Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
Lữ Khách  
#1 Posted : Saturday, May 25, 2002 4:00:00 PM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,178
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 122 time(s) in 57 post(s)



Câu Chuyện Của Nữ Trung Sĩ Ngô Thị Hồng Phượng
=====================================================

Đêm mồng một tết Mậu Thân, Phượng được phân công trực tại đại đội hành chánh tiếp vận 350 của cô ở Sóc Trăng trong khi đơn vị trưởng và đa số binh sĩ đều về nhà đón xuân với gia đình. Giữa lúc đang nô đùa cùng trẻ em trong làng nhân dịp đầu xuân, Phượng bỗng nghe tiếng súng nổ râm ran khắp nơị

Lập tức Phượng vội vàng quay trở lại đơn vị. Đằng sau căn cứ của đại đội 350 là hậu cứ của tiểu đoàn 67 an ninh phi trường, bên trái là trại an ninh quân đội, phía trước mặt căn cứ đại đội 350 là nơi đóng quân của trung đoàn 31 thuộc sư đoàn 21 bộ binh và liên đoàn 41 Biệt động quân. Phía bên trái là khu nghĩa địa chạy dài tiếp giáp với hàng rào của phi trường Sóc Trăng.
Nhiều binh sĩ hành chánh trong hậu cứ của tiểu đoàn 67 và đại đội 350 là lính kiểng, là con em của những gia đình giàu có gửi gắm để khỏi phải ra trận, do đó có nhiều người chẳng hề biết sử dụng vũ khí. Trong khi băng bó cho các binh sĩ bị thương, Phượng được nhiều người trong khu gia binh chạy về báo là Việt cộng đang tấn công vào hậu cứ của tiểu đoàn 67. Trong cơn nguy cấp giữa một đám binh sĩ chẳng hề có kinh nghiệm chiến đấu, và đám thân nhân của gia đình các binh sĩ đang kêu khóc vì hoảng sợ, Phượng cảm thấy mình có trách nhiệm nặng nề và phải làm một điều gì đó để cứu vãn tình hình. Lập tức cô nữ quân nhân thường ngày chỉ làm công việc hành chánh lo vấn đề lương bổng và tiếp liệu cho quân đội, bỗng thấy mình trở thành một viên chỉ huy tác chiến cương quyết.

Phượng ra lệnh mở kho đạn và trang bị vũ khí cho tất cả binh sĩ có mặt, cấp tốc chỉ dẫn cách sử dụng vũ khí cho các binh sĩ hành chánh và bố trí hai người vào một lô cốt. Sau khi dùng loa kêu gọi các gia đình binh sĩ trong khu gia binh của tiểu đoàn 67 tập trung về vị trí an toàn trong căn cứ của đại đội 350, Phương ra lệnh cho hai cây trung liên từ hai phía trái và phải của đơn vị bắn ác liệt vào cộng quân đang tìm cách tấn công vào căn cứ của đại đội 350 từ phía hậu cứ tiểu đoàn 67 và từ phía nghĩa địạ
Phượng cũng chẳng hiểu tại sao lúc đó tất cả các binh sĩ hiện diện đều răm rắp chấp hành mọi điều động của cô, coi cô là một chỉ huy thực sự của họ.

Vừa trấn an các binh sĩ đang run sợ vì đụng trận lần đầu tiên trong đời, Phượng vừa phải chạy như con thoi từ giao thông hào này qua giao thông hào khác để trông coi việc cung cấp đạn dược vừa động viên tinh thần của anh em binh sĩ. Khi phát hiện thấy nhiều cộng quân từ phía nghĩa địa đã tiến sát đến giao thông hào của đơn vị, đích thân Phượng đã dùng lựu đạn ném liên tục về phía cộng quân cho đến khi không thấy chúng tràn lên nữạ Trong khi đó, các đơn vị bạn chung quanh đều phải đương đầu với các cuộc tấn công của cộng quân và hầu như không đơn vị nào tiếp cứu được đơn vị nàọ Vì thế, mọi chiến sĩ có mặt bên cạnh Phượng đều coi Phượng là chỉ huy của các binh sĩ thuộc hậu cứ tiểu đoàn 67 và đại đội 350.

Một lúc sau thiếu úy Nguyễn Gia H. gọi máy truyền tin yêu cầu gặp Phượng và bảo cô gọi xin phi pháọ Tuy nhiên trong tình trạng chiến đấu căng thẳng, Phượng cho biết cô không có bản đồ và đã quên mất cách chấm tọa độ như thế nàọ Cuối cùng chính thiếu úy H. đã đích thân gọi xin phi cơ yểm trợ để chia lửa với Phượng.
Khi các binh sĩ trong các giao thông hào đã lên tinh thần và cầm chân được cộng quân, Phượng lại phải chạy vào hầm trú ẩn để an ủi vợ con của các binh sĩ trong khu gia binh đang kêu khóc như ri vì sợ hãị Kế đó, Phượng còn phải chạy xuống câu lạc bộ đang bốc cháy ngùn ngụt để tìm sữa cho những em bé đang kêu khóc vì đóị Khi bọn cộng quân đặt chất nổ phá hủy kho đạn của đơn vị, cũng Phượng là người duy nhất quyết định phải chạy vào cứu càng nhiều đạn dược càng tốt mặc dầu nhiều binh sĩ nhất mực ngăn cản cô\.

Cuộc chiến đấu bắt đầu lúc 1 giờ đêm mồng một tết cho đến rạng sáng ngày mồng hai thì tiếng súng giao tranh bắt đầu tạm lắng dịu và các đơn vị của tiểu đoàn 67, an ninh quân đội, thiết giáp và biệt động quân cũng đã làm chủ được tình hình và bắt tay được với nhau trong khu vực. Trong khi thiếu úy H. vui mừng được gặp lại Phượng bình an vô sự và các binh sĩ của các đơn vị bạn vui vẻ chúc mừng thắng lợi của nhau thì bọn tàn quân Việt cộng trên một cao ốc gần phi trường tìm cách bắn lén vào phía các chiến sĩ của tiểu đoàn 67. Phượng đã cùng các chiến sĩ của tiểu đoàn này dùng M-79 bắn thẳng vào cao ốc bọn chúng đang trú ẩn và sau đó dũng cảm theo chân các binh sĩ này vừa bắn vừa tiến lên các cầu thang tái chiếm cao ốc, bắt giữ được ba tên Việt cộng cùng đường đang chui trốn dưới một chiếc bàn ăn. Khi bị bắt giữ ba tên này còn nhai trong miệng những miếng bánh chưng, bánh tét mà chúng vơ vét được của đồng bào trong đêm.

Khi nghe cộng quân vẫn còn chiếm giữ rạp hát lớn nhất tỉnh Sóc Trăng là rạp Hòa An và từ đó bắn vào các chiến sĩ quân lực VNCH, thiếu úy Nguyễn Gia H. đã mang đơn vị của anh đến giải tỏạ Phượng cũng hào hứng muốn theo chân đoàn quân, tuy nhiên lo ngại cho sự an nguy của Phượng, thiếu úy H. đã giao Phượng lại cho bố mẹ của anh quản lý.

Nghĩ đến các chiến sĩ đang xung trận tại rạp hát Hòa An, Phượng ngồi không yên và tìm cách để đi đến đó bằng cách mang trên người càng nhiều thức ăn càng tốt cho các chiến sĩ của tiểu đoàn 67. Trên đường đi, vì mặc quân phục, Phượng đã bị bọn tàn quân Việt cộng nhắm bắn nhưng may mắn cô đã đến rạp hát Hòa An bình yên vô sự và tiếp tục chạy giữa làn đạn để đưa thức ăn đến cho từng chiến sĩ đang tìm cách đánh bật bọn cộng quân ra khỏi rạp hát Hòa An.

Đến 5 giờ chiều ngày mồng hai, phần lớn cộng quân đột nhập vào tỉnh lỵ Sóc Trăng đã bị tiêu diệt trong khi bọn tàn quân may mắn sống sót đã rút hết ra khỏi các tiểu khu và thị trấn. Khi đi thu dọn chiến trường Phượng và các binh sĩ dưới quyền chỉ huy của nàng trong đêm đã ngạc nhiên và vui sướng khi nhận ra 30 tên cộng quân đã bỏ xác tại trận ngay phía sau căn cứ của đại đội 350 và phía nghĩa địa, nơi Phượng đã ra lệnh cho hai cây trung liên bắn liên tục cũng như chính bản thân cô đã ném nhiều trái lựu đạn về phía cộng quân. Trong khi phía đơn vị của cô, chẳng có một binh sĩ nào hy sinh ngoại trừ một số binh sĩ của tiểu đoàn 67 bị những tên Việt cộng nằm vùng giả dạng làm người quen vào doanh trại chơi và đâm lén.

Đa số những tên cán binh nằm chết phơi thây trước giao thông hào của đại đội 350 đều là những thanh niên còn rất trẻ, nhiều người chỉ mặc độc có một chiếc quần xà lỏn và trong túi chỉ có một dúm thuốc rê với chiếc hộp quẹt dầu hôi rẻ tiền.


