Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
Lữ Khách  
#1 Posted : Sunday, May 26, 2002 4:00:00 PM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,178
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 122 time(s) in 57 post(s)
Lời Tựa :
Kính thưa tất cả các bạn Độc Giả xa gần ,Lữ Khách mạo muội mở ra chủ đề này với mục đích gợi lại tất cả những công lao khó nhọc ,khai phong dựng nước của các vị Tiền Nhân ,Tổ Tiên ,Cha Ông chúng ta đã hy sinh xương máu hàng muôn nghìn đời để ngày nay , những người mang trong mình dòng máu đỏ da vàng dù ở bất cứ phương trời nào cũng không quên nhắc nhở em cháu của chúng ta đừng bao giờ quên lãng cội nguồn của mình .Chúng ta là những người VIỆT NAM ,đã có được một lịch sử kiêu hùng của bao thế hệ "Tiền Nhân" để lại .Hãy mạnh dạn thẳng bước trên "Trường Thế Giới" ,và hãy hiên ngang bước đi với niềm tự hào của một người VIỆT NAM thuộc dòng dõi "CON RỒNG CHÁU TIÊN"
Lữ Khách sẽ cố gắng sưu tầm những truyện về lịch sữ "DANH NHÂN,TIỀN NHÂN VIỆT NAM " để post lên đây ,mong các bạn Độc Giả khác vui lòng tiếp sức để thế hệ trẻ VIỆT NAM sau này không bị mai một về lịch sử nước VIỆT NAM muôn đời kiêu hùng và bất khuất .
Đây là một mong mỏi của người Lữ Khách ,đang tha phương lưu lạc nơi xứ người , dõi mắt vời trông về quê hương mến yêu của mình :VIỆT NAM ,TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI


Thành thật cảm ơn các bạn

Kính .
Lữ Khách




Edited by - Lu_khach on 05/27/2002 18:30:41
Lữ Khách  
#2 Posted : Monday, May 27, 2002 10:49:11 AM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,178
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 122 time(s) in 57 post(s)
Tác Giả :Lãng Nhân


Đối với những bậc danh nhân đã cống hiến cuộc đời cho sự tồn tại và thanh danh của đất nước, nhân dân ta trước đây không dám nêu tên tục, tên húy của các ngài, vì nêu ra là lỗi với lòng sùng bái đương nhiên phải có. Cho nên những tên tục, húy, chỉ được ghi trên sử sách, còn thường thì dùng biệt hiệu, bút danh hoặc chức vị (1), như Tiên Điền, Hưng Đạo vương, Lê Thái To\
å...
Từ ngày theo kiểu tây phương, lấy tên "cúng cơm" của các bậc tiền bối đặt cho đường phố, tuy cũng hiểu đó là một cách biểu dương, nhưng khi gọi "phố Nguyễn Du, đường Lê Lợi" hẳn ta cũng thấy lòng tôn kính không còn trọn vẹn nữa, có vẻ như chỏng lỏn, xách mé, mà không nhận ra ngaỵ

Chúng tôi dài dòng ở đây, cốt để tỏ rằng sự lễ độ của dân ta thể hiện bằng cách kiêng nể phương danh các đấng, nên khi viết "Hai Bà" chúng tôi không nêu tên họ, theo như nhân dân gọi ngôi đền trên bãi Đồng Nhân là "Đền Hai Bà", bởi ai cũng hiểu rằng gần hai nghìn năm rồi, hai chị em Bà đã oanh liệt dựng nước và chết cho nước, không có hai Bà nào khác.

============================================================================
Lạc tướng họ Trưng ở Mê-Linh (phủ Yên-Lãng tỉnh Phúc-Yên ngày nay) kết duyên với bà Man Thiện Trần Thị Đoan, cháu ngoại Hùng Duệ Vương (thứ 18). Lạc tướng sớm thất lộc. Bà quả phụ dốc lòng chăm sóc hai con gái sinh đôi ngày l tháng 8 năm Giáp tuất (Tây lịch 14). Chắc là chị, Nhị là em (2) được rèn luyện theo tinh thần yêu dân làng, yêu cảnh thổ và nhất là tập luyện võ nghệ để tự vệ trong buổi nhiễu nhương.

Bà Chắc sớm kết duyên với ông Đặng Thi-Sách. Ông này bấy giờ nối nghiệp cha Đặng Thi- Kế đứng cai quản hạt Châu-Diên (phủ Vĩnh-tường, tỉnh Vĩnh-Yên bây giờ) rất có uy tín với các châu khác trong nước.

