Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
BHL  
#1 Posted : Wednesday, December 4, 2002 4:00:00 PM(UTC)
BHL

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 5,182

Đi tìm con cháu truyền nhân 849 năm trước: Nguyên tổ hai giòng họ Lý tại Đại-hàn
Tác giả : Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ


Ngày 17 tháng 9 năm 1957, Tổng-thống miền Nam là Ngô Đình Diệm công du Đại-hàn. (1). Năm sau, ngày 6 tháng 11 năm 1958, Tổng thống Đại-hàn dân quốc là Lý Thừa Vãn, viếng thăm Việt-Nam. Trong dịp này ơng đã tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt. Báo hồi ấy có tường thuật sơ sài. Còn chính quyền thì gần như không để ý đến chi tiết lịch sử này.

Ghi chú

(1) Trong chuyến đi này, Tổng-thống Ngô Đình Diệm cho một sĩ quan tháp tùng, mà người ưu ái vì lòng yêu nước, tin tưởng vì lòng trung thành là Dương Văn Minh. Nhưng cũng tương đương với ngày tháng này, sáu năm sau, Dương Văn Minh tuân lệnh Hoa-kỳ, giết chúa.

Bấy giờ, đệ nhất Cộng-hòa thành lập chưa quá hai năm, mới chỉ có viện Khảo-cổ, không có cơ quan nghiên cứu lịch sử. Cho nên không ai nghĩ đến việc sang Đại-hàn tìm hiểu xem họ Lý từ Việt Nam, đã di sang đây từ bao giờ? Ai là nguyên tổ của họ?

Thời gian này tôi mới 18 tuổi, vừa bước chân vào đại học. Nhưng nhờ thấm nhuần Nho-giáo, nên đã chững chạc lắm rồi. Tơi viết thư cho sứ quán Đại-hàn tại Việt-Nam để hỏi về chi tiết này. Dĩ nhiên tôi viết bằng chữ Nho. Hơn tháng sau tôi được thư trả lời của tộc Lý tại Nam-hàn. Trong thư, họ cho tơi biết rằng:

" Tổng-thống Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến-bình vương Lý Long Tường. Kiến Bình vương là con thứ 6 của vua Lý Anh Tông. Người cùng tông tộc sang Cao-ly vào đầu thế kỷ thứ 13 vì quốc nạn".

Ánh sáng đã mở ra trước mắt tôi. Nhưng tôi tra trong Đại-Việt sử ký tồn thư (ĐVSKTT), trong Việt-sử lược (VSL), trong Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục (KĐVSTGCM), không bộ nào nói đến Kiến Bình vương Lý Long Tường cả.

Tò mò chưa được thỏa mãn, nhưng tôi đành bỏ qua, vì bấy giờ tôi phải dồn hết tâm tư vào việc học.

Năm 1959, trong khi lục lọi tại thư viện Paris, vô tình tôi đọc được Tập-san sử địa của Nhật-bản, số 2 năm 1941, trong đó nói vắn tắt rằng:

"Năm Bính Tuất, 1226, bấy giờ là niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tôn nhà Trần. Biết mình là con thứ sáu vua Lý Anh-tông, lại đang giữ chức đơ đốc, tư lệnh hải quân, trước sau gì cũng bị Trần Thủ Độ hãm hại, nên ông đã đem tướng sĩ dưới quyền, tơng tộc, cùng hạm đội ra đi, sau đó trôi dạt vào Cao-ly".

Tôi tự hẹn, sau này có tiền sẽ sang Đại-hàn tìm hiểu chi tiết này.

Thế nhưng, sau khi ra trường, 1964, tuy đã có chỗ đứng vững chắc về phương diện tài chánh. Ngặt vì nghề sinh nhai lối dọc đường ngang, tôi vẫn không thực hiện được cái ước vọng sang Hàn quốc, tìm hiểu về nguồn gốc họ Lý tại đây.

Mãi tới năm 1980, tháng 8, tôi đi trong phái đoàn Pháp, sang dự đại hội y khoa tại Hàng-châu Trung-quốc. Ở đại hội, tôi được tiếp xúc với phái đồn Bắc-hàn. Phái đồn này có bác sĩ Lý Chiếu Minh ở Hùng-xuyên (Hunchon) và bác sĩ Lý Diệp Oanh ở Thuận-xuyên (Sunchon). Bấy giờ tôi đã 41 tuổi, còn Diệp Oanh mới 30 tuổi. Tuy là bác sĩ, thế nhưng cô tươi như hoa lan, phơi phới như hoa thủy tiên ban mai. Thấy mỗi bữa ăn cơ lẩm nhẩm đọc kinh mà không làm dấu thánh giá, tôi cho là cô đọc kinh Phật. Trêu cô tôi cũng đọc kinh Bát-nhã bằng tiếng Việt. Cô hỏi tôi:

_ Ủa! Anh đọc kinh cảm ơn Tổng-thống Valéry Giscard đấy à?

_ Không! Tơi đọc kinh Phật. Thế cô đọc kinh gì vậy?

_ Phật đâu có cho anh cơm ăn, áo mặc ?

_ Vậy cô đọc kinh gì ?

_ Tôi đọc kinh cảm ơn cha già Kim Nhật-Thành đã cho chúng tôi đươc tự do, có cơm ăn, áo mặc! (2)

Ghi chú
(2) Tại Bắc-Hàn, thịnh thời của Chủ-tịch Kim Nhật Thành, để tỏ lòng tôn kính lãnh tụ ; tồn quốc, khi ăn cơm, sáng dậy, tối đi ngủ đều đọc kinh tạ ơn Kim chủ tịch.

Nghe cơ nói, tôi hơi ngạc nhiên, nhưng tôi biết đó là niềm tin của cô, tôi không dám đùa, không thắc mắc. Song thấy cô xinh đẹp, tôi tỏ một cái gì cho có vẻ nịnh đầm, theo thói thông thường của y giới Pháp:

"Ở nước tơi, vào thế kỷ thứ 12, dưới triều vua Lý Anh-tông, tổ tiên tôi là Trần Thủ Huy được gả công chúa Đoan Nghi...". (3)

Ghi chú

(3) Theo gia phả của con cháu Chiêu-quốc vương Trần Ích Tắc tại Trường-sa Trung-quốc, thì một tướng triều Lý Anh-tông là Trần Thủ Huy được giả công chúa Lý Đoan Nghi, con vua Anh-ông. Thái-sư Trần Thủ Độ của triều Trần là con của Phò-mã Thủ-Huy và Cơng-chúa Đoan-Nghi.

Diệp Oanh cắt lời:

" Sang đầu thế kỷ thứ 13, cũng tổ tiên anh là Trần Liễu được gả công chúa Thuận Thiên, Trần Cảnh được vua Chiêu Hồng tuyển làm chồng. Rồi tổ tiên anh xua đuổi, nên tổ tiên tôi thành thuyền nhân, ngày nay Hàn quốc mới có họ Lý".

À! Vạn lý tha hương ngộ tri kỷ đây. Biết rất rõ Diệp Oanh là con cháu của Kiến Bình vương Lý Long Tường, tôi đùa thêm:

" Biết đâu cô không là công chúa Đoan Nghi, tơi không là Trần Thủ Huy tái đầu thai? Có lẽ chúng mình nên đi tiếp con đường tổ tiên mình đã đi".

Diệp Oanh vã tôi một cái vào má trái, tỏ cử chỉ thân thiện. Song chúng tôi bắt con tim ngừng phiêu lưu ở đây, vì bấy giờ bà vợ tôi còn sống, còn quá trẻ; vợ chồng lại rất tương đắc ngoài đời, nồng thắm trong phòng the.

Thế rồi chúng tôi nhận họ. Đặc biệt là trong lúc đối thoại, Chiếu Minh với Diệp Oanh cứ tự hào cái gốc Việt của mình. Suốt đại hội, tôi với Chiếu Minh, Diệp Oanh gần nhau như bóng với hình. Tôi kể cho hai người nghe về những trang sử rực hào quang dưới thời Lý, nhất là huyền sử về Linh Nhân hồng thái hậu (Ỷ Lan). Sau đại hội, Chiếu Minh, Diệp Oanh rủ tơi du lịch Bắc-Hàn. Bấy giờ là thịnh thời của chủ tịch Kim Nhật Thành, Bắc-Hàn khép kín cánh cửa với thế giới bên ngồi. Tuy nhiên nhờ mang thơng hành Pháp, nên tòa đại sứ Bắc-Hàn ở Bắc-kinh cho tôi cái chiếu khán được du lịch nghiên cứu về nhân sâm trong 8 ngày.

Tới Bắc-Hàn, ông đại sứ Pháp tưởng tơi đi nghiên cứu nhân sâm thực. Ông lệnh cho văn phòng tùy viên văn hóa giúp đỡ tôi. Tôi tự biết mình có địa vị, có danh dự, khơng muốn nói dối ông đại sứ. Tôi thú thật là đi tìm một số tài liệu lịch sử của tổ tiên tôi về thế kỷ thứ 12. Dù biết tôi mượn danh đi nghiên cứu y khoa, mà Ủy-ban y học Pháp-Hoa (Commité Médical Franco-Chinois viết tắt là CMFC) dư thừa tài chánh đài thọ tất cả phí tổn cho tôi. Thế nhưng sứ quán Pháp vẫn giúp đỡ tôi tận tình. Nào cung cấp xe, cung cấp tài xế, gửi thư giới thiệu.v.v. Kể ra làm công việc nghiên cứu của Pháp cũng sướng thực. Xin cảm ơn tinh thần yêu văn hóa của nước Pháp.

Tại Hùng-xuyên, cũng như Thuận-xuyên, các chi họ Lý tiếp đãn tôi rất niềm nở. Buồn là các cuộc đàm thoại bị giới hạn khá nhiều, tôi phải uốn cong lưỡi dùng tiếng Quan-thoại nói với Chiếu Minh và Diệp Oanh. Hai vị này dịch sang tiếng Đại-hàn. Các chi họ Lý xin phép chính quyền, rồi tổ chức những buổi hội, để nghe tôi nói chuyện về thời đại Tiêu-sơn tức thời Lý. Khi nghe kể đến đoạn công chúa Bảo Hòa tu tiên, cho đến tuổi 90 vẫn trẻ như hồi 17 tuổi, cử toạ suýt xoa sung sướng. Lại khi nghe tôi thuật giai thoại vua Lý Thánh-tông, đang đêm trốn khỏi hồng cung, gặp cô thơn nữ Yến Loan, rồi sau đưa về cung phong làm Ỷ Lan phu nhân; cử tọa vỗ tay hết tràng này đến tràng khác. Khi nghe tôi kể đến các công chúa Bình Dương, Kim Thành, Trường Ninh trấn ngự biên cương khiến các quan Tống ở Nam-biên nghe đến tên đều kinh hồn vỡ mật. Các cô ngửa mặt lên nhìn trần nhà cười đầy vẻ hãnh diện. Lúc mà tôi thuật đến đoạn Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại quân phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt (1076), tiến đến rừng tre, cách Thăng-long có 25 cây số... Trong phòng có đến hơn 700 người, mà không một tiếng động. Rồi tôi kể tiếp: Công chúa Thiên Ninh đánh bật quân Tống trở về Như-nguyệt, thì phòng hội hoan hô đến muốn rung động thành phố. Tôi thuật tiếp đến đoạn công chúa tuẫn quốc, thì cả phòng hội đều khóc nức nở. Những người khóc nhiều nhất lại là những thiếu niên.

Đền thờ Linh-Nhân hồng thái hậu (Ỷ-Lan) ở xã Dương-xá, huyện Gia-lâm, Hà-nội. Đây là 1 trong 9 đền thờ ngài, vẫn còn tồn tại.

Hầu hết những chi họ Lý đều đem gia phả ra hỏi tôi những chi tiết mà họ không hiểu. Tất cả gia phả đều viết bằng chữ Nho. Như gia phả của chi Thuận-xuyên, có đôi câu đối:

Thập-bát anh hùng giai Phù-đổng,
Tam thiên nữ kiệt tỷ Mê-linh.