Là con gái cưng của một gia đình đại điền chủ miền nam theo Phật giáo, tuy nhiên Phượng đã được gia đình gửi vào học nội trú một trường dòng Thiên Chúa Giáo ở Sài gòn, theo truyền thống của những gia đình giàu có ở miền nam vào thời ấỵ Cuối tuần khi được bà ngoại đón về quê ở Chương thiện chơi, Phượng thường được gặp những anh lính Cộng hòa, trên đường hành quân, ghé qua làng dừng chân trong giây lát. Hình ảnh những người trai thời loạn, xếp bút nghiên lên đường chiến đấu bảo vệ quê hương đã khiến Phượng hết lòng khâm phục, và hình ảnh những chàng trai hiên ngang trong những bộ quân phục hào hùng đã trở thành thần tượng in sâu vào tâm hồn của cô bé học trò.

Sinh năm 1950, năm 1966 Phượng vừa tròn 16 tuổi và đang học lớp đệ tam trường dòng. Không còn đủ kiên nhẫn để chờ đợi cho đến khi đủ tuổi gia nhập quân đội Phượng đã khai gian thêm cho mình hai tuổi và may mắn được nhận vào học trường đào tạo nữ quân nhân của quân lực VNCH ở Phú Thọ.

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống võ thuật, ngay từ khi còn nhỏ, Phượng đã là một cô bé hiếu động, can đảm và cương trực. Sau 3 tháng huấn luyện trong quân trường, do thành tích học tập xuất sắc, Phượng được cấp trên đề nghị giữ lại trung tâm làm huấn luyện viên. Nhưng cô nữ quân nhân trẻ tuổi từ chối vì chỉ muốn nhanh chóng được phân công về phục vụ tại các đơn vị, để có thể tận hưởng hương vị cuộc đời thật sự của một người lính.

Kết thúc khóa 1 đào tạo hành chánh tài chính, Phượng được phân công về làm việc tại đại đội hành chánh tiếp vận 350 đóng tại Ba Xuyên, trước gọi là tỉnh Sóc Trăng, chuyên trách việc phát lương cho binh sĩ và làm thủ tục hành chánh cho các gia đình thân nhân tử sĩ, quản lý việc phân phối quân nhu và quân dụng cho các đơn vị đóng trong tiểu khụ

Ngày đầu tiên đến nhận nhiệm sở là một ngày không vui cho Phượng vì cô đã phải đối diện ngay lập tức với hành vi khả ố của viên sĩ quan chỉ huy là đại úy Hà Văn Liêụ Theo điều luật của quân đội, nữ quân nhân không được bỏ bất cứ vật dụng gì vào túi áo ngực và Phượng nghiêm chỉnh chấp hành. Tuy nhiên đại úy Liêu vẫn cứ một mực khẳng định rằng Phượng có cất giữ vật gì trong túi áo và quyết định khám xét túi áo ngực của cô\. Thật ra viên sĩ quan này chỉ muợn cớ kiểm tra tác phong quân nhân để thực hiện những hành vi khả ố xách nhiễu tình dục. Ngay khi nhận biết được hành vi khả ố của viên sĩ quan, Phượng không nén được tức giận, đã vung tay đấm một cú đấm trời giáng vô mặt viên đại úỵ Cú đấm của một cô gái 16 tuổi đã được huấn luyện võ thuật ngay từ nhỏ khiến viên đại úy lãnh đủ. Một dòng máu chảy dài từ mũi và một bài học nhớ đời cho tay sĩ quan có máu ba lăm. Tuy nhiên sự kiện đáng tiếc nói trên cũng là một cái cớ để đại úy Liêu luôn tìm mọi cách thi hành kỷ luật Phượng về sau và khiến cho người nữ quân nhân trẻ tuổi, có khả năng và nhiệt tình phải mang biệt danh là "trung sĩ muôn năm" vì chẳng bao giờ có khả năng được đề bạt thăng tiến trong con đường binh nghiệp. Thay vì đối xử công bằng với Phượng, đại úy Liêu đã luôn luôn o ép cô nữ quân nhân thuộc cấp và từ chối không cho Phượng được nghỉ phép thường niên theo đúng tiêu chuẩn. Sau nhiều lần xin không được, vì tuổi trẻ cạn nghĩ và bồng bột Phương tự ý bỏ về Sài gòn và bị đại úy Liêu báo cáo đào ngũ. Khi quay trở lại đơn vị Phượng bị kỷ luật đưa đến tái huấn luyện tại một trung tâm dành cho lính ba gai trong quân độị

Cũng trong thời gian làm việc tại tiểu khu Ba Xuyên, Phượng quen với một sĩ quan trẻ thuộc tiểu đoàn 67 bảo vệ an ninh phi trường Sóc Trăng đóng kế cận với đơn vị của cô\. Sau khi đi học một khóa huấn luyện chống du kích ở Mã Lai về, viên thiếu úy trẻ Nguyễn Gia H. tối nào cũng chỉ huy đơn vị của mình tổ chức những cuộc hành quân bảo vệ vòng đai an ninh của phi trường Sóc Trăng nhằm chống lại những âm mưu và hoạt động phá hoại của bọn du kích Việt cộng. Vốn ham mê những hoạt động phiêu lưu, nguy hiểm, nhiều lần Phượng trút bỏ bộ quân phục nữ quân nhân và mặc vào bộ quân phục tác chiến theo viên sĩ quan trẻ tiến hành những cuộc hành quân truy lùng bọn du kích cộng sản. Chính trong những cuộc hành quân này, Phượng đã được thiếu úy H. hướng dẫn cách sử dụng vũ khí, cách chỉ huy hành quân, kể cả cách dùng bản đồ chấm tọa độ và gọi phi pháọ Tuy nhiên, những chuyến đi hành quân như thế đã khiến cho Phượng gặp rắc rối rất nhiều với thượng cấp vì cô đã vi phạm kỷ luật quân đội khi rời bỏ đơn vị của mình để làm những việc không được cấp trên đồng ý. Đền bù lại tình yêu đã nảy nở giữa cô nữ quân nhân gan dạ và viên sĩ quan tình báo trẻ tài ba, và họ đã nên vợ thành chồng sau biến cố Tết Mậu Thân năm 1968.


Sau năm 1968 Phượng được thuyên chuyển về phục vụ tại sư đoàn 21 bộ binh dưới quyền chỉ huy của tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và sau đó lại về phục vụ tại trung đoàn 31 thuộc sư đoàn nàỵ Năm 1973 Phương xin giải ngũ và từ đó hạnh phúc với cuộc đời làm vợ và làm mẹ, trong khi chồng là thiếu úy Nguyễn Gia H., lúc này đã là đại úy phân chi khu trưởng tại Ba Xuyên.

Khi cộng quân tiến vào Sài gòn ngày 30.4.1975 và sau đó tiến chiếm các tỉnh lỵ khác thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nhiều sĩ quan của quân lực VNCH đã chọn cái chết oanh liệt ngay tại đơn vị chứ không chấp nhận đầu hàng cộng sản. Thiếu tá Nguyễn Gia H. phân chi khu trưởng thuộc tiểu khu Ba Xuyên cũng quyết định tử thủ với đơn vị của anh cho đến khi thất thế bị cộng quân bắt làm tù binh và mang đi biệt tích cho đến 10 năm saụ

Trong ngôi nhà của mình, Phượng sống với ba đứa con thơ mà đứa lớn nhất là bé Hân chỉ mới có 7 tuổi và đứa nhỏ nhất mới có hai tuổi và hãi hùng đón nhận những tin tức kinh hoàng. Nhiều bà con xóm giềng đến nhà Phượng lánh nạn đã kể một đại úy tên Thơm đã bị những tên cán binh cộng sản xẻo thịt và xát muối ớt vào những vết thương để tra tấn. Cuối cùng chúng đã dùng lưỡi lê của tiểu liên AK-47 đâm viên đại úy một nhát từ sau lưng ra trước ngực ngã sấp chết tức tưởi ngay trước mặt vợ con.

Sáng sớm ngày 1.5.1975, một tiểu đội cộng quân trên một chiếc GMC cướp được của quân lực VNCH đổ xịch trước nhà của Phượng. Trong khi đám thuộc hạ bao vây chung quanh căn nhà, tên chỉ huy Dương Phước Tranh cùng với một số tên khác ập vào nhà và bắt Phượng trói ké lại và đẩy cô đứng sát vào tường trước cặp mắt kinh hoàng của ba đứa con thơ\.

Lăm lăm một cuốn sổ ghi tên những đối tượng gọi là có nợ máu với nhân dân trong tay, tên Tranh hạch hỏi Phượng nơi cất giấu vũ khí, điện đài và tài tiệu mật của chồng cô\. Trước đó, Phượng đã giấu vũ khí và máy truyền tin xuống chiếc ao cá đàng sau nhà.

Một tay dí khẩu K-54 vào đầu Phượng, một tay dí sát cuốn sổ ghi danh sách nợ máu vào mặt Phượng, tên Tranh hằn học bảo: "Chính mi là mụ Phượng Mậu Thân. Chính mụ là nhân vật đầu sổ, cách mạng cần thanh toán nợ máu".