Vào năm Giáp-Ngọ (T.L. 34) nhà Đông Hán thôn tính xong họ Triệu, chiếm nước Nam Việt, chia làm 9 quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ và Giao Chỉ (là nước ta), mỗi quận đặt dưới quyền một viên thái thú.
Đây là lần thứ nhất ta lệ thuộc nước Tàu, thái thú là Tô Định, một tên tham tàn hống hách, đày đọa nhân dân, bắt mò ngọc trai, tìm ngà voi, nộp thuế má nặng nề, thật là trăm bề điêu đứng.

Trước cảnh thương tâm, ông Sách nổi lòng công phẫn, gửi thư cảnh cáo Tô Định: "Phương Nam tuy nhỏ, nhưng ức vạn sinh linh cũng là con đỏ của triều đình. Kẻ đi tuyên dương đức hóa, phải lâý việc yêu dân trước hết. Ngươi nay làm chính trị, bắt tội người nói thẳng, bày mưu hay, mà lại thương kẻ luồn lọt, bợ đỡ, để cho nịnh thần chuyên quyền. Lúc nào cũng nói thương dân, mà bóc lột người dưới càng ngày càng dữ. Rán mỡ dân dể thỏa lòng dục. Cậy mình như gươm Thái A sắc bén, đâu có hay thân mình như giọt sương sớm dễ tan... Nếu ngươi không mau đổi chính sách, sẽ nguy vong đến nơi".

Sau đó vợ chồng bàn tính cơ mưu: một mặt thao luyện trai tráng cho tinh thục, một mặt liên lạc với hào kiệt các nơi làm vây cánh để chờ khi lực lượng hùng hậu, một quét là xong.

Trong khi xếp đặt cơ ngơi, một hôm ông Sách cải trang đi với mấy tùy tùng xuống Long Biên để xem xét tình hình. Không ngờ có kẻ gian theo dõi, mật báo Tô Định, hắn liền ra lệnh bắt và hành quyết ngay, không cho biện bạch một lờị Mấy tùy tùng phải trộm đem thi thể chủ về Châu Diên.

Trước hành vi man rợ này, bà Sách căm hận vô cùng, song thế còn mỏng manh, đành cố dần lòng, lo khâm liệm cho chồng, rồi giải tán gia nhân cùng trai tráng, chỉ giữ lại ít người thân tín, cho theo quan tài chồng về Mê Linh an táng.
Bà Man Thiện thấy tang lễ sơ sài, như chỉ làm lấy lệ mà thôi, có vẻ không hài lòng, nói mát:
_ Thấy cảnh con tan vỡ, mẹ thương quá là thương. Mà sao con bình tĩnh thế được, giỏi thật!
Bà Sách sụp ngay xuống, gục đầu trên gối mẹ, òa lên nức nở. Bà em chạy lại, khẽ đặt tay lên vai chị đang run rẩy theo từng tiếng nấc, nhỏ nhẹ nói:
_ Thưa mẹ, chị con mãi hôm nay mới khóc được ra tiếng đấy chứ! Còn thì cứ ấm ức trong lòng không dám hở ra, sợ đến tai bọn giặc thì làm sao tiếp tục dõi theo đường lối để hoàn thành chí nguyện cứu dân cứu nước của anh con, mà chúng đã cắt đứt nửa chừng. Đúng thế không, chị?
Bà chị vội lau nước mắt, đứng dậy ôm chầm lấy:
_ Cảm ơn em, em đã thấu hết tâm can của chị rồi đó! Vậy em sẽ giúp chị một tay chứ?
_ Sẵn sàng! Giúp cả hai taỵ.. vì tuy em còn nhỏ nhưng biết nghĩa lớn. Hơn nữa nhiều chị em nơi làng xóm cũng uất hận vì bọn lính Tàu hay cướp bóc, hãm hiếp, chẳng ai không muốn tống cổ chúng đi chọ
_ Vậy thì hay lắm. Em hãy dẫn dụ họ để lập thành một đội nữ binh, cố tập rượt cách chiến đấu cho thật hùng dũng. Phần chị sẽ cho người về Châu Diên gọi hết trai tráng lên đây họp với thanh niên Mê Linh, vào rừng sâu thao luyện cho kín đáọ Chị lại cho người thân tín đi liên lạc với các bậc anh thư anh kiệt bốn phương để làm hậu thuẫn, nhất định sẽ thành công...

Sau đó, nhờ bà Man Thiện chỉ dẫn và sắp đặt kỹ càng, chẳng bao lâu mọi việc tiến hành khả quan. Hưởng ứng với đại nghĩa, có Cao Doãn và phu nhân (3) Cùng 12 vị nữ hiệp:

_ Bát Nàn công chúa, quán làng Tiên La, huyện Diên Hà (Thái Bình ngày nay) nguyên là vợ Lạc tướng Trương Quán bị Tô Định hại sau khi giết ông Sách.

