiếm ngôi nhà Trần, Hồ quý Ly chia Hóa châu, gồm đất Chiêm Ðộng, Cổ Lũy, lập thành 4 châu là Thăng Châu (Thăng Bình và phía Bắc), Hóa Châu, Tư Châu và Nghi Châu (Quảng Ngãi và phía Nam), di dân canh tác và đặt quan An Phủ Sứ cai trị. Dân ChiêmThành lại bỏ đất lui dần về phía Nam.

Năm 1470, Hồng Ðức nguyên niên, Vua Lê Thánh Tông sau trận đại thắng bắt được Vua Chiêm Thành là Trà Toàn, triệt để khai thác sự chia rẽ cuả hoàng tộc Chiêm Thành, chia Chiêm Thành ra làm ba nước nhỏ, phong ba Vua: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, chủ đích làm suy yếu đối phương. Lại lấy Hóa Châu gồm đất Chiêm Ðộng, Ðồ Bàn, Ðại Chiêm và Cổ Lũy lập thành đạo Quảng Nam (địa danh Quảng Nam bắt đầu xuất hiện trên lịch sử Việt Nam từ đây ). Ðạo Quảng Nam gồm có 3 phủ và 9 huyện (tiền thân của Nam, Ngải, Bình, Phú sau này) và đặt quan cai trị .

Năm 1570, Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Ðạo Quảng Nam, truyền nối con cháu (Nguyễn-Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu,.......) lấn dần vào Nam, xâm chiếm trọn vẹn nước Chiêm Thành, lập phủ Diên Khánh (Khánh Hoà), phủ Bình Thuận, huyện Yên Phúc và huyện Hòa Ða (Bình Thuận).

Năm 1744, Chúa Vũ Vương Nguyặn Phúc Khoát, sau khi chiếm được Hà Tiên, Rạch Giá, chia nước ra làm 12 dinh: Chính dinh (Thừa Thiên), Cựu dinh (Áí Tử), Quảng Bình dinh, Vũ Xá dinh, Bố Chính dinh, Quảng Nam dinh (Quảng Ngải phủ và Qui Nhơn phủ), Phú Yên dinh, Bình Khang dinh, Bình Thuận dinh (đất Chiêm Thành), Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh, Long Hồ dinh (đất Chân Lạp). Ðồng thờì lấy Hội - An làm cửa biển duy nhất buôn bán với nước ngoài, nên người ngoại quốc thường gọi là Quảng Nam Quốc.

Năm 1806 Vua Gia Long, sau khi thống nhất được đất nước, chia nước ra làm 23 trấn. Bắc Thành có 11 trấn, Gia Ðịnh thành có 5 trấn, miền trung có 7 trấn, trong đó có Quảng Ngải trấn, Bình Ðịnh trấn và Phú Yên trấn; và 4 doanh, thuộc đất kinh kỳ: Trực Lệ, Quảng Ðức doanh (Thừa Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh và Quảng Nam doanh. Như thế Ðạo Quảng Nam hay Quảng Nam doanh bắt đầu từ đây chính thức chia thành 3 trấn : Quảng Ngải trấn, Bình Ðịnh trấn, Phú Yên trấn và 1 doanh là Quảng Nam doanh.

Năm 1831,Vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh và đặt chứcTổng Ðốc, Tuần Phủ, Bố Chánh Sứ, Án Sát, Lãnh Binh trông coi việc cai trị. Và địa danh Tỉnh QUẢNG NAM có từ đây.


B. Tỉnh QUẢNG NAM

1. Thiên nhiên.

Tỉnh Quảng Nam, phiá Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên tại Hải Vân quan, phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi tại núi Trà My và phủ Bình Sơn, phía Ðông giáp biển Nam Hải, phiá Tây giáp dẫy Trường- Sơn. Diện tích 12,000 cây số vuông (7,500 dặm vuông). Dân số 2,500,000. Khí hậu nhiệt đới, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa.Từ tháng 5 đến tháng 10, gió tây bắc đông nam (gió nồm) mang hơi nước từ vùng Thái Lan vào, nhưng bị dẫy Trường Sơn ngăn lại, nên không mưa (chỉ mưa ở miền nam, miền đồng bằng sông Cửu Long) và ngược lại, mang hơi nóng của vùng nuí vôi Ðồng Chum của Ai Lao qua (gió lào), nên rất oi bức...Từ tháng 11 đến tháng 4, gió đông bắc tây nam (gió bấc) mang gió buốt từ phương bắc,cọng thêm hơi nước biển Nam Hải xuống, bị dãy Trường-Sơn ngăn lại, nên mưa nhiều,gió lạnh và lụt lội liên miên, hết đợt này đến đợt khác, gây thiệt hại muà màng, nhưng đồng thời cũng mang phù sa tái bồi, làm phì nhiêu thêm cho miền đồng bằng không ít. Dãy Trường Sơn, đoạn chạy dài suốt từ bắc vào nam, thuộc tỉnh Quảng Nam, núi khá cao từ 1000m đến 3000m, sườn phiá đông dựng đứng, vươn ra nhiều nhánh núi dọc ngang chạy ra biển, tạo thành nhiều thung lủng lớn nhỏ phì nhiêu và hiểm yếu, mà những phong trào nhân dân nổi dậy đã chọn làm căn cứ điạ Tân Tỉnh chống Pháp, như phong trào Văn Thân cuả cụ Tán- Thừa (Trần Thưà),và phong trào Cần Vương cuả cụ Hường Hiệu (Nguyễn Duy Hiệu) và gần đây cuộc ly khai Nam Ngải của Việt Nam Quốc Dân Ðảng chọn làm liên khu chiến Xuyên Sơn (Duy Xuyên-Quế Sơn) và Kỳ Phước (Tam Kỳ-Tiên Phước) chống chế độ độc tài gia đình trả Ngô-Ðình Diệm năm 1955-1956.

Dọc theo các thung lủng ấy là các nguồn sông (nguồn sông Con, nguồn sông Cái, nguồn sông Dak- Mi, nguồn sông Tranh,...) chảy hợp lại thành các sông lớn nhỏ (sông Cẩm Lệ, sông Vu Gia, sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ, sông Trường Giang,...) nước chảy xiết, nhiều ghềnh thác, hay thay đổi dòng không thuận tiện giao thông thủy lộ lắm. Ðường giao thông Quảng Nam chưa được phát triển đúng mức cần thiết, ngoài thiết lộ xuyên Việt, và quốc lộ 1, chạy suốt từ bắc vào nam, dọc theo duyên hảỉ có mấy nhánh tỉnh lộ chạy ngang, dẩn vào cxc quận,huyện miền sơn cước Trường Sơn đông, đa số chưa được tráng nhựa và cầu cống hiện đại. Ðặc biệt là sát cửa biển, giữa Cửa Ðà Nẵng và Cửa Ðại (Hội An), đột khởi một cụm núi, tục gọi là Ngủ Hành Sơn (Kim,Mộc,Thủy,Hoả,Thổ) hay núi Non Nước (Sơn Thủy hữu tình) có chùa (chùa Tam Thai,chùa Linh Ứng), có động (động Tăng Chơn, động Huyền Thông) toàn đa' cẩm thạch và đá hoa cương.

2. Nhân văn:

Mật độ dân số Quảng Nam tương đối cao so với các tỉnh lân cận (Thừa Thiên,Quảng Ngải,... ) định cư tại vùng đồng bằng, hầu hết là người Việt, gốc Bắc Hà và bắc trung Việt (Thanh Hóa, Nghệ Tỉnh,...),Vì lý do chính trị hay kinh tế, theo chân các chúa Nguyễn, nối tiếp từ đời này qua đời khác, di dân vào khẩn hoang lập nghiệp, cộng thêm một số người Chàm, Việt gốc Chiêm-Thành còn sót lại, ở rải rác chung quanh vùng tháp cũ, thành xưa (Phong Lệ, Trà Kiệu, Mỹ Sơn), một số người Minh Hương (Việt gốc Hoa) và Hoa kiều, Ấn kiều, Nhật kiều, Pháp kiều ở tập trung vào các thị xã Ðà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ. Còn miền thượng du sát chân núi dọc theo dãy Trường-Sơn men theo các khe, các nguồn,thì người thiểu số thuộc giống dân Bana, Stiêng,...sinh sống theo lối du canh, du cư, săn bắn, đốt rừng làm rẫy. Dân trí Quảng Nam nói chung khá cao, hiểu biết rộng, lập trường quan điểm vững chắc ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng, đạo đức Tam Giáo đồng- nguyên, lại trực tính, thích tranh luận, nên từ xa xưa trong dân gian đã có câu "Quảng Nam hay cãi" là thế. Và trong thời cận đại, xung đột giữa Quốc-Cộng cũng mang nhiều sắc thái đặc biệt và quyết liệt. Xã hội Quảng Nam không có giai cấp do những điều kiện hay tập tục bất công áp đặt. Giá trị và địa vị con người hoàn toàn do thực chất tài năng và đạo đức con người ấy tạo dựng nên và được xã hội đương nhiên công nhận và tôn trọng tự do và bình đẳng tuyệt đối.

3.Kinh tế.

Quảng Nam "dĩ nông vi bản" , 80% dân chúng sinh sống nông nghiệp, nhờ hệ thống đập nước dẫn thủy nhập điền mà hầu hết điạ phương nào cũng có (đập Cẩm Lệ ở Hoà Vang, đập Bồ Nít ở Ðiện Bàn, đập Khe Công ở DuyXuyên, đập Hương An và đập Mộ Long ở QuếSơn, đậpVó và đập Kênh Ba Kỳ ở Tam Kỳ,.....) nên hàng năm có hai muà lúa chính là tháng 3 và tháng 8, ngoài ra ở vùng ruộng cao còn có mùa lúa tháng mười. Thêm vào đó, nông dân còn sản xuất những hoa màu phụ như khoai, sắn, đậu, mía,thuốc lá, bông vải, dâu, nuôi tằm...Chăn nuôi ở Quảng Nam vừa đủ tự phụ như khoai, sắn, đậu, mía, thuốc lá, bông vải, dâu, nuôi tằm...Chăn nuôi ở Quảng Nam vừa đủ tự túc cho việc cày bừa, kéo xe và ăn thịt. Ngư nghiệp Quảng Nam phát triển ở các vùng ven biển (cửa Ðà Nẵng, cửa Ðại, Cù Lao Chàm) và các cửa sông lớn (sông Thu Bồn,sông Trường Giang, sôngTam Kỳ,..) sản xuất nhiều hải sản chế biến nổi tiếng (nước mắm Nam Ô, mắm cá cơm Tân Thái..).Tiểu công nghệ Quảng Nam mang nhiều sắc thái đặc thù: ươm tơ (nhà máy ươm Quảng Huế, Ðại Lộc), dệt vải (Bảo An, Xuân Ðài, Ðiện Bàn,...),dệt hàng lụa Nam Vang (Mã Châu, Thi Lai, Hà Mật, Duy-Xuyên,...), chạm gổ (Kim Bồng, Duy Xuyên), khắc đá (Non Nước, Hòa Vang), đúc đồng ( Phước-Kiều, Ðiện Bàn), gạch ngói (Cẩm Hà, Hội An). Núi rừng Quảng Nam trùng trùng điệp điệp, giàu lâm sản, nhiều gổ quý (lim, kiền kiền, cẩm lai, gỏ đỏ, sơn nghệ,...), nhiều dược thảo (quế,trà,sâm,yến sào,...), nhiều cây dầu (dầu rái, dầu trảo, dầu lai,...), nhiều cây công nghiệp (tre, nứa, mây,...) nhiều da thú (voi,cọp,hươu,nai,trâu,bò,heo rừng,...) nhiều khoáng sản (than đá Nông Sơn,Quế Sơn,vàng Bông Miêu,Tam Kỳ, mica Ðại Lộc, dầu hỏa khí đốt ở ven biển Ðà Nẵng và Cù Lao Chàm ).

4. Chính trị.

Về phương diện hành chánh, dưới triều Minh Mạng, Quảng Nam được chia làm 8 phủ, huyện: 4phủ thuộc miền duyên hải, từ bắc vào nam là Ðiện Bàn, (gồm cả thị xã Hội An), Duy Xuyên,Thăng-Bình và Tam Kỳ; và 4 huyện thuộc miền cao, tạm gọi sơn cước là Hoà Vang (gồm cả thị xã Ðà-Nẵng), Ðại Lộc, Quế Sơn và Tiên Phước.