Cho đến lúc đó Phượng mới hiểu rằng thành tích chiến đấu của cô trong đêm mồng một tết Mậu Thân đã khiến bọn Việt cộng kiêng dè đến nỗi chúng đặt tên cô là "Phượng Mậu Thân" và cho cô vào sổ đen của bọn chúng.

Thấy đám Việt cộng đối xử thô bạo với mẹ, chú bé út mới có hai tuổi chạy lại ôm chân Phượng đang bị trói đứng sát chân tường trong khi chú bé thứ hai mếu máo van xin tên Tranh đừng giết chết mẹ nó. Tên Tranh nhảy xổ lại và nắm lấy đứa con trai út của Phương và ném lên nền nhà một cách hung bạo khiến đứa bé bị bể đầu gối máu chảy dầm dề. Đứa con trai thứ hai thấy vậy bèn nhảy vào ôm em liền bị tên Tranh đá túi bụị Quá đau lòng, Phượng quên hẳn mình đang bị trói, lao đến lấy thân mình che chở cho hai con. Nổi cơn điên, tên Tranh nắm lấy Phượng và đẩy cô ngã chúi vào một góc tường khiến cả chiếc bình lọc nước bằng sành ngã theọ Một mảnh bình vỡ cắt đứt sợi dây trói tay Phượng và cắt đứt một phần cánh tay cô khiến máu phun có vòị

Xoay sang đứa con gái lớn là bé Hân tên Tranh thấy cô bé đang nhìn hắn một cách giận dữ liền tiến đến và hét lớn: "Mày thách thức tao hả?" rồi hắn tát bé Hân một cái rõ mạnh đến nỗi cả tuần sau dấu tay thô bạo của tên cộng sản ác ôn vẫn còn in lằn lên trên má của bé Hân. Tiếp đó tên Tranh vừa cười đểu vừa nói:
"Tụi mày đừng lo không có ai nuôị Sau khi tao cho mẹ mày về chầu trời tao sẽ cho cả chúng mày đi theo luôn".

Lúc đầu tên Tranh định để cho Phượng chảy máu đến chết, nhưng sau khi hàng xóm đang bu lại coi la ó phản đối và bảo tên Tranh rằng Phượng là một người tốt, phải đưa cô đi bệnh viện, tên Tranh mới hậm hực cho phép hàng xóm thuê xe lôi đưa Phượng đến bệnh viện.

Tại bệnh viện chúng bảo cô là "ngụy quân có nợ máu" không được vào phòng cấp cứu và để mặc cho máu chảy đọng thành vũng ngay chỗ Phượng ngồị Một lúc sau một bác sĩ được cộng sản tạm dùng đi qua, lập tức đưa Phượng vào phòng cấp cứu bất chấp sự phản đối của đám cộng quân. Sau khi nối lại dây thần kinh và băng bó tử tế, vị bác sĩ cho phép Phượng về nhà. Tại nhà, bọn tên Tranh tuyên bố tịch thu nhà của Phượng sau khi cho người mò tìm thấy súng mà Phượng ném xuống trước đó. Chúng cho phép mẹ con Phượng sống đêm cuối cùng trong ngôi nhà và sáng sau bọn chúng lại đến buộc bốn mẹ con ra đi chỉ được mặc một bộ áo quần trên ngườị Khi nhìn thấy trên tai của bé Hân có chiếc khoen nhỏ bằng vàng, một tên Việt cộng đã giật lấy khiến tai của bé Hân rách và chảy máu ròng ròng.

Hàng xóm ai cũng lấy làm thương cảm và mang thức ăn ra cho mấy mẹ con nhưng chẳng có ai dám để mẹ con Phượng vào nhà. Trước hoàn cảnh bi thương đó Phượng chẳng còn biết đi đâu hơn là đến chùa xin tá túc. Vài ngày sau bà ngoại của Phượng ở Chương Thiện hay tin liền về Sóc Trăng vào chùa gặp mấy mẹ con và thuê xe đưa cả nhà về lại ngôi nhà vừa bị tịch thụ Tại đây bà cụ yêu cầu được gặp bọn cộng sản chóp bu trong địa phương và cho chúng biết rằng năm 1945 gia đình bà đã cống hiến toàn bộ ruộng đất cho Việt Minh để kháng chiến chống Pháp, bản thân bà cũng từng là một cán bộ phụ nữ từng nuôi giấu những tên như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và bà sẽ ra tận trung ương để kiện tới cùng những ai muốn lấy nhà của con bà.

Bọn chính trị viên khu vực chống chế rằng Phượng có nhiều nợ máu với nhân dân, nhưng bà cụ bảo cho chúng biết Phượng chỉ là một nữ quân nhân chuyên phát lương và còn ba đứa con dại phải nuôị Thấy bà cụ làm dữ và biết rằng bà từng có công với Việt Minh, bọn Việt cộng tại địa phương đành bị khuất phục và cho phép Phượng với mấy đứa con được vào tạm trú trong ngôi nhà của chính mình. Thật ra bà ngoại của Phượng là một phụ nữ yêu nước từng góp công góp của cho Việt Minh đánh Pháp, nhưng khi phát hiện ra bộ mặt thật của chúng bà cụ đã dứt khoát đoạn tuyệt với cộng sản và khuyến khích con cái tham gia quân lực VNCH. Chính bà cụ đã từng bảo cô rằng ăn cây nào phải rào cây ấỵ Đã ăn cơm của quốc gia thì phải trung thành với quốc gia và kiên quyết chống cộng đến cùng.

Thời gian sau đó Phượng bị bắt đi học tập cải tạo dành cho hạ sĩ quan hai tuần, mặc dầu cô chỉ là lính văn phòng và đã giải ngũ từ năm 1973. Tiếp đến chính quyền địa phương hăm dọa, khủng bố tinh thần của cả mấy mẹ con và buộc cô phải đi lao động không công làm thủy lợị

Kể từ ngày 30.4.1975 cuộc sống của Phượng đã biến thành địa ngục trần gian. Nỗi lo lắng cho số phận của người chồng đã bị bắt đi biệt tích, nỗi lo lắng mấy đứa con còn trứng nước thơ ngây và những đòn đàn áp tinh thần dữ dội của cộng sản đã khiến cho thần kinh của Phượng luôn luôn trong tình trạng căng thẳng như một sợi dây đàn. Lúc nào Phượng cũng có cảm giác là sự hiểm nguy, sự chết chóc có thể xảy đến cho mẹ con nàng bất cứ lúc nàọ Tình hình đó kéo dài khiến Phượng ngày càng suy kiệt về thể chất lẫn tinh thần.
Cuối cùng không thể chịu đựng hơn được nữa bà ngoại Phượng đã giúp Phượng mang con trốn về Sài Gòn sống qua ngàỵ Năm 1984 Phượng vượt biên và đến định cư tại Úc.

*********************************

32 năm sau sự kiện tết Mậu Thân năm 1968, người nữ quân nhân tên Ngô Thị Hồng Phượng 50 tuổi, lúc này sống tại Úc, đã trở thành một phụ nữ luống tuổi, tóc đã lấm chấm bạc và những nét nhăn hằn trên khóe mắt, bệnh hoạn sau nhiều năm bị khủng bố tinh thần. Tuy nhiên khi nói đến cuộc đời sôi động của một nữ quân nhân quân lực VNCH năm xưa, giọng nói của chị vẫn tràn trề một niềm tự hào vô bờ bến, khuôn mặt của chị bừng lên niềm hứng khởi kỳ lạ khi nhắc đến đồng đội và những sự kiện anh hùng của thời xa xưạ Tuy nhiên cho đến hiện nay giấc ngủ của chị vẫn thường xuyên bị làm rối loạn bởi những cơn ác mộng nặng nề. Hình ảnh tên Tranh dí khẩu K-54 vào đầu chị; hình ảnh đứa con út bị vỡ đầu gối máu me lênh láng; hình ảnh đứa con gái bị giật chiếc khoen đến rách lỗ tai vẫn tiếp tục làm chị hoảng sợ, kêu thét vùng vẫy trong những giấc mơ\.

Chị cho biết khi nhìn khẩu súng trong tay tên Tranh, chị chỉ muốn chết một cách oanh liệt như gương của hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, nhưng nhìn ba đứa con thơ, lòng yêu con đã khiến chị phải bấm bụng chịu nhục để sống vì chúng.


Mặc dầu đã phải chịu đựng biết bao khổ ải và đau đớn về thể xác cũng như tinh thần, người nữ quân nhân năm xưa vẫn giữ tấm lòng yêu quân ngũ không hề phai nhạt. Khi được hỏi nguyện vọng cuối cùng của chị là gì, chị Phượng với một cặp mắt long lanh cảm xúc, cho biết, chị chỉ muốn khi mình nằm xuống sẽ được tẩm liệm trong bộ quân phục của nữ quân nhân quân lực VNCH và người ta sẽ đưa chị đến nơi an nghỉ cuối cùng trong một chiếc quan tài phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ.