(Mười tám anh hùng đều như Phù-đổng thiên vương. Ba nghìn nữ kiệt đều cĩ thể sánh với Trưng-vương).

Tơi phải moi trí nhớ, để đọc cho họ chép lại tiểu sử 18 danh tướng vào thời vua Lý Nhân-tông, kháng Tống tuẫn quốc. Tôi lại phải thuật cho họ nghe về công chúa Thiên Ninh (Bà chúa kho) có 3 nghìn nữ binh. Khi Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang Đại-Việt, phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt tiến về Thăng-long. Quân Tống nhập vào phòng đai phòng thủ chỉ cách Thăng-long có 25 cây số, bị công chúa đánh bật trở về Bắc sông Như-nguyệt. Sau đó công chúa cùng 3 nghìn nữ kiệt đều tuẫn quốc. (4)

Ghi chú

(4) 18 anh hùng đánh Tống, kháng Tống thời Lý, trong sử không ghi, nhưng tôi đã tìm ra tên, và đền thờ, nhờ tài liệu rải rác trong các thư tịch Trung-quốc, đó là

1. Lý Hoằng Chân,

2. Lý Chiêu Văn,

3. Bùi Hồng Quan,

4. Dư Phi,

5. Nguyễn Căn,

6. Hồng Kiện,

7. Phạm Dật,

8. Vũ Quang,

9. Đinh Hồng Nghi,

10. Lý Đoan,

11. Trần Ninh,

12. Trần Di,

13. Dương Minh,

14. Triệu Thu,

15. Mai Cầm,

16. Quách Y,

17. Ngơ Uùc,

18.Tạ Duy.

(Xin đọc hành trạng của các ngài trong bộ Nam-quốc sơn hà của Trần Đại Sỹ, do Đại-Nam Hoa Kỳ ấn hành).

Hầu hết các chi, khi nghe tôi nói rằng: Triều Trần kế tục triều Lý. Nhưng các vua triều Trần đều dành ra một số ruộng đất lớn, cho tá điền cầy cấy, thu tô để làm phương tiện hương khói, thờ cúng, tu bổ lăng tẩm 9 đời vua triều Lý... đều hài lòng. Các triều đại kế tiếp như Lê, Nguyễn vẫn giữ nguyên truyền thống này. Mãi đến năm 1956, trong cuộc cải cách ruộng đất, những ruộng đất này mới bị lấy lại lập hợp tác xã. Tuy nhiên đây là những di tích lịch sử, nên kể từ năm 1962, bộ Văn-hóa của nước Việt-Nam dân chủ cộng hòa (Bắc Việt-Nam) đã ban nghị định công nhận là di tích văn hóa, lịch sử, và cử cán bộ bảo quản rất kỹ.

Cổng trong đền thờ Bà chúa kho (Công chúa Thiên-Ninh) tại Thị-cầu Bắc-ninh.

Sau cổng trong tới tiền đình đền thờ Bà chúa kho

Ghi chú,

Triều Lý có 8 vị vua, nhưng tôi vẫn coi Lý Chiêu-Hồng là vị vua thứ 9, chứ khơng dám coi thường Ngài.

Bác-sĩ Diệp Oanh dẫn tôi thăm những vùng đất linh của giòng họ Lý. Thực là kỳ điệu, dưới chế độ Bắc-Hàn chủ trương hủy diệt tất cả những gì là văn minh của tổ tiên, để chỉ còn biết đến cha già dân tộc Kim Nhật Thành. Thế nhưng giòng họ Lý vẫn giữ gìn được những di tích của tổ tiên. Nào cửa biển Phú-lương giang nơi hạm đội của Kiến-bình vương cập bến Cao-ly, nào Ung-tân, nơi đầu tiên họ Lý làm nhà ở, nào ngọn đồi Julhang thuộc xã Đỗ-mơn (Tơ-mơ-ki) nơi có lăng của Kiến Bình vương Lý Long Tường. Tôi cũng được lên Quảng-đại sơn thăm Vọng-quốc đài, là nơi vương lên nhìn về quê hương.

Sau đó, với quyết tâm tìm lại dấu vết người xưa, năm 1983, tôi lên đường đi Nam-hàn để tìm hiểu thêm về giòng họ Lý. Tiếc rằng hạm đội của Lý Long Tường tới Hàn-quốc táp vào miền Bắc, vì vậy dường như tại Nam-hàn khơng có một chút di tích nào của ông. Giòng họ Lý sống tại Nam-hàn rất ít, tổng số chưa quá nghìn hộ, nhưng họ đều là những người kiệt hiệt trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, thương mại, kỹ nghệ. Về tình cảm, họ cũng giống như người Bắc hồi 1954 di cư vào Nam, mang theo rất ít di vật, gia phả về tổ tiên mình. Không nhà nào mang được gia phả cổ. Gia phả mà họ cho tôi xem, hầu hết là mới chép gần đây. Nội dung lại quá nhiều sai lạc. Như chép về việc ra đi của Kiến Bình vương, gia phả nói rằng họ Lý bị Trần Thủ Độ cướp ngơi, Lý Long Tường cầm quân chống lại, bị thua. Về Lý Chiêu Hồng, họ chép là hồng hậu của vua Lý Huệ-tông! (5)

Ghi chú

(5) Sau đó tôi đã giúp họ hiệu đính lại những chỗ sai lầm trong gia phả của họ.

Dòng thứ nhất:

Hậu duệ Kiến Hải vương, hay họ Lý Tinh-thiện

Thế nhưng, tại Nam-hàn tôi gặp ông Lý Gia Trung. Ông cho biết, tổ tiên ông là người Việt, nhưng không thuộc giòng dõi Kiến Bình vương. Tổ tiên ông là Kiến Hải vương Lý Dương Côn, đã đến Cao-ly hồi đầu thế kỷ thứ mười một.

Quý độc giả có biết tâm trạng tôi bấy giờ ra sao không ? Kinh ngạc, bàng hồng, đờ đẫn cả người ra, trong khi chân tay run run. Vì trong khi nghiên cứu về triều Lý, tôi biết một huyền sử vắn tắt như sau :

« Vua Lý Nhân-tơng không có hồng nam, người nhận con của các thân vương trong hồng tộc làm con nuôi. Năm Đinh Dậu (1117) nhận con của hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng làm con nuôi. Sau truyền ngôi cho con của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hốn, tức vua Lý Thần-tơng. Khi Lý Thần-tơng băng, Thái-tử Thiên-tộ còn bế ngửa, triều thần muốn tôn con của Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn lên nối ngôi. Cuộc tranh quyền trong giòng họ Lý diễn ra, sau vợ của vua Lý Thần-tông nhờ có tình nhân là Đỗ Anh Vũ giúp đỡ, mà loại hết các địch thủ. Năm Canh Ngọ (1150) nhân vụ chính biến, Cảm Thánh thái hậu mưu với tình nhân Đỗ Anh Vũ giết hết tông tộc của các hầu Thành Khánh, Thành Chiêu, Thành Hưng. Bấy giờ con Thành Quảng hầu là Kiến Hải vương Lý Dương Côn đang là đô đốc Thủy-quân, bèn đem gia thuộc xuống chiến thuyền lưu vong. Song không biết đi đâu (1150) ».

Bây giờ, sau 831 năm, tôi gặp lại hậu duệ của Kiến Hải vương. Tâm tư rúng động ! Hỡi ơi ! Tại Hàn-quốc có tới hai giòng họ Lý, gốc là thuyền nhân Đại-Việt.
Tôi ghi chú tất cả những gì mà giòng họ Lý của Kiến Hải vương cung cấp để khi viết về thời đại Tiêu-sơn còn có thêm tài liệu.

Cuối năm 1996, một nhà nghiên cứu tộc phả nổi tiếng của Nam-hàn là giáo sư Phiến Hoằng Cơ (Pyon Hong Ke) công bố kết quả cuộc nghiên cứu của ông rằng ông đã phát hiện một giòng họ Lý thứ nhì, tại Đại-hàn, được gọi là Lý Tinh-thiện. Giòng họ này, chính là giòng họ Lý, con cháu Kiến Hải vương mà tôi đã có cơ duyên gặp hậu duệ là ông Lý Gia Trung.

Giáo sư Phiến Hoằng Cơ cho biết, căn cứ vào gia phả của giòng họ này mang tên Tinh-thiện Lý thị tộc phả, được lưu trữ tại thư viện Quốc-gia Hán-thành, thì ông tổ của giòng họ Lý Tinh-thiện là Lý Dương Cơn (Lee Yang Kon) tới Đại-hàn vào đầu thế kỷ thứ 12:

"Lý Dương Côn hiệu là Nguyên Minh, hồng tử thứ ba con vua Càn Đức, được Tống triều phong tước Nam-bình vương".

Tra trong sử Việt, thì vua Càn Đức chính là tên của vua Lý Nhân-tông. Vua Lý Nhân-tông là con của vua Lý Thánh-tông với Ỷ-Lan phu nhân, sau được tôn là Linh-Nhân hồng thái hậu. Người chỉ đạo cuộc đánh Tống, kháng Tống lừng danh lịch sự Việt-Nam. Theo ĐVSKTT, Lý kỷ, Nhân-tơng kỷ thì:

"Niên hiệu Hội-tường Đại-khánh thứ 8 (DL.1117, Đinh Dậu)...

...Tìm con trai trong tôn thất để nuôi trong cung. Xuống chiếu rằng: Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có hồng nam, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Nên trẫm nuôi con của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng, chọn người giỏi lập làm thái tử. Bấy giờ con Sùng Hiền hầu là Dương Hốn, lanh lợi, vua rất yêu, bèn lập làm Thái-tử".

Vậy thì Lý Dương Côn là con nuôi của vua Lý Nhân-tông, chứ không phải con đẻ. Con nuôi thứ ba, thì là con của Thành Quảng hầu. Lý Dương Côn, được phong tước Kiến Hải vương.

Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ dựa theo Tinh-thiện Lý thị tộc phả và bộ Cao-ly sử, ông công bố:

« Hậu đuệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn là Lý Nghĩa Mẫn (Lee Unimin) trở thành nhân vật kiệt hiệt trong lịch sử. Bấy giờ Cao-ly đang ở dưới triều đại vua Nghị-tông (Ui-jiong 1146-1170). Nhà vua rất sủng ái Lý Nghĩa Mẫn, phong cho chức Biệt-trưởng. Nước Cao-ly trong thời gian này, phải chống trả với cuộc xâm lăng của Khiết-đan tức Đại-liêu, nên các võ tướng nắm hầu hết quyền hành. Năm 1170 tướng Trịnh Trọng Phu (Jeong Jung-bu) chưởng môn một võ phái, đảo chính vua Nghị-tông lập vua Minh-tông (Mycong 1170-1179). Trọng Phu bị các võ phái, võ tướng nổi lên chống đối. Lý Nghĩa Mẫn là người phụ tá đắc lực cho Trịnh Trọng Phu, đem quân dẹp các cuộc nổi dậy. Ông được thăng chức Trung-lang tướng, rồi dần dần thăng Tướng-quân, Đại-tướng quân (1173), Thượng-tướng quân (1174), cuối cùng là Tây Bắc bộ binh mã sứ (1178) (Tức Tư-lệnh quân lực miền Bắc Cao-ly). Năm 1179, một võ quan khác là Khánh Đại Thăng (Kyung Dae-Seung) làm cuộc chính biến, giết chết Trịnh Trọng Phu, lên nắm quyền. Bấy giờ Lý Nghĩa Mẫn giữ chức Hình-bộ thượng thư (1181) (Bộ trưởng Tư-pháp). Vì ông thuộc phe Trịnh Trọng Phu, nên bị nghi ngờ, chèn ép. Ông cáo quan về hưu.