Năm 1888, Thành Thái nguyên niên, triều đình Huế ký nhượng Ðà Nẵng cho Pháp làm nhượng điạ. Năm 1962,chính phủ VNCH Ngô Ðình Diệm chia tỉnh Quảng Nam ra thành 2 tỉnh: Quảng Nam (phiá bắc) gồm các quận HoàVang, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Ðại Lộc, Quế Sơn, Hiếu Ðức, Thường Ðức. Ðức Dục và Hiếu Nhơn (gồm thị xã Hội An); và Quảng Tín (phía nam) gồm các quận Thăng- Bình, Tiên Phước, Hậu Ðức, Hiệp Ðức, Lý Tín và Tam Kỳ ( gồm thị xã Tam Kỳ).

Năm 1975,chính phủ CHXHCNVN lại sáp nhập 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và thành phố Ðà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam Ðà Nẵng, gồm có 12 huyện là Hoà Vang, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Tiên Giang, Phước Sơn, Trà My và thành phố Ðà Nẵng.

Quảng Nam, đất điạ linh nhân kiệt, sông núi điệp trùng, từ hơn mấy thế kỷ nay,đã sản xuất nhiều danh nhân khoa bảng tiền tiến, nhiều nhà cách mạng can trường, nhiều chính trị gia xuất chúng, nhiều thi văn gia lỗi lạc, nhiêù tư tưởng gia thâm nho, như các cụ Trúc Ðường Phạm Phú Thứ, Hà-Ðình Nguyền Thuật, Hoàng Diệu, Hồ Lệ, Lê Ðình Dỉnh, Ông Ích Khiêm, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Thượng Văn, Tây Hồ Phan Chu Trinh, Thái Xuyên, Trần Quý Cáp, Tiểu La Nguyễn Thành, Minh-Viên Huỳnh Thúc Kháng, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài, Lê Ðình Dương, Nguyễn-Tường Tam, Phan Khôi...

Năm 1915, năm Duy Tân thứ 8, khoa trường chữ Hán chấm dứt, nhà nước bảo hộ chuyển qua tân học, lấy Pháp văn làm chuyển ngữ chính, theo chương trình giáo dục Pháp quốc, Quảng Nam lại sản xuất nhiêù tiến sĩ, kỹ sư đủ nghành: y học, dược học, luật học, toán học, vật lý học, chính trị, xã hội học,.đặc biệt nhất là sau biến cố 30-4-75, trong cuộc di tản tỵ nạn lịch sử, chuyên viên khoa học kỹ thuật Quảng Nam đua nhau nở như hoa mùa xuân ở khắp các nước tạm dung Âu, Á, Mỹ, Úc Châu khiến mọi người phải kính nể.


C. NGŨ PHỤNG TỀ PHI (Năm chim Phụng cùng bay)

Năm 1898, năm Thành Thái thứ 10, chiếu thông lệ, triều đình Huế cứ 3 năm mở khoa thi hương, vào những năm tí, ngọ, mẹo, dậu, và 5 năm mở khoa thi hội hay thi đình, vào những năm thìn, tuất, sửu, mùi. Sĩ tử Quảng Nam nói riêng,cũng như sĩ tử toàn quốc nói chung đều khăn gói lều chõng lai kinh (kinh đô Huế,Thuận Hóa) dự thị đặc biệt, khoa Mậu Tuất (1898) Quảng Nam nổi tiếng văn trường mà dân gian thường gọi là Khoa Ngũ Phụng. Khoa này, toàn quốc có 18 tân đại-khoa thì Quảng Nam chiếm mất 5/18 là 3 tiến sĩ và 2 phó bảng (phó tiến sĩ) đồng hương và đồng khoa, một điều hy hữu xưa nay chưa từng có tại Việt Nam. Vua Thành - Thái và triều đình Huế ban thưởng danh hiệu "NGỦ PHỤNG TỀ PHI," bốn chữ kim tuyến vàng được thêu nổi trên nền gấm đỏ, trên đại kỳ "VINH QUY BAÍ TỔ" cuả 5 vả tân đại khoa đồng hương và đồng khoa ấ'y và truyền lệnh cho quan, dân địa phương Quảng Nam đón rước vô cùng trọng thể, chủ đích một mặt đề cao nhân tài xuất chúng của đất nước, một mặt xương minh khuyến học cho dân sĩ tử hậu sanh noi theo. Lại cũng có người tương truyền rằng 4 chữ NGŨ PHỤNG TỀ PHI ấy là của Văn-Thân, được thêu trên lá cờ đi rước 5 vị tân đại khoa "vinh quy bái tổ".

1. Năm vả tân đại khoa đồng hương và đồng khoa được xếp theo thứ tự như sau:

1.1. Ông Phạm Tuấn :

Tiến sĩ đệ nhị giáp, người lớn tuổi nhất, cử nhân xuất thân, đương nhiệm chức Ðốc Học tỉnh Quảng Nam, quê quán làng Xuân Ðài, tổng Phú Khương Thượng (GòNổi, PhùKỳ) phủ Ðiện Bàn, trú quán làng Bến Ðề, tổng Phú Khương Thượng, phủ Ðiện Bàn. Theo tài liệu cuả ông Quốc Minh đăng trên báo Người Việt số 2721, ngày 15-5-93, thì ông Phạm Tuấn đã một lần đỗ tiến sĩ, khoa thi hội Kỹ Sửu(1889), năm Thành Thái nguyên niên, nhưng vì biến cố ở kinh đô Huế lúc bấy giờ nên kỳ thi ấ'y không được công bố và xem như hủy bỏ. Như thế nghiã là ông Phạm Tuấn 2 lần đổ tiến sĩ 2 khoa thi hội cách nhau 10 năm, 1889-1898.

1.2. Ông Phạm Liệu:

Tiến sĩ đệ nhị giáp, người nhỏ tuổi nhất, quê quán làng Trừng Giang, tổng Phú Khương Thượng (Gò Nổi,Phù Kỳ), phủ Ðiện Bàn.

1.3. Ông Phan Quang:

Tiến sĩ đệ tam giáp,quê quán làng Bàng Lãnh, tổng Phú Khương Thượng (Gò-Nổi Phù Kỳ), phủ Ðiện Bàn, trú quán làng Phước Sơn, huyện Quế Sơn.

1.4. Ông Dương Hiển Tiến:

Phó bảng, quê quán làng Cẩm Lậu, tổng An Nhơn, phủ Ðiện Bàn.

1.5. Ông Ngô Lý:
Phó bảng, quê quán làng Cẩm Sa, tổng Phú Triên, phủ Ðiện Bàn.

2. Về xuất xứ và liên hệ gia đình, môn đồ.

Năm vả tân đại khoa đồng hương và đồng khoa đều là người quê quán phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng- Nam.


Ba vị tân tiến sĩ đồng khoa không những quê quán cùng đồng tỉnh Quảng Nam, cùng đồng phủ Ðiện Bàn, mà còn đồng tổng Phú Khương Thượng (Gò Nổi, Phù Kỳ).


Hai vả tân tiến sĩ đồng hương và đồng khoa Phạm Liệu và Phạm Quang là anh em con cô con cậu, thuộc tộc Phan, làng Bàng Lãnh, tổng Phú Khương Thượng, phủ Ðiện Bàn, và là con cháu nội ngoại xa gần, đồng thời là môn đồ của cụ Tú Thất Khoa (7 khoa tú tài) Phan Thế Huân,và cụ Tú Ngũ Khoa (5 khoa tú tài) Phan thế Tiên húy Nguyên, trú quán làng Cổ Tháp, tổng Mậu Hoà, Phủ Duy Xuyên.

3. Về văn bài.

Theo tài liệu do ban giám khảo trường thi Hội khoa Mậu Tuấ't (1898) lưu chiếu tại Quốc Tử Giám của triều đình nhà Nguyễn thì:

Văn bài cuả tiến sĩ Phạm Tuấn xuất sắc về thâm thúy, trong sáng, chững chạc, đáng bậc mô phạm gương mẫu.


Văn bài của Tiến Sĩ Phạm Liệu xuất sắc về bay bướm, âm điệu, phong nhà, đ'ang bậc tuổi trẻ tài hoạ
4. Về thơ tặng

Ðương thời ở Quảng Nam, cụ Ðào Tấn, hiệu Tô Giang, tiểu hiệu Mai Tăng, ququê quán xã Vĩnh- Thạnh, quận Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh, tiến sĩ xuất thân khoa Ðinh Mão (1867) là tác giả các vở tuồng hát bộ: Hộ Sanh Ðường, Khuê Các Anh Hùng, Trầm Hương Các, Ngũ Hổ Bình Tây, Tống Ðịch Thanh...nổi tiếng mà ngày nay thường được trình diễn, làm Tổng Ðốc, có tặng mỗi ông tân tiến sĩ một bài thơ mà các cổ nho ngày nay còn truyền tụng:

4.1._Bài thơ tặng tiến sĩ Phạm Tuấn:

Vận hội tuần hoàn ngũ thập niên,
Thử ban tương kế xuất danh hiền.
Trúc-ba nhân khứ, Hà-ba tại,
Nhụy bản du truyền Giáp Ất tiên.

Tạm dịch:

Năm mươi năm hội tuần hoàn,
Tôi hiền liên tiếp nảy vang đất này.
Cụ Hà đó, cụ Trúc đi,(*)
Bút tiên Giáp Ất tên ghi bảng vàng.

(*) Trúc ba chỉ cụ Trúc Ðường Phạm Phú Thứ đã từ trần; Hà ba chỉ cụ Hà Ðình Nguyễn Thuật đang còn sống lúc bấy giờ.

4.2._ Bài thơ tặng tiến sĩ Phạm Liệu:

Chiết quế nhơn tùng nguyệt diện lai,
Ðình bôi vị vấn thiếu niên tài.
Khán hoa mã quá song kiều lộ,
Thùy vị nam nhi đệ nhất mai.

Tạm dịch:

Bẻ về cành quế Hằng Nga,
Chén nồng xin hỏi trẻ mà tài cao(**)
Xem hoa cưởỉ ngựa qua cầu,
Cành nam ai kẻ trổ đầu hoa mai.

(**) Ông Phạm Liệu lúc thi đổ tiến sĩ còn trẻ tuổi.

4.3._ Bài thơ tặng tiến sĩ Phan Quang :

Giang sơn thành thục dị tài đa,
Tam quế tề khai nhất dạng hoa,
Cảnh hữu Quảng Hàn cung tại khách,
Dũ tương thể bút tả Hằng Nga.

Tạm dịch:

Non sông un đúc lắm tài cao,
Ba cụm đơm bông quế một màu.
Có khách Quảng Hàn vừa mới đến,
Bút hoa tô nét nguyệt thanh tao.

5. Về thân thế và sự nghiệp .

5.1._ Tiến sĩ Phạm Tuấn nổi tiếng làm câu đối chữ Hán và chữ Nôm rất hay, rất thâm thúy, còn được truyền tụng:



a.)_ Câu đối ở miếu trong vườn:

Hữu đức, hữu Nhơn, kim hữu hữu,
Như Thần, như Tại, hựu như như.



b.)_ Câu đối ở chùa Xuân Ðài (làng chánh quán):

XUÂN thâm mặc chứng kim sanh QUẢ,
ÐÀI cổ thường khai tích thọ HOA.

( Cụ Phan Bội Châu khi kinh qua đây, đọc câu đối, rất lấy làm khen ngợi)


c.)_ Câu đối ở chùa Bến Ðền (làng trú quán)

Sơn thủy chung linh tư hữu tự,
Quỷ thần giáng phước tín vô tư.


d.)_ Câu đối làm cho triều đình Huế đi phúng điếu Cần Chánh Ðại Học Sĩ Nguyễn Thân, người có công giúp Pháp đánh dẹp Phong Trào Cần Vương: Phan Ðình Phùng ở Nghệ Tĩnh, Nguyễn- Duy Hiệu ở Quảng Nam:

Sinh như ông, tử như ông, sinh tử như ông - BẤT
Công cái thế, danh cái thế, công danh cái thế - VÔ

( Nghe đâu ông Nguyễn Hy con của Nguyễn Thân, kỷ sư ở Pháp về, nghe dư luận đàm tiếu về câu đối này, đã phát đơn kiện ông Phạm Tuấn về việc mạ lỵ thân sinh ông. Ông trả lời là hãy xem trong câu đối, ai là người đứng tên đi, rõ ràng là triều đình Huế, vậy hãy kiện triều đình Huế chứ sao lại kiện tôi. Thế là hoà cả làng !

Suốt 35 năm làm quan (1898-1913), ông chuyên rách ngành giáo dục, qua các chức vụ Huấn Ðạo, Giáo Thọ, Ðốc Học ở các tỉnh miền trung và 4 lần cử làm sơ khảo (1891), phúc khảo (1894), giám khảo (1897), Ở các trường thi Hương Bình Ðịnh; và các phân khảo (1900) ở trường thi Hương Nghệ An.