Dưới bóng ngọn cờ oanh liệt đó chị Phượng đã sống những tháng năm đẹp nhất của cuộc đời, cuộc đời của một nữ quân nhân quân lực VNCH dũng cảm.

NTS Ngô Thị Hồng Phượng CNQN tại Úc

hongthatcong  
#2 Posted : Sunday, May 26, 2002 1:18:08 AM(UTC)
hongthatcong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 784

Cám ơn LUKHACH đã post một bài đọc thật cảm động. Trong hàng ngũ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đã có biết bao tấm gương của những quân nhân kiên cường, bất khuất, cho dù là nam hay nữ.

" Thà thắp lên một ngọn đèn, còn hơn ngồi nguyền rủa trong bóng tối "
nongdan  
#3 Posted : Sunday, June 9, 2002 3:32:43 AM(UTC)
nongdan

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 200


Cái Chết của Sử Gia Phạm Văn Sơn !



Nguyễn Văn Dưỡng



Trước năm 1975, ở miền Nam, ông Phạm Văn Sơn là một trong rất ít những vị viết sử. Bộ sử được nhiều người biết đến nhất của ông là bộ Việt Sử Tân Biên.



Tôi hân hạnh được làm việc dưới quyền chỉ huy của ông từ năm 1958 đến 1960. Thời gian này ông mang cấp bậc Thiếu tá, giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Quân Báo & Chiến Tranh Tâm Lý Cây Mai; tôi mang cấp bực Trung úy, là huấn luyện viên và sĩ quan an ninh của Trường. Chính trong thời gian này, ông đã tu chỉnh bộ sử nói trên và cho tái bản.



Những thì giờ nhàn rỗi, tôi đã tình nguyện giúp ông. Tôi được ông giới thiệu d-ến gặp ông Lê Ngọc Trụ, công chức làm việc ở Thư Viện Quốc Gia -- lúc đó còn nằm trên d-ường Gia Long -- để nhờ hướng dẫn sưu tầm tài liệụ Ông Lê Ngọc Trụ còn là một học giả, giảng sư Ngữ học của đ.ại học Văn khoa Saigon, đã chỉ dẫn cho tôi tìm được khá nhiều tài liệu và sách viết bằng tiếng Pháp về thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Các tài liệu này cũng như những tài liệu quí giá khác, giúp cho ông Phạm Văn Sơn tu chỉnh Việt Sử Tân Biên. Thời gian làm việc với ông, tôi đã học được ở ông nhiều điều về viết lách.



Năm 1961, trường Cây Mai đổi tên, chỉ còn là trường Quân Báọ Ngành Chiế Tranh Tâm Lý tách ra riêng, đuợc dạy riêng ở một trường của ngành này, mới thành lập, ở một địa điểm khác; do đó, Thiếu tá Phạm Văn Sơn cũng được thuyên chuyển về ngành Chiến Tranh Chính Trị. Sau đó không lâu, ông được bổ nhậm vào chức vụ Trưởng Ban Quân Sử của Quân Lực VNCH, thuộc Bộ Tổng Tham Mưụ Ông lần lượt được thăng d-ến cấp đ.ại tá và giữ nhiệm vụ này cho đến ngày miền Nam sụp đổ.



Tôi nghĩ rằng, với khả năng của ông và dưới sự chỉ đạo của người viết sử sở trường và kinh nghiệm như ông, hẳn là Ban Quân Sử Quân Lực VNCH đã viết được những bộ sử chiến tranh VN cận đại quí giá, nhất là binh sử thời kỳ sau năm 1954 trở đị Tôi nghĩ như vậy vì tôi biết ông PVS rất thận trọng, không hề khinh xuất trong nhiệm vụ của mình và càng không thể để cho thuộc cấp khinh xuất. Ngày trước ông thường bảo tôi :"Phải cố gắng làm sao cho mức độ trung thực và chính xác cao chừng nào tốt chừng đó, như vậy thì những d-iều mình viết về sử mới mong có thêm một chút giá trị Việc sưu tập những sự kiện, chứng tích, tài liệu có độ xác tính cao nhiều chừng nào thì việc so sánh, nghiên cứu, lượng giá, đối chiếụ..dễ chừng nấy". Đó là lề lối làm việc nghiêm cẩn, thận trọng của ông. Vì vậy sau này, năm 1972, tôi đã không ngạc nhiên khi chiến trường An Lộc còn d-ang sôi động với những trận đánh đối tuyến chỉ cách nhau có một con đường, giành nhau từng góc phố -- giữa các đơn vị VNCH và quân CS Bắc Việt -- khi những cơn pháo kích dữ dội của địch quân chưa giảm, khi không một chiếc trực thăng nào đáp xuống An Lộc mà không sợ tan xác,tôi đã thấy ông hiện diện ở chiến trường này để tìm hiểu sự thật viết về trận chiến khốc liệt đó.



Lúc bấy giờ, tôi là Trưởng Phòng 2 của Bô Tư Lệnh Hành Quân của tướng Lê Văn Hưng, đã cung cấp cho ông những tài liệu, sự kiện "sống" nóng bỏng, chính xác và đầy d-ủ. Tuy nhiên, muốn viết cho trung thực hơn, ông đã ở lại trong hầm chống pháo với tôi một đêm, thức trắng để nghe tiếng đạn pháo của địch quân rơi trên đầu mình và xung quanh đâu đó, vừa hỏi tôi thật chi tiết về những sự kiện ghi trong nhật ký hành quân (mỗi phòng của Bộ Tư Lịnh Hành Quân đều có) kể cả tài liệu, cung từ tù binh của địch bắt được trong các trận đánh trước ở đó.



Sau khi ông rời An Lộc, không bao lâu mặt trận được giải tỏa, tôi d-ến Bộ Tổng Tham Mưu d-ể gặp ông thì được biết ông đã ra Quảng Trị để làm nhiệm vụ như đã làm ở An Lộc. Như vậy ông và những sĩ quan thuộc cấp trong Ban Quân Sử đã hiện diện ở khắp chiến trường lớn để tìm sự thật viết về binh sử...



Tôi nêu lên những chi tiết trên đây mong các bạn hình dung được tư cách khả trọng của một người viết sử chân chính, ông PVS, một người đã thành danh trong giới trí thức VN, để rồi tôi xin kể lại những ngày cuối cùng bi đát trước cái chết thảm thương của ông trong lao tù, dưới chế độ bất nhân, tàn độc của CSVN.



Ngày 30/4/75, như mọi người đều biết, Dương Văn Minh, một tổng thống phi hiến định, tuyên bố đầu hàng CS Bắc Việt vô điều kiện, Quân Lực VNCH bị bức tử, buông súng, tan rã. Một số tướng lãnh, sĩ quan cấp tá, cấp úy tuẫn tiết. Tất cả những sĩ quan còn lại ở miền Nam vào lúc d-ó, bị dồn vào các trại tập trung tạm trong lãnh thổ miền Nam, cùng với các cấp chỉ huy cảnh sát, công chức cao cấp và các nhà hoạt động chánh trị trong các đảng phái miền Nam.



Một năm sau, CS đưa tất cả những người mà họ gọi là có "nợ máu" nhiều nhất với nhân dân miền Bắc, giam giữ và bắt lao động khổ sai ở những trại giam trong rừng sâu nước độc của Thượng du và Trung du Việt Bắc. Một số sĩ quan và công chức khác còn bị giam giữ ở các trại cải tạo miền Nam.



Tháng 6, năm 1976, đợt tù nhân đầu tiên bị đưa ra Bắc, trong đó có tôi, bị dồn cứng dưới khoang của những chiếc tàu thủy cận duyên cỡ nhỏ. loại chuyên chở của quân đội CS. Sau 4 ngày 4 đêm, tàu cập ở Bến Thủy thuộc Vinh. Từ đó vào nửa khuya, chúng tôi bị chuyển vào bờ, lần này thì bị dồn vào các toa tàu hỏa dùng để chở súc vật, lên phía Bắc.



Ngày 15/6/76 -- ngày duy nhất mà tôi nhớ suốt 13 năm tù -- đúng một năm sau ngày tôi đưa đầu vào cùm ở trường Don Bosco ở Gò Vấp -- trên chuyến tàu hỏa nói trên, qua một kẻ hở thật nhỏ của toa tàu, tôi đã nhìn thấy nhà thương Bạch Mai và ga Hàng Cỏ, những địa danh của Hà Nội mà tôi đã được đọc qua trong các tác phẩm của Tự Lực Văn đoàn, thuở tuổi học trò. 2 sĩ quan tù nhân cấp Tá đã ngộp thở chết trong toa chở súc vật, quãng giữa đường Việt Trì - Yên Báị Kể từ đó, có thêm hàng trăm tù nhân đi trên những chuyến tàu định mệnh này đã ngã xuống ở các trại tù miền Bắc, vĩnh viễn không còn thấy được những chuyến tàu xuôi Nam...Trong số những người này có Đ.ại Tá Phạm Văn Sơn.