_ Bà Hoàng Thiều Hoa, người huyện Gia Hưng, tỉnh Thanh Hóa .

_ Bà Phùng Thị Chính cùng chồng là Đinh Lượng, chủ trại ở Sơn Tây .

_ Bà Lê Chân, quê làng An Biên, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương, có phụ thân bị Tô Định hại .

_ Bà Cao Nhứ, ở trại họ Cao, Hoa Lư .

_ Bà Đào Phương Dung cùng hai em là Đào Hiển Hiếu, Đào Quý Minh.

Khi thấy lực lượng có cơ đáp ứng được nhu cầu của kế hoạch: tướng giỏi, quân đông và khí thế bừng bừng ai cũng nóng lòng giết giặc, Hai Bà bèn đứng lên phất cờ khởi nghĩa .


Bấy giờ là năm 40 dương lịch, vào giữa mùa xuân, núi rừng Mê Linh bỗng rực sáng ánh đuốc từ muôn phương đổ lại, chiếu rạng đám đông quân binh và dân chúng. Dù đang mang tang chồng, bà Chắc không mặc tang phục, uy nghi trong bộ khăn vàng áo vàng tượng trưng cho Đại Nghĩa Dân Tộc, ung dung bước tới lễ đài cáo yết trời đất, bách thần và tiên tổ, rồi tuyên đọc bốn lời thề (4):
Một xin rửa sạch thù nhà
Hai xin đem lạt nghiệp xưa họ Hùng
Ba, kẻo oan ức lòng chồng Bốn, xin vẹn vẻ thửa công lênh nàỵ..


Trống đồng nổi lên từng hồi, làm rúng động bốn phương. Bà Chắc lại đọc lời tuyên ngôn:
"Tôi là nữ lưu, song đau xót cảnh lầm than của nhân dân vì người nước khác là Tô Định giữ thói chó dê, ngược chính hại dân, tôi là cháu ngoại triều Hùng, không thể điềm nhiên ngồi nhìn, nên mới đem nghĩa binh mà trừ bọn nghịch tặc, cúi xin trời đất thánh thần giúp cho lũ chúng tôi lấy lại được giang sơn, ấy là đại đức của trời đất nâng đỡ chúng tôi vậỵ"
Lễ xong, Hai Bà chia quân kéo đi, chiêng trống dưới thuyền, cờ biển trên đường rầm rộ xuống Long Biên, chỉ trong mấy ngày hạ hơn sáu mươi thành. Tô Định bỏ cả ấn tín chạy trốn(5).

Khi giặc không còn một bóng, Hai Bà thu quân về Mê Linh, mọi người hoan hô và thỉnh cầu Hai Bà lên ngôị Lúc ấy vào tháng 3 năm Canh Tí (40 d.l.)

Hai Bà liền làm lễ đăng quang Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh, suy tôn bà Man Thiện ngôi Thái hậụ Lệnh đầu tiên ban xuống là tưởng thưởng quần thần.

Bà Bát Nàn không chịu nhận chức tước, chỉ xin được đem một tên giặc về làng Tiên La đề chặt đầu làm lễ tế chồng, rồi xuống tóc đi tụ
Bà Hoàng Thiều Hoa nói: Tôi chỉ làm nhiệm vụ chứ không nghĩ đến danh vọng. Hai Bà phong làm "Đông cung tướng quân".

Bà Phùng Thị Chính được phong "Thị Nội tướng quân".
Bà Lê Chân được phong "Tiên phong nữ tướng quân".
Nhờ Thái Hậu chỉ dạy cách sắp đặt cho trăm họ yên ổn làm ăn, Hai Bà để hết tâm cơ vào việc tăng cường quân lực, vì biết thế nào bọn Tàu cũng trở lại trả thù .

Quả nhiên, hơn một năm sau, đến tháng 4 Nhâm dần (42 đ.l.) Hán Quang Vũ sai Mã Viện đem hai vạn quân cùng rất nhiều xe và thuyền phối hợp thủy bộ tấn công quân tạ Trung lang tướng Lưu Long, thủy sư đô đốc Đoàn Chí bị quân ta đẩy lui về vùng Hắc Giang, để lại hơn nghìn xác. Mấy tháng sau, giặc lại từ Cao Bằng Tuyên Quang đánh xuống, nhưng thất bại, tổn hại khá nhiềụ Lần thứ ba, Mã Viện từ Long Biên kéo lên, rồi cũng phải rút về vì bị kháng cự dữ dội .