Ông có 3 đời vợ, nhưng các con trai ông đều hữu sinh vô dưỡng, nên cuối cùng vô tự. Năm1913, năm Duy Tân thứ 7, ông hưu trí với hàm Hồng Lô tự Khanh.

5.2._ Tiến sĩ Phạm Liệu văn hay chữ tốt, hoạn lộ hạnh thông, nhất là sau ngày ông đã thiếu bình tĩnh đánh mất sĩ khí Quảng Nam , đang tâm bán rẽ lương tâm và linh hồn cho bọn thực dân Pháp để mưu cầu chút hư danh tục đế bằng cách mật báo cơ mưu, ngày giờ và địa điểm khơỉ nghĩa chống Pháp của Vua Duy Tân và Việt Nam Quang Phục Hội cho Công Sứ Pháp Dc Taster và Tuần Phủ Trần Tiễn Hối ( hậu duệ của Phụ Chánh Trần Tiến Thành ) ở Quảng Ngĩa. Và do đó, Khâm- Sứ Charles liền bí mật ban hành lệnh giới nghiêm , tuớc khí giới tất cả quân lính Việt Nam , bố trí người đặc biệt theo dõi tình hình và chuẩn bả sẵn sàng đàn áp . Kết quả cuộc cách mạng chống Pháp của Vua Duy Tân và Việt Nam Quang Phục Hội miền Trung, khuya ngày 3 rạng ngày 4 tháng 5 năm 1916 ( 1-2 tháng 4 năm Bính Thìn) đã thất bại từ trong trứng nước. Sau đó, Án Sát Sứ Phạm Liệu được thăng chức Phủ Thừa tỉnh Thừa Thiên và tuần tự thăng dần đến Thượng Thư Bộ Binh ở triều đình Huế, rồi Hiệp Tá Ðại Học Sĩ với tước Trừng Giang Nam trí sĩ.

Ông có 4 đời vợ và con trai không đông, nhưng hầu hết,con trai ông đều chết trẻ, trước khi lập gia đình.

5.3_ Tiến sĩ Phan Quang đường tiến thân khá bằng phẳng không có gì đáng ghi nhận. Ông làm quan đến chức Thượng Thư ở triều đình Huế, rồi Trí Sĩ (cụ Thượng Phước Sơn).

Ông có 3 đời vợ và con trai trưởng là giáo sư Phan Khoang, một học giả, một sử gia, một nhà văn hữu hạng tại đất thần kinh Huế.

5.4._ Phó bảng Dương Hiễn Tiến sau khi vinh quy bái tổ, chưa kịp thi thố tài năng phục vụ đất nước và đồng bào thì thất lộc.

5.5._ Phó bảng Ngô Lý. Theo truyền thuyết dân gian,địa phương, ông Ngô Lý nguyên quán không phải ở Cẩm Sa, nhưng lý trưởng Cẩm Sa thời ấ'y có ăn tiền lót của ông nhiều ít gì đó, mới nhận thực cho ông khai tam đại tại làng đễ lập hồ sơ đi thi. Không ngờ sau ông đổ Phó Bảng ra làm quan. Chúng thấy vô cớ mà rước một ông Tiên Chỉ ở đâu về ăn trên ngồi trước trong làng, nên bọn lý hương âm mưu với nhau ếm mã cụ thân sinh ông, và sau đó ông Ngô Lý chết vì bạo bệnh tại huyện đường tỉnh Nghệ An.Việc ấy sau này Văn thân Quảng Nam biết được, phát đơn kiện và bọn lý hương Cẩm Sa bị án.(Trích tài liệu trong " Quảng Nam Nhân Vật Liệt Chí" của Nguyễn Bội Liên biên soạn, do ty tiểu học Quảng Nam xuất bản năm 1969).

Ðể kết luận, chúng ta là những người dân xứ Quảng có hãnh diện và có nhắc nhở đến " Ngũ- Phụng Tề Phi " là chỉ hãnh diện và nhắc nhở cáí tài học cao biết rộng, văn hay chữ tốt, về phương diện văn chương khoa bảng mà thôi, chứ về phương diện an bang tế thế, ích quốc lợi dân, theo như lòng dân xứ Quảng hằng mong muốn thì không có gì đáng được lưu ý đề cao cả.

Ðất Quảng Nam, ngoài " Ngũ Phụng Tề Phi " khoa Mậu Tuất (1898) còn có:

1._ Khoa Tân Sửu (1901) 4 vị đỗ Phó bảng đồng khoa và đồng hương là ông Nguyễn Ðình Hiến (Trung Lộc,Quế Sơn), Ông Nguyễn Mậu Hoán (Phú Cốc,Quế Sơn), Ông Võ Vỹ (An phước,Thăng Bình), Ông Phan Châu Trinh (Tây Lộc,Tiên Phước) mà dân gian thường mệnh danh là " TỨ KIỆT "

2._ Trong 4 khoa thi Hương liên tiếp là khoa Ðinh Dậu (1897), khoa Canh Tý (1900), khoa Ất Mão (1903), khoa Mậu Ngọ (1906), có 4 vị đỗ thủ khoa là: ông Phạm Liệu (Trừng Giang, Ðiện Bàn), ông Võ Hoành (Long Phước, Duy Xuyên ), ông Nguyễn Ðình Hiến (Trung Lộc,Quế Sơn ), ông Huỳnh Hanh tức Huỳnh Thúc Kháng (Thanh Bình,Tiên Phước) mà dân gian thường mệnh danh là " TỨ HỔ ". Như vậy:

* Ông Phạm Liệu vừa là "Ngũ Phụng Tề Phi" vừa là " Tứ Hổ ".

* Ông Nguyễn Ðình Hiến vừa là " Tứ Kiệt " vừa là " Tứ Hổ ".

Ngoài những danh sĩ kế tiếp nhau tranh khôi đoạt giáp nói trên,các vị Cử Nhân, Tú Tài, thì khoa nào cũng có, nhưng có một số trong quý vị ấy không ra làm quan, lại ngồi tại làng mở trường dạy học truyền bá triết lý và đạo đức thánh hiền, xây dựng hương chính địa phương, bảo đảm nền thịnh vượng và hạnh phúc chung cho nhân dân, hay viết sách,viết báo cổ động nền Tự Do, Dân-Chủ và Nhân Quyền cho Việt Nam.

Nhưng tiếc thay, thời vàng son ấ y nay còn đâu ! ?
Garden Grove, ngày 30-10-1993.




gia dich  
#2 Posted : Saturday, January 18, 2003 10:35:43 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
UserPostedImage
TRầN QUÍ CÁP Bất Nhị, Ðiện Bàn Tiến Sĩ 1904 Ðỗ NHƯ CHƯƠNG La Châu, Hòa Vang Tiến Sĩ 1848
HOÀNG DIệU Xuân Ðài, Ðiện Bàn Phó Bảng 1853 NGUYễN VĂN DụC Chiên Ðàn, Tam Kỳ Phó Bảng 1838
PHạM HữU DụNG Thanh Chiêm, Ðiện Bàn Phó Bảng 1880 Trần Văn Dư An Mỹ, Tam Kỳ Tiến Sĩ 1875
NGUYễN ÐÌNH HIếN Trung Lộc, Quế Sơn Phó Bảng 1901 NGUYễN DUY HIệU Thanh Hà, Ðiện Bàn Phó Bảng 1879
NGUYễN MậU HÓAN Phú Cốc, Quế Sơn Phó Bảng 1901 VÕ HOÀNH Long Phước, Duy Xuyên Phó Bảng, 1910
NGUYễN HÀ HOằNG La Trảo, Ðiện Bàn Phó Bảng 1919 NGUYễN HY Kỷ (PHụ) Mỹ Xuyên, Duy Xuyên Phó Bảng 1848
NGUYễN KHảI Long Phước, Duy Xuyên Phó Bảng 1889 HUỳNH THÚC KHÁNG Thạnh Bình, Tiên Phước Tiến Sĩ 1904
PHạM NHữ KHUÊ Hương Quế, Quế Sơn Tiến Sĩ 1846 PHạM LIệU Trừng Giang, Ðiện Bàn Tiến Sĩ 1898
PHạM ÐÌNH LONG An Tây, Quế Sơn Phó Bảng 1919 Hồ TRUNG LƯợNG An Dưỡng, Duy Xuyên Tiến Sĩ 1892
PHạM THANH NHÃ Mã Châu, Duy Xuyên Phó Bảng 1851 NGUYễN TƯờNG PHổ Cẩm Phô, Hội An Phó Bảng 1842
PHAN QUANG Phước Sơn, Quế Sơn Tiến Sĩ 1898 Hồ HằNG TÁNH Phú Mỹ, Duy Xuyên Phó Bảng 1844
PHạM TRọNG TấN (TUấN) Xuân Ðài, Ðiện Bàn Tiến Sĩ 1898 NGUYễN BÁ TUệ Tuần Dưỡng, Thăng Bình Tiến Sĩ 1841
NGUYễN DUY Tự Bảo An, Ðiện Bàn Phó Bảng 1844 NGUYễN ÐÌNH TựU Hội An Phó Bảng 1868
NGUYễN THÍCH Chiên Ðàn, Tam Kỳ Tiến Sĩ 1884 NGUYễN THUậT Hà Lam, Thăng Bình Phó Bảng 1868
PHạM PHÚ THứ Ðồng Bàn, Ðiện Bàn Tiến Sĩ 1843 PHAN TRÂM Bảo An, Ðiện Bàn Phó Bảng 1895
LÊ THIệN TRI Long Phước, Duy Xuyên Tiến Sĩ 1838 PHAN CHU TRINH Tây Lộc, Tiên Phước Phó Bảng 1901
NGÔ CHUÂN (TRÂN) Cẩm Sa, Ðiện Bàn Phó Bảng 1898 VŨ Vỹ An Phú, Thăng Bình Phó Bảng 1901
VÕ ÐĂNG XUÂN Phú Thị, Thăng Bình Phó Bảng 1849 NGUYễN TƯờNG VĨNH Cẩm Phô, Hội An Phó Bảng 1838
PHạM NHữ XƯƠNG Ngân Cầu, Ðiện Bàn Tiến Sĩ 1875


gia dich  
#3 Posted : Monday, July 7, 2003 12:35:40 PM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
QUẢNG NAM - QUÊ HƯƠNG "NGŨ PHỤNG TỀ PHI"


Thy Hảo TRƯƠNG DUY HY


I/- NGUỒN GỐC 4 CHỮ "NGŨ PHỤNG TỀ PHI"
Ðời nhà Thanh bên Tàu, nhân một khoa thi Ðình, có 5 vị là người cùng làng, và cùng đổ tiến sĩ và được vua ban bố bốn chữ "Ngũ Phụng Tề Phi".
Theo nguyên cứu của ông Trần Gia Phụng (nguyên giáo sư dạy sử trường Phan Châu Trinh, Ðà Nẵng trước 1975) viết trong tác phẩm Những câu chuyện lịch sử ấn hành tại Toronto Canada (tr 54 - 1997): "...Theo sách Lư Lăng thi chú (sách viết về nền thi ca của quận Lư Lăng, tỉng Giang Tây, Trung Hoa, Lư Lăng là quê hương của hai đại văn hào là Âu Dương Tu - một trong bát đại danh gia - và Văn Thiên Tường) dưới thời Tống Thái Tông (trị vì 976-1003), có 5 người cùng quận Lư Lăng tên là Giả Hoàng Trung, Tống Bạch, Lý Chí, Lã Mông Chính, Tô Dị Giản, cùng trúng tuyển chức Hàn Lâm học sĩ. Một vị đại quan trong triều tên Hồ Mông, đã làm thơ mừng các tân quan Hàn lâm học sĩ, trong đó có câu "Ngũ Phụng Tề Phi nhập Hàn lâm" nghĩa là năm con phụng cùng bay vào viện Hàn lâm..."
Tại Việt Nam, dưới triều Thành Thái năm thứ 10 (1898), riêng tại Quảng Nam - cùng khoa Mậu Tuất - đỗ 3 tiến sĩ, 2 phó bảng. Bấy giờ Tổng đốc Nam-Ngãi cũ là Ðào Tấn và Ðốc học Quảng Nam Trần Ðình Phong (cụ Tấn người Bình Ðịnh, cụ Phong thân sinh bác sĩ Trần Ðình Nam người Nghệ An)(1), cũng như các bậc túc nho, lão nho ở địa phương cho rằng thành quả đó là do tú khí của núi sông sở tại, nhưng cũng còn nhờ cái đức của Tổng đốc và Ðốc học tại vì. Rồi cụ Tấn và cụ Phong nhất trí lấy tích xưa nói trên đem ban cho 5 vị đại khoa" năm con phụng Quảng Nam" (2). Từ đó, khoa thi Mậu tuất 1898, được người địa phương ưu ái gọi là"Khoa ngũ phụng Quảng Nam ". Năm con chim phụng được thêu trên một tấm thục, đặt tại dinh Tổng đốc ở Ðiện Bàn, gồm :
-3 con chim ở tư thế đang bay, tượng trưng cho 3 vị tiến sĩ.
-2 con chim ở tư thế xếp cánh, tượng trưng cho 2 vị phó bảng.