Một số tù nhân trên dưới một ngàn người trên các toa tàu này được đổ xuống ga Yên Bái, trong số đó có tôị Từ ga Yên Bái, bộ đội CS dùng xe quân sự Molotova chuyển chúng tôi theo đường bộ lên Sơn La giam giữ ở các trại giam dành cho quân nhân. Tôi ở đó được một năm rồi bị chuyển sang trại giam công an, cũng ở Sơn La, trong 2 năm nữạ



Năm 1979, trước cuộc chiến ngắn ngủi giữa Trung Cộng và CSVN không bao lâu, tất cả chúng tôi -- những tù nhân chính trị -- ở những trại giam trên các tỉnh biên giới phía Bắc và Tây Bắc được chuyển về các trại giam vùng Trung Du và các tỉnh phía nam, tây nam Hà Nội, như các trại giam Tân Lập (Vĩnh Phú), Nam Hà (Nam Ịịnh), Thanh Phong (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh),...



Sự chuyển dồn trại như vậy làm cho đời sống lao tù chúng tôi đã cơ cực càng cơ cực hơn, ăn đã đói càng đói hơn, mỗi người không có được đến 4 dm2 để có thể nằm ngửa, phải nằm nghiêng chen chúc lẫn nhau mà ngủ sau mỗi ngày lao d-ộng nặng nhọc, nên phòng giam nào cũng hôi hám, thiếu ánh sáng, thiếu không khí đến ngộp thở, bao nhiêu chứng bệnh ngặt nghèo nguy hiểm đã bộc phát trong anh em chúng tôi, thuốc men không có để trị, mạng sống của mọi người cũng bị Tử Thần rình rập từng ngày từng đêm.



Đa số anh em chúng tôi được đưa về trại giam Tân Lập do công an quản chế, bây giờ đặt dưới sự chỉ huy của Trung Tá công an Nguyễn Thủy, một tên cán bộ chữ nghĩa viết chưa hết một lòng bàn tay nhưng vẫn thích đọc thơ Tố Hữu và Huy Cận trước mặt anh em tù nhân, trong khi lòng dạ lại hiểm độc vô lường...



Tân Lập là một hệ thống trại gồm một trại chính và nhiều phân trại thường được gọi là K, đánh số từ K1 đến K7, nằm rải rác hai bên bờ một nhánh sông bắt nguồn từ sông Lô, chảy qua xã Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú. Tôi đến Tân Lập ngày nào năm đó, đã không còn nhớ nữa, chỉ nhớ là lúc đó trời đã bắt đầu trở lạnh; dù vậy, sau mỗi buổi lao động vẫn phải theo mọi người ra những bãi vắng trên sông này để tắm trước khi về trạị Chính ở các bãi tắm này chúng tôi mới thấy hình hài khốn khổ của nhau, vì mọi người d-ều trần truồng. Trong khi số tù nhân từ Sơn La mới chuyển về người ngợm còn chút thịt da, thì, những anh em tù đã ở trại giam K2 Tân Lập từ mấy năm trước thân thể chỉ còn da bọc xương, đến 2 bên mông là nơi lý ra phải còn có chút thịt, cũng chỉ thấy có xương xẩu nhô hẳn lên, trông thật thảm nãọ Khi tắm ai cũng rét run, vì cái lạnh của trời và nước làm cho mọi người thấu buốt ruột gan...bởi trong người không còn năng lượng đểđề kháng nào nữạ



Tôi nói lên những điều này để chỉ rõ chế độ quản chế, đối xử với tù nhân chính trị của trại giam Tân Lập cay nghiệt hơn bất cứ trại giam nào mà chúng tôi đã trải qua trước đó, mặc dù chúng tôi biết rằng với chế độ tập trung cải tạo, trại giam là nơi CSVN giết người kín đáo nhất, ít đổ máu nhất, bằng áp đặt khổ sai vắt sức, bằng bỏ đói trường kỳ khiến cho tù nhân chết mỏi mòn vì kiệt sức, vì bệnh hoạn hay vì những lý do mờ ám khác nữạ Không một ai trong chúng tôi, lúc đó, thoát khỏi sự thách đố của định mệnh, của cái chết đến bằng nhiều cách ở bất cứ lúc nàọ Ở Tân Lập, bọn công an Nguyễn Thùy đã làm hơn những điều chúng tôi nghĩ, đã biết. Vì thế các tù nhân chính trị chết trong các phân trại Tân Lập nhiều hơn bất cứ nơi nào khác. Riêng ở phân trại K2, mấy tháng mùa đ-ông cuối năm 1979, đầu năm 1980, mỗi ngày ít nhất cũng có 1 đến 2 tù nhân chết; con số tù nhân đến bệnh xá (không có một thứ thuốc men nào để trị bệnh), hằng ngày hơn 200 người, mục đích không phải là để xin trị bệnh, nhưng để được khám, chứng nhận là bệnh, để khỏi đi lao động, được ngày nào đỡ ngày đó, mặc dầu họ là những người bệnh thực sự cần phải được điều trị và miễn làm việc...



Tại K2 Tân Lập, trong hoàn cảnh chung như vậy, tôi đã gặp lại ông Phạm Văn Sơn.. Tôi đã nhìn thấy tận mắt những ngày sống bi đát cuối cùng của đời ông.



Chừng một tháng sau khi đến K2, một buổi trưa, tôi và một người bạn tù khác cùng đợi đến phiên phải lên phạn xá gánh cơm về cho anh em trong đội ăn sau buổi lao động; trong khi chờ đến lượt mình nhận cơm, tôi đã vơ vẫn đến bên ngoài hành lang của một căn phòng nhỏ cạnh phạn xá, tôi thấy một người, đã nhận ra ông mà cứ ngỡ là đôi mắt mình đã nhìn lầm.



Ông chính là Đại tá Phạm Văn Sơn, vị chỉ huy trưởng ngày xưa của tôị Ông chỉ còn là cái bóng âm thầm, một cái xác sắp mục nát, bất động, câm nín sau chấn song sắt, bên trong cửa sổ của căn phòng "cách ly", duy d-ôi mắt hiền hòa thì vẫn tinh anh như thuở nàọ Rõ ràng ông hiện hữu như một tĩnh vật có linh hồn sáng suốt, đang nhìn ngắm mọi sự vật đổi thay, quay cuồng điên đảo với những nhận định xuyên suốt, những ý nghĩ sâu sắc, cao xa nào đó một cách hữu thức, vì chính đôi mắt nhìn lắng sâu, và sáng kia là "cửa sổ linh hồn ông", cho tôi biết điều đó.



Tôi nhìn ông và ông nhìn tôị Trong một thoáng, quá khứ như chổi dậy; không biết vì mừng rỡ hay vì ngỡ ngàng xúc động, tôi chợt buộc miệng gọi lên :



- "Thầy" !



Chỉ một tiếng rồi lặng thinh. Tôi còn biết nói gì hay làm gì hơn khi mà ai cũng biết rằng mình bất lực trước hoàn cảnh bất hạnh nào riêng của mỗi ngườị



Mắt ông hình như sáng hơn, ông đã nhận ra tôị Trong gương mặt đã biến dạng, sần sùi của ông, với đôi môi khẽ chớp động, tôi đã nhìn thấy một nụ cườị Ông đã hiểu rõ tâm trạng của tôi, tuy ông lặng lẽ không nói một lời nàọ



Không một dấu hiệu, ông rời song cửa sổ. Chỉ chưa đầy một phút sau, cánh cửa ra vào của căn phòng nhỏ -- đang khép hờ -- mở rộng rạ Ông đứng ở ngưỡng cửa, thẳng thớm như đứng giữa giang san của mình, một giang san thu hẹp đến thật nhỏ nhoi, lạnh lẽo, cô độc...



Với thế đứng vững vàng như vậy ông đã cho tôi ý nghĩ là, chính nơi này, nơi thật nhỏ nhoi này, là nơi ông đã tìm ra nguyên ủy, phương trình giải quyết và kết luận cho một nan đề khó giải quyết nhất, hay ông đang ấp ủ một điều gì thật to tát trong tư tưởng của ông. Nhận xét của tôi không thể nhầm lẫn vì ngày xưa nhiều lần tôi đã nhìn vào mắt và tư thế của ông mà đoán đúng những gì ông định ra lệnh cho tôi hay muốn nói cùng tôị Ở lần gặp lại này, tôi cũng linh cảm được ý nghĩ của ông như thuở đó.



Tôi định bước vào hành lang, tiến đến gần ông nhưng kịp thấy ông nhìn tôi khẽ lắc đầụ Tôi dừng lại và ghi nhận đầy đủ hơn tín hiệu của căn bệnh ghê gớm đã và đang tàn phá cơ thể của ông.



Ông đứng thẳng, hai tay chập lại để trước người, những ngón tay đan chéo vào nhau, chỉ nhìn tôi không nói một lời nàọ Ngày đó, trời đã lạnh. Tuy nhiên, tôi nghĩ không phải vì trời lạnh mà ông trùm kín đầu bằng một chiếc khăn lông trắng đã trở màu vàng, bẩn và lấm tấm những vệt máu, mủ. Vòng khăn quấn kín cổ chỉ chừa có đôi mắt, mũi, miệng và một phần rất nhỏ ở 2 bên má. Ông trùm kín mặt như vậy có lẽ để che bớt đi những vết lở lói trên mặt mình, bởi chứng bệnh nan y của ông.