Trong văn bia ở đền Hai Bà (6) có đoạn: "Mưu trí như Mã Viện mà còn bị thua ba trận! Thanh thế quân ta đã làm cho người Hán mâý năm mất ăn mất ngủ. Ôi trí tuệ biết nhường nào, khí khái biết nhường nào!" Nhất là trong trận thứ 3 này có một trường hợp lạ lùng: bà Thị nội tướng quân Phùng Thị Chính giao tranh với giặc trong tình trạng mang thai, đã gần kỳ sinh, giữa lúc múa gươm trên lưng ngựa thì trở dạ, phải lui vào trong quân, sinh xong, bọc con vào vạt áo giáp, rồi hiên ngang xông ra tiếp tục sát phạt, cho đến lúc địch phải lui mới quay về .
Trận sau, Mã Viện chia hai mặt tấn công, bắc đánh xuống, nam đánh lên. Quân ta phải phân đôi nên yếu hẳn, Hai Bà gắng cự địch phía hồ Lãng Bạc, không ngờ Mã dùng mưu vô sỉ: cho quân cởi bỏ quần áo tồng ngồng tiếp chiến. Nữ binh xấu hổ, hàng ngũ tự nhiên rối loạn, Hai Bà phải ra lệnh rút. Quân Tàu thừa thế đuổi nà. Đến xã Hát Môn, cùng đường, Hai Bà nhảy xuống sông Hát tự trầm. Lúc này vào ngày mồng 6 tháng 2 năm Quí mão (năm 43 dương lịch).

Khi hay tin này, bà Phùng Thị Chính và bà Lê Chân trẫm mình chết theo (7). Bà Đào Phương Dung cùng hai em, Đào Hiển Hiếu và Đào Quí Minh, khi rút khỏi vùng sông Hát, lui về miền Thổ quan, chiêu mộ nghĩa quân, tiếp tục đương đầu với Mã Viện (Di tích nay còn ở ngõ Thổ quan, ngõ Lệnh cư, gần ô Chợ Dừa, phố Khâm thiên, Hà Nộị Vùng này hiện còn một nơi có tên là Bãi Trận). Sau, không chống nổi quân Tàu, chị em họ Đào lui về bến Bồ Đề, và khi tan vỡ, bà Phương Dung cũng nhảy xuống sông tự tử (Điểm đặc biệt thời ấy: khi một phụ nữ đứng lên khởi nghĩa, chồng con và họ hàng đều hăm hở theo sau).

Mã Viện thắng trận bằng một thủ đoạn đê hèn, đúng như lời thơ Hải Nam Đoàn Như Khuê: Quắc thước khoe chi đầu tóc trắng (8) Cân thoa, đọ với gái quần hồng!
Hai Bà ở ngôi được bốn năm, mở trang đầu cuốn sử đấu tranh giành độc lập cho sông núị Quốc dân tỏ lòng biết ơn và kính phục nên đã lập đền thờ ở Cẩm Khê, Mê Linh, Hát Môn và Hà Nộị Đền ở Hà Nội lớn nhất, dựng ở bãi Đồng nhân, trên bờ sông Hồng, năm Đại định thứ 3 (l 142) triều Lý Anh Tông. Sau vì đất bãi lở nên năm 1819, dân làng Đồng nhân dời đền vào khu trường Giảng Vũ dưới triều Lê, ở thôn Hương Viên, cũng thuộc làng Đồng nhân, tức là địa điểm hiện naỵ Trong đền có tượng Hai Bà và 12 nữ tướng. Đến năm 1932 đền lại phải trùng tụ Dịp này, báo Trung Bắc mở cuộc thi thơ để kỷ niệm, bài trúng giải nhất là của ông Hoàng Thúc Hội:
Ngựa Gióng đã lên không
Rừng Thanh voi chửa lồng
Một chồi hoa nụ Lạc
Muôn dặm nước non Hồng
Trăng tỏ gương hồ Bạc Mây tan dấu cột đồng (9).


Ba mươi chữ ghi cả thời điểm lãn vĩ tích người xưa: giữa khoảng ông Gióng trước, bà Triệu sau, là lúc hoa cùng nụ nở bùng trên đất Việt, trăng Lãng bạc sáng như gương, xóa hẳn dấu cột đồng sau đó... Bấy nhiêu dẫn xuống câu kết:
Nén hương lòng cố quốc Xin khấn một lời chung

Lời khấn chung không lúc nào âm hưởng lại trầm thống và thành khẩn bàng trong ngày kỷ niệm Hai Bà năm 1932 này, giữa hồi cực thịnh của thực dân Pháp, khí thế của toàn dân nổi lên bừng bừng sau những vụ:

_ năm 1925 đòi phải tha cụ Phan Bội Châu
_ năm 1926 ùn ùn truy điệu cụ Phan Chu Trinh
_ năm 1930 khóc ông Nguyễn Thái Học cùng đồng chí bị chém ở Yên Bái (để 24 năm sau rũ sạch được gần l00 năm thuộc địa).