II/- TÔN DANH NHỮNG VỊ ÐẠI KHOA QUẢNG NAM CÓ TÊN TRONG "NGŨ PHỤNG TỀ PHI":
Ba vị tiến sĩ là:
1/- Phạm Liệu: Vị thứ 1/7 tiến sĩ. Xã Trừng Giang, tổng Ða Hòa Thượng, huyện Diên Phước, Phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
2/- Phan Quang: Vị thứ 2/7 tiến sĩ. Xã Phước Sơn Thượng, tổng Xuân Phú Trung, huyện Quế Sơn, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
3/- Phạm Tuấn: Vị thứ 5/7 tiến sĩ. Thôn Xuân Ðài, tổng Phú Khương Thượng, huyện Diên Phước, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Hai phó bảng là:
(Tại Bảng Ất niêm yết danh sách phó bảng)
1/- Ngô Chuân: (Tức là Ngô Truân hay Ngô Lý) vị thứ 1/9 phó bảng. Xã Cẩm Lậu, huyện Diên Phước, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
2/- Dương Hiển Tiến: Vị thứ 3/9 phó bảng. Xã Cẩm Lậu, huyện Diên Phước, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

III/- CẢNH ÐÓN RƯỚC NGŨ PHỤNG TRONG NGÀY VINH QUY:
Khi Tổng Ðốc Ðào Tấn nhận được tin Quảng Nam có 5 vị đỗ đại khoa, thì cùng lúc đó "...Có một vị lão thành biết được, liền loan truyền cho mọi người hay. Và nhân dân Quảng Nam trong niềm hãnh diện chung đã lũ lượt đi từ Vĩng Ðiện đến chân Hải Vân quan để chào mừng 5 vị tân khoa Ngũ Phụng Tề Phi..." (theo Dây Quảng Nam của Vũ Lang NXB Thời Mới - Ðà Nẵng 1973).
Dọc hai bên đường từ đèo Hải Vân đến Vĩng Ðiện, hương lý sức dân quét dọn sạch sẽ. Mỗi làng đều có đặt một bàn hương án bên vệ đường (trong địa phận làng mình, nơi các tân khoa đi ngang qua). Vị chức sắc cao nhất trong làng, trang phục chỉnh tề, áo rộng, khăn đóng, cùng thân hào nhân sĩ trong làng chuẩn bị sẵn sàng để nghinh đón.
Các vị tân khoa đi ngựa sau 4 chữ Ân Tứ Vinh Quy của vua ban (Nhà thờ cụ Phan Quang ở Quế Sơn hiện còn giữ quý vật nầy). Mỗi lần đến nơi có bàn hương án thì xuống ngựa, đón nhận sự vái chào và chào trả lễ của hương chức sở tại. Xong, được mời ăn một miếng trầu cau hoặc hút một điếu thuốc, uống một chén rượu mừng...Ðôi bên bày tỏ niềm hân hoan về kết quả kỳ thi...rồi lại lên ngựa, từ từ tiến về Vĩng Ðiện (Theo tư liệu của cụ Phạm Phú Hưu).

IV/- NHỮNG VỊ NÀO TRONG "NGŨ PHỤNG" KHÔNG DỰ BỮA TIỆC KHOẢN ÐÃI CỦA TỔNG ÐỐC VÀ ÐỐC HỌC QUẢNG NAM HỒI ẤY?
Thời bấy giờ chưa có cầu Vĩng Ðiện. Ðám rước được nhân dân đưa qua sông bằng ghe. Lúc lên bờ phía Vĩng Ðiện - một trong năm con Phụng, cụ Ngô Chuân, nguyên nhà rất nghèo, ngụ cư tại Cẩnm Sa. Cụ xúc động mạnh trước cuộc đón rước quá long trọng của nhân dân trong tỉnh dành cho cụ và các bạn đồng khóa, mà cụ không sao dám mơ tuởng đến! Lúc lên bờ, không hiểu sao, cụ rời đám rước, một mạch chạy bộ về Cẩm Sa!...Do đó, tại bữa tiệc trong dinh Tổng đốc Quảng Nam vắng mặt cụ Chuân!

V/- BA BÀI THƠ "TỨ TUYỆT" CỤ ÐÀO TẤN ỨNG KHẨU TẠI BỮA TIỆC ÐÃI CÁC VỊ ÐẠI KHOA MẬU TUẤT 1898 TẠI DINH TỔNG ÐỐC QUẢNG NAM ÐỂ TẶNG AI?
Quan niệm của những vị Nho học ngày trước thì thi cử đạt học vị cao, xã hội phải kính nể, trọng vọng. Mà thật vậy, những vị đỗ từ Ðệ tam giáp trở lên "...Ðược vua ban áo mão, cỡi ngựa xem hoa trong vườn Ngự Uyển và dự Yến (Các vị phó bảng chỉ được áo mão chứ không được dự Yến vả cởi ngựa xem hoa, để ngắm những tà áo tím của cung phi mỹ nữ yêu kiều...). Tiến sĩ họ Ðào, hình dung ba tiến sĩ tốt số như ba tiên ông, đang ngự du nguyệt điện, chuyện vãn với Hằng nga, ngâm thơ chuốc rượu, còn hai phó bảng không được nhập điện, thì như hai chú tiểu đồng, đứng ngoài trông vào, thèm thuồng ham muốn, trộm lấy bút mực vẽ bóng chị Hằng Nga để khuây lòng hoài vọng. Ông tặng hai phó bảng một bài thơ hài hước..." (theo giai thoại văn chương trang 21-Trần Gia Thoại- nhà in Kim Ngọc Sàigòn 1957) (3).

Có lẽ cụ Ðào cũng nghĩ như thế nên cụ xuất khẩu ba bài thơ tứ tuyệt để tặng năm vị đại đăng khoa này.
Bài thứ nhất tặng Cụ Phạm Liệu
Nguyên tác:
Chiết quế nhơn tùng nguyệt điện lai
Ðình bôi vị vấn thiếu niên tài
Khán ba mã qua song kiều lộ (4)
Thùy thị Nam chi (5) đệ nhất mai
Bản dịch (Cụ Trần Gia Thoại):
Bẻ quế cung trăng ấy mới tài
Nâng ly thử hỏi khách là ai?
Xem hoa cỡi ngựa qua cầu kép
Là cánh hoa Nam đệ nhất mai
Bài thứ hai tặng Cụ Phan Quang và Phạm Tuấn.
Nguyên tác:
Vận hội tuần hoàn ngũ thập niên
Thứ ban (6) tương kế xuất danh hiền
Trúc Ba nhơn khứ Hà Ba tại(7)
Nhụy bảng do truyền Giáp Ất niên
Bản dịch:
Cơ trời mấy chục năm qua
Cõi Nam liên tiếp sinh hoa ngạt ngào
Trúc tàn Hà nở thơm sao
Bảng đề Giáp Ất ai nào dám tranh.
Bài thứ ba tặng Cụ Ngô Chuân và Dương Hiển Tiến:
Nguyên tác:
Giang sơn thanh thục dị tài ba
Tam quế tề khai nhất dạng ba
Cánh hữu Quảng Hàm cung đợi khách
Du tương thể tà Hằng Nga
Bản dịch:
Non sông hun đúc lắm tài hoa
Một loạt ba bông nĩ đậm đà
Cung Quảng ngoài hiên còn khách đợi
Trộm đem bút mực tả Hằng Nga

VI/. Ý KIẾN CỦA CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG VỀ KHOA THI MẬU TUẤT THÀNH THÁI 10 -1898- TỨC KHOA" NGŨ PHỤNG TỀ PHI QUẢNG NAM".

Khi làm báo Tiếng Dân tại Huế, (báo này được tồn tại từ năm 1927 đến 1943 do cụ Huỳnh Thúc Kháng chủ trương)- theo tư liệu của Cụ Nguyễn Xương Thái, Thư ký báo Tiếng Dân hồi đó- có lần Cụ Huỳnh viết bài báo phàn nàn về sự bất công của khảo quan trong khoa thi Mậu Tuất(1898) với nội dung như sau:"... Khoa Mậu Tuất 1898( tức khoa Ngũ Phụng) có 10 danh nho, quan của triew62u đình xung vào làm Hội Ðồng Giám Khảo. Trong số đó, hết 8 vị là người Quảng Nam. Lúc ráp phách, Hội Ðồng ngạc nhên thấy 5 sĩ tử đạt điểm chuẩn Tiến sĩ đều là sĩ tử Quảng Nam! Bấy giờ, Cụ Hà Ðình Nguyễn Thuật quê Hà Lam thuộc phủ Thanh Bình, tỉnh Quảng Nam là một hành viên của Hội đồng đề nghị: Chỉ nên lấy 3 tiến sĩ, 2 phó bảng chứ không nên cho đỗ một lúc 5 tiến sĩ như thế, vì cho sĩ tử Quảng Nam đỗ nhiều tất không tránh tai tiếng với người trong nước rằng, khoa nầy, đa số là người Quảng Nam chấm thi, nên đã chấm nới tay cho học trò Quảng Nam đỗ cao và đỗ nhiều! Ấy vậy mà Hội đồng cũng nghe theo.
Nếu công bình mà xét thì hồi đó Quảng Nam có 5 vị tiến sĩ..."
Kết hợp với sự kiện cụ Tổng Ðốc và Ðốc học Quảng Nam khen tặng cho 5 vị tân khoa Mậu Tuất của Quảng Nam lúc bấy giờ là "Ngũ Phụng Tề Phi", thì rõ ràng cả hai cụ Ðào-Trần cũng đã xác nhận đó là 5 con phụng hoàng của Quảng Nam, tức cả 5 vị đều là tiến sĩ.
Niềm hân hoan và hãnh diện của "Ngũ Phụng" và nhân dân Quảng Nam trước thành tựu khoa cử là ở cái đất địa linh nầy quả đã sinh được nhân kiệt. Nhưng theo nhận xét của cụ Huỳnh, chỉ tiếc một điều là năm con phụng hoàng Quảng Nam không lưu lại cho hậu thế một công trình nào về mặt văn học, ngoài cảnh huy hoàng nhất thời! Nên ngày cụ Liệu qua đời, cụ Huỳnh đã phúng điếu một câu đối, mà nay còn được lưu truyền:
"Văn tự quả hữu túc duyên đa, ấu nhi tĩnh tường nghệ chiến, lão nhi kinh đệ minh đàm, trừ trung gian quốc sự dịch kỳ trần lộ sâm thương dư nẫm tái.
Hà sơn do thụy giai khí giả, cựu tắc Hán học thành tinh, tân tắc Âu khoa nhược trí, thứng vãn tấn châu bình nguyệt đán khẩu bi danh tánh mỗi song đề".
Diễn ý:
Văn chương chữ nghĩa có đầy duyên tứ trước vậy. Lúc nhỏ học trường tỉnh, ganh đua nghiệp văn. Khi già ở nhà khách tại kinh đô đàm luận. Ngoài việc biến đổi quốc sự, thì đường trần ai (tôi và ông) xa cách nhau hơn 20 năm.
Sông núi do tú khí tạo nên, Hán học tinh thông, Tây học còn non yếu. Mỗi tháng cùng bạn văn chương bình thời sự. Danh tánh đều được bia đá bia miệng lưu truyền.
Ngày nay , Ngũ phụng Tề Phi là tấm gương hiếu học, học giỏi, đổ cao của những người con Quảng Nam, mà hầu hết có đức tính kiên trì theo đường học vấn, trong hoàn cảnh gia đình khó khăn, để cuối cùng đạt được học vị cao trọng trong xã hội mà thôi./