Thân thể gầy gò nhưng cộm lên vì mặc nhiều lớp áo quần bên trong; bên ngoài, ông mặc một chiếc áo mưa màu nhà binh đã thật cũ, sờn rách một đôi nơị Chân được bó lại bằng những mảnh vải quần áo cũ xé ra, dính đầy bụi đất và những vết máu, vết mủ.



Chỉ có một phần mặt mũi và hai tay của ông lộ ra, các phần thân thể khác không thấy được. Và chỉ có vậy thôi, tôi cũng nhận ra rằng không phải ông mang chứng lở lói bình thường mà tôi đã từng thấy, từng biết. Mũi ông đỏ ửng, bóng; hai má cũng vậy, cộng thêm một số vết lở lói; lông mi ở mắt đã rụng. Hai bàn tay cũng có những vết lở tấy, nhưng các ngón tay đã co lại, móng tay nhiều ngón đã bị khuyết lại hay mất hết : ông bị chứng phong hủi (leprosy) ở thời kỳ trầm trọng. Vì không có thuốc và vì điều kiện vệ sinh không thể có được trong tù nên bệnh của ông phát triển rất nhanh. Đó là lý do tại sao chỉ mới d-i tù trong vòng bốn năm năm ông đã trở thành người tàn phế, bị cách ly riêng biệt.



Có lẽ người ta gán cho ông chứng bệnh lở lói là để tránh sự loan truyền căn bệnh cùi trong trại giam. Vả lại ông bị "cách ly", chỉ được ra ngoài vào những giờ mọi người đã đi lao động, không còn ai trong trại, nên ít ai biết rõ. Nhưng chính ông, ông biết rõ bệnh trạng của ông.



Tôi nhìn ông thật lâu, trong lòng xót xa, không biết phải nói gì, làm gì. Vị sĩ quan cao cấp chừdng mực với quân phục chỉnh tề trang nghiêm ngày xưa nay đã mang hình hài của một người tàn phế giống như một kẻ hành khất lở lói mà ai cũng có thể gặp ở đâu đó. Đôi mắt tôi nói rõ sự thương cảm của tôi đối với ông. Và một lần nữa ông cười, nụ cười nhăn nhún với một chiếc răng khểnh trên môi, như ông muốn nói với tôi rằng :"Tôi chấp nhận định mệnh của tôi, nhưng tư tưởng của tôi đã vượt khỏi thân xác nhỏ nhoi tàn phế của tôi rồị Anh đừng thương hại cho tôị"



Sau nụ cười là ánh mắt nhìn tôi sâu hơn. Trong ánh mắt đó của ông, tôi đã ghi nhận được sự thương xót của ông đối với tôị Hình như ông đã nhìn thấy lại người sĩ quan thuộc cấp trẻ tuổi của ông ở những ngày xưa, còn độc thân, mặt còn non sữa, nhưng sáng sủa và nhanh nhẹn, đã từng lúc làm ông hài lòng, cùng từng khi khiến ông phải chỉ bảọ..Ngày nay, hắn ta đã trở thành một người cằn cỗi, gầy ốm, lam lũ với áo quần chùm đụp rách rưới, má hóp, mắt thâm vì những ngày thiếu ăn, những đêm thiếu ngủ. Hơn thế nữa, hắn ta còn chưa biết phải làm gì trong cảnh tù đày và trong tương laị



Tôi chưa biết nói gì thêm, làm gì thêm ở buổi gặp lại ông trong hoàn cảnh khốn khổ đó, thì anh bạn cùng tôi đi lãnh cơm, tìm được tôi, thấy tôi đang đứng "nói chuyện" với Đại tá Sơn. Anh đến gọi tôi vì cơm anh đã lãnh xong để ngoài sân phạn xá.



Tôi tần ngần một phút nhưng rồi cũng phải theo anh trở lại phạn xá gánh cơm về cho anh em ăn. Chúng tôi chào từ giã ông, không thấy ông trả lờị Tôi quay đi, mang theo nỗi buồn thật lớn. Anh bạn nói với tôi :



- Đại tá Sơn d-ó, ông ta bị chứng bệnh nan y, vừa bị suyển, bệnh tim, lao phổị Ông không hề nói chuyện với aị



Tôi trả lời ngắn : "Xếp cũ của tôị"



Suốt ngày hôm đó tôi thẫn thờ vì những ý nghĩ miên man trong đầu óc tôị Đêm đó cũng không thể ngủ được. Tôi suy nghĩ về ông và những ngày tù đày của chính bản thân tôị



Quả thật, trong lần đối thoại bằng mắt ở buổi gặp lại lạ lùng này, ông đã nói với tôi thật nhiều về thân phận của ông và tôị Tôi biết rõ ông đã vượt khỏi cái thân xác bệnh hoạn yếu đuối nhỏ nhoi của con người, dẫn phần tâm linh của ông đến một cõi an bình nào đó, như một tín đồ công giáo tin tưởng sự an bài của Đấng Tạo Hóa về định mệnh của mình. Hơn thế nữa, trong tư tưởng, ông không chỉ còn là một người viết sử bình thường, một sĩ quan bình thường, mà đã trở thành một triết gia lớn biết cả cội nguồn của dân tộc và tổ quốc. Tâm trí ông đã đi ra ngoài thân thể ông để đến một khung trời bao la nào đó, cao rộng, hay ít nhất cũng phủ trùm trên bờ cõi VN.



Rõ ràng ông đã tìm được cho ông một lối thoát, sau khi đã trải qua đau khổ đến tột độ : thể xác nứt nẻ, nhức nhối vì bị gặm nhấm, rút tỉa bởi con máu độc hại của chứng bệnh nan y; bị bỏ đói khát lạnh lẽo, cô độc trong một nơi cách biệt đến trở thành câm nín. Bao nhiêu tháng ngày đau đớn oằn oại mà ông phải chịu d-ựng từng phút từng giây đó không đủ để ông trở thành một triết nhân hay sao, vả lại ông là một người thâm trầm, hiểu sâu học rộng...Dù sao thì ông cũng đã vượt thoát được đau khổ và tìm ra cho mình một con đường.



Một ngày nào thoát khỏi gông cùm CS, nếu tấm thân tàn phế của ông còn hơi thở, thì biết đâu khối óc phong phú và tĩnh d-ạt của ông sẽ không giúp ông trở nên bất tử trong lòng mọi người, vì những điều chứa đựng trong đó sẽ có thể cho chúng ta những hiểu biết về lịch sử VN -- trong thế hệ chúng ta -- một cách xác đáng nhất, tường tận nhất, đáng suy gẫm nhất vì sao chúng ta đã đau khổ triền miên trong cuộc chiến tranh tàn khốc dai dẳng vừa quạ Hay xa hơn nữa, biết đâu ông cũng có thể cho chúng ta một triết lý nhân sinh rút tỉa từ kinh nghiệm bản thân ông, khả dĩ giúp được nhiều người tìm ra sự an bình trong tâm hồn ở cuộc sống nhiều đau thương nàỵ



Tôi yên tâm phần nào về ông, vì tôi biết, dù ông là kẻ chiến bại trong cuộc sống, nhưng lại là người chiến thắng chính bản thân mình.



Còn tôi, ông d-ã nói cho tôi biết bằng ánh mắt, là ông thương cảm cho tôi, vì ông đã biết rõ tôi đã và đang còn mù mờ, quờ quạng trong đáy ngục, trong lưu đàỵ Tôi chưa nghĩ gì cho hôm nay và cho ngày mai hơn là phải sợ lao động nặng nhọc sáng nay hay sợ bị d-ói lạnh chiều nàỵ Tâm trí, tư duy của tôi là một thứ bong bóng.



Tôi phải gặp lại ông, tôi phải học tấm gương của ông, phải biết nhận chịu cái đau buốt tận xương tủy, để nghiền ngẫm về lẽ sống và tìm cho mình một con đường thích hợp nhất mà bước đị



Từ ngày đó tôi định bụng hôm nào thuận tiện tôi sẽ đi tìm ông, vì ông ở phòng "cách ly" không phải lúc nào cũng tự tiện mà đến được, bọn cán bộ cấm ngặt mọi tù nhân đến đó.



Trong mấy ngày liền, sau các buổi lao động xong về trại, tôi đi theo các bạn lãnh cơm lên phạn xá, lảng vảng đến gần căn phòng cách ly mong nhìn thấy ông để đến gặp, nhưng lần nào cũng trở về không. Rồi một buổi chiều tôi trở lại đó, từ xa tôi đã thấy ông sau xong cửa sổ, mắt đang nhìn ra xa xôi cao hơn bờ tường rào của trại trước mặt ông. Tôi muốn nhìn ông cho rõ hơn nên bước thêm mấy bước nữa rồi dừng lạị Một chập rất lâu, ánh mắt ông vẫn thế, không thay đổi hướng. Ở hướng đó, mặt trời chiều đã xuống thấp, nắng đã nhạt, mấy áng mây thật mỏng, ráng hồng, còn vơ vẩn, rồi bị gió xé nát rạ Tôi chợt thấy ông rùng mình.