Đuổi được hùm cửa trước, ngờ đâu một bọn vô lại phản phúc mở cửa sau đón sói, quàng ách nô lệ khác lên núi sông, khiến cả triệu người, phần vùi thân đáy biển, phần thất thểu khắp năm châụ Giờ đây ở nước ngoài, gặp ngày mồng 6 tháng 2, ai không tưởng niệm đến Hai Bà trong lời khấn chung:
Hướng về nước thẳm non xa Xin cho muôn dặm một nhà mới cam ...

Lãng Nhân
____________________________________________________________________________ Chú thích:
1. 1. Ông Trần Quốc Tuấn, tước Hưng Đạo Đại Vương nay gọi là Trần Hưng Đạo, chúng tôi cho là không đúng.
2. 2. Theo thần tích làng Lâu thượng, huyện Bạch hạc, Phú thọ, quê hương Hai Bà chuyên nuôi tàm, khi chọn kén thì chia ra 2 loại: kển dầy gọi là kén chắc, mỏng là kén nhì, nên theo nghề đặt tên. Chắc là chắc bền. Còn Trắc, chữ Hán là nghiêng, hẹp, đo lường, thương xót, e không hợp dùng làm lên (Trưng Vương lịch sử Cúc Hương Hoàng Thúc Hội - Tài liệu Thái Văn Kiểm).
3. 3. Trưng vương lịch sử - Hoàng Thúc Hội - tài liệu Thái văn Kiểm.
4. 4. Theo Thiên Nam ngữ lục.
5. 5. Trưng Vương Côag Thần Phủ Lục - Viện Khảo Cổ Sàigòn - Sử địa số 22 tháng 4 năm 1971).
6. 6. Văn bia do tiến sĩ Vũ Hoán Phủ soạn tháng 5 năm Canh Tí (Minh Mạng 21 - 1840). Nguyên văn: "Trí như Phục ba nhi tam tiệp! Thanh thế năng sử Hán nhân tiêu can giả sổ nẫm. Thị hà đằng trí tuệ, hà đẳng nghĩa khái!"
7. 7. Sau bà Lê Chân được thơ øtrong ngôi đền ở Ngõ Nghè, Hải Phòng
8. 8. Sử Tàu khen Mã Viện là "quắc thước ông" 9. 9. Mã Viện khi rút quân về, cho trồng một cột đồng ở biên giới, trên cột khắc hàng chữ "Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt". Dân ta mỗi khi qua đó, lấy đất lấy đá ném vào chân cột, dần dần cột chìm mất không tìm ra dấu tích.



yeunhac  
#3 Posted : Tuesday, May 28, 2002 6:45:40 AM(UTC)
yeunhac

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 33

Anh Lữ Khách mến .
Anh cho phép YN được copy and paste bài Hai Bà Trưng nầy vào" tập dự trử " của Yn để làm tài liệu .

Nếu nhóm cựu nữ sinh TV sau nầy có làm báọ.Muốn đăng bài nầy có được không Anh ??? Có bị kiện không ??
Nếu khi nào đăng báo Yn sẽ nhắn trên net...và gởi báo tặng Anh... có được không...Anh ?...( lại cái con bé hay hỏị.rắc rốị..nữạ..))
Thành thực cám ơn Anh trước .
Yn







Edited by - yeunhac on 05/28/2002 15:49:22
Lữ Khách  
#4 Posted : Tuesday, May 28, 2002 8:57:39 AM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,178
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 122 time(s) in 57 post(s)


YN thân mến .

YN muốn lưu giữ lại tài liệu này xin cứ tự nhiên .Đây là công trình biên soạn của các nhà học giả ,sử gia của VIỆT NAM ta .Các vị này cũng muốn công trình biên khảo và sưu tập của các vị được phổ biến rộng rãi để cho những đàn con Lạc Việt ở khắp năm châu bốn bể không bao giờ quên đi cội nguồn VIỆT NAM của mình .Thành kính cảm ơn các bậc tiền bối đã bỏ nhiều công lao để gìn giữ nền Văn Hoá Dân Tộc của người VIỆT NAM .

Nếu sau này YN muốn đăng lại bài này trên báo của những cựu nữ sinh TV ,chỉ xin yêu cầu YN vui lòng ghi chú rõ ràng tên của Tác giả .LK nghĩ rằng không ai nỡ đi kiện nữ sinh TV đâu .

Trong tương lai ,nếu YN có nhã ý tặng báo cho LK ,thật là một điều vinh hạnh .Xin cám ơn trước .