GHI CHÚ:
(1) Theo ông Trần Gia Phụng thì cụ Ðào Tấn không hề làm Tổng Ðốc Quảng Nam, nhưng chúng tôi tìm được tư liệu chính xác do gia đình Cụ Ðào Tấn ghi lại như sau: theo gia phả và bi minh, lược giảm lược bố phụng dịch của ông Bố chinh hưu tri Ðào Nhữ Tuyên(con trai Cụ Ðào Tấn)viết tiểu sử cụ Ðào Tấn ngày 17-8, năm Bảo Ðại 18 (1943), trong đó có đoạn:
"...năm Thành Thái 9 (1897) Thượng thư bộ Hình năm ấy đính ưu cụ cố bà, năm Thành Thái thứ 10 (1898) phụng chỉ đoạt tình (đang cư tang, nhưng vua cứ điều đi làm việc, nên gọi là phụng chỉ đoạt tình - Vũ Ngọc Liễn) thăng thọ Hiệp tá Ðại học sĩ lãnh Nam - Ngãi Tổng đốc, vừa lại cái lãng An Tinh Tổng Ðốc, năm Thành Thái 11 (1899).." (Thư mục tư liệu về Ðào Tấn, tr.90, do Vũ Ngọc Liễn - Bùi Lợi - Mặc Côn - Ngô Ðình Hiếu biên soạn. UBKH&KT, sở VHTT và Nhà hát tuồng Nghĩa Bình ấn hành 1985).
(2) Theo tư liệu của cụ Cả Liêu, con cử nhân Trương Hoài Phác, một vị đồ nho viết liễn rất đẹp của tỉnh Quảng Nam trước những thập niên 40 tại Hội An. Cụ sinh năm 1879, qua đời năm 1943. Lúc xảy ra đám rước Ngũ Phụng, cụ đã được 19, 20 tuổi và cụ cùng một số nho sinh Hội An lên Vĩng Ðiện xem đám rước nên biết rõ cuộc rước này, cũng như sự tích cụ Tổng Ðốc và Ðốc học mừng 5 vị đại khoa hồi ấy.
(3) Theo ông Trần Gia Phụng thì ba bài thơ của Ðào Tấn chỉ để tặng cho ba vị tiến sĩ chứ không tặng cho hai vị phó bảng.
(4) Song kiều lộ: Cầu Ðông Ba
(5)Nam Chi: Cành mai Quảng Nam dược chiếm giải nhất. Ý nói ông Phạm Liệu là thiếu niên thực tài đổ đầu.
(6) Thứ bang: Bang ấy, tác giả muốn nói tỉnh Quảng Nam.
(7) Trúc Ba nhơn khứ Hà Ba tại: Ông Phạm Phú Thứ hiệu là Trúc Ðường. Ông Nguyễn Thuật hiệu là Hà Ðình đều là người cùng tỉnh Quảng Nam. (4, 5, 6, 7 là chú thích của cụ Trần Gia Thoại - sđd


gia dich  
#4 Posted : Monday, July 7, 2003 12:47:55 PM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Tưởng nhớ các nhà cách mạng đã hy sinh vì độc lập, tư do của dân tộc Việt Nam và danh nhân đã làm rạng rỡ quê hương xứ Quảng





Bùi Tấn Diên Hoàng Diệu Nguyễn Dục Phạm Hữu Kính
Bùi Thị Hậu Hoàng Bá Chánh Nguyễn Ðạo Phạm Hữu Nghi
Bùi Thế Mỹ Hồ Trung Lương Nguyễn Tạo Phạm Như Tăng
Châu Thượng Văn Huỳnh Quì Nguyễn Thành Phạm Phú Thứ
Doãn Văn Xuân Huỳnh Thúc Kháng Nguyễn Thuật Phạm Thị Xuân Chi
Dương Ðình Thạc Hương Hải Nguyễn Bá Trạc Phan Khoang
Dương Ðình Thưởng La Hối Nguyễn Duy Hiệu Phan Khôi
Ðào Bí Lê Cơ Nguyễn Ðình Hiến Phan Quang
Ðặng Dung Lê Dư Nguyễn Ðình Tựu Phan Bá Phiến
Ðặng Tất Lê Lương Nguyễn Học Sĩ Phan Châu Trinh
Ðoàn Thị Ngọc Lê Bá Trinh Nguyễn Thành Ý Phan Văn Duật
Ðổ Ðăng Tuyển Lê Ðình Dương Nguyễn Tường Lân Thái Phiên
Ðổ Thúc Tĩnh Lê Ðình Thám Nguyễn Tường Long Trần Hoành
Lê Hằng Phương Nguyễn Tường Phổ Trần Thuyết
Lê Tấn Trung Nguyễn Tường Tam Trần Cao Vân
Lê Văn Long Nguyễn Tường Vĩnh Trần Ðăng Long
Lê Văn Thủ Nguyễn Văn Trương Trần Ðình Nam
Lê Vĩnh Huy Nguyễn Văn Thoại Trần Quý Cáp
Lê Vĩnh Khanh Nguyễn Văn Vân Trần Văn Dư
Lương Khắc Ninh Ông Ích Ðường Võ Ðức Nghiêm
Lương Thúc Kỳ Ông Ích Khiêm Trương Công Ðịnh
Huỳnh Bá Chánh Phạm Hoành Phan Thành Tài
Phạm Liệu Trần Cang
Phạm Lợi Phan Thúc Duyện
Phạm Thanh Chương Trương Bá Huy
Nguyễn Quần Nguyễn Thị Hương






gia dich  
#5 Posted : Tuesday, July 8, 2003 8:05:26 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
PHAN CHU TRINH

UserPostedImage Phan Chu Trinh sinh năm Nhâm Tuất (1872) niên hiệu Tự Ðức 26, tự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu là Hy Mã, quê ở xã Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam .Thân phụ ông là Phan Văn Bì?h, theo nghề võ và đã tích cực chiến đấu trong hàng ngũ Cần Vương . Thân mẫu là Lê Thị Chung, con một nhà thế gia vọng tộc tại làng Phủ Lâm rất tinh thông Hán học và có nhiều đức hạnh .Thuở thiếu thời Phan Chu Trinh được hiền mẫu ân cần chăm sóc, trong khi phụ thân mãi lo công việc võ biền . Chẳng may mẹ mất sớm, vì cha phải bận với võ nghiệp, ít săn sóc đến việc học hành hành nên mãi đến năm lên 10, Phan Chu Trinh mới được vào trường học tập.Vì mối tình yêu nước sớm nẩy nở trong trí của Phan Chu Trinh nên trong lúc các bạn đồng học chăm chỉ ngốn những lời giảng dạy của thầy để nhồi vào óc đạo lý và chữ nghĩa của Thánh hiền, ông tỏ ra rất xao lãng, thờ ơ . Do đó, trong suốt ba năm liền học tập, Phan Chu Trinh chỉ học lấy lệ Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải chạy trốn ra Quảng Trị . Các đạo Cần Vương kháng Pháp nổi lên khắp các nơi . Ðể cho Phan Chu Trinh có một nghề hợp khả năng và cũng đồng thời được đắc dụng trong buổi non sông nghiêng ngửa, thân phụ ông cho ông theo học nghề võ . Lúc bấy giờ thân phụ ông được cử làm Chuyển vận sứ đồn A Bá thuộc hạt Tam Kỳ .

Năm 1887, vì nghi kỵ, thân phụ Phan Chu Trinh bị hại, việc học tập võ nghệ của ông bị gián đoạn. Nhờ người anh cả rước thầy về cho ông tiếp tục học nghề văn . Vì nhận thấy muốn có uy tín để thực hiện chí lớn tron việc cách mạng để giành lại chủ quyền của đất nước, nên ông đổi sang học nghề nghiên bút, chớ thực ra ông không bao giờ thích cái lối học hư văn .Theo học bốn năm ở nhà . Phan Chu Trinh tỏ ra thông minh tuyệt vời, ông thường có những lý luận sâu sắc , những nhận xét tinh vi .

Năm 1889, theo thụ nghiệp với vị Ðốc học Trần Mã Sơn, Phan Chu Trinh được bổ vào ngạch học sinh .

Năm 1900, trong kỳ thi Hương, Phan Chu Trinh thi đỗ Cử Nhân, và qua năm sau 1901, ông đỗ Phó Bảng (nhằm niên hiệu Thành Thái thứ 13).

Ông được bổ làm Thừa Biện ở Huế, ít lâu sau, người anh cả của ông mất, ông xin về quê dạy học . Năm 1903, ông được bổ làm Thừa Biện ở Bộ Lễ . Trong thời gian từ 1902 đế 1905, Phan Chu Trinh có dịp học những tác phẩm có tư tưởng cách mạng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire ... Càng tiếp xúc nhiều với các quan trường, Phan Chu Trinh càng thấy rõ cảnh thối nát , hủ bại trên đường cử nghiệp .

Lúc bấy giờ lực lượng Cần Vương lần lần tan rã, thực dân Pháp bắt đầu đặt nền thống trị trên đất nước Việt Nam .Trước cảnh non sông nghiêng ngửa, nhận thấy sự bất lực và thối nát của triều đình Huế, Phan Chu Trinh xin từ quan và bắt đầu hoạt động chính trị với các ông Phan Bội Châu, Lương Ngọc Can, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp . Sau khi từ quan về hoạt động chính trị, Phan Chu Trinh đã cùng với hai bạn đồng khoa là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng rủ nhau vào Nam vận động đồng bào các giới . Vào đến Bình Ðịnh gặp lúc quan tỉnh mở một kỳ thi cho học trò, đầu bài là Chí thành thông thánh và Lưỡng Ngọc danh sơn ba ông mạo tên là Ðào Mộng Giác nộp quyển làm bài Phan Chu Trinh làm bài thơ và hai ông Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng làm bài phú . Những bài này không theo quy tắc thông thường mà cốt để thức tỉnh nhóm sĩ phu . Quan tỉnh không dám quả quyết phải dịch sang chữ Pháp để trình viên Khâm sứ đồng thời truy tầm tác giả của hai bài văn cách mạng kia, nhưng không có kết quả Việc này đã có ảnh hưởng lớn đến đám sĩ phu thời bấy giờ . Tới Phan Thiết, Phan Chu Trinh bị bệnh phải quay trở về Huế . Sau mấy tháng dưỡng bệnh, ông ra Bắc tìm cách lên Yên Thế để gặp Hoàng Hoa Thám, nhưng chính sách bạo động của Hoàng Hoa Thám không thích hợp với chủ trương của ông, nên ông lại xuống Trung Châu Bắc Việt vận động với nhóm nho sĩ Bắc Hà . Ðâu đâu ông cũng đề xướng chủ trương tân học, cực lực đả kích các quan trường tham lam và những nhà hủ nho . Trong thời gian này ông kết nạp được một số đồng chí đáng kể . Phan Chu Trinh tán thành phong traò xuất dương du học do Phan Bội Châu khởi xướng . Lời kêu gọi của Phan Bội Châu, với sự hưởng ứng của Phan Chu Trinh gây được một phong trào xuất dương rất rầm rộ . Ðể được quan sát tại chỗ sự tiến triển của các nước, Phan Chu Trinh liền trốn sang Trung Hoa . Ông gặp Phan Bội Châu tại Hương Cảng rồi hai ông cùng sang Nhật. Ở đó được 10 tháng, ông lên đường về nước (năm 1906) . Phan Chu Trinh quyết đứng ra tranh đấu công khai với chính quyền bảo hộ Pháp . Ngày 15 tháng 8 năm Bính Ngọ (1906) , ông gởi lên Toàn Quyền Pháp ở Ðông Dương một bức thư dài 12 trang gồm mấy điểm sau đây :

- Do sự dung túng của chính quyền Bảo Hộ mà những bọn tham quan ô lại lộng hành khiến cho người Việt Nam bạc nhược suy yếu .

- Chính quyền Bảo Hộ đã dùng một chính sách bạo ngược, tàn ác đối với dânViệt Nam, không tôn trọng sinh mạng con người, muốn chém giết ai tùy ý .

- Do những cách đối xử tàn ác này, mà bọn quan lại lợi dụng quyền thế bắt nạt dân chúng, tìm cách vơ vét cho đầy túi tham, gây nên một tình trạng bi đát trong dân chúng. Bức thơ của Phan Chu Trinh đã có ảnh hưởng rộng lớn trong dân chúng . Ông bắt đầu hoạt động mạnh, hô hào tổ chức nhiều buổi diễn thuyết tại trường Ðông Kinh Nghĩa Thục . Thực dân Pháp để ý căm thù và triều đình Huế cũng rất bực tức quyết tìm cách hãm hại ông. Nhưng Phan Chu Trinh vẫn không màng đến, ông đứng ra lãnh đạo phong trào duy tân, khuyến khích đồng bào mở trường dạy học, lập các hội buôn như Ðông Kinh Nghĩa Thục, Hồng Hưng Tân, công ty Minh Tân, ông cảm hóa được rất nhiều nhân sĩ . Phan Chu Trinh lại hô hào thanh niên vận Âu phục , cắt tóc ngắn, ủng hộ các sản phẩm và hàng nội hóa để giúp cho nền kinh tế trong nước được dồi dào . Ða số thanh niên trong toàn quốc đã nhiệt liệt hưởng ứng phong trào duy tân này .