Tôi tự nghĩ : Chẳng lẽ mình nhầm hay sao khi nhận xét về ông ở buổi đầu tiên. Không do dự nữa, tôi bước đến gần, đứng ngoài sân, trước hành lang, chào ông và khẻ hỏi :



- Chào Thầy, hôm nay Thầy có khoẻ hơn không ?



Ông quay lại nhìn tôi, nhẹ gật đầu nhưng không trả lờị Đôi mắt ông lại hướng về góc trời có một bóng mây vừa tan, một thoáng như mờ đi, như nghĩ ngợi, rồi chợt sáng hẳn ra nhìn thẳng hơn vào mắt tôị



Thôi, Thày ơi ! Tôi đã hiểu rồị Tôi đã hiểu trong lòng Thầy nghĩ gì và Thầy muốn gì ở tôị Lòng tôi trong một phút cảm thấy đau điếng.



Tôi có nên nói đến những điều này cho các bạn nghe hay không ? Liệu các bạn có tin rằng tôi nói bằng sự thật, bằng tấm lòng của tôi hay không ? Thôi thì tôi cứ nóị



Ông đã cãm nhận được định mệnh của ông rồị Hơn ai hết, ông hiểu rõ tình trạng sức khoẻ của ông. Ông chỉ sợ mình như ráng mây mong manh kia, sẽ phải tan rã mất đi vội vàng. Thời gian quí báu không còn nữa đối với ông, ngọn đèn hắt hiu trong tim ông sắp tắt, nhưng ngọn lửa lớn trong óc ông, đang rực sáng, không có chỗ thoát rạ Bốn bức tường của nhà giam này thật cay nghiệt; cái hoài bão của ông, niềm ấp ủ đã hình thành trong tâm não ông cũng sẽ tan biến mà thôị Ông không sợ bản thân ông bị tiêu hủy, ông chỉ sợ những điều đó bị tiêu diệt, tôi nghĩ như vậỵ



Với ánh mắt nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi nhận ra hình như ông muốn ủy thác cho tôi một việc gì đó sau này -- khi tôi ra khỏi 4 bức tường của trại giam -- chẳng hạn như sẽ thay ông viết lên những gì mà ông muốn để lại cho những thế hệ tương laị



Nếu quả thật điều này tôi đoán đúng, tôi cam đành chịu sự thất lễ đối với ông. Dù tôi hiểu ông, nhưng làm sao tôi có thể hiểu tường tận những gì tách bạch định hình trong tư tưởng của ông.



Ông đã nghĩ gì, ông đã biết những gì -- hẳn nhiên là phải rộng lớn và khúc chiếc -- ông muốn viết những gì, làm cách nào tôi có thể biết được. Vả lại, những thứ ấy là những điều mà ông phải phấn đấu thật cam go với bệnh tật, với chính mình bao nhiêu năm trời, chịu đựng vô vàn đau đớn tủi nhục từ thể xác đến tâm não mới có được. Nó là của riêng ông. Làm sao tôi có thể cảm nhận được hết, khi mức độ thương đau của tôi có hạn định; làm sao tôi có thể viết những điều ấy thành lờị



Sở năng của ông là viết sử. Ngay ở công việc này, nếu tôi có hiểu biết một đôi điều, thì với khả năng của tôi, tôi cũng không thể thay ông mà viết nổi hết cái cao xa rộng lớn của ông, cái sâu sắc phong phú của ông, cái chiết trung tinh túy của ông, cái kinh nghiệm dồi dào của ông về những gì phức tạp nhất, nhiêu khê nhất, khuất lấp nhất của lịch sử ở thời đại nhiễu nhương nàỵ



Nếu tôi cần thời gian dể có được những ưu điểm trên đây như ông, thì sẽ bao lâụ Có lẽ suốt đời đến khi nhắm mắt, tôi cũng không có được.



Hôm trước tôi gọi ông bằng "Thầy" để tránh tiếng gọi bằng cấp bậc đã trở thành "không thích hợp" nữạ Hôm nay, tôi cũng gọi ông bằng chữ đó, cùng nghĩạ Xét cho cùng, tôi chưa đáng là học trò của ông trên nhiều phương diện.



Tôi đành cam chịu sự bất lực rồị



Cái hy vọng giữ được cuộc sống của ông thật mong manh, cái hy vọng giữ sự hiểu biết trong trí não ông cũng không thể có, rồi cát bụi sẽ trở về với cát bụi mà thôị..Bỗng nhiên tôi nghe mấy giọt nước mắt lăn trên má tôị



Ông nhìn tôi lặng lẽ thở dài rồi quay đị



Tôi trở về phòng giam của mình với tâm trạng buồn bã, mệt mỏị Tôi muốn làm vui lòng cố nhân, muốn làm tròn bổn phận với một cấp chỉ huy tôi quí trọng, nhất là khi ông đang ở trong hoàn cảnh khốn cùng, nhưng tôi biết tôi kém tài, thiếu khả năng để khả dĩ hoàn thành sự ký ủy của ông.



Sau buổi chiều đó, lại một đêm và nhiều đêm khác nữa tôi mất ngủ. Dù ông muốn hay không, tôi cũng thương cảm cho ông, xót xa cho ông. Niềm trắc ẩn của tôi không ngoài việc tôi biết ông cảm thấy sức khoẻ của ông đã cạn, ông biết ông sẽ không thể -- bằng cách nào đó, phổ cập được những gì đó thật hữu ích đã kết tinh trong não tủy của ông qua những tháng ngày đau khổ. Niềm hy vọng cuối cùng là ký thác những điều đó cho một ai đó có khả năng, cũng đã bị giập tắt. Sự cô đơn của ông bây giờ đã hoàn toàn, tất cả đã quay lưng lại với ông. Bên ông có lẽ chỉ còn Thượng Ịế là vị an ủi, là vị cứu tinh cuối cùng mà thôị Con người đã không còn trong tầm mắt và niềm hy vọng của ông nữa, mãi mãị..



Sau d-ó không lâu, một buổi tối, bọn cán bộ trại tổ chức buổi chiếu bóng ngoài trời cho tất cả tù nhân xem ở cái sân rộng lớn giữa trạị Đêm ấy, trời đầy trăng sáng trong sương d-êm loang loáng của mùa đông. Hơn 1,000 tù nhân được xếp hàng ngồi theo đội của mình trong sân. Tuy nhiên, mọi người khi cần thiết cũng có thể tách ra đứng lên đi tiểu ở một vài nơi mà CS đã chỉ định trước. Một nơi như vậy nằm bên trong bờ tường của phạn xá.



Đây là cơ hội may mắn cho tôị Khi phim chiếu được chừng một giờ -- phim gì đó, tôi không còn nhớ -- tôi đứng lên đi về phía ở bờ tường vào phạn xá, đến chỗ đi tiểụ Nhìn không có ai, tôi bước thêm mấy bước nữa, dừng lạị Chỗ tôi đứng chỉ còn cách căn phòng nơi ông ở không đầy 10 bước. Tôi không có ý định gặp ông, chỉ muốn nhìn thấy ông mà thôi, và tôi đã nhìn thấỵ Ông d-ứng bên trong cửa sổ, ở đó có ánh đèn le lói hắt ra, đang nhìn lên khung trời đầy ánh trăng bàng bạc trong sương. Giờ đó cũng gần khuya, ông vẫn thức, đứng nhìn trăng, nhìn trờị



Tôi đã hiểu rõ hơn tâm sự của ông. Tôi đứng nhìn ông một lúc khá lâu, rồi sợ bị bọn cán bộ bắt gặp, tôi quay trở ra về chỗ ngồi của các ban cùng đội và không xem gì được nữa ở những thước phim tuyên truyền còn lạị



Tôi lơ đãng ngắm nhìn những vì sao xa xa, ngắm vần trăng nhàn nhạt trên nền trời nhiều sương lành lạnh, diệu vợi, buồn man man.



Đêm trăng là khung trời của Hàn Mặc Tử, vầng trăng và ánh trăng là thơ của Hàn Mặc Tử, không phải của ông. Ông không là một thi nhân, ông là một nhà viết sử. Trăng đã thức trong máu d-ể Hàn Mặc Tử làm thơ và ngâm thợ Trăng đã thức trong máu của ông, chỉ để ông thấy nỗi cô đơn của ông thấm đậm hơn mà thôị



Hàn Mặc Tử, ở những ngày cuối cùng của cuộc đời, còn nói lên được, còn viết lên được những điều muốn nói, những d-iều muốn viết, trong sự yêu chiều an ủi của một người đẹp yêu ông. Ông ta thật có diễm phúc so với nhà viết sử Phạm Văn Sơn. Vị sử gia của tôi trong những giờ phút cuối cùng này còn có ai đâụ Ông bị cách ly thân thể, bị chối bỏ tình cảm, tuyệt nguồn tâm sự đến trơ trọi cả linh hồn.



Ngày xưa, vua Hezekiah của Do Thái -- trong Thánh Kinh -- hơn mười mấy năm bị phong hủi cũng không cô đơn bằng ông, vì ông vua này vẫn sống trong hoàng cung lộng lẫy với hằng trăm cung tần mỹ nữ hầu hạ.