Sau khi Khánh Đại Thăng chết, vua Minh-tông mời Lý Nghĩa Mẫn vào bệ kiến, được trao chức Tư-không, Tả-bộc xạ, Đồng-trung thư môn hạ bình chương sự tức Tể-tướng trong 14 năm (1183-1196).

Năm 1196, một phe võ tướng do Thôi Chung Hiếu (Cho Chung Heon) cầm đầu làm cuộc đảo chính, giết Lý Nghĩa Mẫn. Ba con ông là Lý Chính Thuần, Lý Chí Vinh, Lý Chí Quang đều là tướng cầm quân, cũng bị giết chết. Quân phiến loạn chỉ tha cho người con gái ông là Lý Hiền Bật. Giòng họ Lý Tinh-thiện tưởng đâu tuyệt tự. Nhưng may mắn thay, giòng họ này còn kế tục là nhờ người anh Lý Nghĩa Mẫn và các con không bị hại.

Phối hợp chính sử với gia phả, giáo sư Phiến Hoằng Cơ kết luận rằng: Giòng họ Lý tại Tinh-thiện thuộc đạo Giang-nguyên, phía Đông Nam Đại-hàn ngày nay là con của hồng tử Lý Dương Côn thuộc triều Lý, Việt-Nam (1010-1225). Lý Dương Côn bỏ quê hương ra đi vì sự đe dọa của nước Kim đối với Tống, năm 1115. Tới năm 1127 thì Bắc Tống bị diệt ».

Qua cuộc nghiên cứu của Phiến Hoằng Cơ, tôi thấy có đôi chút nghi vấn:

Một là, vua Lý Nhân-tông nhận con nuôi năm 1117. Vua Thần-tông sinh năm 1116, vậy thì Lý Dương Côn chỉ có thể sinh năm 1116 hay 1117 mà thôi. Năm Lý Dương Côn rời Đại-Việt ra đi là năm 1150. Bấy giờ ông mới 32-33 tuổi. Thế nhưng gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng năm 1170 Lý Nghĩa Mẫn, hậu duệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn, được vua Nghị-tông phong cho chức Biệt-trưởng. Đây là điều vô lý. Bởi năm đĩ chính Lý Dương Côn có còn tại thế thì ông mới có 54 tuổi, làm sao ông đã có cháu 6 đời? Tôi thì tôi cho rằng Lý Nghĩa Mẫn là con Lý Dương Côn. Còn hậu duệ đời thứ sáu là kể từ vua Lý Thái-tổ:

1. Lý Thái-tổ.
2. Lý Thái-tông.
3. Lý Thánh-tông.
4. Lý Nhân-tông.
5. Kiến Hải vương Lý Dương Côn.
6. Lý Nghĩa Mẫn.

Hai là, trong gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng, Lý Dương Côn rời quê hương ra đi vì quốc nạn. Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ cho rằng vì sự đe dọa của Kim. Có lẽ khi giải đốn việc ra đi của Lý Dương Côn, ông đã bị ảnh hưởng bởi sử Cao-ly. Vì hồi ấy, nước Kim đang từ một bộ lạc Nữ-chân, nổi lên diệt nước Liêu, rồi đem quân đánh Tống. Sau đó, họ bắt vua Tống mang về Bắc. Nhưng con cháu nhà Tống lại tái lập triều Nam-Tống. Khoảng cách Kim với Đại-Việt còn một nước Tống quá rộng, quá xa. Dù Kim hùng mạnh cũng không ảnh hưởng gì tới Đại-Việt khiến Lý Dương Côn phải bỏ nước trốn đi. Nhất là giai đoạn 1161 đến 1174, bấy giờ binh lực Đại-Việt đang mạnh, muốn hướng lên Bắc tái chiếm lại Quảng Đông, Quảng Tây! (xin đọc Anh-hùng Đông-A dựng cờ Bình-Mông của Trần Đại Sỹ, hồi 4 và hồi 16-17-18).

Lần lại trang sử Đại-Việt thời đó: Vua Thần-tông được vua Nhân-tông đem vào cung nuôi cùng 4 người anh em họ. Nhưng ngài được lập làm Thái-tử, rồi lên ngôi vua. Theo Hội-điển sự lệ triều Lý thì những chức như:

Thái-úy, tương đương với ngày nay là Tổng Tư-lệnh quân đội.

Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, tương đương với ngày nay là Tư-lệnh lục quân.

Đại Đơ-đốc Thủy quân, tương đương với ngày nay là Tư-lệnh thủy quân.

Các chức này luôn trao cho các hồng đệ. Vì vậy trong 5 con nuôi của vua Lý Nhân-tông, thì Thái-tử Dương Hốn đươc truyền ngôi, còn 4 con nuôi khác, là con của các hầu Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng ắt được phong vào các chức trên. Con của Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn được phong tước Kiến Hải vương, lãnh chức Đại Đô-đốc Thủy-quân. Khi vua Thần-tông băng (1138), Thái-tử Thiên-tộ mới có 2 tuổi, triều thần muốn tôn hồng đệ Lý Dương Côn lên ngôi vua, vì ông là người thông minh, tài trí, đang là Đại Đơ-đốc, ở tuổi 22. Nhưng rồi mẹ của Thái-tử Thiên-tộ là Cảm Thánh hồng hậu đã dùng vàng bạc đút lót cho các quan, bà lại được tình nhân Đỗ Anh Vũ là em của Chiêu Hiếu thái hậu, (mẹ vua Thần-tông) hết sức ủng hộ. Thiên-tộ lên ngôi vua, sau là vua Anh-tông.

Dĩ nhiên vua Anh-tông lên ngơi, khi còn bế ngửa, thì mẹ là Cảm Thánh thái hậu thính chính, nói khác đi là làm vua. Bà phải diệt hết những mầm mống có thể nguy hiểm cho con bà. Bà cùng Đỗ Anh Vũ vu cáo, giết hết các em nuôi của vua Thần-tông là con của các hầu em vua Nhân-tông. Tồn gia các hầu, từ thê thiếp, con, cháu, thân binh, nô bộc đều bị giết sạch. Riêng Lý Dương Côn đóng quân ở Đồn-sơn, được mật báo. Ông đem hết gia thuộc, xuống chiến thuyền, bỏ quê hương ra đi, rồi táp vào Cao-ly.

Tôi kết luận :

Dù Lý Nghĩa Mẫn là cháu 6 đời của Kiến Hải vương Lý Dương Côn hay là cháu 6 đời vua Lý Thái-tổ, thì ta vẫn kết luận rằng : Năm 1150, Kiến Hải vương Lý Dương Côn, lĩnh chức Đại Đô-đốc đã cùng tông tộc dùng thuyền tỵ nạn tại Cao-ly. Đời sau có nhân vật kiệt hiệt là Lý Nghĩa Mẫn, đóng một vai trị trọng yếu trong lịch sử Cao-ly. Giòng họ Lý này, nay vẫn còn truyền tử lưu tôn tại Đại-hàn.

Giòng thứ nhì,
Hậu duệ của Kiến-bình vương Lý Long Tường, còn gọi là Lý Hoa-sơn.

Giòng họ Lý thứ nhì tới Đại-hàn sau giòng họ Lý Tinh-thiện 76 năm, là hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường, con thứ 7 của vua Lý Anh-tơng. Mà tôi đã trình bầy ở trên.

Theo Trần-tộc vạn thế ngọc phả, của chi bốn, thuộc giòng dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích Tắc, để tại nhà từ ở thị xã Lãnh-thủy, huyện Chiêu-dương, tỉnh Hồ Nam, Trung-quốc ; phần chép về Ninh-tổ hồng đế Trần Lý. Có đoạn nói về các con vua Lý Anh-tông, nguyên văn như sau :

Vua có bẩy hồng tử.
Hồng trưởng tử Long Xưởng do Chiêu Linh hồng hậu sinh vào niên hiệu Đại Định thứ 12 (DL.1151, Tân-Mùi). Được phong tước Hiển Trung vương, lập làm Thái-tử. Niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên nhiên (DL.1174, Giáp-Ngọ) bị giáng xuống làm con út, tước Bảo Quốc vương. Niên hiệu Trinh Phù thứ sáu (DL.1181, Tân-Sửu) làm phản, bị hạ ngục, rồi bị Đỗ An Di giết cả nhà, thọ 31 tuổi.

Hồng-tử thứ nhì Long Minh do Thần-phi Bùi Chiêu Dương sinh vào niên hiệu Đại Định thứ 11 (DL. 1152, Nhâm-Thân). Tước phong Kiểm-hiệu Thái-sư, Thượng-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, lĩnh Đại đô-đốc, Kiến Ninh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (DL.1175.). Thọ 24 tuổi.

Hồng-tử thứ ba Long Đức, cũng do Bùi Thần-phi sinh niên hiệu Đại Định thứ 12 (DL.1153, Quý-Dậu) ra. Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-bảo, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả bộc xạ, Phụ-quốc thượng tướng quân, Long-thành tiết độ sứ, Kiến An vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175), thọ 23 tuổi.

Hồng-tử thứ tư Long Hịa do Quý-phi Hồng Ngân Hoa sinh niên hiệu Đại Định thứ 11 (DL.1152, Nhâm-Thân). Chức tước phong như sau : Đặc tiến Thiếu-sư, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả thừa, Trấn Nam tiết độ sứ, Thượng-thư lệnh, Tả kim ngô thượng tướng, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Kiến Tĩnh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175) thọ 24 tuổi.

Hồng-tử thứ năm Long Ích, do Đức-phi Đỗ Kim Hằng sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 5 (DL.1167, Đinh-Hợi). Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-phĩ, trấn Nam tiết độ sứ, Thượng-thư tả thừa, Kiến Khang vương. Hoăng niên hiệu Kiến-gia thứ 2 (DL.1212 Nhâm-Thân), thọ 46 tuổi.

Hồng-tử thứ sáu Long Trát, do Thục-phi Đỗ Thụy Châu sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 11 (DL.1172, Nhâm-Thìn), tháng 5, ngày 25, niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên được lập làm Thái-tử. Năm thứ nhì được truyền ngôi tức vua Lý Cao-tông. Băng niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ 6 (DL.1210, Canh-Ngọ), ngày 28 tháng 10, thọ 38 tuổi.

Hồng-tử thứ bảy Long Tường do Hiền-phi Lê Mỹ Nga, sinh vào niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 12 (DL.1174, Giáp-Ngọ). Đức Thái-tơng nhà ta (tức Trần Cảnh) phong chức tước phong như sau : Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc, tước Kiến Bình vương. Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời đức Thái-tông nhà ta (tức Trần Cảnh), tháng tám, ngày rằm, vương cùng gia thuộc hơn 6 ngàn người bôn xuất.

So sánh giữa Tộc phả Hoa-sơn và Trần tộc vạn thế ngọc phả, có một chi tiết khác nhau. Tộc phả Kiến Bình thì chép Kiến Bình vương là con thứ sáu vua Anh-tông. Trong khi Trần tộc vạn thế ngọc phả lại chép vương là con thứ bẩy. Vì sao ? Phả Trần tộc chép theo huyết tộc, ai sinh trước là anh, ai sinh sau là em. Vì vậy Kiến Bình vương là con thứ 7. Phả Kiến Bình thì chép thứ tự theo chỉ dụ của vua Lý Anh tông, Long Xưởng bị giáng xuống làm con út, thì Long Tường trở thành con thứ sáu.

Hồi đó Lý Long Tường dẫn tông tộc rời Đại-Việt ra đi. Trần triều không biết đi đâu. Nay chúng ta mới được biết vương với hạm đội bị bão phải ẩn ở một đảo lớn (Đài-loan ?) Nghỉ ít lâu, hạm đội của vương lại tiếp tục lên đường rồi dạt vào Cao-ly. Duy một người con của vương tên Lý Long Hiền cùng gia thuộc hơn hai trăm người ở lại đảo. Vương là khai tổ của giòng họ Lý tại Đại-hàn, thế tử Long Hiền là khai tổ của giòng họ Lý tại Đài-loan hiện nay ? Sự kiện này tôi sẽ đi Đài-loan tìm hiểu sau.