Năm 1908, tại tỉnh Quảng Nam phong trào kháng thuế nổi lên mạnh mẽ lan rộng các tỉnh miền Trung Việt. Ðầu mùa Xuân năm 1908, thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa Ðông Kinh Nghĩa Thục . Nhân việc kháng thuế ở Quảng Nam, vốn đã không ưa Phan Chu Trinh vì ông đã nhiều lần đả kích và nguyền rủa thậm tệ chúng, nên bọn quan lại Nam triều và thực dân Pháp đổ cho ông "xui dân làm loạn" và "phá rối" liền bị hạ lệnh bắt ông ... Rất nhiều nhân sĩ bị bắt, và trong dịp này, ông nghè Trần Quý Cáp bị Nam Triều lên án xử chém tại Nha Trang . Riêng Phan Chu Trinh bị bắt đem về giam tại tòa Khâm Sứ. Ðể phản đối hành động khủng bố của thực dân, Phan Chu Trinh tuyệt thực trong bảy ngày . Nhận thấy tình thế khó xử, viên Khâm Sứ Pháp phải giao trả ông về Cơ Mật Viện của tòa án Nam Triều, ông bị bọn quan lại kết án tử hình . Nhờ có hội Nhân Quyền can thiệp với chánh phủ Pháp. Chính quyền Bảo Hộ phải điều đình với Nam Triều đổi bản án "tử hình" ra "Côn lôn ngộ xá bất nguyên" (bị đày ra Côn đảo mãn kiếp không được ân xá ". Bỏ giam ở nhà lao Phủ Thừa được it' lâu, Phan Chu Trinh bị đày đi Côn đảo . Lúc đi ngang qua cửa Thượng Tứ (Huế), ông đã ngâm bốn câu thơ bằng chữ Hán mà ông Phan Khôi đã dịch như sau Mang xiềng nhẹ bước khỏi đô môn,

Hăng hái hò reo lưỡi vẫn còn

Ðất nước hãm chìm dân tộc héo

Làm trai đâu xá thứ Côn-lôn

Trong cảnh tù đày, nhưng Phan Chu Trinh rất được chính phủ Pháp trọng đãi và kính nể. Chính viên Thống Ðốc Nam Kỳ đã ra tận Côn đảo để tìm hiểu lập trường tranh đấu của ông . Năm 1910, nhờ có hội Nhân Quyền Pháp (do sự vận động của ông Ernest Babut trong 3 năm trời) can thiệp ráo riết với chính phủ Pháp, thủ tướng Pháp lúc bấy giờ là Klobulowsky và Tổng trưởng Bộ Thuộc địa là Trouillet lập Hội đồng để xét án Phan Chu Trinh . Chánh Tham Biện tỉnh Mỹ Tho là Cousineau được cử làm chánh án . Mặc dù đã được ân xá, nhưng ông cũng bị thực dân Pháp tìm cách giữ mãi tại Mỹ Tho .Ông phản kháng và cương quyết đòi trở về Côn Ðảo . Chính phủ Pháp đành phải để ông tự do .Vì muốn tranh đấu có hiệu quả trong việc cải cách nền chính trị nước nhà và đồng thời để được học hỏi thêm, năm 1911, Phan Chu Trinh đã sang Pháp với Toàn Quyền Klobulowsky, cùng theo ông có người con trai tên là Phan Chu Dật .

Tại Ba Lê, ông gởi con vào trường học còn ông thì lại làm nghề rửa ảnh để sinh sống .Dù cho phải sống xa quê hương, ông vẫn không ngừng hoạt động tranh đấu cho đất nước. Ông viết báo Pháp phản đối việc đào lăng Tự Ðức, yêu cầu chính phủ Pháp nên cấp tốc thay đổi chính sách thuộc địa, giáo dục tinh thần tranh đấu của Việt kiều tại Pháp . Ông tìm cách liên kết với các lãnh tụ thuộc đảng cấp tiến ở Pháp . Ông không tiếc lời đả kích những nạn tham nhũng thối nát của thực dân Pháp ở Ðông Dương và chỉ trích chính sách cai trị của họ . Phái khuynh tả ở Pháp rất tán thành việc làm của Phan Chu Trinh, nhưng các quan lại ở các thuộc địa Pháp rất căm thù và oán ghét . Tiền trợ cấp của ông và tiền học bổng của con ông là Phan Chu Dật đều bị truất, đó là kết quả sự trả thù của thực dân .Hai cha con ông phải sống kham khổ và vất vả với số lương rửa ảnh của ông hàng tháng là 50 quan . Dù phải sống trong cảnh đói rét, khốn khổ đủ mọi bề, Phan Chu Trinh vẫn cương quyết tranh đấu cho lý tưởng cao cả .

Năm 1914, chiến tranh Pháp Ðức bộc phát, tại quê nhà vua Duy Tân nhân cơ hội đó gây biến, nhưng cuộc khởi nghĩa thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên bị xử chém . Vua Thành Thái và Duy Tân bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion .Vì không chịu đi lính cho Pháp để đánh Ðức, Phan Chu Trinh bị vu cáo là làm gián điệp cho Ðức, nên ông bị bắt giam vào ngục SANTE . Nơi đây ông bị hăm dọa đủ điều, nhưng tấm kiên trung vẫn không bao giờ thay đổi . Dùng võ lực không được, người ta đã đem tiền bạc, quyền tước để mua chuộc ông , nhưng cũng vô hiệu quả . Nhờ sự can thiệp của Ðảng Xã Hội và Hội Nhân Quyền Pháp, năm 1915 chính phủ Poinceré phải ký giấy phóng thích ông. Vừa thoát khỏi cảnh giam cầm, Phan Chu Trinh lại phải khóc con . Phan Chu Dật sau 6 năm học tập đã thi đỗ bằng Tú Tài Vật Lý Học, được cha ủy thác sứ mạng về nước để hoạt động . Vì bao năm sống thiếu thốn đói lạnh, Chu Dật mang phải bệnh lao phổi . Về đến quê nhà chưa đầy một năm, Chu Dật mất .

Năm 1922, vua Khải Ðịnh sang dự cuộc đấu xảo quốc tế ở Ba Lê, Phan Chu Trinh gởi cho nhà vua một bức thư lời lẽ nghiêm khắc buộc Khải Ðịnh phải thoái vị nhường quyền lại cho quốc dân và kể bảy tội nhà vua đã làm và đáng tội chém đầu .Có đoạn ông đã viết : "... Một là vì Trinh này đối cùng bệ hạ đã đoạn tuyệt hẳn, không còn một chút quan hệ gì, chỉ đứng vào cái địa vị đối đãi mà thôi, cho nên bức thư này không phải dâng lên cho bệ hạ mà chính là gửi cho bệ hạ, hai chữ bệ hạ mà tôi dùng đây, chẳng qua là cái tiếng xưng hô đã quen trong Hán văn đó mà thôi ... ngày nay Trinh này đề thư cứ gửi ngay cho ông Bửu Ðảo là cái tên húy của bệ hạ , để tỏ ý phản đối ." Bức thư của ông, sau khi được công bố, khích động được tinh thần tranh đấu của đồng bào trong và ngoài nước .

Năm 1925, chính phủ Pháp nhận thấy Phan Chu Trinh là một người ái quốc chân chính có chính sách ôn hòa, nên có ý muốn giúp đỡ ông . Phái tả đảng bên Pháp từ lâu đã có cảm tình với ông được thắng phiếu trong cuộc bầu cử Nghị Viện và lên nắm chính quyền . Thấy cơ hội thuận tiện cho mình đem tài trí ra giúp dân giúp nước, ông xin trở về quê nhà và được chính phủ Pháp chấp nhận.

Về đến Saigon, Phan Chu Trinh có ý định ở lại trong Nam ít lâu rồi sẽ ra Trung Bắc để hoạt động. Dù tuổi già sức yếu, bệnh hoạn vì bao năm sống vất vả thiếu thốn ở Pháp, Phan Chu Trinh vẫn hăng hái tranh đấu . Ông vận động với nhà cầm quyền Pháp để xin ân xá cho Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải và sửa soạn hai bài diễn văn để đọc trước công chúng :

1. Ðạo đức và luân lý Ðông Tâỵ

2. Quân trị chủ nghĩa, dân trị chủ nghĩạ

Hai bài diễn văn trên đây đã bày tỏ được chính kiến của một nhà cách mạng chân chính, với lòng yêu nước nhiệt thành . Ngày 24-12-1925, sau khi hay tin việc vận động xin ân xá của quốc dân đã có kết quả và Toà Quyền Varenne đã ký giấy ân xá Phan Bội Châu . Phan Chu Trinh định ra Huế để được gặp người bạn đồng chí để cùng nhau tâm sự, nhưng ông bị đau không đi được . Các sinh viên trường Ðại học Hà Nội đánh điện văn mời ông ra Bắc để diễn thuyết . Chưa kịp đi thì ông được biết tin vua Khải Ðịnh mất . Phan Chu Trinh đánh điện tín cho Pasquier Khâm sứ Trung Kỳ hay ông sẽ ra để lo việc cải tổ triều chính và lập dân đảng .
Tiếc thay đại cuộc chưa thành, bệnh tình của Phan Chu Trinh mỗi ngày một thêm trầm trọng . Ngày 24 tháng 3 năm 1926 (nhằm ngày 12 tháng 2 năm Bính Dần) nhà cách mạng ái quốc Phan Chu Trinh đã trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ được 55 tuổi . Một Hội đồng trị sự được thành lập ngay đêm đó để lo việc an táng cho ông ngày 4-4-1926 khắp từ Nam chí Bắc đều tự động làm lễ bãi khóa và làm lễ quốc táng nhà chí sĩ Phan Chu Trinh rất trọng thể để chứng tỏ tấm lòng ngưỡng mộ và mến tiếc nhà cách mạng đã suốt đời vì dân vì nước .
gia dich  
#6 Posted : Tuesday, July 8, 2003 8:49:01 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Hoàng Diệu
UserPostedImage
Gương Tiết Liệt Tổng Đốc Hà Nội : Hoàng Diệu

Xuân Đài Hoàng Hưng
(cháu nội duy nhất hiện còn sống của Tổng Đốc Hoàng Diệu)



Ông Hoàng Diệu tên chữ là Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai, người làng Xuân Đài, Quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam .


Ông sinh ngày 10/02/1829, tức năm Kỷ Sửu trong một gia đình nho học. Thân sinh ông là Hoàng Văn Cầm (1799-1856), thường gọi là ông Hương Huệ, thân mẫu là bà Phạm Thị Khuê (1803-1892). Hai ông bà tần tảo làm ruộng, nuôi tằm lo cho các con đi học. Các anh em ông Hoàng Diệu đều đỗ đạt trong các kỳ khoa cử đầu Tự Đức: 1 Phó Bảng, 3 Cử Nhân, 2 Tú Tài.


Năm 16 tuổi, ông Hoàng Diệu đã nổi tiếng văn tài . Năm 20 tuổi, trong một khoa thi ông đỗ Cử Nhân cùng với anh ruột là ông Hoàng Kim Giám. Bài vở hai ông hơi giống nhau, khiến viên chủ khảo nghi ngờ trình lên Vua Tự Đức. Vua Tự Đức hạ chiếu cho các quan giám khảo cho hai anh em ông Hoàng Diệu phúc hạch trong 3 ngày tại điện Cần Chánh. Sau khi xem quyển (bài thi), Vua Tự Đức đã khen rằng:

"Văn chương là lẽ công bằng. Hai anh em văn chương đều tuyệt tác, anh em đồng khoa thật là việc tốt."

Vua Tự Đức ra câu đối:

"Nhứt mẫu song sinh, nan vi huynh nan vi đệ."