LK

toquoc  
#5 Posted : Tuesday, May 28, 2002 7:10:54 PM(UTC)
toquoc

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,720

Ngòai bài thơ của cụ Cúc Hương Hòang Thúc Hội đề ngay trên vách bàn thờ Hai Bà tại làng Đồng Nhân ,huyện Thanh Trì còn biết bao văn thơ khác nhắc đến Hai Bà ;

Bài của cụ Dương Bá Trạc : Nước nhà gặp cơn bĩ,
Trách nhiệm gái trai chung
Quyết lo đền nợ nước ,
Há những vị thù chồng !
Tham tàn căm tướng chệt
Tai mắt tủi nòi hồng
Em ơi đứng cùng chị,
Thù riêng mà nghĩa công
Xin đem phận bồ liễu Đánh liều với non sông !


Bài thơ của cụ Nguyễn văn Toán tự Toan Ánh : Nên gương muôn thuở gái Châu Phong,
Chị cũng như em quyết một lòng
Hận nước lấy binh đao rửa sạch
Thù nhà đem cung kiếm đền xong
Ba năm uy trấn miền Nam-Việt
Một trận lừng danh gái Lạc Hồng
Miếu Hát bên sông còn dấu tích Lĩnh Nam cân quốc nữ anh hùng


Bài thơ của người dân xã Hát Môn ,huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây ,nơi Hai Bà trầm mình ,ngay bên bờ sông Hát , truyền tụng : Tay tiên phất ngọn cờ đào,
Sáu mươi thành quách thu vào một tay,
Cơ Quân gặp bước không may
Than ôi ! Sông Hát,nước nay là mồ!
Mảnh gương tiết nghĩa chưa mờ, Muôn thu giọt nước Tây Hồ vẫn trong

(Trích "nếp cũ" của Toan Ánh ,Nam Chi tùng thư, Saigon 1969)
toquoc






Edited by - toquoc on 05/29/2002 03:40:13
Lữ Khách  
#6 Posted : Wednesday, May 29, 2002 7:08:50 AM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,178
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 122 time(s) in 57 post(s)
Cảm ơn bác Toquoc đã đóng góp thêm .

Sau đây Lữ Khách trích đăng thêm một bài thơ viết về Hai Bà .
Trưng Nữ Vương
Thơ Võ Thị Xuân Đào
*************** Thi Sách
Oán Tô Định hại dân ta
Lên rừng xuống biển ngọc ngà hiến dâng
Thẹn ta sức mọn gươm cùn
Bút thần thánh cũng không dung bạo tàn
Trưng Trắc
Chàng vào trong chốn sói lang
Thương dân yêu nước gian nan chẳng từ
Thiếp về khép cửa phòng thư
Chờ chàng cho trọn duyên tơ nghĩa tình
Trưng Nhị
Quê nhà nhận được hung tin
Thù riêng hận nước Mê Linh định ngày
Gươm vàng voi trắng từ đây
Đuổi quân giặc cướp chốn nầy bình an
Mã Viện
Phục Ba Mã Viện tiến quân
Quyết cùng nhị tướng tranh hùng cỏi nam
Đuổi theo đến tận Hát Giang
Sức cùng lực cạn mênh mang bến bờ
Tuẩn tiết
Tiếc cho gấm vóc cơ đồ
Ba năm xây dựng bây giờ cũng tan
Thân nầy gởi lại Hát Giang
Nghìn sau hậu thế gương vàng sáng soi

Trầm hương đốt giữa mây trời
Tế hồn Trưng nữ một đời anh linh
















Edited by - Lu_khach on 05/29/2002 15:19:12
Lữ Khách  
#7 Posted : Wednesday, June 5, 2002 9:34:03 AM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,178
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 122 time(s) in 57 post(s)
Lịch Sử Việt Tác giả: Sử Việt
An Dương Vương ===========

Lời nói đầu
Theo truyền thuyết sử cũ thì An Dương Vương tên thật là Thục Phán là cháu nước Thục. Nước Thục không phải là nước Thục ở vùng Tứ Xuyên đời chiến quốc (Trung Quốc) mà là một bộ tộc đã tới vùng Bắc Bộ từ lâu, sống xen kẽ với người Lạc Việt và người Tháị Tục gọi là người âu Việt. Chuyện xưa kể rằng: Vua HùngVương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên gọi là Mỵ Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gã nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi .

Không lấy được Mỵ Nương, Thục Vương căm giận, di chúc cho con cháu đời sau thế nào cũng phải diệt nước Văn Lang của Vua Hùng. Đến đời cháu là Thục Phán mấy lần đem quân sang đánh nước Văn Lang. Nhưng Vua Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục.