Tôi đã bỏ công sang Bắc cũng như Nam-hàn, tìm các chi, hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường, khảo gia phả của họ. Phần chi tiết tuy có sự khác biệt, nhưng đại lược vẫn giống nhau. Tổng-thống Lý Thừa Vãn của Đại-hàn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến Bình vương Long Tường. Còn tổng thống Lý Đăng Huy của Đài-loan có phải là hậu duệ của thế tử Lý Long Hiền hay không, thì tơi không dám quyết, bởi Lý là giòng họ chiếm đa số ở Trung-quốc. Trong một bài khác, tôi sẽ trình bầy về Thủ-tướng Lý Quang Diệu của Singapore là Việt kiều, khai tổ một chi họ Lý đời thứ nhất hay Lý khác ? ( Thưa quý độc giả, chỉ cần thử nghiệm di truyền ADN là ra ngay).

Cả ba bộ sử ĐVSKTT, VSL, KĐVSTGCM cùng chép rất mơ hồ về việc vua Anh-tông phế Long Xưởng lập Long Trát. Nhà vua có tới bẩy hồng tử. Nếu sự thực Long Xưởng phạm tội, phế xuống, sao không lập các con đã trưởng thành, tài trí xuất chúng, đang cầm đại quyền như Kiến Ninh, Kiến An, Kiến Tĩnh vương? Hoặc cùng quá, thì lập Kiến Khang vương Long Ích, năm ấy đã chín tuổi ? Mà phải lập Long Trát mới có 26 tháng làm Thái-tử, rồi phải cử Tô Hiến Thành làm phụ chính ? Cái khúc mắc này tôi đã giải thích rất chi tiết, rất rõ ở hồi 21-23 bộ Anh-hùng Đông-a dựng cờ bình Mông. Trong bài ngắn này không thể giải thích hết.

Dưới đây là phần tôi thuật theo Tộc-phả Lý Hoa-sơn:
Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tông nhà Trần (DL.1226, Bính Tuất), lo sợ bị Thái-sư Trần Thủ Độ hãm hại, vì vị thế trọng yếu của mình:
_ Là con vua Anh-tông, em vua Cao-tông, chú vua Huệ-tông.
_ Thân vương duy nhất nắm quyền hành.
_ Chức tước cực phẩm Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đơ đốc.
Vương âm thầm cùng Bình Hải công Lý Quang Bật từ căn cứ Đồn-sơn về Kinh Bắc, lạy ở lăng miếu Đình-bảng. Lại đến Thái-miếu mang bài vị, các tế khí ra trấn Đồn-sơn, rồi đem hết tơng tộc hơn 6 nghìn người, xuống hạm đội ra đi.
Việc Kiến Bình vương ra đi, có lẽ bắt nguồn từ việc ra đi của Kiến Hải vương trước kia chăng?
Sau hơn tháng lênh đênh trên biển, thì gặp bão. Hạm đội phải ngừng lại một đảo (Đài-loan?) rồi tiếp tục lên đường. Một trong các con của vương là Thế-tử Lý Đăng Hiền cùng vợ con ở lại đảo. Hạm đội lênh đênh trên biển một thời gian, thì táp vào cửa Phú-lương giang, quận Khang-linh (Ong Jin-Gun) tỉnh Hồng-hải (Hwang-hac) thuộc Bắc Cao-ly. Nơi hạm đội táp vào, dân chúng gọi là Nak-nac-wac cĩ nghĩa là Bến của khách phương xa cĩ đồ thờ cúng.
Theo gia phả của con cháu vương thì : Đêm hôm trước, vua Cao-tông (Kojong) của Cao-ly mơ thấy một con chim cực lớn bay từ phương Nam lại đậu ở bờ Tây-hải. Tỉnh lại, vua sai người tới đi tìm kiếm, thì gặp hạm đội của Kiến-bình vương. Kiến-bình vương được bệ kiến. Vương dùng bút đàm với vua Cao-tơng và các đại thần Cao-ly. Triều đình Cao-tông đối xử với vương rất tốt, chu cấp lương thực. Cho làm nhà ở Ung-tân phủ Nam-trấn sơn (Chin-sang). Thế là mấy nghìn người Việt trở thành thuyền nhân kiều ngụ tại Cao-ly.

Lý Long Tường cùng tướng sĩ, gia thuộc bắt đầu cuộc sống mới. Họ trồng trọt, đánh cá, chăn nuơi làm kế sinh nhai. Vương mở trường dạy học: Thi phú, lễ nhạc, tế tự, binh pháp, võ thuật. Vương soạn sách Học vấn giảng hậu. Vì học trị đơng, Vương cho xây Độc-thư đường, Giảng võ đường. Đệ tử của Vương lúc nào cũng trên nghìn người.
Tháng 7 năm Quý-sửu (1253) đời vua Cao-tơng năm thứ 40, quân Mông-cổ xâm lăng Cao-ly, vượt Hỗn-đồng giang, chiếm Tây-hải, phá An-giang Tây-thành. Về mặt thủy, Mơng-cổ chiếm các đảo Đại-thanh, Tiểu-thanh, Sáng-lân, rồi tiến chiếm Tây-đơ (Giang-hoa). Thủ-đơ Cao-ly bị đe dọa. Các tướng sĩ hầu hết bị tử trận.
Thấy tình hình Cao-ly nguy ngập, Kiến Bình vương đến gặp Thái-úy (tướng tổng chỉ huy quân đội) là Vi Hiển Khoan, cố vấn cho ơng về binh pháp Đại-Việt. Đích thân vương cỡi bạch mã chỉ huy cuộc giữ thành: Đắp thành cao lên, đào hào đặt chơng quanh thành. Trong thành đào giếng để cĩ nước uống, tích trữ lương thảo. Vương đem tất cả binh pháp Đại-Việt trong những lần đánh Tống, bình Chiêm ra giúp Cao-ly.
Đánh nhau suốt 5 tháng, quân Nguyên bị tuyệt lương thảo, bị chặn đường rút lui, xin hàng (6). Tết năm ấy, tồn Cao-ly mừng chiến thắng. Triều đình khen ngợi Lý Long Tường, lấy tên ngọn núi ở quê hương vương là Hoa-sơn; phong cho vương làm Hoa-sơn tướng quân. Lại cho đổi tên ngọn núi nơi vương cư ngụ là Hoa-sơn. (7). Nhà vua sai dựng bia ghi công vương trên núi Hoa-sơn, đích thân vua viết ba chữ Thụ hàng mơn (Cửa tiếp thụ giặc đầu hàng). Cho đến nay, sau 746 năm, trải biết bao nhiêu mưa nắng, thăng trầm; tấm bia ấy vẫn trơ gan cùng cùng tuế nguyệt, nhắc nhở du khách nhớ huân công của một Việt-kiều trên Hàn-quốc.

Ghi chú
(6) Có một sự trùng hợp. Năm năm sau, tháng 1-1258, Thái-sư Mông-cổ là Ngột-lương Hợp-thai (Uriyangqadai) đem quân đánh Đại Việt, cũng bị tuyệt đường lương, rồi bỏ chạy. Xin đọc Anh-hùng Đông-a dựng cờ bình Mông hồi 50).

(7) Tôi tra trong địa lý thời Lý, trên lãnh thổ Đại Việt khơng cĩ ngọn núi nào tên Hoa-sơn cả. Cĩ lẽ là núi Tiêu-sơn, nơi phát tích ra triều Lý chăng ?

Trong dịp thăm Hoa-sơn năm 1981, tôi xin người đại diện tộc Lý cho phép được mượn thợ khắc vào một phiến đá bài thơ cổ phong bằng chữ Trung-quốc (Hán, Nho), đặt cạnh tấm bia trên, gọi là chút lòng của người sau, tế người trước. Xin phiên âm như sau:

Điếu Kiến Bình vương
Phúc tại Tiêu-sơn lĩnh,
Thất đại bơn Bắc Cao,
Bình Mông danh vạn đại,
Tử tôn giai phong hầu.
Học phong nhân bất cập.
Vọng quốc hồn phiêu phiêu,
Kim tải quá bát bách,
Hà thời quy cố hương?

(Ngài là người họ Lý, được hưởng phúc tại ngọn núi Tiêu-sơn. Kể từ vua Lý Thái-tổ tới ngài là đời thứ bẩy, phải bôn tẩu đến xứ Bắc Cao-ly. Nhờ chiến công đánh Mông-cổ, mà con cháu ngài đều được phong hầu. Ngoài ra, ngài là người đem học phong tới Cao-ly, công đức ấy không ai sánh kịp. Thế nhưng trải trên tám trăm năm, hồn ngài lúc nào cũng phiêu phưởng, không biết bao giờ được về cố hương ?).

Ngày nay trên ngọn đồi Julbang thuộc xã Đỗ-mơn (Tơ-mơ-ki) cách núi Hoa-sơn 10 cây số về phía Tây cịn lăng mộ ngài và con, cháu cho đến ba đời. Trên Quảng-đại sơn còn Vọng-quốc đàn, nơi cuối đời ngài thường lên đó, ngày ngày nhìn về phương Nam, ơm mặt khác, tưởng nhớ cố quốc. Mỏm đá mà ngài đặt chân đầu tiên lên bờ biển Cao-ly, được gọi là Việt-thanh nham, tức đá xanh in vết tên Việt.
Trên Hoa-sơn còn rất nhiều di tích kỷ niệm huân nghiệp của vương. Khi đến Hoa-sơn hành hương, thay vì chào nhau, du khách được hướng dẫn viên du lịch dạy cho nói câu: Hữu khách, Hữu khách, kỵ bạch mã. Nghĩa là Cĩ người khách cỡi ngựa trắng, tức Lý Long Tường.

Tương truyền một đạo binh thiện chiến do Vương huấn luyện, trở thành đạo binh bảo quốc, đời nọ sang đời kia đều lấy tên là Bạch-mã. Hồi chiến tranh Việt-Nam (1960-1975) sư đồn Bạch-mã có tham chiến, trấn đĩng tại vùng Bồng-sơn, Quy-nhơn, Bình-định.

Cho đến nay, giòng họ Lý Hoa-sơn truyền trải 28 đời. Tại Nam-hàn chỉ có khoảng hơn nghìn hộ. Tại Bắc-hàn thì đông lắm, không thống kê được. Lý tộc tại Nam-hàn, hầu hết họ là những gia đình có địa vị trọng yếu về giáo dục, kinh tế, kỹ nghệ. Kỳ ứng cử vừa qua, một ứng viên Tổng thống họ Lý suýt trúng cử.

Theo tấm bia trên mang tên Thụ-hàng môn bi ký, thì Kiến Bình vương Long Tường có nhiều con trai, tất cả đều hiển đạt. Khơng thấy nói tơí Lý Long Hiền, cùng tông tộc hơn 200 người ở lại đảo (Đài-loan ? ). Lý Cán Đại lĩnh Đề-học nghệ văn quán, Kim-tử quang lộc đại phu. Lý Huyền Lương, Tham-nghị lễ tào, Chính-nghị đại phu. Lý Long Tiền Giám-tu quốc sử.(8)

Ghi chú
(8) Theo quan chế Tống, hồi đó thì chức Chiêu-văn quan đại học sĩ, giám tu quốc sử là danh tự để chỉ chức Tể-tướng. Không biết quan chế Cao-ly có giống Tống không ? Nếu giống thì Lý Long Tiền đã làm Tể-tướng.