Có lẽ chỉ một người chịu sự cô đơn như ông là một vị bác sĩ nào đó -- một nhân vật có thật -- trong tác phẩm "Kẻ đ.ộc Hành" (Man Who Walks Alone) của một nhà văn Mỹ, tôi đã quên tên, đã hy sinh suốt quãng đời đẹp đẽ nhất của mình, tình nguyện đến một phương trời xa, phục vụ một trại hủi để chữa trị bệnh nhân bằng sự hiểu biết và lòng tận tâm của mình, cho đến một ngày chính ông ta bị truyền nhiễm chứng bệnh nan y nàỵ Khi trở lại quê hương, ông lại bị hất hủi, bị bỏ quên, cô đơn như một kẻ độc hành trong cõi đời thường như hoang vắng. Dù sao vị bác sĩ đó cũng đã làm tròn thiên chức của mình, đã hưởng được sự tự do để suy gẫm về cái triết lý của cuộc sống.



Còn ông, nhà viết sử của chúng ta, ông đã cô d-ơn bốn bề ở kiếp con người; loài người dưới đất quên lửng ông, trăng sao trên trời xa lạ với ông. Ông là kẻ cô đơn nhất trong loài ngườị..ở những giờ phút sau cùng.



Đêm trăng này hay bao nhiêu đêm trăng nữa sẽ cho ông nhìn thấy gì, hay ông chỉ nhìn thấy sự hoang mạc đến tận cùng của cuộc đời ông trong những ngày còn lạị Hay hơn thế nữa, ông sẽ nhìn thấy nỗi tuyệt vọng vừa nhen nhúm trong tâm sự ông, về sự không thể làm tròn thiên chức của mình, sẽ lớn dần lên, sẽ còn đày đọa ông không biết bao lâu nữạ Đêm không ngủ dưới trăng kia có ích lợi gì cho ông không...



Thì ra tâm sự con người thật phức tạp trước những sự kiện tưởng chừng như vô tình nhất, giản dị nhất.



Lần đầu tiên sau khi gặp lại ông, tôi tưởng ông đã yên tâm vì đã tìm cho mình được một con đường, một chân lý, đến độ khi nhìn ông tôi cũng cảm thấy yên tâm. Hôm nay, bởi những sự kiện mới mẻ tưởng như vô tình, tôi mới biết ông vẫn còn ưu tư khoắc khoải, nên lòng dạ tôi xốn xang vô cùng.



Tôi đã ngu muội và thật thà ở buổi chiều hôm trước, vì vô ý thức, tôi đã đẩy tình trạng cô đơn của ông đến cao độ nhất, bởi sự phản ứng tự nhiên, chân tình bằng mấy giọt nước mắt dại khờ, non nớt, rơi không đúng chỗ, đúng lúc.



Một giọt nước đã làm tràn miệng bát.



Đáng lẽ tôi phải tế nhị giữ nó lại, tìm cách an ủi ông. Biết đâu niềm hy vọng vẫn còn là ngọn lửa, tuy nhỏ nhoi, cũng sưởi ấm lòng ông để ông cảm thấy mình vẫn còn người tri kỷ, không cô đơn, còn có ý nghĩa với mọi ngườị Biết đâu như vậy sẽ làm cho ông yên tâm hơn. Dù cái chết có đến với ông, bằng cách nào đi nữa, ông cũng cảm thấy ấm cúng trong tâm hồn.



Niềm trắc ẩn xốn xang này đã trở thành sự hối hận triền miên trong tôi suốt 15 năm qua, chưa có dịp bộc lộ cùng aị Tôi thật khổ tâm.



Lúc đó, tôi thầm cầu nguyện Thượng Đế xui khiến cho những người CS thấy rõ chứng bệnh vô cùng hiểm nghèo, nguy ngập của ông mà tha cho ông ta, cho ông được trở về với gia đình. Đó là con đường duy nhất cứu được ông, cứu được cái hoài bão mà ông từng ôm ấp bao nhiêu năm quạ



Tôi đã thất vọng, ý trời không phải là ý ngườị CS chỉ hủy diệt những nhân tài đối lập, không bao giờ nhẹ tay với một aị



Rồi việc gì phải đến, đã đến.



Một ngày, chưa hết mùa d-ông, đầu năm 1980 (tôi không nhớ chính xác ngày tháng), buổi sáng sớm lất phất một cơn mưa phùn nhỏ, trời lạnh và đục, người ta đã đánh kẻng tập hợp tù nhân các đội ra ngoài sân để tuần tự cho xuất trại d-i lao d-ộng như thường lệ. Bấy giờ tôi ở trong đội cưa xẻ gỗ súc. Đội chúng tôi ra hiện trường làm việc -- là hai dãy nhà lợp tranh, chỉ cách cổng trại vài mươi bước -- trong vòng mấy phút. Mỗi cặp cưa gồm 2 người, tự động vào giàn cưa của mình và xẻ những thân gỗ lớn thành những tấm ván dày hoặc mỏng dùng để đóng bàn ghế, vách nhà, sàn nằm trong trại, hay đóng hòm chôn tù nhân, chết bởi nhiều cách, đa số là chết vì bệnh và kiệt sức.



Chừng chín giờ rưởi hay mười giờ hôm đó, tôi đến nhận phần sắn phụ trội (đội cưa xẻ thuộc loại lao động nặng, có thêm một phần ăn phụ trội ở giờ giải lao, nhưng bất thường) vừa định quay về giàn cưa mình thì anh bạn hôm trước đi lãnh cơm với tôi, hôm nay vừa đi lãnh sắn ở nhà bếp, nói nhỏ vào tay tôi :



- Tin buồn !



Tin buồn có nghĩa là trong anh em của chúng tôi có thêm một người vĩnh viễn nằm xuống, cũng có nghĩa là đội của chúng tôi phải xẻ thêm những tấm ván để đóng chiếc hòm tạm bợ bọc xác bạn bè, một điều không ai muốn, nhưng ai cũng tình nguyện làm để biểu lộ lòng thương xót với người đã ra đị Biết đâu rồi ngày nào cũng d-ến lượt mình. Tâm lý trái ngược đa đoan là thế đó.



Tôi nghe anh nói xong, định hỏi xem là ai, nhưng anh đã bảo tôi :



- Đi đị..!



Trở về chỗ, vừa ngồi xuống đã thấy anh theo đến, ngồi sát bên, nói vừa đủ cho tôi nghe :



- Đại tá Sơn, "xếp" của anh, chết rồi !



Tôi sững sờ, tưởng chừng như ai tạt một gáo nước lạnh vào mặt, hỏi lại anh :



- Anh nóị..chết rồi, tại sao, hồi nào ?



Anh buồn bã thuật lại câu chuyện anh vừa nghe ở nhà bếp :



- Sáng nay, sau khi các đội đã xuất trại hết, "tụi nó" ra lệnh cho ông đem giỏ ra sân mang than dá vào bếp trại như những ngày trước. Không biết ông bưng vác đến giỏ thứ mấy thì kiệt sức, hộc máu tươi, ngất xỉu bất tỉnh. Khi chúng hay được cho mang ông lên bệnh xá thì mấy phút sau ông mất; cả người nhầy nhụa máu me, hình như bao nhiêu máu mủ trong các phần thân thể lở lói tuôn tràn ra hết...



Anh nói tiếp :



- Giờ này có lẽ họ đã đem ông xuống nhà xác rồi !



Anh lặng lẽ bỏ đi, không nói thêm gì nữạ



Tôi như một kẻ mất hồn. Tôi đã hiểụ



Từ lâu nay, thỉnh thoảng chúng tôi thấy một chiếc xe tải chở vào trại loại than đá vụn vo thành viên tròn to như những trái "poids" lớn, dùng làm chất đốt ở bếp. Mỗi lần như vậy, họ đổ than đá ở phần sân ngoài bức tường, trước cửa vào nhà bếp. Bọn cán bộ ra lệnh cho ông hằng ngày dần dà chuyển hết những đống than đá đó vào bếp, trừ trường hợp trời mưa, phải chuyển gấp chúng cho người phụ. Như vậy, một người bệnh trầm kha như ông vẫn bị chúng vắt sức lao động đến giọt máu cuối cùng. Hôm nay ông đã ngả xuống như trăm ngàn nạn nhân khác dưới chủ trương giết người siêu dã man này trong các trại giam CS.



Sau buổi giải lao, tất cả anh em trong đội cưa xẻ đều biết về cái chết thảm thương của ông.



Ông đã mất rồi về cõi thiên d-ường đã mang theo sự chịu đựng và hiểu biết của ông, vốn dĩ không hề tưởng là đã có trong con người mang nhục thể. Cái gì của Thượng Dế trả về cho Thượng Đế.



Người ta ra lệnh xẻ gỗ đóng quan tài cho ông.



Tôi nhận việc ấy với những giọt nước mắt chảy dài trên má. Chỉ còn một chút đáp đền này thôi, hỡi cố nhân ơị..



Nguyễn Văn Dưỡng



Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.