Vua Hùng Vương nói: ta có sức thần, nước Thục không sợ hay sao ? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo sang đánh nước Văn Lang, vua Hùng Vương còn trong cơn saỵ Quân Thục đến gần, Vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự tư û. Tướng sĩ đầu hàng.

Thế là nước Văn Lang mất.
Năm Giáp Thìn (257 trước công nguyên), Thục Phán dẹp yên mọi bề, Xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu âu Lạc (tên hai nước âu Việt và Lạc Việt ghép lại) đóng đô ở Phong Châu ( Bạch Hạc, Vĩnh Phú).


An Dương Vương dẹp Tần
Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc thì Doanh Chính nước Tần đã kết thúc mọi hỗn chiến đời chiến quốc, thống nhất nước Trung Hoa, lập nên một nhà nước lớn mạnh. Để thõa tham vọng mở mang lãnh thổ, Doanh Chính huy động lực lượng to lớn phát động cuộc chiến tranh xâm lược Bách Việt.

Năm 218 trước công nguyên, Doanh Chính huy động 50 vạn quân chia làm 5 đạo đi chinh phục Bách Việt. Để tiến xuống miền Nam, đi sâu vào đất Việt, đạo quân thứ nhứt củ quân Tần phải đào con kênh nối sông Lương (vùng An Hưng Trung Quốc ngày nay) để chở lương thực. Nhờ vậy, đạo quân chủ lực của quân Tần do viên tướng lừng danh Đồ Thư thống lĩnh vào đất Tây âu, giết tù trưởng, chiếm đất rồi tiến vào Lạc Việt. Nhân dân Lạc Việt biết không thể đương nổi quân Tần nên bỏ vào rừng để bảo toàn lực lượng. Thục Phán được các Lạc tướng suy tôn làm lãnh tụ chung chỉ huy cuộc kháng chiến này .Bởi vậy khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào đất Lạc Việt, chúng gặp khó khăn chồng chất.

Quân địch tiến sâu đến đâu, người Việt làm vườn không nhà trống và trốn rừng đến đó . Chẳng mấy chốc quân Tần lâm vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân Tần đã mệt mỏi, chán nản và khổ sở vì thiếu lương, khí hậu độc địa, thì người Việt, do Thục Phán làm tướng, mới bắt đầu xuất trận. Chính chủ tướng Đồ Thư trong một trận giáp chiến đã bị bắn hạ .

Mất chủ tướng, quân địch hoang mang mở đường máu tháo chạy về nước. Như vậy, sau gần 10 năm lãnh đạo nhân dân âu Việt – Lạc Việt kháng chiến chống quân Tần thắng lợi .
Thục Phán đã thực sự nắm trọn uy quyền tuyệt đổi về quân sự lẫn chính trị, khiến cho uy tín của Thục Vương ngày càng được cũng cố và nâng cao . Từ vị trí ấy, Thục Vương có điều kiện thi thố tài năng, dựng xây nước âu Lạc vững mạnh.







Edited by - Lu_khach on 06/05/2002 17:41:42
Lữ Khách  
#8 Posted : Wednesday, June 5, 2002 10:09:44 AM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,178
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 122 time(s) in 57 post(s)
An Dương Vương xây thành Cổ Loa
Sau chiến thắng vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân Tần, Thục Vương quyết định xây thành Cổ Loa .

Tục truyền rằng Thục An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều đổ. Sau có thần Kim Quy hiện lên, bò quanh bò lại nhiều vòng dưới chân thành. Thục An Dương Vương bèn cho xây theo dấu chân Rùa vàng. Từ đó, thành xây không đổ nữạ Sự thực truyền thuyết đó như thế nào ?

Thời ấy, tổ tiên ta chưa có gạch nung. Bởi vậy thành Cổ Loa được xây bằng đất ở chính địa phương. Thành có 9 vòng. Chu vi ngòai 8km, vòng giữa 6,5km, vòng trong 1.6km... Diện tích trung tâm lên tới 2km2 . Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5m, có chỗ 8-12m. Chân lũy rộng 20-30m, mặt lũy rộng 6-12m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khốị Xem vậy công trình Cổ Loa thật đồ sộ, trong khi khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu . Chính vì vậy, việc xây dựng thành Cổ Loa cực kỳ khó khăn. Thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu . Nhưng điều đáng tự hào là cuối cùng thành đứng vững. Thục An Dương Vương đã biết dựa vào những kinh nghiệm thực tế để biến cải nền, móng khắc phục khó khăn. Vết chân rùa thần chính là bí mật tổ tiên khám phá, xử dụng. Ngày nay, khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học thấy rõ chân thành được chẹn một lớp tảng đá. Hòn nhỏ có đường kính15cm, hòn lớn 60cm. Cần bao nhiêu đá để xử dụng cho công trình ?