Ngày nay, tại Bắc-hàn, cứ đến dịp tết Nguyên-đán, hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường khắp lãnh thổ Đại-hàn đều kéo về Hoa-sơn để dự lễ tế tổ (Luật pháp Nam-Bắc Hàn đều cấm ngặt người Nam-Hàn du lịch Bắc-Hàn. Thế nhưng, hầu hết các hậu duệ tại Nam-hàn đã dùng phi cơ sang Trung-quốc, rồi từ Trung-quốc vào Bắc-hàn. Khi những hậu duệ Nam-Bắc Hàn gặp nhau, họ ôm nhau khóc nức nở. Sự kiện này chính phủ Nam-Bắc Hàn nhắm mắt lờ đi, vì tộc Lý dù ở Nam hay Bắc họ đều giữ những chức vụ trọng yếu). Khởi đầu của cuộc tế, đánh chín tiếng trống, gọi là Tâm-thanh để mọi người cùng tưởng nhớ cố quốc. Theo gia phả của chi Thuận-xuyên, sở dĩ đánh chín tiếng, vì muốn ghi lại triều Lý trải 9 đời vua, kể cả Lý Chiêu-hồng. (9)

Năm 1995, con cháu của Kiến Bình vương Lý Long Tường, quy tụ hơn trăm người trở về Đình-bảng, huyện Tiên-sơn, tỉnh Bắc-ninh dự lễ hội làng vào ngày rằm tháng ba Âm-lịch. Tại thiên chi linh, hẳn 9 đời vua triều Tiêu-sơn, cũng như Kiến Bình vương Lý Long Tường đã thỏa nguyện: Những đứa cháu lưu lạc, nay trở về chầu tổ.

Lời quê gửi tới người Việt hải ngoại.

Hiện nay gần ba triệu người Việt lưu lạc khắp mọi góc biển, mọi chân trời. Có nơi sống tập trung như Hoa-kỳ, Thái-lan, Cao-miên, Ai-lao, Canada, Úc, Pháp, Nga-sơ. Có nơi sống rải rác cơ độc như Do-thái, Irak, Gabon...Nhìn vào tấm gương của hai giòng họ Lý tại Đại-hàn. Dù con cháu quý vị khơng còn nói được tiếng Việt. Dù con cháu quý vị đã kết hơn với người địa phương. Nhưng quý vị phải luôn nhắc nhở cho chúng biết rằng: Chúng là người Việt, lấy chủ đạo là con Rồng cháu Tiên. Xin qúy vị khẩn chép lại:
1. Nguồn gốc giòng họ mình từ làng nào, xã nào, tỉnh nào. Hoặc liên lạc với họ hàng trong nước để xin bản sao gia phả.
2. Tiểu sử những tiền nhân. Nếu khơng nhớ được hành trạng của các tổ xa đời, thì ít ra cũng chép được từ đời ông, đời cha.
3. Rời Việt-Nam ra đi vì lý do gì? Bắt đầu đến đâu? Lập nghiệp ra sao?
4. Mỗi năm vào dịp tết, quý vị sai đọc cho tất cả con cháu đều nghe.
5. Hằng năm, nếu có thể, khuyên con cháu, nên trở về quê hương, viếng thăm đất tổ, thăm mồ mả tiền nhân.
6. Khi về già, các vị sai chép những gì quý vị chi thành ra thành nhiều bản, cho mỗi con một bản, và dặn con cháu chép tiếp...
Vài lời thơ thiển. Biết rằng các vị cho là thường. Thưa quý vị, tộc Việt ta vốn là con Rồng, cháu Tiên. Biết đâu trăm năm sau, nghìn năm sau, con cháu quý vị cĩ thể là Tổng-thống Hoa-kỳ, Nga-sơ hay Thủ-tướng Đức, Do-thái. Và biết đâu con cháu quý vị khơng thành Thủ-tướng Trung-quốc. Bây giờ những gì quý vị coi là thường, bấy giờ sẽ trở thành quý báu vơ cùng.
Mong lắm thay! Cầu xin như vậy đấy.

Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ

(Những tài liệu tơi dùng để viết bài này rất phong phú, rất nhiều. Xin xem phần Những nguồn tài liệu, trong bộ Anh-hùng Đơng-a dựng cờ bình Mơng, quyển 1, do Đại-Nam Hoa Kỳ ấn hành )

Ghi chú,
(9) Chín đời vua triều Lý là,

1. Thái-tổ Lý Công Uẩn.
2. Thái-tơng Lý Đức Chính.
3. Thánh-tơng Lý Nhật Tông.
4. Nhân-tơng Lý Càn Đức.
5. Thần-tơng Lý Dương Hốn.
6. Anh-tơng Lý Thiên Tộ.
7. Cao-tơng Lý Long Trát.
8. Huệ-tơng Lý Long Sảm.
9. Chiêu-hồng Lý Phật Kim.

Đền thờ tám vị vua a triều Lý (Lý Bát-đế từ) tại Bắc-ninh

1. Tượng thờ vua Lý Thái-tổ

2. Tượng thờ vua Lý Thái-tông

3. Tượng thờ vua Lý Thánh-tông

4. Tượng thờ vua Lý Nhân-tông

5. Tượng thờ vua Lý Thần-tông

6. Tượng thờ vua Lý Anh-tông

7. Tượng thờ vua Ly Cao-tông

8. Tượng thờ vua Lý Huệ-tông

Hồ mã tê Bắc phong,
Việt điểu sào Nam chi,

Nghĩa là: Con ngựa đất Hồ (vùng Bắc Trung-quốc) khi bị đưa vào Trung-nguyên, mỗi khi gió Bắc thổi, nó nhớ quê, hý lên, buồn thảm. Còn con chim Việt, lạc sang Trung-nguyên, khi làm tổ, bao giờ nó cũng làm ở cành phía Nam.
cảnhsátgiả  
#2 Posted : Friday, December 20, 2002 11:15:53 PM(UTC)
cảnhsátgiả

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 159

Bài quá hay và quá nhiều nguời xem . HAHA . Chưa thấy topic nào đắt khách như vầy . HAHA
BHL  
#3 Posted : Wednesday, January 8, 2003 1:54:26 AM(UTC)
BHL

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 5,182

Những Phụ Nữ Trong Lịch Sử VN
Tác Giả: Lãng Nhân
Liệt Nữ Ấu Triệu


Khi về nước, chí sĩ Phan Bội Châu bị chính quyền Pháp giam lỏng ở dốc Bến Ngự, Huế, trong ngôi nhà ba gian, chung quanh có sân và vườn nhỏ. Phía trái lối ra vào, sát tường rào, có một mái đình, giữa đề bốn chữ "Ấu Triệu bi đình" (Nhà bia Ấu Triệu) hai bên cột đề câu đối quốc văn:

Tơ nhân sợi nghĩa giây lưng trắng
Dạ sắt lòng son nết má hồng

Giữa đình là một tấm bia đá mặt trước khắc chữ nho, mặt sau khắc quốc ngữ như sau: Bia liệt nữ Ấu Triệu, người xã Thê Lại Thượng, phủ Thừa Thiên, năm Canh Tuất đời vua Duy Tân, bị bắt vì quốc sự, bị tra tấn hết sức tàn nhẫn, nhưng thủy chung không cung khai một lời. Ngày 16 tháng 3 năm ấy tự tử trong ngục. Các đồng chí nhờ vậy mà được thoát nạn. Than ôi quả là một liệt nữ. Sống vì nước chết vì nòi. Bà Trưng, cô Triệu, xưa rày mấy ai!

Hỏi ra mới biết Ấu Triệu là danh hiệu ông Phan đặt cho cô Lê Thị Đàn, con nhà tiền bối cách mạng Lê Xuân Uyên. Khi cha bị giam tại nhà lao Thừa Thiên, cô Đàn phải lui tới thăm nom. Vốn là một thiếu nữ đương thì xuân sắc lại có theo đòi bút nghiên nên sớm được đốc phủ họ Đinh, gốc Nam Kỳ, bấy giờ là viên chức cao cấp trong tòa Khâm sứ, để ý tới và hứa sẽ hết sức giúp cho thân phụ cô được tha, nếu ưng thuận làm tiểu tinh. Vì thương cha nuốt hận chốn lao tù, cô cũng nghĩ như nàng Kiều:

Dâng thư đã thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lý bán mình hay sao!

Thế là cô trở thành "Cô Đốc" sau khi cha được phóng thích. Chẳng bao lâu sau đó, đốc phủ phải đổi vào Sàigon. Nghĩ mình chút phận lẽ mọn, cô nhất quyết không theo chồng, ở lại với cha, tiếp tục chí hướng cách mạng. Để tiện liên lạc với các đồng chí của cha, cô mở một quán nước bên vệ đường An Hòa. Ỏ đây, một hôm cô gặp ông Phan. Rồi khi ông Phan sang Trung Hoa, được tin cô tuẫn tiết, ông viết trong tập "Việt Nam Nghĩa Liệt Sử" đoạn hồi ký được trong nước dịch lại như sau: Sau khoa Canh Tý tôi đỗ cử nhân rồi vào Huế, nói là để học trường Hậu Bổ rồi ra làm quan. Nhưng thật ra là để tìm những người có tư tưởng trong học giới Việt Nam hồi ấy như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh và sĩ phu Trị Thiên, Nam Ngãi, nghĩa là tìm đồng chí cách mạng. Trên đường từ An Hòa về thị xã Huế, tôi thường nghỉ chân trong một quán bên vệ đuờng. Chủ quán là một cô gái trẻ đẹp, có tên là "Cô Đốc". Hỏi ra mới biết lai lịch đáng thương đánh kính của cô. Từ đó chúng tôi đã trở thành một cặp đồng chí cách mạng. Sau khi tôi qua Nhật vì phong trào Đông du, Cô Đốc hoạt động trong nước với nhiệm vụ vận động du học sinh và tài chánh trong hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị. Năm 1912, Việt Nam Quang Phục hội thành lập, lẽ tất nhiên cô là đảng viên Trị Thiên. Năm 1916, cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang Phục do vua Duy Tân lãnh đạo, với sự giúp sức của mấy ông Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề... bị thất bại cô Đốc bị Pháp bắt áp giải về Huế, giam tại nhà lao Phủ Thừa, tra khảo để tìm liên hệ tổ chức. Bị cực hình tra tấn, cô cương quyết không xưng ra một đồng đảng nào hay bộ phận nào của đảng. Rồi trong một đêm không sao, nhân lúc quân coi ngục ngủ say, cô Đốc xé áo làm dây, treo cổ lên song sắt nhà lao ...

Cô Đàn hy sinh thân thế để cứu cha, lại có lòng quả cảm trung thành với đảng, tự hủy đời mình, gương dũng liệt thật đáng ca ngợi và kính phục. Song tặng cô danh hiệu Ấu Triệu (cô Triệu Thị Trinh nhỏ) đặt cái công bảo toàn cho đảng ngang với sự nghiệp đánh đông giẹp bắc của Hai Bà cùng cô Triệu, e có phần quá mức.


BÀ TÚ XƯƠNG VÀ BÀ PHAN BỘI CHÂU

Ông Trần Tế Xương, quán làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, sinh năm Canh Ngọ (1879) mất năm Bính Ngọ (1906) vốn là một tay hào hoa, văn hay chữ tốt, gặp khoa nào cũng:

Ta thấy người đi, ta cũng đi
Cũng lều cũng chiếu, cũng vô thi

lăm le bia đá bảng vàng cho sang mặt vợ, nhưng rồi chỉ mang về cho vợ được hai chữ "Bà Tú" thôi nên đâm ra chơi bời khinh bạc. Có bài tự cười:

Lúc túng toan lên bán cả trời
Trời cười: thằng bé nó hay chơi
Cho hay công nợ là như thế
Mà vẫn phong lưu suốt cả đời
Tiền bạc phó cho con mụ kiếm
Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi
Còn dăm ba chữ nhồi trong ruột
Khéo khéo không ma nó lại rơi ...

Tiền bạc phó cho con mụ kiếm tuy nói sỗ sàng thế nhưng thâm tâm vẫn nể vì, khen ngợi:

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu dành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công!
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không...


Hai câu mỉa sau cùng hiển nhiên không phải lời bà Tú xỉa xói: là con nhà danh giáo ở làng nho học Lương đường Hải Dương, trước sau bà chỉ cắn răng chịu đựng, đâu dám nói gì. Hai câu kia là ông Tú tự mắng mình quên nghĩa tào khang.