Ông Hoàng Diệu ứng khẩu đối ngay:

"Thiên tải kỳ ngộ, hữu thị quân hữu thị thần"


Năm 25 tuổi, trong khoa thi Hội 1851 ông đổ Phó Bảng. Ông được bổ làm Tri Phủ Tuy Viễn (Bình Định) năm 1851. Do việc lầm lẫn án từ bị giáng chức đổi về huyện Hương Trà (Thừa Thiên). Sau được phục chức Tri Phủ, đổi ra Phủ Đa Phúc (Phúc Yên), Lạng Giang (Bắc Giang), rồi thăng làm giám sát tỉnh Nam Định, rồi Bố Chánh tỉnh Bắc Ninh . Trong thời gian đó, ông lập được nhiều công trong việc dẹp trộm cướp, an dân lành, được Vua Tự Đức ban khen rằng:"Chăm lo cho dân Bắc Hà, ngoài Hoàng Diệu ra không ai hơn". Suốt đời làm quan ông nổi tiếng là người thanh liêm thẳng thắn, hết lòng vì dân vì nước. Dân thời ấy thường truyền tụng rằng đời riêng ông hết sức thanh bạch, trong nhà không có tiền bạc, và với ông không có ai dám đến cửa công để kêu xin việc tư .


Năm 1873 ông được triệu về kinh đô Huế giữ chức Tham Tri Bộ Hình rồi Tham Tri Bộ Lại, kiêm Đô Sát Viên, dự bàn những việc ở Viện Cơ Mật. Năm 1878 đanh làm Tổng Đốc An Tĩnh (Nghệ An-Hà Tĩnh), ông được triệu về kinh sung chức Phó Toàn Quyền Đại Thần đàm phán với Sứ Thần Y Pha Nho, rồi thăng làm Thượng Thơ Bộ Binh . Khi tình hình Bắc Kỳ căng thẳng, Vua Tự Đức giao phó cho ông vùng trọng yếu Hà Nội, Hải Phòng . Vua Tự Đức còn ban thưởng cho mẹ già đã 80 tuổi một số sâm, quế và gấm vóc. Cảm động trước đặc ân đó, ông viết bài biểu có câu:"Phận con chưa báo, ơn mẹ mang thêm; Việc nước chưa xong, việc nhà đâu tưởng". Trước khi nhận trọng trách Tổng Đốc Hà Ninh, ông xin về quê thăm mẹ già ở làng Xuân Đài, tỉnh Quảng Nam . Sau đó ông đến làng Đông Bàn thăm cụ Thượng Phạm Phú Thứ và hội đàm về tình hình khó khăn về thời cuộc hiện tại suốt một buổi sáng. Hai ông dùng cơm trưa xong, cả hai ông lại nhau từ biệt. Sau nầy người ta mới hiểu là hai ông lại nhau làm hàm ý vĩnh viễn không bao giờ gặp lại nhau . Sau khi nhậm chức Tổng Đốc Hà Ninh, trong khi đi xem xét địa thế chung quanh các vùng lân cận, ông có sáng tác một bài thơ:


Quá Giang Tức Cảnh
Quá bước tìm phương bỗng tới đây
Khen cho tạo khéo trưng bày
Sông e biển cạn bù thêm nước
Núi sợ trời nghiêng đỡ lấy mây
Rạt rạt sóng cồn che mặt nước
Ào ào gió thổi chôùn rừng xanh
Nữa về nữa ở lòng không nở
Ngán nổi trời chiều bóng xế tây


Với trọng trách trấn giữ Hà Ninh, ông ý thức được những khó khăn vô bờ bến. Năm 1882 thấy binh thuyền nước Pháp tự nhiên ra Bắc, ông làm nghi kỵ lắm. Một mặt ông phái Tuần Phủ Hoàng Hữu Xứng ra tiếp, mặt khác ông lo chỉnh đốn lại thành trì và quân ngũ để đề phòng. Lấy cớ ta không tôn trọng hiệp ước năm 1874 mà lại đi giao thiệp với Trung Hoa, dung túng quân Cờ Đen ngăn trở việc giao thông trên sông Hồng Hà và cấm đạo, Thống Đốc Hải Quân Pháp, Đại tá Henri Rivière cho mấy tàu chiến cùng 4000 quân ra đóng tại Đồn Thủy (trên bờ sông Hồng Hà phía Đông nằm sát Hà Nội) và cho quân lính đi hoành hành phá rối và hăm dọa trên các đường phố. Trước đó ông Hoàng Diệu đã dâng sớ lên Vua Tự Đức đề nghị việc phòng chống giặc, vì theo ông Hà Nội là yết hầu của Bắc Kỳ và cũng là nơi then chốt của nước ta . Nếu Hà Nội mất thì các tỉnh khác sẽ mất theo, nhưng Vua Tự Đức làm thinh . Đến khi Hà Nội bị uy hiếp, ông Hoàng Diệu một mặt xin triều đình Huế viện binh, một mặt ra lệnh giới nghiêm và thông báo các tỉnh đề phòng. Trong khi Hà Nội ở trong tình thế dầu sôi lữa bỏng thì phái chủ bại ở triều đình Huế đề nghị mở cửa thành cho quân Pháp ra vào tự do và triệt binh để người Pháp khỏi nghi ngờ . Ngay cả Vua Tự Đức cũng hạ chiếu quở trách ông đã đem binh dọa giặc và chế ngự sai đường. Nhưng ông Hoàng Diệu đã quyết tâm sống chết với thành. Các quan xung quanh ông Hoàng Diệu lúc bấy giờ có Tuần Phủ Hoàng Hữu Xung, Đề Đốc Lê Văn Trinh, Bố Chánh Phan Văn Tuyển, Án Sát Tôn Thức Bá, và lãnh binh Lê Trực đã cùng nhau uống rượu hòa máu tỏ quyết tâm sống chết với thành .


Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, tức ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhăm Ngọ, Henri Rivière sai thông dịch viên đưa tối hậu thư vào thành cho ông Hoàng Diệu, buộc ông phải cho quân lính rời khỏi thành sau khi hạ hết khí giới và mở cửa thành, ông cùngcác quan phải ra nộp mình cho hắn . Theo bản Corresponance politique du Commanant Henri Riviere au Tonkin của André Masson thì Henri Riviere buộc "Ðúng 8 giờ sáng ngài phải thân hành đến dinh tôi hàng phục, có mặt đông đủ các quan Tuần Phủ, Bố Chánh, Án sát, Đề Đốc, Chánh, Phó Lãnh Binh . Nếu đúng 8 giờ, Ngài và toàn thể thuộc viên của Ngài không đến Lãnh sự quán để tỏ vẻ chấp thuận những điều kiện của tôi, thì quân đội của tôi lập tức tấn công vào thành . . ."

Henri Rivière không chờ thư trả lời, cho tàu chiến bắn vào thành rồi cho quân tiến lên. Tôn Thất Bá xin ra ngoài thành để giao thiệp với địch một lần cuối . Bắc thang leo ra khỏi thành, Bá liền cho giặc biết cách bố trí của ta để giặc nổ súng . Rồi một mặt Bá dâng sớ lên Vua Tự Đức đổ tội cho Hoàng Diệu, một mặt xin với giặc cho Bá thay làm Tổng Đốc Hà Ninh Một trận kịch chiến xảy ra từ sáng đến trưa. Quân ta dưới quyền chỉ huy của ông Hoàng Diệu đã anh dũng chiến đấu giết hàng trăm tên giặc:


"Lữa phun súng phát tứ bề
Khiến loài bạch quỷ hồn lìa phách xiêu
Bắn ra thôi chết đã nhiều
Phố phường nghe thấy tiếng reo ầm ầm
Quan quân đắc chí bình tâm
Cửa đông thành bắc vẫn cầm vững binh
Chém cha cái lũ hôi tanh
Phen này quét sạch sành sanh mới là . . ."
(trích Chính Khí Ca)


Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt gây cho địch nhiều thiệt hại, thì thình lình kho thuốc súng nổ, lửa bốc cháy ngùn ngụt . Đám cháy càng lan rộng, hàng ngũ chiến đấu càng hoang mang, quân giặc thừa cơ bắt thang trèo vào, phá cổng thành phía tây rồi ồ ạt kéo vào như nước chảy

"Nào ngờ thất ý tại ta
Rõ ràng thắng trận thế mà thua cơ
Nội công phản tử bao giờ
Thấy kho thuốc cháy ngọn cờ ngã theo . . ."
(trích Chính Khí Ca)


Bố Chánh Phan Văn Tuyển thấy thành lâm nguy bỏ chạy trước; Đề Đốc Lê Văn Trinh giả vờ tự tử; Phó Lãnh Binh Lê Trực ở cửa tây cũng tháo lui; Tuần Phủ Hoàng Hữu Xứng bị Pháp bắt, nhịn ăn mấy bữa rồi ăn lại như thường . Duy chỉ có Thủy Sư Đề Đốc Nguyễn Đình Kháng liều chết cố thủ ở cửa thành phía nam cho đến giây phút cuối cùng . Riêng ông Hoàng Diệu tuy thế cô nhưng không bao giờ nao núng trước làn súng đạn tuôn như mưa bão, trước những tiếng vang rền như sấm động, trước cảnh tàn khốc của một kinh thành sắp mất, ông vẫn hăng hái tiến lên cùng với toán quân còn lại xông xáo chém giết quân thù . Sau một cuộc chiến đấu nhưng vô vọng, quân ta dần tan rã . Trong vòng khói lửa ngợp trời ấy, ông Hoàng Diệu đi về dinh, nai nịt gọn gàng, mặc chiếc áo the thâm, tấm khăn nhiễu xanh chít lên đầu, và dải dây lưng nhiễu hồng thắt ra áo ngoài, tay cầm thanh kiếm tuốt trần, rồi lên mình voi xông trong mưa đạn tiến vào thành cung . Tại đây ông truyền lịnh:"Ai muốn về kinh thì về, còn ai muốn chiến đấu nữa thì lên Sơn Tây tập hợp với đại binh của Hoàng Kế Viêm chờ ngày báo phục". Khi mọi người giải tán, ông vào dinh viết bài di biểu tạ tội, rồi quay ra đi thẳng đến cửa Võ Miếu lật chiếc khăn đang bịt trên đầu treo mình lên cành cây trước Miếu mà tuẫn tiết đúng vào giờ Ngọ, tức ngày 25 tháng 4 năm 1882. Ông thọ 54 tuổi .


Mặc dầu Vua Tự Đức đã làm chậm trễ cho việc chuẩn bị kháng chiến vì đã nghe theo lời một số quan lại chủ bại tại triều đình Huế . Ông Hoàng Diệu vẫn quyết tâm bảo vệ thành trì và chết theo thành . Bài Chính Khí Ca của ông Nguyễn Văn Giai (Ba Giai) đã diễn tả cái thế quyết tâm bảo vệ thành trì của quân dân trong thành . Nếu có viện binh kịp thời và không có bàn tay phản động đốt kho súng và chỉ điểm cho giặc của một số người phản bội, thì thành Hà Nội chưa dễ gì bị hạ mau chóng .
Trước cái chết khí tiết của Hoàng Diệu, các giới sĩ phu, văn thân và nhân dân Bắc Hà và cả nước khâm phục thương tiếc . Tôn Thất Thuyết, một đại biểu nổi tiếng của sĩ phu kiên quyết chống Pháp đã ca ngợi ông Hoàng Diệu trong hai câu đối:


"Nhất cử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện
Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm"


Dịch:


"Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước
Bình sanh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm ."


Trong bài Chính Khí Ca, Ba Giai đã hết lòng khen ngợi và thương tiếc Ngài qua các câu thơ:


"Chữ trung còn chút con con
Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây
Trời cao, bể rộng, đất dày
Núi Nùng, Sông Nhị chốn này mà ghi
Thương thay trong buổi truân nguy
Lòng riêng ai chẳng thương về người trung
Rủ nhau tiền góp của chung
Đem người ra táng ở trong Học đường"


Vua Tự Đức mặc dầu không ủng hộ ông Hoàng Diệu trong việc chống đối với quân Pháp tại thành Hà Nội, vẫn phải hạ chiếu khen ông Hoàng Diệu đã tận trung tử tiết, sai quân tỉnh Quảng Nam làm lễ quốc táng . Sĩ phu Hà Thành lập đền thờ ông ở phố Văn Tân, sau thờ chung với ông Nguyễn Trí Phương trong đền Trung Liệt trên gò Đống Đa với đôi câu đối:


"Thử thành quách, thử giang sơn
Bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh, vi hà nhạc
Thập niên tâm sự vọng thanh thiên"


Dịch:


"Kìa thành quách, kìa non sông
Trăm trận phong trần trơ đất đỏ Là trời sao, là sông núi


gia dich  
#7 Posted : Tuesday, July 8, 2003 10:28:15 AM(UTC)
gia dich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,969

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Nguyễn Khoa Nam
UserPostedImage
Cuối tháng 3 năm 1998, anh Thời, cựu SVSQ khóa III Thủ Ðức đến nhà tôi mượn tấm ảnh của Tướng Nguyễn Khoa Nam và tặng tôi một số đặc san NKN do các anh đồng khóa ấn hành từ mấy năm nay. Anh Thời đã yêu cầu tôi viết vài hàng về anh Nam, người anh ruột của tôi. Tôi xúc động vô cùng! Từ mấy năm nay, tôi không muốn viết về anh Nam nữa, tôi muốn để cho tâm tư lắng xuống và nỗi buồn chia cắt ruột thịt sẽ vơi theo thời gian, nhưng với anh Thời và cũng như tất cả các anh cựu khóa III Thủ Ðức, tôi không thể từ chối được vì các anh là bạn của anh tôi. Ðến giờ phút này, các anh đã ngoài 70, còn ngồi lại với nhau để viết cho nhau và cho các chiến hữu QLVNCH những tâm tình, những kinh nghiệm. Ðó là điều đáng quý. Tôi kính trọng các anh là ở chỗ đó. Những gì tôi viết ở đây về Thiếu Tướng Nguyễn Văn Nam là của chính tôi biết, những gì do anh em sĩ quan hay bạn kể lại, nhất là suốt 12 năm trong lao tù Cộng Sản, có lẽ tôi muốn kể ra. Thời gian Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam ở trong quân ngũ, từ 1953 đến 1975, tôi rất ít biết vì anh em tôi phải xa nhau, mỗi người một lãnh vực, mỗi người một hoàn cảnh.

1. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam gốc Làng An Cựu Tây, Huyện Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên, sinh tại Thành phố Tourane (Ðà Nẵng) ngày 23 tháng 9 năm 1927.

Gia đình chúng tôi có nhiều anh em nhưng các anh lớn đều mất sớm, đến năm 1975, chúng tôi còn một bà chị là Nguyễn Khoa Diệu Khâm, năm nay 82 tuổi đang ở Sài Gòn, anh Nam và tôi là em út. Anh Nam lớn hơn tôi 8 tuổi, đúng hơn là 7 năm, 7 tháng. Ông thân sinh chúng tôi trước là Thanh Tra Học Chánh tại Ðà Nẵng thường gọi là Cụ Thái Thường Nguyễn Khoa Túc, về hưu năm 1941 và về nghỉ hưu tại Huế. Mẹ chúng tôi là bà Công Tôn Nữ Mộc Cẩn, thuộc dòng Tuy Lúy Vương.

2. Anh Nam học Tiểu học tại Trường École des Garcons thành phố Ðà Nẵng, từ năm 1933 đến năm 1939 ra Huế tiếp tục học Lycée Khải Ðịnh và ở nội trú. Anh đậu bằng Thành Chung năm 1943 và tiếp tục học lên đến Nhị Cấp. Ðến năm 1946, chiến tranh bùng nổ, cả gia đình chúng tôi phải tản cư, lúc bấy giờ anh đã 19 tuổi, định theo kháng chiến trong hàng ngũ Thanh Niên Tiền Phong nhưng Mẹ tôi giữ lại. Năm 1947, hồi cư, anh Nam tiếp tục học lớp Ðệ Nhị Toán nhưng sau đó theo học lớp Hành Chánh tại Huế. Năm 1951 anh giữ chức chủ sự Tài Chánh cho đến năm 1953 thì được gọi nhập ngũ Khóa III Thủ Ðức. Lúc đó tôi có giấy gọi vì đã đủ 18 tuổi được miễn vì còn vài tháng nữa tôi phải thi Tú Tài 2.

3. Tháng 9 năm 1953, tôi vào Sài Gòn theo học Faculté des Sciences (Université de Saigon) thì gặp anh Nam. Chủ nhật nào hai anh em chúng tôi cũng gặp nhau. Chiều Chủ Nhật, tôi đưa anh lên nhà thương Grall, ở đó có xe của quân trường chở về Thủ Ðức.

Tháng 10 năm 1953, anh ra trường tình nguyện vào binh chủng Nhảy Dù, đi học chuyên nghiệp rồi theo đơn vị ra Bắc luôn, tôi không hề hay biết gì cả (lúc này cha mẹ tôi mất rồi nên anh làm theo ý thích của mình). Mãi đến khi nhận được thư anh từ một KBC ngoài Bắc, tôi mới biết anh ở trong đơn vị Nhảy Dù đang hành quân ngoài đó. Tôi không có ý kiến gì vì biết tính anh tôi khi quyết định rồi thì không thay đổi được.

Tháng 8 năm 1954, sau hội nghị Genève, anh theo đơn vị vào Sài Gòn, tôi đến thăm thấy anh mang lon Trung Úy, tôi có hỏi anh năm nay 27 tuổi rồi, hòa bình rồi, có tính chuyện vợ con không. Anh cười và nói: "Mình nhảy dù, lấy ai thì người đó dễ trở thành quả phụ, tội lắm." Tôi biết anh không muốn lấy vợ. Về sau này, bà con, cô bác làm mai mối cho anh nhiều nơi xứng đáng, rồi anh cũng lờ đi.

Năm 1955, anh làm Ðại Ðội Trưởng thuộc TÐ7ND và hành quân đánh Bình Xuyên tại Sài Gòn. Sau đó anh được thăng Ðại Úy và Sư Ðoàn cử anh đi học kỹ thuật ở Pau (Pháp) khoảng 8 tháng. Lúc này anh có mua được một căn phố nhỏ, một phòng ngủ, một phòng khách ở Cư Xá Nhảy Dù trước Trường Ðua Phú Thọ. Anh vẫn ở căn nhà này, không sửa sang cho đến 30-4-1975. Thật ra thì ít khi về đây, phần lớn thời gian ở trong đơn vị, vả lại về nhà một mình cũng buồn lắm, có lẽ ở đơn vị vui hơn. Tháng 5 năm 1975, tôi có xuống thăm căn nhà này, nhưng thấy hai thằng quân quản đứng đó nên tôi bỏ đi luôn.

Năm 1956, anh Nam ở Pháp về làm Ðại Ðội Trưởng kỹ thuật Dù trong trại Hoàng Hoa Thám. Anh mang lon Ðại Úy từ 1955-1964. Qua đầu năm 1965 anh giữ chức Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ5ND, tôi mới thấy anh lên Thiếu Tá. Từ lúc nắm TÐ5ND, anh đi hành quân khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Năm 1966, khoảng tháng 3, TÐ5ND tham dự cuộc hành quân Liên Kết 66 tại Quảng Ngãi do Sư Ðoàn 22 BB tổ chức, anh có về thăm gia đình tôi. Anh rất thương các cháu con tôi và có thì giờ rảnh là về nhà tôi tắm rửa, ăn cơm và thăm các cháu. Thời gian này, tôi là Hiệu Trưởng Trường Trung Học Ðệ Nhất Cấp Trần Quốc Tuấn, Quảng Ngãi.

Ðây là lúc anh em chúng tôi gặp nhau nhiều nhất cả thời gian sau này. Thấy anh có vẻ buồn dù ta đang thắng, tôi hỏi anh, anh nói: "Chiến tranh đem lại chết chóc và đau thương, hàng trăm xác Việt Cộng 15, 16 tuổi phơi thây trên núi Tròn, bên đơn vị mình có mười mấy bạn phải hy sinh, tội quá. Vợ con họ ở nhà chắc đau khổ lắm. Kỳ này về phải lo cho gia đình tử sĩ." Lần đó, anh được ân thưởng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương.

Sau đó tháng 5 năm 1966, TÐ5ND đi Huế về vụ Phật Giáo, cũng là điều bất đắc dĩ.

Năm 1967, thăng cấp Trung Tá và được bổ nhiệm làm Lữ Ðoàn Trưởng LÐ3ND. Lữ Ðoàn được nổi danh với trận đánh đồi Ngok Van ở Kontum. Cuối năm 1967, anh được thăng cấp Ðại Tá với Ðệ Tam Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương.

Năm 1968, LÐ3ND về Sài Gòn tham gia trong trận Mậu Thân 1 và 2 ở ven đô Ðô Thành Sài Gòn Chợ Lớn.

Năm 1969, được cử giữ chức Tư Lệnh SÐ7BB kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Tiền Giang. Tháng 11 năm 1969, được vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức tại Mặt Trận. Ðến tháng 10 năm 1971 được thăng chức Chuẩn Tướng Thực Thụ.

Năm 1972, được thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức. Tháng 10 năm 1973, được thăng cấp Thiếu Tướng thực thụ.

Tháng 11 năm 1974, được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV Vùng IV Chiến Thuật cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Chiều ngày 1 tháng 5 năm 1975, Trung Úy Danh, Sĩ Quan Tùy Viên của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam lên Sài Gòn tin cho chị tôi là bà Diệu Khâm biết là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tuẫn tiết. Trung Úy Danh nói thêm Thiếu Tướng tự sát vào khoảng nửa đêm 30-4-75 rạng 1-5-75. Ông ngồi trên chiếc ghế bành, mặc quân phục đại lễ với đầy đủ huân chương. Ông dùng tay mặt cầm khẩu Colt 45 bắn vào màng tang bên phải, máu thấm đầy quân phục, đầu ngã sang bên trái. Trên bàn giấy, chiếc cặp của Thiếu Tướng có một số giấy tờ và khoảng 40.000 đồng tiền Việt Nam. Bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng và một số Chiến Hữu lo tẩm liệm và đưa ra an táng tại Nghĩa Trang Quân Ðội Cần Thơ ngày 1 tháng 5 năm 1975.

Sáng ngày 2 tháng 5 năm 1975, chị tôi là bà Diệu Khâm và cô con gái xuống Cần Thơ làm mộ bia Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam.

Tháng 3 năm 1994, người em dâu là bà Nguyễn Khoa Phước từ Sài Còn về Cần Thơ xin hốt cốt, lúc này tôi (Phước) đang ở tù tại trại Nam Hà - Ba Sao). Khi hài cốt được đưa lên, nhà tôi thấy còn nguyên bộ xương, đặc biệt hàm răng còn rất tốt chưa trám và hư hỏng cái nào, một thẻ bài quân nhân có tên Nguyễn Khoa Nam, một quyển kinh Phật đựng trong bao nylon và một khẩu Browning. Bộ xương đã được thiêu liền khi đó. Khi thiêu xong tro hài cốt được gia đình đựng trong bình xứ, đem về Sài Gòn ngay hôm đó.

Vài ngày sau lễ phục tang được tổ chức tại Chùa Già Lâm với sự tham dự đông đủ thân nhân và bà con nội ngoại. Hiện nay tro hài cốt của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được đặt thờ tại chùa Già Lâm, đường Lê Quang Ðịnh, quận Gò Vấp, Tỉnh Gia Ðịnh.

Nếu nói về con người của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là một chuyện rất khó vì anh em tôi tuổi cách xa nhau.

Trong gia đình, Tướng Nguyễn Khoa Nam là một người ít nói, thích sống riêng một mình, nhiều lúc có tâm sự gì cũng không nói với ai nên có vẻ khó hiểu.

Thời kỳ còn làm công chức cũng như khi nắm quyền chỉ huy trong quân đội, tôi thấy Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam sốt sắng với mọi người nhưng lạnh nhạt với bà con thân thuộc, nhiều bà con đã chê trách khi cần nhờ vả việc gì.

Tôi nghĩ Thiếu Tướng Nam có tình cảm, nhưng tình cảm san sẻ đồng đều cho mọi người nhất là những người nghèo khổ như gia đình binh sĩ. Bà con đến nhờ vả việc gì, ông không tiếp. Là một quân nhân thuần túy, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam không muốn chính trị, tôn giáo xen vào quân đội. Hồi còn làm Tư Lệnh SÐ7BB, có một lần một vị Thượng Tọa đến nhờ một việc mà Thiếu Tướng Nam không tiếp. Các Cha, các Thày cũng vậy thôi.

Thiếu Tướng Nam là một nghệ sĩ. Hồi nhỏ, lúc còn học ở bậc trung học, đã là một họa sĩ. Năm 1945, tranh vẽ đã được trưng bày ở triển lãm. Trong các năm tản cư 1946-1947, suốt ngày ông say mê bên khung vải, tranh vẽ đủ loại: sơn dầu, sơn bột, chì. Cũng là một người có khiếu về âm nhạc và có trình độ ký âm khá.
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam từ nhỏ luôn luôn thích sống cô đơn, thấm nhuần tư tưởng Khổng giáo và Phật giáo. Ông luôn luôn lẩm bẩm "Sắc Sắc, Không Không", làm việc có trách nhiệm và chịu khó học hỏi.

** Một vài Nhân Vật tiêu biểu qua những giai đoạn Lịch Sữ
Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.