Kỹ thuật xếp đá ? Đây quả là một kỳ công.

Thành Cổ Loa chẳng những là một công trình đồ sộ, cổ nhất của dân tộc mà còn là công trình hoàn bị về mặt quân sự. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dầy đặc, Tạo thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh. Thuở ấy, sông Thiếp – Ngũ Huyền Khê - Hòang Giang thông với sông Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh). Bởi vậy, ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Với thuật đi sông vượt bể vốn là sở trường của người Lạc Việt, chẳng mấy chốc, các đầm phá quanh thành Cổ Loa biến thành quân cảng. Rồi nhân dân được đưa tới khai phá rừng đa ( Gia Lâm), rừng Mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm)v.v... thành ruộng. Những đội thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất hiện. Bên côn, kiếm, dáo, mác đủ loại, bàn tay sáng tạo của cha ông ta đã chế tạo ra nỏ liên châu, mỗi phát bắn hàng chục mũi tên. Cũng tại Cổ Loa, kỹ thuật đúc đồng cổ đã được vua Thục khuyến khích. Hàng chục vạn mũi tên đồng, những mũi tên lợi hại, có độ chính xác cao, kỹ thuật tinh vi, dùng nỏ liên châu đã được bàn tay thợ tài hoa sản xuất tại đây .

Với vị trí thuận lợi ấy, với cách bố trí thành có 9 lớp xoáy trôn ốc, 18 ụ gò cao nhô hẳn ra chân lũy để có thể từ cao bắn xuống, với vũ khí nỏ thần và những mũi tên đồng lợi hại, sức mạnh quân sự tổng hợp của Cổ Loa thời ấy thật đáng sợ .
Thành Cổ Loa là sự đúc kết tuyệt vời về trí tuệ của cha ông, là công trình sáng tạo kỳ vĩ của dân tộc .


An Dương Vương bãi chức Tướng Quân Cao Lỗ
Chuyện xưa kể rằng:

Một lần Thục An Dương Vương hỏi tướng quân Cao Lỗ, người thiết kế và chỉ huy công trình xây thành Cổ Loa:

Mấy năm nay nhà Triệu với âu Lạc giao hảo thuận hòa . Nay con trai họ là Trọng Thủy muốn cầu hôn với Mỵ Châu, ông nghĩ thế nào ? Riêng ta muốn chấp thuận lời cầu hôn cốt để hòa hiếu, tránh nạn binh đaỏ

Cao Lỗ suy nghĩ hồi lâu rồi tâu :
Việc này hệ trọng lắm, xin Vương thượng cho nghĩ ba ngày .

Về nhà, Cao Lỗ suy nghĩ băn khoăn lắm. ý vua An Dương Vương đã rõ, nếu không chấp thuận, có thể bĩ bãi chức. Nếu đồng tình thì vận nước có cơ nguy .

Mấy hôm sau, vào chầu vua, Cao Lỗ tâu :
Xưa nay chưa thấy kẻ bại trận lại xin cho con trai ở gửi rể. Chẳng qua họ muốn biết cách bố phòng của Loa Thành mà thôi . Việc ngàn lần không nên.

Thục An Dương bỗng nỗi giận :
Nhà Triệu đánh mãi âu Lạc không thắng, muốn mượn chuyện cầu hôn để xí xóa hiềm khích, ta lẽ nào không thuận ? ông già rồi, ta cho ông về nghỉ .

Cao Lỗ không ngạc nhiên. Vốn điềm đạm, ông chỉ nói :
Việc đúng sai còn có vầng nguyệt soi sáng, thần không ân hận khi nói điều phải .

Vì không nghe lời khuyên của Cao Lỗ, An Dương Vương đã mắc mưu giặc khiến cho vận nước tan tành.

Lấy được nước âu Lạc, nhà Triệu xác nhập vào quận Nam Hải với âu Lạc thành nước Nam Việt.
Vốn là người quỷ quyệt, là rút được nhiều kinh nghiệm trong việc thống trị người Nam Việt, cho nên Triệu Đà đã áp dụng chính sách hiểm độc gọi là "Dĩ di công di", tức là chính sách dùng người Việt trị người Việt. Triệu Đà vẫn giữ nguyên quyền vị cho các lạc tướng, dùng họ đễ cai trị nhân dân âu Lạc. Triệu Đà chỉ đặt một số ít quan lại và một số quân đồn thú để kiềm chế các lạc tướng và đốc thúc họ nộp phú công, mục tiêu chính của cuộc xâm lược lúc đó
ù.
Sử Việt



Edited by - Lu_khach on 06/05/2002 18:11:25
Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.