*

Bà Tú Xương cắn răng chịu đựng "một duyên hai nợ âu đành phận" cũng như bà Phan Bội Châu.

Bà Phan Bội Châu, khuê danh Thái Thị Huyên, con nhà nho Thái Văn Giai ở làng Diễn Lam, thôn Thục Nam, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, nguyên là bạn học của thân phụ ông Phan. Khi về làm dâu họ Phan, mẹ chồng đã khuất bóng, cha chồng bệnh hoạn, bà phải một thân gánh vác giang sơn: một giang sơn nghèo rớt mồng tơi. Chồng phải quanh năm dạy học nơi xa, có kiếm được đồng lương thì chiều đãi bạn bè chưa đủ, sau đó lại bôn ba nước ngoài, mãi đên khi bà vợ 60 tuổi mới gặp lại ông được nửa giờ, thì ông phải giải về Huế, bà ở lại Nghệ.

Đến ngày 22 tháng 5 năm 1936, bà từ trần, thọ 71 tuổi. Được tin báo, ông Phan khóc bà bằng hai cặp câu đối:

I

Ba mươi năm cầm sắt khéo xa nhau, mưa sầu gió thảm, chỉ bóng làm chồng, ngồi ngó trẻ con rơi lệ nóng

Dưới chín suối thân bang như hỏi đến, lấp biển dời non, nao ai giúp bác, chỉ còn mình lão múa tay không.

II

Tình cờ gặp khách năm châu, hơn ba mươi năm chồng có như không, cố đứng vững mới ghê, ngậm đắng nuốt cay tròn đạo me.

Khen khéo giữ nền tứ đức, ngoài bảy chục tuổi sống đau hơn chết, thôi về mau cho khỏe, đền công trả nợ nặng vai con...

Và ông kể lại lai lịch cho các con nghe như sau:

Này con, các con ơi,

Cha e chết ở ray mai, có lẽ mẹ mày không được một phen gặp nhau nữa... Nhưng nếu Trời thương ta, cho hai ta đồng chết, thì gặp nhau dưới suối vàng, cũng vui thú biết chừng nào! Song đau đớn quá, mẹ mày e chết trước ta. Ta bây giờ nếu không chép những việc đời mẹ mày cho chúng con nghe, thì chúng con rồi đây không rõ mẹ mày là người thế nào, có lẽ bảo: mẹ ta cũng như người thường thảy cả.

Than ôi, ta với mẹ mày "vợ chồng thật" gần năm mươi năm, mà "quan, quả" gần bốn mươi năm: khi sống chẳng mấy hồi tương tụ, tớt chết lại chỉ tin tức nghe hơi ... Chúng mày làm con người, đã biết nỗi đau đớn của cha mẹ, chắc lòng con thế nào mà an thích được. Nay ta, trong lúc sắp sửa chết mà chưa chết, đem lịch sử mẹ mày nói cho hay:

Mày nên biết: nếu không có mẹ mày thì chí của cha mày đã hư những từ lâu rồi.

Cha ta với tiên nghiêm của mẹ mày xưa, đều nhà nho cũ, rất chăm giữ đạo đức xưa. Mẹ mày lớn hơn ta một tuổi. Hai ông đính thông gia với nhau từ khi ta mới lên một. Tới năm hai mươi ba tuổi, mẹ mầy về làm dâu nhà ta. Lúc ấy, mẹ ta bỏ ta đã tám năm rồi, trong nhà duy có cha già với em gái bé. Ta vì sinh nhai bằng nghề dạy trẻ, luôn năm ngồi quận ở phương xa, cái gánh sớm chiều gạo nước gửi vào trên vai mẹ mày.

Cha ta đối với dâu con rất nghiêm thiết, nhưng chẳng bao giờ có sắc giận với mẹ mày. Cha ta hưởng thọ 72 tuổi, song bị bệnh nặng từ ngày 60. Liên miên trong khoảng 10 năm những công việc thuốc thang hầu hạ bên giường bệnh, cho đến các việc khó nhọc nặng nề người ta không thể làm được, thảy đều tay mẹ mày gánh vác. Kể việc hiếu về thờ ông cha như mẹ mày thật là hiếm có. Trước khi cha ta lâm chung vài phút đồng hồ, gọi mẹ mày bồng mày đến cạnh giường dạy ta rằng:

_ Ta chết rồi, mày phải hết lòng hết sức dạy cháu ta, và hết sức thương vợ mày. Vợ mày thờ ta rất hiếu chắc trời cũng làm phúc cho nó.

Xem lời nói lúc lâm chung của cha ta như thế, cũng dư biết nhân cách của mẹ mày rồi. Năm cha ta sáu chục tuổi, còn hiếm cháu trai, vì ta lại là con độc đinh nên cha ta khát cháu lắm. Mẹ mày muốn được chóng sanh trai cho bằng lòng cha, nên gấp vì ta cưới thứ mẫu mày. Chẳng bao lâu em mày sinh. Trong lúc thằng cu mới ra đời, mẹ mày gánh việc ôm ấp, đùm bọc hơn một tháng.

Cha ta được thấy cháu đầu hoan hỉ quá, thường nói với ta rằng:

_ Ta chỉ còn việc chết chưa nhắm mắt được là mày chưa trả cái nợ khoa danh mà thôi ...

Mẹ mày nhân đó càng cảm đức thứ mẫu mày thân yêu hơn chị em ruột. Kể đức nhân ái với người phận em như mẹ mày cũng ít có. Cứ hai chuyện trên, bảo mẹ mày là hiền, về thời trước ắt không quá đáng. Nhưng mà bắt buộc ta trọn đời ghi nhớ luôn luôn, thì lại vì một việc:

Nguyên nhà ta chỉ có bốn tấm phên che sương, chẳng bao giờ chứa gạo tới hai ngày. Mà vì trời cho ta cái tính quái đặc, thích đãi khách, hay làm ơn. Hễ trong túi được đồng tiền, thấy khách hỏi tức khắc cho ngay. Thường khi từ quận về nhà, khách hoặc năm sáu người, có khi mười người chẳng hạn, mà chiều hôm sớm mai, thiếu gì tất hỏi mẹ mày. Mẹ mày nào có gì đâu! Chỉ dựa vào một triềng hai thúng từ mai tới hôm, mà cũng nghe chồng đòi gì thì có nấy. Bổng dạy học của ta tuy khá nhiều, nhưng chưa đồng xu nào mẹ mày được xài phí. Khổ cực mấy cũng không sắc buồn, khó nhọc mấy cũng không tiếng giận.

Từ ta ba mươi sáu tuổi cho tới ngày xuất dương, những khi kinh dinh việc nước, mẹ mày ngầm biết hết mà chưa từng hé răng một lời. Duy có một ngày kia, tình cờ ta ngồi một mình, mẹ mày đứng dựa cột kế một bên ta mà nói:

_ Thày toan bắt cọp đó mà! Cọp chưa thấy bắt, mà người ta đã biết nhiều. Sao thế?

Mẹ mày nói câu đó mà lúc đó ta làm ngơ, ta thiệt dở quá! Bây giờ nhắc lại trước khi ta xuất dương, khoảng hơn 10 năm nghèo khó lại bạn bè nhiều, vậy mà vững chí trong khốn cùng, một phần lớn là nhờ ơn mẹ mày. Tới ngay ta bị bắt về nước, mẹ mày gặp ta một lần ở Nghệ, hơn nửa tiếng đồng hồ chỉ có một câu nói với ta rằng:

_ Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần gặp thầy, lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây về sau, thày làm gì tùy thày, đừng nghĩ gì tới vợ con. Chỉ mong thày giữ được lòng xưa là đủ.

Hỡi ơi, câu nói ấy bây giờ còn phảng phất bên tai ta, mà té ra ta chầy chà năm tháng, chẳng làm một việc gì, chốc đã chẵn mười năm! Nay mẹ mày chết trước ta, trách nhiệm của ta e còn nặng thêm mãi mãi.

Suối vàng quạnh cách, biết lối nào thăm Đầu bạc trăm năm, còn lời thề cũ Mẹ mày thật chẳng phụ ta, ta phụ mẹ mày! "Công nhi vong tư, chắc mẹ may cũng lượng thứ cho ta chừ... (Bản dịch nguyên văn chữ Hán của Tùng Lâm Lê Cương Phụng)

"Chỉ mong thày giữ được lòng xưa", lời dặn lại nghe đơn sơ mà thật đanh thép, khiến nhà chí sĩ sau này tránh xa những cám dỗ của Pháp, tìm quên lãng trong kinh kệ:

Vàng khê trắng toát khác đôi bên
Thôi mặc ai chê, mặc tiếng khen
Sông núi lỡ làng màu lịch sư?
Gió trăng chờn chợ mối lương duyên
Khó lòng lay nổi lòng son sắt
Chẳng hổ ngươi vì tiếng bạc den
Ba chén xong rồi ai nấy bạn?
Một pho kinh Phật, một cây đèn...


………
Bà Ấu Triệu --- Lê Thị Đàn

Báo Tiếng Sông Hương, xuất bản ở Dallas-TX năm 1994, Lệ Vân có trích dẫn 3 bài thơ của Bà Ấu Triệu bằng Hán Văn và Đặng Thái Mai đã dịch ra Việt văn như sau :

(I)
Huyết khô, lệ kiệt, hận nan tiêu,
Trường đoạn Hương Giang dạ nhật trào
Ngô đảng tảo thanh cừu lỗ nhật
Phần tiền nhất chỉ v. nùng tiêu .

(Dịch)
Huyết lệ dầu khan giận chưa sờn,
Chiều hôm tê tái nước sông Hương .
Nhóm ta khi qyét xong quân giặc,
Trước nấm mồ em đốt bó nhang .

(II)
Trùng trùng yểm lệ kiến Trưng Vương,
Đề huyết thư quyên chỉ tự thương .
Bằng tạ Phật linh như tái thế,
Nguyện thân thiên tý tý thiên sang .

(Dịch)
Suối vàng gạt lệ gặp Bà Trưng,
Máu thắm hồn quyên khóc thảm thương .
Lạy Phật thân này còn hóa kiếp,
Tay xin nghìn cánh cách nghìn thương .

(III)
Thê lương ngục thất mệnh chung thi,
Hải khoát sa không khốc tự trị .
Tử quốc đáo nùng thiên hữu phận,
Thương tâm quan lũ kỳ nam nhi .

(Dịch)
Lạnh lùng cảnh ngục lúc quyên sinh,
Biển rộng đồng không mình biết mình .
Chết với nước non em tốt số,
Chạnh lòng tủi hổ lũ trâm anh .

Khoảng năm 1930, lúc đó cụ Phan Bội Châu còn bị an trí tại Bến Ngự Huế, cụ đã xây một bia kỷ niệm cô Lê Thị Đàn ngay trong vườn nhà cụ ở . Cụ thường gọi cô là "Bà Ấu Triệu" (Bà Triệu nhỏ) . Bài văn khắc trên bia của Cô Lê thị Đàn như sau : (Trong sách TỰ PHÁN viết về cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, cụ Phan Bội Châu cũng có nói đến chuyện này ).
Chữ Nho :
(I)
Sinh nê bất nhiếm hoa quân tử,
Bão phát vô ngôn thạch khả phân .

*Gần bùn không bẩn hoa quân tử
Ôm ngọc làm thinh đá hiền nhân

(II)
Tâm khả huyền ư thiên nhật nguyệt,
Thân tàng gía dữ Việt giang sơn .

*Tấm thân trót gả giang sơn Việt
Tấc dạ soi chung nhật nguyệt trời

Văn bia : (Phiên âm Hán Việt)
"Nữ liệt sĩ bi đình,
Nữ đồng bào Ấu Triệu liệt nữ Lê Thị Đàn chi thần, Thừa Thiên Phủ, Thế Lại Thương Xã . Duy Tân (Canh Tuất) dĩ quốc sự án hạ ngục, khảo tấn nghiêm cực, thống khổ vạn trạng, nhiên bất khuất . Thị niên tam nguyệt thập lục tự tuẫn dĩ cố, chư đồng chi
đa thoát võng giả.
Ô hô ! Liệt hỷ !
Minh viết : Thân bất khả lục, chí bất khả nhục, đao nhân nhi tử, Trưng Triệu nhi tục, kỳ tần gỉa anh, kỳ mật gỉa dạnh nữ kiệt, nữ kiệt, hà nhạc nhật tinh .
Liệt nữ tuẫn nghĩa hận chí thập bát niên nguyệt nhật "

(Quốc ngữ) :
"Bia cô Ấu Triệu liệt nữ,
Người xã Thế Lại Thượng, Phủ Thừa Thiên . Năm Canh Tuất đời Duy Tân vì án quốc sự, bị khảo tấn hết sức khổ nhưng trước sau không khai một lời . Ngày 16 tháng 3 năm ấy tự tử ở trong ngục, các người đồng chí nhờ đó được vô sự . Than ôi ! Nghĩa liệt !
Lời minh rằng :
Sống vì nước chết vì nòi
Bà Trưng Bà Triệu xưa này mấy ai "

Trong sách Tự Phán có ghi lại một bài thơ của cụ Phan Bội Châu "Đề bia Ấu Triệu" như sau :
Lọ là các cậu, lọ là ông,
Ai bảo rằng thư chẳng phải hùng .
Miệng có chào lòng quên sấm sét,
Gan đành bỏ mạng tiếc non song .
Dây lưng một giải bền hơn sắt,
Nét máu ngàn thu đậm với hồng .
Ai hỏi biết chăng thời chớ hỏi,
Hỏi hòn đá nọ biết hay không ? "

(trích TAĐBVL---NLT)
BHL  
#4 Posted : Monday, April 14, 2003 2:39:32 AM(UTC)
BHL

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 5,182

Ba Làng Người Trung Hoa Gốc Việt Tộc Lê Văn Lân


Ba làng người "Trung Hoa gốc Việt tộc đang sinh sống phát triển trong nội địa nước Tầu hiện nay không phải là một điều bí mật hay rất ít người biết nữa như trước đây. Trái lại, nó được chính thức kể như một trong số hơn 50 sắc dân thiểu số tại Trung Hoa, chiếm cứ khoảng 6.6% toàn thể của dân số của quốc gia này là 1.3 tỉ nhân khẩu.

Riêng về Việt tộc - còn gọi chính thức là Kinh tộc (the Jings) - có con số nhân khẩu khiêm tốn gồm khoảng hơn 15,000 người, tụ cư sinh sống trong ba hòn đảo nhỏ là Vạn Vĩ (Wanwei), Ô Đầu (Wutou) và Sơn Tâm (Shanxin) trong vùng tỉnh Quảng Tây. Hình ảnh cô gái Việt hay Kinh tộc xinh đẹp với cái nón lá hình chóp đã được tài liệu hay bích chương du lịch của Trung Hoa trưng lớn lên như mời mọc du khách quốc tế.

Tôi tự hỏi tại sao người Việt mình ngày nay sẵn sàng đi du lịch Trung Quốc một cách dễ dàng lại không tạo dịp đi thăm ba làng Việt tộc nói trên. Trước hết là tỏ một mối tình thâm trầm man mác đối với những người vốn là đồng bào đồng tộc với chúng ta nhưng vì hoàn cảnh lịch sử xa xưa lại không còn ở chung một địa bàn địa lý với chúng ta; sau là chúng ta có dịp sưu tầm lại những di sản quí báu về tinh thần mà những người Việt tộc này vẫn còn lưu giữ sau gần 500 năm xa lìa quê hương gốc như 30 điệu hát đúm vào ngày hội Tết đầu xuân và những tài liệu viết bằng chữ Nôm của họ.

Mục tiêu vấn đề du lịch thăm ba làng Việt tộc ở Trung Quốc là như thế nhưng muốn thực hiện chúng ta cần phải thu thập những yếu tố dữ kiện nào trên thực tế? Sau đây là những điều cụ thể mà tôi đã tra cứu cẩn thận nên trình bày ra để chia xẻ cho những ai đồng chí hướng thích sự ngao du thích thú sưu tầm: Tài liệu về lịch sử và sự phát triển, sinh hoạt của những người Kinh hay Việt tộc (mà tôi tạm dùng chữ Kinh Việt viết tắt là KV trong bài này) được mô tả rất đầy đủ trong những sách của Trung Hoa như Dân Tộc Tri Thức Thủ Sách (Dân tộc Xuất bản xã năm 1982) viết bằng Hoa ngữ - China's Minority Nationalities (Foreign Language Press năm 1989) bằng Anh Ngữ.
Qua hai tài liệu trên, chúng ta được đọc về Kinh Việt tộc như sau:

Nguồn gốc Kinh Việt tộc Kinh tộc - ngày xưa xưng là Việt tộc là một trong những dân thiểu số của Trung Hoạ Kinh Việt tộc chủ yếu nằm rải ra ở các địa khu của những dân tộc tự trị ở vùng duyên hải thuộc khu Phòng Thành của tỉnh Quảng Tâyï Theo thống kê 1982, Kinh Việt tộc có 11,995 nhân khẩụ Hồi trước Kinh Việt tộc là một bộ phận của nòi Lạc Việt thời xa xưa, nhưng vào đầu thế kỷ thứ 16, họ đã từ vùng Đồ Sơn của Việt Nam hiện giờ lục tục di cư đến địa điểm bây giờ, tụ cư trên ba hòn đảo nhỏ gọi là ba làng là Vạn vĩ, Vu đầu và Sơn Tâm thuộc huyện Giang Bình nên người ta quen gọi là "Kinh tộc tam đảo."
Tiếng nói và Văn tự của người Kinh Việt thế nào?

Dân Kinh Việt tộc tam đảo vốn nói tiếng Kinh hay Việt và có một văn tự gốc gọi là "chữ Nôm, nhưng từ lâu họ cũng nói tiếng địa phương Quảng Châu và xử dụng Hán tự.

Tiếng nói Kinh Việt "Nguồn gốc Kinh ngữ (hay Việt Ngữ) theo Dân tộc Từ điển của Thượng Hải (1987) có thể thuộc vào hai giả thuyết trên ngữ hệ: thứ nhất là thuộc Hán Tạng ngữ hệ, thứ hai là thuộc Nam Á ngữ hệ. Theo sự phân tách của sách này, Kinh (hay Việt) ngữ rất gần tiếng các dân tộc Choang (Tráng) và Đồng được phân bố tại các huyện tự trị lân cận. Kinh Việt ngữ có 28 thanh mẫu, 106 vận âm.

Nguyên âm KV chia thành nguyên âm dài và nguyên âm ngắn. Phụ âm vận ở cuối từ có 6 vận là: (-k), (-m), (-n), (-ng), (-p), (-t), ví dụ như cac(k), nam, man, mang, map, mat. Thanh điệu có năm bực là: trung bình, đê giáng, khúc triết, cao thăng, đê bình, tức là năm dấu giọng. Về ngữ pháp, dân KV không nói ngược như dân Hán như họ gọi Ông Thôn để chỉ chức trưởng thôn xã, Ông Kiểm để chỉ chức kiểm soát an ninh trật tự.

Chữ Nôm Kinh Việt "Viết về chữ Nôm của ba làng KV này, tài liệu Anh ngữ Chinás Minority Nationalities (CMN) nói thật rõ như sau: "Người Kinh có một thứ văn tự ghi chép riêng của họ gọi là chữ Nôm (chữ Hoa ghi là Tự Nam, chữ Anh phiên âm là Zinan). Được cấu tạo dựa trên căn bản của Hán tự vào cuối thế kỷ 13, chữ Nôm nay được lưu truyền trong những sách thi ca cũ và những bộ kinh tôn giáọ" Chúng ta chưa thấy tự dạng và cấu trúc của nó ra sao, nhưng chắc chắn nó phải là chữ Nôm của Việt Nam vào cuối đời Hậu Lê chắc chắn nó phải cổ và chính thống hơn chữ Nôm của ta từ nhà Nguyễn về saụ Nếu ta sưu tầm được chữ Nôm Kinh Việt này, chúng ta có thể hiểu nhiều tiếng Việt thời cổ hơn.
Diễn biến quá trình định cư của dân Kinh Việt

Tổ tiên người Kinh di cư từ Việt Nam sang Trung Quốc vào khoảng đầu thế kỷ 16. Thuở ban đầu thì họ định cư trên ba hòn đảo không người ở vì các vùng lân cận đã có người Hán và người Choang (Trang tộc) chiếm cứ sinh sống rồị Tuy sống chen vai thích cánh với người Hán và người Choang, người Kinh đã tạo dựng nên một khu lãnh giới riêng cho mình nhưng qua nhiều thế kỷ, họ đã hàn chặt nhiều mối liên lạc mật thiết với dân tộc láng giềng. Theo tài liệu bằng chữ Nôm mà người Kinh còn lưu giữ trong một ngôi đình của họ, tổ tiên của Việt tộc tam đảo đã từ bãi Đồ Sơn (tỉnh Hải Phòng Việt Nam) đến vùng đất này vào năm Hồng Thuận. Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Hồng Thuận vào cuối đời Hậu Lê tức là đời vua Lê Tương Dực (1510 - 1516), như vậy dân Kinh hay Việt tộc đã sinh sống lập nghiệp trên đất Trung Hoa gần như tròm trèm 500 năm.

Hiện nay, chúng ta chưa rõ tại sao dân Kinh Việt lại di cư qua Trung hoa?

Vì vùng đất của họ nằm gần như sát biên thùy Việt Hoa tức là huyện Móng Cáy tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam ngó qua Đông Hưng của Trung Hoa, nên chúng ta có thể phóng đoán rằng ngày xưa giữa Trung Hoa và Việt Nam không có con đường phân định rõ ràng về biên giới có tọa độ rõ ràng. Do đó, đám người Kinh Việt cứ thấy vùng nào không có ai ở thì tới cắm dùi lập nghiệp sinh sống, chẳng chính quyền nào kiểm soát. Lằn biên giới Hoa Việt mới chính thức vạch ra sau Hiệp ước Fournier-Lý Hồng Chương, chạy dọc theo kinh tuyến 108 độ 3 phút 13 giây, vùng nào về phía tây của kinh tuyến thuộc về Việt nam (thời ấy do Pháp đô hộ), còn vùng nào ở phía đông kinh tuyến thì thuộc về lãnh thổ Trung Hoa. Do đó, vùng đất mà dân Kinh Việt chiếm cứ định cư trong bao nhiêu thế kỷ bỗng nằm lọt vào lãnh thổ Trung Quốc. Rồi trải bao nhiêu thời gian, dân Kinh Việt cứ yên thắm sống trong vùng mà nhà nước Trung Hoa gọi là "Tự trị khu" chung với những sắc dân thiểu số như Choang, Dao trong tỉnh Quảng Tâyï Cho đến cuối 1952 - sau năm 1949 khi chính quyền Trung Cộng chiếm toàn lục địa Trung Hoa thì mới bắt đầu thành lập ba thôn làng là Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm để rồi 1958 thì ba làng Kinh Việt này hợp cùng các làng khác của dân
Choang và Dao để làm thành huyện tự trị Đông Hưng. Vào cuối năm 1979 thì các huyện tự trị này họp thành trấn Phòng Thành tự trị cho đến nay.
Phong tục tập quán của dân Kinh Việt.

Ta thử xem 500 năm qua xa xứ người Kinh Việt còn giữ dấu tích gì của quê hương mẹ không? Họ mặc áo quần ra sao?

"Y phục của người Kinh rất đơn giản và thực tế. Phụ nữ ăn mặc theo cổ truyền với những chiếc áo ngắn, không cổ, chẽn bó vào thân mình, cài nút phía trước, trên đầu đội quấn một cái khăn rằn, dưới mặc những tấm quần rộng nhuộm đen hay nâụ Khi ra ngoài, phụ nữ thường mặc thêm áo dài tay chật nhuộm màu sắc nhạt hơn. Họ đeo bông tai. Tóc phụ nữ phần lớn rẽ ngôi ở giữa và tóc xỏa hai bên, phía sau lại dùng
vải đen hay khăn đen buộc lạị Dân quê còn đi chân đất. Còn đàn ông thì thường mặc áo cộc để làm việc, cổ quấn khăn, nhưng khi có hội hè thì họ mặc những áo dài chùng tới gối, hai vạt trước sau đối nhau và có giải quấn ở eo lưng.

Bây giờ người Kinh ăn mặc giống như người Hán láng giềng, mặc dù còn một số ít bà già còn giữ lối ăn mặc theo cổ tục và một thiểu số phụ nữ trẻ còn búi tó và nhuộm răng đen vì vẫn còn tục ăn trầu, còn đàn ông thì đương nhiên ăn mặc thực tế theo hiện đại như những dân lân cận khác.

Một điểm về mầu sắc là phụ nữ Kinh Việt khoái mầu vàng và mầu nâu non, vì hàng năm vào ngày quốc khánh của Trung Quốc thì có đội nữ dân quân Giang Bình "chít khăn vàng, mặc áo nâu non, quần đen, vai đeo súng, lưng thắt băng đạn đi diễu binh trước khán đài" (Làng Việt biên thùy - báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 20 tháng Tám năm 1995).
Họ ăn uống thế nào?

Về ẩm thực, dân Kinh Việt ăn cơm là chính, ngoài ra còn ăn khoai sắn, khoai sọ, thích ăn cá tôm cuạ Ngày Tết, họ thích ăn xôi chè (hỉ hoan cật nhu mễ phạn hòa nhu mễ đường chúc). Họ làm nước mắm cá để chấm và nêm thức ăn. Một điểm lý thú là dân Kinh Việt thích ăn hai món sau, ăn hoài không ngán: Đó là "bánh đa" bằng bột gạo có rắc mè nướng trên than hồng mà sách Tầu gọi là Phong xuy hỉ - bánh phồng do gió thổi! - và "bún riêu, bún ốc" mà sách Hán tự ghi là Hỉ ty tức là sợi bún nấu với canh cua và ốc.
Phong tục, tín ngưỡng và văn hóa Kinh Việt ra sao?

Nhà cửa của dân Kinh Việt thì thấp, làm bằng gỗ hay tre đan thành phên. Phong tục hôn nhân thì một vợ, một chồng, thuở trước thì thường do cha mẹ hai bên xếp đặt bao biện. Trai gái cùng họ và anh em cô cậu cấm lấy nhaụ Về tang ma thì chôn dưới đất. Trừ một thiểu số theo đạo Thiên chúa, phần lớn dân Kinh Việt theo Phật giáo, cúng vái đủ thứ thần thánh và sùng bái tổ tiên.
Sinh hoạt văn hóa và văn nghệ Kinh tộc ra sao?

Dân tộc Kinh rất ưa thích lối hát đối đáp giao tình (antiphonal songs) nghe du dương và trữ tình, kiểu như hát Quan họ hay hát đúm quen thuộc ngoài Bắc ta bây giờ. (Tài liệu Anh ngữ CMN của Trung hoa về Kinh tộc đã dùng chữ rất đúng để dịch chữ hát đối hay hát đúm vì "Antiphon" là lối hát chia thành nhiều phần đối đáp và xen kẽ luân phiên - Antiphon is a hymn, psalm etc... chanted or sung in responsive and alternating parts - Webster's New World Dictionary).
Lối hát đúm hát đối này thường được dân Kinh long trọng diễn vào ngày Tết của họ mà họ gọi là "Hát Tết." Hát đúm, hát đối là do những cô gái gọi là "Hát muội" (Muội là em gái).

Tài liệu Hoa ngữ DTTT về Kinh tộc trang 91 đã đặc biệt khen rằng:
Người Kinh trên phương diện sinh hoạt phấn đấu trường kỳ đã sáng tạo một nền văn hóa rực rỡ muôn màu, nội dung của nền văn học truyền khẩu thật phong phú, ca khúc và khúc điệu đạt đến 30 loạị Đàn bầu là một nhạc khí chỉ riêng Kinh tộc có mà thôị Phê bình về âm nhạc và dân ca của Kinh tộc, sách Hoa ngữ nói rằng: "Lời ca thuần phác, khúc điệu bình dị ít biến hóạ" "Về phương diện nghệ thuật, tài liệu Anh ngữ CMN nói thêm thật rõ về Kinh tộc như sau: "Nhạc cụ cổ truyền của người Kinh gồm đàn nhị (two-stringed fiđle), sáo trúc, trống, cồng và cây độc huyền cầm (single-stringed fiđle) là cây đàn đặc thù của họ.
Những truyện dân gian và cổ tích của họ rất nhiềụ Những điệu múa ưa chuộng của người Kinh là múa đèn, múa gậy sặc sỡ nhiều màu, múa rồng và múa y phục thêu thùa.

Theo sách Dân Tự Trị Thủ Sách của Trung hoa, câu chuyện cổ tích mà dân Kinh hay kể là Truyện chàng Thạch sanh (mà cái tên Lý Thông phản phúc trong truyện được gọi và cải lại là Nguyễn Thông). Đàn kêu tích tịch tình tang, Ai đem công chúa trên hang mà về!

Cái đàn "tích tịch tình tang" gẩy bằng que tre chính là cây đàn bầu nói trên. Kinh tế của ba làng Kinh Việt Dân Kinh Việt sống trong một vùng bán nhiệt đới, có mưa nhiều và lắm tài nguyên khoáng sả. Vịnh Bắc Bộ ở phía nam là một nơi lý tưởng cho ngư nghiệp. Trong 700 loại cá đánh ở đây thì hơn 200 loại có giá trịkinh tế cao và thu hoạch nhiềụ Ngọc trai, cá ngựa và sea otters sinh sản lắm ở đây và thường quí về phương diện dược liệụ Nước biển của vịnh Bắc Bộ tốt cho sự làm muốị Mùa màng chính ở đây là gạo, khoai lang, đậu phọng, khoai sọ, và kệ Những loại trái cây bán nhiệt đới như đu dủ, chuối, nhãn thì rất nhiềụ Những khoáng sản dưới đất gồm sắt, monazite, titanium, magnetite và silica. Những giải rộng của rừng tràm mọc trên vùng nước lợ là một nguồn lợi phong phú về chất tannin dùng làm nguyên liệu tất yếu cho kỹ nghệ thuộc da. Dân Kinh Việt sinh nhai chính bằng ngư nghiệp, còn nông nghiệp là thứ yếu, ví dụ ở làng Sơn Tâm thì 70% lợi tức của làng do ngư nghiệp, 27% do nông nghiệp còn lại 3% do các hoạt động khác.

Trước đây, ngư nghiệp không phát đạt vì trang bị của ngư dân còn nghèo, phương pháp còn vụng về chậm tiến và nhất là không thể đánh cá ở biển sâụ Nông nghiệp cũng kém, mỗi mẫu tây chỉ thâu hoạch 750 kg thóc, chỉ đủ dự trữ ăn trong ba, bốn tháng. Do đó, dân Kinh Việt phải sống chật vật, đổi cá lấy gạo và các thứ nhật dụng hoặc làm thêm thủ công nghệ như đan đát tre hay nghề mộc.

Hiện nay, tình trạng thay đổi nhiều trên ba làng dân Kinh Việt. Dự án ý nghĩa nhất để chuyên trị những cù lao đất bồi nghèo nàn là xây đắp 11 con đê để lấn đất ra biển và nối các hòn cù lao với đất liền. Một diện tích khoảng 400 mẫu đất được tạo dựng tương đương với bốn lần diện tích đất canh tác cũ. Chinás Minority Nationalities đã khoẹ Về ngư nghiệp, những ghe thuyền gắn động cơ và nhiều dụng cụ đánh cá mới trang bị làm tăng gia sự có thể đánh cá ở biển sâụ Ngành nuôi ngọc trai đã thành một kỹ nghệ phát triển từ năm 1958 khi những trại nuôi trai sản xuất ngọc được thiết lập vào những vũng biển nước sâu lý tưởng cho loài trai tăng trưởng. Cũng từ năm 1958, cây cối được trồng trên một diện tích 433 mẫu đã tạo thành một bờ đai hàng rào chắn gió và cát di chuyển. Qua nhiều năm, trái cây như chuối, đu đủ, dừa, nhãn di thực từ vùng khác đã mọc sum xuê trên các vùng hải đảo.
Làm sao thực hiện một chuyến du lịch vào vùng Kinh Việt Tam đảo?

Trước đây, Trung Quốc đã có chánh sách đóng kín bức màn tre nên chuyện du lịch Trung Hoa là một vấn đề khó khăn thiên nan vạn nan với bao thủ tục và gần như mạo hiểm như chúng ta có thể phối kiểm những bài viết du khảo về Trung Quốc của nguyệt san tạp chí National Geographic. Nhưng cho đến cuối tháng Giêng năm 1986, thì 244 đô thị của Trung Quốc được mở ra để du khách ngoại quốc có thể thăm với thông hành có chiếu khán và giấy phép hợp lệ. Kể từ đó, cơ quan Dịch Vụ Du Lịch Quốc Tế của Trung hoa - China International Travel Service - cùng nhiều công ty khác đã phối hợp chặt chẽ với công ty China Focus Inc. hay Ritz Tours... tổ chức thường xuyên nhiều chuyến tuần du Trung Quốc với giá cả tương đối rẻ bao gồm bao nhiêu thứ nào là vé phi cơ, vé xe lửa, vé xe buýt, vé thăm thắng cảnh, vé coi show cùng với những bữa ăn. Điều này chứng tỏ chính quyền Trung Quốc rất hoan nghênh sự thăm viếng của du khách để thâu ngoại tệ.

Riêng về du lịch vùng Tam Đảo ở tỉnh Quảng Tây thì tôi chưa thấy phổ biến rộng rãi mặc dù trên nhiều tài liệu và bích chương du lịch của Trung Hoa thường in hình cô gái Kinh Việt đội nón lá rất tươi với dáng vẻ mời mọc. Tôi nghĩ họ đang cần quảng cáo cho nhiều đô thị hay thắng cảnh nổi danh trước đã, để thu vào nhiều lợi từ khách quốc tế mà họ gọi là nguồn lợi big spenders. Tuy nhiên, theo sự dọ hỏi của tôi với vài hướng dẫn viên du lịch địa phương ở Trung Hoa thì công ty của họ sẵn lòng phối hợp với China Focus tổ chức những chuyến du lịch nhỏ kiếm ăn kiểu cò con phụ thêm (extension trip) vào những tours chính mà chỉ cần trả phụ trội một phí tổn tương ứng. Ví dụ chúng tôi vừa đi một chuyến 15 ngày du lịch trả khoảng 1,550 mỹ kim để đi một vòng qua các nơi như Bắc Kinh, Tây An, Quế Lâm, Nam Kinh, Hàng, Tô Châu, Thượng Hải, nhưng lại muốn đi thăm hai ngày ở Hàng Châu (gần Thượng Hải) nên chỉ trả thêm mỗi người 350 mỹ kim thôi. Tính ra mỗi ngày chỉ trả 150 mỹ kim. Vùng Kinh Việt Tam Đảo thuộc tỉnh Quảng Tây nên tôi nghĩ có thể dàn xếp với công ty du lịch cho chúng ta thăm phụ thêm khi cái tour chính của chúng ta đi qua gần đấy như thăm Quế Lâm, Quảng Châu hay Hồng Kông miễn là chúng ta có ít nhất là 10 người cùng đi.

Nếu chúng ta cố tình muốn thăm ba làng Việt tộc, thì vấn đề không khó mà có thể tổ chức một thuận lợi nếu có nhiều người cùng thích đi.


Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.